Chủ Nhật, 23 tháng 4, 2023
KIỀU BÀO TỪ 22 QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VỀ VỚI TRƯỜNG SA VÀ NHÀ GIÀN DK1
GỬI TRƯỜNG SA MUÔN VÀN YÊU THƯƠNG
BIỂN, ĐẢO QUÊ HƯƠNG! PHẦN MÁU THỊT KHÔNG THỂ TÁCH RỜI CỦA TỔ QUỐC VIỆT NAM!
Thể chế hóa phương châm, góp phần đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống
Đại hội
XIII của Đảng nhấn mạnh: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn
quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát
huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân
bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.
Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc, mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống,
nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của
nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”.
Đồng thời, trong tầm nhìn định hướng phát triển của đất nước mà
Đại hội XIII khẳng định: “Tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hóa, thực hiện tốt cơ chế
“Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết,
dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Tổ chức có hiệu
quả, thực chất việc nhân dân tham gia giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của
các tổ chức trong hệ thống chính trị; phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng
viên. Lấy kết quả công việc, sự hài lòng của và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu
chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ, đảng
viên”.
Như vậy, Đảng ta yêu cầu phải “kiên trì thực hiện” phương châm
“Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” và đến nay bổ sung tiêu chí
“dân dám sát”, “dân thụ hưởng”. Phương châm này là thể hiện tư tưởng dân chủ
trong thể chế nhà nước “của dân, do dân, vì dân” và được phân chia bằng “Đảng
lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”. Đã 35 năm kể từ khi Đảng ta đề
ra và thực hiện đường lối đổi mới, trong đó đề ra khẩu hiệu “Dân biết, dân bàn,
dân làm, dân kiểm tra” tiếp đó là 25 năm (kể từ năm 1996) từ khi “khẩu hiệu” được
gọi là “phương châm” và 23 năm xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở với
3 nghị định của Chính phủ 1 Pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2007). Việc
cụ thể hóa phương châm của Đảng bằng Pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
các Nghị định của Chính phủ đã tăng cường, mở rộng quyền làm chủ của người dân,
nhất là ở cấp cơ sở thông qua các quy định, quy chế, hương ước cộng đồng… góp
phần ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phát triển kinh tế, văn
hóa, xã hội, xây dựng tổ chức đảng cấp chính quyền, hệ thống chính trị ở cơ sở,
nổi bật và hiệu quả nhất là việc thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Người
dân ở địa bàn này “được biết, được bàn, được làm, được kiểm tra, được giám sát,
được thụ hưởng” những chương trình, dự án, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội,
đóng góp đầu tư cộng đồng, xây dựng nông thôn mới và những thành quả do mình đầu
tư, bỏ công sức. Tuy nhiên, cho đến nay, do nhiều nguyên nhân, ở nhiều nơi,
trong đó có cơ quan, tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp nhà nước, doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, dân chủ vẫn còn hình thức, quần chúng, người
dân chưa được biết, được bàn, được kiểm tra, giám sát và chưa được thụ hưởng những
chương trình, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội, chưa được thụ hưởng
những thành quả lao động, đóng góp về đất đai, tài nguyên thiên nhiên nơi địa
bàn họ sinh sống, thậm chí họ còn hứng chịu những hậu quả do quá trình phát triển
sản xuất - kinh doanh, dịch vụ, ô nhiễm môi trường, lãng phí tài nguyên đất, nước,
tiếng ồn… gây ra. Một trong những nguyên nhân chính làm hạn chế các quyền dân
chủ của người dân, gây nên nỗi bức xúc xã hội, mâu thuẫn ở khu dân cư là do nhiều
nội dung trong phương châm của Đảng chưa được cụ thể hóa, thể chế hóa, các quy
chế, quy định, nghị định, quyết định của các cấp có thẩm quyền thực hiện chưa
nghiêm; cán bộ, đảng viên, trong đó có lãnh đạo chủ chốt, người đứng đầu… chưa
gương mẫu thực hiện các quy định, quyết định của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước.
