Thứ Năm, 20 tháng 4, 2023

VỮNG VÀNG Ý CHÍ "TRÊN DƯỚI ĐỒNG LÒNG, DỌC NGANG THÔNG SUỐT"

 

Trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo triển khai cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã sớm nêu ra yêu cầu về sự thống nhất, đồng thuận, quyết tâm trong toàn Đảng, toàn dân, các cấp, các ngành. Qua thực tiễn cuộc đấu tranh, trong tác phẩm: “Kiên quyết, kiên trì cuộc đấu tranh phòng, chống tham những, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh” (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2023) đã được chính đồng chí Tổng Bí thư tổng kết thành phương châm “trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt”. Với cách sử dụng từ ngữ dung dị mà khái quát, dân dã mà chặt chẽ, người lãnh đạo cao nhất của Đảng ta nêu lên yêu cầu từ trên xuống dưới, tức từ Trung ương đến cơ sở, từ cán bộ lãnh đạo, quản lý đến cán bộ, đảng viên, người lao động, công dân… phải muôn người một ý chí, quyết tâm đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực. Đồng thời, cả hệ thống chính trị với tổ chức bộ máy theo ngành dọc và mỗi thiết chế cũng như từng người dân trong các mối quan hệ đa chiều phải thông suốt trong nhận thức về yêu cầu cấp bách của cuộc đấu tranh, về nội dung và phương thức tiến hành, về kết quả đấu tranh và những nhiệm vụ, giải pháp cần tiếp tục đẩy mạnh… Phương châm “trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt” không chỉ có giá trị định hướng, chỉ đạo mà còn như một lời hiệu triệu toàn Đảng, toàn dân ủng hộ, tham gia cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực.

Tại sao đồng chí Tổng Bí thư phải đặt vấn đề ở tầm cao nhất như vậy? Chính thực tiễn xây dựng, chỉnh đốn Đảng, hệ thống chính trị trong thời kỳ đổi mới và những bài học kinh nghiệm quý báu của sự nghiệp cách mạng Việt Nam cũng như của phong trào cộng sản quốc tế là căn cứ, cơ sở hàng đầu:

Một là, tuy đạt một số kết quả bước đầu, nhưng “bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra còn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn. Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cũng như những mâu thuẫn xã hội còn diễn biến phức tạp”.

Hai là, cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực là cuộc đấu tranh chống “nội xâm”, rất phức tạp, khó khăn và có nhiều điểm khác so với đấu tranh chống ngoại xâm. Đối tượng đấu tranh không là lực lượng đối lập hiện hình, hiện hữu, mà là những thực thể tồn tại hữu cơ trong chúng ta. Đó là những mặt, những điểm chưa chuẩn chỉ, chưa thật đúng đắn trong mỗi chúng ta; là những hành vi sai trái, vi phạm Điều lệ Đảng, vi phạm pháp luật của đồng chí, đồng đội, đồng nghiệp…, thậm chí thủ trưởng, cấp trên của mình; là những cơ chế, chính sách chưa thật phù hợp, còn nhiều kẽ hở có thể lợi dụng; là những giọng điệu, hành động gây cản trở, xuyên tạc, công kích cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực… Tuy không khói súng, nhưng trong nhiều trường hợp, cuộc đấu tranh mang tính đối kháng “một mất, một còn” giữa một bên là những phần tử tha hóa, biến chất, tham nhũng, tiêu cực sẵn sàng đạp đổ tất cả và một bên là kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước, toàn Đảng, toàn dân kiên quyết, kiên trì quét sạch “nội xâm”, bảo vệ công lý, bảo vệ sự nghiệp cách mạng.

Ba là, thực tế cho thấy, cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực không phải lúc nào cũng suôn sẻ, thuận lợi; trái lại, thường xuyên gặp nhiều loại khó khăn, cản trở. Ngay từ rất sớm, Đảng ta chính thức phát động cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực bằng Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 2 tháng 2 năm 1999 của Hội nghị Trung ương lần thứ sáu (lần 2) khoá VIII “về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay”, trong đó nhấn mạnh nhiệm vụ đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tệ tham nhũng, lãng phí. Gần 25 năm đã trôi qua, nhưng cũng phải đến những năm gần đây, chúng ta mới có đủ điều kiện để kiên quyết, kiên trì triển khai cuộc đấu tranh này theo tinh thần” không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”, “nhốt mọi quyền lực trong chiếc lồng thể chế”…

Bốn là, kế thừa di sản quý báu của tư tưởng Hồ Chí Minh “khó vạn lần dân liệu cũng xong” và quán triệt quan điểm Đại hội XIII “dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng”, phương châm “trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt” yêu cầu huy động, tổ chức, phát huy sức mạnh không chỉ của các cơ quan chức năng, mà phải là của toàn dân, cả hệ thống chính trị vào cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực. Không ít phần tử tham nhũng, tiêu cực là những người có quyền lực lớn, tinh vi, xảo quyệt và được tổ chức thành những nhóm lợi ích vô cùng lợi hại. Bởi vậy, mặc dù chúng ta đã thành lập ban chỉ đạo trung ương và các tỉnh, thành phố để trực tiếp chỉ đạo các chuyên án lớn, phức tạp, nhưng vẫn có những vụ việc còn kéo dài. Trong bối cảnh này, nhất định phải dựa vào các tầng lớp nhân dân với đội ngũ trên dưới, dọc ngang cung cấp thông tin, phát hiện, tố giác và đấu tranh, kiên quyết đốn bỏ khỏi cơ thể Đảng và hệ thống chính trị những gì đã bị tha hóa, mục ruỗng.

Năm là, trong triển khai cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực cần chú ý đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận, xuyên tạc, công kích các chủ trương, quan điểm và công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực, xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đây không phải là chiến dịch “thanh trừng” phe nhóm, mà là một nhiệm vụ chính trị cấp thiết của toàn Đảng, toàn dân; không phải là hành động nhất thời, mang tính nhiệm kỳ mà là công việc thường xuyên trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng; không phải là kịch bản sao chép từ bên ngoài mà là chủ trương của Đảng ta, do các cấp ủy từ Trung ương đến cơ sở chủ động lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện; không phải là biểu hiện của “một đảng hỏng” mà là hình ảnh của “một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính” vì “có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó” - chính Đảng tiền phong đã từng được lãnh tụ Hồ Chí Minh sáng lập, tổ chức, giáo dục và rèn luyện.

Nhân dịp nghiên cứu, quán triệt nội dung tác phẩm quan trọng của đồng chí Tổng Bí thư, chúng ta nên nhớ lại nhận định mang tính cảnh báo nghiêm khắc của lãnh tụ V.I.Lênin nêu ra năm 1921 khi triển khai công tác chỉnh đốn Đảng rằng, Đảng Cộng sản Nga ngày ấy có ba kẻ thù bên trong phá hoại gồm: Tính kiêu ngạo cộng sản chủ nghĩa, nạn thất học và nạn hối lộ; nếu không được khắc phục thì đây sẽ là những lực lượng làm sự nghiệp của những người Bôn sê vích thất bại. Chúng ta nhớ lại bi kịch ở Liên Xô tháng 12 năm 1991 là sự tự thất bại, tự tan rã từ bên trong của một sự nghiệp cộng sản vĩ đại, trước hết là do công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng cầm quyền không thành công, để Đảng phân hóa, phân rã và phân liệt nặng nề.

Để đảm bảo cho Đảng ta có sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo, cầm quyền trước yêu cầu, nhiệm vụ mới, thật sự “là đạo đức, là văn minh”; để xây dựng Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, một trong những nhân tố không thể thiếu là toàn Đảng, toàn dân, các cấp, các ngành đồng thuận, thống nhất nhận thức và hành động, vững vàng ý chí và bản lĩnh, “trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt” trong triển khai cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực./.

                                                                                                             VHT.

Văn hóa do con người sáng tạo ra


Việt Nam, xét trên phương diện đất nước học, là cả một địa – văn hóa hết sức độc đáo bên cạnh một địa – kinh tế và địa – chính trị rất đặc thù.

