Thứ Tư, 26 tháng 4, 2023

Phản bác luận điệu xuyên tạc cuộc chiến chống tham nhũng hiện nay.

 Thời gian qua, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách xuyên tạc cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước do Đảng ta lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện. Mục đích của chúng là gây rối loạn đời sống chính trị, hạ thấp uy tín của Đảng ta, nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng. Bài viết góp phần đấu tranh phản bác luận điệu xuyên tạc “Các phe phái triệt hạ lẫn nhau trong Đảng” của các thế lực thù địch.

 

Phản bác luận điệu xuyên tạc cuộc chiến chống tham nhũng hiện nay

Các thế lực thù địch, phản động ráo riết, âm mưu thuyết phục, làm phân tâm và tác động mạnh mẽ những tư tưởng tiêu cực đến nhiều người, gây tâm lý hoang mang, dao động, bán tín, bán nghi, thiếu tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng - Ảnh: vtv.vn

Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước đang được Đảng lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện quyết liệt, không ngừng, không nghỉ, không có vùng cấm, không có đặc quyền, không có ngoại lệ, bất kể đó là ai và không có “hạ cánh an toàn”,… được nhân dân đồng tình ủng hộ và quốc tế ghi nhận. Một số trường hợp cán bộ lãnh đạo không đủ uy tín, năng lực lãnh đạo, quản lý hoặc để cơ quan cấp dưới tham nhũng… đã xin thôi giữ chức.

Mặc dù vậy, các thế lực thù địch đã ra sức tung tin, bình luận rằng cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng hay việc xin thôi chức của một số chức danh lãnh đạo cấp cao của Đảng là do “ép buộc”, chỉ là “cuộc chiến thanh trừng phe phái”, đấu đá, hạ bệ nhau, tranh giành chức quyền… Những luận điệu đó hoàn toàn sai trái, phản động và cần phải được đấu tranh loại bỏ. 

Với tâm lý, bản tính tò mò, muốn tìm kiếm thông tin khác lạ của công chúng; với khả năng dẫn dắt người nghe, các thế lực thù địch, phản động đã thuyết phục, làm phân tâm và tác động mạnh mẽ những tư tưởng tiêu cực đến nhiều người, trong đó có cả đảng viên, gây tâm lý hoang mang, dao động, bán tín, bán nghi, thiếu tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng. Kẻ kém hiểu biết, thiếu trách nhiệm chính trị hoặc có những vấn đề bức xúc cá nhân thì mượn cớ, đồng tình, cổ súy cho các luận điệu xuyên tạc đó nhằm mục tiêu bôi nhọ, hạ thấp uy tín của các lãnh tụ, thực chất là hạ thấp vai trò, uy tín của Đảng, tiến tới phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Những âm mưu, hành động này nhằm mục tiêu xóa bỏ vai trò duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội của Đảng, xóa bỏ chế độ chính trị của nước ta hiện nay.

Trước những thông tin xấu độc ấy, việc thông tin đầy đủ, kịp thời những hoạt động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trong đó có việc xử lý kỷ luật đảng viên, nhất là đảng viên là lãnh đạo cao cấp của Đảng vi phạm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kể cả những người xin thôi chức vì những lý do khác nhau là cần thiết, đòi hỏi phân tích khách quan, khoa học, thuyết phục.

Trước hết, về lý luận, quan điểm và nguyên tắc xây dựng Đảng

Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản nhất trong tổ chức và hoạt động của Đảng. Mọi quyết định quan trọng theo thẩm quyền của Đảng đều thuộc về tập thể lãnh đạo, theo đa số trên cơ sở dân chủ, công khai bàn bạc, thảo luận và theo những quy trình nhiều bước, thông qua nhiều cấp, nhiều khâu (đánh giá, quy hoạch, lấy phiếu tín nhiệm…) để lựa chọn cán bộ có phẩm chất, năng lực nổi trội và uy tín. Nguyên tắc tập trung dân chủ không cho phép một người hay một nhóm người nào thao túng, áp đặt, kể cả người đó đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng. 

Các quy định của Đảng nghiêm cấm mọi hành vi mua chuộc hay áp đặt, vận động hay đe dọa, trù dập người có ý kiến khác với tập thể, khác với người đứng đầu. Các bước trong quy trình của công tác cán bộ, đặc biệt là khâu đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử được quy định cụ thể, nhiều bước, nhiều chủ thể đánh giá, góp ý công khai và lấy phiếu tín nhiệm nên khó có thể lợi dụng phe nhóm để “hạ bệ” nhau.

Để trong sạch, vững mạnh, Đảng phải thường xuyên đấu tranh tự phê bình và phê bình. Đây là quy luật tồn tại của mỗi tổ chức làm cho ưu điểm của mỗi tổ chức, mỗi người được phát huy, khuyết điểm được khắc phục, sửa chữa và bớt đi. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Tự phê bình là cá nhân (cơ quan hoặc đoàn thể) thật thà nhận khuyết điểm của mình để sửa chữa, để người khác giúp mình sửa chữa, mà cũng để người khác biết mà tránh những khuyết điểm mình đã phạm. Phê bình là thấy ai (cá nhân, cơ quan, đoàn thể) có khuyết điểm thì thành khẩn nói cho họ biết để họ sửa chữa, để họ tiến bộ”(1).

Trong thực tiễn cách mạng Việt Nam và trải qua 93 năm xây dựng Đảng, tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng, trở thành nguyên tắc hoạt động của Đảng. Đó là sự ngăn chặn từ sớm, từ xa những hành vi thiếu chuẩn mực của cán bộ, đảng viên, là biện pháp quan trọng, thường xuyên để ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Đồng thời, để phát hiện những sai phạm của cán bộ, đảng viên, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng cũng trở thành công cụ hữu hiệu để làm trong sạch Đảng. Đây cũng là quy luật tồn tại của Đảng, vì Đảng như một cơ thể sống, vừa phải thường xuyên kết nạp những người đủ tư cách vào Đảng, tạo sinh lực mới để tiếp nối sự nghiệp cách mạng, vừa phải sàng lọc, loại bỏ những phần tử thoái hóa, biến chất ra khỏi Đảng. Kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trở thành một trong những phương thức lãnh đạo quan trọng không thể thiếu, nhất là trong điều kiện Đảng cầm quyền, hầu hết những vị trí chủ chốt của chính quyền do các đảng viên nắm giữ, dễ có nguy cơ quan liêu, xa dân và tham nhũng, tiêu cực.

Để phòng, chống tham nhũng, thực hiện nghiêm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhất là yêu cầu khắc phục những khuyết điểm nhức nhối, kéo dài trong công tác cán bộ, Đảng đã bổ sung, hoàn thiện và ban hành nhiều văn bản như: Kết luận số 21-KL/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương “về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””; Kết luận số 14-KL/TW ngày 22-9-2021 của Bộ Chính trị “về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung”; Quy định số 205-QĐ/TW ngày 23-9-2019 của Bộ Chính trị “về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền”; Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương “về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”; Quy định số 41-QĐ/TW ngày 3-01-2021 của Bộ Chính trị “về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ”; Quy định số 22-QĐ/TW ngày 28-7-2021 của Ban Chấp hành Trung ương “về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng”; Thông báo kết luận số 20-TB/TW ngày 8-9-2022 của Bộ Chính trị “về chủ trương bố trí công tác đối với cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý sau khi bị kỷ luật”…

Đây là những chủ trương đúng đắn của Đảng. Đại hội XIII của Đảng đã xác định một trong ba giải pháp đột phá về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và là giải pháp đột phá đầu tiên, đó là “Tiếp tục hoàn thiện thể chế về công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, nhất là công tác tổ chức, cán bộ”(2).

Thứ hai, về thực tiễn

Trong suốt quá trình xây dựng và phát triển của Đảng, khó tránh khỏi có một bộ phận đảng viên do thiếu rèn luyện về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, suy thoái, tham nhũng phải xử lý kỷ luật bằng các hình thức khác nhau, trong đó có khai trừ ra khỏi Đảng và xử lý hình sự nếu vi phạm pháp luật của Nhà nước.

Những nhiệm kỳ Đại hội gần đây, nhất là từ Đại hội XII, số đảng viên bị xử lý kỷ luật tăng, kể cả đảng viên giữ cương vị lãnh đạo cao cấp. Hàng loạt cán bộ, không kể đương chức hay đã nghỉ hưu, cấp cao

 Đất nước ta đã trải qua cuộc chiến tranh kéo dài, một bộ phận công chức, viên chức của chính quyền cũ và những người thân thiết, ủng hộ chính quyền cũ đang sinh sống ở nước ngoài vẫn có thái độ mặc cảm, thù địch, do đó cần thời gian, sự kiên trì và nhất quán trong thực thi chính sách đại đoàn kết của Đảng và Nhà nước ta. Bên cạnh đó là những phần tử cơ hội chính trị, có những quan điểm chống phá. Thực tế đó đòi hỏi phải thường xuyên, kịp thời đưa tin chính xác, đầy đủ về đất nước và con người Việt Nam ra thế giới. Mặt khác, phê phán những nhận thức lệch lạc, những thông tin xấu độc nhằm bôi nhọ Việt Nam, vu khống, thổi phồng và suy diễn các khuyết điểm của Đảng, hạ thấp uy tín của lãnh đạo, gây mất đoàn kết nội bộ.

hay thấp, khóa này hay khóa trước, nếu kiểm tra phát hiện sai phạm thì tùy mức độ mà bị xử lý kỷ luật theo các quy định của Đảng và xử lý hình sự theo pháp luật của Nhà nước. 

