Thứ Tư, 19 tháng 4, 2023

XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HOÁ, SỨC MẠNH CON NGƯỜI VIỆT NAM - GIÁ TRỊ NHÂN VĂN CAO CẢ CỦA CHẾ ĐỘ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

 

Tại Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, trong định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030, Đảng ta khẳng định: “Phát triển con người toàn diện xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hoá, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Tăng đầu tư cho phát triển sự nghiệp văn hoá. Xây dựng, phát triển, tạo môi trường và điều kiện xã hội thuận lợi nhất để khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước[1]. Để thực hiện có hiệu quả định hướng trên, Đảng ta đặc biệt nhấn mạnh đến việc xây dựng và phát huy giá trị văn hoá, sức mạnh con người việt nam”, đây là quan điểm đúng đắn, nhất quán của Đảng, thể hiện bản chất ưu biệt và tính nhân văn cao cả của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng. Vấn đề này được Đảng xác định cụ thể trên một số nội dung sau:

Thứ nhất, tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới. Quan tâm chăm lo công tác giáo dục, bồi dưỡng và bảo vệ trẻ em, thiếu niên, nhi đồng. Tăng cường giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thanh niên. Thực hiện những giải pháp đột phá nhằm ngăn chặn có hiệu quả sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, đẩy lùi tiêu cực xã hội và các tệ nạn xã hội. Bảo vệ và phát huy các giá trị tốt đẹp, bền vững trong truyền thống văn hoá Việt Nam. Đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc của người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ. Từng bước vươn lên khắc phục các hạn chế của con người Việt Nam; xây dựng con người Việt Nam thời đại mới, gắn kết chặt chẽ, hài hoà giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại.

Thứ hai, có cơ chế, chính sách, giải pháp để xây dựng môi trường văn hoá thật sự trong sạch, lành mạnh, cải thiện điều kiện hưởng thụ văn hoá của nhân dân. Phát huy ý thức tự giác của toàn dân xây dựng và thực hiện các chế tài, quy định, quy ước xã hội, bảo đảm công bằng về cơ hội và thụ hưởng văn hoá. Khắc phục sự chênh lệch về trình độ phát triển và đời sống văn hoá giữa các vùng, miền, các giai tầng xã hội, đặc biệt quan tâm đến vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, các khu công nghiệp... Khắc phục bệnh thành tích, bệnh hình thức, thực hiện các chuẩn mực văn hoá gia đình Việt Nam ấm no, hạnh phúc, tiến bộ và văn minh. Đề cao vai trò của gia đình trong nuôi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ. Phát huy các nhân tố tích cực, nhân văn trong các tôn giáo, tín ngưỡng. Phê phán và ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực, mê tín, dị đoan. Xây dựng và thực hiện các chuẩn mực văn hoá trong lãnh đạo, quản lý. Chú trọng xây dựng môi trường văn hoá công sở lành mạnh, dân chủ, đoàn kết, nhân văn; đẩy lùi bệnh quan liêu, bè phái, mất đoàn kết, chủ nghĩa cơ hội và thực dụng. Xây dựng văn hoá doanh nghiệp, doanh nhân và kinh doanh.

Thứ ba, tập trung nâng cao chất lượng, hiệu quả của các loại hình văn hoá, văn nghệ. Có kế hoạch, cơ chế và giải pháp xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá, lịch sử truyền thống dân tộc trong xây dựng con người, phát triển kinh tế - xã hội. Chú trọng nâng cao giá trị tư tưởng, nghệ thuật, đồng thời bảo đảm tự do, dân chủ trong sáng tạo văn học, nghệ thuật; khuyến khích những tìm tòi mới làm phong phú thêm bản sắc văn hoá Việt Nam; hạn chế các lệch lạc, các biểu hiện chạy theo thị hiếu tầm thường. Quan tâm, tạo điều kiện phát triển văn hoá, văn nghệ của các dân tộc thiểu số. Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của các hội văn học, nghệ thuật, tập hợp đông đảo văn nghệ sĩ tham gia; khuyến khích tự do sáng tạo, thực thi quyền tác giả.

Thứ tư, khẩn trương triển khai phát triển có trọng tâm, trọng điểm ngành công nghiệp văn hoá và dịch vụ văn hoá trên cơ sở xác định và phát huy sức mạnh mềm của văn hoá Việt Nam, vận dụng có hiệu quả các giá trị và thành tựu mới của văn hoá, khoa học, kỹ thuật, công nghệ của thế giới. Gắn phát triển văn hoá với phát triển du lịch, đưa du lịch thành một ngành kinh tế mũi nhọn, đồng thời bảo vệ, gìn giữ tài nguyên văn hoá cho các thế hệ mai sau. Xây dựng nền báo chí, truyền thông chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại. Thực hiện tốt quy hoạch, phát triển hệ thống báo chí, truyền thông. Sắp xếp ngành xuất bản, in và phát hành theo hướng tinh gọn, chất lượng, hiện đại hoá. Tăng cường quản lý và phát triển các loại hình truyền thông, thông tin trên Internet. Kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị - xã hội, thuần phong mỹ tục.

Thứ năm, tiếp tục đổi mới toàn diện nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước về văn hoá. Tăng cường đầu tư, khai thác và phát huy tối đa các nguồn lực văn hoá đi đôi với đổi mới nội dung, phương thức quản lý, khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, kém hiệu quả; tăng cường kiểm tra, giám sát, bảo đảm hiệu quả đầu tư cao trong lĩnh vực văn hoá. Đổi mới, hoàn thiện các thiết chế văn hoá từ Trung ương đến cơ sở, bảo đảm hiệu quả. Đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, tham mưu trong lĩnh vực văn hoá, văn nghệ, nhất là cán bộ chủ chốt thực sự am hiểu về văn hoá, có phẩm chất, bản lĩnh, năng lực chuyên môn, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Rà soát toàn bộ hệ thống các trường đào tạo văn hoá, văn nghệ, đổi mới và hiện đại hoá quy trình, nội dung, phương thức đào tạo để trong 5 - 10 năm tới khắc phục về cơ bản sự thiếu hụt đội ngũ cán bộ làm công tác văn hoá. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về văn hoá, xây dựng Việt Nam thành địa chỉ hấp dẫn về giao lưu văn hoá quốc tế. Tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá nhân loại phù hợp với thực tiễn Việt Nam, đồng thời chủ động nâng cao sức đề kháng của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh, thiếu niên đối với các văn hoá phẩm ngoại lai độc hại; từng bước đưa văn hoá Việt Nam đến với thế giới.

