Thứ Ba, 18 tháng 4, 2023

 

PHONG CÁCH TƯ DUY HỒ CHÍ MINH

Phong cách Hồ Chí Minh là tư duy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một trong những di sản quý báu mà Người đã để lại cho cách mạng Việt Nam, phản ánh những giá trị cốt lõi trong tư tưởng, đạo đức của Người, được thể hiện vô cùng sinh động, tự nhiện, độc đáo, có sức thu hút, cảm hóa kỳ diệu trên mọi lĩnh vực, mọi hoạt động và trong ứng xử hằng ngày.

Một là, phong cách tư duy khoa học, cách mạng và hiện đại: Xuất phát từ lòng yêu nước và mục đích tìm đường cứu nước, trong quá trình hoạt động cách mạng sôi động và phong phú, Hồ Chí Minh đã hình thành cho mình một phong cách tư duy khoa học, cách mạng và hiện đại. Không tiếp thu một cách thụ động, không dừng lại ở sự vật, hiện tượng bề ngoài, Hồ Chí Minh đã đi sâu phân tích, so sánh, chắt lọc, lựa chọn, tổng hợp, rút ra những kết luận, những luận điểm mới, vừa kế thừa, vừa phát triển sáng tạo để tiếp tục vượt lên phía trước. Nhờ đó, Hồ Chí Minh đã bắt kịp nhịp sống và sự phát triển của thời đại, đã hình thành được một phương pháp tư duy đúng đắn, có thể lựa chọn đúng đường đi cho dân tộc và dự kiến được những bước phát triển mới của lịch sử.

Hai là, phong các tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo: Đó là phong cách tư duy không giáo điều, rập khuôn, không vay mượn nguyên xi của người khác, hết sức tránh lối cũ, đường mòn, tự mình tìm tòi, suy nghĩ, truy tìm bản chất của sự vật, hiện tượng để tìm ra chân lý, phù hợp với nhu cầu và điều kiện thực tiễn.

Ba là, phong cách tư duy hài hòa, uyển chuyển, gắn lý luận với thực tiễn: Thể hiện rõ nhất của phong cách tư duy này ở Hồ Chí Minh là luôn biết xuất phát từ cái chung, cái nhân loại, từ những chân lý phổ biến, những “lẽ phải không ai chối cãi được” để nhận thức và lý giải những vấn đề của thực tiễn. Điều này được thể hiện rõ rệt và nhất quán trong các mối quan hệ. Để giải quyết những vấn đề chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam, Người xuất phát từ những nguyên tắc, bắt đầu từ quyền độc lập, tự do của các dân tộc. Ở nước nào cũng vậy, độc lập tự do là thứ không thể mặc cả và là thành quả đấu tranh, đều do xương máu của những nghĩa sĩ và đoàn kết của toàn quốc dân mà xây dựng nên.

 

 

PHONG CÁCH LÀM VIỆC HỒ CHÍ MINH

Trong tác phẩm lối “Sửa đổi lối làm việc” Hồ Chí Minh đã chỉ ra một phong cách công tác mới: lấy lợi ích và hiệu quả thiết thực làm chuẩn mực cao nhất để đánh giá tác phong cán bộ và chất lượng công việc. Phong cách làm việc Hồ Chí Minh thể hiện trong những điểm chính sau:

Một là, phong cách làm việc khoa học

Hồ Chí Minh làm việc gì cũng cân nhắc kỹ, điều tra, nghiên cứu, thu thập thông tin, số liệu, để nắm chắc thực chất tình hình, ra quyết định chính xác. Người nói: “Đảng có hiểu rõ tình hình, thì đặt chính sách mới đúng”.

Hai là, phong cách làm việc có kế hoạch

Hồ Chí Minh làm việc gì cũng thường có chương trình, kế hoạch, từ lớn đến nhỏ, từ dài hạn, trung hạn đến ngắn hạn, từ tháng, tuần đến ngày, giờ… Theo Người, trong việc đặt kế hoạch “không nên tham lam, phải thiết thực, vừa sức, từ thấp đến cao”, “chớ làm kế hoạch đẹp mắt, to tát, kể hàng triệu, nhưng không thực hiện được”.

Ba là, phong cách làm việc đúng giờ

Hồ Chí Minh quý thời gian của mình bao nhiêu thì cũng quý thời gian của người khác bấy nhiêu. Người thường không để ai phải đợi mình, chủ động đến trước nếu có thể. Đồng thời Người luôn yêu cầu mọi người cần phải làm việc đúng giờ, vì “ thời gian quý báu lắm”.

Bốn là, phong cách đổi mới, sáng tạo, không chấp nhận lối cũ, đường mòn. Đó là một phong cách làm việc không cố chấp, không bảo thủ, luôn đổi mới. Người nói “Tư tưởng bảo thủ như là sợi dây cột chân, cột tay người ta… Muốn tiến bộ thì phải có tinh thần mạnh dạn, dám nghĩ, dám làm”. Cuộc đời Người là một tấm gương tuyệt vời về đổi mới, có sức động viên, khích lệ, gợi mở đổi mới, sáng tạo cho Đảng và cách mạng.

 

 

 

Ý nghĩa, tầm quan trọng của Đại hội XIII của Đảng

Đại hội XIII của Đảng là sự kiện chính trị trọng đại của Đảng, đất nước và của cả dân tộc, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới. Đại hội được tổ chức vào thời điểm toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thực hiện thắng lợi nhiều chủ trương, mục tiêu và nhiệm vụ được xác định trong Nghị quyết Đại hội XII của Đảng; đất nước trải qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, 10 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020. Đại hội có nhiệm vụ tổng kết việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XII gắn với đánh giá tổng quát tiến trình đổi mới; đề ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025; xác định Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030 và tầm nhìn phát triển đất nước đến năm 2045; tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng; kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII và bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.

 

 

 CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH NÓI VỀ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CỦA NGƯỜI ĐẢNG VIÊN

Chủ tịch Hồ Chí Minh coi việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên là một trong những nhiệm vụ trọng yếu của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Trong rất nhiều bài nói, bài viết, Bác đã chỉ ra những tiêu chuẩn của người đảng viên và yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên coi rèn luyện đạo đức cách mạng là nhu cầu nội tại, thường xuyên và liên tục.

“Mỗi người đảng viên, mỗi người cán bộ từ trên xuống dưới đều phải hiểu rằng: Mình vào Đảng để làm đày tớ cho nhân dân, Bác nhấn mạnh: Làm đày tớ nhân dân chứ không phải làm “quan” nhân dân.” (t15, tr. 292)

“Bất kỳ ở hoàn cảnh nào, đảng viên và cán bộ cần phải luôn luôn ra sức phấn đấu, ra sức làm việc, cố gắng học tập để nâng cao trình độ văn hoá, trí thức và chính trị của mình. Luôn luôn giữ gìn kỷ luật. Luôn luôn xứng đáng một người cán bộ, một người đảng viên.” (t5, tr. 293)

 “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.” (t15, tr. 611)

“Đạo đức cách mạng của người đảng viên là bất kỳ khó khăn đến mức nào cũng kiên quyết làm đúng chính sách và nghị quyết của Đảng, làm gương mẫu cho quần chúng. Mọi đảng viên phải nâng cao tinh thần trách nhiệm trước nhân dân, trước Đảng” (t11.tr. 607)

Đây là nội dung quan trọng, là căn cứ giúp mỗi đảng viên phấn đấu, tu dưỡng để nâng cao đạo đức cách mạng của bản thân và của toàn Đảng.

