Thứ Tư, 26 tháng 4, 2023

Giá trị bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân.

 Trên cơ sở vận dụng và phát triển học thuyết Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã đề ra và hiện thực hóa tư tưởng về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân với những luận điểm độc đáo, sáng tạo, đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Bài viết khái quát những giá trị bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và những giá trị về lý luận và thực tiễn cho sự nghiệp xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân hiện nay.

Giá trị bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân

Bác Hồ đến thăm các chiến sĩ của lực lượng phòng không bảo vệ Hà Nội năm 1966 - Ảnh tư liệu TTXVN

Tư tưởng về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân (LLVTND) là một trong những nội dung đặc sắc trong di sản quân sự của Hồ Chí Minh, có vai trò đặc biệt quan trọng, là cơ sở nền tảng chỉ đạo xuyên suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của LLVTND Việt Nam. Tư tưởng đặc sắc đó của Người đã được thực tiễn cách mạng Việt Nam khẳng định và đến nay vẫn còn nguyên giá trị, tiếp tục soi sáng sự nghiệp xây dựng LLVTND và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

1. Tính tất yếu xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân

Từ thực tiễn hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh đã sớm nhận rõ bản chất hiếu chiến, tàn bạo của kẻ thù xâm lược. Chúng dùng sức mạnh kinh tế, quân sự để áp đảo, xâm lược các nước. Không dừng lại ở đó, chúng còn dùng các công cụ bạo lực vô cùng tàn ác như nhà tù, máy chém, lưỡi lê, đại bác, v.v.. để đàn áp rất dã man sự phản kháng của nhân dân các nước thuộc địa. 

Hiểu rõ tâm địa của thực dân, Người cho rằng, độc lập tự do không thể cầu xin mà có, phải trực tiếp đấu tranh để giành lấy. Trong cuộc đấu tranh ấy, sử dụng bạo lực cách mạng là điều tất yếu. Người chỉ rõ: “Chế độ thực dân, tự bản thân nó, đã là một hành động bạo lực của kẻ mạnh đối với kẻ yếu rồi”(1). Do đó, Người khẳng định: “Trong cuộc đấu tranh gian khổ chống kẻ thù của giai cấp và của dân tộc, cần dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền(2). Người nhấn mạnh một chân lý đơn giản và thiết thực để đưa cách mạng Việt Nam đến thành công là: “Dân tộc Việt Nam nhất định phải được giải phóng. Muốn giải phóng thì phải đánh phát xít Nhật và Pháp. Muốn đánh chúng thì phải có lực lượng quân sự”(3). Điều này cũng được các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ: “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nào nó biết tự bảo vệ”(4), bởi lẽ “Không cầm vũ khí bảo vệ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa, thì chúng ta không thể tồn tại”(5). Do đó, để đấu tranh giành và giữ chính quyền, để bảo vệ thành quả của cách mạng thì tất yếu phải xây dựng LLVTND.

Ngay từ khi đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm thấy con đường cứu nước là cách mạng vô sản, dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng, Hồ Chí Minh đã chú ý đến vấn đề khởi nghĩa vũ trang và xây dựng LLVTND.

Năm 1924, khi đến triển lãm Nghệ thuật quần chúng của Đức được tổ chức ở Mátxcơva, Nguyễn Ái Quốc đã được Erich Johanson (Họa sĩ người Thụy Điển) hỏi về việc giải phóng Việt Nam như thế nào? Người đã trả lời: “Bằng cách tổ chức khởi nghĩa vũ trang trong cả nước”. Đồng thời, Người nhấn mạnh: “việc tổ chức càng nhiều càng tốt những nhóm vũ trang của những nông dân và công nhân tại Việt Nam. Đó là những “tế bào” có thể hợp thành hạt nhân của cuộc khởi nghĩa”(6). Sau này, trong Chánh cương vắn tắt của Đảng do Người trực tiếp soạn thảo và được thông qua tại Hội nghị Thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 2-1930), cũng xác định rõ: “Tổ chức ra quân đội công nông”(7).

Năm 1941, khi trở về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng, Người đã chỉ đạo xây dựng điểm Đội du kích Pác Bó (tháng 11-1941) làm cơ sở để xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang nhân dân sau này. Tháng 12-1944, Người ra Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân (tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay). Bản Chỉ thị nêu rõ: “sẽ chọn lọc trong hàng ngũ những du kích Cao - Bắc - Lạng số cán bộ và đội viên kiên quyết, hăng hái nhất và sẽ tập trung một phần lớn vũ khí để lập ra đội chủ lực”(8)

Từ Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, LLVTND Việt Nam phát triển ngày càng mạnh mẽ và rộng khắp, góp phần to lớn vào thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giải phóng dân tộc và đánh thắng các kẻ thù xâm lược, kể cả những thực dân và đế quốc giàu có, hùng mạnh như thực dân Pháp (1946-1954) và đế quốc Mỹ (1954-1975), đưa sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước đến thắng lợi hoàn toàn.

Với tầm nhìn chiến lược của một vị lãnh tụ thiên tài, Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy vai trò đặc biệt quan trọng của LLVTND trong cách mạng giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Không chỉ khẳng định tính tất yếu mà Người còn quyết tâm xây dựng LLVTND làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc. 

2. Lực lượng vũ trang nhân dân do Đảng tổ chức, lãnh đạo và giáo dục

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, quyền lãnh đạo của Đảng đối với LLVTND là tuyệt đối và không chia sẻ cho bất cứ giai cấp nào khác. Đó là sự quán triệt chính trị, tư tưởng và tổ chức của Đảng vào LLVTND mà nòng cốt là Quân đội nhân dân. Đây là nguyên tắc bất di bất dịch, nhằm bảo đảm cho LLVTND có đầy đủ bản chất giai cấp công nhân của Đảng, có con đường chính trị đúng và luôn đứng vững trên lập trường, quan điểm của giai cấp công nhân, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó. 

Theo Người, đây cũng là đặc trưng cơ bản nhất của quân đội nhân dân. Quân đội chấp hành nghiêm chỉnh sự lãnh đạo của Đảng là nguyên tắc cao nhất, là nhân tố quyết định sự trưởng thành và sức mạnh chiến đấu của quân đội. Người khẳng định: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”(9). Trước đó, trong Báo cáo tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 4 khóa II, Người nêu rõ: “Phải tăng cường công tác chính trị, luôn luôn nâng cao trình độ chính trị và giác ngộ giai cấp của bộ đội ta... Vì vậy, cần phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong quân đội(10). Hay tại Hội nghị cao cấp toàn quân, Người căn dặn: “Phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong quân đội… Phải biến quyết tâm của Đảng và chính phủ thành quyết tâm của toàn quân ta”(11).

Như vậy, theo Hồ Chí Minh, Đảng tổ chức, lãnh đạo và giáo dục LLVTND là nguyên tắc chủ yếu, không chỉ là nhân tố quyết định sự ra đời, trưởng thành, chiến thắng của quân đội, mà còn bảo đảm cho quân đội luôn luôn là lực lượng chính trị tin cậy, trung thành, công cụ bạo lực sắc bén để bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân. Qua thực tiễn xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội luôn khẳng định sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng là nhân tố quyết định sự trưởng thành và thắng lợi của quân đội ta. Điều đó chính là minh chứng sinh động cho giá trị bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh về sự tổ chức, lãnh đạo, giáo dục của Đảng đối với lực lượng vũ trang nói chung và quân đội nói riêng.  Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, quyền lãnh đạo của Đảng đối với LLVTND là tuyệt đối và không chia sẻ cho bất cứ giai cấp nào khác. Đó là sự quán triệt chính trị, tư tưởng và tổ chức của Đảng vào LLVTND mà nòng cốt là Quân đội nhân dân. Đây là nguyên tắc bất di bất dịch, nhằm bảo đảm cho LLVTND có đầy đủ bản chất giai cấp công nhân của Đảng, có con đường chính trị đúng và luôn đứng vững trên lập trường, quan điểm của giai cấp công nhân, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó. 

3. Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân theo quan điểm “Người trước, súng sau”

Hồ Chí Minh cho rằng, sức mạnh chiến đấu của LLVTND là sức mạnh tổng hợp của nhiều yếu tố, trong đó con người và vũ khí là hai yêu tố cơ bản, có ý nghĩa quyết định. Đặc biệt, đối với cách mạng Việt Nam, cuộc cách mạng chính nghĩa của nhân dân chống lại sự xâm lược của thực dân, đế quốc với sức mạnh vượt trội cả về kinh tế và quân sự, nhất là vũ khí trang bị kỹ thuật hiện đại thì việc khơi dậy và phát huy sức mạnh nhân tố con người, chính trị - tinh thần làm cơ sở cho việc phát huy sức mạnh của các yếu tố khác, tạo ra sức mạnh tổng hợp cho cách mạng càng trở nên quan trọng và cần thiết. Do đó, Hồ Chí Minh đề ra chủ trương “Người trước, súng sau”(12). Một luận điểm tuy ngắn gọn nhưng chứa đựng vấn đề lý luận và thực tiễn rộng lớn, có ý nghĩa chiến lược lâu dài, không chỉ giải quyết thấu đáo mối quan hệ giữa con người và vũ khí trong hoạt động quân sự, mà còn là quan điểm chỉ đạo chiến lược, có giá trị bền vững, định hướng cho việc xây dựng LLVTND.