Do vậy, với những đường lối, nghị quyết, quan điểm chỉ đạo, giải
pháp… mà Đại hội XIII của Đảng đề ra, xin đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục
thể chế, cụ thể hóa phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân
giám sát, dân thụ hưởng” trong quá trình thực hiện, đưa Nghị quyết của Đảng vào
cuộc sống. Theo đó, tập trung một số giải giáp chính sau đây:
Thứ nhất, đặt phương châm “Dân biết,
dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” cũng như vị trí,
vai trò của người dân trong tổng thể các quan điểm, nhiệm vụ, mục tiêu, kế hoạch,
giải pháp… mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra. Trên cơ sở tổng kết, rút kinh
nghiệm 35 năm thực hiện, cụ thể hóa 4 tiêu chí (biết, bàn, làm, kiểm tra)
nghiên cứu, quán triệt sâu sắc các tiêu chí, nhất là 2 tiêu chí (giám sát, thụ
hưởng) trong tình hình nền dân chủ ngày càng mở rộng, phát triển, nhất là hình
thức dân chủ trực tiếp của người dân.
Thứ hai, các cấp ủy đảng,
chính quyền, tổ chức chính trị - xã hội, các ban chỉ đạo xây dựng và thực hiện
Quy chế dân chủ ở cơ sở, cán bộ, đảng viên cần nghiên cứu, học tập, quán triệt
lại các tiêu chí trong phương châm của Đảng để vận dụng vào cơ quan, đơn vị, tổ
chức, địa phương mình cho phù hợp. Không phải chỉ nghiên cứu nội hàm của tiêu
chí mới được bổ sung - dân giám sát, dân thụ hưởng - mà cả nội hàm của tất cả 6
tiêu chí trong phương châm của Đảng. Bởi nội hàm các tiêu chí đó ngày càng mở rộng,
phát triển, phong phú và phức tạp hơn trước đổi mới, biến chuyển của xã hội, đất
nước. Chẳng hạn, tiêu chí “dân biết” hiện nay khác rất xa “dân biết” cách đây
20 hay 35 năm. Cũng như vậy, tiêu chí “dân kiểm tra, dân giám sát” có sự bổ trợ,
liên quan với nhau và “dân thụ hưởng” có những nội hàm mới vì từ trước đến nay
nói chung và về cơ bản dân ta đã được hưởng những thành quả của sự nghiệp đổi mới
mà họ tham gia đóng góp.
Thứ ba, đối với cơ quan lập pháp là
Ủy ban Thường vụ Quốc hội nói riêng, Quốc hội khóa XV nói chung, trong quá
trình nghiên cứu, học tập, xây dựng chương trình hành động cần có nội dung xây
dựng Luật, pháp lệnh liên quan đến việc vận dụng, cụ thể hóa phương châm của Đảng
về “Dân” mà Đại hội XIII vừa đề ra.
Thứ tư, đối với Chính phủ, qua 23
năm xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở các loại hình cơ sở, bên cạnh những
thành tích, chuyển biến tích cực, các nghị định này đã bộc lộ những hạn chế, bất
cập. Chẳng hạn việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở loại hình cơ quan ở
nhiều nơi, nhiều lúc còn hình thức, kém hiệu quả. Quy chế thực hiện dân chủ ở
các doanh nghiệp nhà nước hiện nay có nhiều bất cập bởi hầu hết các doanh nghiệp
nhà nước đã chuyển đổi thành công ty cổ phần, liên doanh, liên kết. Các đơn vị
sự nghiệp công lập và ngoài công lập ngày càng phát triển và hoạt động rất rộng
rãi, phức tạp cũng cần xây dựng, bổ sung Quy chế dân chủ, pháp lệnh hoặc luật về
dân chủ cơ sở... Do đó, dù Quốc hội có nâng cấp từ Pháp lệnh thành Luật về thực
hiện dân chủ ở xã hay xây dựng bộ luật về dân chủ nói chung, thì Chính phủ cùng
cần xem xét, bổ sung, sửa đổi các nghị định về xây dựng và thực hiện các loại
hình cơ sở còn lại.