Lịch sử hằng ngàn năm dựng nước và giữ nước đã tạo cho Việt Nam có một truyền thống lâu đời, bền vững đó là truyền thống lịch sử, truyền thống dân tộc. Cái hồn của truyền thống ấy là văn hóa và bản lĩnh sáng tạo, sức sống của con người Việt Nam. Dân tộc Việt Nam có một truyền thống từ lâu đời về văn hóa và văn hiến, kết tinh thành hệ giá trị chân – thiện – mỹ như một hệ giá trị phổ quát của văn hóa, của mọi dân tộc trong quốc gia – dân tộc mình và trong cộng đồng nhân loại. Song mỗi dân tộc, do những điều kiện và hoàn cảnh lịch sử riêng của mình, từ những trải nghiệm trực tiếp trong thực tiễn lao động và đấu tranh, trong môi trường tự nhiên và xã hội để tồn tại và phát triển, lại có những quan niệm và cách thức biểu hiện riêng của mình về chân – thiện – mỹ. Nó biểu hiện thành tâm lý và ý thức, phong tục tập quán và lối sống, tạo thành tính cách của con người và cộng đồng dân tộc. Các giá trị văn hóa truyền thống đó kết tinh lại trong quan niệm, tư tưởng, triết lý, trong đạo đức và cách thức ứng xử, phản ánh diện mạo tinh thần, tâm hồn và tình cảm của cả một dân tộc, có trong các sản phẩm vật thể và phi vật thể của văn hóa. Trong văn hóa tinh thần (phi vật thể) và đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc Việt Nam truyền thống, qua các thời đại lịch sử cần đặc biệt chú trọng tới một lĩnh vực rất phong phú và tinh tế nằm chung trong cấu trúc của văn hóa, ấy là văn học, nghệ thuật, bao gồm cả dòng văn học dân gian và dòng văn học bác học. Đây là di sản tinh thần rất quan trọng mà các thế hệ người Việt Nam từ xa xưa – tổ tiên, ông cha chúng ta đã sáng tạo ra, đã để lại cho đời sau. Nó phải được bảo tồn và phát huy, được kế thừa và phát triển trong những điều kiện lịch sử mới. Nó cần phải có mặt trong hành trang của những con người Việt Nam hiện nay, nhất là thế hệ trẻ nhập cuộc với đổi mới để phát triển, đổi mới trong nội tại của đất nước, con người và dân tộc mình đồng thời hội nhập với bên ngoài để phát triển và hiện đại hóa. VNĐ


Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người

  


Hồ Chí Minh khẳng định, con người là vốn quý nhất, nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng. Theo Người, “vô luận việc gì, đều do người làm ra, và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa, đều thế cả”.

Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng. Con người là mục tiêu của cách mạng, nên mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Chính phủ đều vì lợi ích chính đáng của con người, có thể là lợi ích lâu dài, lợi ích trước mắt; lợi ích cả dân tộc và lợi ích của bộ phận, giai cấp, tầng lớp và cá nhân.

Không phải mọi con người đều trở thành động lực mà phải là những con người được giác ngộ và tổ chức. Họ phải có trí tuệ và bản lĩnh, văn hóa, đạo đức, được nuôi dưỡng trên nền tảng truyền thống lịch sử và văn hóa hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam... Chính trị, văn hóa, tinh thần là động lực cơ bản trong động lực con người. Con người là động lực chỉ có thể thực hiện được khi họ hoạt động có tổ chức, có lãnh đạo. Vì vậy, cần có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

Hồ Chí Minh khẳng định: “Trồng người” là yêu cầu khách quan, vừa cấp bách, vừa lâu dài của cách mạng. Con người phải được đặt vào vị trí trung tâm của sự phát triển, vừa nằm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước với nghĩa rộng, vừa nằm trong chiến lược giáo dục - đào tạo theo nghĩa hẹp...

Trên con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội, “trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”. Điều này cần được hiểu là ngay từ đầu phải đặt ra nhiệm vụ xây dựng con người có những phẩm chất cơ bản, tiêu biểu cho con người mới xã hội chủ nghĩa, làm gương, lôi cuốn xã hội. Đây là một quá trình lâu dài, phải không ngừng hoàn thiện, nâng cao; là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, gia đình và của chính bản thân mỗi người.

Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người mới xã hội chủ nghĩa gồm hai mặt gắn bó chặt chẽ với nhau. Một là, kế thừa những giá trị tốt đẹp của con người truyền thống (Việt Nam và phương Đông). Hai là, hình thành những phẩm chất mới như: có tư tưởng xã hội chủ nghĩa; có đạo đức xã hội chủ nghĩa; có trí tuệ và bản lĩnh để làm chủ (bản thân, gia đình, xã hội, thiên nhiên...); có tác phong xã hội chủ nghĩa; có lòng nhân ái, vị tha, độ lượng. Chiến lược “trồng người” là một trọng tâm, một bộ phận hợp thành của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.

Để thực hiện chiến lược “trồng người”, cần có nhiều biện pháp, nhưng giáo dục và đào tạo là biện pháp quan trọng bậc nhất. Bởi vì, giáo dục tốt sẽ tạo ra tính thiện, đem lại tương lai tươi sáng cho thanh niên. Ngược lại, giáo dục tồi sẽ ảnh hưởng xấu đến thanh niên. Nội dung và phương pháp giáo dục phải toàn diện, cả đức, trí, thể, mỹ; phải đặt đạo đức, lý tưởng và tình cảm cách mạng, lối sống xã hội chủ nghĩa lên hàng đầu. “Trồng người” là công việc “trăm năm”, không thể nóng vội “một sớm một chiều”, “việc học không bao giờ cùng, còn sống còn phải học”. VNĐ.


Xây dựng Đạo đức CM cho cán bộ của Đảng


Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân; coi đó là nền tảng và là sức mạnh của người cách mạng, là cái gốc của cây, ngọn nguồn của sông nước. Theo Bác, “Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”1. Người khái quát nội hàm đạo đức cách mạng là: “Nhận rõ phải, trái. Giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân”2; “tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân. Ngoài lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, Đảng ta không có lợi ích gì khác”3.

Vận dụng tư tưởng của Người vào thực tiễn hiện nay, cần tập trung giải quyết một số nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, tập trung nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng và sự cần thiết của việc học tập, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng.

Thứ hai, tiếp tục nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng, gắn với xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh.

Thứ ba, không ngừng rèn luyện phẩm chất, đạo đức, lối sống cho đội ngũ cán bộ, đảng viên theo hướng thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Thứ tư, xây dựng Đảng về đạo đức phải được tiến hành thường xuyên, đồng bộ, bằng nhiều hình thức, theo phương châm kết hợp biện pháp tư tưởng và tổ chức, lý luận và thực tiễn, giữa giáo dục, nâng cao nhận thức lý luận, quan điểm, tư tưởng với rèn luyện trong thực tiễn, tự phê bình và phê bình.

Thứ năm, xây dựng và thực hiện có hiệu quả nội dung xây dựng Đảng về đạo đức, trong đó chú trọng xây dựng hệ thống chuẩn mực các mối quan hệ của cán bộ, đảng viên với tổ chức đảng và với nhân dân.

Đảng muốn vững mạnh, phải thường xuyên giáo dục, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh cho cán bộ, đảng viên. Đó là việc hết sức quan trọng và rất cần thiết của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và phải trở thành việc làm tự giác, nhiệm vụ thường xuyên của mỗi cán bộ, đảng viên. 


Tư tưởng "một người làm quan..." đẩy cán bộ vào sa ngã, vi phạm

 

Lâu nay, ai cũng phê phán, bức xúc với những cán bộ, đảng viên tham nhũng, tiêu cực, vì như thế là thoái hóa biến chất, không xứng đáng là "công bộc” và “đầy tớ của nhân dân". Thế nhưng, ở chiều ngược lại, ít ai nhận ra có thể chính mình cũng vô tình góp phần "đẩy" những người thân quen là cán bộ, đảng viên trượt vào vi phạm, tham nhũng, lợi dụng chức quyền...

1. Chuyện thật như bịa là: Bạn tôi mới được bổ nhiệm làm phó vụ trưởng mà... không dám về thăm quê, bởi anh chưa về thì đã nhận được nhiều cuộc điện thoại nhờ vả và "xin tài trợ"(!) Nào là: "Dòng họ mình muốn lập quỹ khuyến học và sửa nhà thờ mà chỉ biết trông chờ vào cháu"; "Cổng làng đang xây thì thiếu tiền cháu ạ"; "Con trai bác đang công tác ở xa, nhờ cháu xin chuyển về gần nhà và cho nó ở vị trí có đồng ra đồng vào để gia đình đỡ vất vả"; "Anh tặng đội bóng đá của xã bộ quần áo và giày thi đấu nhé"; "Đồng chí ơi, cả huyện chỉ còn mỗi xã ta là chưa có bộ dụng cụ tập thể dục ngoài trời thôi. Các sếp trước đã ủng hộ xã nhiều rồi. Còn việc này thì nhờ đồng chí nhé" v.v..

Rồi không chỉ họ hàng, làng xã nhờ vả, mà cả các hội đồng ngũ, đồng niên, đồng khóa cũng chúc mừng "bạn lên sếp to" kèm lời gợi ý tổ chức "khao", ủng hộ quỹ, thậm chí còn "cho bọn tớ xin chuyến du lịch"...

