Chủ Nhật, 23 tháng 4, 2023

KIỀU BÀO TỪ 22 QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VỀ VỚI TRƯỜNG SA VÀ NHÀ GIÀN DK1


Chiều 23-4, tại Khánh Hòa, 47 kiều bào đến từ 22 quốc gia trên thế giới cùng gần 200 đại biểu đã kết thúc chương trình Đoàn kiều bào thăm quân và dân huyện đảo Trường Sa và Nhà giàn DK1 năm 2023. Chương trình có chủ đề “Tổ quốc niềm tin và khát vọng - Lần thứ 10, kiều bào về Trường Sa'””.
Chuyến tàu thăm Trường Sa lần này có ý nghĩa vô cùng đặc biệt đối với Đoàn. Đây là lần thứ 10 Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài (Bộ Ngoại giao) phối hợp với Bộ tư lệnh Hải quân tổ chức Đoàn kiều bào thăm Trường Sa.
Chia sẻ sau chuyến đi, Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Minh Vũ cho biết, từ năm 2012 - 2023, Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài đã phối hợp với Bộ tư lệnh Hải quân tổ chức 10 đoàn công tác với tổng số trên 500 lượt kiều bào đến thăm, động viên cán bộ, chiến sĩ, nhân dân huyện đảo Trường Sa và Nhà giàn DK1. Trong hai năm 2020 - 2021, chương trình bị gián đoạn do dịch Covid-19. Từ năm 2022, chương trình ý nghĩa này được khởi động lại nhằm đáp ứng tình cảm, nguyện vọng của bà con kiều bào hướng về biển đảo Tổ quốc.
Theo ông Nguyễn Minh Vũ, những năm qua, việc tổ chức các đoàn công tác thăm Trường Sa và Nhà giàn DK1 đã góp phần tiếp tục khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa. Các chuyến thăm Trường Sa là dịp để kiều bào từ nhiều nơi trên thế giới gặp gỡ, giao lưu, kết nối, tạo gắn kết giữa kiều bào với nhân dân trong nước, góp phần tăng cường đại đoàn kết và hòa hợp dân tộc. Đây cũng chính là tinh thần của Nghị quyết số 36-NQ/TW, Chỉ thị số 45-CT/TW và mới đây nhất là Kết luận số 12-KL/TW của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới.
Trong các chuyến thăm Trường Sa, bà con kiều bào từ khắp nơi trên thế giới với tấm lòng và tình cảm của mình đã có những đóng góp thiết thực, góp phần giảm bớt phần nào khó khăn của các cán bộ, chiến sĩ ngoài đảo xa. Trong một khoảng thời gian rất ngắn, kiều bào đã đóng góp nguồn kinh phí quan trọng cho chương trình “Xanh hóa Trường Sa”, quà tặng thiết yếu hỗ trợ đời sống quân và dân huyện đảo Trường Sa với tổng số tiền gần 1,3 tỷ đồng.
Chuẩn Đô đốc Phạm Văn Hùng, Phó tham mưu trưởng Quân chủng Hải quân (Trưởng đoàn công tác số 4) đã tiếp nhận ủng hộ của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài; trân trọng những tình cảm, sự đóng góp thiết thực cả về vật chất và tinh thần của bà con tham gia chương trình lần này cũng như kiều bào ta trên thế giới dành cho các cán bộ, chiến sĩ và nhân dân huyện đảo Trường Sa.
Trong khuôn khổ chuyến thăm Trường Sa từ ngày 18 đến 23 - 4, bà con kiều bào được nghe, tìm hiểu về tình hình công tác, đời sống của cán bộ, chiến sĩ; thăm hỏi, động viên và tặng quà quân và dân tại các điểm đảo; thăm trường học, nhà dân, chùa; tham dự Lễ chào cờ, duyệt đội ngũ của quân dân đảo Trường Sa; dâng hương tại Đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ, Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tượng đài Quốc công Tiết chế Hưng đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn; dự Đại lễ cầu siêu, tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ, ngư dân tử nạn tại chùa Trường Sa; thăm làng chài, bệnh xá…
Trong không khí trang nghiêm, xúc động, các đại biểu kiều bào cùng thành viên Đoàn công tác số 4 đã tham dự Lễ tưởng niệm cán bộ, chiến sĩ hy sinh tại quần đảo Trường Sa vì sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.
Chia sẻ tại các điểm đảo Đoàn đến thăm, Chuẩn Đô đốc Phạm Văn Hùng nhấn mạnh, trong tình hình hiện nay, cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa của Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực là cuộc đấu tranh lâu dài, khó khăn, phức tạp và nhạy cảm, để hoàn thành nhiệm vụ được giao, ngoài sự nỗ lực, cố gắng, khắc phục khó khăn, sẵn sàng chiến đấu hy sinh của cán bộ, chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam, rất cần sự quan tâm, động viên, giúp đỡ kịp thời của các cấp ban, bộ, ngành từ Trung ương đến địa phương, các doanh nghiệp và kiều bào ta ở nước ngoài… Chuẩn Đô đốc Phạm Văn Hùng mong muốn thời gian tới tiếp tục nhận được sự quan tâm, động viên, giúp đỡ của đông đảo đồng bào, đồng chí cả nước, kiều bào ta ở nước ngoài để Trường Sa ngày càng đàng hoàng hơn, tươi đẹp hơn.
TTXVN