Thứ năm, khi Đảng ta là
đảng cầm quyền, thể chế của dân, do dân, vì dân ngày càng khẳng định và mở rộng,
người dân sống và làm việc theo pháp luật… thì mọi chủ trương, nghị quyết của Đảng
phải được thể chế hóa thông qua chính sách, pháp luật của Nhà nước, công tác
dân vận của các cấp chính quyền, của các cơ quan nhà nước, sự gương mẫu của cán
bộ, công chức, viên chức là cực kỳ quan trọng. Công tác dân vận của chính quyền
các cấp chính quyền trước hết là các chế độ, chính sách phải vì lợi ích, nguyện
vọng của người dân; người dân hài lòng về hiệu quả công việc, thái độ, chất lượng
phục vụ của cán bộ, công chức, viên chức. Cán bộ lãnh đạo các cấp chính quyền,
nhất là người đứng đầu thực hiện tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của
dân... Tất cả những nội dung trên phải được lượng hóa bằng các tiêu chí cụ thể
và có các giải pháp khoa học, công tâm, khách quan để “đo” sự hài lòng của người
dân.
Thứ sáu, đối với các cấp ủy, tổ chức
đảng, cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, có vai trò quyết định trong việc
thể chế hóa phương châm của Đảng thành hiện thực cuộc sống.
“Đảng ta thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ
cán bộ”, trong khi đó “cán bộ là cái gốc của mọi công việc” (3), "Công việc
thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém" (4), do đó suy đến
cùng, các cấp ủy, tổ chức đảng là người chịu trách nhiệm trước hết và cao nhất
trong việc cụ thể hóa, đưa phương châm của Đảng vào cuộc sống.
Quyết định số 217-QĐ/TW của Bộ Chính trị (khóa XI) ban
hành “Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các
đoàn thể chính trị - xã hội” và Quyết định 218-QĐ/TW của Bộ Chính trị ban hành
“Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và
nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền” là vô cùng quan trọng.
Tuy nhiên, việc thực hiện còn chưa được như mong muốn, người dân ở nhiều nơi
chưa được trực tiếp tham gia giám sát, phản biện, góp ý xây dựng tổ chức đảng,
xây dựng chính quyền, phẩm chất đạo đức, lối sống, tác phong, các biểu hiện
tham nhũng, tiêu cực cán bộ, đảng viên, gia đình, họ hàng, người thân cả ở nơi
công tác và nơi cư trú. Rất cần thể chế hóa bằng Luật, pháp lệnh của Nhà nước bảo
đảm dân chủ thực chất, hiệu quả hơn.
Một số quy chế, quy định, quyết định, chỉ thị... của của Bộ
Chính trị, Ban Bí thư, Trung ương Đảng liên quan mối quan hệ giữa Đảng - Dân
ban hành đã lâu hoặc cũng chưa được thể chế hóa chặt chẽ, nghiêm ngặt, dựa vào
sự tự giác của tập thể, cá nhân nên hiệu lực, hiệu quả chưa cao, cần được rà
soát, rút kinh nghiệm, thể chế hóa, bảo đảm thực hiện nghiêm minh, thực chất,
hiệu quả: Quy định về nêu gương của cán bộ, đảng viên; Quy định về người đứng đầu
cấp ủy tiếp và đối thoại với dân; Quy định những điều đảng viên không được làm;
Quy định đảng viên làm kinh tế tư nhân; Quy định đảng viên sinh hoạt hai chiều...
Riêng một vấn đề rất then chốt của các tổ chức, cấp ủy đảng và
cũng là vấn đề được quần chúng nhân dân quan tâm theo dõi là vấn đề nhân sự của
các cấp ủy, các cấp chính quyền, Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, cán bộ chủ
chốt của hệ thống chính trị… vẫn là “điểm nghẽn”. Nhiều ý kiến nói “người dân
biết rất rõ về cán bộ”, nhưng cũng có xu hướng cho rằng, sự đánh giá về cán bộ,
đảng viên của người dân không phải lúc nào cũng chính xác. Có một nguyên nhân
chính là do người dân chưa “được biết”. Nhưng nếu công khai, minh bạch công tác
nhân sự của các cấp ủy, tổ chức đảng cho người “được biết”, “được bàn” “được kiểm
tra”, “được giám sát”...sẽ là một kênh rất quan trọng trong công tác cán bộ nói
chung và nhân sự của các cấp ủy nói riêng.