Là một nhà chiến lược quân sự thiên tài, Hồ Chí Minh sớm nhận thấy những khả năng to lớn và vai trò quyết định của con người trong hoạt động quân sự. Con người là chủ thể sáng tạo và trực tiếp sử dụng, phát huy tính năng, hiệu quả của vũ khí. Người chỉ rõ: “Vũ khí là quan trọng, nhưng con người mới quyết định”(13) và “Không thể cậy vũ khí mà có thể quyết định được thắng lợi. Phải xem những người cầm vũ khí có phải là những chiến sĩ hăng hái đánh trận không”(14). Người cũng chỉ rõ: “Dù có bao nhiêu khí giới tinh xảo mà con người không có lập trường vững, quan điểm đúng, thiếu tinh thần trong sạch, một lòng một dạ phục vụ nhân dân thì súng đó cũng bỏ đi”(15).

Với mục đích tiêu diệt sinh lực, phá hủy phương tiện chiến tranh, cơ sở vật chất - kinh tế của đối phương để giành thắng lợi trong chiến tranh nên con người đã phát minh và chế tạo ra vũ khí làm công cụ nâng cao sức mạnh chiến đấu của mình. Do đó, nếu không có con người sử dụng thì vũ khí dù có hiện đại đến đâu cũng không phát huy được tác dụng trong chiến đấu. Vì thế, việc xây dựng LLVTNDcần bắt đầu từ việc xây dựng con người, phát huy vai trò, sức mạnh, nhất là nhân tố chính trị - tinh thần của con người, của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân.

Trong khi quy tụ vai trò quyết định trong hoạt động quân sự thuộc về con người với đầy đủ bản lĩnh, ý chí, tinh thần, quyết tâm, niềm tin, trí tuệ và kỹ năng, Hồ Chí Minh cũng đồng thời nhấn mạnh tới vai trò to lớn và sự cần thiết của vũ khí trong xây dựng LLVTND. Người chỉ rõ: “Khởi nghĩa thì phải có vũ khí. Đó là một trong những vấn đề rất quan trọng của cách mạng”(16). Vũ khí là công cụ cơ bản, chủ yếu để biến sức mạnh tinh thần của con người thành sức mạnh vật chất. Với việc được trang bị, sử dụng vũ khí làm cho sức mạnh của con người được nhân lên và sức mạnh chiến đấu của LLVTND cũng được tăng cường.

Với chủ trương “Người trước, súng sau”, Hồ Chí Minh không chỉ vạch ra phương hướng chỉ đạo chiến lược, khoa học, đúng đắn và phù hợp với tình hình thực tế đất nước, mà còn xây dựng được LLVTND lớn, mạnh trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn thiếu thốn, để đưa cách mạng Việt Nam đến những thắng lợi. Ngày nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật quân sự, hàng loạt vũ khí mới, hiện đại và thông minh ra đời, làm cho hoạt động quân sự có nhiều thay đổi nhưng vai trò quyết định của con người trong LLVTND không thay đổi. Vì thế, luận điểm “Người trước, súng sau” của Hồ Chí Minh vẫn mang tính thời sự và còn nguyên giá trị. 

4. Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân ba thứ quân

Theo Hồ Chí Minh, để hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó, LLVTND phải được tổ chức chặt chẽ, có kết cấu hợp lý, kỷ luật nghiêm minh. Theo Người, muốn tiến lên đấu tranh vũ trang, lật đổ ách áp bức của thực dân Pháp và phát xít Nhật để giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân thì cách mạng nhất định phải tổ chức LLVTND, lực lượng đó “phải có tổ chức vững chắc và nghiêm mật(17). Điều này đã được Hồ Chí Minh đề cập ngay từ Hội nghị Trung ương 8 (năm 1941) khi khẳng định, đội quân cách mạng trực tiếp chiến đấu với quân thù là đội du kích chính thức, dưới nó là tiểu tổ du kích cứu quốc và tự vệ cứu quốc. 

Theo tinh thần đó, trong Chỉ thị sửa soạn khởi nghĩa của Tổng bộ Việt Minh (tháng 5-1941) nêu rõ cách thức tổ chức và cơ cấu LLVTND bao gồm: Bộ đội du kích, Tiểu tổ du kích và Tự vệ cứu quốc. Năm 1944, trong Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, Người cũng chỉ rõ: “trong khi tập trung lực lượng để lập một đội quân đầu tiên, cần phải duy trì lực lượng vũ trang trong các địa phương cùng phối hợp hành động và giúp đỡ về mọi phương diện”(18)

Sau này, trong bài Nói chuyện tại Hội nghị cán bộ các lực lượng vũ trang nhân dân (năm 1967), Người tiếp tục nhấn mạnh: “Phải xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân hùng mạnh bao gồm bộ đội chủ lực mạnh, bộ đội địa phương mạnh, dân quân du kích vững mạnh và rộng khắp. Phải nâng cao hơn nữa chất lượng của cả ba thứ quân”(19). Như vậy, trong tổ chức xây dựng lực lượng, Hồ Chí Minhyêu cầu phải xây dựng LLVTND ba thứ quân vững mạnh.

Về mối quan hệ giữa ba thứ quân, Hồ Chí Minh chỉ rõ, ba lực lượng này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, cùng hợp đồng tác chiến, cùng giúp đỡ nhau để trưởng thành lớn mạnh và chiến thắng kẻ thù. Người nhấn mạnh, trong tác chiến thì “Bộ đội chủ lực đánh. Bộ đội địa phương, dân quân du kích cũng đánh. Các lực lượng phải phối hợp nhau chặt chẽ để tiêu diệt sinh lực của địch”(20). Tuy nhiên, mỗi lực lượng lại có những vị trí, vai trò và nguyên tắc xây dựng riêng. Bộ đội chủ lực là đội quân chính quy tập trung, được huấn luyện kỹ lưỡng và được trang bị vũ khí mạnh nhất để đánh những trận đánh lớn, tiêu diệt quân chủ lực của địch. Ngoài ra, còn có trách nhiệm: “dìu dắt cán bộ vũ trang của các địa phương, giúp đỡ huấn luyện, giúp đỡ vũ khí nếu có thể được, làm cho các đội này trưởng thành mãi lên”(21).

Bộ đội địa phương là lực lượng vũ trang được tổ chức ở các địa phương, có nhiệm vụ giúp đỡ, phối hợp với dân quân du kích đánh những trận vừa và nhỏ trong phạm vi địa phương mình và vùng lân cận. Đây là lực lượng chuẩn bị chiến trường, sẵn sàng phối hợp với quân chủ lực đánh những trận lớn ở địa phương mình và là lực lượng quan trọng để bổ sung cho bộ đội chủ lực. 

Dân quân du kích là lực lượng đông đảo nhất, vì đó là lực lượng vũ trang quần chúng ở khắp mọi nơi. Đây là lực lượng không thoát ly sản xuất, khi cần thiết mới tập hợp thành tổ chức chiến đấu. Khi xong trận, lại trở về cuộc sống sản xuất thường nhật. Với những loại vũ khí đa dạng, sẵn có, cùng cách đánh du kích nhanh gọn, bất ngờ; với mạng lưới có sẵn trên khắp cả nước, lực lượng này tạo thành “tấm lưới sắt” để bao vây quân thù. Đồng thời, đây cũng là lực lượng quan trọng để bổ sung cho bộ đội địa phương và bộ đội chủ lực.

Thực tế, trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã xây dựng được LLVTND ba thứ quân mạnh mẽ và rộng khắp; đã phối hợp, hiệp đồng tác chiến một cách chặt chẽ và hiệu quả. Sang thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Người cùng Đảng ta tiếp tục đề ra đường lối lãnh đạo và chỉ đạo sát sao xây dựng, phát triển LLVTND ba thứ quân, từng bước hoàn chỉnh cơ cấu tổ chức với quy mô, số lượng thích hợp, phát huy đầy đủ vị trí, vai trò của từng thứ quân, góp phần to lớn và quan trọng vào thắng lợi chung của cách mạng Việt Nam. 

Sự phát triển của LLVTND ba thứ quân, trong đó bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương hợp thành quân đội nhân dân, còn dân quân du kích và tự vệ là lực lượng vũ trang quần chúng đã phản ánh và chứng minh giá trị lý luận và thực tiễn to lớn của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh và vai trò to lớn của Người đối với sự ra đời, trưởng thành của LLVTND Việt Nam.