Thấy tình hình quá gay, bạn tôi lần lữa chưa dám về quê thì bố mẹ gọi điện thoại, bảo: "Từ hôm đọc báo biết tin con lên chức, họ hàng và đại diện các tổ chức ở quê liên tục đến chúc mừng, hỏi thăm khi nào con về để nhờ giúp đỡ. Bố mẹ vừa mừng vừa lo. Con làm cán bộ to mà không giúp được gì thì anh em họ hàng và dân làng lại xì xào, chê trách đấy"...

2. Trong những chuyến công tác cơ sở, chúng tôi được nghe nhiều cán bộ, đảng viên kể về những nỗi niềm khó nói. Chuyện là, dù lương "ba cọc ba đồng", nhất là những người giữ chức danh không chuyên trách (như phó trưởng công an, phó chỉ huy trưởng quân sự, một số chủ tịch và phó chủ tịch các hội cấp xã, bí thư chi bộ và trưởng thôn...) chỉ được hưởng phụ cấp, thù lao từ vài trăm nghìn đồng đến khoảng 2 triệu đồng, thế nhưng cán bộ cơ sở thường xuyên tiếp xúc với nhân dân, quen biết không chỉ khắp địa bàn mà cả trong ngành và liên ngành, thành ra họ phải đi rất nhiều đám hiếu, đám hỷ, thăm nom...

Nhiều đồng chí cán bộ xã đã thành thật bày tỏ: Lo nhất là thường xuyên được mời ăn cỗ. Người dân quý trọng cán bộ nên mời chào, đón tiếp rất nhiệt tình, chu đáo. Hơn nữa, đa số bà con ở quê đều nghĩ cán bộ, công chức thì điều kiện kinh tế tốt hơn, vì thế nếu mình mừng ở mức bình dân thì cũng ngại, có người lại xì xào “cán bộ gì mà keo kiệt”. Thế là đành... nghiến răng đi ăn cỗ! Có thể khẳng định, hầu hết cán bộ cơ sở đều trong cảnh lương, phụ cấp không đủ tiêu vào việc hiếu, việc hỷ và đi lại, thăm nom...

Phải chăng, không ít cán bộ, công chức, viên chức đã "tặc lưỡi làm liều" cũng một phần vì lẽ đó?

3. Thực tế có khá nhiều cán bộ khi được bầu hoặc bổ nhiệm giữ cương vị người đứng đầu cơ quan, đơn vị đã bị áp lực lớn vì phải tìm cách "lo cho đời sống của nhân viên được nâng lên", bởi trong con mắt của nhiều người thì: "Sếp tài giỏi chỗ nào không biết, nếu đời sống nhân viên không được cải thiện thì nghĩa là... sếp kém" (!)

Trong các cơ quan nhà nước, cán bộ, nhân viên được trả lương và phụ cấp là những khoản "cứng" do ngân sách bảo đảm. Còn các khoản "mềm" (như tiền ăn trưa; bồi dưỡng làm việc ngoài giờ; quà và thưởng dịp lễ, tết; đi tham quan, du lịch; chúc mừng sinh nhật; tổ chức các buổi gặp mặt; thăm hỏi khi ốm đau hay khi gia đình cán bộ, nhân viên có việc hiếu, việc hỷ...) thì lâu nay đã thành lệ: Các thủ trưởng phải lo cho anh em theo "quy định ngầm" là năm sau cao hơn năm trước, người kế nhiệm phải khấm khá hơn người tiền nhiệm! Sếp mà không làm được điều này thì thường bị chê bai, thậm chí còn bị... mất phiếu tín nhiệm (!)

Thế là, dù biết việc lập "quỹ đen", thu-chi không đúng quy định là vi phạm pháp luật, nhưng rất khó để bỏ "quy định ngầm", "luật bất thành văn" này. Không ít sếp còn nghĩ thêm các phương thức để cơ quan, đơn vị có "quỹ đen" dồi dào hơn nhằm lấy lòng tập thể.

4. Tư tưởng cổ hủ "một người làm quan, cả họ được nhờ" dường như ngày càng nặng nề, ngày càng nhức nhối, khiến không ít cán bộ vì sợ bị chê trách, thậm chí sợ họ hàng, dân làng, bạn bè tẩy chay, "cạch mặt" mà thành mắc lỗi, rơi vào vòng lao lý...

Thực tế đã có những cán bộ đang bí tiền ủng hộ dòng họ, quê hương thì doanh nghiệp hay nhân viên cấp dưới "xin được lo giúp". Thế rồi, tục ngữ có câu: "Há miệng mắc quai", "Ông mất chân giò, bà thò chai rượu". Sếp lại phải tìm cách dùng quyền lực của mình để ưu tiên, trả ơn những đối tượng giúp mình. Dần dà, sếp sa vào vi phạm pháp luật, kỷ luật!

Thực tế cũng không ít cán bộ, công chức, viên chức vì cần chi tiêu cho những khoản "bị nhờ vả" mà cáu gắt, hành dân, cố tình "gây khó để có phong bì"!

Hệ lụy thật nguy hiểm khi đa số quần chúng cứ "bắt" cán bộ phải có "nghĩa vụ, trách nhiệm" tăng thu nhập ngoài lương cho nhân viên, giúp đỡ người thân quen và quê hương, dòng họ... Điều đó dẫn đến những người có chức quyền coi việc kiếm nhiều tiền để thực hiện "trách nhiệm cán bộ" là bình thường, là đương nhiên phải thế! Thực tế này dẫn đến nhiều cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức khó giữ được liêm chính (nhất là khi người có chức quyền thường xuyên được nhiều đối tượng tìm cách tiếp cận để "chăm sóc", mua chuộc).

5. Muốn phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hệ thống chính trị thực sự hiệu quả, hạn chế cán bộ, đảng viên bị suy thoái, sa ngã thì cùng với việc làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục xây dựng phẩm chất đạo đức, lối sống trong sáng, đặc biệt là ban hành các quy chế, quy định chặt chẽ để "nhốt quyền lực trong lồng cơ chế", thì việc không thể xem nhẹ là phải kiên quyết xóa tư tưởng “một người làm quan, cả họ được nhờ”, đấu tranh loại bỏ hành vi thể hiện sự thiếu văn hóa là “nhờ vả cán bộ” và “xin cán bộ tài trợ”. Tâm lý người Việt Nam thường sợ “lệ làng” hơn cả “phép vua”. Do đó, nếu người dân vẫn giữ thói quen ngợi khen, đánh giá cao những cán bộ tài trợ nhiều, lo cho nhân viên có thu nhập ngoài lương tốt (ngược lại là trách cứ, chê bai, thậm chí tìm cách để hạ bệ)... thì rất khó để cán bộ, đảng viên giữ được sự thanh liêm, trong sạch, chấp hành nghiêm kỷ cương phép nước. 

Kiên quyết phê phán, đấu tranh với những cán bộ, đảng viên suy thoái, biến chất, tham nhũng, vi phạm pháp luật là rất cần thiết để giữ gìn sự trong sạch, vững mạnh của Đảng và hệ thống chính trị. Tuy nhiên, “tiên trách kỷ, hậu trách nhân”-trước hết mỗi chúng ta cần tự nhìn lại mình, không “xin tài trợ", "nhờ giúp đỡ”, không trông chờ ỷ lại vào những người thân quen là cán bộ, đảng viên, tránh tạo áp lực cho họ phải lo nhiều thứ bất hợp lý, vì như thế chính là đẩy cán bộ vào sa ngã, vi phạm. Hậu quả không chỉ gây tổn hại cho đất nước, nhân dân mà trước hết là gây tai họa cho người thân, gia đình, dòng họ của mình. Đây cũng chính là cái cớ để các thế lực thù địch lợi dụng nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta.    

Kiểu "tận dụng người quen làm cán bộ để nhờ vả, trục lợi" là tư tưởng tiểu nông, thể hiện tầm văn hóa thấp, dẫn đến rất nhiều hệ lụy. Vì thế, toàn xã hội cần lên án, loại bỏ thói vị kỷ này. Đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải luôn biết lựa lời từ chối, nói "không" trước những lời nhờ vả, đòi hỏi vô lý, vượt quá khả năng và quyền hạn của mình để tránh vi phạm pháp luật.

Không được nhầm lẫn, đánh đồng giữa “tự do ngôn luận” và “ngôn luận tự do”

Công cuộc phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam đã và đang đạt được những thành tựu vượt bậc sau 35 năm đổi mới. Điều này có thể cảm nhận được từ thực tế đời sống mỗi người dân, mỗi vùng, miền trên cả nước. Từ hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông được cải thiện cơ bản; hệ thống trường học các cấp không ngừng được nâng cấp, mở rộng, bảo đảm quyền được học tập của người dân; mức sống người dân cải thiện rõ rệt cả về vật chất và tinh thần... Ngay cả về những thành tựu căn bản như vậy, cũng có những luồng ý kiến chỉ trích, thậm chí bôi nhọ, đả kích và chống phá.