HAIVAN
Dâng hiến, hy sinh - giá trị nổi bật làm nên vẻ đẹp nhân văn Hồ Chí Minh
Nhân văn trong tư tưởng
Hồ Chí Minh thấm sâu trong cuộc đời, lối sống, nhân cách của Người, nổi bật là
sự giản dị, đức hy sinh, hy sinh cả cuộc sống riêng tư để lo cho hạnh phúc của
toàn dân tộc, của nhân dân. Trả lời nhà báo Cuba là nữ đồng chí Mácta Rôhát,
vào lúc cuối đời, Người nói “Tôi hiến đời tôi cho dân tộc tôi”. Người đã thực
hiện điều cao cả, thiêng liêng ấy trong suốt cuộc đời. “Miền Nam luôn luôn ở trong
trái tim tôi”, vì miền Nam chưa được giải phóng mà Người không một bữa ăn ngon,
không một giấc ngủ yên. Mỗi chiến sĩ hy sinh, mỗi người phải đổ máu là Người
như đứt từng khúc ruột. Người không có gia đình riêng, không có vợ con, không
có tài sản riêng, một đời tiết kiệm đến mức khắc khổ để nêu gương và để lo cho
dân. Nam nữ thanh niên nước ta là con cháu của Người. Các bậc phụ lão là bạn bè
thân thiết của Người. Phụ nữ nước ta là chị em của Người. Đó là lời nói chân
thật tự trái tim Người. Chất nhân văn từ tư tưởng đến hành động của Hồ Chí Minh
là một mẫu mực của văn hóa làm người và ở đời, một hình mẫu toàn vẹn, trọn vẹn
của sự dấn thân, hy sinh, hóa thân vào dân vào nước.
Qua cuộc đời Hồ Chí
Minh, một CON NGƯỜI viết hoa (như lời đại văn hào Nga M.Gorky) chân-thiện-mỹ đã
hiện ra, bằng xương bằng thịt, giản dị mà vĩ đại, là sự sống, niềm tin, là tình
yêu và hy vọng, là khát vọng mà cũng là hiện thực của con người trong cuộc đời
này. Đó là một đời dấn thân tranh đấu và dâng hiến cho dân, vì độc lập, tự do
của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.
Nhân văn Hồ Chí Minh
biểu hiện ra vô cùng xúc động, có sức lay động tâm can muôn triệu người, có sức
tỏa sáng muôn triệu tâm hồn người, khi ta nhắc lại những lời Người nói tự trái
tim với đồng bào, đồng chí, bạn bè xung quanh Người.
Ấy là lời cảm tạ đồng
bào chúc thọ Người dịp sinh nhật. Người nói “Từ trước đến giờ tôi đã là người
của đồng bào thì từ giờ về sau và mãi mãi tôi vẫn thuộc về đồng bào”.
Ấy là tâm sự từ nỗi
lòng Người với đồng bào cả nước, với miền Nam đi trước về sau: “Mỗi người, mỗi
gia đình có một nỗi đau khổ riêng. Gộp tất cả nỗi khổ đau đó lại là nỗi khổ đau
của bản thân tôi”.
Ấy là Người trả lời nhà
báo nước ngoài về mối liên hệ giữa Người với nhân dân: “Hồ Chí Minh là một phần
không tách rời của nhân dân ông. Ông suy nghĩ những gì mà nhân dân ông nghĩ.
Ông hành động những gì mà nhân dân của ông hành động”.
Như vậy, lịch sử là sự
thật và sự thật là lịch sử. Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc và nhân dân Việt
Nam mãi mãi tự hào và biết ơn Hồ Chí Minh. Tư tưởng và di sản Hồ Chí Minh kết
tinh trong các bảo vật quốc gia - 5 tác phẩm để đời của Người là hành trang của
chúng ta trong sự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế, vững bước trên con đường
lớn của lịch sử đi tới tương lai tươi sáng-đường Hồ Chí Minh. Đó không chỉ là
quốc bảo mà còn là pháp bảo của chúng ta.