Như vậy, trải qua các kỳ Đại hội, Đảng ta luôn kiên định mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, đó cũng là đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta đang xây dựng, thể hiện bản chất ưu việt, tính nhân văn, nhân đạo cao cả./.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb CTQG ST, H. 2021, tr. 115-116

THẮT CHẶT HƠN NỮA MỐI QUAN HỆ MẬT THIẾT GIỮA ĐẢNG VỚI NHÂN DÂN, DỰA VÀO NHÂN DÂN ĐỂ XÂY DỰNG ĐẢNG

 

Gắn bó mật thiết với Nhân dân là thể hiện bản chất và sức sống trường tồn của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nếu không có sự đùm bọc, chung sức, chung lòng của Nhân dân thì Đảng không có sức mạnh, cách mạng khó thành công. Ngược lại, nếu không có sự lãnh đạo của Đảng thì Nhân dân không có một phương hướng chính trị đúng đắn trong đấu tranh giành các quyền tự do, dân chủ của mình. Tư tưởng đó được Đảng cộng sản Việt Nam thể hiện khá sâu sắc trong Đại hội lần thứ XIII vừa qua.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đánh giá: “Trong những năm tới, tình hình thế giới tiếp tục có những diễn biến rất nhanh, phức tạp, khó dự báo. Sau 35 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, vị thế, sức mạnh tổng hợp và uy tín trên cường quốc tế được nâng lên. Tuy nhiên, sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức: Bốn nguy cơ mà Đảng đã chỉ ra vẫn còn tồn tại, có mặt gay gắt hơn; các mối đe dọa độc lập, chủ quyền, lợi ích chiến lược của đất nước, nhất là trên Biển Đông; vấn đề an ninh phi truyền thống, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, cạn kiệt tài nguyên, xu hướng già hóa dân số tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; sự chống, phá quyết liệt của các thế lực thù địch, các tổ chức phản động[1].

Trong nhiệm kỳ của Đại hội XIII, Đảng ta xác định: “Phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, lãnh đạo đất nước phát triển nhanh, bền vững trong những năm tới[2]. Theo đó, Đảng ta đặt ra yêu cầu cần thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ và giải pháp: “Thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng”. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, đối với các tổ chức trong hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ của Đảng.

Cần tiếp tục đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên; phát huy tính tiên phong, gương mẫu, trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân các cán bộ, đảng viên. Tăng cường hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, củng cố về không ngừng nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Đồng thời tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, hành động của các cấp ủy đảng, hệ thống chính trị về công tác dân vận. Tăng cường đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận của các cơ quan đảng, nhà nước và cả hệ thống chính trị; phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trong tình hình mới.

Tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự “trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân”; thực hiện tốt phong trào thi đua “Dân vận khéo”.

Thứ hai, đối cới công tác dân vận của Đảng.

Tăng cường phối hợp, thực hiện quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị; hoàn thiện cơ chế và nâng cao hiệu quả phối hợp giữa chính quyền, các cơ quan, tổ chức với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp.

Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận của các cơ quan đảng, nhà nước và chính quyền các cấp. Chú trọng công tác dân vận đối với đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bàn tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài. Chăm lo, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác dân vận. Nâng cao chất lượng công tác giám sát, phản biện xã hội, đóng góp ý kiến của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân; đa dạng hóa các hình thức tổ chức và phương thức tập hợp, vận động, nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp nhân dân, phù hợp với biến đổi cơ cấu xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Kịp thời thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng về công tác dân vận. Tiếp tục cụ thể hóa phương châm: Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng. Lãnh đạo thể chế hóa Hiến pháp về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân nhằm phát huy cao nhất quyền làm chủ của nhân dân trong quá trình xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Nghiên cứu, ban hành cơ chế để nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, xây dựng đội ngũ cán bộ. Tích cực đôn đốc, giám sát, kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết của Đảng về công tác dân vận.

Đổi mới và đẩy mạnh công tác vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật và trách nhiệm của công dân; đồng thời chống các biểu hiện dân chủ cực đoan, dân chủ hình thức, mị dân. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân và quan tâm chăm lo đời sống của nhân dân. Thực hiện nghiêm, có hiệu quả các quy định về dân chủ ở cơ sở; công tác tiếp dân, đối thoại với nhân dân, giải quyết những kiến nghị hợp pháp, chính đáng của nhân dân và xử lý kịp thời, dứt điểm các vấn đề bức xúc liên quan đến đời sống nhân dân, các vụ khiếu kiện đông người, vượt cấp, kéo dài, không để hình thành các điểm nóng về an ninh, trật tự xã hội.

Như vậy, với vai trò là Đảng cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định Đảng là đội tiền phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc; tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân; dựa vào dân để xây dựng Đảng, đoàn kết và lãnh đạo Nhân dân tiến hành sự nghiệp cách mạng. Điều đó khẳng định toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chân chính của Nhân dân, sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với Nhân dân, quan liêu, mệnh lệnh, xa rời Nhân dân sẽ đưa đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước./.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 2, Nxb CTQG ST, H. 2021, tr. 227 - 228.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 2, Nxb CTQG ST, H. 2021, tr. 228.

PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC

 

Vấn đề dân tộc và đại đoàn kết toàn dân tộc luôn có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc; là cội nguồn sức mạnh và là động lực to lớn để giải phóng đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Kết hợp nhuần nhuyễn luận điểm: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” của Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng “Dân là gốc” của ông cha ta và từ thực tiễn phong trào cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết nên chân lý: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Thấm nhuần lời dạy của Người, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn chăm lo, xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, coi đó là nền tảng vững chắc, có vai trò quyết định mọi thành công của cách mạng Việt Nam.

Ra đời trong cao trào cách mạng của quần chúng, Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam là quân đội của dân, do dân, vì dân, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam; thường xuyên được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm, giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện. Suốt chặng đường 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, QĐND Việt Nam luôn được sự chăm lo, đùm bọc của nhân dân, sát cánh cùng toàn dân đánh giặc, giữ nước, góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Thực hiện chức năng đội quân chiến đấu, đội quân lao động sản xuất, đội quân công tác, cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân; tích cực tham gia xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường sự gắn bó máu thịt với nhân dân. Quân đội luôn là lực lượng tiên phong trong việc tuyên truyền, quán triệt tư tưởng đại đoàn kết toàn dân; làm tốt việc kết nghĩa với cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể chính trị - xã hội ở địa phương; kiên trì tuyên truyền, vận động nhân dân nhận rõ âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch hòng chia rẽ đại gia đình các dân tộc Việt Nam, chia rẽ lương giáo, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc; chủ động phối hợp với các lực lượng nắm chắc tình hình, tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương xử lý có hiệu quả các tình huống phức tạp, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, nhất là trên các địa bàn chiến lược, trọng điểm, vùng sâu, vùng xa... Trong bất cứ hoàn cảnh nào, nhất là những lúc khó khăn, hoạn nạn, thiên tai, sự có mặt của cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam đều trở thành chỗ dựa cho cấp ủy, chính quyền địa phương và niềm tin cho nhân dân.