Về cơ sở bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, ở Việt Nam không ngừng được cải thiện, nâng cấp. Chỉ tính riêng về hệ thống báo chí, truyền thông đại chúng đang phát triển, thậm chí phát triển vượt trên nhu cầu của nền kinh tế-xã hội. Hiện Việt Nam có 780 cơ quan báo chí. Mỗi người dân, về nguyên tắc đều có vài ba cơ quan báo chí đại diện ngôn luận cho mình. Vì theo thiết kế hệ thống, mỗi cơ quan báo chí là đại diện ngôn luận của tổ chức trong hệ thống chính trị, theo đó, mỗi công dân đều có thể thể hiện ý chí và nguyện vọng của mình trước công luận. Mặt khác, Việt Nam hiện là quốc gia top đầu về tỷ lệ công dân tham gia mạng xã hội (MXH), với hơn 70% công dân khắp các vùng, miền và các nhóm xã hội khác nhau. Ở Việt Nam, theo luật định, không ai và nhóm công dân nào bị cấm hay bị hạn chế tham gia MXH cũng như thể hiện quyền tự do ngôn luận của mình.

Thế nhưng, thực hiện quyền tự do ngôn luận của công dân, nhất là trên MXH đã và đang bộc lộ những bất cập sau đây.

Thứ nhất, không ít biểu hiện thiếu tôn trọng các chuẩn mực văn hóa của cộng đồng. Điều này thể hiện trong sử dụng các ngôn từ, giọng điệu, hình ảnh để biểu thị thái độ và hành vi trước các sự kiện và vấn đề xã hội; như ủng hộ hay phản đối cái gì và ủng hộ, phản đối như thế nào, kể cả những biểu hiện cực đoan trong việc ủng hộ và phản đối. Mỗi sự kiện và vấn đề xã hội đều có tính hai mặt của nó; việc ủng hộ hay phản đối “đúng ngưỡng” đòi hỏi mỗi người cần hiểu biết chuẩn mực ứng xử; và “cái chuẩn” quan trọng chính là ở văn hóa, ở cái tâm của mỗi người.

Thứ hai, lợi dụng những sai phạm trong thực thi công vụ của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức, thậm chí cả những phát ngôn xây dựng hoặc ý kiến của chuyên gia, nhà khoa học có uy tín mà ai đó chưa đồng tình, cũng kích hoạt trên MXH thành luồng ý kiến like, comment phản đối rần rần với những từ ngữ, giọng điệu khó chấp nhận. Đây là một trong những biểu hiện làm giảm hàm lượng văn hóa trong ngôn luận và giao tiếp cộng đồng.

Thứ ba, lợi dụng quyền tự do ngôn luận trên MXH, kết nối xã hội trong môi trường truyền thông số để chỉ trích, thậm chí công kích chủ trương, quyết sách phát triển kinh tế-xã hội của Đảng, Nhà nước; và mỗi khi bị cơ quan chức năng xử lý thì đối tượng bị xử phạt cho rằng “vi phạm tự do ngôn luận” của công dân!

Tự do ngôn luận khác về bản chất với "ngôn luận tự do”. Tự do ngôn luận cần bảo đảm tuân thủ chuẩn mực pháp lý, chuẩn mực văn hóa, giao tiếp, là quyền cơ bản của công dân tham gia trao đổi, chia sẻ, tranh luận và phản biện xã hội vì mục đích xây dựng, vì lợi ích công; chứ không phải lợi dụng quyền này để thỏa mãn và mưu lợi cá nhân, để xâm hại lợi ích công và chuẩn mực văn hóa cộng đồng. Còn ngôn luận tự do là tự do nói năng, phát ngôn, bình luận, chia sẻ, tán phát thông tin một cách tùy tiện, vô lối. Trên thực tế, không có quyền tự do nào là tuyệt đối mà chỉ có quyền tự do tương đối. Nếu để tự do tuyệt đối nghĩa là tự do vô giới hạn, vô chính phủ sẽ dẫn đến tình trạng mất kiểm soát, gây ra rối loạn xã hội. Quyền tự do ngôn luận cũng vậy. Nếu ai cũng nói năng bừa bãi, phát ngôn tùy tiện, chia sẻ thông tin bất chấp đúng-sai, thật-giả lẫn lộn, không chỉ làm cho xã hội rơi vào tình trạng rối nhiễu thông tin mà còn có thể tạo ra những cuộc khủng hoảng thông tin xã hội một cách trầm trọng, từ đó gây mất ổn định an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. 

Thứ tư, có những biểu hiện tán phát tài liệu trên MXH để xuyên tạc, công kích, chống phá các quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước, gây hoang mang, dao động trong một bộ phận công chúng. Đây là biểu hiện phức tạp nhưng không khó để nhận diện. Chúng ta biết rằng, trên thế giới, mỗi nước có những thể chế và cấu trúc quyền lực không giống nhau; đồng thời mỗi nước có chủ thuyết phát triển của mình. Vấn đề này phụ thuộc vào nhiều yếu tố mà “không ai giống ai" trên con đường tìm kiếm lối đi riêng trong quá trình phát triển, hội nhập quốc tế. Ví dụ ở Hoa Kỳ, mỗi đời tổng thống lại có chủ trương, quyết sách của mình, mà các chủ trương quyết sách này có thể mâu thuẫn gay gắt giữa các đời tổng thống. Hay như ở Liên bang Nga. Mặc dù phương Tây tập trung công kích, trừng phạt và cô lập Nga, thậm chí muốn xé nhỏ nước Nga ra mấy mảnh để dễ bề thao túng thế giới, nhưng dưới thời Tổng thống Vladimir Putin, nước Nga đang được vực dậy bởi chiến lược và những quyết sách táo bạo; và nước Nga đang trở thành cường quốc giữa sự ngỡ ngàng của chính phương Tây.

Việt Nam cũng vậy, thể chế cũng đang tiếp tục được hoàn thiện đáp ứng nhu cầu phát triển trong bối cảnh mới. Vậy nên, ở Việt Nam, thiết nghĩ, mỗi công dân yêu nước đều có mong ước nhiệt thành là làm sao để đất nước cường thịnh, để dân tộc từng bước bước lên những nấc thang phát triển phồn vinh. Nhưng để đạt được những kỳ tích mong đợi, mà những kỳ tích này sau một thời gian mới có thể nhìn thấy rõ ràng, thì trước hết, mỗi công dân cần nhận thức, thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ công dân, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Bởi các quyền này, bản thân nó có khả năng tạo ra siêu kết nối xã hội và từ đây, có thể kết nối trí tuệ và cảm xúc cộng đồng và đó là một trong những động lực tạo nên niềm tin, sức mạnh mềm cho sự phát triển bền vững đất nước.

Tự do ngôn luận khác với “ngôn luận tự do” như thế nào?

 

 Tự do ngôn luận khác với “ngôn luận tự do”

Tự do ngôn luận khác về bản chất với “ngôn luận tự do”. Tự do ngôn luận cần bảo đảm tuân thủ chuẩn mực pháp lý, chuẩn mực văn hóa, giao tiếp, là quyền cơ bản của công dân tham gia trao đổi, chia sẻ, tranh luận và phản biện xã hội vì mục đích xây dựng, vì lợi ích công chứ không phải lợi dụng quyền này để thỏa mãn và mưu lợi cá nhân, để xâm hại lợi ích công và chuẩn mực văn hóa cộng đồng.

“Thị trường ngôn luận” ở nhiều nước bị lợi ích nhóm chi phối

Ngày 7-1-2015, cả thế giới bàng hoàng, phẫn nộ và lên án hành động các tay súng khủng bố tấn công tòa soạn Tạp chí Charlie Hebdo tại trung tâm thủ đô Paris của nước Pháp vốn nổi tiếng về truyền thống văn hóa, sự lịch lãm và thanh bình, làm 12 người thiệt mạng tại chỗ (bao gồm 10 nhà báo của tạp chí cùng 2 cảnh sát) và hơn 20 người bị thương. Lý do vì tạp chí này đăng lại 12 bức biếm họa châm biếm đấng tiên tri Hồi giáo Mohammed từng xuất hiện trên nhật báo Jyllands-Posten của Ðan Mạch hồi năm 2006; và khi ấy đã bùng lên làn sóng phẫn nộ của người Hồi giáo trên khắp Trung Đông, Nam Phi...