Đúng như nữ Giáo sư Sử
học Mỹ, bà Josephine Stenson đã nói: “Hồ Chí Minh một nhân cách lớn của thời
đại”. Sự thật ấy trở thành giá trị thiêng liêng, là động lực mãnh liệt để chúng
ta tin tưởng và hành động cho xứng đáng với Hồ Chí Minh, với dân tộc và nhân
loại.
Những giá trị khoa học,
cách mạng, nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã được kiểm chứng, kiểm nghiệm
qua thời gian như ngọc càng mài càng sáng.
Thế nên, những kẻ xuyên
tạc hòng làm lu mờ ánh sáng, nguồn sáng Hồ Chí Minh chỉ càng lộ nguyên hình tâm
địa đen tối, mờ ám trước ánh sáng của sự thật, chân lý và đạo lý mà Hồ Chí Minh
luôn luôn là biểu tượng rực rỡ. Những sự xuyên tạc thâm độc và bỉ ổi mà các thế
lực phản động, chống đối Việt Nam nhằm vào Hồ Chí Minh không bao giờ có thể
lung lạc được niềm tin và tình yêu sâu sắc của một trăm triệu trái tim Việt đối
với Hồ Chí Minh-hình ảnh, tinh hoa và khí phách của dân tộc Việt Nam.
HAIVAN
Nhớ ghi lời Bác
“Người làm tướng có mưu trí bao
giờ cũng lo lắng đến lợi, đến hại. Lo đến lợi mới có đủ tin tưởng làm trọn được
nhiệm vụ. Lo đến hại mới tìm mưu kế để giải trừ được gian nguy.”
Lời của Bác được trích trong bài
“Bàn về phương pháp tác chiến”, được đăng trên Báo Cứu quốc, số 242, ngày
17 tháng 5 năm 1946, với bút danh Q.Th. thuật, thể hiện nhãn quan trong đánh
giá tư duy, trí tuệ, tài năng của người làm tướng. Theo Bác, người làm tướng có
mưu trí phải là người có mưu lược; trí sáng tạo; có phương pháp phân tích, phán
đoán tình hình một cách khoa học, chính xác; hiểu địch, hiểu mình; biết phân
tích thiên thời - địa lợi - nhân hòa; biết phát huy sở trường, sở
đoản của quân mình, hạn chế chỗ mạnh, khoét sâu chỗ yếu của quân địch; biết tạo
ra và phát huy sức mạnh tổng hợp để đánh thắng quân thù... Đây là yêu cầu không
thể thiếu và là thước đo bản lĩnh, tài năng của một người cầm quân giỏi được Hồ
Chí Minh vận dụng chỉ đạo việc giáo dục, rèn luyện năng lực và phẩm chất của người
làm tướng, đáp ứng nhiệm vụ từng giai đoạn, từng thời kỳ cách mạng.
Trong giai đoạn hiện nay, khi sự
nghiệp đổi mới đất nước đang có những chuyển biến mạnh mẽ và đạt nhiều thành tựu
to lớn, nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ, thách thức, nhất là sự chống phá của
các thế lực thù địch... yêu cầu xây dựng quân đội “cách mạng, chính quy, tinh
nhuệ, từng bước hiện đại” đòi hỏi năng lực của người tướng lĩnh quân đội theo
quan điểm của Hồ Chí Minh có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc.
Đó phải thực sự là người có tri
thức toàn diện, giỏi về quân sự, sâu sắc, nhạy bén về chính trị, hiểu biết sâu
rộng về văn hóa, khoa học, kỹ thuật… Trong lãnh đạo, chỉ huy đơn vị người cán bộ
cấp tướng phải luôn chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện tốt
tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, đề cao và thực hành tốt tự phê bình và phê
bình; làm việc theo chức trách, nêu gương trong hành động; luôn tự soi, tự sửa;
dự báo và xem xét thấu đáo các điều kiện khách quan, chủ quan khi ra các quyết
định; sâu sát, tỉ mỉ, cụ thể trong tổ chức thực hiện; gần gũi với cấp dưới, với
bộ đội, là hạt nhân lãnh đạo, đoàn kết, chỉ huy đơn vị hoàn thành xuất sắc mọi
nhiệm vụ được giao.