Tư tưởng xây dựng LLVTND là một trong những tư tưởng khoa học, sáng tạo và độc đáo của Hồ Chí Minh đã được kiểm nghiệm trong thực tiễn cách mạng Việt Nam. Sự trưởng thành lớn mạnh của LLVTND Việt Nam, cùng với những thắng lợi vang dội trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc là minh chứng rõ nét và thuyết phục cho những giá trị bền vững của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh.

Tiếp nối những giá trị bền vững đó, Đại hội XIII của Đảng đã xác định: “Xây dựng quân đội nhân dân, công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững vàng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”(22). Vì thế, cần tiếp tục nghiên cứu, vận dụng và phát triển một cách sáng tạo những giá trị bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng LLVTND ngày càng vững mạnh, có sức chiến đấu cao, sẵn sàng chiến đấu và chiến thắng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong mọi tình huống.

_________________

Ngày nhận bài: 7-2-2023; Ngày bình duyệt: 13-2-2023; Ngày duyệt đăng: 6-4-2023.

 

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.1, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.114.

(2), (19) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.15, Sđd, tr.391, 314.

(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, Sđd, tr.370.

(4) V.I.Lênin: Toàn tập, t.37, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.145.

(5) V.I.Lênin: Toàn tập, t38, Sđd, tr.165.

(6) Bộ Quốc Phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hồ Chí Minh nhà chiến lược quân sự thiên tài, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2013, tr. 616.

(7), (8), (17), (18), (21) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.3, Sđd, tr.1, 539, 500, 539, 539.

(9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.14, Sđd, tr.435.

(10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.8, Sđd, tr.29.

(11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.11, Sđd, tr.365-366.

(12) Võ Nguyên Giáp: Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.255.

(13), (15), (16) Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hồ Chí Minh biên niên sự kiện quân sự (1919-1969), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.281, 370, 103.

(14) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.4, Sđd, tr.527.

(20) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.7, Sđd, tr.242.

(22) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.157-158.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về “người trước, súng sau” trong xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh.

 Trong hệ thống di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tư tưởng của Người về “người trước, súng sau” trong giải quyết mối quan hệ giữa con người và vũ khí có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Bài viết phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về “người trước, súng sau” trong hoạt động quân sự góp phần làm nên những thắng lợi của cách mạng Việt Nam; đồng thời, làm rõ sự vận dụng vào xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam tinh, gọn, mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về “người trước, súng sau” trong xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm xưởng quân giới Đội Cấn năm 1950 - Ảnh tư liệu TTXVN

1. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về “người trước, súng sau” trong hoạt động quân sự

Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, ông cha ta đã kết hợp chặt chẽ giữa con người và vũ khí trong hoạt động quân sự, hình thành sức mạnh tổng hợp đấu tranh chống lại kẻ thù có tiềm lực quân sự mạnh hơn ta nhiều lần. Những tư tưởng triết lý mang tầm thời đại như: đẩy thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân, khoan thư sức dân, dựa vào nhân dân, phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, lấy của nhà giàu chia cho dân nghèo... được phát huy mọi lúc, mọi nơi, đặc biệt là vào những giai đoạn đầy cam go, ác liệt, qua đó khơi dậy sức mạnh của nhân dân, trở thành cội nguồn của thắng lợi. Cùng với đó, ông cha ta rất coi trọng việc rèn đúc chiến cụ, chế tạo và sử dụng vũ khí để chống giặc. Chính những truyền thống, kinh nghiệm của ông cha được Hồ Chí Minh kế thừa, tiếp thu, hình thành nên tư tưởng “người trước, súng sau” trong hoạt động quân sự.

Trên hành trình ra đi tìm đường cứu nước, Người đã tiếp cận, nghiên cứu, tìm hiểu nhiều nền văn minh của nhân loại, tinh hoa tư tưởng quân sự; kinh nghiệm cách mạng và cách thức tổ chức của quân đội Pháp, quân đội Nga; kinh nghiệm chiến đấu của Hồng quân Liên Xô... với những tư tưởng độc đáo như: “biết mình, biết người”, “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”, “thế, lực, thời”... Những tư tưởng đó được Người vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam như: “biết mình, biết giặc, trăm trận trăm thắng”; tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu; náo phía Đông, đánh phía Tây; tránh trận gay go, không sống chết giữ đất... để chống lại kẻ thù xâm lược mạnh và trở thành một trong những cơ sở quan trọng hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về “người trước, súng sau” trong hoạt động quân sự.

Đặc biệt, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới mang bản chất giai cấp công nhân là cơ sở lý luận quan trọng, có ý nghĩa quyết định sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về “người trước, súng sau”. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ rõ mối quan hệ giữa con người và vũ khí: đây là hai yếu tố cơ bản trong hoạt động quân sự, có mối quan hệ qua lại, tác động biện chứng với nhau. Con người là chủ thể sáng tạo ra và sử dụng vũ khí. Vũ khí cần có sự điều khiển của con người mới phát huy được tính năng, công dụng.

Ph.Ăngghen khẳng định: “Vũ trang, biên chế, tổ chức, chiến thuật, chiến lược phụ thuộc trước hết... việc phát minh ra những vũ khí tốt hơn và việc thay đổi chất liệu người lính”(1). Cùng quan điểm này, V.I.Lênin viết: “Một đội quân giỏi nhất, những người trung thành nhất với sự nghiệp cách mạng cũng đều sẽ lập tức bị kẻ thù tiêu diệt, nếu họ không được vũ trang, tiếp tế lương thực và huấn luyện đầy đủ”(2)... Những quan điểm đó được Hồ Chí Minh học tập, nghiên cứu, tiếp thu, vận dụng sáng tạo vào điều kiện hoàn cảnh lịch sử cách mạng Việt Nam, góp phần làm phong phú thêm tư tưởng “người trước, súng sau” của Người trong hoạt động quân sự.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy, nhân dân ta liên tiếp chống lại kẻ thù xâm lược với tiềm lực kinh tế, quân sự hiện đại bậc nhất thế giới. Cuộc đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân ta là cuộc chiến tranh lấy yếu chống mạnh, lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy vũ khí thô sơ chống lại vũ khí hiện đại. Do đó, làm thế nào để khắc phục những khó khăn, bất cập về lực lượng, phương tiện chiến đấu và giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh không cân sức ấy là vấn đề cấp bách đặt ra cho cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ. Với trí tuệ sáng suốt và lòng yêu nước, thương dân sâu sắc, Hồ Chí Minh đã nhận thức rõ và vạch ra tư tưởng “người trước, súng sau” trong hoạt động quân sự, có ý nghĩa to lớn đối với tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam.

2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về “người trước, súng sau”

Theo Hồ Chí Minh, trong hoạt động quân sự, con người giữ vai trò quan trọng, quyết định, vừa là chủ thể sáng tạo, cải tiến, sửa chữa, nâng cấp, vừa là chủ thể sử dụng, phát huy tính năng, công dụng của các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật trong chiến đấu. Do đó, để tạo sức mạnh quân sự, trước hết phải chú trọng xây dựng con người tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng độc lập dân tộc và CNXH, có bản lĩnh chính trị vững vàng...

Hồ Chí Minh khẳng định: “Vũ khí tốt mà tinh thần hèn, thì cũng vô dụng”(3); “Không thể cậy vũ khí mà có thể quyết định được thắng lợi. Phải xem những người cầm vũ khí có phải là những chiến sỹ hăng hái đánh trận không”(4). Vì vậy, “vũ khí là cần nhưng quan trọng hơn là con người vác súng”(5). Con người là vấn đề cốt lõi, tạo nên sức mạnh to lớn mà không một loại vũ khí nào có thể đánh bại được, giúp nhân dân Việt Nam chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược. Người khẳng định: “Dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại”(6).

Cùng với việc đề cao vị trí, vai trò của con người trong hoạt động quân sự, Hồ Chí Minh khẳng định vũ khí là công cụ, phương tiện chiến đấu không thể thiếu được của chiến tranh cách mạng. Người chỉ rõ: “Khởi nghĩa thì phải có vũ khí. Đó là một trong những vấn đề rất quan trọng của cách mạng”(7). Đối với Hồ Chí Minh, vũ khí không thuần túy là những công cụ, phương tiện thông thường để đấu tranh chống lại kẻ thù xâm lược, bảo vệ Tổ quốc, mà vũ khí hóa thân thành sức mạnh vật chất to lớn, giúp con người vượt ra khỏi giới hạn thông thường, cải tiến, sáng tạo và phát huy cao độ tính năng, tác dụng của từng loại vũ khí quân sự trong cuộc chiến tranh chính nghĩa vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, vũ khí quân sự bao gồm vũ khí vật chất và vũ khí tinh thần. Về vũ khí vật chất, đó là gậy tầm vông, giáo mác, súng, mìn, bom, đạn, xe tăng, đại bác, máy bay, tàu chiến... Đây là những công cụ, phương tiện không thể thiếu được trong bất kỳ một cuộc chiến tranh cách mạng nào. Theo Hồ Chí Minh, những vũ khí vật chất đó thấm đẫm giá trị nhân văn sâu sắc, vì con người, vì tính tự vệ, giải phóng dân tộc, đem lại hạnh phúc cho nhân dân, chứ không vì mục đích xâm lược.