Với quyết tâm cao, nỗ lực lớn, được đông đảo đảng viên và nhân dân ủng hộ, những năm gần đây, số đảng viên vi phạm được phát hiện nhiều hơn và bị xử lý kỷ luật nghiêm hơn. Trong số đảng viên là cán bộ diện Trung ương quản lý, nhiệm kỳ Đại hội XI xử lý kỷ luật 11 người, đến nhiệm kỳ Đại hội XII là 113 người và từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, hơn 70 cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý đã bị kỷ luật, trong đó, lần đầu tiên, Trung ương khai trừ 03 Ủy viên Trung uơng Đảng đương nhiệm. Điều đó cho thấy quyết tâm phát hiện, xử lý vi phạm, giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng.

Vậy nhưng, các thế lực thù địch lại rêu rao, vu khống là trong Đảng đang “hạ bệ”, “thanh trừng” lẫn nhau, nhất là ở cấp cao. Chúng thêu dệt rằng có hiện tượng “phái này” đang chống “phái kia”, bằng sự “phân tích công phu” với những lời lẽ bịa đặt. 

Trên thực tế, cũng có những điểm mới so với trước đây khi có quy định về từ chức, miễn nhiệm. Một số cán bộ tuy khuyết điểm chưa đến mức phải xử lý kỷ luật nhưng đã xin thôi giữ chức do uy tín giảm sút, để cơ quan, đơn vị, lĩnh vực mà mình phụ trách tham nhũng, tiêu cực, gây thiệt hại lớn cho nhân dân, đất nước, làm cho tình hình xã hội bất ổn. Đây là nét văn hóa mới trong lãnh đạo các cấp - điều mà nhân dân mong đợi cán bộ phải liêm sỉ, giữ gìn nhân cách. 

Lợi dụng thực tế này, các thế lực thù địch rêu rao về cái gọi là “chiến dịch thanh trừng trong Đảng”, sự “trỗi dậy”, “củng cố quyền lực” của phe này hay sự “thất bại”, “hết thời” của phe kia v.v.. Cần nhắc lại rằng, việc quyết định khai trừ khỏi Đảng đối với đảng viên là cán bộ cấp cao là quyết định của Ban Chấp hành Trung ương nên không dễ tồn tại phe phái để “lái” theo ý kiến của “phe nhóm” nếu không bằng những căn cứ chính trị, pháp lý thuyết phục. Điều này cũng được thông tin kịp thời, công khai trong Đảng và toàn xã hội, được đảng viên và nhân dân đồng tình, tin tưởng.

Khi khuyết thiếu một số chức danh lãnh đạo, việc bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử vào chức danh đó là việc hoàn toàn bình thường. Những người được bổ nhiệm, giới thiệu đều là những người có trong quy hoạch, thực hiện theo đúng quy định, quy trình, phát huy trí tuệ tập thể, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, bàn bạc dân chủ, thấu đáo, quyết định tập thể với sự nhất trí cao. Vậy nhưng, các thế lực thù địch vẫn khai thác những thông tin thất thiệt, suy luận, thậm chí bịa đặt hoàn toàn để bôi nhọ, hạ thấp uy tín của lãnh đạo cấp cao, thổi phồng, đánh tráo các khái niệm, kích động nhằm ly tán lòng dân, gây mất đoàn kết trong nội bộ nếu những người tiếp nhận thông tin không vững tâm, không có bản lĩnh và cách nhìn nhận, đánh giá khoa học, khách quan trong mỗi sự kiện. 

Phải thừa nhận trong một số trường hợp, do công tác chuẩn bị nhân sự chưa tốt, cá biệt còn để những người “lọt” qua các vòng quy hoạch hay luân chuyển được đề bạt, giới thiệu ứng cử chức vụ cao hơn rồi sau đó mới kiểm tra, phát hiện ra những khuyết điểm. Điều đó đã được kiểm điểm, rút kinh nghiệm, thậm chí xử lý kỷ luật cán bộ tham mưu, tổ chức đảng có chức năng, nhiệm vụ trong từng khâu của công tác cán bộ. Cán bộ được đề bạt khi không đủ điều kiện cũng đã bị xử lý kỷ luật ngay cả khi đang giữ chức vụ mới, cao hơn. Điều đó thể hiện tinh thần “không có ngoại lệ”, không có “hạ cánh an toàn”, không thể nói vu vơ như luận điệu của những kẻ có tư tưởng sai trái, thù địch về việc “thanh trừng lẫn nhau” trong Đảng.

Thứ ba, nhận định về thời gian tới và các giải pháp cần quan tâm

Đất nước ta đã trải qua cuộc chiến tranh kéo dài, một bộ phận công chức, viên chức của chính quyền cũ và những người thân thiết, ủng hộ chính quyền cũ đang sinh sống ở nước ngoài vẫn có thái độ mặc cảm, thù địch, do đó cần thời gian, sự kiên trì và nhất quán trong thực thi chính sách đại đoàn kết của Đảng và Nhà nước ta. Bên cạnh đó là những phần tử cơ hội chính trị, có những quan điểm chống phá. Thực tế đó đòi hỏi phải thường xuyên, kịp thời đưa tin chính xác, đầy đủ về đất nước và con người Việt Nam ra thế giới. Mặt khác, phê phán những nhận thức lệch lạc, những thông tin xấu độc nhằm bôi nhọ Việt Nam, vu khống, thổi phồng và suy diễn các khuyết điểm của Đảng, hạ thấp uy tín của lãnh đạo, gây mất đoàn kết nội bộ.

Khi phương tiện thông tin ngày càng hiện đại, phát triển với tốc độ nhanh, đa dạng, nhiều chiều thì đồng thời xuất hiện những vấn đề mới có tính hai mặt. Mặt tích cực là người dân tiếp cận nhanh chóng, thuận lợi với thông tin, tri thức, được tạo điều kiện để nâng cao hiểu biết, có thêm kiến thức để phát triển kinh tế - xã hội… Mặt khác là sự xuất hiện của nhiều thông tin xấu độc, ảnh hưởng đến nhận thức và hành động tiêu cực của một bộ phận nhân dân. Điều đó đòi hỏi sự kiểm soát hiệu lực, hiệu quả của các cơ quan quản lý nhà nước. Tuy nhiên, những kiểm soát từ các cơ quan nhà nước thường diễn ra trong điều kiện rất khó khăn, phức tạp và thường bị chậm trễ. 

Vậy nên, việc tự ý thức của mỗi người dân về tính chính xác, chân thực của thông tin, khả năng phân biệt, sự cảnh giác, đấu tranh với mặt trái của những thông tin xấu độc để đề phòng, miễn dịch với nó là cần thiết, quan trọng và cấp bách. Mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương, tổ chức, từng gia đình cũng như mỗi cá nhân phải đề cao cảnh giác trong tiếp nhận thông tin. Vì thế, việc giáo dục nâng cao nhận thức cho nhân dân của các cấp, các ngành, nhà trường và mỗi gia đình có tác động mạnh mẽ, thường xuyên và có hiệu quả cao trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Đất nước ngày càng phát triển, giao lưu, hợp tác quốc tế ngày càng được tăng cường trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, ngoại giao… Xây dựng hệ thống chính trị đòi hỏi nâng cao trình độ của nhân dân, cán bộ, mà trước hết là những người làm việc trong môi trường quốc tế. Vì vậy, một mặt phải hoàn thiện hệ thống pháp luật, thực hiện đúng pháp luật, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, mặt khác phải tăng cường giáo dục đạo đức, truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Cùng với đó là những đòi hỏi đối với các cơ quan hành pháp phải có đủ năng lực để nhanh chóng phát hiện, bóc gỡ thông tin xấu độc trên mạng, xử lý nghiêm minh bằng pháp luật đối với những kẻ vi phạm pháp luật trong việc thông tin không chính xác, không khách quan, gây hại đến an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội.