 

 

 

 

Đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, quan điểm sai trái của các thế lực thù địch trong giai đoạn hiện nay


Trước những diễn biến mới của tình hình và nhiệm vụ cách mạng, cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, phản bác những luận điệu xuyên tạc, những quan điểm sai trái, thù địch ngày càng diễn biến phức tạp. Để đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, quan điểm sai trái của các thế lực thù địch có hiệu quả, cần phải nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn của chúng và đề ra những biện pháp đấu tranh phù hợp.

1. Nhận diện âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch

Sau khi chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch đã xây dựng chiến lược “Diễn biến hòa bình”, với những thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt nhằm chống phá cách mạng Việt Nam. Từ bên ngoài lãnh thổ Việt Nam, chúng sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, với hơn 60 đài phát thanh có chương trình tiếng Việt, trên 400 báo, tạp chí... sản xuất hàng chục nghìn tin, bài có nội dung sai sự thật để phát tán vào trong nước, gây nhiễu loạn thông tin nhằm phê phán chế độ, kích động chống Đảng, Nhà nước. Bên cạnh đó, các tổ chức phản động lưu vong, hoạt động chống phá Việt Nam ngày càng quyết liệt.

Ngoài những yếu tố khách quan từ những tác động tiêu cực của tình hình thế giới và trong nước, một nguyên nhân mà mỗi chúng ta cần nhận rõ, đó là sự chống phá ngày càng quyết liệt của các thế lực thù địch thông qua lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” và khoét sâu những yếu kém, sơ hở, mất cảnh giác của ta để bóp méo, xuyên tạc tình hình; tung ra những quan điểm sai trái hòng gây ra sự hoài nghi, lung lay trong tư tưởng cán bộ, đảng viên và nhân dân. Trong khi đó, có lúc, có nơi việc nhận thức chưa đầy đủ, chưa chủ động, nhạy bén và thiếu các giải pháp phù hợp để định hướng thông tin, trên cơ sở đó tổ chức đấu tranh có hiệu quả với các thông tin sai lệch, phản bác lại những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội và bất mãn chính trị.

Hiện nay, môi trường mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã, đang và sẽ tập trung chủ yếu là sử dụng internet, không gian mạng, nhất là mạng xã hội để chống phá cách mạng nước ta. Thông qua việc thiết lập các website, blog để tổ chức truyền tải thông tin xấu, độc nhằm phá hoại tư tưởng, đời sống văn hóa tinh thần của các tầng lớp nhân dân; gây nhiễu loạn thông tin, làm phức tạp về chính trị xã hội; làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp. Chiêu bài chính chúng tập trung hướng vào là lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội; khai thác thông tin từ những vụ việc tiêu cực xảy ra trong đời sống để xuyên tạc, thổi phồng; đăng tải thông tin thật, giả lẫn lộn, đưa ra các thông tin, ghép các hình ảnh giả để xuyên tạc vai trò lãnh đạo, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Mục tiêu mà chúng hướng đến là: xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, tức là, phủ định hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong xã hội Việt Nam, ca ngợi, cổ súy hệ tư tưởng tư sản; tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Vệt Nam, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; gây mất ổn định về chính trị; làm suy yếu, chệch hướng phát triển của nền kinh tế, tiến tới chi phối, áp đặt về kinh tế; chuyển hóa văn hóa, đạo đức, lối sống theo quỹ đạo và các giá trị phương Tây; “phi chính trị hóa” quân đội để vô hiệu hóa lực lượng vũ trang.

Có thể thấy các thế lực thù địch không từ bất cứ âm mưu, thủ đoạn nào nhằm chống phá Việt Nam trên mọi lĩnh vực. Trước tình hình ấy, Ðảng ta đã xác định đấu tranh, phản bác có hiệu quả với luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên của toàn bộ hệ thống chính trị, của mỗi cán bộ, đảng viên và của mọi công dân. Chúng ta phải tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp, trong đó cần đặc biệt nhấn mạnh tính chủ động.

2. Một số biện pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, quan điểm sai trái của các thế lực thù địch

Một là, cấp ủy, lãnh đạo, quản lý các cấp, các ngành phải không ngừng nâng cao nhận thức trong cuộc đấu tranh này; phải xác định rõ, quá trình tổ chức đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” không phải thực hiện theo kiểu mệnh lệnh, khuôn mẫu chủ quan, duy ý chí, mà là quá trình định hướng tiếp nhận thông tin một cách khách quan, có chọn lọc theo tâm lý, nguyện vọng, nhu cầu, lợi ích thụ hưởng thông tin của nhân dân. Trên cơ sở, thống nhất cộng đồng trên cả hai bình diện nhận thức và hành động nhằm loại bỏ cái xấu, thúc đẩy phát triển cái tốt, cái đẹp, tạo sự lan tỏa trong xã hội. Cơ sở quan trọng nhất để tạo nên tư tưởng xã hội tốt chính là người dân được tiếp nhận thông tin nhanh nhất, phản ánh chân thực, khách quan nhất. Đặc biệt là khả năng nhận diện, sàng lọc các thông tin đúng, sai, thật, giả và những thông tin tuyên truyền xấu độc của các thế lực thù địch.

Hai là, những sự kiện chính trị, nhất là các vụ việc phức tạp, nhạy cảm tác động đến tư tưởng của đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân, các cơ quan thông tin, truyền thông cần khai thác thông tin chính thống từ cơ quan chức năng chịu trách nhiệm cung cấp, để thông tin, bình luận trung thực, khách quan, góp phần định hướng, tạo sự thống nhất trong nhận thức, thái độ và phương pháp giải quyết vấn đề, sử dụng các thông tin chính thống vào xử lý các vấn đề đặt ra.

Ba là, làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, khắc phục sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên; chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê phán những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; không để xảy ra những thiểu sót, khuyết điểm trong quản lý kinh tế - xã hội mà các thế lực thù địch có thể lợi dụng để chống phá ta.

Bốn là, xây dựng và phát huy vai trò cùa lực lượng nòng cốt trong đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, văn hóa. Lực lượng nòng cốt phải có lập trường tư tưởng kiên định, bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ lý luận cao, có khả năng diễn đạt, thuyết phục người nghe, người đọc, có nhiệt huyết và quyết tâm đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ chủ nghía Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng.

Cuộc đấu tranh chống chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trong giai đoạn hiện nay là vô cùng gay go, quyết liệt, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân phải kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với điều kiện thực tiễn ở Việt Nam; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, không dao động trong mọi tình huống; đồng thời, kiên định đường lối đổi mới, chống giáo điều, báo thủ, trì trệ hoặc chủ quan, nóng vội.