Từ sự kiện này, có hai luồng ý kiến trong dư luận: Hầu hết chỉ trích nhóm khủng bố đã gây ra cuộc thảm sát đẫm máu, tấn công vào cơ quan ngôn luận luôn tự cho mình là đại diện của nền báo chí tự do; luồng ý kiến khác, ngay tại nước Pháp, theo France24, kết quả từ cuộc thăm dò của Ifob đưa ra cho thấy 42% số người được hỏi ở Pháp đều cho rằng các bức tranh biếm họa về nhà tiên tri Mohammed như những hình ảnh mà Tạp chí Charlie Hebdo đăng tải, xúc phạm tới người Hồi giáo và không nên được xuất bản công khai.

Trước khi sự kiện trên xảy ra, hãng phim Sony Pictures của Mỹ đã bị một nhóm hacker đột nhập, hệ thống máy tính và email của các nhân viên trong Sony Pictures đã bị tê liệt gây thiệt hại nghiêm trọng cho hoạt động của công ty. Vụ việc cũng làm dấy lên tranh cãi giữa Mỹ và Triều Tiên-hai nước vốn dĩ không lúc nào “mưa thuận gió hòa”. Lý do là vì bộ phim này miêu tả hành động giả định lãnh đạo Kim Jong Un của Triều Tiên bị ám sát. Điều đó đối với Triều Tiên cũng được coi là hành vi phỉ báng khó tha thứ.

Mới đây, ngày 23-5-2021, máy bay quân sự MIG-29 của Belarus ép máy bay chở khách của hãng hàng không Ryanair Air (Ireland) khởi hành từ Athens, Hy Lạp đến Vilnius (Lithuania), khi bay qua không phận Belarus do nhận được thông báo rủi ro an ninh từ cơ quan kiểm soát không lưu Belarus và được chỉ dẫn chuyển hướng tới sân bay gần nhất tại thành phố Minsk. Từ sự kiện này, dư luận truyền thông phương Tây đã và đang rộ lên làn sóng phản đối kịch liệt; các nhà chức trách EU đang vào cuộc đưa ra những giải pháp trừng phạt, tẩy chay Belarus.

Ngay cả đại dịch Covid-19 cũng vậy. Lẽ ra, theo thông lệ, giải quyết đại dịch là vấn đề toàn cầu; toàn cầu cần đồng sức, đồng lòng vì nó vượt ra ngoài biên giới quốc gia, lãnh thổ. Nhưng trong đại dịch này, khi cộng đồng quốc tế mong nhận được vaccine thì ngay trong giới quan trường phương Tây lại có sự phân biệt, thậm chí ngăn cản việc tiếp cận vaccine ngừa Covid-19 Sputnik V do Trung tâm Nghiên cứu dịch tễ, vi sinh quốc gia Gamaleya và Bộ Quốc phòng Nga phát triển. Lý do mà EU chần chừ chậm cấp giấy phép cũng chỉ có giới lãnh đạo EU mới biết được, trong khi cộng đồng cư dân đang hằng ngày mong đợi.

Thực tế cho thấy, trên thế giới, hiếm có sự kiện, vấn đề nào mà từ đó “thị trường ngôn luận” có sự đồng thuận. Tạm gọi là thị “trường ngôn luận” vì thực tế đằng sau các luồng ý kiến là sự chi phối, thậm chí mặc cả, ngã giá vì lợi ích hay mục tiêu chính trị nào đó. Lý do thì nhiều, nhưng ý chí và lợi ích chính trị luôn chi phối, ngay cả những vấn đề dịch bệnh-vấn đề toàn cầu đang phải đối mặt từng phút, cũng bị các nhóm lợi ích trên thế giới chi phối, kể cả về mặt thông tin.


Cần nhận diện rõ và kiên quyết tẩy chay chiêu trò lật mặt của những kẻ lái buôn thuật ngữ

 

Vì động cơ chống phá Đảng, Nhà nước mà một số đối tượng cơ hội chính trị, bất mãn, thù địch luôn tìm mọi thủ đoạn, “đánh tráo khái niệm” nhằm vu cáo, đổ lỗi cho chế độ của Việt Nam. Và lần này, sau hàng loạt sai phạm của một số cán bộ ngành y tế bị cơ quan chức năng điều tra, xử lý, các đối tượng này tiếp tục quay sang công kích chế độ. Họ đổ lỗi rằng, các cán bộ tham nhũng, sai phạm, phải tù tội "do lỗi của chế độ"; rằng chế độ ta "sinh ra tham nhũng, lỗi hệ thống tạo ra chứ không phải do biện pháp thực hiện". Đổ lỗi, vu cáo cho thể chế hay đổ lỗi cho chế độ là chiêu bài quen thuộc của một số nhóm đối tượng chuyên chống phá Đảng, Nhà nước. Tuy nhiên, họ đã nhầm, hoặc do cố tình “đánh lận con đen” khi quy chụp rằng, chế độ mà chúng ta đang xây dựng đã sinh ra tham nhũng.  

Sai phạm của họ do liên quan đến mua sắm, đấu thầu trang thiết bị y tế, thuốc chữa bệnh; cấp số đăng ký lưu hành nhiều tân dược giả... Đại đa số dư luận rất đau xót nhưng đều rất đồng tình với việc cần phải xử lý nghiêm minh, kiên quyết những sai phạm. Việc xử lý này cũng thể hiện quyết tâm của Đảng, Nhà nước trong chống tham nhũng, tiêu cực là “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào”.

Từ cổ đại đến hiện đại, tất cả học giả kinh tế hay chính trị đều thống nhất một quan điểm: Tham nhũng là hiện tượng xã hội, tồn tại tất yếu, khách quan trong xã hội có nhà nước (có giai cấp). Tham nhũng tồn tại ở mọi quốc gia, hiện diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, không phụ thuộc vào chế độ chính trị “đa đảng” hay “một đảng” và cũng không phụ thuộc vào trình độ phát triển. Tham nhũng là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực trong xã hội có giai cấp, có nhà nước. Thời đại nào, chế độ nào, quốc gia nào cũng có, không thể xóa tận gốc nó trong một thời gian ngắn. Để phòng, chống tham nhũng, mọi quốc gia đều phải sử dụng các công cụ, biện pháp trong quản trị nhà nước nhằm triệt tiêu nó. Bởi thế, đổ lỗi cho chế độ ta mới sinh ra tham nhũng là rất thiếu hiểu biết, hoặc đó là cách ngụy biện.

Lời cảnh tỉnh cho những kẻ cố tình lợi dụng tự do ngôn luận để chống phá Việt Nam

 Tòa án nhân dân TP Hà Nội vừa mở phiên xét xử sơ thẩm, tuyên phạt bị cáo Nguyễn Lân Thắng (sinh năm 1975; trú tại phường Thịnh Quang, quận Đống Đa, TP Hà Nội) 6 năm tù và quản chế 2 năm sau khi chấp hành xong hình phạt tù về tội “Làm, tàng trữ, tán phát hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo quy định tại Điều 117 Bộ luật Hình sự.

Bản án nghiêm minh này cũng là lời cảnh tỉnh cho những kẻ cố tình lợi dụng tự do ngôn luận để chống phá Nhà nước. Theo nội dung cáo trạng, trong khoảng thời gian từ ngày 13-6-2018 đến 31-12-2020, bị cáo Nguyễn Lân Thắng đã trực tiếp tham gia trả lời phỏng vấn các trang mạng, đăng tải lên internet nhiều video có nội dung tuyên truyền thông tin, tài liệu nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Trong đó có 11 nội dung tuyên truyền thông tin xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, phỉ báng chính quyền nhân dân; 8 nội dung tuyên truyền luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; 4 nội dung xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân...

Ngoài ra, bị cáo Thắng còn tàng trữ 2 tài liệu dạng sách có 3 nội dung tuyên truyền thông tin xuyên tạc, 14 nội dung tuyên truyền thông tin bịa đặt, 12 nội dung xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân...

Theo Điều 117 Bộ luật Hình sự, người nào có một trong những hành vi sau nhằm chống Nhà nước sẽ bị phạt tù 5-12 năm: Làm, tàng trữ, tán phát hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm có nội dung xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân hoặc có nội dung bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân hoặc gây chiến tranh tâm lý.

Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng bị phạt tù 10-20 năm; người chuẩn bị phạm tội này bị phạt tù 1-5 năm. Căn cứ vào quy định trên, Tòa án nhân dân TP Hà Nội tuyên mức án với bị cáo Nguyễn Lân Thắng là phù hợp.

Theo thông tin từ cơ quan chức năng, Nguyễn Lân Thắng đã bị xử lý nhiều lần về các hành vi liên quan đến tuyên truyền bịa đặt, sai sự thật, chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ; từng bị tạm giữ vì có hành động phá hoại Đảng Cộng sản Việt Nam. Những tưởng sau khi bị xử lý theo quy định của pháp luật, Thắng sẽ ăn năn, hối cải, nhưng đối tượng này lại “ngựa quen đường cũ”, tiếp tục có các hành vi chống phá Đảng, Nhà nước. Điển hình là: Thắng đòi giải tán Quốc hội vì không đáp ứng yêu cầu xóa bỏ Điều 4 của Hiến pháp; kêu gọi “phản đối Quốc hội thông qua sửa đổi Hiến pháp năm 1992”; lập fanpage “Hội những người không đồng ý Quốc hội thông qua bản Hiến pháp năm 1992 sửa đổi”... trên internet, đặc biệt là trên Facebook, Twitter...