Cũng phải thẳng thắn nhìn nhận rằng, trong quá trình xây dựng Đảng và lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, một số tổ chức đảng và đảng viên vi phạm nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng ở các mức độ khác nhau; một số cấp ủy, tổ chức đảng thực hiện không đúng các nguyên tắc của Đảng: lợi dụng nguyên tắc tập trung dân chủ; trù dập những người trái ý kiến với mình; lợi dụng quyết định tập thể, coi đó là bình phong để che đậy các hành vi tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm. Vẫn còn tình trạng “đoàn kết xuôi chiều”, “mũ ni che tai”, nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ trích, phê phán người khác với động cơ cá nhân không trong sáng. Đây là những cái cớ để các thế lực thù địch thổi phồng, bóp méo, suy diễn sự kiện theo chiều hướng tiêu cực.

Vì thế, trong công tác xây dựng nội bộ đảng trong sạch, vững mạnh, cần thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng. Đây là cơ sở, là điều kiện để bảo đảm đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Mỗi cấp ủy, tổ chức đảng phải thống nhất về nhận thức và thực hiện đúng các nguyên tắc của Đảng thì sẽ bảo đảm, tạo nên sức mạnh của mỗi người và tổ chức. 

Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, bàn bạc thảo luận dân chủ, tôn trọng các ý kiến khác nhau, nhất là ý kiến khác với ý kiến của mình. Khi tập thể đã quyết định thì phải thực hiện nghiêm túc, nếu cần có thể bảo lưu ý kiến và được cấp trên sớm xem xét, trả lời. Thực hiện tự phê bình và phê bình chân thành, đúng đắn, vì sự tiến bộ của mỗi người, của tổ chức. 

Thực hiện nguyên tắc đoàn kết thống nhất, Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật là những tiền đề, điều kiện tiên quyết nhất để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, không thế lực thù địch nào có thể xuyên tạc, vu khống, gây chia rẽ được nội bộ Đảng. Bởi vậy, cần sớm khắc phục tình trạng vi phạm nguyên tắc của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhất là cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu cấp ủy khi không được phê bình, góp ý kịp thời do những yếu kém trong thực hiện các nguyên tắc nêu trên.

Cảnh giác cao độ, nhất là trong những dịp chuẩn bị Đại hội Đảng. Đây là khoảng thời gian mà các thế lực thù địch thường tập trung chống phá quyết liệt, khoét sâu vào vấn đề nội bộ của Đảng. Công tác nhân sự cần được chuẩn bị kỹ lưỡng, lắng nghe ý kiến của nhân dân về uy tín của người lãnh đạo, thực sự dựa vào dân để xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ; kiểm tra, xác minh tài sản, thu nhập một cách thực chất; giải quyết triệt để đơn thư tố cáo, kể cả giấu tên nhưng có căn cứ xác đáng trước khi bầu cử, ứng cử, khắc phục căn bản tình trạng phải xử lý kỷ luật sau khi đã được bầu vào chức vụ cao hơn.

Lịch sử cách mạng chứng minh rằng, trong nội bộ Đảng đoàn kết, nhất trí, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được thực hiện thường xuyên, có hiệu quả, đội ngũ đảng viên và nhân dân ghi nhận, phấn khởi thực hiện đường lối của Đảng, đời sống mọi mặt của nhân dân được nâng cao thì sẽ triệt tiêu tận gốc những ảnh hưởng tiêu cực từ các thế lực thù địch. Đồng thời chứng minh những luận điệu xuyên tạc như chống tham nhũng ở Việt Nam chỉ là “chiêu bài để triệt hạ lẫn nhau”,“sự thanh trừng nội bộ”, “tranh giành chức quyền” giữa các phe nhóm chính trị… chỉ là những lời trống rỗng, lạc lõng trước những đổi thay mạnh mẽ của đất nước.

_________________

Ngày nhận bài: 22-3-2023; Ngày bình duyệt: 26-3-2023; Ngày duyệt đăng: 14-4-2023

 

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.10, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.386.

(2) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.257.

Phát huy sức mạnh báo chí bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 

LTS: Lần thứ hai tổ chức cuộc thi về đề tài chính luận bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, Báo Quân đội nhân dân (QĐND) nhận được nhiều ý kiến nhận định khách quan, đánh giá công tâm, góp ý tâm huyết của các chuyên gia, nhà khoa học, nhà báo để tiếp tục nâng cao chất lượng, uy tín của cuộc thi này.

Nhận diện và đấu tranh phản bác luận điệu xuyên tạc tự do tôn giáo ở Việt Nam.

 Hiện nay, các thế lực thù địch đưa ra nhiều ý kiến mang tính phiến diện, cực đoan, thể hiện cái nhìn thiếu khách quan, thậm chí luận điệu xuyên tạc về tình hình tôn giáo và chính sách tôn giáo của Việt Nam được diễn giải theo mưu đồ chính trị nhằm phủ nhận sự đổi mới chính sách về tôn giáo để chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam. Bài viết góp phần nhận diện những luận điệu xuyên tạc về tự do tôn giáo ở Việt Nam và luận cứ bác bỏ những luận điệu này.

Nhận diện và đấu tranh phản bác luận điệu xuyên tạc tự do tôn giáo ở Việt Nam

Lễ hội chùa Thầy năm 2023 - Ảnh: hanoimoi.com

1. Nhận diện những luận điệu sai sự thật về tự do tôn giáo ở Việt Nam

Với cái nhìn thiếu thiện chí, một số quốc gia phương Tây vu cáo Việt Nam đàn áp, kiểm soát, giới hạn tự do tôn giáo thông qua các điều khoản luật “mơ hồ”.

Trong các báo cáo thường niên của Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ và Báo cáo tự do tôn giáo quốc tế của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, từ góc nhìn thiên lệch và thiếu khách quan, thường đưa ra nhiều nhận định chủ quan rằng “chủ nghĩa vô thần chống tôn giáo”, quyền tự do tôn giáo bị vi phạm nghiêm trọng. Trong Báo cáo thường niên mới nhất của Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế vẫn cho rằng tình trạng vi phạm tự do đức tin và thực hành tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam chưa được cải thiện, rằng việc thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo là trái với các tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế và vi phạm có hệ thống tự do tôn giáo(1).

Trên cơ sở Báo cáo thường niên của Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế năm 2021, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ trong Báo cáo tự do tôn giáo quốc tế năm 2021 nhận định, luật pháp Việt Nam quy định sự kiểm soát đáng kể của Chính phủ đối với các hoạt động tôn giáo, trong đó bao gồm nhiều điều khoản “mơ hồ” để hạn chế quyền tự do tôn giáo vì lợi ích của an ninh quốc gia và đoàn kết xã hội(2). Nhiều tổ chức ở Hoa Kỳ liên tục chỉ trích Việt Nam trong vấn đề pháp nhân tôn giáo. Họ cho rằng, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo duy trì một quy trình đăng ký và công nhận với nhiều giai đoạn áp dụng cho các nhóm tôn giáo(3), đặc biệt là với các nhóm tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa, vùng các dân tộc thiểu số và nhóm tôn giáo mới.

Mặc dù Báo cáo Tự do tôn giáo quốc tế năm 2021 cũng ghi nhận một số cải thiện về tự do tôn giáo ở Việt Nam, song nhìn chung, vẫn cáo buộc Việt Nam hạn chế quyền tự do tôn giáo, cho rằng chính quyền đóng cửa khu vực màu xám (tức các nhóm tôn giáo chưa đăng ký hoạt động) và cáo buộc Việt Nam hình sự hóa hoạt động tôn giáo.

Như vậy, trong cách nhìn nhận của các tổ chức này, việc Chính phủ Việt Nam ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo thực chất là nhằm “quản chế” và “trừng phạt” các hoạt động tôn giáo, khiến cho các hoạt động tôn giáo trở nên khó khăn hơn. Họ lập luận rằng, Việt Nam chưa thực sự xem tổ chức tôn giáo như một nguồn lực xã hội mà vẫn xem đây là một thực thể chính trị, điều này dẫn tới việc cản trở đức tin và thực hiện đức tin tôn giáo vẫn tiếp diễn.

Mỹ cũng thường xuyên phối hợp với các nước trong Liên minh châu Âu (EU) gây sức ép với Việt Nam trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền và tôn giáo. Điển hình nhất là Nghị quyết về tình hình nhân quyền và tự do tôn giáo tại Việt Nam do Nghị viện châu Âu thông qua ngày 26-11-2009. Sau khi Nghị quyết ra đời, Ủy ban và Hội đồng châu Âu đã tạo sức ép đối với Việt Nam về các vấn đề liên quan đến tôn giáo, nhân quyền trong các tiêu chuẩn để thương lượng về hiệp định thương mại tự do FTA.

Tổ chức theo dõi nhân quyền (Human Rights Watch - HRW) có trụ sở tại New York, Hoa Kỳ trong các tờ trình gửi tới EU thường xuyên bày tỏ mong muốn EU gây sức ép để Việt Nam ngừng can thiệp vào các công việc tôn giáo và có các biện pháp cụ thể để ngăn chặn “nạn công an bạo hành”. Gần đây, trong Báo cáo thế giới năm 2021, tổ chức này đã xếp Việt Nam vào nhóm các nước vi phạm nhân quyền, vi phạm quyền tự do tôn giáo. Báo cáo này cáo buộc Việt Nam “sách nhiễu và dùng vũ lực đàn áp các nhóm tôn giáo” hoạt động bên ngoài các định chế tôn giáo chính thức do Nhà nước kiểm soát(4).