 

 

LẠI THÊM MỘT Ý KIẾN THIẾU KHÁCH QUAN, KHÔNG THIỆN CHÍ


Đã lâu lắm rồi tôi mới lại đọc một bài viết của một người trước đây là “cán bộ nhà nước”, nói như dân gian vẫn gọi là những người “cơm dân, áo Đảng” nhưng nay đã quay đầu ngược lại với lý tưởng trước đây mình đã chọn, đi ngược lại lợi ích của dân tộc, của số đông người dân Việt Nam. Người tôi muốn nhắc tới là Phạm Chí Dũng - tác giả của bài viết “Làn gió mới lướt qua xã hội dân sự Việt Nam” được đăng tải trên BBC Tiếng Việt ngày 10 tháng 7 năm 2014 và hiện nay tiếp tục được tán phát, “tung hô” trên Internet và các trang mạng xã hội.

Phải thừa nhận là bài viết cũng có “nghề” nếu xét về văn phong, ngữ nghĩa, câu từ. Điều này âu cũng là lẽ thường tình, vì một người đã từng được Đảng, Nhà nước, nhân dân tin tưởng, nuôi dưỡng, đào tạo, sử dụng suốt một thời gian dài và đã từng là niềm hy vọng của nhiều người, ít ra là những người thân của chính ông và có học vị tiến sĩ.

Tuy nhiên, càng đọc, càng suy ngẫm mới thấy giọng điệu, ý đồ của tác giả bài viết sao mà hằn học, thù địch, phiến diện, một chiều đến vậy (!). Nếu quả thực ông ta ủng hộ cho dân chủ, nhân quyền, cho tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do dân tộc, tôn giáo, vì lợi ích của tuyệt đại đa số người dân Việt Nam thì sao lại viết thiếu trách nhiệm, thiếu lương tâm, thiếu thực tế khách quan đến vậy? Tôi xin trích nguyên văn lời của một người có học vị Tiến sĩ như thế này: “Những người bạn trẻ mới ra tù như Nguyễn Tiến Trung và Đỗ Thị Minh Hạnh đều thốt lên với gương mặt rạng rỡ đến ngỡ ngàng “Thật không thể tin nổi!”. Những ráng xuân bị lặng dập trong chốn lao tù cũng là những mùa xuân nở hoa ngoài đời...”.

Cha ông ta đã rất tinh tế khi nói rằng: “Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại” (một ngày trong tù bằng ngàn năm ở bên ngoài) quả là chí lý. Những người vốn bị giam giữ trong tù mà được trả tự do thì ai mà không vui cho được. Đó là một lẽ rất thường tình mà chẳng phải chỉ riêng ở Việt Nam mà ngay cả các nước Âu, Mỹ... đa số đều thế cả. Nhưng điều đáng nói là ông Phạm Chí Dũng chẳng hiểu gì về niềm vui thực sự của những người mà ông cho là “tù nhân lương tâm” như Lê Quốc Quân, Nguyễn Tiến Trung, Đỗ Thị Minh Hạnh, Cù Huy Hà Vũ..., càng không hiểu gì về mỹ từ “mùa xuân nở hoa ngoài đời”.

Để được Chính phủ Việt Nam xét xử công khai, công bằng, chính xác và được trả tự do như Lê Quốc Quân, Cù Huy Hà Vũ,… không phải là vì Chính phủ Việt Nam bị áp lực từ bên ngoài, nhất là Bộ Ngoại giao, Thượng viện, Hạ viện Hoa Kỳ; hay là do tác động xã hội từ cái gọi là “Xã hội dân sự” gì đó ở Việt Nam. Mà bởi lẽ, Chính phủ Việt Nam đã và đang thực hiện chính sách khoan hồng, nhân văn cho những con người vốn được coi là có trí tuệ, có học vấn nhưng bị lầm đường, lạc lối, bị dụ dỗ, mua chuộc, lôi kéo, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc và sự kỳ vọng của người thân, truyền thống của gia đình nhưng vẫn có cơ hội sửa chữa hoặc chí ít ra cũng chưa đến mức phải loại ra khỏi cuộc sống cộng đồng. Những sai lầm của họ đã được pháp luật xét xử công khai, trừng trị thích đáng, và nhất là trong số họ có người đã tự nghiệm ra những sai lầm của mình và thừa nhận trước pháp luật, trước cộng đồng.

Cuối bài viết, ông Phạm Chí Dũng tỏ ra lạc quan với các gọi là “xã hội dân sự” ở Việt Nam khi cho rằng: “câu chuyện đơm hoa kết trái của xã hội dân sự không phải là cổ tích”, “Rõ là xã hội dân sự ở Việt Nam đang hình thành những tiền đề của nó. Một cách nào đó, có thể so sánh giai đoạn này ở Việt Nam với thời kỳ bắt đầu xuất hiện Công đoàn đoàn kết ở Ba Lan vào những năm 70, hay phong trào “Hiến chương 77” ở Tiệp Khắc cuối thập kỷ 70”. Đọc đến đây thì ai cũng dễ dàng nhận thấy ông đang quá mơ hồ, quá thiếu khách quan, không thiện chí và lộ rõ ý đồ chính trị đen tối khi nói về đất nước mình, quê hương mình trước bàn dân thiên hạ. Bất kỳ ai đến Việt Nam hôm nay cũng dễ dàng nhận thấy đất nước này đang “thay da đổi thịt” từng ngày, môi trường chính trị ổn định, kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế tăng lên không ngừng; đặc biệt các quyền con người, quyền công dân, các quyền tự do, tín ngưỡng của người dân được tôn trọng và bảo vệ, được hiến định cụ thể rõ ràng trong Hiến pháp và pháp luật.

Song cần lưu ý rằng, ở đất nước nào cũng vậy, luật pháp phải được thượng tôn để duy trì ổn định và quyền lợi cho số đông người dân. Không thể có một thể chế chính trị nào, một quốc gia nào, thời đại nào mà không có những hạn chế, thậm chí là khuyết điểm và ở Việt Nam cũng không là ngoại lệ. Nhưng điều quan trọng là Đảng, Bác Hồ, người dân Việt Nam đã tự nguyện lựa chọn con đường phát triển đi lên của mình theo cách của mình và đã thực hiện được sứ mệnh cao cả là giải phóng dân tộc, đưa đất nước đến tự do, độc lập, đưa nhân dân đến bên bờ hạnh phúc như ngày hôm nay - điều mà nhiều người, nhiều tổ chức, đảng phái trước đây không thể nào làm được.