Ngoài ra, Nguyễn Lân Thắng còn kích động, kêu gọi người dân không đi xem bắn pháo hoa; kêu gọi người dân phải dùng cái chết để đấu tranh như cách tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức; đối tượng còn cực đoan đến mức thù ghét bất cứ ai mặc áo có gắn cờ Việt Nam. Đặc biệt, Thắng nhiều lần xúc phạm lãnh tụ Hồ Chí Minh nhằm tạo sự chú ý của cộng đồng mạng. Vì hành vi này, nhiều lần Thắng đã bị người dân kéo đến tận nhà yêu cầu phải xin lỗi...

Để lôi kéo “con nhang đệ tử”, đồng thời tạo sự tác động lớn đối với dư luận, quá trình hoạt động chống phá, Nguyễn Lân Thắng luôn tìm cách “đánh bóng” bản thân để mọi người lầm tưởng mình là nhà báo tự do. Đi đâu Thắng cũng kè kè chiếc máy ảnh để sẵn sàng chớp những khoảnh khắc, hình ảnh phản cảm, tiêu cực, sau đó “thêm mắm thêm muối” nói xấu chế độ, quy chụp, phỉ báng chính quyền.

Cứ ở đâu có sự kiện "nóng", thu hút sự quan tâm của dư luận là Thắng có mặt, đưa tin tiêu cực, hô hào, kích động. Có khi, do thiếu “sự vụ”, Nguyễn Lân Thắng sẵn sàng áp dụng chiêu thức “Chí Phèo”, liều lĩnh xông vào cơ quan chức năng để chụp hình, tán phát thông tin sai lệch, nói xấu lực lượng vũ trang, điển hình như vụ vu khống Công an trại Lộc Hà đánh người...

Qua những vụ việc đó, “hư danh” của Thắng càng nổi, tạo được sự quan tâm, chú ý của các đối tượng, trang mạng chống đối, “lề trái”. Được đà, Thắng càng ảo tưởng mình là “vĩ nhân”, nhiều lần trả lời các đài, báo để huênh hoang “phán” về cái gọi là "sự nghiệp đấu tranh dân chủ, nhân quyền"... Chứng kiến các hành vi vi phạm pháp luật của Nguyễn Lân Thắng, không ít người dân yêu nước mong muốn cơ quan chức năng phải xử lý nghiêm minh đối tượng này để răn đe, cảnh tỉnh cho những kẻ đang có hành vi tương tự, từ đó dọn bớt những thông tin “rác” trên mạng xã hội.

Như vậy, xâu chuỗi các hoạt động của Nguyễn Lân Thắng, có thể khẳng định đây là đối tượng chống phá Nhà nước có chủ đích, trong thời gian dài, với biểu hiện ngày càng ngang nhiên, quyết liệt, không có sự ăn năn, hối cải.

Chính vì vậy, việc Tòa án nhân dân TP Hà Nội tổ chức xét xử, tuyên phạt mức án nghiêm minh đối với Nguyễn Lân Thắng là hết sức cần thiết. Qua đó thể hiện thông điệp hết sức rõ ràng: Phản biện xã hội để đất nước tốt đẹp, văn minh hơn là cần thiết, đáng trân trọng. Song, nếu xúc phạm, bôi nhọ, xuyên tạc, chống phá Nhà nước thì rõ ràng vi phạm pháp luật, không thể dung tha. Mong rằng, sau phiên tòa xét xử bị cáo Nguyễn Lân Thắng, những đối tượng đang chống phá Nhà nước sẽ tỉnh ngộ, không lợi dụng tự do ngôn luận để làm điều sai trái.

Nhận rõ Sự bịa đặt, xuyên tạc trắng trợn


Thực tiễn đã chứng minh, Đảng, Nhà nước ta luôn tôn trọng, bảo đảm các quyền con người; quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí trong thực tế đời sống, xã hội và cam kết quốc tế. Ở Việt Nam hiện có khoảng 41.000 nhân sự đang tham gia hoạt động trong lĩnh vực báo chí, 779 cơ quan báo chí, 72 cơ quan được cấp phép hoạt động phát thanh, truyền hình; ngoài ra còn có khoảng 70% dân số sử dụng điện thoại di động, tỷ lệ dân số sử dụng internet qua thiết bị di động chiếm khoảng 95%. Những điều đó cho thấy, đâu cần phải có cái gọi là “doanh nghiệp xã hội báo chí” hay các tổ chức “xã hội dân sự” như Phạm Lê Đoan tưởng tượng ra thì tự do ngôn luận ở Việt Nam mới được bảo đảm!

Việt Nam luôn xuất phát từ sự chân thành trên cơ sở tôn trọng, thiện chí trong hợp tác, bình đẳng, trên cơ sở pháp lý. Đối thoại nhân quyền giữa Việt Nam với châu Âu, Mỹ hằng năm vẫn diễn ra trên cơ sở hướng tới sự hiểu biết, tin cậy. Chính sách của Nhà nước Việt Nam là nhất quán. Không ai có thể phủ nhận những nỗ lực trong thực hiện quyền con người cùng những đóng góp quan trọng của Việt Nam cho sự nghiệp quyền con người của nhân loại. Ngay từ khi trở thành thành viên của LHQ từ năm 1977, Việt Nam đã tham gia tích cực vào quá trình xây dựng và phát triển của tổ chức này, trong đó có Ủy ban Nhân quyền của LHQ. Đặc biệt, từ đại dịch Covid-19 trên toàn thế giới cho thấy, Việt Nam đã nỗ lực ở mức cao nhất nhằm bảo đảm chăm sóc sức khỏe người dân, chăm lo thúc đẩy quyền con người trên các lĩnh vực. Chính các nước phương Tây cũng đánh giá cao vai trò của Việt Nam tại Hội đồng Nhân quyền LHQ; trong nhiều trường hợp, Việt Nam làm trung gian trong các cuộc thương lượng. Ngày 22-2-2021, Việt Nam tuyên bố tiếp tục ứng cử là thành viên của Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025. ASEAN cũng đã chính thức công nhận Việt Nam là ứng cử viên duy nhất của khối. Điều đó cho thấy, Việt Nam thực sự có trách nhiệm và luôn nỗ lực trong việc thực hiện quyền con người cả về chính sách cũng như thực tiễn, luôn là một thành viên tích cực của LHQ cũng như cộng đồng quốc tế, Việt Nam khẳng định thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế về quyền con người, và luôn nỗ lực thúc đẩy phát triển quyền con người cả ở trong nước cũng như trên thế giới"./.


 

Bác bỏ định kiến xiên tạc của Tổ chức Ủy ban Bảo vệ nhà báo về tình hình tự do báo chí ở Việt Nam

     Việt Nam hoàn toàn bác bỏ những nội dung sai sự thật, không khách quan, với định kiến xấu mà Tổ chức Ủy ban Bảo vệ nhà báo (CPJ) đưa ra về tình hình Việt Nam. Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng đã nhấn mạnh như vậy tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao chiều 17-12.Trả lời câu hỏi của phóng viên, đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam trước thông tin từ Tổ chức Ủy ban Bảo vệ nhà báo (CPJ) cho rằng chính sách quản chế tự do báo chí của Chính phủ Việt Nam ngày càng trở nên nghiêm khắc, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng nhấn mạnh:

“Chúng tôi hoàn toàn bác bỏ những nội dung sai sự thật, không khách quan, với định kiến xấu mà Tổ chức Ủy ban Bảo vệ nhà báo (CPJ) đưa ra về tình hình Việt Nam.

Việt Nam luôn ủng hộ và đảm bảo thực thi quyền tự do báo chí. Điều này được quy định cụ thể trong Hiến pháp 2013 và nhiều văn bản pháp luật liên quan, được thể hiện rõ ràng qua sự phát triển mạnh mẽ của báo chí Việt Nam trong thời gian qua. Tính đến hết năm 2019, Việt Nam có 868 cơ quan báo chí, 125 kênh truyền hình; mạng di động phủ sóng 99,7% dân số, trong đó mạng 3G và 4G phục vụ 98% dân số; hơn 64 triệu người dân Việt Nam đang sử dụng internet và hơn 62 triệu người dân sử dụng mạng xã hội.