GỬI TRƯỜNG SA MUÔN VÀN YÊU THƯƠNG


Nước non, biển đảo chúng ta đẹp quá! Tài sản vô giá của cả dân tộc là đây. Thiêng liêng và tự hào cũng chính là đây... Trong lòng em luôn dâng trào tình yêu thương đặc biệt dành cho Trường Sa và người lính hải quân
Gửi những người lính Trường Sa!
Đất liền nơi em ở mùa này nắng vàng trên từng mái ngói, gió mát mơn man từng tâm hồn. Ở Trường Sa thời tiết thế nào các anh nhỉ? Chắc là nắng gió bốn mùa.
Em thương những chàng trai quanh năm uống gió ăn sương, tay bồng súng vững chắc canh giữ từng tấc đất trên bờ dưới biển, từng khoảng trời xanh vời vợi thiêng liêng của Tổ quốc. Em thương các anh tuổi đôi mươi đang sống ở vùng đất sóng gió khắc nghiệt, chịu nhiều thiếu thốn. Em thương người lính hải quân sắt son, chung thủy làm bạn với đảo, làm con của biển suốt tháng quanh năm.
Các anh - những người lính Trường Sa - gánh trên vai sứ mệnh quan trọng giữ cho biển đảo quê hương luôn bình yên, cho đất trời vẹn toàn chủ quyền, cho mọi người ngủ giấc ngon lành. Các anh là những anh hùng trong lòng mọi người.
Xem trên tivi, em thấy Trường Sa bây giờ có những mái nhà khang trang; có điện năng lượng mặt trời để sinh hoạt, kết nối điện thoại; những con đường bê-tông sạch đẹp trải dài theo bóng cây xanh phủ rợp; những trường học cho em thơ con chữ. Những công trình thiết thực ngày càng mọc lên nhiều hơn, như: Khu tưởng niệm Bác Hồ, công viên tượng đài Trần Hưng Đạo, bệnh xá cho mọi người chữa bệnh.
Em còn biết các anh không chỉ giỏi trực gác mà còn trồng bầu bí, rau xanh không thua gì nhà nông. Màu xanh nhuộm cả khu vườn, trái to trái nhỏ lủng lẳng trên giàn nói cho hậu phương biết rằng chiến sĩ hải đảo giỏi giang lắm đấy. Để có được thành quả lao động như thế, các anh đã gom lá rụng của cây phong ba, cây bàng vuông ủ hoai mục rồi bón cho bầu bí, rau xanh có chất dinh dưỡng lớn nhanh mướt mắt. Các anh phải theo dõi thời tiết để che chắn vườn rau theo đúng hướng gió.
Mấy ai biết các anh tiết kiệm từng giọt nước ngọt như thế nào. Biển mênh mông chỉ toàn mang hơi mặn, đôi lúc phải hứng nước mưa dự trữ, vậy mà bằng cách nào đó, các anh bảo vệ được chậu rau, giàn bí tránh khỏi tác động của thời tiết khắc nghiệt, tạo ra bữa ăn đủ rau xanh để thôi thèm những "đặc sản" chân quê này.
Đảo bây giờ không chỉ có chiến sĩ làm nhiệm vụ mà còn có cả những hộ dân. Dân ra đây như muốn hòa chung hơi thở của biển, cùng các anh góp chút công bé nhỏ gìn giữ quê hương, Tổ quốc thân yêu. Với tinh thần "đảo là nhà, biển cả là quê hương", xây dựng Trường Sa "mạnh về phòng thủ, tốt về lối sống, đẹp về cảnh quan môi trường và mẫu mực về quan hệ quân dân", trên từng điểm đảo nơi đây, tình nghĩa quân dân thắm thiết biết bao. Quân và dân cùng giữ đảo, cùng lao động, cùng yêu đời, tạo nên bài ca yêu thương.
Năm 2021, bão số 9 càn quét, gây nhiều thiệt hại cho Song Tử Tây. Nhưng rồi, bằng tinh thần đoàn kết và sức sống mãnh liệt của những con người không bao giờ biết khuất phục, mọi thứ đã sớm được khắc phục sau khi bão đi qua. Điện năng lượng mặt trời lại đem nguồn sáng đến mọi nhà, mạng điện thoại lại được phủ sóng kết nối thông tin với đất liền. Nhịp sống lại rộn ràng đời vui.
Con người mãnh liệt, cây cối cũng mãnh liệt. Dường như chính sự khắc nghiệt của thiên nhiên đã tạo nên sức mạnh cứng cỏi, vững chãi từ đôi bờ vai gan dạ cho đến thân cây đổ ngã. Những cây phong ba, cây bão táp bị sóng đánh cháy, lá chết rụng vẫn tiếp nối vòng đời của mình bằng những chồi non vươn lên tươi tốt và chẳng bao lâu lại phủ xanh cả biển trời. Hệ sinh thái tốt tươi đem lại không khí trong lành là biểu tượng của niềm tin, sức sống mãnh liệt trên đảo. Tình cảm của đất liền gửi tới nơi đầu sóng ngọn gió luôn sâu đậm. Từ những chuyến tàu nghĩa tình tặng cây xanh mà Trường Sa ngày một xanh đẹp hơn. Hẳn các anh hiểu và trân quý tấm lòng hậu phương lắm.
Trong tương lai gần, nếu như Trường Sa trở thành trung tâm kinh tế biển của cả nước, hẳn huyện đảo này sẽ vui hơn nữa. Khi đó, từng tour du lịch sẽ nối nhau ra thăm Trường Sa thân yêu. Ước mơ ấy không xa vời đâu!
Em biết khoảng cách địa lý luôn khiến trẻ thơ nơi đây mong ước nghe thấy tiếng nói cười từ hậu phương nhiều hơn. Bởi cuộc sống của trẻ đã quen với tiếng hiệu lệnh báo thức, tiếng hô vang đi đều của các chú bộ đội cũng như quen với biển trong xanh, bờ cát trắng, cây muống biển nở hoa tím rực. Trẻ muốn nghe ai đó kể chuyện đất liền nhiều hơn. Đất liền có nhà cao cửa rộng, có khu vui chơi thật thích và nhiều thứ to lớn nữa. Những thứ vật chất hào nhoáng thật lạ lẫm với trẻ em đảo xa.
Nhưng không sao cả! Một ngày nào đó, trẻ sẽ được vào đất liền học tiếp cấp hai. Vậy là cơ hội khám phá nhịp sống sôi động sẽ đến thôi. Nhưng dù đất liền có vui thế nào đi nữa, em nghĩ chắc gì đã bằng ở biển đảo.
Ở đảo có thể chưa đủ đầy về vật chất nhưng tinh thần thì không. Trẻ được vui chơi vô tư trong bầu không khí trong lành cùng bè bạn bên những tán bàng vuông, phong ba hay những đồ chơi làm từ vỏ sò, vỏ ốc. Các em được xem văn nghệ do các chú bộ đội biểu diễn. Hơn thế nữa, các em có gia đình hạnh phúc rất đỗi bình dị.
Em tưởng tượng ra tổ ấm mỗi ngày bọn trẻ đi học, cha chúng đi làm dân quân tự vệ và người mẹ ở nhà coi ngó trước sau. Chiều về, cả gia đình quây quần ăn bữa cơm ngon. Một cuộc sống không xô bồ và cạm bẫy mà chỉ có hạnh phúc và thủy chung. Hẳn từ sâu thẳm trái tim rạo rực tuổi thanh xuân, các anh cũng chỉ mong cuộc sống sau này được bấy nhiêu thôi.
Nhưng em biết trước khi mơ nghĩ cho bản thân, các anh phải hoàn thành tốt nhiệm vụ cấp trên giao. Hơn ai hết, các anh ý thức vùng trời, biển này tồn tại cho đến hôm nay là nhờ công giữ gìn của biết bao thế hệ cha ông đi trước. Trong đó, bi hùng nhất là sự hy sinh oanh liệt của 64 chiến sĩ ở đảo Gạc Ma năm nào. Vẫn còn đây hình ảnh Anh hùng Lực lượng Vũ trang Trần Văn Phương tay giữ chặt cán cờ như giữ chặt đất mẹ thiêng liêng đến hơi thở cuối cùng. Vẫn còn đây câu nói của anh hô vang: "Thà hy sinh chứ không chịu mất đảo. Hãy để máu của mình tô thắm lá cờ truyền thống của Quân chủng Hải quân Việt Nam anh hùng". Nhắc lại lịch sử để thấy rằng để sống trong hòa bình, chúng ta phải trả giá đắt như thế nào.
Các anh ơi, nước non, biển đảo chúng ta đẹp quá! Tài sản vô giá của cả dân tộc là đây. Thiêng liêng và tự hào cũng chính là đây. Em ước gì được hóa thành chim biển, thả đôi cánh vô tư bay trên trời cao đưa mắt xuống ngắm nhìn đại dương, biển bờ của Tổ quốc. Em ước gì một lần được ra thăm Trường Sa. Mai này du lịch phát triển, biết đâu em sẽ có cơ hội. Trong lòng em luôn dâng trào tình yêu thương đặc biệt dành cho Trường Sa và các anh.
Ngày mai, mặt trời lại mọc đằng Đông. Ở quê nhà, em đón bình minh rực rỡ. Ở khơi xa, các anh chắc cũng chào ngày mới tràn đầy sức sống. Trong phút giây đó, biết đâu các anh nhận được món quà tinh thần là cánh thư của em gửi ra.
Cánh thư gửi muôn vàn lời thân thương, gửi muôn vạn nụ cười. Gửi chút tình hậu phương đến với tiền phương Trường Sa.
Cánh thư này em cũng yêu thương gửi đến ngư dân. Có lẽ mỗi lần ngư dân vào đảo là chở theo bao niềm vui cùng những tàu thuyền đầy ắp cá tôm. Mẹ biển cả ưu ái dâng tặng cho đời bao sản vật nuôi sống con người, góp phần phát triển kinh tế đất nước. Đó là động lực to lớn kéo vực tinh thần ngư dân yên tâm ra khơi bám biển, vừa mưu sinh vừa cùng quân dân trên đảo bảo vệ biên cương thiêng liêng, khẳng định trước sau như một rằng đây là chủ quyền hợp pháp của Việt Nam. Vì chỉ có nơi thuộc quyền sở hữu của chúng ta, Quốc kỳ thắm sắc mới kiêu hãnh tung bay trên những tàu cá ở vùng biển Trường Sa.
Em tin rằng hậu phương kết nối tiền phương thân yêu qua chương trình "Tự hào cờ Tổ quốc" sẽ lan tỏa rộng hơn nữa, để những lá cờ bạc màu trên tàu thuyền được thay mới hoàn toàn, vẽ nên bức tranh sinh động: Cả rừng Quốc kỳ phấp phới vẫy chào quê hương từ khơi xa.
HÒA BÌNH


BIỂN, ĐẢO QUÊ HƯƠNG! PHẦN MÁU THỊT KHÔNG THỂ TÁCH RỜI CỦA TỔ QUỐC VIỆT NAM!