Không có một tương lai nào cho cái gọi là “Xã hội dân sự” ở Việt Nam, không thể có tương lai cho những con người sinh ra trên mảnh đất này, lớn lên, trưởng thành từ dân tộc này, được chế độ này nuôi dưỡng, trở che từ hôm qua mà hôm nay vẫn cứ vẩn vơ theo đuổi một ảo vọng xa vời tận đẩu tận đâu, đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc và tuyệt đại đa số người dân Việt Nam. Luật pháp Việt Nam là nghiêm minh, nhưng luôn rộng mở, khoan hồng với những con người lầm đường, lạc lối sớm thức tỉnh cơn mê và nhận ra những sai lầm của mình và thực tâm muốn trở về với cộng đồng, với nguồn cội, với lương tri. Tuy nhiên, luật pháp và dư luận xã hội, người dân Việt Na cũng không hề nhu nhược, không nhượng bộ hay khoan hồng cho những kẻ có tình chống phá sự nghiệp này, đất nước này thêm một lần nữa. Hãy cứ thử thêm một lần tuyên truyền, chống phá cách mạng, chống phá lợi ích của dân tộc, của người dân Việt Nam thêm một lần nữa sẽ thấy thế nào là sức mạnh của luật pháp, của chính nghĩa, của cộng đồng dân tộc Việt Nam và dư luận xã hội, điển hình là các vụ kích động, tụ tập đông người, gây rối an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, hủy hoại tài sản nhà nước và công dân ở một số địa phương, nhất là tại tỉnh Bình Thuận những ngày tháng 6 năm 2018 khi Quốc hội khóa XIV thảo luận Luật Đặc khu, Luật An ninh mạng và cố nhiên các hành động sai trái này đã và đang bị lên án, bị xử lý nghiêm minh. Và chắc chắn rằng không có cơ hội thứ hai cho những kẻ phản bội, thù địch, hay mùa xuân “đang nở hoa”, của “xã hội dân sự” ở Việt Nam như những người như ông Phạm Chí Dũng đang hằng mơ tưởng, huyễn hoặc và tuyên truyền xuyên tạc, mỵ dân. Hãy là “những công dân thông thái”, nghiên cứu sâu, quan sát kỹ, có “trái tim nóng và cái đầu lạnh”, nhìn vào thực tế một cách khách quan để thấy rõ điều này!

Giải pháp phòng, chống ''tự diễn biến'', ''tự chuyển hóa'' đối với cán bộ,

 đảng viên trong tình hình hiện nay

Chiến lược “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chống phá các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào độc lập dân tộc mang tính toàn cầu, là chiến lược phản cách mạng, phá hoại toàn diện trên các lĩnh vực, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao, quân sự, không giới hạn thời gian, không gian, nhằm đẩy đối phương suy yếu, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, rối loạn nội bộ rồi tự sụp đổ. Các thế lực thù địch đã tiến hành các nội dung, biện pháp, thủ đoạn hết sức tinh vi, vô cùng xảo quyệt. Đặc biệt chúng tận dụng triệt để những thay đổi của tình hình thế giới để chống phá. Trong đó, chống phá về chính trị - tư tưởng là trọng tâm; đồng thời, coi trọng và đi sâu chống phá nội bộ Đảng cộng sản, chính quyền, chuyển hóa đội ngũ cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước, “phi chính trị hóa quân đội và công an”.

Trong thời gian qua, trên diễn đàn lý luận và đời sống xã hội, các cụm từ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” xuất hiện ngày càng nhiều. Trước sự chống phá quyết liệt về mọi mặt của các thế lực thù địch, làm thế nào để không “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thực sự là vấn đề phức tạp, khó khăn. Để góp phần chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê phán có hiệu quả, phải thực hiện tổng hợp nhiều giải pháp.

Có thể chỉ ra một cách chung nhất về mức độ biểu hiện từ thấp đến cao của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” hiện nay trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Thứ nhất, phai nhạt niềm tin, lý tưởng vào Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, vào mục tiêu, con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Đảng đã xác định. Thứ hai, xa rời dần những nguyên tắc và mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Những cán bộ, đảng viên có biểu hiện này tuy chưa đến mức phủ nhận với nguyên tắc và mục tiêu cách mạng, trong họ niềm tin đã suy giảm nghiêm trọng, nhưng họ không muốn thay đổi chế độ, vì theo họ chế độ này “còn có lợi” cho họ, còn có thể “đục nước béo cò”. Thứ ba, biến chất về chính trị, từ bỏ Chủ nghĩa Mác - Lênin, lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Đó là những cán bộ, đảng viên đã biến chất về chính trị. Tuy họ ít bộc lộ tư tưởng, quan điểm chống đối của mình một cách trực tiếp, nhưng ngấm ngầm bằng cách này hay cách khác tuyên truyền các quan điểm lệch lạc. Họ ra sức “đề cao” ý thức dân tộc, lòng yêu nước, tự cho mình là “người tâm huyết” với vận mệnh của dân tộc, sự phát triển của đất nước để tuyên truyền các quan điểm sai trái của mình. 

Do đó, để phòng, chống những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” hiện nay, cần phải thực hiện tốt một số giải pháp mang tính cấp bách như sau: 

Thứ nhất, kết hợp chặt chẽ xây dựng với bảo vệ Đảng, bảo vệ và tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. 

Các tổ chức cơ sở Đảng từ Trung ương đến địa phương cần thực hiện có hiệu quả cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng, chăm lo xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Giữ vững và phát huy bản chất tốt đẹp của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ngăn chặn đẩy lùi tình trạng suy thoái về đạo đức, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, sách nhiễu Nhân dân trong bộ máy nhà nước. Phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong xây dựng và quản lý nhà nước. Chăm lo đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý; xây dựng và quy hoạch nguồn cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trước mắt và lâu dài. Chú trọng xây dựng nội bộ Đảng, Nhà nước vững mạnh, lấy thế trận lòng dân làm nền tảng. Phát hiện những phần tử cơ hội chính trị, thoái hóa biến chất để kiên quyết xử lý kịp thời. 

Trong thời kỳ mới, cần quán triệt sâu sắc và thấm nhuần hơn nữa quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”.

Thứ hai, xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. 

Đây là công việc rất khó, phức tạp, vì nó liên quan đến xây dựng tổ chức, xây dựng con người, dễ đụng chạm đến danh dự, lợi ích, quan hệ của cá nhân. Khó nhưng không phải không làm được, vì nó liên quan đến sinh mệnh của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Quyết tâm chính trị “khó vẫn phải làm” cần phải biến thành hành động cụ thể, thiết thực của các tổ chức Đảng, của mỗi cán bộ, đảng viên. Phải kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của đảng viên, nhân dân đối với Đảng. 

Bên cạnh đó, cần có cơ chế tự bảo vệ thích hợp, để giúp mỗi tổ chức Đảng và cơ quan Nhà nước, đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ khả năng, điều kiện để vượt qua những hiểm họa “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Thứ ba, phát huy sức mạnh toàn dân, bảo vệ vững chắc an ninh trên mặt trận tư tưởng, văn hóa; phát huy truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc. 

Thường xuyên nắm chắc tình hình tư tưởng cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân; kịp thời phát hiện, uốn nắn những biểu hiện dao động về tư tưởng, nhận thức và niềm tin. Văn hóa, văn nghệ là lĩnh vực rất nhạy cảm cho nên kẻ địch luôn tìm cách tác động để ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực văn hóa, rồi từ văn hóa “lan truyền” ra các lĩnh vực khác. 

Do vậy, chúng ta phải “xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”; phải hướng mọi hoạt động văn hóa vào mục đích kế thừa, phát triển văn hóa Việt Nam, xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ và đạo đức…, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh. Tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại làm phong phú bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam; đấu tranh bài trừ văn hóa phản động, đồi trụy; kế thừa, phát huy giá trị tinh thần, đạo đức Việt Nam. Hoạt động văn hóa, văn nghệ phải thực sự hướng về nhân dân, phục vụ Nhân dân “nghệ thuật vị nhân sinh”. Đấu tranh với các khuynh hướng sáng tác chạy theo bản năng thấp hèn, thực dụng, phi nhân bản, coi thường giá trị nhân văn, không biết quý trọng truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam.