Cùng với việc thường xuyên rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu; xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Những năm qua, quân đội luôn thể hiện vai trò là thành viên tích cực của MTTQ Việt Nam; gương mẫu thực hiện chủ trương của Đảng, pháp luật Nhà nước; tích cực tham gia tuyên truyền, vận động nhân dân, xây dựng và củng cố lòng tin của nhân dân với Đảng, chính quyền các cấp; tham mưu giúp cấp ủy, chính quyền địa phương củng cố tổ chức, giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, đặc biệt là ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số... Với hàng chục đoàn kinh tế - quốc phòng, hàng trăm tổ đội công tác và cán bộ tăng cường cơ sở, những hoạt động thiết thực đó không ngừng tô thắm truyền thống vẻ vang của QĐND Việt Nam anh hùng, phẩm chất tốt đẹp "Bộ đội Cụ Hồ - Bộ đội của dân” trong thời kỳ mới.

Là “thành viên đặc biệt” của MTTQ Việt Nam, QĐND Việt Nam luôn quán triệt, triển khai thực hiện tốt các nghị quyết, các chương trình hành động, phong trào thi đua yêu nước, như: “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, “Ngày vì người nghèo”, phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, "Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới"… và thực hiện chính sách hậu phương quân đội, các hoạt động từ thiện, nhân đạo.

Trên cơ sở các phong trào, các cuộc vận động cách mạng của cả nước, từng cơ quan, đơn vị và các tổ chức quần chúng trong quân đội đã có các phong trào, các cuộc vận động mang lại hiệu quả thiết thực, như: “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” trong toàn quân; “Mái ấm cho người nghèo nơi biên giới, hải đảo” của Bộ đội Biên phòng, “Thanh niên Quân đội làm theo lời Bác” của tuổi trẻ toàn quân; “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” của Phụ nữ Quân đội; “Lao động giỏi, lao động sáng tạo” của Công đoàn Quốc phòng... Có thể khẳng định, các phong trào, các cuộc vận động cách mạng của Đảng, Nhà nước và MTTQ Việt Nam đã được quân đội hưởng ứng và tham gia tích cực, đạt hiệu quả cao, mang lại ý nghĩa chính trị - xã hội sâu sắc, góp phần xây dựng thế trận lòng dân vững chắc, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở các địa phương, nhất là ở các địa bàn chiến lược trọng yếu, vùng biên giới, biển, đảo, vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo.

Thực hiện lời dạy của Bác Hồ: “Việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm”, cùng với việc triển khai các cuộc vận động, các phong trào cách mạng của Đảng, Nhà nước, MTTQ và địa phương, các đơn vị trong toàn quân đã thực hiện tốt Chương trình “Kết hợp quân - dân y”, đào tạo hàng nghìn cán bộ y tế cho vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng, biên giới, hải đảo; tổ chức khám bệnh, tư vấn sức khỏe, cấp thuốc miễn phí cho nhân dân, tặng trang thiết bị cho các cơ sở y tế địa phương.

Trước yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam luôn nhận thức sâu sắc về sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân; không ngừng tu dưỡng nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ sẵn sàng chiến đấu, rèn luyện nếp sống chính quy, xây dựng chuẩn mực đạo đức của người quân nhân cách mạng, tiêu chí phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới; tăng cường mối quan hệ đoàn kết quân - dân, tham gia xây dựng cơ sở địa phương vững mạnh; không để các tư tưởng, quan điểm sai trái làm ảnh hưởng tới khối đại đoàn kết toàn dân tộc; bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ nhân dân, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

 

BÁC BỎ MỘT SỐ QUAN ĐIỂM SAI TRÁI VỀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 

tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi.

Tuy nhiên, gần đây ở trong nước và nước ngoài, một số người nêu danh “nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh”, đã truyền bá luận điểm Tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là chủ nghĩa dân tộc. Họ giải thích tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là tư tưởng cách mạng giải phóng dân tộc, không có tư tưởng đấu tranh giai cấp, không có tư tưởng về cách mạng xã hội chủ nghĩa. Từ sự nhận thức phiến diện, họ rút ra kết luận:

- Tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với chủ nghĩa Mác - Lênin vì tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc, còn chủ nghĩa Mác - Lênin là lý luận đấu tranh giai cấp.

- Tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam vì tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc, còn đường lối của Đảng là theo tư tưởng đấu tranh giai cấp “tả khuynh” của Quốc tế Cộng sản và của lãnh tụ các Đảng cộng sản lớn.

Chúng ta hãy xem luận điểm trên có phải là “tìm tòi sự thật” hay là sự xuyên tạc lịch sử?

Sự chuyển biến tư tưởng của Người từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống đến chủ nghĩa yêu nước theo lập trường giai cấp vô sản là một quá trình hợp quy luật. Đúng như đồng chí Phạm Văn Đồng coi việc chủ nghĩa yêu nước truyền thống Hồ Chí Minh bắt gặp chữ nghĩa Mác - Lênin là cuộc “hẹn gặp lịch sử”, hoàn toàn không phải như có người cố tình xuyên tạc rằng đó là một sự lai ghép cưỡng bức, vội vàng giữa cái cây truyền thống với cái mầm ngoại nhập”, tạo thành một “ảo ảnh”, mang “tính chất huyền diệu”... !

Chính là chủ nghĩa yêu nước chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa Người tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, Người vừa nghiên cứu lý luận Mác- Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần Người hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ. 

Có thể khẳng định rằng: Tư tưởng Hồ Chí Minh là đi từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống, được kết hợp với tư tưởng cách mạng tiên tiến Mác - Lênin trở thành tư tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người ở Việt Nam theo lập trường giai cấp công nhân.

Ngay từ khi mới ra đời, Đảng ta đã lấy chủ nghĩa - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng kim chỉ nam cho mọi hành động. Từ năm 1936, nhất là từ Hội nghị Trung ương sáu tháng 11 - 1939 đến Hội nghị Trung ương tám tháng 5 - 1941, đường lối cách mạng của Đảng ta đã luôn quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh và luôn luôn thấm nhuần tư tưởng của Người.

Bằng nhãn quan chính trị sắc, Đại hội XIII của Đảng vẫn tiếp tục khẳng định phải “kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đồng thời không ngừng bổ sung, phát triển sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam”[1]

Như vậy, chứng tỏ những luận điệu như: tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là chủ nghĩa dân tộc, không có nội dung đấu tranh giai cấp; tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam... chỉ là một sự bóp méo sự thật, xuyên tạc lịch sử của những kẻ có mưu đồ chính trị đen tối. Hơn bao giờ hết, mỗi chúng ta cần nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, ra sức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ sự trong sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh ngày cảng trường tồn và phát triển.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện ĐH đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQG Sự tật, Tập 1, tr.40

SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG CỦA NGƯỜI

  tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi.”; quan điểm này đã được Đảng ta khẳng định trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành từ những nguồn gốc rõ ràng, mang tính cách mạng và khoa học; được Đảng ta xác định là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng.

Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo, nghĩa tình nhân đức và thiết tha yêu nước. Người được chứng kiến sự tàn bạo của thực dân, phong kiến và bản thân cũng lớn lên trong khổ đau, hoạn nạn. Vì thế, Hồ Chí Minh sớm có lòng yêu nước, thương dân. Hồ Chí Minh khâm phục tinh thần xả thân vì nước của các bậc tiền bối trong cuộc khởi nghĩa của Hoàng Hoa Thám, trong phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, phong trào Duy Tân của Phan Chu Trinh... nhưng với nhãn quan chính trị độc lập và sáng suốt, Người không tán thành con đường cứu nước của các cụ vì mỗi con đường đó đều có hạn chế, khó có thể đi đến thành công. Hồ Chí Minh đi tìm con đường cứu nước mới với hành trang chỉ là chủ nghĩa yêu nước truyền thống và một trí tuệ mẫn tiệp. Trải qua gần mười năm bôn ba khắp bốn biển năm châu, nung nấu chí hướng cứu nước cứu dân, vừa lao động cùng những người anh em chung cảnh ngộ, vừa hoạt động cách mạng, vừa học hỏi các tư tưởng mới..., nhận thức của Hồ Chí Minh chuyển biến từng bước. Mùa thu năm 1920, Hồ Chí Minh được đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin. Luận cương của Lênin chỉ rõ cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản. Đó là chân lý của thời đại, là giải đáp tuyệt vời điều Hồ Chí Minh đang trăn trở, tìm tòi. Từ đây, Hồ Chí Minh xác định muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản. Cũng từ đây, Hồ Chí Minh tin theo chủ nghĩa Mác - Lênin - học thuyết bất hủ chỉ ra con đường giải phóng giai cấp vô sản và các giai cấp lao động khác, giải phóng các dân tộc bị áp bức, giải phóng con người, trở thành một trong những nhà sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và là người cộng sản Việt Nam đầu tiên.

Sự chuyển biến tư tưởng từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống đến chủ nghĩa yêu nước theo lập trường giai cấp vô sản là một quá trình hợp quy luật. Đúng như đồng chí Phạm Văn Đồng coi việc chủ nghĩa yêu nước truyền thống Hồ Chí Minh bắt gặp chữ nghĩa Mác - Lênin là cuộc “hẹn gặp lịch sử”, hoàn toàn không phải như có người cố tình xuyên tạc rằng đó là một sự lai ghép cưỡng bức, vội vàng giữa cái cây truyền thống với cái mầm ngoại nhập”, tạo thành một “ảo ảnh”, mang “tính chất huyền diệu”... !

Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết về quá trình đó như sau:

Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác- Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ.

Tiếp thụ chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh không thụ động, mà dùng lập trường, quan điểm, phương pháp Mác - Lênin, vận dụng và phát triển những nguyên lý, quy luật chung của cách mạng thế giới vào đặc điểm tình hình các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam. Những luận điểm về chủ nghĩa đế quốc như một con đỉa có hai vòi, tính chủ động và khả năng thành công trước của cách mạng thuộc địa, nội dung chủ yếu của cách mạng thuộc địa, quy luật thành lập Đảng ở các nước thuộc địa, v.v...là những cống hiến lý luận to lớn của Hồ Chí Minh đối với phong trào cách mạng giải phóng dân tộc trên thế giới.

Ngay từ năm 1924, Hồ Chí Minh đã khẳng định đối với các dân tộc thuộc địa ở phương Đông, “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”. Phải chỉ rõ rằng Hồ Chí Minh đánh giá cao động lực của chủ nghĩa dân tộc, nhưng chủ nghĩa dân tộc theo quan niệm của Hồ Chí Minh không phải là chủ nghĩa dân tộc theo lập trường phong kiến hay tư sản, mà đây là chủ nghĩa dân tộc theo lập trường vô sản.

Hồ Chí Minh đã nghiên cứu kỹ các cuộc cách mạng trên thế giới, đánh giá tính chất từng cuộc cách mạng ở từng nước, để tìm con đường đúng đắn cho cách mạng Việt Nam. Với cách mạng Mỹ, Người cho rằng: “Trong lời tuyên ngôn của Mỹ có câu rằng, giời sinh ra ai cũng có quyền tự do, quyền giữ tính mệnh của mình, quyền làm ăn cho sung sướng... Hễ Chính phủ nào mà có hại cho dân chúng phải đạp đổ Chính phủ ấy đi, và gây nên Chính phủ khác. Nhưng bây giờ Chính phủ Mỹ lại không muốn cho ai nói đến cách mạng, ai đụng đến Chính phủ. Về cách mạng tư sản Pháp, Người chỉ rõ: “tư bản nó dùng chữ Tự do, Bình đẳng, Đồng bào để lừa dân, xúi dân đánh đổ phong kiến. Khi dân đánh đổ phong kiến rồi, thì nó lại thay phong kiến mà áp bức dân. Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mạng không đến nơi, tiếng là cộng hoà và dân chủ, kì thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa. Với Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga, Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mạng Nga là đã thành công và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc, tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam. Cách mạng Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ, rồi lại ra sức cho công, nông các nước và dân bị áp bức các thuộc địa làm cách mạng để đập đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa và tư bản trong thế giới. Người xác định cách mạng Việt Nam phải đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười. Với tác phẩm Đường cách mạng thì đường lối cách mạng giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh đã được xác định về cơ bản.

Trong những năm 20 thế kỷ XX, Hồ Chí Minh ra sức truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước để chuẩn bị cho việc thành lập Đảng. Cùng với việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, Người đã chuẩn bị về đường lối cho cách mạng Việt Nam. Theo Hồ Chí Minh, nước ta từ khi Pháp xâm lược đã trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến. Trong xã hội đó, chứa đựng cả mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp nhưng mâu thuẫn dân tộc nổi lên gay gắt nhất, giải phóng dân tộc là mục tiêu cơ bản và trước hết, chống đế quốc và tay sai giải phóng dân tộc đã đã bao hàm nội dung giải phóng giai cấp nhưng chưa triệt để. Muốn củng cố thành quả của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và triệt để giải phóng giai cấp, giải phóng con người, phải thực hiện cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Người nói: “Nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” và chủ trương: “chúng ta đã hy sinh làm cách mạng, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mạng rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một số ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”. Chủ nghĩa xã hội theo Hồ Chí Minh là một xã hội mọi người dân đều có cuộc đời ấm no, bình đẳng, tự do; đất nước được hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là nội dung nổi bật và nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Có thể khẳng định rằng: con đường hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh là từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống, được kết hợp với tư tưởng cách mạng tiên tiến Mác - Lênin trở thành tư tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người ở Việt Nam theo lập trường giai cấp công nhân. 