Đảo Nam Yết nằm ở phía đông bắc của quần đảo Trường Sa, cách đảo Trường Sa khoảng 320km, cách Cam Ranh (tỉnh Khánh Hòa) khoảng 595km về phía đông nam; cách đảo Sinh Tồn 33km về phía đông - đông bắc.
Về mặt hành chính, đảo/thôn Nam Yết thuộc xã Sinh Tồn, huyện Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa. Năm 2004, đảo Nam Yết được phong tặng danh hiệu đơn vị Anh hùng LLVT nhân dân. Theo PGS.TS Trần Đức Thạnh, nguyên Viện trưởng Viện Tài nguyên & Môi trường biển - người đã nhiều lần tham gia nghiên cứu, khảo sát tại quần đảo Trường Sa, nhìn từ xa, đảo Nam Yết như một dải lụa xanh nổi trên mặt biển với những rặng dừa thách thức nắng gió khơi xa. Nam Yết được gọi bằng cái tên dân dã đầy trìu mến là “Đảo dừa”.
Đảo Nam Yết có độ cao 2-3,5m, cách 1,2km là đường đẳng sâu 500m và cách 6,5km là đường đẳng sâu 1.500m. Trên bản đồ tỷ lệ 1:50.000 của Tổng cục Địa chính, đảo Nam Yết có dạng hình quả xoài (hình bầu dục hơi hẹp về bề ngang) thop dần theo hướng đông - tây: chiều dài khoảng 650m; chiều rộng xấp xỉ 200m. Diện tích tự nhiên của đảo là 97.000m2, đứng thứ 4 trong các đảo do Việt Nam trực tiếp quản lý trên quần đảo Trường Sa (sau các đảo Trường Sa, Song Tử Tây, Sinh Tồn). Đảo Nam Yết không nằm lẻ loi mà phân bố trên một dải các rạn san hô tạo thành vằn khăn (còn gọi là đê viền) bao quanh một đầm nước nông, còn gọi là vụng biển (lagoon). Đáy của vụng biển ở độ sâu 60-80m khá bằng phẳng, rải rác có các khối đá san hô ngầm nhô lên đến độ sâu 10-8m. Thảm thực vật trên đảo rất nghèo về thành phần, ít về số lượng, có khoảng 58 loài, phổ biến là phi lao, bàng, bàng quả vuông, phong ba, mù u, dừa, cỏ lào, ké hoa vàng, rau muống biển...
Các nhà hải dương học đã xác định được trên đảo Nam Yết có khoảng 1.195 loài động, thực vật biển, chiếm 40,8% tổng số loài đã được biết đến ở quần đảo Trường Sa; trong đó có tới 298 loài san hô, 285 loài động vật đáy, 186 loài cá rạn san hô, 86 loài rong biển, 8 loài rùa và thú biển, 10 loài chim… Thực vật có nguồn gốc đất liền nhiều nhất là cây dừa. Dừa mọc thành “rừng” trên đảo. Dường như không có một hòn đảo nào ở Trường Sa mà cây dừa lại sinh sôi nhanh và khỏe như tại Nam Yết, dừa có khắp đảo, quả sai và nhiều nước.
Dừa ở đây được các cán bộ chiến sỹ, người dân trồng và chăm sóc, nâng niu giống như người chơi hoa, cá cảnh trong đất liền. Hàng năm, các cán bộ chiến sỹ trên đảo thường tổ chức ngày hội trồng dừa vào dịp Tết Nguyên đán và khi có cán bô,å chiến sỹ hoàn thành nhiệm vụ bịn rịn chia tay đảo Nam Yết. Đối với quân và dân trên đảo, những sản phẩm từ cây dừa được sử dụng vào nhiều việc. Lá dừa được dùng để lợp chắn sóng, chống gió mặn cho các vườn rau, chuồng nuôi gia súc, gia cầm; sọ dừa khô làm gáo múc nước hay gắn thêm ốc biển làm thành những hộp quà nho nhỏ gửi về tặng đất liền.
Nước dừa Nam Yết thật ngọt, thật mát nhưng vẫn phảng phất hương vị mặn mòi của biển cả, có lẽ có cả những giọt mồ hôi của cán bộ chiến sỹ và nhân dân trên đảo. Trên đảo Nam Yết, quân và dân huyện đảo Trường Sa đã xây dựng các âu tàu có sức chứa hàng trăm tàu thuyền công suất 400CV, tổ chức các điểm dịch vụ thu mua hải sản, cung cấp nước ngọt và nước đá, bán dầu diezen, lương thực và thực phẩm, sửa chữa tàu thuyền cho ngư dân đánh bắt xa bờ… Trên đảo cũng tổ chức nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi, trồng rau, cây ăn quả…
Nam Yết nằm ở trung đoạn giữa các đảo nhóm Bắc Trường Sa với nhóm Tây Nam Trường Sa: Cách đảo Song Tử Tây 135km về phía nam và cách đảo Phan Vinh 155km về phía bắc - đông bắc; cách đảo Trường Sa 320km về phía đông Bắc. Với giá trị tự thân, Nam Yết đã trở thành điểm trung chuyển cho hoạt động giao thông giữa các đảo vùng biển nam và tây nam với các cụm đảo phía bắc của quần đảo Trường Sa.
Nam Yết mang đặc trưng của hệ sinh thái đảo xa bờ với rạn san hô bao quanh. Các bãi cát ven biển chạy dài hàng km có sự biến động theo mùa rõ rệt. Đây là khu vực rùa biển thường xuyên lên bãi để đẻ trứng vào mùa sinh sản. Nam Yết cũng là một trong số ít đảo có nước ngọt và thảm thực vật xanh bao phủ trên đảo, là nơi tập trung của đàn chim biển tới làm tổ đẻ trứng. Vào những ngày biển động hoặc đổi gió đột ngột, quanh đảo Nam Yết xuất hiện hàng đàn cá heo nổi trên mặt biển đùa rỡn…
Hình ảnh: Đảo Nam Yết chụp hôm 18/4/2023
QĐND


Thể chế hóa phương châm, góp phần đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống

 

Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”.

Đồng thời, trong tầm nhìn định hướng phát triển của đất nước mà Đại hội XIII khẳng định: “Tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hóa, thực hiện tốt cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Tổ chức có hiệu quả, thực chất việc nhân dân tham gia giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị; phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Lấy kết quả công việc, sự hài lòng của và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ, đảng viên”.

Như vậy, Đảng ta yêu cầu phải “kiên trì thực hiện” phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” và đến nay bổ sung  tiêu chí “dân dám sát”, “dân thụ hưởng”. Phương châm này là thể hiện tư tưởng dân chủ trong thể chế nhà nước “của dân, do dân, vì dân” và được phân chia bằng “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”. Đã 35 năm kể từ khi Đảng ta đề ra và thực hiện đường lối đổi mới, trong đó đề ra khẩu hiệu “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” tiếp đó là 25 năm (kể từ năm 1996) từ khi “khẩu hiệu” được gọi là “phương châm” và 23 năm xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở với 3 nghị định của Chính phủ 1 Pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2007). Việc cụ thể hóa phương châm của Đảng bằng Pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các Nghị định của Chính phủ đã tăng cường, mở rộng quyền làm chủ của người dân, nhất là ở cấp cơ sở thông qua các quy định, quy chế, hương ước cộng đồng… góp phần ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng tổ chức đảng cấp chính quyền, hệ thống chính trị ở cơ sở, nổi bật và hiệu quả nhất là việc thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Người dân ở địa bàn này “được biết, được bàn, được làm, được kiểm tra, được giám sát, được thụ hưởng” những chương trình, dự án, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đóng góp đầu tư cộng đồng, xây dựng nông thôn mới và những thành quả do mình đầu tư, bỏ công sức. Tuy nhiên, cho đến nay, do nhiều nguyên nhân, ở nhiều nơi, trong đó có cơ quan, tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, dân chủ vẫn còn hình thức, quần chúng, người dân chưa được biết, được bàn, được kiểm tra, giám sát và chưa được thụ hưởng những chương trình, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội, chưa được thụ hưởng những thành quả lao động, đóng góp về đất đai, tài nguyên thiên nhiên nơi địa bàn họ sinh sống, thậm chí họ còn hứng chịu những hậu quả do quá trình phát triển sản xuất - kinh doanh, dịch vụ, ô nhiễm môi trường, lãng phí tài nguyên đất, nước, tiếng ồn… gây ra. Một trong những nguyên nhân chính làm hạn chế các quyền dân chủ của người dân, gây nên nỗi bức xúc xã hội, mâu thuẫn ở khu dân cư là do nhiều nội dung trong phương châm của Đảng chưa được cụ thể hóa, thể chế hóa, các quy chế, quy định, nghị định, quyết định của các cấp có thẩm quyền thực hiện chưa nghiêm; cán bộ, đảng viên, trong đó có lãnh đạo chủ chốt, người đứng đầu… chưa gương mẫu thực hiện các quy định, quyết định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. 

Do vậy, với những đường lối, nghị quyết, quan điểm chỉ đạo, giải pháp… mà Đại hội XIII của Đảng đề ra, xin đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục thể chế, cụ thể hóa phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” trong quá trình thực hiện, đưa Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống. Theo đó, tập trung một số giải giáp chính sau đây:

Thứ nhất, đặt phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” cũng như vị trí, vai trò của người dân trong tổng thể các quan điểm, nhiệm vụ, mục tiêu, kế hoạch, giải pháp… mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra. Trên cơ sở tổng kết, rút kinh nghiệm 35 năm thực hiện, cụ thể hóa 4 tiêu chí (biết, bàn, làm, kiểm tra) nghiên cứu, quán triệt sâu sắc các tiêu chí, nhất là 2 tiêu chí (giám sát, thụ hưởng) trong tình hình nền dân chủ ngày càng mở rộng, phát triển, nhất là hình thức dân chủ trực tiếp của người dân.  

Thứ hai, các cấp ủy đảng, chính quyền, tổ chức chính trị - xã hội, các ban chỉ đạo xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, cán bộ, đảng viên cần nghiên cứu, học tập, quán triệt lại các tiêu chí trong phương châm của Đảng để vận dụng vào cơ quan, đơn vị, tổ chức, địa phương mình cho phù hợp. Không phải chỉ nghiên cứu nội hàm của tiêu chí mới được bổ sung - dân giám sát, dân thụ hưởng - mà cả nội hàm của tất cả 6 tiêu chí trong phương châm của Đảng. Bởi nội hàm các tiêu chí đó ngày càng mở rộng, phát triển, phong phú và phức tạp hơn trước đổi mới, biến chuyển của xã hội, đất nước. Chẳng hạn, tiêu chí “dân biết” hiện nay khác rất xa “dân biết” cách đây 20 hay 35 năm. Cũng như vậy, tiêu chí “dân kiểm tra, dân giám sát” có sự bổ trợ, liên quan với nhau và “dân thụ hưởng” có những nội hàm mới vì từ trước đến nay nói chung và về cơ bản dân ta đã được hưởng những thành quả của sự nghiệp đổi mới mà họ tham gia đóng góp.

Thứ ba, đối với cơ quan lập pháp là Ủy ban Thường vụ Quốc hội nói riêng, Quốc hội khóa XV nói chung, trong quá trình nghiên cứu, học tập, xây dựng chương trình hành động cần có nội dung xây dựng Luật, pháp lệnh liên quan đến việc vận dụng, cụ thể hóa phương châm của Đảng về “Dân” mà Đại hội XIII vừa đề ra.

Thứ tư, đối với Chính phủ, qua 23 năm xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở các loại hình cơ sở, bên cạnh những thành tích, chuyển biến tích cực, các nghị định này đã bộc lộ những hạn chế, bất cập. Chẳng hạn việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở loại hình cơ quan ở nhiều nơi, nhiều lúc còn hình thức, kém hiệu quả. Quy chế thực hiện dân chủ ở các doanh nghiệp nhà nước hiện nay có nhiều bất cập bởi hầu hết các doanh nghiệp nhà nước đã chuyển đổi thành công ty cổ phần, liên doanh, liên kết. Các đơn vị sự nghiệp công lập và ngoài công lập ngày càng phát triển và hoạt động rất rộng rãi, phức tạp cũng cần xây dựng, bổ sung Quy chế dân chủ, pháp lệnh hoặc luật về dân chủ cơ sở... Do đó, dù Quốc hội có nâng cấp từ Pháp lệnh thành Luật về thực hiện dân chủ ở xã hay xây dựng bộ luật về dân chủ nói chung, thì Chính phủ cùng cần xem xét, bổ sung, sửa đổi các nghị định về xây dựng và thực hiện các loại hình cơ sở còn lại.