Thứ tư, đẩy mạnh công cuộc chống tham nhũng; mỗi cán bộ, đảng viên luôn rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng. 

Trong tình hình hiện nay, vấn đề chống quan liêu, tham nhũng, khắc phục tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức và lối sống phải được xem như là một nội dung, yêu cầu đặc biệt quan trọng của vấn đề “tự bảo vệ” nhằm ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên. 

Bởi vì, bản thân tham nhũng là “giặc”, vì thế chỉ có khắc phục hiệu quả tình trạng quan liêu, tham nhũng, hách dịch, xa rời quần chúng mới làm cho đảng viên, “cơ thể” Đảng được khỏe mạnh hơn, có sức đề kháng cao hơn và điều đó sẽ ngăn chặn hiệu quả “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. 

 

 “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là vấn đề đặc biệt nguy hiểm đối với sự tồn vong của Đảng và chế độ. Nhưng nó phát triển đến mức nào, có làm biến chất người cán bộ, đảng viên, tổn hại đến Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa được hay không, thì điều đó phụ thuộc vào quyết định của chính chúng ta. Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” không phải là công việc riêng của các tổ chức, mà là công việc của từng cá nhân, của mỗi chúng ta, hãy đưa nó vào hoạt động thực tiễn thường ngày. Có như vậy thì Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa sẽ mãi trường tồn, đó là nguyện vọng của cả dân tộc Việt Nam. 

 


 

BÀN VỀ VẤN ĐỀ ĐỂ CÓ ĐƯỢC NỀN GIÁO DỤC THỰC CHẤT


Ngành giáo dục phải hành động, có sự thay đổi, chuyển mình rất lớn từ trong tư duy, từ trong nếp dạy, từ trong thói quen đã hình thành nhiều năm nay được định hình bởi quan điểm xã hội. Ngành cũng cần phải có cơ sở vật chất tốt cho nhà trường, phòng thí nghiệm, phương tiện dạy và học đầy đủ, hiện đại để có thể tạo ra chất lượng giáo dục tốt nhất. Cần có đội ngũ giáo viên giỏi, năng lực thực và có thu nhập xứng đáng, yên tâm với nghề. Hai điều này chính là THỰC LỰC của ngành giáo dục. Có tạo được cái THỰC đó mới vực được chất lượng lên, mới đề cao được thực học.

Từ góc độ quản lý nhà nước trong lĩnh vực, Bộ GD-ĐT sẽ chuẩn bị kế hoạch cụ thể thực hiện chỉ đạo lớn này của Thủ tướng Chính phủ."

Ông bộ trưởng nào khi lên mà chẳng nói như thế! Và thậm chí còn kêu hơn như Nói không gì đó...

Có điều giải pháp mới là quan trọng...: Lấy thí dụ sự thị trường hóa ngành giáo dục đã tha hóa đạo đức nhà giáo, giải pháp nào để tránh nó và tạo ra được nền giáo dục có tâm có tầm và tạo ra sản phẩm là con người đúng nghĩa NGƯỜI tức là phải có một mục tiêu sống với tâm thế vừa là mục tiêu vừa là đích đến về trọng tâm sống với tư cách một con người của Việt Nam... không bị nhồi nhét thành những sản phẩm kiểu robot hay lai căng, kiểu người không ra người mà là một dạng học đòi cách sống của các nước không phù hợp ....với truyền thống làm người của ta.

Thứ nhì, khi đã có sự du nhập vào nền giáo dục những trường quốc tế, thì cần phải thẩm định như nào để tránh sự truyền bá tư duy nô dịch, hay chạy theo lợi nhuận tầm thường và nô lệ cho đồng tiền.

Những nền giáo dục tiên tiến họ cũng đào tạo nên con người có lý tưởng của họ và với Việt Nam thì họ đang nhìn dưới dạng một nơi đào tào thành những cỗ máy, hoặc tư duy thiếu độc lập... (người Nhật tuy cộng tác với ta nhiều lĩnh vực nhưng về nhân cách họ dạy ở nước họ khác với người của ta, kể cả là trường đó của Nhật thị họ vẫn muốn học sinh Việt Nam ra trường tôn sùng văn hóa nhật và điều đó họ cũng gần đạt được). Cũng giống như những Viện Khổng tử của TQ khắp thế giới, vậy ở Việt Nam chúng ta đang làm gì hay đang bị lũng đoạn thậm chí trong sách giáo khoa đang bỏ dần tính độc lập dân tộc từ khi còn trứng nước, chẳng hạn lá cờ thì có 5 sao.

Rồi những vấn đề nguy hiểm khác như viết lại lịch sử...xem xét kiểu chữ và sửa đổi chữ viết vv

Là những điều đang gây nhức nhối.

Còn sản phẩm là con người trước hết hãy cho họ sống đúng là NGƯỜI, nếu thầy giáo, cô giáo không xứng đáng thì làm sao có thể tạo ra người, ra Người được?

Còn những tay nghề về bản chất là phải có sự thống nhất với nơi sử dụng, vì xét cho cung có đào tạo ra đến đâu thì vào một ngành hay một công ty cụ thể đều phải đào tạo lại và phải có sự sàng lọc, Ngành giáo dục chỉ cần đề nghị thời gian thử việc kéo dài thì sẽ có tác dụng tốt cho việc học để làm, học với hành.

 

 


 

 

MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÒNG, CHỐNG

VÀ NGĂN CHẶN “LỢI ÍCH NHÓM”


Một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ Đại hội XIII xác định đó là: “Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị toàn diện, trong sạch, vững mạnh. Đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, "lợi ích nhóm", những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ. Xây dựng đội ngũ đảng viên và cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Củng cố lòng tin, sự gắn bó của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”.

Lợi ích nhóm không được hiểu là lợi ích của giai cấp, tầng lớp xã hội mà là lợi ích của một số người có quan hệ mật thiết với nhau. Đây là “nhóm lợi ích” cần phải được kiểm soát và ngăn chặn. Để đẩy mạnh thực hiện xây dựng và chỉnh đốn Đảng, nhất là phòng và chống “lợi ích nhóm”, "nhóm lợi ích” trong Đảng, cần tập trung thực hiện những biện pháp sau là:

Một là, nâng cao nhận thức của các cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là người đứng đầu các cơ quan ban, ngành chức năng từ Trung ương đến địa phương về tác động và hệ lụy của “lợi ích nhóm” đến tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Trên cơ sở đó, phát huy vai trò, trách nhiệm của từng người, từng cấp trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, ban hành và lãnh đạo, tổ chức nhân dân thực hiện tốt các chủ trương, đường lối, chính sách, nghị quyết, quy định, quyết định của Đảng, Nhà nước, Quốc hội…

Tiếp tục gắn thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII với Chỉ thị 05, với Quy định số 205-QĐ/TW của Bộ Chính trị về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền và các Quy định số 55-QĐ/TW, Quy định số 08-QĐi/TW về vấn đề nêu gương, để phòng và chống các biểu hiện suy thoái với cơ chế kiểm tra, giám sát người đứng đầu rõ ràng, rành mạch, đúng quy định của Đảng và “kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, bè phái, “lợi ích nhóm”, nói không đi đôi với làm”.

