“Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi.”; quan điểm này đã được Đảng ta khẳng định trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành từ những nguồn gốc rõ ràng, mang tính cách mạng và khoa học; được Đảng ta xác định là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng.
Hồ Chí
Minh sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo, nghĩa tình nhân đức và thiết tha
yêu nước. Người được chứng kiến sự tàn bạo của thực dân, phong kiến và bản thân
cũng lớn lên trong khổ đau, hoạn nạn. Vì thế, Hồ Chí Minh sớm có lòng yêu nước,
thương dân. Hồ Chí Minh khâm phục tinh thần xả thân vì nước của các bậc tiền
bối trong cuộc khởi nghĩa của Hoàng Hoa Thám, trong phong trào Đông Du của Phan
Bội Châu, phong trào Duy Tân của Phan Chu Trinh... nhưng với nhãn quan chính
trị độc lập và sáng suốt, Người không tán thành con đường cứu nước của các cụ
vì mỗi con đường đó đều có hạn chế, khó có thể đi đến thành công. Hồ Chí Minh
đi tìm con đường cứu nước mới với hành trang chỉ là chủ nghĩa yêu nước truyền
thống và một trí tuệ mẫn tiệp. Trải qua gần mười năm bôn ba khắp bốn biển năm
châu, nung nấu chí hướng cứu nước cứu dân, vừa lao động cùng những người anh em
chung cảnh ngộ, vừa hoạt động cách mạng, vừa học hỏi các tư tưởng mới..., nhận
thức của Hồ Chí Minh chuyển biến từng bước. Mùa thu năm 1920, Hồ Chí Minh được
đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của
Lênin. Luận cương của Lênin chỉ rõ cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi
phải đi theo con đường cách mạng vô sản. Đó là chân lý của thời đại, là giải
đáp tuyệt vời điều Hồ Chí Minh đang trăn trở, tìm tòi. Từ đây, Hồ Chí Minh xác
định muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường
cách mạng vô sản. Cũng từ đây, Hồ Chí Minh tin theo chủ nghĩa Mác - Lênin - học
thuyết bất hủ chỉ ra con đường giải phóng giai cấp vô sản và các giai cấp lao
động khác, giải phóng các dân tộc bị áp bức, giải phóng con người, trở thành
một trong những nhà sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và là người cộng sản Việt Nam
đầu tiên.
Sự
chuyển biến tư tưởng từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống đến chủ nghĩa yêu nước
theo lập trường giai cấp vô sản là một quá trình hợp quy luật. Đúng như đồng
chí Phạm Văn Đồng coi việc chủ nghĩa yêu nước truyền thống Hồ Chí Minh bắt gặp
chữ nghĩa Mác - Lênin là cuộc “hẹn gặp lịch sử”, hoàn toàn không phải như có
người cố tình xuyên tạc rằng đó là một sự lai ghép cưỡng bức, vội vàng giữa cái
cây truyền thống với cái mầm ngoại nhập”, tạo thành một “ảo ảnh”, mang “tính
chất huyền diệu”... !
Chính
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết về quá trình đó như sau:
Lúc
đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi
tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh,
vừa nghiên cứu lý luận Mác- Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu
được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các
dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ.
Tiếp thụ chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh không thụ
động, mà dùng lập trường, quan điểm, phương pháp Mác - Lênin, vận dụng và phát
triển những nguyên lý, quy luật chung của cách mạng thế giới vào đặc điểm tình
hình các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam. Những luận điểm về chủ nghĩa đế
quốc như một con đỉa có hai vòi, tính chủ động và khả năng thành công trước của
cách mạng thuộc địa, nội dung chủ yếu của cách mạng thuộc địa, quy luật thành
lập Đảng ở các nước thuộc địa, v.v...là những cống hiến lý luận to lớn của Hồ
Chí Minh đối với phong trào cách mạng giải phóng dân tộc trên thế giới.
Ngay từ
năm 1924, Hồ Chí Minh đã khẳng định đối với các dân tộc thuộc địa ở phương
Đông, “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”. Phải chỉ rõ rằng Hồ Chí
Minh đánh giá cao động lực của chủ nghĩa dân tộc, nhưng chủ nghĩa dân tộc theo
quan niệm của Hồ Chí Minh không phải là chủ nghĩa dân tộc theo lập trường phong
kiến hay tư sản, mà đây là chủ nghĩa dân tộc theo lập trường vô sản.
Hồ Chí
Minh đã nghiên cứu kỹ các cuộc cách mạng trên thế giới, đánh giá tính chất từng
cuộc cách mạng ở từng nước, để tìm con đường đúng đắn cho cách mạng Việt Nam.
Với cách mạng Mỹ, Người cho rằng: “Trong lời tuyên ngôn của Mỹ có câu rằng,
giời sinh ra ai cũng có quyền tự do, quyền giữ tính mệnh của mình, quyền làm ăn
cho sung sướng... Hễ Chính phủ nào mà có hại cho dân chúng phải đạp đổ Chính
phủ ấy đi, và gây nên Chính phủ khác. Nhưng bây giờ Chính phủ Mỹ lại không muốn
cho ai nói đến cách mạng, ai đụng đến Chính phủ. Về cách mạng tư sản Pháp,
Người chỉ rõ: “tư bản nó dùng chữ Tự do, Bình đẳng, Đồng bào để lừa dân, xúi
dân đánh đổ phong kiến. Khi dân đánh đổ phong kiến rồi, thì nó lại thay phong
kiến mà áp bức dân. Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư
bản, cách mạng không đến nơi, tiếng là cộng hoà và dân chủ, kì thực trong thì
nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa. Với Cách mạng xã hội chủ
nghĩa Tháng Mười Nga, Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong thế giới bây giờ chỉ có
cách mạng Nga là đã thành công và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được
hưởng cái hạnh phúc, tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả
dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam. Cách mạng Nga đã đuổi
được vua, tư bản, địa chủ, rồi lại ra sức cho công, nông các nước và dân bị áp
bức các thuộc địa làm cách mạng để đập đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa và tư bản
trong thế giới. Người xác định cách mạng Việt Nam phải đi theo con đường của
Cách mạng Tháng Mười. Với tác phẩm Đường cách mạng thì đường lối cách mạng giải
phóng dân tộc của Hồ Chí Minh đã được xác định về cơ bản.
bài viết rất hấp dẫn
Trả lờiXóa