Thứ năm, khi Đảng ta là đảng cầm quyền, thể chế của dân, do dân, vì dân ngày càng khẳng định và mở rộng, người dân sống và làm việc theo pháp luật… thì mọi chủ trương, nghị quyết của Đảng phải được thể chế hóa thông qua chính sách, pháp luật của Nhà nước, công tác dân vận của các cấp chính quyền, của các cơ quan nhà nước, sự gương mẫu của cán bộ, công chức, viên chức là cực kỳ quan trọng. Công tác dân vận của chính quyền các cấp chính quyền trước hết là các chế độ, chính sách phải vì lợi ích, nguyện vọng của người dân; người dân hài lòng về hiệu quả công việc, thái độ, chất lượng phục vụ của cán bộ, công chức, viên chức. Cán bộ lãnh đạo các cấp chính quyền, nhất là người đứng đầu thực hiện tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của dân... Tất cả những nội dung trên phải được lượng hóa bằng các tiêu chí cụ thể và có các giải pháp khoa học, công tâm, khách quan để “đo” sự hài lòng của người dân.

Thứ sáu, đối với các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, có vai trò quyết định trong việc thể chế hóa phương châm của Đảng thành hiện thực cuộc sống.

“Đảng ta thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ”, trong khi đó “cán bộ là cái gốc của mọi công việc” (3), "Công việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém" (4), do đó suy đến cùng, các cấp ủy, tổ chức đảng là người chịu trách nhiệm trước hết và cao nhất trong việc cụ thể hóa, đưa phương châm của Đảng vào cuộc sống.

Quyết  định số 217-QĐ/TW của Bộ Chính trị (khóa XI) ban hành “Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội” và Quyết định 218-QĐ/TW của Bộ Chính trị ban hành “Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền” là vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, việc thực hiện còn chưa được như mong muốn, người dân ở nhiều nơi chưa được trực tiếp tham gia giám sát, phản biện, góp ý xây dựng tổ chức đảng, xây dựng chính quyền, phẩm chất đạo đức, lối sống, tác phong, các biểu hiện tham nhũng, tiêu cực cán bộ, đảng viên, gia đình, họ hàng, người thân cả ở nơi công tác và nơi cư trú. Rất cần thể chế hóa bằng Luật, pháp lệnh của Nhà nước bảo đảm dân chủ thực chất, hiệu quả hơn.   

Một số quy chế, quy định, quyết định, chỉ thị... của của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Trung ương Đảng liên quan mối quan hệ giữa Đảng - Dân ban hành đã lâu hoặc cũng chưa được thể chế hóa chặt chẽ, nghiêm ngặt, dựa vào sự tự giác của tập thể, cá nhân nên hiệu lực, hiệu quả chưa cao, cần được rà soát, rút kinh nghiệm, thể chế hóa, bảo đảm thực hiện nghiêm minh, thực chất, hiệu quả: Quy định về nêu gương của cán bộ, đảng viên; Quy định về người đứng đầu cấp ủy tiếp và đối thoại với dân; Quy định những điều đảng viên không được làm; Quy định đảng viên làm kinh tế tư nhân; Quy định đảng viên sinh hoạt hai chiều...

Riêng một vấn đề rất then chốt của các tổ chức, cấp ủy đảng và cũng là vấn đề được quần chúng nhân dân quan tâm theo dõi là vấn đề nhân sự của các cấp ủy, các cấp chính quyền, Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, cán bộ chủ chốt của hệ thống chính trị… vẫn là “điểm nghẽn”. Nhiều ý kiến nói “người dân biết rất rõ về cán bộ”, nhưng cũng có xu hướng cho rằng, sự đánh giá về cán bộ, đảng viên của người dân không phải lúc nào cũng chính xác. Có một nguyên nhân chính là do người dân chưa “được biết”. Nhưng nếu công khai, minh bạch công tác nhân sự của các cấp ủy, tổ chức đảng cho người “được biết”, “được bàn” “được kiểm tra”, “được giám sát”...sẽ là một kênh rất quan trọng trong công tác cán bộ nói chung và nhân sự của các cấp ủy nói riêng. 

HAIVAN

 

Dâng hiến, hy sinh - giá trị nổi bật làm nên vẻ đẹp nhân văn Hồ Chí Minh

 

Nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh thấm sâu trong cuộc đời, lối sống, nhân cách của Người, nổi bật là sự giản dị, đức hy sinh, hy sinh cả cuộc sống riêng tư để lo cho hạnh phúc của toàn dân tộc, của nhân dân. Trả lời nhà báo Cuba là nữ đồng chí Mácta Rôhát, vào lúc cuối đời, Người nói “Tôi hiến đời tôi cho dân tộc tôi”. Người đã thực hiện điều cao cả, thiêng liêng ấy trong suốt cuộc đời. “Miền Nam luôn luôn ở trong trái tim tôi”, vì miền Nam chưa được giải phóng mà Người không một bữa ăn ngon, không một giấc ngủ yên. Mỗi chiến sĩ hy sinh, mỗi người phải đổ máu là Người như đứt từng khúc ruột. Người không có gia đình riêng, không có vợ con, không có tài sản riêng, một đời tiết kiệm đến mức khắc khổ để nêu gương và để lo cho dân. Nam nữ thanh niên nước ta là con cháu của Người. Các bậc phụ lão là bạn bè thân thiết của Người. Phụ nữ nước ta là chị em của Người. Đó là lời nói chân thật tự trái tim Người. Chất nhân văn từ tư tưởng đến hành động của Hồ Chí Minh là một mẫu mực của văn hóa làm người và ở đời, một hình mẫu toàn vẹn, trọn vẹn của sự dấn thân, hy sinh, hóa thân vào dân vào nước.

Qua cuộc đời Hồ Chí Minh, một CON NGƯỜI viết hoa (như lời đại văn hào Nga M.Gorky) chân-thiện-mỹ đã hiện ra, bằng xương bằng thịt, giản dị mà vĩ đại, là sự sống, niềm tin, là tình yêu và hy vọng, là khát vọng mà cũng là hiện thực của con người trong cuộc đời này. Đó là một đời dấn thân tranh đấu và dâng hiến cho dân, vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

Nhân văn Hồ Chí Minh biểu hiện ra vô cùng xúc động, có sức lay động tâm can muôn triệu người, có sức tỏa sáng muôn triệu tâm hồn người, khi ta nhắc lại những lời Người nói tự trái tim với đồng bào, đồng chí, bạn bè xung quanh Người.

Ấy là lời cảm tạ đồng bào chúc thọ Người dịp sinh nhật. Người nói “Từ trước đến giờ tôi đã là người của đồng bào thì từ giờ về sau và mãi mãi tôi vẫn thuộc về đồng bào”.

Ấy là tâm sự từ nỗi lòng Người với đồng bào cả nước, với miền Nam đi trước về sau: “Mỗi người, mỗi gia đình có một nỗi đau khổ riêng. Gộp tất cả nỗi khổ đau đó lại là nỗi khổ đau của bản thân tôi”.

Ấy là Người trả lời nhà báo nước ngoài về mối liên hệ giữa Người với nhân dân: “Hồ Chí Minh là một phần không tách rời của nhân dân ông. Ông suy nghĩ những gì mà nhân dân ông nghĩ. Ông hành động những gì mà nhân dân của ông hành động”.

Như vậy, lịch sử là sự thật và sự thật là lịch sử. Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc và nhân dân Việt Nam mãi mãi tự hào và biết ơn Hồ Chí Minh. Tư tưởng và di sản Hồ Chí Minh kết tinh trong các bảo vật quốc gia - 5 tác phẩm để đời của Người là hành trang của chúng ta trong sự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế, vững bước trên con đường lớn của lịch sử đi tới tương lai tươi sáng-đường Hồ Chí Minh. Đó không chỉ là quốc bảo mà còn là pháp bảo của chúng ta.

Đúng như nữ Giáo sư Sử học Mỹ, bà Josephine Stenson đã nói: “Hồ Chí Minh một nhân cách lớn của thời đại”. Sự thật ấy trở thành giá trị thiêng liêng, là động lực mãnh liệt để chúng ta tin tưởng và hành động cho xứng đáng với Hồ Chí Minh, với dân tộc và nhân loại.

Những giá trị khoa học, cách mạng, nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã được kiểm chứng, kiểm nghiệm qua thời gian như ngọc càng mài càng sáng.

Thế nên, những kẻ xuyên tạc hòng làm lu mờ ánh sáng, nguồn sáng Hồ Chí Minh chỉ càng lộ nguyên hình tâm địa đen tối, mờ ám trước ánh sáng của sự thật, chân lý và đạo lý mà Hồ Chí Minh luôn luôn là biểu tượng rực rỡ. Những sự xuyên tạc thâm độc và bỉ ổi mà các thế lực phản động, chống đối Việt Nam nhằm vào Hồ Chí Minh không bao giờ có thể lung lạc được niềm tin và tình yêu sâu sắc của một trăm triệu trái tim Việt đối với Hồ Chí Minh-hình ảnh, tinh hoa và khí phách của dân tộc Việt Nam.