Bên cạnh đó, các nước như Anh, Ôxtrâylia, Đức cũng thường xuyên đưa ra các Báo cáo nhân quyền liên quan đến Việt Nam, yêu cầu Việt Nam sửa đổi Hiến pháp và các quy định của pháp luật mà theo họ là không tương thích với luật pháp quốc tế. Họ lớn tiếng kêu gọi thả các “tù nhân lương tâm”, “tù nhân tôn giáo” mà thực chất là những đối tượng mượn danh tôn giáo vi phạm pháp luật Việt Nam.

Một số cá nhân, tổ chức cực đoan ở nước ngoài có tư tưởng thù địch với chế độ có quan điểm lệch lạc cho rằng, Việt Nam có “hai chính sách tôn giáo”: chính sách bảo đảm trên hình thức và “chính sách” không bảo vệ, thông qua “cơ chế xin - cho” và tạo lập các “tôn giáo quốc doanh”.

Một số nhóm người Việt sống lưu vong ở nước ngoài có tư tưởng thù địch, chống đối chế độ liên kết trực tiếp hoặc gián tiếp với các tổ chức phản động quốc tế để lên án tất cả các vấn đề của Việt Nam, trong đó có vấn đề tôn giáo. Họ thông qua nhiều hình thức như tổ chức các cuộc hội luận, họp báo, phát tán tài liệu, đăng đàn nhiều quan điểm trên không gian mạng... để tuyên truyền xuyên tạc Đảng và Nhà nước Việt Nam “kiểm soát tôn giáo”, khiến cho các tôn giáo ở Việt Nam bị buộc phải im tiếng hay biến thành công cụ của Nhà nước. Mục đích của những luận điệu này là tập trung gây chia rẽ, khoét sâu mâu thuẫn giữa tôn giáo với chính quyền.

Quan điểm sai trái của một số cá nhân, tổ chức bất mãn trong nước, Việt Nam thực hiện chính sách “độc tài cai trị”, “đàn áp tôn giáo”, khống chế không gian phát triển của tôn giáo.

Một số tổ chức, cá nhân trong nước tận dụng những kẽ hở của luật pháp và những bất cập, sơ hở trong quản lý, tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo để gây bất ổn về an ninh trật tự tại địa phương. Chúng triệt để lợi dụng các vụ tranh chấp, khiếu kiện liên quan đến đất đai, cơ sở thờ tự của tôn giáo nhằm chính trị hóa sự việc, kích động hoạt động chống đối, gây tâm lý bức xúc, nghi ngờ trong xã hội.

Một số tu sĩ, chức sắc có mưu đồ xấu và nhận thức lệch lạc nêu vấn đề, muốn có tự do tôn giáo phải thành lập khu tôn giáo tự trị hòng gây chia rẽ đoàn kết tôn giáo.

Một bộ phận tu sĩ, chức sắc tôn giáo nhận được sự hậu thuẫn từ các tổ chức cực đoan trong và ngoài nước cố tình xuyên tạc vấn đề dân tộc, tôn giáo ở Việt Nam, kích động tín đồ đòi “tự do tôn giáo” và “quyền tự trị dân tộc”. Tại Tây Bắc và Tây Nghệ An, họ lập đạo Vàng Chứ để thành lập “Vương quốc Mông tự trị”. Tại Tây Nguyên, họ yêu sách với chính quyền đòi thành lập “Nhà nước Đề Ga độc lập” với quốc giáo là Tin lành Đề Ga. Tại Tây Nam Bộ, họ đòi thành lập “Nhà nước Khơ me Crôm” với “Phật giáo riêng của người Khơ me”. Đây thực chất là mưu đồ “tôn giáo hóa vùng dân tộc thiểu số”, kích động lòng thù hận dân tộc, làm xuất hiện chủ nghĩa dân tộc cực đoan, gây nguy hại đến an ninh quốc gia.

2. Luận cứ bác bỏ những luận điệu sai lệch về tự do tôn giáo ở Việt Nam

Về căn cứ pháp lý

Tôn trọng quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng là chính sách nhất quán, thể hiện xuyên suốt từ cương lĩnh chính trị đến nghị quyết, văn kiện, báo cáo chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam và thể hiện rất rõ trong Hiến pháp.

Ngay sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bản Hiến pháp đầu tiên - Hiến pháp năm 1946 đã quy định quyền tự do tín ngưỡng là một quyền hiến định của nhân dân. Quyền tự do tín ngưỡng của công dân tiếp tục được mở rộng nội hàm trong các Hiến pháp năm 1959 và năm 1980. Đặc biệt, Hiến pháp năm 1992 nhấn mạnh quyền bình đẳng trước pháp luật của các tôn giáo, Nhà nước phải có nghĩa vụ bảo hộ cho các cơ sở thờ tự của các tổ chức tôn giáo. Điều 24 Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”(5).

Cụ thể hóa Hiến pháp, quyền tự do tôn giáo còn được bảo đảm xuyên suốt trong các luật cơ bản. Luật Hình sự, Luật Tố tụng hình sự, Luật Giáo dục, Luật Tổ chức Chính phủ đều có điều khoản quy định về bảo vệ quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng.

Trong suốt hơn 35 năm đổi mới đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nỗ lực bảo đảm quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của nhân dân. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH của Đảng khẳng định: “Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng”(6). Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội VII, Đảng ta khẳng định: “Đảng và Nhà nước ta tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân, thực hiện bình đẳng, đoàn kết lương giáo và giữa các tôn giáo”(7). Nghị quyết số 25-NQ/TW và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) làm sâu sắc thêm những nguyên tắc của Đảng về vấn đề tự do tôn giáo, tín ngưỡng.

Đặc biệt, văn kiện của các kỳ đại hội Đảng đều nhất quán quan điểm tôn trọng quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng. Trong đó, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã nhìn nhận tổ chức tôn giáo như một nguồn lực xã hội và chủ trương: “Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước”(8).

Nhằm cụ thể hóa các quan điểm của Đảng và thể chế hóa Hiến pháp năm 2013, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đã được Quốc hội thông qua ngày 18-11-2016, đã tạo hành lang pháp lý quan trọng để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của tín đồ, chức sắc, các tổ chức tôn giáo và người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam.

Có thể thấy, quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam đã được hiến định và thể chế hóa bằng pháp luật, thể hiện nhất quán hòng chỉ đạo công tác lập pháp tôn giáo.

Từ lý thuyết đến thực tiễn sinh động

Bức tranh khởi sắc về đời sống tôn giáo ở Việt Nam là minh chứng sống động nhất cho quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng. Với chính sách tôn giáo ngày càng cởi mở, đến nay, Nhà nước đã công nhận 41 tổ chức thuộc 16 tôn giáo với khoảng hơn 26 triệu tín đồ, chiếm khoảng 27% dân số cả nước(9). Năm 1990, Nhà nước chỉ công nhận 6 tôn giáo thì đến nay số tôn giáo được thừa nhận đã tăng 2,5 lần và con số này sẽ còn tiếp tục tăng.

Cùng với đó là sự gia tăng đáng kể số lượng tín đồ, chức sắc, chức việc, cơ sở thờ tự, cơ sở đào tạo tôn giáo và kinh sách xuất bản hằng năm(10). Điều này cho thấy sự quan tâm và quyết tâm cao của Đảng và Nhà nước ta trong việc hiện thực hóa chính sách tự do tôn giáo, tín ngưỡng vào thực tiễn đời sống.

Trên thực tế, xuất phát từ quan điểm đổi mới, tôn giáo ở Việt Nam được nhìn nhận là “một bộ phận của khối đại đoàn kết dân tộc”, được tạo điều kiện để thực sự trở thành nguồn lực xã hội quan trọng, đóng góp không chỉ trên phương diện văn hóa, đạo đức mà còn trên các phương diện kinh tế, chính trị, an sinh xã hội, giáo dục, y tế, từ thiện nhân đạo.

Việt Nam đã tích cực đăng cai tổ chức nhiều diễn đàn, hội nghị tôn giáo quốc tế và khu vực, tham gia ký kết nhiều điều ước quốc tế về tôn giáo, thực hiện các cuộc đàm phán ngoại giao với các tổ chức quốc tế về tình hình tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam.

Trong bối cảnh mở cửa, hội nhập quốc tế, chính sách tôn giáo của Việt Nam ngày càng thông thoáng theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tôn giáo trong nước có mối quan hệ giao lưu, hợp tác với các tổ chức tôn giáo quốc tế(11). Nhiều hoạt động nghi lễ tôn giáo mang tầm khu vực và quốc tế được Nhà nước tạo điều kiện tổ chức như Đại lễ Phật đản Vesak của Phật giáo năm 2008, 2014 và 2019; Lễ Năm thánh 2010 và Hội nghị Liên Hội đồng Giám mục Á châu năm 2012 của Công giáo; Lễ kỷ niệm 500 năm Tin lành cải chính năm 2017 của Tin lành... cho thấy không gian phát triển ngày càng rộng mở của các tôn giáo ở Việt Nam. 