VIỆT NAM CHỦ ĐỘNG, KIÊN QUYÊT, KIÊN TRÌ ĐẤU TRANH TRÊN MẶT TRẬN NGOẠI GIAO, GÓP PHẦN GIỮ VỮNG CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO THIÊNG LIÊNG CỦA TỔ QUỐC

 

Biển, đảo Việt Nam là một bộ phận cấu thành chủ quyền quốc gia, là không gian sinh tồn, cửa ngõ giao lưu quốc tế, gắn bó mật thiết với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; đồng thời, là địa bàn chiến lược về quốc phòng, an ninh, là tuyến phòng thủ hướng đông của đất nước. Kế thừa và phát triển truyền thống dựng và giữ nước của dân tộc, nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò và tầm quan trọng đặc biệt của biển, đảo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách về biển, đảo. Quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước ta là quản lý, khai thác đi đôi với bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên biển, làm cho đất nước giàu mạnh.

Quán triệt sâu sắc chủ trương, quan điểm của Đảng về biển, đảo Việt Nam, cùng với công tác tuyên truyền, đấu tranh trên thực địa và chính trị, công tác đấu tranh trên mặt trận đối ngoại đã được thực hiện một cách chủ động, kiên quyết và kiên trì, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ đất nước. Trong công tác đối ngoại, Việt Nam đã chủ động nêu vấn đề Biển Đông trong các cuộc tiếp xúc ở tất cả các cấp với nhiều nước, tại các diễn đàn đa phương như Hội nghị các cấp ASEAN, Diễn đàn an ninh khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN (ADMM), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+) và các hội nghị quốc tế khác.

Chủ động xây dựng và lưu hành tại Liên hợp quốc các tài liệu khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, bác bỏ và phản đối các hành động sai trái, xâm phạm chủ quyền biển, đảo Việt Nam. Các hoạt động ngoại giao kênh học giả được triển khai đa dạng và đồng bộ; các cuộc hội thảo thu hút hàng trăm học giả, nhà nghiên cứu hàng đầu về Biển Đông.

Ngay khi có những tình huống nảy sinh trên biển, vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, chúng ta đã chủ động, kiên quyết và kiên trì đấu tranh với các bên liên quan để bảo vệ các quyền và lợi ích quốc gia Việt Nam ở Biển Đông. Vụ việc Trung Quốc hạ đặt trái phép dàn khoan Hải Dương - 981 (HD981) và các biện pháp đấu tranh của Việt Nam, trong đó có đấu tranh trên mặt trận ngoại giao là minh chứng sống động thể hiện quan điểm chủ động, kiên quyết và kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc.

Với vị thế là quốc gia hướng biển, có vị thế địa - chính trị, địa - kinh tế then chốt, nằm ở vị trí xung yếu về mặt trận an ninh, quốc phòng. Việt Nam có nhiều lợi thế và không ít thách thức trong công cuộc đưa đất nước trở thành “quốc gia mạnh về biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn” như Chiến lược phát triển bền vững  kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 do Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Khoá XII đã đề ra.

 

MỘT SỐ NỘI DUNG BỒI DƯỠNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG CHO THẾ HỆ TRẺ TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY

 

Thế hệ trẻ trong quân đội là lực lượng xung kích, đi đầu trong thực hiện nhiệm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, xây dựng đất nước trong thời kỳ mới, góp phần to lớn vào sự nghiệp trưởng thành, chiến thắng của Quân đội. Tuy nhiên, thực tế, vẫn còn tình trạng một bộ phận thế hệ trẻ trong quân đội có những dấu hiệu sa sút ý chí chiến đấu, suy giảm niềm tin, thoái hóa về đạo đức, lối sống,... làm ảnh hưởng đến bản chất cách mạng trong sáng và uy tín của “Bộ đội Cụ Hồ”. Trong khi đó, ở một số đơn vị, có lúc, có nơi, việc chăm lo vun đắp bản chất, truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ bị xem nhẹ hoặc thiếu tính hiệu quả. Vì vậy, việc chăm lo xây dựng, bồi dưỡng bản chất cách mạng cho thế hệ trẻ trong quân đội vừa là một yêu cầu mang tính thường xuyên, lâu dài, vừa là đòi hỏi bức thiết, trước mắt, mà tổ chức Đảng, người chỉ huy, cơ quan chức năng các cấp đều phải hết sức quan tâm.

Để nâng cao bản chất cách mạng cho thế hệ trẻ trong quân đội cần thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau:

Một là, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị - tư tưởng nâng cao lòng yêu nước, giáo dục sâu sắc lòng yêu CNXH, đưa tình cảm cao quý đó lên một tầm cao mới - yêu Tổ quốc Việt Nam độc lập, thống nhất, XHCN. Giáo dục các quân nhân lòng trung thành vô hạn và niềm tin không gì lay chuyển được vào con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân đã lựa chọn; giữ gìn và phát huy tinh hoa bản sắc dân tộc. Đó là quá trình xây dựng làm cho thế hệ trẻ quân đội nắm vững mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội nhân dân trong thời kỳ mới; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹ lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ CNXH, bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa; giữ gìn sự ổn định chính trị và môi trường hoà bình, phát triển đất nước theo định hướng XHCN. Mục tiêu trên đây phản ánh sự thống nhất biện chứng giữa quyền lợi giai cấp và quyền lợi dân tộc, giữa độc lập dân tộc và CNXH, giữa dân tộc và quốc tế. Để có được bản chất cách mạng trên, lãnh đạo và chỉ huy các cấp cần chăm lo giáo dục để thế hệ trẻ quân đội luôn luôn đứng vững trên nền tảng chính trị của Đảng, bảo vệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Trong bối cảnh hiện nay, giáo dục chính trị - tư tưởng phải luôn bám sát sự phát triển mới của thực tiễn cách mạng, chú trọng đi sâu phân tích để cán bộ, chiến sĩ có nhận thức đầy đủ hơn về thời cơ và nguy cơ, nhất là những khó khăn, thách thức đặt ra đối với đất nước, quân đội, trực tiếp là đối với thế hệ trẻ trong quân đội, từ đó chủ động ngăn ngừa những tiêu cực từ mặt trái của cơ chế thị trường, cảnh giác trước mọi âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược " diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch chống phá Đảng, Nhà nước, quân đội ta. Phải coi trọng đấu tranh trên mặt trận tư tưởng - văn hóa, phê phán sâu sắc những quan điểm sai trái, những luận điệu tuyên truyền lừa bịp của các thế lực phản động, thù địch; đấu tranh, uốn nắn kịp thời những nhận thức lệch lạc, những hành vi và thói quen không phù hợp với bản chất cách mạng và truyền thống vẻ vang của quân đội.