HAIVAN

Nhớ ghi lời Bác


“Người làm tướng có mưu trí bao giờ cũng lo lắng đến lợi, đến hại. Lo đến lợi mới có đủ tin tưởng làm trọn được nhiệm vụ. Lo đến hại mới tìm mưu kế để giải trừ được gian nguy.”

Lời của Bác được trích trong bài “Bàn về phương pháp tác chiến”, được đăng trên Báo Cứu quốc, số 242, ngày 17 tháng 5 năm 1946, với bút danh Q.Th. thuật, thể hiện nhãn quan trong đánh giá tư duy, trí tuệ, tài năng của người làm tướng. Theo Bác, người làm tướng có mưu trí phải là người có mưu lược; trí sáng tạo; có phương pháp phân tích, phán đoán tình hình một cách khoa học, chính xác; hiểu địch, hiểu mình; biết phân tích thiên thời - địa lợi - nhân hòa; biết phát huy sở trường, sở đoản của quân mình, hạn chế chỗ mạnh, khoét sâu chỗ yếu của quân địch; biết tạo ra và phát huy sức mạnh tổng hợp để đánh thắng quân thù... Đây là yêu cầu không thể thiếu và là thước đo bản lĩnh, tài năng của một người cầm quân giỏi được Hồ Chí Minh vận dụng chỉ đạo việc giáo dục, rèn luyện năng lực và phẩm chất của người làm tướng, đáp ứng nhiệm vụ từng giai đoạn, từng thời kỳ cách mạng.  

Trong giai đoạn hiện nay, khi sự nghiệp đổi mới đất nước đang có những chuyển biến mạnh mẽ và đạt nhiều thành tựu to lớn, nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ, thách thức, nhất là sự chống phá của các thế lực thù địch... yêu cầu xây dựng quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” đòi hỏi năng lực của người tướng lĩnh quân đội theo quan điểm của Hồ Chí Minh có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc.

Đó phải thực sự là người có tri thức toàn diện, giỏi về quân sự, sâu sắc, nhạy bén về chính trị, hiểu biết sâu rộng về văn hóa, khoa học, kỹ thuật… Trong lãnh đạo, chỉ huy đơn vị người cán bộ cấp tướng phải luôn chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện tốt tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, đề cao và thực hành tốt tự phê bình và phê bình; làm việc theo chức trách, nêu gương trong hành động; luôn tự soi, tự sửa; dự báo và xem xét thấu đáo các điều kiện khách quan, chủ quan khi ra các quyết định; sâu sát, tỉ mỉ, cụ thể trong tổ chức thực hiện; gần gũi với cấp dưới, với bộ đội, là hạt nhân lãnh đạo, đoàn kết, chỉ huy đơn vị hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

HAIVAN

Khắc phục bệnh hình thức, đối phó trong học tập nghị quyết của Đảng hiện nay


Thông thường trung bình trong một năm, các cấp ủy đảng từ Trung ương đến cơ sở phải triển khai thực hiện học tập, quán triệt và tuyên truyền từ 3 đến 5 nghị quyết của Đảng đến từng chi bộ, từng đảng viên để học tập và thực hiện. Thế nhưng cách thức tổ chức thực hiện và hiệu quả của việc học tập nghị quyết đến đâu đang là một vấn đề cần được nhận diện đầy đủ, phân tích rõ nguyên nhân, đưa ra những giải pháp khắc phục kịp thời, góp phần xây dựng và chỉnh đốn Đảng.

Nhìn nhận quá trình học tập, sinh hoạt chúng ta nhận thấy có nhiều vấn đề cần phải bàn luận, để góp phần nâng cao hiệu quả của việc học tập nghị quyết.

Trong cấu trúc của mỗi một nghị quyết của Đảng bao giờ cũng có một phần quy định về tổ chức thực hiện và trong đó sẽ có một điểm liên quan đến học tập, quán triệt nghị quyết. Tùy từng đối tượng, nội dung, phạm vi để quy định một cách chi tiết việc tổ chức học tập, thực hiện nghị quyết, nhưng tựu trung lại đó là: (1) Các tỉnh uỷ, thành uỷ, các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng uỷ trực thuộc Trung ương tổ chức học tập, quán triệt sâu sắc nội dung nghị quyết; hoặc (2) Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức việc học tập, quán triệt và tuyên truyền sâu rộng nghị quyết, kết quả thực hiện nghị quyết; hoặc (3) Nghị quyết, chỉ thị này được phổ biến đến từng chi bộ.

Trước hết, phải khẳng định rằng việc học tập nghị quyết của Đảng là chủ trương đúng để đưa nghị quyết đến từng chi bộ, từng đảng viên và thông qua đảng viên gián tiếp đến với đông đảo tầng lớp nhân dân nắm rõ những định hướng, chủ trương, chính sách và thực hiện nghị quyết. Và, cũng phải thừa nhận rằng, các cấp ủy đảng đã “hoàn thành nhiệm vụ” dưới góc độ “tổ chức lớp học” để triển khai quán triệt việc thực hiện các nghị quyết.

Thế nhưng, thực tiễn triển khai thế nào và cách thức thực hiện, hiệu quả mang lại ra sao là vấn đề cần được quan tâm đánh giá một cách khách quan, trung thực và thẳng thắn. Từ đó để điều chỉnh, uốn nắn kịp thời, tránh việc chỉ tổ chức thực hiện học tập mang tính hình thức và báo cáo “đã triển khai tổ chức học tập nghị quyết”.

Thứ nhất, dưới góc độ triển khai nghị quyết của các cấp ủy đảng.

Trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước của nước ta hiện nay bao gồm các cơ quan quản lý theo ngành hay lĩnh vực ở Trung ương và địa phương; có cơ quan được thiết kế thành hệ thống tập trung theo ngành dọc hoặc theo cấp chính quyền địa phương, trong khi đó không phải nghị quyết nào của Đảng cũng bao trùm toàn bộ các vấn đề liên quan đến tất cả các bộ, ban, ngành, đoàn thể hay địa phương. Do vậy, cần phải xem lại việc các cấp ủy đảng tổ chức học những nghị quyết mà ít có liên quan, hoặc ít có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của bộ, ban, ngành, địa phương, đơn vị mình. Có như vậy việc học tập nghị quyết mới mang lại tính thiết thực và phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của ngành, địa phương, cơ quan đơn vị. Và từ đó, mỗi đảng viên mới cảm thấy nghị quyết này là thiết thực với công việc đang triển khai của đơn vị mình, mới hăng say học tập, lắng nghe, tìm hiểu và thấm nhuần, đồng thời mới vận dụng khả năng tư duy, sáng tạo trong thực hiện nghị quyết.

Thứ hai, về ý thức học tập nghị quyết của đảng viên.

Không ít đảng viên đang tồn tại một suy nghĩ ngấm ngầm bất thành văn và đối phó “đi học cho đủ người, họ điểm danh đấy”, hoặc “khi nào điểm danh nháy máy nhé”, hoặc “nhớ giơ tay hộ nhé”, hoặc “nhớ ghi tên hộ nhé”,… Tất cả những biểu hiện này là do ý thức đối phó trong việc tham gia học tập nghị quyết.

Dãy bàn ở trên thông thường được bố trí cho những vị đại biểu, những người giữ chức vụ lãnh đạo đơn vị, nhưng ngay cả dãy bàn này nhiều khi trước mặt đại biểu là những tập tài liệu được coi là phải giải quyết ngay, hoặc là bàn luận công chuyện với lãnh đạo đồng cấp khác, hoặc là gọi điện điều hành công việc ở cơ quan mà ít chú ý, lắng nghe đến báo cáo viên đang truyền đạt nghị quyết. Lãnh đạo đã vậy, thì cấp dưới sẽ ra sao?

Những dãy bàn kế tiếp sẽ thuộc về đối tượng lãnh đạo cấp thấp hơn. Ở phân khúc này thì thường xuyên biểu hiện qua những câu chuyện thì thầm, hàn huyên với nhau, ít có biểu hiện lắng nghe nghị quyết. Những câu chuyện về chủ đề về ship hàng, về giúp việc, về làm đẹp, về du lịch, giảm cân theo phương pháp luyện tập yoga - fitness, về ứng xử mẹ chồng, nàng dâu, hoặc uống bia ở đâu ngon mà không bị đau đầu,… trở nên hấp dẫn trong những buổi học nghị quyết.

Một trạng thái khác của lớp học thường phổ biến trong thời đại công nghệ 4.0 đó là mỗi người một máy điện thoại thông minh, hầu như mọi màn hình đều ở trạng thái kết nối in-tơ-net bật sáng. Chưa có một khảo sát, đánh giá bằng con số cụ thể nhưng dám chắc rằng đến 50 % số người khi tham gia học nghị quyết đều có tham gia sử dụng điện thoại cho mục đích giải trí thông qua mạng xã hội.

Và cũng thứ tự theo đúng thứ bậc rõ ràng, xa xa những hàng ghế cuối cùng là những người hay ngủ, hoặc có ý định ra về sớm, làm việc riêng,… đều lựa chọn những vị trí phù hợp này để thực hiện các mục đích cá nhân của mình một cách thuận tiện và lặng lẽ. Ngoài ra, còn rất nhiều biểu hiện như đi muộn, về sớm, ra vào giữa giờ, nghe nói chuyện điện thoại,… diễn ra thường xuyên trong mỗi đợt học tập nghị quyết của Đảng.