Người khẳng định: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”(8). Người nhấn mạnh: “Cái gì đánh được giặc là phải dùng cả... khi có dịp phải rèn giáo, mác cho du kích”(9). Vì vậy, trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, Người đã tìm mọi cách cách để tạo ra vũ khí phục vụ cho hoạt động quân sự, như: chỉ đạo lực lượng quân đội tự sản xuất vũ khí, lấy vũ khí của giặc để tự trang bị cho mình, mua sắm vũ khí từ nước ngoài, tranh thủ sự giúp đỡ, viện trợ từ bạn bè quốc tế...

Về vũ khí tinh thần, theo Hồ Chí Minh, đó là lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí quyết tâm, lòng dũng cảm, gan dạ, mưu trí, sáng tạo, hy sinh... Vũ khí tinh thần đó đã hòa quyện, thống nhất với mục tiêu, lý tưởng cách mạng trở thành sức mạnh to lớn giúp nhân dân ta vượt qua khó khăn, thử thách với ý chí, quyết tâm cao độ: “Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”, “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”...

Đề ra tư tưởng “người trước, súng sau” trong hoạt động quân sự, Hồ Chí Minh cho rằng: phải luôn coi trọng và phát huy nhân tố con người, khơi dậy và phát huy mạnh mẽ sức mạnh của quần chúng nhân dân trong hoạt động quân sự. Đồng thời, cần giải quyết linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả mối quan hệ giữa con người và vũ khí trang bị trong hoạt động quân sự vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể ở mỗi thời kỳ lịch sử. Bởi đây là mối quan hệ cơ bản nhất của hoạt động quân sự, sức mạnh của các yếu tố khác được phát huy thông qua mối quan hệ này.

Hồ Chí Minh cho rằng: “tinh thần của con người phải truyền qua súng”. Con người với tư cách là chủ thể sáng tạo và sử dụng vũ khí, cần phát huy cao độ tính năng động, sáng tạo của bản thân trong sử dụng vũ khí, sử dụng đúng mục đích. Khi đó, vũ khí quân sự sẽ biến thành sức mạnh vật chất trong thực tiễn chiến đấu, làm cho con người và vũ khí trở nên mạnh mẽ hơn, vươn xa hơn.

Để giải quyết mối quan hệ giữa con người và vũ khí trong hoạt động quân sự, Hồ Chí Minh đề ra những chủ trương, biện pháp rất đúng đắn, khoa học, như: bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người trong hoạt động quân sự; nâng cao số lượng, chất lượng vũ khí trong hoạt động quân sự; tổ chức huấn luyện, biên chế các lực lượng phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam.

3. Vận dụng tư tưởng “người trước, súng sau” vào xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam tinh, gọn, mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ hiện nay

Tư tưởng Hồ Chí Minh về “người trước súng sau” có vai trò rất quan trọng đối với tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam; đặc biệt sự lớn mạnh, trưởng thành của Quân đội ta, từ 34 cán bộ, chiến sỹ, trang bị vũ khí thô sơ đến một đội quân “bách chiến, bách thắng”, “càng đánh càng mạnh, càng thắng lớn”. Thực tiễn gần 80 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, sự thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ của nhân dân, Quân đội ta luôn “trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”(10).

Những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã ban hành các chỉ thị, thông tư, như: Chỉ thị số 04/CT-BQP ngày 09-02-2012 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng “về việc tăng cường quản lý, giáo dục chấp hành kỷ luật; phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm pháp luật và vi phạm kỷ luật nghiêm trọng trong Quân đội nhân dân Việt Nam”; Chỉ thị số 91/CT-BQP ngày 22-11-2016 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng “về việc tăng cường quản lý, giáo dục và chấp hành kỷ luật trong Quân đội nhân dân Việt Nam”; Thông tư số 192/2016/TT-BQP quy định việc áp dụng các hình thức kỷ luật, trình tự, thủ tục, thời hiệu, thời hạn và thẩm quyền xử lý kỷ luật trong Bộ Quốc phòng; Chỉ thị số 103/CT-BQP ngày 28-11-2019 “về tiếp tục tăng cường quản lý, giáo dục chấp hành kỷ luật và bảo đảm an toàn trong Quân đội nhân dân Việt Nam”; thường xuyên quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 17-01-2022 của Bộ Chính trị “về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo”; Nghị quyết số 230-NQ/QUTW ngày 02-4-2022 của Quân ủy Trung ương “về lãnh đạo thực hiện tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo”.

Nhờ vậy, cán bộ, chiến sỹ trong toàn quân luôn tự giác chấp hành nghiêm pháp luật của Nhà nước, kỷ luật Quân đội và quy định đơn vị; tổ chức huấn luyện chặt chẽ, nghiêm túc, sát thực tế; các đơn vị chấp hành nghiêm mệnh lệnh, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, “mẫu mực, tiêu biểu”. Từ năm 2016 đến nay, quân đội đã điều chỉnh 1.286 tổ chức, giải thể các trường nghề và 61 trường quân sự cấp tỉnh(11); các cơ sở sản xuất, sửa chữa công nghiệp quốc phòng bảo đảm trang thiết bị, vũ khí cho các đơn vị trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu; đặc biệt, công nghiệp quốc phòng từng bước phát triển theo hướng hiện đại, lưỡng dụng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thực tiễn; đẩy mạnh mua sắm vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại; tổ chức diễn tập quân binh chủng với các nước trong khu vực; tổ chức triển lãm quân sự, quốc phòng để quảng bá, giới thiệu tiềm lực quân sự của Quân đội nhân dân Việt Nam, tăng vị thế, uy tín của đất nước trên trường quốc tế...

Thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường; thời cơ, vận hội đan xen với nguy cơ, thách thức, song hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là dòng chảy chủ đạo trong quan hệ quốc tế. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển với sự ra đời của nhiều loại vũ khí công nghệ cao; những thách thức an ninh phi truyền thống, nhất là an ninh mạng, khủng bố, thiên tai, dịch bệnh; sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn; những mâu thuẫn, xung đột về tranh chấp chủ quyền, biên giới, lãnh thổ... ngày càng gay gắt, phức tạp.

Đối với nước ta, sau 35 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, tiềm lực, vị thế, uy tín của đất nước ngày càng được củng cố và gia tăng trên trường quốc tế. Tuy nhiên, chúng ta vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt là sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, phản động với âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt nhằm thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, làm “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, hòng trung lập, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng với Quân đội... Thực tế đó đặt ra cho Quân đội nhiệm vụ phải quán triệt và thực hiện nghiêm túc di sản lý luận về “người trước, súng sau” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam tinh, gọn, mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới. Cụ thể:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội

Đây là biện pháp quan trọng, có ý nghĩa hàng đầu để xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới. Theo đó, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng cần quán triệt và thực hiện nghiêm túc quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh đến cán bộ, chiến sỹ trong toàn quân; quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về “người trước, súng sau”. Các cơ quan, đơn vị cần cụ thể hóa vào từng nhiệm vụ, bố trí, sắp xếp lực lượng phù hợp, hiệu quả, bảo đảm đủ về số lượng, chất lượng, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao; xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh, tiêu biểu về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; cán bộ, chiến sỹ luôn trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng độc lập dân tộc và CNXH, không ngại khó, ngại khổ, gắn bó máu thịt với nhân dân, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Kỷ luật là sinh mệnh của quân sự”, “Là sức mạnh của Quân đội”. Vì vậy, cấp ủy, chỉ huy đơn vị, chính ủy, chính trị viên và cơ quan chính trị các cấp tập trung xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh gắn với học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; vận động phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”; kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân; đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh”(12).