Hai là, tiếp tục đẩy mạnh giáo dục bản chất, truyền thống quân đội gắn với giáo dục lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, lịch sử quân đội, lịch sử và truyền thống đơn vị, đồng thời coi trọng giáo dục truyền thống địa phương, nơi sinh trưởng của cán bộ, chiến sĩ và nơi đứng chân của đơn vị. Bởi lẽ quá khứ, hiện tại và tương lai là một dòng chảy liên tục. Tuy nhiên, giáo dục không phải chỉ để ca ngợi quá khứ, mà như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói, phải làm cho quá khứ sống lại đẹp đẽ hơn bao giờ hết trong bản anh hùng ca của hiện tại.

Giáo dục truyền thống cần coi trọng giáo dục gương đấu tranh cách mạng của các đảng viên tiền bối và gương chiến đấu của các anh hùng, dũng sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân ta. Đặc biệt là cần học tập tấm gương và cuộc đời hoạt động của Bác Hồ, đây là một yêu cầu cấp thiếp đối với sự nghiệp giáo dục,  rèn luyện các thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân đội, phù hợp với nguyện vọng và tình cảm thiêng liêng của quân đội ta đối với Bác. Vì Người là kết tinh những giá trị tinh thần, văn hóa của nhân dân ta, dân tộc ta qua suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước. Ở Bác, tinh hoa của dân tộc được kết hợp với chủ nghĩa Mác - Lênin - đỉnh cao của tư tưởng nhân loại trong thời đại mới. Người là tấm gương tuyệt vời về chí khí cách mạng kiên cường, tinh thần độc lập tự chủ, lòng nhân đạo và yêu mến nhân dân, chí công vô tư, khiêm tốn giản dị... thực hiện tốt những yêu cầu nội dung giáo dục đó, mới động viên và khơi dậy được mạnh mẽ  lòng tự hào dân tộc, tình cảm thiêng liêng gắn bó của thế hệ trẻ quân đội đối với Đảng, với lãnh tụ, với quân đội và đơn vị mình, từ đó củng cố quyết tâm phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Ba là, coi trọng trau dồi thường xuyên về đạo đức cách mạng cho bộ đội. Bởi lẽ, nhịp sống trong cơ chế thị trường tác động rất mạnh đến thị hiếu, tác phong, lối sống, đạo đức của tuổi trẻ. Hiện nay, do cơ cấu giai cấp trong xã hội có sự phát triển, xuất thân của cán bộ, chiến sĩ trong quân đội cũng biến đổi theo, vì vậy nhận thức, tư tưởng của mỗi người cũng đa dạng, phức tạp hơn. Thậm chí, so với trước đây, ngày nay sự nhìn nhận, đánh giá về nhân cách, phẩm giá của con người cũng có những thay đổi, phát triển mới. Tuy nhiên, không vì thế những giá trị đạo đức truyền thống như: chủ nghĩa tập thể, tinh thần sống mình vì mọi người, trọng danh dự, tình đồng chí đồng đội, "đồng cam cộng khổ", sẵn sàng nhường thuận lợi cho bạn, nhận khó khăn về mình, v.v., từng được bao thế hệ cán bộ chiến sĩ trân trọng giữ gìn, lại bị coi nhẹ hay hạ thấp đi. Ngày nay, quân đội ta vẫn còn khó khăn, thiếu thốn; còn phải tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ không kém phần gay go, phức tạp, thậm chí phải đổ máu, hy sinh vì lợi ích Tổ quốc và nhân dân. Để làm được nhiệm vụ đó, cần luôn quán triệt quan điểm" xây đi đôi với chống"; tích cực đấu tranh với những biểu hiện chạy theo cuộc sống thực dụng, chủ nghĩa cá nhân, coi vật chất, lợi ích cá nhân, cụ bộ nặng hơn danh dự, nhân  cách quân nhân. Kỷ luật quân đội phải được tôn trọng và duy trì nghiêm túc, tự giác, không dung thứ  cho những hành vi trái với luật pháp và điều lệnh quân đội. Việc giáo dục sâu rộng về đạo đức cách mạng, phong cách Hồ Chí Minh cần phải được tiến hành một cách  rộng khắp, thường xuyên, sâu sắc đối với thế hệ trẻ trong quân đội.

Bốn là,  đội ngũ cán bộ, đảng viên các cấp phải luôn luôn là tấm gương sáng về nhân cách để mọi người noi theo. Thực hiện những di huấn quý báu của Bác Hồ, người chỉ huy các cấp phải thực sự phấn đấu để có "trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung", "giàu sang không thể quyến rũ, uy vũ không thể khuất phục"; người cán bộ chính trị phải thực sự "thân thiết như người chị, công bình như người anh". Bởi lẽ, thế hệ trẻ thường học không chỉ trong sách vở, mà chủ yếu học trong đời thường, nhất là từ đội ngũ đảng viên, cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, cán bộ chính trị trực tiếp tại đơn vị.

Năm là, chú trọng thắt chặt mối liên hệ với cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể và nhân dân địa phương, làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục thanh niên, tăng cường bồi dưỡng lòng yêu nước XHCN, bản chất, truyền thống cách mạng của Đảng, của dân tộc, bản chất, truyền thống của Quân đội nhân dân cho thế hệ trẻ, tạo điều kiện thuận lợi để thanh niên khi bước vào quân ngũ có nhận thức đúng, tình cảm tốt đẹp về quân đội, từ đó xác định động cơ tham gia xây dựng quân đội đúng đắn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”.

 

BẢN CHẤT CÁCH MẠNG TRONG THẾ HỆ TRẺ QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY

 

Thế hệ trẻ trong quân đội là lực lượng xung kích, đi đầu trong thực hiện nhiệm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, xây dựng đất nước trong thời kỳ mới, góp phần to lớn vào sự nghiệp trưởng thành, chiến thắng của Quân đội, xứng đáng với lời khen của Chủ tịch Hồ Chí Minh "Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì CNXH. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng".

Thông qua lời dạy của Bác Hồ đã toát lên lập trường, bản lĩnh chính trị và sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta. Lập trường, bản lĩnh và sức mạnh đó được thể hiện cụ thể ở danh hiệu mà nhân dân đã tặng cho quân đội ta là: "Bộ đội Cụ Hồ". "Bộ đội Cụ Hồ" là bộ đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu; là một di sản, một giá trị tinh thần và đạo đức cao quý, một thành tựu tốt đẹp mà lớp lớp các thế hệ cha anh đã dày công vun đắp, xây dựng. Thế hệ trẻ quân đội ngày nay phải luôn luôn trân trọng, học tập và phát huy tinh thần truyền thống đó trong thời kỳ mới.

Tuy nhiên, bên cạnh thực tế đáng tự hào đó, vẫn còn tình trạng một bộ phận thế hệ trẻ trong quân đội có những dấu hiệu sa sút ý chí chiến đấu, suy giảm niềm tin, thoái hóa về đạo đức, lối sống,... làm ảnh hưởng đến bản chất cách mạng trong sáng và uy tín của “Bộ đội Cụ Hồ”. Trong khi đó, ở một số đơn vị, có lúc, có nơi, việc chăm lo vun đắp bản chất, truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ bị xem nhẹ hoặc thiếu tính hiệu quả.