Ở Việt Nam cũng như ở bất cứ nhà nước pháp quyền nào trên thế giới, tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và bất cứ ai nếu có hành vi vi phạm pháp luật đều phải bị xét xử theo đúng trình tự tố tụng đã được quy định trong pháp luật hiện hành”.

* Trả lời câu hỏi đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam trước việc Bộ Tài chính Hoa Kỳ chính thức xác định Việt Nam và Thụy Sĩ là quốc gia thao túng tiền tệ, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng nêu rõ:

“Theo tôi được biết, Ngân hàng Nhà nước đã có thông tin cụ thể về việc này. Trong 25 năm qua, đặc biệt từ khi thiết lập quan hệ Đối tác Toàn diện, quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ đã chứng kiến những bước phát triển mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực, trong đó có kinh tế, thương mại và đầu tư. Chính phủ Việt Nam đặc biệt coi trọng quan hệ kinh tế, thương mại với Hoa Kỳ, thực hiện nghiêm túc các cam kết cấp cao, thỏa thuận thương mại giữa hai nước cũng như các cam kết thương mại đa phương. Việt Nam duy trì đối thoại và tham vấn trên tinh thần xây dựng với phía Hoa Kỳ để xử lý các vấn đề vướng mắc trong quan hệ kinh tế, thương mại song phương theo hướng bền vững và hài hòa lợi ích của cả hai bên”.

TT

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực sự là một đột phá lý luận của Đảng ta


Thực tiễn đã khẳng định kinh tế và chính trị có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại, quy định và chế ước lẫn nhau. Trên thế giới hiện nay, không có đảng phái chính trị nào không gắn kết với kinh tế. Lênin đã từng chỉ ra rằng: kinh tế quyết định chính trị, chính trị phản ánh kinh tế, nhưng chính trị không thụ động trước kinh tế, mà có vai trò tác động trở lại với kinh tế hoặc tích cực, thúc đẩy kinh tế phát triển, nếu là chính trị đúng đắn, sáng suốt; hoặc tiêu cực, kìm hãm sự phát triển kinh tế và xã hội, nếu là chính trị sai lầm.  Các đảng lớn của các nước tư bản phát triển đều đưa ra đường lối chính trị, dẫn dắt sự phát triển xã hội theo lý tưởng, mục tiêu đã lựa chọn. Trong đường lối chính trị đó đều có đường lối phát triển kinh tế. Thực tiễn tại Việt Nam trong thế kỷ qua cho thấy, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta, trong đó có lĩnh vực kinh tế. Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội đã được hiến định trong Hiến pháp, văn bản pháp lý cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hiến pháp cũng hiến định Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Trong đó có lĩnh vực kinh tế. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đảng lãnh đạo kinh tế bằng cách tạo ra bảo đảm chính trị cho hoạt động kinh tế, xác định phương hướng chính trị cho hoạt động kinh tế đúng đắn và lành mạnh. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, kinh tế Việt Nam trong thời gian qua đã vượt qua bao gian nan, thử thách, được cả thế giới ngưỡng mộ, đặc biệt là trong thời kỳ phải đối mặt với đại dịch Covid-19. Thực tiễn đã trả lời rõ ràng cho câu hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam có nên lãnh đạo kinh tế hay không. Thực tiễn cũng đã khẳng định những luận điệu tuyên truyền “Đảng không nên lãnh đạo kinh tế" là xuyên tạc, kích động. Chúng ta cần cảnh giác và kiên quyết đấu tranh, bác bỏ quan điểm sai trái này./.


 

Tăng cường sức mạnh niềm tin về đường lối quốc phòng hòa bình, tự vệ chính nghĩa


Trước hết chúng ta cần nhận diện rõ: Mục đích xuyên suốt của các thế lực thù địch là xuyên tạc, phủ nhận bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc; phủ nhận tính chất “tự vệ chân chính” trong đường lối QPTD của Đảng ta. Nội dung các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD thể hiện ở nhiều khía cạnh, màu sắc, tính chất, mức độ khác nhau. Chúng xuyên tạc, phủ nhận các đặc trưng cơ bản nền QPTD, coi chủ trương xây dựng nền QPTD của Việt Nam là “đe dọa hòa bình các nước trong khu vực”. Chúng phủ nhận nền QPTD ở nước ta “không phải vì dân, của dân và do toàn thể nhân dân tiến hành”, “không đếm xỉa đến lợi ích chung của dân tộc”, mà “vì lợi ích của Đảng Cộng sản Việt Nam”.

Rõ ràng, sự xuyên tạc nêu trên của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã cố tình lờ đi một sự thật: Đặc trưng cơ bản nhất của nền QPTD là “hòa bình và tự vệ”, là thể hiện sự khác nhau về bản chất trong xây dựng nền quốc phòng của những quốc gia có độc lập chủ quyền đi theo con đường xã hội chủ nghĩa với các nước đế quốc. Việt Nam xây dựng nền QPTD vững mạnh là để tự vệ, chống lại thù trong, giặc ngoài, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Đó chính là nền quốc phòng vì dân, của dân và do toàn thể nhân dân tiến hành, tiếp nối truyền thống, kinh nghiệm của dân tộc ta trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là đường lối, chính sách quốc phòng tự vệ, chính nghĩa, trân trọng giá trị của độc lập, thống nhất, toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ và khát vọng được sống trong hòa bình của toàn thể dân tộc và nhân dân Việt Nam. Do đó, cần tiếp tục nhận diện, vạch rõ tính chất sai trái, phản khoa học, phản động của các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD; kết hợp giữa “xây” và “chống”, “xây” là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài, “chống” là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên. Tiếp tục chăm lo xây dựng nền QPTD vững mạnh, vun đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc, không ngừng củng cố thế trận lòng dân vững chắc, tăng cường sức mạnh niềm tin của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


 

Bảo đảm tự do ngôn luận, tự do báo chí cho đại đa số người dân

 

Tự do ngôn luận, tự do báo chí là những quyền cơ bản của con người đã được Việt Nam cam kết thực hiện theo những nguyên tắc chung của Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền. Tuy nhiên, đây cũng là vấn đề nhạy cảm mà các thế lực thù địch, phản động, bất mãn chính trị thường lợi dụng để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN).

1. Những năm gần đây, vào dịp Ngày Tự do báo chí thế giới (3-5) hằng năm, hay kỷ niệm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21-6), trên nhiều trang mạng có nội dung xấu độc và trên trang tiếng Việt của một số cơ quan truyền thông nước ngoài thiếu thiện chí với Việt Nam thường xuất hiện các ý kiến, bài viết xuyên tạc tình hình tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam. Trong đó, cái gọi là “Tổ chức phóng viên không biên giới” không những đưa ra bảng xếp hạng hết sức sai trái về tự do báo chí ở Việt Nam, mà còn công bố danh sách và trao giải thưởng “Anh hùng thông tin” cho một số đối tượng người Việt Nam đã lợi dụng tự do, dân chủ chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. “Tiền hô hậu ủng” cho tổ chức phi chính phủ này là những đối tượng được dán mác “nhà đấu tranh dân chủ, nhân quyền”, “nhà báo tự do” trong nước tung ra nhiều bài viết, phát ngôn xuyên tạc trắng trợn tình hình tự do báo chí của Việt Nam.

Không chỉ vậy, vào những thời điểm các cơ quan chức năng, bảo vệ pháp luật của Việt Nam khởi tố vụ án, khởi tố các đối tượng lợi dụng tự do, dân chủ tuyên truyền, chống phá chính quyền Nhà nước, thì các thế lực thù địch bên ngoài và những người còn thù hằn với chế độ lại rêu rao đó là "hành động bóp nghẹt tự do ngôn luận", "triệt tiêu quyền tự do báo chí", hoặc "ra sức ngăn cản những người bất đồng chính kiến"...

2. Là quốc gia thành viên có trách nhiệm của Liên hợp quốc, Việt Nam đã sớm tham gia, ký kết các điều ước quốc tế về bảo đảm các quyền cơ bản của con người và quyền công dân, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Ngay sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bản Hiến pháp đầu tiên được Quốc hội thông qua ngày 9-11-1946 đã hiến định tại Điều thứ 10: “Công dân Việt Nam có quyền: Tự do ngôn luận; tự do xuất bản; tự do tổ chức và hội họp; tự do tín ngưỡng; tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”. Những quyền cơ bản này đã được hiến định xuyên suốt trong các bản hiến pháp của Việt Nam và tiếp tục được hiến định tại Điều 25 Hiến pháp năm 2013: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.

Để bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ngày càng được hiện diện trong thực tiễn cuộc sống, năm 2016, Quốc hội Việt Nam đã ban hành Luật Tiếp cận thông tin và Luật Báo chí. Trong đó, Điều 3 Luật Tiếp cận thông tin quy định: Mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin; thông tin được cung cấp phải chính xác, đầy đủ; việc cung cấp thông tin phải kịp thời, minh bạch, thuận lợi cho công dân; Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật, người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn thực hiện quyền tiếp cận thông tin. Điều 10 của luật này cũng quy định công dân có quyền tự do tiếp cận thông tin được cơ quan nhà nước công khai, đồng thời được yêu cầu cơ quan nhà nước cung cấp thông tin.