Hai là, tăng cường quản lý, giáo dục cán bộ, chiến sỹ, duy trì nghiêm kỷ luật quân đội, các chế độ, nền nếp chính quy trong đơn vị

Cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì và cơ quan chính trị các cấp tăng cường quản lý, giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng cán bộ, chiến sỹ; nắm chắc lý lịch cá nhân, thường xuyên gần gũi, lắng nghe tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của cán bộ, chiến sỹ để thấu hiểu, chia sẻ, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về mặt tư tưởng; không dùng mệnh lệnh, quyền uy, hoặc có biểu hiện quân phiệt, quan liêu trong xử lý, giải quyết các tình huống xảy ra trong đơn vị. Cán bộ quản lý các cấp phải luôn gương mẫu trong lời nói và hành động, là tấm gương mẫu mực, là chỗ dựa vững chắc, tin cậy của cán bộ, chiến sỹ; duy trì và thực hiện nghiêm túc các chế độ trong ngày, trong tuần như: đọc báo, xem thời sự, tự học, trực ban, trực chiến, đi báo công, về báo cáo, kiểm tra quân số thường xuyên, đột xuất kiểm tra... Cần đề cao vai trò, trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng trong quản lý, giáo dục cán bộ, chiến sỹ thực hiện nhiệm vụ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, xây dựng đơn vị chính quy, xanh, sạch, đẹp. Người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên phải bảo đảm sự thống nhất, nhịp nhàng, đồng bộ trong điều hành chế độ, nền nếp chính quy; phát hiện, ngăn ngừa, khắc phục triệt để những biểu hiện độc đoán, quân phiệt, thiếu quan tâm đến đời sống bộ đội, thiếu trách nhiệm trong quản lý đơn vị,... để vi phạm kỷ luật kéo dài. Khi đơn vị có vụ việc nghiêm trọng xảy ra, cần nghiêm túc kiểm điểm, làm rõ nguyên nhân, quy rõ trách nhiệm và có hình thức xử lý kỷ luật nghiêm minh.

Ba là, phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác chấp hành kỷ luật quân đội của mỗi cán bộ, chiến sỹ

Mỗi cán bộ, chiến sỹ dù ở cương vị, chức trách nào cũng phải quán triệt và thực hiện nghiêm túc kỷ luật quân đội, quy định đơn vị. Không ngừng tự giác tu dưỡng, phấn đấu rèn luyện về năng lực, phương pháp, tác phong công tác, phẩm chất đạo đức, lối sống, hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao. Tích cực, chủ động, tự giác chấp hành kỷ luật quân đội, quy định đơn vị mọi lúc, mọi nơi, phát huy phẩm chất, uy tín “Bộ đội Cụ Hồ” được lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sỹ xây dựng, gìn giữ và vun đắp; có bản lĩnh chính trị vững vàng, bình tĩnh, chủ động trong mọi hoàn cảnh; thường xuyên “tự soi”, “tự sửa” suy nghĩ, thái độ, hành vi, ứng xử phù hợp với môi trường công tác; xây dựng lối sống trong sạch, lành mạnh, giản dị; có ý chí quyết tâm khắc phục khó khăn, gian khổ, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Trong tu dưỡng, phấn đấu, rèn luyện, cần chủ động khắc phục, sửa chữa khâu yếu, mặt yếu của bản thân, phát huy ưu điểm, thế mạnh, sở trường trong thực hiện các nhiệm vụ; thường xuyên đối chiếu, so sánh những quy định, yêu cầu của đơn vị với thực tiễn rèn luyện của bản thân để điều chỉnh cho phù hợp; xây dựng đức tính cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư, không giấu dốt, tự ti hoặc tự kiêu.

Bốn là, đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định: “Xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh hiện đại, lưỡng dụng, vừa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, vừa góp phần quan trọng phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng và củng cố các tuyến phòng thủ biên giới, biển, đảo”(13). Theo đó, các nhà máy, xí nghiệp của Bộ Quốc phòng cần tiếp tục nghiên cứu, đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật; phát huy truyền thống tự lực, tự cường của Quân đội; xây dựng những trung tâm nghiên cứu khoa học quân sự vững mạnh, toàn diện, làm nòng cốt trong tham mưu, đề xuất chế tạo, sản xuất vũ khí công nghệ cao, hiện đại.

Xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng; đầu tư thích đáng cho ngành công nghiệp lưỡng dụng; tăng cường hợp tác với các nước có tiềm lực quân sự mạnh như Nga, Mỹ, Nhật Bản... để học hỏi, trao đổi kinh nghiệm, phương pháp, đào tạo nguồn nhân lực trong sản xuất, chế tạo vũ khí quân sự; phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu nhà máy, xí nghiệp quốc phòng trong lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên nòng cốt thực hiện các nhiệm vụ chế tạo, sản xuất, sửa chữa vũ khí, trang bị kỹ thuật.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 540 (tháng 02-2023)

Ngày nhận bài: 26-12-2022; Ngày bình duyệt: 12-02-2023; Ngày duyệt đăng: 21-02-2023.

 

(1) C.Mác - Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.20, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2002, tr.235.

(2) V.I.Lênin: Toàn tập, t.35, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2006, tr.497.

(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.7, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.460.

(4), (8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.4, Sđd, tr.527, 534.

(5) Võ Nguyên Giáp: Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.255.

(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.2, Sđd, tr.297.

(7) Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Hồ Chí Minh biên niên sự kiện quân sự (1919 - 1969), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2011, tr.103.

(9) Đầu nguồn hồi ký về Bác Hồ, Nxb Văn học, Hà Nội, 1975, tr.337.

(10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.14, Sđd, tr.435.

(11) Phan Văn Giang: Xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 29-6-2022.

(12), (13) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.160-161, 158-159.

PGS, TS PHẠM ĐÌNH NHỊN


Vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh về “lãnh đạo đúng” trong đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng hiện nay.

 Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu những chỉ dẫn về hoạt động lãnh đạo của Đảng khi đã có chính quyền. Bài viết khái quát những nội dung cơ bản trong quan điểm của Hồ Chí Minh về lãnh đạo đúng, khẳng định đó là những nội dung thiết yếu về phương thức lãnh đạo của Đảng trên cơ sở Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phát huy tối đa vai trò của nhân dân. Trên cơ sở đó làm rõ sự vận dụng sâu sắc quan điểm của Người trong đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ta hiện nay.

Vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh về “lãnh đạo đúng” trong đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng hiện nay

Muốn lãnh đạo đúng, Đảng phải quan hệ chặt chẽ với nhân dân, luôn luôn lắng nghe ý kiến của nhân dân. (Trong ảnh, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm hỏi các xã viên Hợp tác xã chè Hảo Đạt, xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên) - Ảnh: thainguyen.gov.vn

Tác phẩm Sửa đổi lối làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đời tháng 10-1947 gồm 6 chương, trong đó có chương V “Cách lãnh đạo”. Ở chương này, Người đã đưa ra định nghĩa mang tính kinh điển: “Lãnh đạo đúng nghĩa là: 1. Phải quyết định mọi vấn đề một cách cho đúng. Mà muốn thế thì nhất định phải so sánh kinh nghiệm của dân chúng. Vì dân chúng chính là những người chịu đựng cái kết quả của sự lãnh đạo của ta. 2. Phải tổ chức sự thi hành cho đúng. Mà muốn vậy, không có dân chúng giúp sức thì không xong. 3. Phải tổ chức sự kiểm soát, mà muốn kiểm soát đúng thì cũng phải có quần chúng giúp mới được... muốn giải quyết vấn đề cho đúng,... người lãnh đạo ắt phải có mối liên hệ chặt chẽ giữa mình với các tầng lớp người, với dân chúng”(1).

Theo Hồ Chí Minh, trước hết Đảng phải đề ra được đường lối đúng đắn trên cơ sở sáng kiến và nguyện vọng của nhân dân. Mọi quyết định, chủ trương lãnh đạo của Đảng phải hướng tới lợi ích cho nhân dân và vì nhân dân; lấy nhân dân làm động lực để xây dựng tổ chức và phương thức hoạt động; coi nhân dân là mục đích “cao nhất”, “tối thượng” để phục vụ một cách tốt nhất theo nguyên tắc: “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”(2).

Sau khi đề ra đường lối đúng, vấn đề quyết định là tổ chức thực hiện tốt đường lối. Lãnh đạo đúng không dừng ở việc định hướng mục tiêu, mà quan trọng là cả hoạt động tổ chức thực hiện để đạt được mục tiêu. Trong điều kiện có chính quyền, hoạt động lãnh đạo của Đảng không thể tách rời hoạt động quản lý của Nhà nước. Hồ Chí Minh coi chính quyền nhà nước là một thành tố của hệ thống chính trị, Nhà nước thực hiện việc quản lý xã hội trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật, được nhân dân ủy quyền để thực hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân, trở thành công bộc của nhân dân. Nhà nước vừa là cơ quan đại diện cho nhân dân, thực hiện quyền lực của nhân dân, vừa là cơ quan tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng.

Hồ Chí Minh coi kiểm soát là một nội dung lãnh đạo của Đảng và muốn kiểm soát đúng thì phải có quần chúng giúp sức. Người viết: “Muốn chống bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy, muốn biết các nghị quyết có được thi hành không, thi hành có đúng không; muốn biết ai ra sức làm, ai làm qua chuyện, chỉ có một cách là khéo kiểm soát. Kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa, kiểm soát khéo về sau khuyết điểm nhất định sẽ bớt đi. Song, muốn kiểm soát có kết quả tốt, phải có hai điều: một là việc kiểm soát phải có hệ thống, phải thường làm. Hai là người đi kiểm soát phải là những người rất có uy tín... không phải cứ ngồi trong phòng giấy mà chờ người ta báo cáo, mà phải đi tận nơi, xem tận chỗ. Vì ba điều mà cần phải kiểm soát như thế. 1. Có kiểm soát như thế mới biết rõ cán bộ và nhân viên tốt hay xấu. 2. Mới biết rõ ưu điểm và khuyết điểm của các cơ quan. 3. Mới biết rõ ưu điểm và khuyết điểm của các mệnh lệnh và nghị quyết”(3).

Như vậy, theo Hồ Chí Minh, cả ba nội dung của “lãnh đạo đúng” đều có vai trò đặc biệt quan trọng của nhân dân; phương thức để có lãnh đạo đúng chính là dựa vào nhân dân, phát huy tốt vai trò của nhân dân. Do đó, muốn lãnh đạo đúng, Đảng phải quan hệ chặt chẽ với các tầng lớp người, với dân chúng và luôn luôn lắng nghe ý kiến của dân chúng. Nếu cách xa dân chúng, không liên hệ chặt chẽ với dân chúng thì nhất định sẽ thất bại. Theo Hồ Chí Minh, phải có sự gắn bó, phối hợp chặt chẽ giữa người lãnh đạo với nhân dân lãnh đạo mới đạt hiệu quả.

Người nhấn mạnh, cán bộ, đảng viên phải biết hướng dẫn, cung cấp kiến thức, động viên, khích lệ để mỗi người dân biết cách phát huy tốt hơn tiềm năng của chính họ; chứ không phải chỉ hô hào đòi dân đóng góp; có trách nhiệm gần gũi, sâu sát để hiểu dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân và giải quyết những vấn đề thiết thực cho quốc kế dân sinh. Cán bộ lãnh đạo các cấp phải tôn trọng, lắng nghe và học hỏi dân, gần dân, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của dân, quan tâm giải quyết những kiến nghị, đề đạt của nhân dân: “Phải chú ý giải quyết hết các vấn đề dầu khó đến đâu mặc lòng, những vấn đề quan hệ tới đời sống của dân. Phải chấp đơn, phải xử kiện cho dân mỗi khi người ta đem tới. Phải chăm lo việc cứu tế nạn nhân cho chu đáo, phải chú ý trừ nạn mù chữ cho dân. Nói tóm lại, hết thảy những việc có thể nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của dân phải được ta đặc biệt chú ý”(4).

Người rất chú ý nâng cao chất lượng và tính tiên phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong thực thi công vụ. Do đó, muốn thành công, phải loại bỏ những người mắc bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy, bệnh hách dịch, cửa quyền: “Chọn người và thay người cũng là một vấn đề quan trọng trong việc lãnh đạo. Những người mắc bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy, không làm được việc, phải thải đi.

Ngoài ra còn có hai hạng người, cũng phải chú ý: Một là có những người cậy mình là “công thần cách mạng”, rồi đâm ra ngang tàng, không giữ gìn kỷ luật, không thi hành nghị quyết của Đảng và của Chính phủ... Cần phải mời các ông đó xuống công tác hạ tầng, khép họ vào kỷ luật, để chữa tính kiêu ngạo, thói quan liêu cho họ và để giữ vững kỷ luật của Đảng và của Chính phủ. Hai là, hạng người nói suông. Hạng người này tuy là thật thà, trung thành, nhưng không có năng lực làm việc, chỉ biết nói suông... Chỉ biết nói là nói, nói giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác. Nhưng một việc gì thiết thực cũng không làm được. Những người như thế cũng không thể dùng vào công việc thực tế”(5).

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về “lãnh đạo đúng”, trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã lãnh đạo bằng Cương lĩnh chính trị, các chiến lược lớn, các quyết sách và chủ trương lớn; Đảng ta đã ban hành Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 và bổ sung, phát triển năm 2011; lãnh đạo Nhà nước ban hành Hiến pháp năm 1992 và sửa đổi, bổ sung năm 2001, Hiến pháp năm 2013; các chiến lược, các quyết sách và chủ trương lớn của Đảng được xây dựng và phát triển qua các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc, được thể chế hóa, cụ thể hóa thành pháp luật, chính sách, chương trình, kế hoạch hành động, tổ chức thực hiện. Các cấp ủy đảng ban hành nghị quyết, chủ trương bám sát thực tiễn và tổ chức chỉ đạo sâu sát, quyết liệt đến mọi tầng lớp nhân dân.

Về tổ chức thực hiện quyết định lãnh đạo, Đảng đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, thuyết phục và công tác tổ chức, cán bộ.

Công tác tuyên truyền, vận động cán bộ, đảng viên và nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước được tiến hành thường xuyên, liên tục, gắn với các chương trình, kế hoạch công tác và tạo sự đồng thuận của các tầng lớp nhân dân.

Công tác tổ chức, cán bộ của Đảng được thực hiện thông qua việc Đảng giới thiệu những cán bộ, đảng viên có đủ phẩm chất và năng lực tham gia vào các vị trí lãnh đạo chủ chốt của các cấp chính quyền.

Về công tác kiểm tra, kiểm soát, thông qua công tác kiểm tra, giám sát của Đảng và hành động gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong toàn hệ thống chính trị, Đảng xử lý kỷ luật nghiêm minh đối với tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên vi phạm; kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, xử lý những cán bộ, đảng viên suy thoái, biến chất, phai nhạt lý tưởng của Đảng trực tiếp làm phương hại đến vai trò lãnh đạo cũng như làm mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Đảng lãnh đạo thông qua hành động gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong toàn hệ thống chính trị. Các tổ chức đảng và đảng viên, nhất là tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các cơ quan nhà nước, vừa phải gương mẫu tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, vừa phải nêu cao vai trò tiên phong trong thực hiện chủ trương, đường lối, các quy định của Đảng.

Việc vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh vào đổi mới phương thức lãnh đạo đã được Đảng ta quán triệt sâu sắc. Một trong những nội dung quan trọng được Nghị quyết Đại hội XII khẳng định là chủ trương đổi mới phương thức lãnh đạo, thay đổi lề lối làm việc của đội ngũ cán bộ, đảng viên, thực hiện sắp xếp lại bộ máy các cơ quan trong hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hiệu quả: “Tinh giản tổ chức, bộ máy gắn với tiếp tục phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, phương thức hoạt động của các tổ chức; thực hiện kiêm nhiệm một số chức danh và tinh giản biên chế trong toàn bộ hệ thống chính trị. Cơ bản thực hiện mô hình bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch Hội đồng nhân dân các cấp”(6).

Đại hội chủ trương hợp nhất một số cơ quan của Đảng và Nhà nước có chức năng tương đồng; sáp nhập các cơ quan hành chính theo hướng quản lý đa ngành, đa lĩnh vực; không tăng thêm các cơ quan trong các bộ, cơ quan ngang bộ; rà soát lại chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu cán bộ, công chức, chức danh cho từng loại công chức, từ đó xây dựng và triển khai kế hoạch sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn và sát với tình hình thực tế ở đơn vị, địa phương, đáp ứng yêu cầu, mục tiêu cải cách hành chính nhà nước trong giai đoạn mới. Đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước và chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội; phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

Đại hội XIII của Đảng đã nêu phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm đổi mới phương thức lãnh đạo: “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo thông suốt, kịp thời, đúng đắn của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp; phát huy vai trò nêu gương, thúc đẩy đổi mới phương thức, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các tổ chức, cơ quan trong hệ thống chính trị”(7). Đại hội XIII đã đặt ra và xác định những vấn đề trọng tâm về đổi mới phương thức lãnh đạo: “Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng Cương lĩnh, chiến lược, các chủ trương, chính sách lớn, bằng công tác tổ chức, cán bộ, bằng kiểm tra, giám sát... Các tổ chức của Đảng và đảng viên, nhất là tổ chức, đảng viên hoạt động trong các cơ quan nhà nước vừa phải gương mẫu tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, vừa phải nêu cao vai trò tiên phong trong thực hiện chủ trương, đường lối, các quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”(8).

Đại hội XIII đã chủ trương đẩy mạnh đổi mới cách thức, hình thức, phương pháp, quy chế, quy định, quy trình làm việc của Đảng để tác động vào đối tượng lãnh đạo nhằm thực hiện thắng lợi Cương lĩnh chính trị, đường lối, các nghị quyết và các nội dung lãnh đạo của Đảng trong thời kỳ mới. Gắn đổi mới phương thức lãnh đạo với sắp xếp tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Đại hội nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đồng bộ với đổi mới kinh tế, văn hóa, xã hội và con người..., đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Tiếp tục hoàn thiện mô hình tổ chức của hệ thống chính trị. Tiếp tục hoàn thiện các mô hình thí điểm về tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị... Đẩy mạnh thực hiện tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại đội ngũ cán bộ công chức, viên chức theo vị trí việc làm”(9).

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 540 (tháng 02-2023)

Ngày nhận bài: 28-12-2022; Ngày bình duyệt: 03-02-2023; Ngày duyệt đăng: 21-02-2023.

 

(1), (3), (5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.325-326, 327, 326-327.

(2), (4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.4, Sđd, tr.65, 51-52.

(6) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr.204.

(7), (8), (9) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.198, 196-197, 185.


Vấn đề ứng dụng trí thông minh nhân tạo trong báo chí, truyền thông ở Việt Nam hiện nay.

 Hiện nay, các phần mềm sử dụng trí thông minh nhân tạo và dữ liệu lớn đang ngày càng được sử dụng rộng rãi trong đời sống xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực báo chí, truyền thông, nhằm trợ giúp việc sản xuất nội dung, chia sẻ tin tức, tương tác với độc giả và tìm hiểu thông tin người dùng… Bài viết khái quát về trí thông minh nhân tạo và việc ứng dụng trong lĩnh vực báo chí, truyền thông; đề xuất một số giải pháp ứng dụng trí thông minh nhân tạo vào hoạt động báo chí, truyền thông ở Việt Nam hiện nay.

Vấn đề ứng dụng trí thông minh nhân tạo trong báo chí, truyền thông ở Việt Nam hiện nay

Các phần mềm sử dụng trí thông minh nhân tạo và dữ liệu lớn đang ngày càng được sử dụng rộng rãi trong đời sống - Ảnh IT

1. Khái quát về trí thông minh nhân tạo

Trí tuệ nhân tạo là một lĩnh vực đã được ngành công nghệ thông tin nghiên cứu từ rất sớm. Trí tuệ nhân tạo hay trí thông minh nhân tạo (Artificial Intelligence - viết tắt là AI) là một ngành thuộc lĩnh vực khoa học máy tính (Computer science), đây là một sản phẩm do con người sử dụng các kỹ thuật, công nghệ để giúp máy tính có thể tự động hóa các hành vi, suy nghĩ, xử lý và hành động mô phỏng trí thông minh của con người. Theo thời gian, các phần mềm ứng dụng trí thông minh nhân tạo ngày càng tiếp cận tới nhiều người dùng, có khả năng phân tích, tư duy như con người đồng thời có khả năng cung cấp các dữ liệu hữu ích, có tính chính xác cao, có khả năng kiểm chứng được và có thể áp dụng cho nhiều lĩnh vực nếu được sử dụng đúng cách. 

Việc áp dụng các phần mềm ứng dụng trí thông tin nhân tạo hiện nay phổ biến trong các hoạt động nghiệp vụ như tóm tắt nội dung văn bản và tài liệu có dung lượng lớn, tạo ra các câu trả lời theo yêu cầu và chủ đề của người dùng hoặc sáng tạo các nội dung, các tác phẩm theo góc nhìn mới, đặt tiêu đề cho các bài báo, dịch thuật đa ngôn ngữ. Các ứng dụng này giúp con người có thể tiết kiệm thời gian và công sức lao động của mình trong các hoạt động hàng ngày. 

Nguyên lý hoạt động của các phần mềm hỏi - đáp tự động sử dụng dữ liệu lớn khá là đơn giản. Phần mềm sẽ ghi nhận những câu hỏi của người dùng, sau đó đưa ra lời giải đáp dựa trên kỹ thuật phân tích dữ liệu lớn. Để trả lời câu hỏi của người dùng, các phần mềm này sẽ dự đoán, phân tích và sau đó đưa ra đáp án dựa vào nguồn thông tin trong hệ thống hoặc các dữ liệu được cung cấp từ người dùng dẫn đến một cảm giác thông minh thực sự như một con người. Điểm tạo nên sự khác biệt của các phần mềm này là việc không ngừng thu thập dữ liệu, phân tích và tăng vốn hiểu biết thông qua các dữ liệu được thay đổi liên tục trên không gian mạng và các dữ liệu thu thập được trong khi vẫn dự đoán các nội dung của câu hỏi. Điều này giúp các phần mềm cũng như các hệ thống ứng dụng trí thông minh nhân tạo ngày các tiếp cận được với con người và dần thu thập các dữ liệu đầu vào với nhiều gợi ý và trả lời nhiều thắc mắc của người dùng hơn. Với một người dùng bình thường, các phần mềm này đơn giản là một trang web hay một ứng dụng cho phép nói chuyện các chủ đề với một con người ảo.

Về bản chất, đây là các phần mềm thông minh nhân tạo, thực hiện các câu trả lời của người dùng thông qua dữ liệu. Quá trình tạo ra một phần mềm thông minh nhân tạo bao gồm các bước: Thu thập dữ liệu (từ không gian mạng, từ cung cấp của người dùng), chọn lọc dữ liệu, thực hiện gán nhãn dữ liệu để thực hiện huấn luyện cho phần mềm và huấn luyện phần mềm như việc tiếp thu tri thức của con người. Dữ liệu thu thập được càng nhiều thì càng có nhiều câu trả lời. 

Tuy nhiên, một vấn đề nảy sinh ở đây là các phần mềm này có thể phân tích và hiểu rất nhiều tầng ý nghĩa của một dữ liệu của đầu vào, nhưng không thể hiểu được ý nghĩa đó “đúng” hay “sai”. Thực tế cho thấy, việc một dữ liệu là đúng hay sai chỉ là tương đối. Các dữ liệu đang tồn tại trên internet mà các nhà khoa học thu thập được để huấn luyện cho phần mềm cũng không phải luôn theo thiên hướng có ý nghĩa là “đúng” và dữ liệu đó chứa thông tin là “đúng” do các nhà khoa học thường sử dụng các công cụ thu thập dữ liệu tự động, sức người cũng không thể thu thập được các dữ liệu để phân tách được tính đúng - sai của các dữ liệu đó do các dữ liệu trên internet là rất lớn. Đơn cử, dữ liệu thu thập về trái đất của chúng ta, có thể có các dữ liệu là trái đất hình tròn, nhưng cũng có thể có các dữ liệu minh chứng trái đất là phẳng. Khi đó, các dữ liệu thu thập được sẽ chứa cả dữ liệu đúng và dữ liệu sai. 

Một phần mềm sử dụng trí thông minh nhân tạo sẽ phân tích, xử lý và tìm kiếm các dữ liệu để tìm ra các tầng ý nghĩa của thông tin đầu vào đó thì đồng thời nó cũng tìm ra các dữ liệu mang tính “đúng” và các dữ liệu mang tính “sai” mà nó không thể xác định được đâu là dữ liệu đúng, đâu là dữ liệu sai. Các phần mềm sử dụng trí thông minh nhân tạo đơn giản chỉ là ghi nhớ dữ liệu thu thập được, phân tích để tìm ra các tầng ý nghĩa của các dữ liệu nên khi được hỏi, các phần mềm này không phân biệt được đúng hay sai mà chỉ trả lời lại các dữ liệu đã được nó lưu trữ, phân tích. 

ChatGPT ra đời đã đánh dấu một bước tiến mạnh mẽ của lĩnh vực ứng dụng trí thông minh nhân tạo trong đời sống kinh tế, xã hội. ChatGPT (Chat Generative Pre-training Transformer) là một chatbot do công ty OpenAI của phát triển. ChatGPT được huấn luyện với 300 tỷ từ, 175 tỷ tham số, tổng thời gian huấn luyện gộp là 300 năm với chi phí huấn luyện hơn 5 triệu USD và được OpenAI phát triển từ 2015 với số tiền đầu tư 1 tỷ USD. 

Hiểu một cách đơn giản, ChatGPT là một phần mềm ứng dụng trí thông minh nhân tạo nhưng điểm khác biệt là nằm ở "kho" kiến thức đã học được, nó có thể hiểu được nội dung câu hỏi một cách chính xác và nhanh chóng đưa ra câu trả lời lưu loát, đầy đủ. Các câu trả lời này được ChatGPT tự tổng hợp và được tạo ra từ dữ liệu lớn đã được huấn luyện trước. ChatGPT còn có thể làm thơ, soạn nhạc, viết thư, thiết kế đồ họa, lập trình... ChatGPT và các phần mềm ứng dụng trí thông minh nhân tạo khác có khả năng tự tạo ra nội dung dựa trên yêu cầu đầu vào, được lập trình để tự học dựa vào dữ liệu và tương tác với con người nên càng nhiều người sử dụng ChatGPT và ứng dụng trí thông minh nhân tạo càng khiến cho các phần mềm ứng dụng trí thông minh nhân tạo này ngày càng thông minh, hoàn thiện và rất khó để phân biệt giữa kết quả được tạo ra bởi các phần mềm ứng dụng trí thông minh nhân tạo này với kết quả được tạo bởi con người.

Đây là một phần mềm ứng dụng trí thông minh nhân tạo để trả lời các câu hỏi của người dùng thông qua phân tích ngôn ngữ tự nhiên như việc trao đổi giữa người với người. Để huấn luyện phần mềm này, các nhà khoa học tại công ty OpenAI đã thu thập một lượng lớn dữ liệu dưới dạng văn bản của con người từ internet, các dữ liệu này đến từ Wikipedia, các trang thông tin điện tử, mạng xã hội, các dữ liệu từ bách khoa toàn thư được công khai trên không gian mạng. Sau khi thu thập, họ làm sạch, chọn lọc nội dung và cho phần mềm ChatGPT học và tìm hiểu các tầng ngữ nghĩa như suy nghĩ của con người khi tiếp nhận thông tin. Các tầng ngữ nghĩa được phần mềm này nhận ra thì càng có nhiều tham số để ChatGPT trả lời người dùng.

2. Trí thông minh nhân tạo ứng dụng vào báo chí, truyền thông hiện nay

ChatGPT và ứng dụng trí thông minh nhân tạo cũng tạo ra các thách thức cho hoạt động báo chí, truyền thông: làm thế nào để nhận diện, xác định và loại bỏ các nội dung được tạo ra bởi các ứng dụng thông minh nhân tạo khi bản thân nó chứa các thông tin chưa được kiểm chứng, không trích dẫn nguồn gốc, sai lệch cũng như các vấn đề bảo mật thông tin người dùng. 

Báo chí, truyền thông luôn cần những dữ liệu trung thực, nguồn thông tin và các góc nhìn mới về các sự kiện chính trị, xã hội, văn hóa đang diễn ra trong thực tiễn Việt Nam và trên thế giới, trong khi đó ChatGPT ứng dụng trí thông minh nhân tạo có khả năng trợ giúp con người tạo ra các thông tin mới dựa trên phân tích ngữ nghĩa và tổng hợp thông tin từ các dữ liệu có sẵn, hoặc nếu bị các đối tượng lạm dụng các phần mềm ứng dụng trí thông minh nhân tạo này để sản xuất nội dung sẽ dẫn tới các thông tin sai lệch, xuyên tạc. 

Các phần mềm sử dụng trí thông minh nhân tạo này cũng có thể được sử dụng và huấn luyện các dữ liệu có chủ ý để tạo ra các thông tin sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc tạo ra các chỉ dẫn không đúng… từ đó phát tán thông tin sai lệch trên không gian mạng. Khi đó, việc tuyên truyền các nội dung cũng như kiểm duyệt nội dung được tạo ra bởi các phần mềm ứng dụng trí thông minh nhân tạo cũng là một thách thức lớn trong hoạt động báo chí, truyền thông. 

Thực tế cho thấy, nhiều hãng công nghệ như Google, Facebook, IBM, Microsoft đã nhiều lần giới thiệu các phần mềm trả lời tự động nhưng do các phần mềm đó khi được ứng dụng đều trả lời một số câu hỏi dẫn tới thiên hướng có ý nghĩa “sai” mà không thể chấp nhận được về mặt chuẩn mực của con người như xúc phạm về giới tính, không tôn trọng tôn giáo, sắc tộc hay bịa đặt, thay đổi tính chính xác của các sự kiện đã diễn ra hay sai lệch so với các chân lý được con người đồng thuận là đúng… Chính vì thế, các phần mềm này đều bị dừng ứng dụng hoặc không đưa ra thị trường. Các công ty lớn nhận định, nếu phần mềm chưa thể giải quyết được nhận thức “đúng”-“sai” thì sẽ không đưa ra thương mại hóa hay cung cấp cho người sử dụng để phòng ngừa việc lạm dụng các phần mềm này cho các hoạt động gây ảnh hưởng không tốt tới cộng đồng. 

ChatGPT cũng tạo ra những đoạn văn vi phạm tới chuẩn mực về tính "đúng - sai" của con người do nó không hiểu được các ý nghĩa “đúng” - “sai” trong dữ liệu mà nó thu thập được, nhưng công ty OpenAI vẫn đưa ChatGPT ra công chúng. OpenAI đã trở thành công ty đi  đầu trong việc thương mại hóa một phần mềm mà chưa thể kiểm soát về tính "đúng - sai".

Hiện nay, các phần mềm sử dụng trí thông minh nhân tạo và dữ liệu lớn đang ngày càng được sử dụng rộng rãi trong đời sống. Các thế lực thù địch, chống phá Đảng và Nhà nước ta đang cũng đang lợi dụng các kỹ thuật mới, công nghệ mới trong đó có trí thông minh nhân tạo để xây dựng các nội dung chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, tấn công thu thập dữ liệu để sử dụng vào mục đích chống phá, can thiệp vào hoạt động chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế, đưa ra các thông tin thất thiệt hay dựng chuyện, bịa chuyện… Do đó, để ứng dụng hiệu quả trí thông minh nhân tạo vào hoạt động báo chí, truyền thông ở Việt Nam, bài viết đề xuất một số giải pháp sau: 

Một là, tăng cường sự lãnh đạo, bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng, Nhà nước về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; cần có sự thống nhất và phối hợp đồng bộ trong các cơ quan, tổ chức quản lý thông tin trên không gian mạng. Đặc biệt, cần xây dựng một cơ sở dữ liệu lớn về lý luận chính trị, nền tảng tư tưởng của Đảng để cung cấp luận cứ cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân soi chiếu tính đúng đắn của thông tin thu thập được.

Hai là, bổ sung, hoàn thiện hành lang pháp lý, ban hành luật pháp và hướng dẫn thực thi pháp luật liên quan đến sử dụng các hệ thống phần mềm ứng dụng trí thông minh nhân tạo, đặc biệt là sử dụng các dữ liệu trên không gian mạng, trong đó bổ sung các hành lang pháp lý về điều chỉnh hành vi của người dùng khi sử dụng các phần mềm hỏi - đáp tự động để sáng tạo nội dung và cung cấp thông tin trên không gian mạng. Cần bổ sung những quy định liên quan đến các hành vi vi phạm như đánh cắp thông tin, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ để bảo vệ đơn vị sở hữu khỏi những tình huống bị thiệt hại bởi các cá nhân/đơn vị khác.

Ba là, các cơ quan quản lý nhà nước cần xây dựng các kế hoạch, chiến lược, chương trình tập huấn cho các cơ quan, tổ chức báo chí, truyền thông, nhà báo, phóng viên trong các hoạt động ứng dụng các phần mềm thông minh nhân tạo. Nâng cao nhận thức của các tổ chức, cá nhân và phát huy vai trò của các cơ quan, tổ chức báo chí, truyền thông đối với công tác kiểm chứng các thông tin ứng dụng các phần mềm ứng dụng trí thông minh nhân tạo.

Bốn là, xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức báo chí, truyền thông để tận dụng thế mạnh về các cơ sở dữ liệu của mình, đồng thời chia sẻ dữ liệu với các cơ quan, tổ chức khác. Bên cạnh đó, cần xây dựng các kế hoạch và chiến lược truyền thông một cách hợp lý, phù hợp với đại đa số người dân về chất lượng, ảnh hưởng của các sản phẩm do các phần mềm này tạo ra. 

Năm là, tăng cường công tác tập huấn, đào tạo nguồn nhân lực tham gia hoạt động bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, nguồn lực tham gia việc kiểm chứng thông tin, đặc biệt nhận diện và kiểm chứng thông tin do các phần mềm ứng dụng trí thông minh nhân tạo tạo ra. Đặc biệt chú trọng các hoạt động ứng dụng trí thông minh nhân tạo trong các lực lượng chuyên trách bảo đảm và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo đảm chủ quyền, an ninh quốc gia trên không gian mạng. Đồng thời, ban hành các chính sách hợp lý nhằm tổ chức thực hiện cũng như phối hợp giữa các cơ quan được giao nhiệm vụ nghiên cứu, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ bí mật nhà nước, chủ quyền quốc gia, an ninh quốc gia trên không gian mạng.

_________________

Ngày nhận bài: 10-3-2023; Ngày bình duyệt: 12-3-2023; Ngày duyệt đăng: 17-3-2023.

 

Tài liệu tham khảo

1. Theo báo cáo tổng hợp Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ Một số đặc trưngtác động hàm ý chính sách đối với Việt Nam” của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam năm 2017.

2. Nguyễn Đăng Đào: Bảo đảm an toànan ninh thông tin quốc gia trên không gian mạng, Tạp chí Antoàn thông tin, 2018.

3. Thorp, H. Holden. "ChatGPT is fun, but not an author" Science 379.6630 (2023): 313-313.

4. Alan D. Thompson (tháng 2 năm 2023), Báo cáo của Cục Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia (Scholes, Bernanke, MIT),  https://lifearchitect.ai/chatgpt/#timeline.