Từ những biểu hiện trên đây đã phần nào làm giảm đi tính nghiêm túc của một lớp học nghị quyết, giảm đi hiệu quả việc triển khai học tập nghị quyết của Đảng và dẫn đến không hiệu quả, tốn kém cả về thời gian và ngân sách, trong khi đó công việc chuyên môn phải gác lại để dành thời gian cho việc học tập nghị quyết. Và tôi tin rằng, sau những buổi học nghị quyết như thế, rất nhiều người trong số đó đã không hiểu và nắm được gì về nghị quyết mà mình vừa được truyền đạt.

Một số đề xuất

Một là, cơ quan ban hành nghị quyết cần đánh giá lại một cách trung thực, khách quan về hiệu quả đạt được của việc triển khai học tập, tuyên truyền thực hiện nghị quyết. Từ đó xem xét lại một cách toàn diện trong tổ chức triển khai, học tập nghị quyết.  

Hai là, về phía cơ quan tổ chức lớp học cần phải xem xét, sàng lọc những nội dung, nghị quyết liên quan trực tiếp đến chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị mình để học tập thì mới phát huy hiệu quả. Bên cạnh đó, cần phải có phương pháp, cách thức tổ chức lớp học làm sao cho thật hiệu quả, kể cả về thời gian, địa điểm tổ chức, tránh tình trạng có những nơi chọn đúng thời điểm những ngày cuối năm để tổ chức; kể cả khâu trang trí cũng nên thay đổi bằng hình thức thiết kế trình chiếu slide thay cho việc in ấn phông bạt, vừa tiết kiệm, vừa bảo vệ được môi trường. Việc điểm danh hoặc báo cáo số liệu người tham gia học tập cũng đã được đặt ra nhưng kết quả cũng chỉ là lưu trữ trong hồ sơ tổ chức lớp học. Việc báo cáo thu hoạch sau mỗi lớp học nghị quyết đều diễn ra, tuy nhiên, cần đổi mới và thiết kế lại, tránh tình trạng 100% đảng viên đã viết đầy đủ thu hoạch nhưng bản thu hoạch được sao chép của nhau, thay tên đổi họ và in, gửi nộp ban tổ chức, gây lãng phí tài chính, ngân sách của đơn vị. Đảng viên đi học không hiểu, hoặc hiểu lơ mơ một cách chung chung và không thấm nhuần những tư tưởng chỉ đạo đã nêu trong nghị quyết, dẫn đến vô tình hoặc cố ý hành động và thực hiện không đúng với chủ trương, đường lối của Đảng đề ra.

Ba là, về báo cáo viên và nội dung truyền đạt. Cần phải thuyết trình có trọng tâm, trọng điểm hơn, tránh tràn lan và không thiết thực. Cái mà đảng viên cần đó là phương pháp, cách thức, quy trình để vận dụng nghị quyết trong thực thi nhiệm vụ được giao, việc thực hiện đó có những trở ngại, khó khăn hoặc mâu thuẫn như thế nào, nếu thực hiện và không thực hiện thì sẽ ra sao? Bản thân báo cáo viên phải nghiên cứu kỹ đối tượng học tập nghị quyết để truyền đạt nội dung của nghị quyết phù hợp.

Bốn là, về ý thức của đảng viên, từng đảng viên phải từ bỏ quan niệm và thói quen đã tồn tại bấy lâu là đi học cho đầy đủ số lần, số lượng quy định; từ bỏ ý nghĩ việc triển khai nghị quyết là trách nhiệm thuộc về các cấp lãnh đạo, mình "thì chỉ đâu đánh đấy", mà thiếu đi trách nhiệm và nghĩa vụ phải tiếp thu, phải lĩnh hội những quan điểm, mục đích, ý nghĩa nghị quyết mà Đảng đã phải dày công thiết lập, để từ đó xây dựng cho mình một kế hoạch, hoặc cùng tổ chức thực hiện nghị quyết đó. 

Mỗi một nghị quyết của Đảng đều chứa đựng và thể hiện những quan điểm, định hướng, chủ trương, chính sách và đường lối phát triển cho đất nước, địa phương. Nghị quyết đã ban hành phải được triển khai, phổ biến thống nhất trong toàn Đảng và được thực hiện mang ý nghĩa hành động thiết thực để phục vụ nhân dân, để xây dựng đất nước ngày càng phát triển. Vì vậy, nâng cao hiệu quả học tập nghị quyết là yêu cầu bức thiết để nghị quyết của Đảng đi vào cuộc sống hiệu quả. 

HAIVAN    

GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC TRONG SỰ NGHIỆP CỦNG CỐ, TĂNG CƯỜNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY!

         Trong suốt cuộc đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định đại đoàn kết dân tộc là phương thức, là sức mạnh và là mục tiêu quan trọng nhất của cách mạng Việt Nam. Với tư tưởng ấy, dân tộc Việt Nam đã giành được độc lập và xây dựng đất nước từng bước đạt mục tiêu ''dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh''. Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành giá trị văn hóa, giá trị chính trị quý báu của Việt Nam trong thời đại mới!
Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, nếu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là mục tiêu của cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản là lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, thì đại đoàn kết dân tộc là sức mạnh của cách mạng Việt Nam và tư tưởng về đại đoàn kết dân tộc là tư tưởng về tập hợp, tổ chức và phát huy sức mạnh của các lực lượng cách mạng trong nước, từ sức mạnh của các lực lượng xã hội, các tổ chức chính trị đến sức mạnh của toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, làm nên nguồn lực tổng hợp nhằm hiện thực hóa mục tiêu cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, đoàn kết, trong đó có đại đoàn kết dân tộc, là một nội dung cơ bản, trung tâm của chính trị Việt Nam hiện đại. Người viết: “Tóm lại chính trị là: 1. Đoàn kết. 2. Thanh khiết từ to đến nhỏ”.

Tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc được Người xây dựng trên nền tảng đúc rút trí tuệ nhân loại cổ, kim, Đông, Tây về tập hợp và tổ chức lực lượng cách mạng; trên cơ sở tổng kết lịch sử dân tộc Việt Nam, lịch sử cách mạng Việt Nam và nhiều cuộc cách mạng trên thế giới; và nhất là dựa trên những suy tư rất sâu sắc của Người, ở tầm triết học, về bản chất con người, về vị trí và vai trò của con người trong thế giới, phương thức sống và hoạt động của con người..., nói cách khác trên nền tảng nhân sinh quan cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là nhà tư tưởng về đại đoàn kết dân tộc, mà Người trước hết là “nhà hoạt động chính trị chuyên nghiệp” - như chính Người khẳng định, trong đó tư tưởng và thực hành đại đoàn kết dân tộc, lý luận và thực tiễn đại đoàn kết dân tộc liên hệ chặt chẽ với nhau. Chủ tịch Hồ Chí Minh là linh hồn và là trung tâm dẫn dắt quá trình tập hợp và tổ chức lực lượng cách mạng trong thực tiễn. Tư tưởng đại đoàn kết, trong đó đại đoàn kết dân tộc là vấn đề hàng đầu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh tính đến khi đứng trước những vấn đề lớn mà cách mạng đặt ra. Thực tiễn cách mạng Việt Nam chứng minh, với tư tưởng và vai trò thực tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sức mạnh của dân tộc Việt Nam được tập hợp, tổ chức và phát huy cao độ; kết hợp nhuần nhuyễn giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, góp phần làm nên những thắng lợi to lớn của cách mạng Việt Nam.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc cùng với khối đại đoàn kết dân tộc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh dày công xây dựng là một di sản vô cùng quý báu cho Đảng ta và dân tộc ta. Trong bối cảnh hiện nay, khi mục tiêu được Đảng ta đưa ra trong Đại hội XIII của Đảng là: “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại” đang đặt ra mạnh mẽ, thì việc tiếp tục đi sâu nghiên cứu, khai thác, vận dụng một cách sáng tạo những giá trị trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc là nhiệm vụ có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng.

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tầm quan trọng của đại đoàn kết dân tộc.
Để giải quyết những vấn đề lớn của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng việc tổng kết lịch sử. Khi tổng kết lịch sử dân tộc Việt Nam, Người đúc rút một quy luật: “Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn. Vậy nay ta phải biết đoàn kết, đoàn kết mau, đoàn kết chắc chắn thêm lên mãi”. Đây là quan điểm rất quan trọng, mang tính nền tảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc, theo đó, việc lực lượng lãnh đạo cách mạng chú trọng củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, việc các tầng lớp nhân dân tích cực, chủ động tham gia khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đó chính là nhận thức và hành động đúng đắn, phù hợp với quy luật.

Nhìn vào các phong trào yêu nước của các tầng lớp nhân dân Việt Nam suốt nửa cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX và phong trào đấu tranh của nhân dân nhiều nước thuộc địa chống lại chủ nghĩa thực dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy rõ, nguyên nhân khiến cho hầu hết các phong trào đó, dù nổ ra với tinh thần anh dũng, sẵn sàng h.y s.inh của nhân dân, nhưng đều thất bại, là do bị chia rẽ và cô lập, các lực lượng yêu nước không được tập hợp và tổ chức lại thành một khối đoàn kết vững chắc. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng dành thời gian nghiên cứu kinh nghiệm các cuộc cách mạng lớn nổ ra trên thế giới như cách mạng Pháp, cách mạng Mỹ và cách mạng Nga, từ đó đúc rút ra những chỉ dẫn quan trọng về đại đoàn kết dân tộc. Người còn đi sâu nghiên cứu nhiều tư tưởng, học thuyết của các nhà lãnh đạo chính trị tầm cỡ, như M. Gan-di, Tôn Trung Sơn..., và đặc biệt, đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, nhờ vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có được cơ sở lý luận khoa học để luận giải sâu sắc về tầm quan trọng của đại đoàn kết dân tộc, nhận thức đúng đối tượng đại đoàn kết và cách thức tiến hành đại đoàn kết dân tộc.