Về quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân được quy định tại Điều 11 Luật Báo chí năm 2016 với 3 nội dung cụ thể, gồm: Phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức và cá nhân. Đặc biệt, Điều 13 luật này nêu rõ: “Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình; báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân; báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng”.

Như vậy, về mặt pháp lý, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin của công dân ở Việt Nam đã được quy định toàn diện, đầy đủ, với những nội dung cụ thể, dễ hiểu, dễ áp dụng, dễ thực hiện trong cuộc sống.

3. Trên thực tế, không riêng ở Việt Nam, mà hầu hết các quốc gia tuy có cách tiếp cận không giống nhau về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, nhưng đều có một nguyên tắc cơ bản là việc thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí phải phù hợp với tình hình, điều kiện lịch sử, văn hóa, trình độ dân trí, thể chế chính trị của mỗi nước và không được phép lợi dụng quyền cơ bản này để xâm hại lợi ích quốc gia-dân tộc, làm phương hại danh dự, nhân phẩm người khác và ảnh hưởng tiêu cực đến đạo đức cộng đồng, trật tự xã hội. Điều 11, Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1789 của nước Pháp đã quy định: “Tự do trao đổi suy nghĩ và ý kiến là một trong những quyền quý giá nhất của con người. Vì thế, bất kỳ công dân nào cũng có thể nói, viết và công bố tự do; tuy nhiên, họ sẽ chịu trách nhiệm nếu lạm dụng quyền tự do này theo quy định của pháp luật”. Nước Mỹ tuy không ban hành luật riêng về báo chí, nhưng có nhiều điều luật khác của quốc hội, quy định có tính pháp lý của tòa án cũng đưa ra những giới hạn nhất định đối với báo chí, đối với quyền và trách nhiệm của công dân liên quan đến báo chí nhằm tránh xâm hại đến an ninh quốc gia. Khoản 2, Điều 29 Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền năm 1948 nêu rõ: “Trong khi hành xử những quyền tự do của mình, ai cũng phải chịu những giới hạn do luật pháp đặt ra nhằm bảo đảm những quyền tự do của người khác cũng được thừa nhận và tôn trọng, những đòi hỏi chính đáng về đạo lý, trật tự công cộng và an lạc chung trong một xã hội dân chủ cũng được thỏa mãn”.

Thế giới từng có những bài học về việc báo chí đi quá giới hạn tự do cho phép, nên phải giá rất đắt. Tháng 9-2005, tờ báo Jyllands-Posten (Đan Mạch) đăng tải 12 bức tranh biếm họa về đấng tiên tri Muhammad của Hồi giáo. Sau đó, bức tranh biếm họa này tiếp tục xuất hiện trên nhiều tờ báo ở Pháp, Na Uy, Hà Lan, Italy, Tây Ban Nha. Vụ việc đã gây nên một làn sóng phẫn nộ mạnh mẽ của những người theo đạo Hồi trên toàn thế giới dẫn đến nhiều hậu quả xấu. Tháng 7-2011, tờ News of the World (Tin tức thế giới) của nước Anh đã phải đình bản vĩnh viễn sau 168 năm hoạt động vì bị công chúng cáo buộc nhiều phóng viên bản báo này đã đột nhập điện thoại của hàng nghìn người dân để “săn tin”. Nhắc lại hai ví dụ trên để thấy, trên thế giới không có quốc gia nào cho phép tự do báo chí, tự do ngôn luận “đứng trên, đứng ngoài” luật pháp và xâm hại đến an ninh quốc gia. Nếu vi phạm điều này, báo chí sẽ bị công chúng tẩy chay và bị những chế tài xử lý thích hợp.

4. Mọi quyền tự do, trong đó có tự do ngôn luận, tự do báo chí đều phải có giới hạn nhất định. Giới hạn này đặt ra để bảo đảm quyền tự do chính đáng cho số đông mọi người, chứ không phải cho một nhóm ít người nào đó nói năng bừa bãi, phát ngôn bạt mạng, thích gì viết đấy, nói và viết chỉ vì động cơ cá nhân ích kỷ, thiên vị mà không vì sự ổn định, đồng thuận chung của xã hội, cộng đồng.

Chẳng hạn như trong đợt đại dịch Covid-19, nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam không chỉ đối mặt với loại virus nguy hiểm này, mà còn phải đối mặt với vấn nạn tin giả tràn lan trên mạng xã hội. Phần lớn những tin giả này xuất phát từ những người lợi dụng tự do ngôn luận để lan truyền thông tin sai trái, thất thiệt, tác động tiêu cực đến dư luận xã hội và an ninh truyền thông. Do đó, ngăn chặn, xử lý những đối tượng gây ra nạn “hoang tin” trên mạng xã hội chính là góp phần bảo đảm sự trong sạch của môi trường thông tin, qua đó góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội. Thành công của Việt Nam trong công tác phòng, chống, kiểm soát đại dịch Covid-19 được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao, có một phần bắt nguồn từ việc Đảng, Nhà nước Việt Nam và các cấp, các ngành đã làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền, tạo sự đồng thuận cao trong các tầng lớp nhân dân; đồng thời phát hiện, ngăn chặn kịp thời những thông tin sai trái về dịch bệnh trên mạng xã hội.

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn xác định việc bảo đảm, thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam là một trong những giải pháp quan trọng để khơi dậy, phát huy ý chí, nguyện vọng, trí tuệ, sức mạnh tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Mặt khác, trong quá trình hội nhập quốc tế, Việt Nam luôn có tinh thần cầu thị, tích cực tiếp thu, học hỏi, tham khảo những kinh nghiệm tiến bộ của các quốc gia khác để thực hiện ngày càng tốt hơn quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí cho đại đa số người dân.

Để bảo đảm quyền lợi, tự do chính đáng cho số đông công dân, chúng ta cũng không chủ quan, lơ là, mà phải luôn đề cao cảnh giác, tỉnh táo nhận diện, kiên quyết vạch trần, kịp thời bác bỏ mọi âm mưu của các thế lực thù địch, phản động, bất mãn chính trị cố tình lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí nhằm đưa ra những thông tin sai trái, xuyên tạc, tác động tiêu cực dư luận xã hội, xâm hại an ninh truyền thông quốc gia, chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam.  

TT

Quân đội ta luôn được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam-đội tiền phong của giai cấp công nhân Việt Nam, của nhân dân lao động và của cả dân tộc.

 

Thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội, chúng rêu rao: quân đội nên “trung lập hóa về chính trị”, “quân đội đứng ngoài chính trị”, quân đội phi giai cấp, do đó quân đội chỉ phục tùng Nhà nước chứ không chịu phục tùng bất cứ chính đảng nào. Thực chất chính là làm cho Quân đội ta đứng ngoài chính trị, mất phương hướng và mục tiêu chiến đấu; mưu đồ xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội.

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã khẳng định: Bất kỳ một quân đội nào cũng đều mang bản chất của giai cấp và nhà nước sinh ra và nuôi dưỡng nó. Lênin khẳng định: “Quân đội không thể và không nên trung lập. Không lôi kéo quân đội vào chính trị - đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ giả nhân giả nghĩa của giai cấp tư sản và của chế độ Nga hoàng, bọn này trong thực tế bao giờ cũng đã lôi kéo quân đội vào chính trị phản động”. Quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản mang bản chất giai cấp công nhân là một tất yếu khách quan. Sự kiện sụp đổ chế độ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ở liên xô là một bài học đắt giá vì Đảng Cộng sản liên Xô để quân đội mất phương hướng mục tiêu chiến đấu. Quân đội nhân dân Việt Nam là tổ chức vũ trang do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, tổ chức, xây dựng và sử dụng nhằm bảo vệ lợi ích căn bản của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Vì vậy, chúng ta khẳng định rằng: Quân đội nhân dân Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân Việt Nam, thống nhất hữu cơ giữa tính giai cấp, tính nhân dân và tính dân tộc. Hồ Chí Minh khẳng định: “Quân đội ta là quân đội nhân dân. Quân đội ta sinh trưởng, thắng lợi là nhờ nhân dân, do nhân dân giúp đỡ. Quân đội phải bám dân, rời dân nhất định thất bại. Trong suốt chiều dài của chặn đường phát triển, trưởng thành, Quân đội ta đã lập nên những chiến công vẻ vang, góp phần xuất sắc vào sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc Việt Nam XHCN, xứng đáng với lời biểu dương của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.