Hai là, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp đủ tâm – tầm – tài; trong đó, chú trọng từ khâu tuyển chọn, tiếp nhận, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đến bố trí, bổ nhiệm, đề bạt, đánh giá, khen thưởng và kỷ luật cán bộ công khai, minh bạch để khắc phục triệt để “lợi ích nhóm” và vấn nạn chạy chức, chạy quyền. Các cơ quan tham mưu về công tác tổ chức, cán bộ cần thực hiện đúng và tốt về thẩm quyền, chức năng tham mưu trong xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách, nghị quyết, chế độ của Đảng, Nhà nước về công tác tổ chức cán bộ; thực hiện nghiêm túc quy chuẩn, quy trình bổ nhiệm cán bộ và kịp thời đấu tranh chống những biểu hiện cơ hội, “lợi ích nhóm” để xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp chiến lược theo tinh thần Nghị quyết số 26- NQTW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đầy đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”.

Ba là, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, thực hiện nghiêm túc, đầy đủ các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng; tăng cường công tác quản lý, giám sát và phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu nói riêng trong mọi mặt công tác, gương mẫu giữa “nói đi đôi với làm” để nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng tổ chức cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh. Đồng thời, thông qua việc tiếp tục đổi mới công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, rèn luyện bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp gắn với thực hiện tốt học tập, làm theo tấm gương tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để đẩy mạnh đấu tranh, phòng, chống chủ nghĩa cá nhân, các biểu hiện bè phái, cánh hẩu, cục bộ, địa phương chủ nghĩa, quan liêu, tham ô, tham nhũng, “lợi ích nhóm”.

Bốn là, phát huy vai trò thông tin, định hướng của các cơ quan truyền thông để đẩy mạnh công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với và học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Nâng cao vai trò phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân và nhân dân trong thực thi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và vai trò làm chủ của nhân dân trong giám sát đội ngũ cán bộ, đảng viên. Mỗi cấp ủy, mỗi cán bộ, đảng viên hướng về cơ sở, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, thực hiện có hiệu quả cơ chế dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát; đồng thời, mở rộng các hình thức lấy ý kiến đánh giá sự hài lòng của người dân đối với từng đối tượng cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị một cách phù hợp, coi đó là cơ sở để nhận xét, đánh giá, bổ nhiệm cán bộ, thiết thực phòng, chống và ngăn chặn “lợi ích nhóm” trong Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị./.

 

 

 tự phê bình và phê bình trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

 


Quán triệt và thực hiện quan điểm về tự phê bình và phê bình, trong suốt quá trình xây dựng và hoạt động, Đảng ta luôn coi trọng tự phê bình và phê bình. Đảng ta khẳng định tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng, là thước đo trình độ sinh hoạt dân chủ trong Đảng và là ý thức trách nhiệm của Đảng với nhân dân. Tự phê bình và phê bình là biện pháp quan trọng để giải quyết mâu thuẫn trong nội bộ Đảng, để giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Đảng là một tổ chức chính trị, tất yếu trong quá trình vận động, phát triển, nội bộ Đảng sẽ nảy sinh mâu thuẫn. Nhưng đó không phải là mâu thuẫn đối kháng, mà là mâu thuẫn giữa cái mới và cái cũ, giữa cái tiến bộ với cái lạc hậu. Đảng lấy tự phê bình và phê bình là biện pháp cơ bản để giải quyết những mâu thuẫn đó, tạo động lực cho sự vận động, phát triển của Đảng

Trong điều kiện Đảng cầm quyền và trong những lúc chuyển giai đoạn, vấn đề tự phê bình và phê bình càng trở nên cần thiết, cấp bách hơn. Bởi vì, Đảng phải giải quyết nhiều nhiệm vụ nặng nề, nhiều vấn đề mới, phức tạp và luôn luôn vận động, nảy sinh; đòi hòi Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên phải có trình độ, phẩm chất, năng lực hoạt động thực tiễn ngang tầm với đòi hỏi của cách mạng. Sự nắm bắt và nhận thức của cán bộ, đảng viên không thể ngay lập tức đạt được sự sâu sắc mọi vấn đề; đồng thời càng khó tránh khỏi những khuyết điểm, sai lầm. Thông qua tự phê bình và phê bình chẳng những giúp cho tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên vững vàng hơn về bản lĩnh chính trị, nâng cao được đạo đức cách mạng, mà còn nâng cao được kiến thức, năng lực, trình độ và đổi mới được tác phong công tác; phẩm chất đạo đức được bồi dưỡng, rèn luyện, thử thách.

Đảng ta đã có nhiều chỉ thị, nghị quyết, mở nhiều đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình trong toàn Đảng, mà Đảng mới có đủ sức mạnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác; mới có đủ bản lĩnh vượt qua những thử thách cam go, vững vàng chèo lái con thuyền cách mạng ở những thời điểm hiểm nghèo, trong những giai đoạn lâm nguy, vận mệnh đất nước như "ngàn cân treo sợi tóc", như Đảng đã lãnh đạo nhân dân đánh thắng Thực dân pháp, đế quốc Mỹ và khởi sướng, lãnh đạo đất nước hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đạt những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử.        

Thực tiễn xây dựng Đảng cho thấy: Lúc nào, nơi nào việc tự phê bình và phê bình không được thực hiện nghiêm túc thì lúc đó, nơi đó xuất hiện những điều kiện làm suy yếu tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ quan liêu, hách dịch, cửa quyền và ở đó luôn nảy sinh các hiện tượng tiêu cực trong xã hội. Trong thời gian dài, vấn đề tự phê bình và phê bình của Đảng ta đã bị xem nhẹ. Tình trạng này diễn ra không chỉ ở phần lớn đảng viên thường và những chi bộ, đảng bộ cơ sở, mà còn ở cả một số cán bộ cấp cao của Đảng và tổ chức đảng cấp trên. Vẫn còn những biểu hiện xem nhẹ, chưa thực sự nghiêm túc tự phê bình và phê bình. Ở nơi này, nơi khác, lúc này lúc khác, sinh hoạt tự phê bình và phê bình chỉ còn là hình thức. Người ta vẫn tổ chức sinh hoạt đều đặn, nhưng thực chất lại tước mất linh hồn của các buổi sinh hoạt, vấn đề tự phê bình và phê bình lại bị biến thành vũ khí cầu lợi cá nhân…