Sự thật không thể phủ nhận

Cùng với quá trình đổi mới chính sách tôn giáo, thành tựu của việc tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam là hết sức rõ ràng. Dù có vu cáo, áp đặt đến đâu thì sự thật mà cộng đồng quốc tế không thể phủ nhận đó là - Việt Nam là nhà nước pháp quyền XHCN về tôn giáo với những đặc điểm của nhà nước thế tục, được xây dựng dựa trên hai chân đế là tự do tôn giáo và chính giáo phân ly. Do đó, luận điệu vu cáo Việt Nam đàn áp, kiểm soát, giới hạn tự do tôn giáo thông qua các điều khoản luật “mơ hồ” là vô căn cứ và thiếu tính khách quan. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo gồm 09 chương, 68 điều, trong đó đưa ra những quy định cụ thể về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Dựa trên cơ sở pháp lý đó, trong thực tiễn, tín đồ các tôn giáo đều được bảo đảm quyền sinh hoạt tôn giáo theo nghi lễ truyền thống; người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tôn giáo; tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận được đối xử bình đẳng trước pháp luật; chức sắc tôn giáo được tự do truyền đạo và được phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm theo quy định của pháp luật.

Về vấn đề đăng ký và công nhận tổ chức tôn giáo, đây là mô hình mà một số nước trên thế giới lựa chọn và áp dụng, quy định cụ thể trong luật pháp của từng nước chứ không chỉ riêng Việt Nam. Thí dụ, Luật Pháp nhân tôn giáo của Nhật Bản, Luật Tự do lương tâm và các hiệp hội tôn giáo của Liên bang Nga... Việc các nước phương Tây lớn tiếng chỉ trích Việt Nam gây khó khăn cho các nhóm tôn giáo với quy trình nhiều bước, nhất là các nhóm tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa, vùng các dân tộc thiểu số và nhóm tôn giáo mới hoàn toàn là cách nhìn thiên lệch, thiếu thiện chí.

Quy trình và thủ tục để được công nhận tổ chức tôn giáo ở Việt Nam từ Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 đến Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã có nhiều bước tiến đáng kể theo hướng giảm bớt thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các tổ chức tôn giáo khi có nhu cầu đăng ký. Điển hình là việc giảm bớt thời lượng từ 23 năm xuống còn tối thiểu là 5 năm để tổ chức tôn giáo được công nhận trước pháp luật.

Đối với các nhóm tôn giáo vùng dân tộc thiểu số, Nhà nước Việt Nam đã cấp đăng ký hoạt động và công nhận cho 311 chi hội, 1.742 điểm nhóm của đạo Tin lành ở Tây Nguyên, 14 chi hội và 797 điểm nhóm Tin lành ở khu vực miền núi phía Bắc. Chính trong Báo cáo thường niên năm 2020 của Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ đã ghi nhận điều này như một nỗ lực tích cực của Việt Nam(12). Đối với các nhóm phái của Phật giáo, Công giáo, Hồi giáo, Bà la môn... hoạt động tại các vùng dân tộc thiểu số cũng được Nhà nước Việt Nam thừa nhận và cho phép tự do hoạt động. Một số nhóm tôn giáo phát triển trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và nhóm tôn giáo mới chưa được thừa nhận mà một số luận điệu đánh giá là “bị chính quyền Việt Nam sách nhiễu” thực chất là các hoạt động lợi dụng tôn giáo để chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam. Chẳng hạn, tại Tây Nguyên, các nhóm “Hà Mòn”, “Giáo hội Tin lành Đấng Christ Việt Nam”, “Cây Thập giá Chúa Jêsu Krits” đều muốn tạo lập tôn giáo mới của dân tộc thiểu số với tên gọi “Tin lành Đề ga” hay “Công giáo Đề ga”, tiến tới phát triển thành quốc giáo của “Nhà nước Đề ga tự trị” nhằm thực hiện ý đồ kích động đòi ly khai dân tộc.

Đối với các cá nhân được nhắc tên trong Báo cáo tự do tôn giáo quốc tế của Hoa Kỳ mà được cho là “tù nhân lương tâm”, “tù nhân tôn giáo” nêu trong các bản báo cáo nhân quyền của một số nước phương Tây và trên một số diễn đàn xã hội thực chất là những công dân Việt Nam nhân danh tôn giáo để có các hoạt động vi phạm pháp luật, chống đối Nhà nước, làm tổn hại đến an ninh quốc gia.

Việc Nhà nước Việt Nam truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các cá nhân đó theo quy định của pháp luật là hết sức bình thường bởi quyền lợi luôn đi liền với trách nhiệm, nghĩa vụ. Quyền lực tư pháp không can dự vào khía cạnh tinh thần, nhưng sẽ có những can thiệp cần thiết đối với hành vi lợi dụng giá trị tinh thần để kích động cộng đồng. Do đó, bảo vệ quyền tự do tôn giáo đồng thời phải có sự giới hạn cần thiết đối với quyền tự do tôn giáo nếu quyền này xâm phạm quyền tự do của người khác hoặc gây tổn hại đến phúc lợi công cộng. Điều này là hoàn toàn tương thích với quy định trong khoản 3 điều 18 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị: “Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi sự giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác”(13).

Về luận điệu cho rằng, các tôn giáo ở Việt Nam bị nhìn nhận dưới lăng kính chính trị cũng là hoàn toàn sai lầm, không có cơ sở hiện thực. Các tôn giáo ở Việt Nam tham gia tích cực vào các hoạt động hướng đích xã hội với tư cách là thực thể xã hội, là nguồn lực xã hội. Tôn giáo tham gia phát triển kinh tế thông qua tổ chức sản xuất nông nghiệp, làm đồ thủ công mỹ nghệ, kinh doanh văn hóa phẩm, đồ dùng việc đạo; cung ứng các dịch vụ tâm linh, hướng dẫn tín đồ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, áp dụng thành tựu khoa học - công nghệ vào sản xuất; phát triển du lịch tâm linh... Nhiều chức sắc, tín đồ tôn giáo tham gia vào các tổ chức chính trị - xã hội và các cơ quan dân cử (Quốc hội, Hội đồng Nhân dân các cấp). Các tôn giáo tích cực tham gia ký kết chương trình hành động nhằm bảo vệ môi trường, nhiều mô hình điểm được triển khai hiệu quả. Trên lĩnh vực giáo dục, các tôn giáo đóng góp chủ yếu vào hệ thống giáo dục mầm non và dạy nghề. Về y tế, từ thiện nhân đạo, các tôn giáo đóng góp sôi nổi và đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận(14).

Theo đó, các luận điệu cho rằng, Việt Nam thực hiện hai chính sách, Việt Nam thực hiện “độc tài cai trị”, “đàn áp tôn giáo” hay “tự do tôn giáo chỉ có được khi thành lập khu tự trị tôn giáo” cũng là sự bịa đặt, vu khống, phải kiên quyết bác bỏ. Đó là những mưu đồ xấu nhằm kích động tư tưởng cực đoan, những nhận thức sai lầm, lệch lạc trong bộ phận người dân có nhận thức mơ hồ về quan điểm tôn giáo, dân tộc và thiếu kiên định lập trường tư tưởng.

Như vậy, tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng cho mọi người dân là chính sách nhất quán, luôn được Đảng và Nhà nước Việt Nam nỗ lực thực hiện trong thực tiễn bằng ý chí và quyết tâm cao. Các luận điệu cố tình xuyên tạc, bóp méo sự thật về tự do tôn giáo ở Việt Nam là cái cớ để các lực lượng cực đoan can thiệp vào nội bộ chính sách của Việt Nam, tạo sức ép cho Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế nhằm “cải cách” Việt Nam theo hướng tự do, dân chủ phương Tây, từ đó chuyển hóa chế độ chính trị của Việt Nam. Tuy nhiên, với những thành quả đã đạt được từ lý luận cho đến thực tiễn trong suốt quá trình đổi mới, sự thật về quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam là không thể phủ nhận. Chúng ta sẵn sàng nhận diện và đấu tranh không khoan nhượng với mọi mưu đồ lợi dụng tôn giáo để chia rẽ, phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc, quyết tâm phấn đấu thực hiện thắng lợi mục tiêu, lý tưởng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã lựa chọn là “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” ở Việt Nam.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 540 (tháng 02-2023)

Ngày nhận: 05-8-2022; Ngày bình duyệt: 15-02-2023; Ngày duyệt đăng: 21-02-2023.

 

(1) Xem United States Commission on International Religious freedom: 2021 annual report, https://www.uscirf.gov.

(2), (3) United States Department of State: 2021 Report on International Religious Freedom, https://www.state.gov.