Trong giai đoạn hiện nay, nhiệm vụ chính trị của quân đội ta có bước phát triển mới. Quân đội thực hiện các chức năng của đội quân chiến đấu, đội quân lao động sản xuất, đội quân công tác và làm nhiệm vụ quốc tế trong hoàn cảnh mới khác rất nhiều với giai đoạn cách mạng trước đây. Đất nước tiến hành công cuộc đổi mới, vừa đứng trước những thời cơ, vận hội, vừa phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Mặt trái của kinh tế thị trường và mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế tác động rất mạnh đến nhận thức, tâm tư, tình cảm của từng người. Sự giao thoa văn hóa giữa môi trường quân đội với bên ngoài bên cạnh yếu tố tích cực cũng không tránh khỏi ảnh hưởng tiêu cực từ những dòng văn hóa xấu độc, xa lạ với bản chất, truyền thống văn hóa của dân tộc nói chung và của quân đội nói riêng. Hơn nữa, quân đội ta còn là một đối tượng chủ yếu trong chiến lược "diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch. Âm mưu “phi chính trị hóa" quân đội của chúng thực chất là nhằm triệt tiêu bản chất, truyền thống cách mạng, vô hiệu hóa vũ khí chính trị - tinh thần sắc bén, từ đó vô hiệu hóa sức mạnh chiến đấu của quân đội ta.

Phát huy bản chất truyền thống của Quân đội, trước những khó khăn, thách thức, những năm qua quân đội ta vẫn phát huy bản chất, truyền thống tốt đẹp của mình, xứng đáng là lực lượng chính trị tin cậy, lực lượng chiến đấu trung thành của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Cán bộ, chiến sĩ quân đội vẫn luôn luôn có mặt ở những nơi khó khăn, gian khổ nhất, sát cánh cùng cấp uỷ đảng, chính quyền và nhân dân các địa phương làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cùng nhân dân xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, đẩy mạnh sản xuất, xoá đói giảm nghèo, phòng chống thiên tai, bão lũ,... Những hành động đó đã làm ngời sáng thêm bản chất cách mạng của “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân.

PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA LÀ MỘT TẤT YẾU KHÁCH QUAN TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

 

Thực tiễn vận động của nền kinh tế thế giới những năm gần đây cho thấy, mô hình phát triển nền kinh tế thị trường có sự điều tiết vĩ mô từ trung tâm, trong  bối cảnh ngày nay, là mô hình hợp lý hơn cả. Mô hình này, về đại thể có thể đáp ứng những thách thức của sự phát triển.

Ở nước ta, việc thực hiện mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong thực tế, chẳng những là nội dụng của công cuộc đổi mới mà còn là công cụ, là phương thức để nước ta đi tới mục tiêu xây dựng Chủ nghĩa xã hội.

Nền kinh tế nước ta hiện nay đang trong giai đoạn quá độ, chuyển tiếp từ nền kinh tế tập trung, hành chính, bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Do vậy, nghiên cứu, xem xét những đặc điểm của nó là một vấn đề rất có ý nghĩa. Nhận thức được tính phức tạp của giai đoạn quá độ, chúng ta sẽ tránh được những sai lầm chủ quan nóng vội, duy ý chí hoặc những khuynh hướng cực đoan, máy móc, sao chép, chấp nhận nguyên bản kinh tế thị trường từ bên ngoài vào.

 Như chúng ta đã biết, trong nền kinh tế tập trung, bao cấp, mọi chức năng kinh tế - xã hội của nền kinh tế đều được triển khai trong quá trình kế hoạch hoá ở cấp độ quốc gia. Tính bao cấp của nhà nước đối với các hoạt động của sản xuất, lưu thông, phân phối… khá nặng nề. Lợi ích kinh tế, đặc biệt là lợi ích cá nhân người lao động, một động lực trực tiếp của hoạt động sản xuất xã hội chưa được quan tâm đúng mức. Vì thế, sự vận động của nền kinh tế nhìn chung là chậm chạp, kém năng động.

 Kể từ đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986) đến nay, theo đường lối đổi mới, đất nước ta đã từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa. Qua gần 35 năm thực hiện, chúng ta đã đạt được những thành tựu hết sức quan trọng cho phép chúng ta điều chỉnh và bổ sung nhận thức, làm cho quan nịêm về chủ nghĩa xã hội ngày càng cụ thể; đường lối chủ trương, chính sách ngày càng đồng bộ, có căn cứ khoa học và thực tiễn. Những thành tựu đó, trong một chừng mực nhất định cũng gián tiếp tác động đến việc năng động hoá nền kinh tế đất nước.

Nếu  như trước đây, nền kinh tế nước ta chỉ có một kiểu sở hữu tương đối thuần nhất với hai thành phần quốc doanh và tập thể, thì nay, cùng với thành phần sở hữu chủ đạo là sở hữu Nhà nước, còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác. Những hình thức sở hữu đó, trong tổng thể nền kinh tế là những bộ phận khách quan, có khả năng đáp ứng những đòi hỏi đa dạng và năng động của nền kinh tế thị trường.

Trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá, việc chúng ta bước đầu sử dụng thị trường như là một công cụ, phương thức đã đem lại những kết quả tích cực cả về phương diện thực tiễn và phương diện nhận thức.

Tuy nhiên, nhận ra sức mạnh của cơ chế thị trường bao nhiêu, chúng ta lại càng hiểu rõ hơn bấy nhiêu mặt trái của nó đối với sự vận động của đời sống xã hội. Sự tăng trưởng kinh tế đương nhiên là một mục tiêu của phát triển xã hội, có khả năng tạo ra điều kiện để giải quyết các vấn đề xã hội. Nhưng tăng trưởng kinh tế không phải lúc nào cũng đi liền với tiến bộ xã hội. Do vậy, để thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” thì nền kinh tế thị trường nhất thiết phải có sự quản lý của nhà nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa.

Nhận thức đúng mục tiêu chiến lược “diễn biến hòa bình” xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa của các thế lực thù địch

 

“Diễn biến hòa bình” là chiến lược của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch nhằm chống phá, tiến tới lật đổ chế độ chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa. Về bản chất, so với các chiến lược và mục tiêu trong thời kỳ chiến tranh lạnh, chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm chống đến cùng chống đến cùng chủ nghĩa xã hội và không thay đổi. Trong tình hình và thời cơ mới, chiến lược này chỉ thay đổi phương thức và thủ đoạn, đó là “chiến thắng không cần chiến tranh”, “không đánh mà thắng”, hoặc “cuộc cách mạng nhung”, “cách mạng màu”, có nghĩa là, về bản chất sâu xa, họ vẫn tiến hành một cuộc chiến tranh, nhưng như họ đã từng tuyên bố, đó là một cuộc “chiến tranh không có khói súng”. Điều đó có nghĩa là mục đích cuối cùng của chiến lược  “diễn biến hòa bình” là xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa. Để đạt được điều đó, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch xác định các mục tiêu cơ bản sau:

Một là, xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin để thay thế bằng hệ tư tưởng tư sản trong các nước xã hội chủ nghĩa. Các nhà lý luận của chiến lược “diễn biến hòa bình” cho rằng, tư tưởng là lĩnh vực có tầm quan trọng hàng đầu, vì vậy, mục tiêu phải đạt được là tước bỏ vũ khí tư tưởng của đối phương và coi đó là khâu đột phá của chiến lược “diễn biến hòa bình”.