Trên tất cả những cơ sở đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định tầm quan trọng đặc biệt của đại đoàn kết dân tộc:
Thứ nhất, đại đoàn kết dân tộc là một trong những vấn đề gốc của cách mạng. Nếu giải quyết thành công vấn đề này thì các vấn đề khác cũng sẽ có điều kiện để giải quyết thành công. Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng từ “điểm mẹ” để diễn đạt quan điểm này. Người viết: Đoàn kết là “điểm mẹ. Điểm này mà thực hiện tốt thì đẻ ra con cháu đều tốt”.

Thứ hai, đại đoàn kết dân tộc là phương thức để tập hợp, tổ chức và phát huy cao độ sức mạnh của toàn thể dân tộc, góp phần quyết định đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “... nhờ sức đại đoàn kết mà cách mệnh thành công... nhờ sức đại đoàn kết mà kháng chiến sẽ thắng lợi”; “Thống nhất nước nhà là con đường sống của nhân dân ta. Đại đoàn kết là một lực lượng tất thắng. Nhờ đại đoàn kết mà cách mạng đã thắng lợi, kháng chiến đã thành công. Nay chúng ta đại đoàn kết thì cuộc đấu tranh chính trị của chúng ta nhất định thắng lợi, nước nhà nhất định thống nhất”.

Thứ ba, đại đoàn kết dân tộc là chiến lược hàng đầu của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong bất cứ giai đoạn nào của cách mạng, đại đoàn kết dân tộc luôn phải được Đảng Cộng sản Việt Nam quan tâm giải quyết trước hết. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn, “Trước Cách mạng Tháng Tám và trong kháng chiến, thì nhiệm vụ tuyên huấn là làm cho đồng bào các dân tộc hiểu được mấy việc: Một là đoàn kết. Hai là làm cách mạng hay kháng chiến để đòi độc lập. Chỉ đơn giản thế thôi. Bây giờ mục đích tuyên truyền huấn luyện là: Một là đoàn kết. Hai là xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ba là đấu tranh thống nhất nước nhà”. Đảng Cộng sản Việt Nam xây dựng đường lối, chiến lược đại đoàn kết dân tộc và lãnh đạo hệ thống chính trị cùng toàn thể nhân dân tích cực thực hiện đường lối chiến lược đó, làm cho đại đoàn kết dân tộc trở thành một hiện thực đầy sức sống trong cách mạng Việt Nam.

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đối tượng đại đoàn kết dân tộc.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân. Trong bài nói chuyên tại Hội nghị đại biểu Mặt trận Liên Việt toàn quốc (tháng 1-1969), Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là nền gốc của đại đoàn kết. Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây. Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác. Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì dù những người đó trước đây chống chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ”. Có thể thấy, ý nghĩa chữ “đại” trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc chính là biên độ của đại đoàn kết được mở rộng tối đa, là đoàn kết với mọi đối tượng có thể đoàn kết được.

Vấn đề đặt ra là, đó là những đối tượng nào?
Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định các đối tượng của đại đoàn kết bằng phương pháp rất khoa học. Theo Người, dân tộc không phải là một “cộng đồng tưởng tượng”, mà là một cộng đồng hiện thực của những con người hiện thực. Để nhận diện đúng cộng đồng ấy, Người tiếp cận cộng đồng dân tộc bằng nhiều “lát cắt” khác nhau: giai cấp, dân tộc, tôn giáo, giới tính, lứa tuổi, vùng miền,... Tùy từng “lát c.ắt” sẽ chia cộng đồng dân tộc thành những lực lượng xã hội khác nhau, với những đặc điểm về nhu cầu, lợi ích, tâm lý, thái độ,... riêng cùng những mối quan hệ đặc thù. Điều cần lưu ý là, Chủ tịch Hồ Chí Minh không tuyệt đối hóa một lát cắt hay quan hệ nào. Trái lại, áp dụng nhiều “lát c.ắt” để nhìn sâu vào cái bộ phận, nhưng không dừng ở cái bộ phận mà đi tới cái toàn thể, tức là để nhìn đối tượng đại đoàn kết trong tính chỉnh thể, trong tính tổng hòa khách quan vốn có, theo đúng quan điểm của C. Mác: Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Nhận diện một đối tượng đại đoàn kết không phải chỉ trên một phương diện nào đó, chẳng hạn dân tộc hay tôn giáo, mà trong tính tổng hòa đan xen của nó: cùng một đối tượng đại đoàn kết, vừa là con người dân tộc, vừa là con người giai cấp, vừa là con người tôn giáo, vừa là con người lứa tuổi... Cách tiếp cận toàn diện như vậy giúp chủ thể tìm ra những điểm chung để hóa giải các quan hệ khác biệt, mâu thuẫn trong quan hệ giữa các đối tượng đại đoàn kết. Có thể khẳng định, Chủ tịch Hồ Chí Minh phân tích để nhận diện sâu về đối tượng đại đoàn kết trên các phương diện khác nhau và lấy đó làm cơ sở để tổng hợp, để đại đoàn kết là cách tiếp cận độc đáo của Người, vừa khoa học, vừa rất văn hóa, độc đáo, đặc sắc và hiệu quả.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không tuyệt đối hóa lát c.ắt nào, nhưng từ góc nhìn chung của đại đoàn kết dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh điểm chung xuyên qua những khác biệt của các thành viên trong cùng một quốc gia - dân tộc, đó là những giá trị liên quan đến lợi ích chung của dân tộc. Đó là cơ sở quan trọng để Người khẳng định rằng, dù giai cấp, tộc người, tôn giáo, vùng, miền khác nhau, dù là trong nước hay nước ngoài..., nhưng là người Việt Nam, thì đều có những lợi ích chung có thể chia sẻ, vì thế, đều có thểvà cần thiết tham gia khối đại đoàn kết dân tộc để phấn đấu cho lợi ích chung. Trong bối cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam khi đó, lợi ích chung ấy được Chủ tịch Hồ Chí Minh diễn đạt là “yêu Tổ quốc, yêu hòa bình, yêu thống nhất”, hay “thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ”,... Hình ảnh “con Lạc, cháu Hồng”, “con dân nước Việt” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên chính là hiện thân cho những giá trị chung trong mỗi đối tượng đại đoàn kết. Rõ ràng, nói đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân, ở đây, tuyệt nhiên không phải là một khẩu hiệu đơn thuần, mà là một chính sách dân tộc, một cương lĩnh hành động được xây dựng trên cơ sở nhận thức khoa học và mang tính khoan dung văn hóa rất sâu sắc.

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nguyên tắc đại đoàn kết dân tộc.
Để có thể thực hiện được đại đoàn kết dân tộc, Hồ Chí Minh đã nêu lên một số nguyên tắc chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn.
Thứ nhất, quán triệt nguyên tắc “cầu đồng, tồn dị”, trước hết phải “cầu đồng”, tức là phải tìm ra cái “đồng” mà các bên chia sẻ, lấy đó làm điểm quy tụ để đại đoàn kết.

Cái “đồng” đó, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, suy cho cùng chính là lòng yêu nước chân chính trong mỗi con người Việt Nam. Trong Thư gửi đồng bào Nam Bộ trước khi rời Việt Nam sang Pháp dự Hội nghị Phông-ten-nơ-b-lô, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Tôi khuyên đồng bào đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi. Năm ngón tay cũng có ngón vắn ngón dài. Nhưng vắn dài đều họp nhau lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ. Ta phải nhận rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ. Có như thế mới thành đại đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc sẽ vẻ vang”. Thừa nhận rằng, đã là con Lạc, cháu Hồng, thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc, đó chính là quan điểm nhấn mạnh cái “đồng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tiếp cận các đối tượng đại đoàn kết.

Cái “đồng” đó còn là những quyền lợi chính đáng khác mà mỗi con người, dù ở giai cấp, tầng lớp, vùng, miền nào..., cũng hướng đến. Nói cách khác, cùng với “độc lập”, thì “tự do”, “hạnh phúc”, “cơm ăn”, “áo mặc”, “học hành”,... cũng là những giá trị chung cần được quan tâm và là điểm tựa để quy tụ, đoàn kết mọi lực lượng xã hội khác nhau vào một sự nghiệp chung.

Tìm ra cái chung, lấy cái chung làm điểm tựa, dựa vào cái chung để hóa giải những khác biệt, mâu thuẫn riêng, đó là triết lý rất sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thực hiện đại đoàn kết dân tộc.