HAIVAN
Khắc phục bệnh hình thức, đối phó trong học tập nghị quyết của Đảng hiện nay
Thông thường trung bình trong một năm,
các cấp ủy đảng từ Trung ương đến cơ sở phải triển khai thực hiện học tập, quán
triệt và tuyên truyền từ 3 đến 5 nghị quyết của Đảng đến từng chi bộ, từng đảng
viên để học tập và thực hiện. Thế nhưng cách thức tổ chức thực
hiện và hiệu quả của việc học tập nghị quyết đến đâu đang là một vấn đề cần được
nhận diện đầy đủ, phân tích rõ nguyên nhân, đưa ra những giải pháp khắc phục kịp
thời, góp phần xây dựng và chỉnh đốn Đảng.
Nhìn nhận quá trình học tập, sinh
hoạt chúng ta nhận thấy có nhiều vấn đề cần phải bàn luận, để góp phần nâng cao
hiệu quả của việc học tập nghị quyết.
Trong cấu trúc của mỗi một nghị
quyết của Đảng bao giờ cũng có một phần quy định về tổ chức thực hiện và trong
đó sẽ có một điểm liên quan đến học tập, quán triệt nghị quyết. Tùy từng đối tượng,
nội dung, phạm vi để quy định một cách chi tiết việc tổ chức học tập, thực hiện
nghị quyết, nhưng tựu trung lại đó là: (1) Các tỉnh uỷ, thành uỷ, các ban đảng,
ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng uỷ trực thuộc Trung ương tổ chức học tập, quán
triệt sâu sắc nội dung nghị quyết; hoặc (2) Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì,
phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức việc học tập, quán triệt và tuyên
truyền sâu rộng nghị quyết, kết quả thực hiện nghị quyết; hoặc (3) Nghị quyết,
chỉ thị này được phổ biến đến từng chi bộ.
Trước hết, phải khẳng định rằng
việc học tập nghị quyết của Đảng là chủ trương đúng để đưa nghị quyết đến từng
chi bộ, từng đảng viên và thông qua đảng viên gián tiếp đến với đông đảo tầng lớp
nhân dân nắm rõ những định hướng, chủ trương, chính sách và thực hiện nghị quyết.
Và, cũng phải thừa nhận rằng, các cấp ủy đảng đã “hoàn thành nhiệm vụ” dưới góc
độ “tổ chức lớp học” để triển khai quán triệt việc thực hiện các nghị quyết.
Thế nhưng, thực tiễn triển khai
thế nào và cách thức thực hiện, hiệu quả mang lại ra sao là vấn đề cần được
quan tâm đánh giá một cách khách quan, trung thực và thẳng thắn. Từ đó để điều
chỉnh, uốn nắn kịp thời, tránh việc chỉ tổ chức thực hiện học tập mang tính
hình thức và báo cáo “đã triển khai tổ chức học tập nghị quyết”.
Thứ nhất, dưới
góc độ triển khai nghị quyết của các cấp ủy đảng.
Trong hệ thống cơ quan hành chính
nhà nước của nước ta hiện nay bao gồm các cơ quan quản lý theo ngành hay lĩnh vực
ở Trung ương và địa phương; có cơ quan được thiết kế thành hệ thống tập trung
theo ngành dọc hoặc theo cấp chính quyền địa phương, trong khi đó không phải
nghị quyết nào của Đảng cũng bao trùm toàn bộ các vấn đề liên quan đến tất cả
các bộ, ban, ngành, đoàn thể hay địa phương. Do vậy, cần phải xem lại việc các
cấp ủy đảng tổ chức học những nghị quyết mà ít có liên quan, hoặc ít có ảnh hưởng
trực tiếp đến hoạt động của bộ, ban, ngành, địa phương, đơn vị mình. Có như vậy
việc học tập nghị quyết mới mang lại tính thiết thực và phù hợp với chức năng,
nhiệm vụ của ngành, địa phương, cơ quan đơn vị. Và từ đó, mỗi đảng viên mới cảm
thấy nghị quyết này là thiết thực với công việc đang triển khai của đơn vị
mình, mới hăng say học tập, lắng nghe, tìm hiểu và thấm nhuần, đồng thời mới vận
dụng khả năng tư duy, sáng tạo trong thực hiện nghị quyết.
Thứ hai, về ý
thức học tập nghị quyết của đảng viên.
Không ít đảng viên đang tồn tại một
suy nghĩ ngấm ngầm bất thành văn và đối phó “đi học cho đủ người, họ điểm danh
đấy”, hoặc “khi nào điểm danh nháy máy nhé”, hoặc “nhớ giơ tay hộ nhé”, hoặc
“nhớ ghi tên hộ nhé”,… Tất cả những biểu hiện này là do ý thức đối phó trong việc
tham gia học tập nghị quyết.
Dãy bàn ở trên thông thường được
bố trí cho những vị đại biểu, những người giữ chức vụ lãnh đạo đơn vị, nhưng
ngay cả dãy bàn này nhiều khi trước mặt đại biểu là những tập tài liệu được coi
là phải giải quyết ngay, hoặc là bàn luận công chuyện với lãnh đạo đồng cấp
khác, hoặc là gọi điện điều hành công việc ở cơ quan mà ít chú ý, lắng nghe đến
báo cáo viên đang truyền đạt nghị quyết. Lãnh đạo đã vậy, thì cấp dưới sẽ ra
sao?
Những dãy bàn kế tiếp sẽ thuộc về
đối tượng lãnh đạo cấp thấp hơn. Ở phân khúc này thì thường xuyên biểu hiện qua
những câu chuyện thì thầm, hàn huyên với nhau, ít có biểu hiện lắng nghe nghị
quyết. Những câu chuyện về chủ đề về ship hàng, về giúp việc, về làm đẹp, về du
lịch, giảm cân theo phương pháp luyện tập yoga - fitness, về ứng xử mẹ chồng,
nàng dâu, hoặc uống bia ở đâu ngon mà không bị đau đầu,… trở nên hấp dẫn trong
những buổi học nghị quyết.
Một trạng thái khác của lớp học
thường phổ biến trong thời đại công nghệ 4.0 đó là mỗi người một máy điện thoại
thông minh, hầu như mọi màn hình đều ở trạng thái kết nối in-tơ-net bật sáng.
Chưa có một khảo sát, đánh giá bằng con số cụ thể nhưng dám chắc rằng đến 50 %
số người khi tham gia học nghị quyết đều có tham gia sử dụng điện thoại cho mục
đích giải trí thông qua mạng xã hội.
Và cũng thứ tự theo đúng thứ bậc
rõ ràng, xa xa những hàng ghế cuối cùng là những người hay ngủ, hoặc có ý định
ra về sớm, làm việc riêng,… đều lựa chọn những vị trí phù hợp này để thực hiện
các mục đích cá nhân của mình một cách thuận tiện và lặng lẽ. Ngoài ra, còn rất
nhiều biểu hiện như đi muộn, về sớm, ra vào giữa giờ, nghe nói chuyện điện thoại,…
diễn ra thường xuyên trong mỗi đợt học tập nghị quyết của Đảng.
Từ những biểu hiện trên đây đã phần
nào làm giảm đi tính nghiêm túc của một lớp học nghị quyết, giảm đi hiệu quả việc
triển khai học tập nghị quyết của Đảng và dẫn đến không hiệu quả, tốn kém cả về
thời gian và ngân sách, trong khi đó công việc chuyên môn phải gác lại để dành
thời gian cho việc học tập nghị quyết. Và tôi tin rằng, sau những buổi học nghị
quyết như thế, rất nhiều người trong số đó đã không hiểu và nắm được gì về nghị
quyết mà mình vừa được truyền đạt.
Một số đề xuất
Một là, cơ quan ban hành nghị quyết cần đánh giá lại một cách trung thực,
khách quan về hiệu quả đạt được của việc triển khai học tập, tuyên truyền thực
hiện nghị quyết. Từ đó xem xét lại một cách toàn diện trong tổ chức triển khai,
học tập nghị quyết.
Hai là, về phía cơ quan tổ chức lớp học cần phải xem xét, sàng lọc những
nội dung, nghị quyết liên quan trực tiếp đến chức năng, nhiệm vụ của cơ quan,
đơn vị mình để học tập thì mới phát huy hiệu quả. Bên cạnh đó, cần phải có
phương pháp, cách thức tổ chức lớp học làm sao cho thật hiệu quả, kể cả về thời
gian, địa điểm tổ chức, tránh tình trạng có những nơi chọn đúng thời điểm những
ngày cuối năm để tổ chức; kể cả khâu trang trí cũng nên thay đổi bằng hình thức
thiết kế trình chiếu slide thay cho việc in ấn phông bạt, vừa tiết kiệm, vừa bảo
vệ được môi trường. Việc điểm danh hoặc báo cáo số liệu người tham gia học tập
cũng đã được đặt ra nhưng kết quả cũng chỉ là lưu trữ trong hồ sơ tổ chức lớp học.
Việc báo cáo thu hoạch sau mỗi lớp học nghị quyết đều diễn ra, tuy nhiên, cần đổi
mới và thiết kế lại, tránh tình trạng 100% đảng viên đã viết đầy đủ thu hoạch
nhưng bản thu hoạch được sao chép của nhau, thay tên đổi họ và in, gửi nộp ban
tổ chức, gây lãng phí tài chính, ngân sách của đơn vị. Đảng viên đi học không
hiểu, hoặc hiểu lơ mơ một cách chung chung và không thấm nhuần những tư tưởng
chỉ đạo đã nêu trong nghị quyết, dẫn đến vô tình hoặc cố ý hành động và thực hiện
không đúng với chủ trương, đường lối của Đảng đề ra.
Ba là, về báo cáo viên và nội dung truyền đạt. Cần phải thuyết
trình có trọng tâm, trọng điểm hơn, tránh tràn lan và không thiết thực. Cái mà
đảng viên cần đó là phương pháp, cách thức, quy trình để vận dụng nghị quyết
trong thực thi nhiệm vụ được giao, việc thực hiện đó có những trở ngại, khó
khăn hoặc mâu thuẫn như thế nào, nếu thực hiện và không thực hiện thì sẽ ra
sao? Bản thân báo cáo viên phải nghiên cứu kỹ đối tượng học tập nghị quyết để
truyền đạt nội dung của nghị quyết phù hợp.
Bốn là, về ý thức của đảng viên, từng đảng viên phải từ bỏ quan niệm và
thói quen đã tồn tại bấy lâu là đi học cho đầy đủ số lần, số lượng quy định; từ
bỏ ý nghĩ việc triển khai nghị quyết là trách nhiệm thuộc về các cấp lãnh đạo,
mình "thì chỉ đâu đánh đấy", mà thiếu đi trách nhiệm và nghĩa vụ phải
tiếp thu, phải lĩnh hội những quan điểm, mục đích, ý nghĩa nghị quyết mà Đảng
đã phải dày công thiết lập, để từ đó xây dựng cho mình một kế hoạch, hoặc cùng
tổ chức thực hiện nghị quyết đó.
Mỗi một nghị quyết của Đảng đều
chứa đựng và thể hiện những quan điểm, định hướng, chủ trương, chính sách và đường
lối phát triển cho đất nước, địa phương. Nghị quyết đã ban hành phải được triển
khai, phổ biến thống nhất trong toàn Đảng và được thực hiện mang ý nghĩa hành động
thiết thực để phục vụ nhân dân, để xây dựng đất nước ngày càng phát triển. Vì vậy,
nâng cao hiệu quả học tập nghị quyết là yêu cầu bức thiết để nghị quyết của Đảng
đi vào cuộc sống hiệu quả.
HAIVAN