Ngày nay, bối cảnh quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp, chứa đựng những yếu tố khó lường. Đảng lãnh đạo nhân dân ta thực hiện sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhiệm vụ của Đảng rất nặng nề. Phạm vi, quy mô lãnh đạo ngày càng mở rộng, đối tượng lãnh đạo đa dạng phức tạp; vai trò lãnh đạo của Đảng tăng lên, đòi hỏi Đảng phải luôn luôn và thực sự trong sạch vững mạnh. Đảng ta đã đề ra những nguyên tắc và lãnh đạo đất nước thực hiện công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trên cơ sở xây dựng nhất trí trong Đảng, phê phán những nhận thức mơ hồ, những quan điểm lệch lạc, nâng cao ý thức cảnh giác đối với mọi âm mưu phá hoại và chống đối. Trong sinh hoạt của nhiều cấp uỷ và tổ chức đảng đã có không khí thảo luận thẳng thắn, phát huy trí tuệ của đông đảo của cán bộ, đảng viên trong việc chuẩn bị các đề án, nghị quyết trong việc bầu cử các cơ quan lãnh đạo. Nhiều cấp uỷ đảng thực hiện tốt hơn chế độ kiểm điểm công tác tự phê bình và phê bình. Đại hội Đảng X đã đánh giá những thành tựu trong công tác xây dựng Đảng là: “ Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, công tác tổ chức và cán bộ, xây dựng tổ chức cơ sở đảng gắn với xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sơ, phát triển đảng, công tác kiểm tra có những chuyển biến mới. Đa số cán bộ, đảng viên phát huy vai trò tiền phong, năng động, sáng tạo, giữ gìn phẩm chất đạo đức”. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có không ít yếu kém, khuyết điểm là: “ tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ, công chức  diễn ra nghiêm trọng. Nhiều tổ chức cơ sở đảng thiếu sức chiến đấu và không đủ năng lực giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh. Công tác tư tưởng  còn thiếu tính thuyết phục. Công tác lý luận còn chưa làm sáng tỏ một số vấn đề quan trọng trong công tác đổi mới. Công tác tổ chức và cán bộ còn nhiều mặt yếu kém. Chất lượng và hiệu quả kiểm tra, giám sát chưa cao”.

Từ khuyết điểm trên thực trạng cho thấy hiện nay vẫn còn không ít các cấp uỷ và tổ chức đảng chưa chú trọng đến tự phê bình và phê bình. Khá nhiều tổ chức đảng, tự phê bình và phê bình chưa được thực hiện thường xuyên. Việc phê bình và phê bình thiếu nội dung thiết thực, thiếu địa chỉ, còn nặng về hình thức, nặng về phê bình người khác, phê bình không đúng hướng, không đúng và không tuân thủ những đặc tính và đòi hỏi nghiêm ngặt của tự phê bình và phê bình của Đảng, cũng như theo tư tưởng Hồ chí Minh, đang tồn tại không ít tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên. Việc ngại đấu tranh, né tránh, lựa chiều, “dĩ hoà phú quý” trong tự phê bình và phê bình là tình trạng khá phổ biến hiện nay. 

Trong khi đó, cuộc sống sinh hoạt của cán bộ, đảng viên chịu nhiều chi phối, tác động của nhiều yếu tố, cả tích cực và tiêu cực. Do những tác động tiêu cực của mặt trái cơ chế kinh tế thị trường, sự du nhập lối sống ngoại lai và các tệ nạn xã hội… đã tác động, làm nhiều người thay đổi về quan niệm thang giá trị đạo đức xã hội, làm xói mòn các giá trị truyền thống tốt đẹp. Đó là những nguy cơ đe dọa sự trong sạch của Đảng và của cả hệ thống chính trị.

Một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về đạo đức lối sống, sa vào chủ nghĩa cá nhân, thực dụng. Sinh ra nhiều căn bệnh nguy hiểm: cục bộ, ích kỷ, vụ lợi, ham quyền lực, ham của cải làm giàu bất chính; lối sống xa hoa, hưởng lạc. Đối với đồng chí đồng đội, họ kèn cựa, địa vị , gây mất đoàn kết; đối với nhân dân thì quan liêu, sách nhiễu, xa rời hoặc dân chủ giả tạo, ngoài mặt…Không ít cán bộ, đảng viên vì lợi ích cá nhân, mải lo lợi ích cá nhân, gia đình mà quên hết lợi ích của Đảng, của Tổ quốc, của nhân dân.

Thực trạng trên không phải do tự phê bình và phê bình và cũng không phải do thiếu đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước ta mà do nhận thức, cơ chế vận dụng, do khâu tổ chức thực hiện và người thực hiện gân nên.

Trong giai đoạn hiện nay, việc quán triệt và đẩy mạnh tự phê bình và phê bình theo tư tưởng Hồ Chí Minh đang là vấn đề vừa cơ bản, lâu dài; vừa là những yêu cầu trước mắt của cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng, của quá trình đổi mới và cải cách bộ máy hành chính, đổi mới cung cách làm việc của mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi cán bộ, đảng viên nhằm xây dựng Đảng ta, Nhà nước ta thật sự trong sạch, vững mạnh, thực sự của dân, do dân, vì dân, hướng tới thực hiện thành công mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Để thực hiện được những vấn đề đó, trước hết mỗi tổ chức Đảng và cán bộ, đảng viên cần thực hiện nghiêm túc những quy định về tự phê bình và phê bình của Đảng đã đề ra: Mở rộng dân chủ, khuyến khích tranh luận; tôn trọng tập hợp và xem xét để tiếp thu hết ý kiến đúng đắn của các cấp ủy viên và đảng viên trước khi quyết định. Đồng thời các cấp bộ Đảng cần tập trung vào một số biện pháp chủ yếu như: Tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, tự tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ, đảng viên; công tác quản lý cán bộ, đảng viên của tổ chức đảng; đẩy mạnh đấu tranh tự phê bình và phê bình, mở rộng dân chủ, công khai. Biểu dương và nhân rộng những tấm gương cần kiêm, liêm chính, chí công vô tư.  Chú ý giáo dục đạo đức cách mạng, làm cho cán bộ, đảng viên hiểu rõ vai trò, sự cần thiết phải đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, mục đích phương pháp tự phê bình và phê bình, kiên quyết duy trì, thực hiện nghiêm túc nền nếp chế độ tự phê bình và phê bình trong các cấp ủy, tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội. Thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, chống mọi biểu hiện chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng cơ hội thực dụng, cục bộ bè phái, mất đoàn kết.

Thực hiện tốt dân chủ trong Đảng, nâng dần trình độ mọi mặt và cung cấp thông tin cho cán bộ, đảng viên. để nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình , phải đi liền với tăng cường tập trung, giữ vững kỷ luật. nếu không thì tự phê bình và phê bình sẽ không đúng hướng, gây tác hại cho Đảng và cho cách mạng.

Kết hợp chặt chẽ tự phê bình và phê bình trong Đảng với phê bình của quần chúng. đây là biện pháp khắc phục triệt để những khuyết điểm của tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên. Việc phê bình của quần chúng đối với Đảng là cung cấp thông tin quan trọng và cần thiết cho tổ chức đảng nghiên cứu, xem xét, đánh giá hoạt động của mình, cũng như phẩm chất năng lực của cán bộ, đảng viên. Bởi vậy, quần chùng tổ chức phê bình tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên là nhân tố không thể tách rời, không thể thiếu trong tư tưởng Hồ Chí Minh để nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình.