Hai là, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập trong các nước xã hội chủ nghĩa. Luận điệu được sử dụng thường xuyên là đảng cộng sản độc quyền là “độc tài”, là “bóp nghẹt dân chủ”, vì thế phải thay bằng chế độ chính trị đa đảng! Từ đó, tìm mọi cách nhen nhóm các lực lượng phản động chống đối, cơ hội chính trị trong các nước xã hội chủ nghĩa.

Ba là, gây mất ổn định về chính trị trong các nước xã hội chủ nghĩa. Thủ đoạn thường xuyên được sử dụng là lợi dụng, kích động những vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” để gây mâu thuẫn nội bộ, phá vỡ sự đồng thuận xã hội và khi có thời cơ lôi kéo một bộ phận quần chúng vào các cuộc bạo loạn chính trị. Các thế lực thù địch bỏ ra nhiều công sức và cả tiền bạc để lôi kéo, tập hợp “những người bất đồng chính kiến”, thực chất là những phần tử chống chủ nghĩa xã hội, phủ nhận sự lãnh đạo của đảng cộng sản, dùng họ làm “cơ sở”, “nội ứng” cho việc thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”.

Bốn là, làm suy yếu, chệch hướng phát triển của nền kinh tế, tiến tới chi phối, lũng đoạn, khống chế kinh tế.

Năm là, chuyển hóa văn hóa, đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa theo quỹ đạo và các giá trị phương Tây, từ đó làm biến đổi theo chiều hướng tiêu cực và tha hóa con người, dẫn tới biến chất cả một xã hội.

Sáu là, “phi chính trị hóa” để vô hiệu hóa quân đội và công an.

Những mục tiêu cơ bản trên có quan hệ chặt chẽ với nhau, nếu để các thế lực thù địch thực hiện được thì điều không tránh khỏi là học sẽ đạt đến mục đích cuối cùng là xóa bỏ chủ nghĩa xã hội.

                                                                           

Nội dung giá trị lý luận trong tư tưởng Hồ Chí Minh về chăm lo, bồi dưỡng thế hệ thanh niên

 

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành những tình cảm tốt đẹp cũng như thời gian, công sức, trí tuệ của mình để giáo dục, bồi dưỡng các thế hệ thanh niên Việt Nam đến với cách mạng, tham gia vào quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc… Bởi theo Người thanh niên luôn là lực lượng tiên phong, xung kích trên các mặt trận, góp phần xây dựng hoà bình. Bác rất tin tưởng ở thanh niên - lực lượng hậu bị của Đảng và là lực lượng cách mạng cho đời sau.

Ngay từ thời trẻ, Người đã ý thức được vai trò của thanh niên trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc là vô cùng to lớn. Vì vậy, Người dành nhiều tình cảm và sự quan tâm sâu sắc cho thế hệ trẻ thanh niên Việt Nam.

Những nội dung giá trị lý luận trong tư tưởng Hồ Chí Minh về chăm lo, bồi dưỡng thế hệ thanh niên thể hiện:

Thứ nhất, cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho thế hệ trẻ. Đây được xem là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau. Theo Người, thanh niên muốn đóng góp sức mình vào công cuộc xây dựng đất nước, muốn làm được những việc lớn thì trước hết phải được giáo dục một cách đầy đủ về phẩm chất đạo đức, về bản lĩnh và ý chí cách mạng. Thông qua giáo dục, rèn luyện để hình thành những lớp thanh niên yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu xã hội chủ nghĩa, yêu lao động, yêu khoa học và yêu kỷ luật.

Thứ hai, phải chăm lo giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ thành những người vừa “hồng” vừa “chuyên”. Thanh niên phải được giáo dục toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, tri thức khoa học, chuyên môn nghiệp vụ, sức khỏe… Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nêu lên mối quan hệ biện chứng giữa hai yếu tố “hồng” và “chuyên” trong đó nhấn mạnh phải coi “hồng” là gốc của việc giáo dục thanh niên. Chiến lược đào tạo thế hệ trẻ được Người diễn đạt một cách giản dị, dễ hiểu nhưng rất sâu sắc: “phải uốn cây từ lúc cây non, đừng để cho tâm hồn các cháu bị vẩn đục vì chủ nghĩa cá nhân”.

Thứ ba, cần phải chăm lo sự nghiệp “trồng người” để không ngừng bồi dưỡng, tăng cường thế hệ cách mạng cho đời sau. Theo quan điểm của Người, muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa. Đó là những lớp thanh niên vững vàng về chính trị, giỏi về chuyên môn, là người có thể đảm đương nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để làm tốt sự nghiệp “trồng người”, Chủ tịch Hồ Chí Minh chú trọng đến hai vấn đề là: tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể và thế hệ đi trước phải thường xuyên quan tâm chăm lo cả về vật chất lẫn tinh thần cho thế hệ trẻ, giúp họ phát triển toàn diện về chính trị, đạo đức, văn hóa, quân sự, khoa học, kỹ thuật, cả về thể chất và tâm hồn. Riêng đối với đội ngũ thầy cô giáo làm công tác giáo dục, Người đặc biệt nhấn mạnh trách nhiệm nặng nề và vẻ vang của người thầy học là chăm lo dạy dỗ con em của nhân dân thành người công dân tốt, người lao động tốt, người chiến sĩ tốt, người cán bộ tốt của nước nhà; cùng với đó, mỗi một đoàn viên, thanh niên phải có tinh thần cầu tiến bộ, chủ động, sáng tạo và không ngừng vươn lên trong học tập, rèn luyện, phải hết sức nỗ lực dù trong hoàn cảnh khó khăn nào, phải lấy việc lập thân lập nghiệp phục vụ đất nước làm mục tiêu phấn đấu. Người cũng cho rằng, nếu biết kết hợp và thực hiện có hiệu quả cả hai vấn đề trên sẽ góp phần làm tốt công tác chăm lo, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên và công tác thanh niên là sự tổng kết lý luận và thực tiễn được nâng lên tầm cao qua các thời kỳ cách mạng, đang và sẽ tiếp tục dẫn dắt chúng ta trên con đường xây dựng, tổ chức thanh niên thành lực lượng cách mạng, phát huy mọi tiềm năng to lớn của thanh niên vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; vì hạnh phúc, tương lai tương sáng của tuổi trẻ.