(4) Xem: Human Rights Watch: World Report 2021, https://www.hrw.org.

(5) Hiến pháp năm 2013, https://thuvienphapluat.vn.

(6) ĐCSVN: Văn kiện Đảng toàn tập, t.51, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tr.146.

(7) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991, tr 78.

(8) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2021, tr.171.

(9) Bộ Nội vụ: Danh mục các tổ chức tôn giáo được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo tính đến tháng 12-2020; Ban Tôn giáo Chính phủ, Báo cáo tổng kết tình hình công tác tôn giáo năm 2019 và phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2020 (tháng 01-2020).

(10) Năm 1990, nước ta chỉ có khoảng 38.000 chức sắc, nhà tu hành, đến nay tăng lên 61.200 chức sắc, 147.000 chức việc, trong đó tăng nhiều nhất là chức sắc của Phật giáo và của đạo Tin lành. Tín đồ gia tăng khắp nơi trong cả nước. Cơ sở thờ tự của tôn giáo được xây dựng ngày càng nhiều về số lượng và mở rộng về quy mô. Tổng số cơ sở thờ tự trong cả nước là 29.854 cơ sở. Cơ sở đào tạo của tôn giáo so với năm 1990 đã tăng gấp 3 lần, lên đến hơn 60 cơ sở với 17 trường đào tạo trình độ đại học. Hằng năm, hàng trăm ấn phẩm tôn giáo được xuất bản với hàng triệu bản in trên các ngôn ngữ khác nhau như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng dân tộc thiểu số.

(11) Xem Nguyễn Thị Bạch Tuyết: Quan hệ quốc tế của các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam, Hội thảo quốc tế Tôn giáo và pháp quyền ở Đông Nam Á, Hà Nội, tháng 9-2006.

(12) Xem: United States Department of State: 2020 Report on International Religious Freedom, https://www.state.gov.

(13) International Covenant on Civil and Political Rights, https://www.ohchr.org.

(14) Xem: Viện Tôn giáo và tín ngưỡng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Nguồn lực tôn giáo: Kinh nghiệm trên thế giới và ở Việt Nam, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2020, tr 370-379.

Hội tụ những tấm lòng sắt son với Đảng

 

Tối 26-4, tại Nhà hát Lớn Hà Nội, Báo Quân đội nhân dân (QĐND) phối hợp với Hội Nhà báo Việt Nam, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội (MB) tổ chức Lễ tổng kết và trao giải Cuộc thi viết “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới” lần thứ hai (2022-2023).

Lời Bác dạy: Ngày 30/4

 

"Lời Bác Hồ dạy ngày này năm xưa: Đồng bào, cán bộ và quân đội ta quyết không được vì thắng lợi mà chủ quan khinh địch. Cần phải luôn nâng cao tinh thần cảnh giác và chí khí chiến đấu"

“Đồng bào, cán bộ và quân đội ta quyết không được vì thắng lợi mà chủ quan khinh địch. Cần phải luôn nâng cao tinh thần cảnh giác và chí khí chiến đấu”, đó là lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thư khen quân và dân miền Bắc bắn rơi 1.000 máy bay Mỹ được Bác viết ngày 30 tháng 4 năm 1966 và đăng trên Báo Nhân dân số 4408, ngày 1 tháng 5 năm 1966.

Đầu năm 1965, chiến lược “Chiến tranh Đặc biệt” của đế quốc Mỹ đã bị quân và dân ta đánh bại. Song, đế quốc Mỹ vẫn chưa chịu từ bỏ cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Chúng chuyển sang thực hiện chiến lược “Chiến tranh Cục bộ”, tăng cường quân Mỹ vào miền Nam và tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng sức mạnh không quân và hải quân, hòng buộc phía Việt Nam phải ngồi vào đàm phán theo các điều kiện ép buộc do Mỹ soạn thảo. Trước tình hình đó, Đảng, Nhà nước ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định chuyển toàn bộ hoạt động của miền Bắc từ thời bình sang thời chiến, tiếp tục sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện có chiến tranh, quyết tâm đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc, phát huy vai trò hậu phương lớn với tiền tuyến lớn miền Nam, đánh bại chiến lược “Chiến tranh Cục bộ” và làm tròn nghĩa vụ quốc tế với cách mạng hai nước Lào và Campuchia. Với chiến công bắn hạ 1.000 máy bay Mỹ đã làm thất bại quyết tâm chiến lược của đế quốc Mỹ, không ngừng củng cố, tăng cường sức mạnh của quân và dân miền Bắc, cùng với quân và dân miền Nam quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, thống nhất nước nhà.

Lời Bác căn dặn được quân và dân miền Bắc khắc ghi và thực hiện nghiêm, trở thành sức mạnh để tiếp tục đánh bại chiến dịch đánh phá bằng không quân của đế quốc Mỹ lần thứ 2, làm nên chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” tháng 12 năm 1972 - đòn đánh quyết định cuối cùng, buộc chính phủ Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri, rút hết quân viễn chinh và quân đồng minh của Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam, mở ra thời cơ chiến lược lớn để quân và dân ta tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thu non sông đất nước về một mối.

Học tập và làm theo lời Bác dạy, cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân luôn tuyệt đối tin tưởng vào đường lối, chủ trương của Đảng, chấp hành nghiêm chính sách, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật Quân đội. Không ngừng nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, thành thục kỹ, chiến thuật tác chiến, làm chủ các loại vũ khí, trang bị. Nâng cao cảnh giác cánh mạng, tích cực đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ của các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam để bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy, quyết không để bị động, bất ngờ. Kiên quyết đấu tranh với các luận điệu chống phá, xuyên tạc chức năng, nhiệm vụ của Quân đội trong thời bình và những nhận thức giản đơn, coi nhẹ nhiệm vụ xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng - an ninh, nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu của các lực lượng vũ tranh nhân dân.

 

Lời Bác dạy: Ngày 29/4


"Lời Bác Hồ dạy ngày này năm xưa: Nội bộ phải đoàn kết chặt chẽ, làm mọi việc phải đi sâu, đi sát, phải tránh chủ quan"

Nội bộ phải đoàn kết chặt chẽ. Làm mọi việc phải đi sâu, đi sát, phải tránh chủ quan, phải có kế hoạch chu đáo, phải có quyết tâm bền bỉ”. Trích trong bài nói chuyện của Bác tại Hội nghị cán bộ ngành Công an năm 1963. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề giáo dục, rèn luyện Công an nhân dân thành một lực lượng trưởng thành, lớn mạnh về mọi mặt. Người luôn nhắc nhở rằng, người chiến sĩ công an sinh ra từ nhân dân, vì nhân dân chiến đấu là người lính có lý tưởng cao cả, kiên quyết hăng hái làm tròn nhiệm vụ. Thực tế lịch sử đã chứng minh, dưới sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, mang trong mình bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc, lực lượng công an luôn dũng cảm trong chiến đấu, giữ vững bản chất cách mạng, ý chí chiến đấu, gắn bó mật thiết với nhân dân, thực hiện tốt vai trò nòng cốt trong cuộc chiến giữ gìn an ninh nội bộ và xây dựng thế trận an ninh nhân dân.

Nội dung, ý nghĩa trong lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ dành riêng cho lực lượng công an, mà còn dành cho các cấp, các ngành, các lực lượng; trong đó có Quân đội nhân dân. Sức mạnh chiến đấu của Quân đội phải được bắt đầu từ sức mạnh đoàn kết nội bộ. Nội bộ thống nhất, chặt chẽ mới có thể đưa mọi việc được triển khai đồng bộ; phải nghiên cứu kỹ mọi việc, lập kế hoạch sâu sát, tỉ mỉ trước khi thi hành để đảm bảo chắc chắn thành công. Nghiên cứu công việc kỹ lưỡng chưa đủ, khi thực thi còn phải thận trọng và không được chủ quan mới có thể đi đến đích thắng lợi. Suy rộng ra, đoàn kết nội bộ ở đây cũng có nghĩa là đoàn kết nội bộ Đảng, đoàn kết dân tộc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Muốn làm được điều đó mỗi tổ chức, mỗi cá nhân, mà trước tiên là cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì, chủ chốt các cấp phải tiền phong gương mẫu chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, giữ gìn đoàn kết nội bộ tốt, có tác phong lãnh đạo dân chủ, quần chúng, sâu sát, cụ thể, tới nơi, tới chốn và thực hành nêu gương trước cấp dưới và quần chúng. Kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện cục bộ, bè phái, lợi ích nhóm, chủ nghĩa kinh nghiệm, độc đoán, gia trưởng, xa rời, lãnh cảm với cấp dưới và quần chúng…

Lời Bác dạy: Ngày 28/4

 

“Trước hết, quân đội nhất định phải có anh hùng. Lúc kháng chiến có anh hùng, sao nay lại không có anh hùng? Khi kháng chiến anh hùng cách khác… Có phải không có chiến tranh thì quân đội không có anh hùng?”.

Đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người dự cuộc họp của Bộ Chính trị bàn về chuẩn bị Đại hội Liên hoan anh hùng, chiến sĩ thi đua năm 1962. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra một số thiếu sót trong việc phong danh hiệu Anh hùng, Chiến sĩ thi đua. Người khẳng định, một yêu cầu tất yếu là trong quân đội phải có anh hùng, anh hùng không chỉ trong thời chiến, mà trong thời bình cũng phải có, đó có thể là những người tham gia xây dựng quân đội vững mạnh, là những chiến sĩ không ngừng học tập, huấn luyện, sản xuất... Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, không chỉ có lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với nhân dân, mà dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội ta còn làm tròn chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân sản xuất.

Học tập và làm theo lời Bác dạy, phát huy truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, mỗi cán bộ, chiến sĩ cần tiếp tục rèn luyện, phấn đấu, xây dựng quân đội vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, kỷ luật, kỷ cương; tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, Tổ quốc và nhân dân; nâng cao trình độ khoa học - công nghệ, làm chủ các loại vũ khí, khí tài hiện đại, trình độ chỉ huy, tác chiến, nghệ thuật quân sự, đáp ứng yêu cầu chiến đấu và chiến thắng trong điều kiện tác chiến địch có sử dụng vũ khí công nghệ cao, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Toàn quân tiếp tục đẩy mạnh Phong trào Thi đua Quyết thắng, xây dựng và nhân rộng điển hình tiên tiến, phấn đấu học tập, rèn luyện, công tác, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, giành thành tích cao nhất để ngày càng có nhiều gương anh hùng, điển hình tiên tiến trên mọi lĩnh vực công tác, xứng đáng với tình cảm và mong muốn của Bác đối với cán bộ, chiến sĩ toàn quân.

Lời Bác dạy: Ngày 27/4


“...Mỗi chiến sĩ, từ trên đến dưới, các cấp bậc đều phải nghiên cứu, học tập, luôn luôn cầu tiến bộ”

“Muốn trở nên người quân nhân mới, xứng đáng với cái vinh hạnh đứng trong quân đội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, thì mỗi chiến sĩ, từ trên đến dưới, các cấp bậc đều phải nghiên cứu, học tập, luôn luôn cầu tiến bộ”. Lời dạy trên được Bác viết trong Thư gửi Quân sự Tập san, năm 1948.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc rằng, người chiến sĩ chính là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Người chiến sĩ quân đội mới phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, tri thức về quân sự, trình độ văn hóa và sức khỏe dồi dào, là những con người dám “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Việc học, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh phải quán triệt quan điểm Người viết trong thư gửi Quân sự Tập san (Tạp chí Quốc phòng toàn dân hiện nay): “Nghiên cứu mà không thực hành là nghiên cứu suông. Thực hành mà không nghiên cứu thì thường hay bị mù quáng. Vậy cần phải nghiên cứu kinh nghiệm cũ để giúp cho thực hành mới, lại đem thực hành mới để phát triển kinh nghiệm cũ, làm cho nó đầy đủ, dồi dào thêm”. Bác cũng nhấn mạnh về mục đích của học tập: “Học để tiến bộ mãi, càng tiến bộ càng thấy cần phải học”. Người cũng chỉ ra phương pháp học tập: “Học ở nhà trường, học ở thầy, học ở bạn, học trong sách vở và học nhân dân”. Quá trình lao động, làm việc là quá trình tự học tập, tích lũy, bổ sung kinh nghiệm và đúc kết kiến thức từ thực tiễn.

Học tập và làm theo lời Bác dạy, công tác huấn luyện trong quân đội được đổi mới theo phương châm “cơ bản, thiết thực, vững chắc”, coi trọng huấn luyện đồng bộ và chuyên sâu, sát thực tế chiến đấu, nhiệm vụ, địa bàn hoạt động, cũng như yêu cầu tác chiến, trong điều kiện sử dụng vũ khí công nghệ cao; chú trọng diễn tập hiệp đồng quân binh chủng, diễn tập cơ động và diễn tập khu vực phòng thủ, đáp ứng yêu cầu tác chiến mới. Xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đòi hỏi phải đồng bộ cả con người và vũ khí, trang bị. Trước hết phải nâng cao chất lượng tuyển quân và chất lượng giáo dục, đào tạo, huấn luyện, để mỗi quân nhân, nhất là đội ngũ sĩ quan có bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng, phẩm chất đạo đức và trình độ kỹ, chiến thuật tốt, có tư duy đổi mới, nhạy bén, sáng tạo; trình độ chuyên môn nghiệp vụ, khoa học-công nghệ, ngoại ngữ, tin học đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ; có ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm, làm chủ vũ khí, trang bị, phương tiện kỹ thuật hiện đại, chịu đựng gian khổ, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Mỗi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội phải ra sức học tập chính trị, quân sự, văn hóa, khoa học kỹ thuật, vững về bản lĩnh, giỏi về chuyên môn, phải thường xuyên học tập, học suốt đời, kiên quyết đấu tranh với bệnh tự mãn, lười học tập, rèn luyện.

Lời Bác dạy: Ngày 26/4

 


"Bộ đội chưa ăn cơm, cán bộ không được kêu mình đói"

QĐND - Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị kiểm thảo Chiến dịch Đường số 18, năm 1951: “Từ tiểu đội trưởng trở lên, từ Tổng tư lệnh trở xuống, phải săn sóc đời sống vật chất và tinh thần của đội viên, phải xem đội viên ăn uống như thế nào, phải hiểu nguyện vọng và thắc mắc của đội viên. Bộ đội chưa ăn cơm, cán bộ không được kêu mình đói. Bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Bộ đội chưa đủ chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt. Thế mới dân chủ, mới đoàn kết, mới tất thắng”.

Mối quan hệ giữa cán bộ với chiến sĩ được hình thành, phát triển trong quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, chiến thắng của Quân đội ta; là "sợi chỉ đỏ" xuyên suốt, vừa là thuộc tính bản chất của một quân đội cách mạng, vừa là một trong những cơ sở tạo nên sức mạnh, vượt qua mọi khó khăn thử thách, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ cho đội ngũ cán bộ quân đội yêu cầu phải luôn chăm lo đến đơn vị, đồng cam cộng khổ với bộ đội thì bộ đội nhất định tin và nghe theo: “Đối với binh sĩ, thì lời ăn tiếng nói, niềm vui, nỗi buồn, quần áo, nhất nhất phải biết rõ và hết sức chăm nom. Có đồng cam cộng khổ với binh sĩ thì khi dẫn họ đi đâu, dù nguy hiểm mấy họ cũng vui lòng đi, khi bảo họ đánh, họ sẽ hăng hái đánh”. Và Người khẳng định: “Cán bộ có coi đội viên như chân tay, đội viên mới coi cán bộ như đầu như óc”.

Trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội ta, mối quan hệ cán-binh được xây dựng trên cơ sở tình thương yêu đồng chí, đồng đội, được tôi luyện, thiết lập vững chắc qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, trở thành bản chất, truyền thống tốt đẹp Bộ đội Cụ Hồ. Trên thực tế, đội ngũ cán bộ các cấp trong quân đội luôn quan tâm, chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội, gương mẫu để bộ đội học tập, noi theo; xây dựng tinh thần tự giác trong bộ đội, trở thành lời thề danh dự của người quân nhân cách mạng: “Tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh cấp trên; khi nhận bất cứ nhiệm vụ gì đều tận tâm, tận lực thi hành nhanh chóng và chính xác”.

Trong giai đoạn hiện nay, quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội hằng ngày một cách chu đáo, không chỉ là trách nhiệm mà còn là tình cảm, sự nêu gương của cán bộ đối với bộ đội. Đòi hỏi người cán bộ lãnh đạo, chỉ huy phải hết lòng chăm lo xây dựng đơn vị, tôn trọng và thương yêu cấp dưới như “chân với tay” thì cấp dưới sẽ kính trọng, coi lãnh đạo, chỉ huy của mình “như đầu, như óc”, như người thân trong gia đình; từ đó, bộ đội sẽ mang hết khả năng để thực hiện chỉ thị, mệnh lệnh một cách tự giác và có hiệu quả cao nhất. Lãnh đạo, chỉ huy các cấp phải luôn là hạt nhân đoàn kết; kiên quyết chống biểu hiện xa rời cấp dưới, quan liêu, hách dịch, vô cảm…; phải thật sự làm cho cấp dưới kính trọng, tin tưởng, học tập và noi theo, góp phần giữ gìn và phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong điều kiện mới.

Lời Bác dạy: Ngày 25/4

 


“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công

Đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài nói chuyện tại Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ II, năm 1961. Người gửi đến quốc dân đồng bào thông điệp về sức mạnh của tinh thần đoàn kết, đoàn kết rộng rãi, đoàn kết chặt chẽ, đoàn kết thực sự.