Thực hiện nguyên tắc “cầu đồng, tồn dị” thì không chỉ “cầu đồng”, mà còn phải “tồn dị”, tức là phải chấp nhận và tôn trọng những cái khác biệt, miễn là không tổn hại đến cái chung. “Tồn dị” thể hiện tinh thần khoan dung, độ lượng, hay nói theo cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh là “khoan hồng đại độ”. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Tôi cả quyết cam đoan rằng Chính phủ và đồng bào ta sẽ hết sức khoan hồng đại độ. Chẳng những để cho những người đó cải quá tu tâm, quay về với Tổ quốc, mà lại sẵn sàng trọng dụng họ, nếu những người đó có tài nghệ. Một dân tộc đã tự cường, tự lập, dân chủ cộng hòa thì không làm những việc nhỏ nhen, báo thù báo oán”. Có khoan hồng đại độ, thì mới có đại đoàn kết, đó cũng là một triết lý đại đoàn kết rất sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khoan hồng đại độ không chỉ thể hiện cái tâm, mà còn thể hiện cái tầm của chủ thể đại đoàn kết. Hình ảnh thể hiện của tinh thần khoan dung chính là sông to và biển rộng: “Sông to, biển rộng, thì bao nhiêu nước cũng chứa được, vì độ lượng nó rộng và sâu. Cái chén nhỏ, cái đĩa cạn, thì một chút nước cũng đầy tràn, vì độ lượng nó hẹp nhỏ”. Cái tâm và cái tầm chủ thể đại đoàn kết dân tộc trái ngược hoàn toàn với sự “nhỏ nhen”, hẹp hòi, định kiến, càng xa lạ với lối ứng xử “b.áo th.ù b.áo o.án”. Tinh thần khoan dung, độ lượng, hay khoan hồng đại độ ở Chủ tịch Hồ Chí Minh thực sự chính là tinh thần khoan dung văn hóa, mang tính nhân văn, nhân đạo cực kỳ sâu sắc.

Thứ hai, thực hiện nguyên tắc “cầu đồng, tồn dị” nói trên, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, cần được đặt trên nền tảng niềm tin đối với con người. Đứng vững trên quan điểm của chủ nghĩa Mác, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, “mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng”. Thiện hay ác đó không phải là “tính sẵn”, mang tính tiên thiên, mà do trình độ phát triển của xã hội quy định, do sự tập nhiễm của con người khi sống trong xã hội chưa thực sự đạt đến trình độ văn minh. Thiện hay á.c đó cũng không phải là nhất thành bất biến, mà biến đổi tùy thuộc vào giáo dục, theo nghĩa là giáo dục từ phía xã hội, cũng như tự giáo dục của mỗi con người. Lực lượng lãnh đạo cách mạng cần phải có niềm tin vào sự tồn tại của cái thiện trong mỗi con người, và khả năng nảy nở, phát triển của nó nếu được tác động đúng hướng, đúng cách, và thái độ cần có của lực lượng lãnh đạo xã hội là phải làm cho cái thiện “nảy nở như hoa mùa Xuân” và cái á.c “mất dần đi”. Lòng yêu nước chân chính, những định hướng giá trị tốt đẹp, như “ấm no”, “tự do”, “hạnh phúc”,... trong mỗi con người Việt Nam chính là cái thiện, và vì thế cần có niềm tin và thái độ ứng xử tích cực đối với cái thiện đó. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Không được b.áo th.ù b.áo o.án. Đối với những kẻ đi lầm đường lạc lối, đồng bào ta cần phải dùng chính sách khoan hồng. Lấy lời khôn lẽ phải mà bày cho họ. Ai cũng có lòng yêu nước, chẳng qua có lúc vì lợi nhỏ mà quên nghĩa lớn. Nói lẽ phải họ tự nghe. Tuyệt đối không được dùng cách kịch liệt”. Có thể thấy, niềm tin không chỉ đầy tính khoa học, mà cũng cực kỳ nhân văn ở Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cái thiện và năng lực hướng thiện của con người là một triết lý nhân sinh cực kỳ quan trọng, là một bệ đỡ cho hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó có tư tưởng về đại đoàn kết dân tộc, là cơ sở để thực hiện các nguyên tắc đại đoàn kết dân tộc một cách thành công. Đó cũng là một nguyên tắc thực hiện đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thứ ba, đại đoàn kết dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh hướng tới hình thành một cộng đồng gắn bó và thống nhất. Có như vậy, mới tập hợp và phát huy được cao độ sức mạnh của mỗi thành viên trong khối đại đoàn kết tạo nên tổng hợp lực cho cách mạng. Để làm được điều đó, ngoài niềm tin và thái độ đúng, còn cần đến cách ứng xử phù hợp. Trừ b.ọn “V.iệt gi.an b.án n.ước”, tr..ừ b.ọn “ph.át x.ít th.ực d.ân”, mà Chủ tịch Hồ Chí Minh gọi là “những á.c qu.ỷ mà ta phải kiên quyết đánh đổ”, thì “đối với tất cả những người khác thì ta phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ”. Khi nói đến cách ứng xử để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Hồ Chí Minh thường dùng những chữ “thật thà”, “chân thành”, “thân thiết”, “thân ái”, “yêu quý”, “kính trọng”, “giúp đỡ”,... Người viết: “Phong trào giải phóng sôi nổi, nảy nở ra rất nhiều nhân tài ngoài Đảng. Chúng ta không được bỏ rơi họ, xa cách họ. Chúng ta phải thật thà đoàn kết với họ, nâng đỡ họ. Phải thân thiết với họ, gần gụi họ, đem tài năng của họ giúp ích vào công cuộc kháng chiến cứu nước. Chúng ta phải tẩy sạch các bệnh kiêu ngạo, bệnh hẹp hòi, bệnh bao biện”. Người còn chỉ dẫn: “Đồng chí ta, tuy có khi khác nhau về chủng tộc hay khác nhau về nguồn gốc giai cấp, nhưng là những người cùng chủ nghĩa, cùng mục đích, cùng sống, cùng ch.ết, chung sướng, chung khổ, cho nên phải thật thà đoàn kết. Muốn đi tới mục đích, không phải chỉ tổ chức là đủ, phải chân thành trong tư tưởng nữa”,... Như vậy, dù góc tiếp cận nào: trong đảng hay ngoài đảng, chủng tộc hay giai cấp, thì để thực hiện được đại đoàn kết dân tộc, đều cần có cách ứng xử phù hợp, và cách ứng xử đó có thể khái quát là “cách Thiện”: cách Thiện để tạo ra cái Thiện, để làm cho những mầm Thiện nảy nở như hoa mùa Xuân. Đây cũng là một nguyên tắc quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc còn nhiều nội dung rất phong phú, sâu sắc. Những quan điểm đó chứa đựng những giá trị quan trọng đối với sự nghiệp củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc ở Việt Nam hiện nay. Có thể khái quát là:
Một là, đại đoàn kết toàn dân tộc đã, đang và sẽ luôn là một quy luật chi phối sự tồn tại và phát triển của quốc gia - dân tộc Việt Nam. Để có thể xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc, nhiệm vụ xây dựng, củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc luôn phải được đặt lên hàng đầu, phải là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng và Nhà nước Việt Nam, và trực tiếp là của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Coi trọng vai trò của đại đoàn kết dân tộc đòi hỏi phải thực sự coi trọng vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị.

Hai là, luôn quán triệt quan điểm mở rộng tối đa khối đại đoàn kết dân tộc. Trong xã hội mở và biến đổi nhanh chóng hiện nay, các lực lượng xã hội cấu thành dân tộc rất đa dạng, nhiều khác biệt. Tuy nhiên, dù đa dạng và nhiều khác biệt đến mấy, luôn cần nhìn nhận đó là các lực lượng cần tập hợp vào khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Cần mở rộng các hình thức tập hợp, tổ chức các lực lượng xã hội và có cơ chế để thu hút, quy tụ các hình thức đó vào trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phải thực sự là hiện thân của khối đại đoàn kết toàn dân tộc với các cấp độ tổ chức chặt chẽ và cơ chế hoạt động hiệu quả. Muốn vậy, Mặt trận phải rất thực chất và đầy sức sống, vừa rất thống nhất, vừa đa dạng và sinh động.

Ba là, để thực hiện được đại đoàn kết dân tộc trong bối cảnh xã hội phân hóa, phân tầng mạnh mẽ hiện nay, nguyên tắc “cầu đồng, tồn dị” càng hết sức quan trọng. Việc phát hiện và khơi dậy những giá trị, lợi ích chung, cũng như việc chấp nhận và tôn trọng những cái khác biệt sẽ khó khăn hơn, nhưng không thể không thực hiện. Đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, phải làm sao để các đại diện trong Mặt trận thật sự đại diện được cho sự đa dạng trong xã hội, đồng thời phải có cơ chế để sự đa dạng tương tác và tồn tại trong mục tiêu thống nhất. Tinh thần căn bản cần quán xuyến ở đây chính là dân chủ và pháp quyền.

Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là mục tiêu lớn của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đó phải là nền “pháp quyền nhân nghĩa”. Không phải ngẫu nhiên mà có học giả gọi kỷ nguyên hiện nay là kỷ nguyên của văn hóa, do đó, cách thiện càng là một đòi hỏi về cách ứng xử đối với các lực lượng xã hội khác nhau trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc ở Việt Nam hiện nay. Chủ tịch Hồ Chí Minh chưa dùng khái niệm “quyền lực mềm”, “sức mạnh mềm”, nhưng Người nhiều lần chỉ dẫn về việc “bày lẽ phải”, “nói phải”, “thuyết phục”,... trong ứng xử với các đối tượng đại đoàn kết. Ngay đối với Đảng Cộng sản Việt Nam - tổ chức vừa là thành viên, vừa là lực lượng lãnh đạo Mặt trận, ngay từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lưu ý: “Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận thừa nhận quyền lãnh đạo của mình, mà phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất. Chỉ trong đấu tranh và công tác hằng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo”. Đó không có gì khác hơn là ứng xử theo cách thiện, là phát huy sức mạnh của sự thuyết phục, là sử dụng sức mạnh mềm.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, được tổ chức và hoạt động “theo nguyên tắc tự nguyện, hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động giữa các thành viên” cần và có điều kiện vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc./.


Môi trường ST.