Gắn tự phê bình và phê bình với công tác kiểm tra, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm những tổ chức đảng, đảng viên không thực hiện tốt Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng về tự phê bình và phê bình, nhất là những người có thái độ thành kiến, trù dập người phê bình; phải có biện pháp bảo vệ người phê bình đã dũng cảm đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực; mặt khác phải có biện pháp cụ thể buộc người có khuyết điểm, bị phê bình phải sửa chữa khuyết điểm. Nhất là với những tổ chức đảng yếu kém và kém nát, nội bộ có nhiều vấn đề phức tạp là việc lớn và khó, chỉ mình tổ chức đảng đó không thể thực hiện tốt được. Những nơi này càng đòi hỏi phải có sự quan tâm giúp dỡ của cấp trên, đặc biệt là cấp trên trực tiếp của tổ chức đảng.

Trong điều kiện xã hội bùng nổ thông tin như hiện nay, các luồng thông tin, các nguồn thông tin, các hình thức truyền tin rất đa dạng phong phú. Một mặt nó mở ra điều kiện thuận lợi mới để thực hiện dân chủ công khai và công bằng trong xã hội. Chính nhờ các điều kiện đó mà các hình thức linh hoạt của tự phê bình và phê bình được thực hiện, nhiều trường hợp vi phạm khuyết điểm, nhiều biểu hiện vi phạm, thông qua các phương tiện thông tin và quần chúng mà kịp thời khắc phục, còn chính ngay trong tổ chức đảng đó không phát hiện ra mà thậm chí tổ chức đảng, một số cán bộ đảng viên ở đó thoái hoá biến chất lại được cấp trên đánh giá là tổ chức đảng trong sạch vững mạnh và đảng viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đây là một vấn đề cần được nghiên cứu chu đáo để phát huy tác dụng tốt hơn nữa trong công tác xây dựng Đảng. Mặt khác, cần phải có biện pháp quản lý được tất cả các luồng, các nguồn tin, các phương tiện thông tin, có thể áp dụng các tiến bộ kỹ thuật nhằm thẩm định, điều tra, kiểm tra nhanh và chính xác các tin tức; quản lý chặt chẽ hoạt động thông tin nhằm giảm thiểu, khắc phục những hạn chế góp phần cung cấp những cứ liệu thực tiễn thiết thực cho công tác xây dựng Đảng trong điều kiện mới; chỉ có như vậy mới đảm bảo cho tự phê bình và phê bình thực sự vì sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng và trong toàn xã hội.

Do vậy, giai đoạn cách mạng mới hiện nay tự phê bình và phê bình là việc làm không thể thiếu và nó bao trùm lên tất cả trong xây dựng và hoạt động của Đảng. Nó giúp cho cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng thấy được những ưu điểm, khuyết điểm của mình, tìm ra cách thức, phương pháp khắc phục để thực hiện nhiệm vụ sắp tới nặng nề hơn. đặc biệt Đảng ta đang chỉ đạo quyết liệt việc thực hiện có chất lượng tự phê bình và phê bình trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của mình, nhất là thách thức của việc phòng chống tham nhũng hiện nay của toàn Đàng, Nhà nước và nhân dân ta, chắc chắn Đảng sẽ lãnh đạo đất nước ta thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kinh tế -  xã hội và những nhiệm vụ xây dựng Đảng đã đề ra.

 

 

 

LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

 

           Tình hình tôn giáo tháng 5/2021: Hoa Kỳ đề nghị đưa Việt Nam vào danh sách các quốc gia cần “quan tâm đặc biệt”. Bài viết đã đăng tải nhiều thông tin sai lệch, tiêu cực về tình hình tôn giáo và hoạt động tôn giáo ở Việt Nam thời gian qua, thể hiện sự chống đối chính trị, mưu đồ kích động nhân dân và giáo dân tiến hành các hoạt động gây rối trật tự, chống đối người thi hành công vụ, vi phạm pháp luật, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. 

          Điều này thể hiện qua số lượng tín đồ không ngừng tăng với khoảng 25 triệu người theo các tôn giáo khác nhau, chiếm 27% dân số (tính đến tháng 3/2021). Nhưng quan trọng hơn là chức sắc và tín đồ thuộc các tôn giáo đều được tự do sinh hoạt, tự do thực hành các lễ nghi tôn giáo, biểu hiện đức tin dù ở nhà riêng hay các nơi thờ tự; Các cơ sở tôn giáo được tạo điều kiện cho tu sửa nơi thờ tự, các tổ chức, được mở các trường đào tạo những người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp với hơn 60 cơ sở đào tạo tôn giáo thuộc Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Phật giáo Hòa hảo, được Nhà nước tạo điều kiện phát triển các quan hệ giao lưu quốc tế,  nhiều hoạt động tôn giáo quốc tế lớn được tổ chức ở Việt Nam như Đại lễ Phật đản, 500 năm cải chính đạo Tin lành… Các ngày lễ quan trọng, lễ hội truyền thống như Lễ Phật đản của Phật giáo, Lễ Giáng sinh, Lễ Phục sinh của Công giáo và Tin lành… được tổ chức trang nghiêm, thu hút đông đảo không chỉ tín đồ mà cả quần chúng nhân dân tham gia.

          Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn đặc biệt tôn trọng và thực thi đầy đủ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Điều 6, Luật Tín ngưỡng tôn giáo năm 2016 quy định: “1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. 2. Mỗi người có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo; tham gia lễ hội; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo”.

          Đến nay, Việt Nam có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được công nhận và cấp đăng ký hoạt động với 55.000 chức sắc, 145.000 chức việc, hơn 29.000 cơ sở thờ tự. Có 95% dân số Việt Nam có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo, với hơn 8.000 lễ hội tín ngưỡng, tôn giáo hằng năm. Tôn giáo đã tồn tại lâu dài trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân là chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước ta. Theo đó, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: “tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một số bộ phận nhân dân”; “Tôn giáo là một vấn đề còn tồn tại lâu dài”; “Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới”. Đối với người nước ngoài có tôn giáo khi học tập, làm việc, sinh sống ở Việt Nam cũng luôn được tôn trọng và bảo vệ quyền sinh hoạt tôn giáo phù hợp. Ngay cả đang trong thời gian chống dịch Covid 19, Nhà nước ta vẫn quan tâm tạo điều kiện tốt nhất đến nhu cầu tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân.

          Đại hội XIII của Đảng xác định: “Vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống “tốt đời đẹp đạo”, đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bảo đảm cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo quy định pháp luật và hiến chương, điều lệ được Nhà nước công nhận. Phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước”, và nhấn mạnh: “Kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm minh những đối tượng lợi dụng tôn giáo chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; chia rẽ, phá hoại đoàn kết tôn giáo và khối đại đoàn kết toàn dân tộc”.

          Những thành tựu vượt bậc trong công tác bảo đảm tự do tín ngưỡng và đoàn kết tôn giáo những năm qua chính là cơ sở để tín đồ tôn giáo, chức sắc tôn giáo yên tâm hành đạo. Ðường lối, chính sách đúng đắn của Ðảng và Nhà nước về tôn giáo giúp cho mỗi người dân thấy được quyền lợi và trách nhiệm của mình, gắn bó quyền lợi của mình với lợi ích quốc gia, dân tộc, sống tốt đời đẹp đạo, không ngừng phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Vì vậy, mọi luận điệu suy diễn, quy chụp về tự do, tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam là không thể chấp nhận. Chúng ta cần nêu cao cảnh giác và đấu tranh kiên quyết với những luận điệu xuyên tạc, bịa đặt./.