Theo Bác, để giải phóng một dân tộc cũng như để xây dựng một chế độ mới thì phải huy động sức mạnh toàn dân mới thắng lợi, hoàn thành được. Đoàn kết toàn dân vì độc lập dân tộc, dân chủ, hòa bình và tiến bộ xã hội là kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng và là mục tiêu đấu tranh trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người.

Việt Nam là quốc gia có 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc mang bản sắc riêng nhưng đều nằm trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. Vì vậy Người kêu gọi đồng bào các dân tộc không phân biệt Kinh hay Thổ, Mường hay Mán,… phải thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, phải đoàn kết chặt chẽ như anh em một nhà để cùng xây dựng Tổ quốc chung, xây dựng xã hội XHCN, làm cho tất cả các dân tộc được hạnh phúc. Với các tôn giáo, Người nhắc nhở phải luôn gắn liền lợi ích tôn giáo với lợi ích chung của dân tộc. Phải đoàn kết giữa đời và đạo, giữa yêu nước và phụng đạo. Dù là lương hay giáo, đồng bào cũng phải yêu thương đùm bọc nhau, cùng nhau xây dựng đời sống hòa thuận, ấm no, xây dựng Tổ quốc. Người nhắn nhủ: Đoàn kết thì thành công và đại đoàn kết thì sẽ đại thành công.

Thực hiện lời Bác dạy về sức mạnh của tinh thần đại đoàn kết, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam luôn đề cao thực hành và giữ gìn sự đoàn kết, gắn bó và đã trở thành lời thề danh dự của quân nhân. Tinh thần đoàn kết trong quân đội, nhất là đoàn kết trong cấp ủy, tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ chủ trì ngày càng vững chắc; cán bộ, chiến sĩ thương yêu giúp đỡ nhau như anh em một nhà. Toàn quân đoàn kết, thống nhất một lòng trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân, phấn đấu thực hiện mục tiêu lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Thực hiện chức năng đội quân công tác và tiếp tục phát huy tốt mối quan hệ đoàn kết quân dân, thực hiện quân với dân một ý chí, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân luôn sát cánh cùng nhân dân, kính trọng dân, giúp đỡ dân và bảo vệ dân. Cán bộ, chiến sĩ quân đội luôn xung kích đi đầu trong giúp dân phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, chung sức xây dựng nông thôn mới… góp phần quan trọng vào việc xây dựng thế trận lòng dân ngày càng vững chắc, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước, nhân dân và danh hiệu cao quý Bộ đội Cụ Hồ.

Lời Bác dạy: Ngày 24/4

 


“Đối với những người viết báo chúng ta, cái bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng”

Đây là lời dạy được trích trong Điện của Chủ tịch Hồ Chí Minh chúc mừng Hội Nhà báo Á-Phi, năm 1965. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, người làm báo, trước hết là chiến sĩ cách mạng-người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng văn hóa, phải đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác quan trọng mà Đảng, Nhà nước giao cho. Hơn nữa, người làm báo còn nắm trong tay công cụ, phương tiện thông tin đại chúng cực kỳ quan trọng đối với đời sống xã hội.

Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tự trau dồi đạo đức, phong cách của người chiến sĩ trên mặt trận báo chí và chính Người đã đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển của báo chí cách mạng nước ta. Người căn dặn những người làm báo Việt Nam “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang viết là vũ khí sắc bén của họ. Để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình, cán bộ báo chí cần phải tu dưỡng đạo đức cách mạng”.

Là một bộ phận của báo chí cách mạng Việt Nam, là thành tố quan trọng trong hoạt động CTĐ, CTCT, báo chí quân đội có vai trò quan trọng đối với việc giữ vững phương hướng chính trị của Đảng, bảo đảm cho đường lối quân sự của Đảng được quán triệt sâu sắc, được tuyên truyền sâu rộng và thực hiện sáng tạo, hiệu quả. Báo chí quân đội còn có vai trò quan trọng cung cấp thông tin định hướng dư luận, tuyên truyền giáo dục nhằm không ngừng nâng cao giác ngộ chính trị, củng cố niềm tin, tăng cường sự nhất trí về chính trị tư tưởng, bồi dưỡng cán bộ, chiến sĩ thành người quân nhân cách mạng, góp phần xây dựng LLVT nhân dân vững mạnh về chính trị, xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

Hiện nay, đội ngũ phóng viên báo chí quân đội đã có chuyển biến trên nhiều mặt, được đào tạo cơ bản với hơn 85% trình độ đại học và trên đại học, được rèn luyện trưởng thành trong thực tế, đại bộ phận báo chí trong quân đội đều khẳng định được vị trí và phát huy tốt vai trò của mình, uy tín tốt, thực sự là diễn đàn tin cậy của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. Cùng với đội ngũ phóng viên chuyên nghiệp, lực lượng cộng tác viên cũng có vai trò rất quan trọng trong công tác thông tin tuyên truyền để kịp thời phản ánh tình hình của các cơ quan, đơn vị; đưa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch… của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đến với bộ đội.

Trước yêu cầu, nhiệm vụ mới, mỗi phóng viên, mỗi cộng tác viên của các cơ quan báo chí quân đội phải luôn trau dồi bản lĩnh chính trị vững vàng, có chuyên môn cao và đạo đức nghề nghiệp trong sáng; tăng cường kỷ luật, kỷ cương; phải luôn coi mình là một chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng văn hóa, lực lượng nòng cốt trong công tác đấu tranh chống lại các thế lực phản động, thù địch, bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc; chủ động thông tin bác bỏ những nội dung bôi nhọ, bịa đặt, vu khống, gây chia rẽ nội bộ, định hướng dư luận xã hội, hướng quân và dân vào những giá trị chân, thiện, mỹ, tạo sự đồng thuận trong xã hội.

Lời Bác dạy: Ngày 23/4

 


“Chính sách của chúng ta vốn là chính sách thực hiện hòa bình và ủng hộ hòa bình..."

Chính sách của chúng ta vốn là chính sách thực hiện hòa bình và ủng hộ hòa bình. Song hòa bình ắt phải ra sức tranh lấy, phải dùng lực lượng tranh lấy, phải do kháng chiến thắng lợi mà tranh lấy. Quyết không nên ảo tưởng không ngồi chờ nó đến.” Đây là lời trích trong Báo cáo tình hình và nhiệm vụ tại Hội nghị lần thứ III của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II tháng 4 năm 1952 do Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày.

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình và luôn tôn trọng mối quan hệ với các dân tộc anh em, mà Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đại diện tiêu biểu cho lẽ sống đó. Khát vọng hòa bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện qua mong muốn giải quyết xung đột giữa các dân tộc bằng con đường đàm phán hòa bình, việc tiến hành chiến tranh chỉ là giải pháp bắt buộc cuối cùng khi hoàn toàn không còn khả năng đàm phán. Không chỉ vậy, ngay cả khi chiến tranh đã bùng nổ, Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục kiếm tìm giải pháp thương lượng hòa bình với điều kiện tiên quyết là kẻ thù phải thực sự tôn trọng nền độc lập của Việt Nam. Tư tưởng hòa hiếu, khát vọng hòa bình của Hồ Chí Minh còn thể hiện ở chỗ khi kẻ thù sa lầy và muốn xuống thang chiến tranh thì sẵn sàng đàm phán để kẻ thù rút lui. Hồ Chí Minh cho rằng, đánh giặc không phải là tiêu diệt hết lực lượng của đội quân xâm lược, mà chủ yếu là đánh bại ý chí xâm lược của chúng. Thiết tha yêu chuộng hòa bình, cố gắng giải quyết mọi xung đột bằng con đường đàm phán hòa bình, kể cả phải chấp nhận một sự nhân nhượng có nguyên tắc, nhưng cũng kiên quyết chống lại các cuộc chiến tranh xâm lược với ý chí và quyết tâm dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập; chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ  để bảo vệ hòa bình một cách thực sự.

Học tập và làm theo lời Bác dạy, Đảng, Nhà nước tiếp tục kiên trì thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, chủ động hội nhập quốc tế với phương châm “Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển". Song, chúng ta cũng luôn nêu cao cảnh giác, không ngừng xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Muốn vậy, phải phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của cả nước. Đó là sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân, của thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc phát triển ở trình độ cao; khi đất nước xảy ra chiến tranh thì “cả nước một lòng, toàn dân đánh giặc”, thực hiện chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện; trong đó quân đội luôn là lực lượng nòng cốt.

Cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân luôn gương mẫu đi đầu trong học tập và làm theo lời Bác dạy, được thể hiện sâu đậm ở bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân; luôn nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng, huấn luyện giỏi, sẵn sàng chiến đấu cao, sớm phát hiện, ngăn chặn, vô hiệu hóa mọi âm mưu, hoạt động chống phá chế độ chính trị, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia, giữ vững hòa bình, ổn định, không để bị động, bất ngờ, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống.