Thứ Tư, 26 tháng 4, 2023

NGUYỄN ÁI QUỐC VỚI LÊNIN - CUỘC GẶP GỠ LỊCH SỬ!


Bằng 1 trí tuệ và nghị lực phi thường, cùng với khát vọng cháy bỏng tìm đường cứu nước, sau nhiều năm bôn ba học tập, tìm kiếm, Nguyễn Ái Quốc đã đến được Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin. Đó là một cuộc “gặp gỡ” lịch sử. Nó “như một ánh sáng kỳ diệu” đã làm Nguyễn Ái Quốc “cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng”. Sau đó, Người muốn được đến nước Nga, được trực tiếp gặp Lênin. Giữa năm 1923, Bác đã tới Mát-xcơ-va, nhưng lúc đó, Lênin đang ốm nặng; Crúp-xcai-a, người bạn đời thân thiết của Lênin đã tiếp Bác - một đồng chí trẻ đến từ phương Đông xa xôi…
Ngày 22-1-1924, Lênin từ trần, ngày 27-1-1924, Nguyễn Ái Quốc viết bài “Lênin và các dân tộc thuộc địa” đăng trên Báo Sự Thật (Liên Xô) khẳng định: “Lênin bất diệt sẽ sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta”. Trong một bài viết sau đó, Người khẳng định: “Nếu giai cấp vô sản phương Tây coi Lênin là một thủ lĩnh, một lãnh tụ, một người thầy thì các dân tộc phương Đông lại coi Lênin là một người còn vĩ đại hơn nữa, cao quý hơn nữa”. Theo Bác: “Lênin đã đặt tiền đề cho một thời đại mới, thật sự cách mạng trong các nước thuộc địa. Lênin là người đầu tiên đã kiên quyết lên án mọi thành kiến về vấn đề này còn âm ỉ trong đầu óc của nhiều nhà cách mạng Châu Âu và Châu Mỹ”…
Nhưng sau khi Lênin qua đời, những thành kiến nói trên vẫn còn rất nặng nề trong Quốc tế Cộng sản. Thấm dầy thực tiễn và nắm chắc lý luận, năm 1924, tại Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã “mạnh bạo” phát biểu: “… hình như, các đồng chí chưa hoàn toàn thấm nhuần tư tưởng cho rằng vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới và đặc biệt là vận mệnh của giai cấp vô sản ở các nước đi xâm lược thuộc địa gắn chặt với vận mệnh của giai cấp bị áp bức ở các thuộc địa. Vì vậy, tôi sẽ tận dụng mọi cơ hội có được, sẽ gợi ra những vấn đề và nếu cần tôi sẽ thức tỉnh các đồng chí về vấn đề thuộc địa”. Người còn nói: “Cách mạng ở phương Tây muốn thắng lợi thì nó phải liên hệ chặt chẽ với phong trào giải phóng chống chủ nghĩa đế quốc ở các thuộc địa và các nước bị nô dịch và vấn đề dân tộc, như Lênin đã dạy chúng ta”… Ngay từ năm 1921, Bác đã viết trên Tạp chí La Revue Communiste: “Người Châu Á - tuy bị người phương Tây coi là lạc hậu - vẫn hiểu rõ hơn hết sự cần thiết phải cải cách toàn bộ xã hội hiện tại…”. Và dự báo chính xác: cách mạng ở các thuộc địa có thể giành thắng lợi trước “chính quốc”; và với thắng lợi đó nó sẽ “giúp đỡ những người anh em ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”…
Vừa hăng hái hoạt động quốc tế, Người vừa tích cực chuẩn bị thành lập Đảng ta. Bởi theo Người, để làm cách mạng “trước hết phải có đảng cách mệnh... Đảng có vững cách mệnh mới thành công... Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt”. “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”. Kết quả, năm 1930, Đảng ta đã được thành lập. Qua hơn 93 năm, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, nhân dân ta đã lập nên nhiều kỳ tích, cách mạng nước ta giành được những thắng lợi to lớn!
Bác Hồ tổng kết: “Chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi”. Nhưng cái “cẩm nang” đó phải được vận dụng sáng tạo, phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể. Bởi như Lênin đã từng nhắc lại một chỉ dẫn của Ph.Ăngghen: “Học thuyết của chúng tôi không phải là một giáo điều mà là một kim chỉ nam cho hành động”; và nếu quên điều đó “… sẽ làm cho chủ nghĩa Mác trở thành phiến diện, quái dị, chết cứng, sẽ vứt bỏ linh hồn sống của nó, sẽ phá hủy cơ sở lý luận cơ bản của nó - tức là phép biện chứng”. Lênin còn chỉ dạy: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống…”. Lý luận của Mác “… chỉ đề ra những nguyên lý chỉ đạo chung, còn việc áp dụng những nguyên lý ấy thì, xét riêng từng nơi, ở Anh không giống ở Pháp, ở Pháp không giống ở Đức, ở Đức không giống ở Nga”. Nắm chắc chủ nghĩa Lê-nin, Nguyễn Ái Quốc từng yêu cầu Quốc tế Cộng sản phải bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác. Sau này, Người thường khuyên dạy cán bộ không được “giáo điều - kinh viện”; có lần Người nói: “Ta không thể giống Liên Xô… ta có thể đi con đường khác để tiến lên chủ nghĩa xã hội”. Có những trường hợp: “Làm trái với Liên Xô, đó cũng là mácxít”…
Giống như là sự hò hẹn của lịch sử: khi Bảo tàng về Lênin ở Điện Crem-li chính thức mở cửa, vị khách nước ngoài đầu tiên đến thăm là Nguyễn Ái Quốc - bây giờ là Hồ Chí Minh và Người đã viết trong Sổ cảm tưởng: “… Tinh thần Lênin muôn đời bất diệt”.
ST
Có thể là hình ảnh về ‎2 người và ‎văn bản cho biết '‎ح1 CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN TƯ TƯỞNG HÔ CHÍ MINH LÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG KIM CHỈ NAM CHO HÀNH ĐỘNG CỦA ĐẢNG!‎'‎‎

Phê phán những luận điệu phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Một trong những âm mưu của các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam là đưa ra những quan điểm sai trái nhằm phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam. Vì thế, việc nhận diện kịp thời và phê phán có cơ sở khoa học, chỉ rõ mục đích chính trị phản động của các quan điểm sai trái phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam là việc làm cấp thiết trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay. Không ngộ nhận, thờ ơ trước những quan điểm sai trái, phản động Sau khi Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở các nước Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch, phản động cấu kết với các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị đưa ra đủ thứ quan điểm, luận điệu xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Luận điệu chúng thường rêu rao là “Việt Nam lựa chọn con đường đi lên CNXH là một sai lầm lịch sử”, là ‘ảo tưởng”, là “thiên đường bánh vẽ”. Chúng cho rằng, nếu lấy mốc thời gian tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” ra đời thì đến nay, đã gần 200 năm mà CNXH không trở thành hiện thực, bị sụp đổ ngay ở nước Nga-quê hương của V.I.Lênin và Cách mạng Tháng Mười. Một khi CNXH ở Liên Xô và Đông Âu không còn tồn tại thì ở Việt Nam cũng sẽ bị sụp đổ. Một câu hỏi chúng tự đặt ra: “Việt Nam quá độ đi đâu?”, rồi lại tự lèo lái dư luận rằng, Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa (TBCN), lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề; đi lên CNXH phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, chặng đường, có sự đấu tranh giữa “cái cũ và cái mới”, thế nên Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam không bao giờ vượt qua được các chặng đường quá độ gian khổ đó và không thể đi đến cái đích của CNXH . Sau khi Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu phấn đấu đến năm 2045 đưa nước ta trở thành nước phát triển theo định hướng XHCN, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cho rằng, đó chỉ là một thứ “mị dân”. Theo lập luận của chúng, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ có vai trò lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, không đủ khả năng lãnh đạo trong công cuộc phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH), vì “những thành tựu đạt được trong công cuộc đổi mới là do các nước tư bản đầu tư vào, chứ không phải do năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”. Dưới chiêu trò “bình mới rượu cũ”, các luận điệu nêu trên chủ yếu dựa vào một số lý thuyết chống cộng, chủ nghĩa duy vật máy móc, lý thuyết “hội tụ”, lý thuyết “xã hội hậu công nghiệp”, lý thuyết các nền văn minh... nhằm biện minh cho sự tồn tại của chế độ TBCN, phủ nhận tính khách quan của thời kỳ quá độ đi lên CNXH trong thời đại ngày nay. Không dừng lại ở đó, một số luận điệu còn tinh vi đánh tráo khái niệm, lấy hiện tượng để đánh đồng với bản chất, triệt để lợi dụng sự sụp đổ mô hình CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu (trước đây) để lớn tiếng tuyên truyền “CNXH chỉ là ảo tưởng”; trong khi lại cố tình khuếch trương, thổi phồng những thành quả của chủ nghĩa tư bản (CNTB) hiện đại, mà không thấy rõ bản chất bóc lột tinh vi của giai cấp tư sản và những bất công chưa thể giải quyết tận gốc trong lòng xã hội tư bản hiện nay. Mục đích chính trị phản động của các quan điểm sai trái phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam nhằm gây hoang mang, mất niềm tin, ru ngủ tinh thần cảnh giác cách mạng của nhân dân; sâu xa hơn, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận khả năng thắng lợi của con đường quá độ bỏ qua chế độ TBCN đi lên CNXH ở Việt Nam, từng bước chuyển hóa Việt Nam theo quỹ đạo của CNTB. Việt Nam đi theo con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử Lịch sử cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua đã khẳng định một chân lý: Đi theo con đường cách mạng XHCN và đi lên CNXH là phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam, phù hợp với khát vọng của toàn thể nhân dân Việt Nam. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã luận giải khoa học về sự thay thế của những hình thái KT-XH từ thấp đến cao là quá trình lịch sử-tự nhiên, là do vận động của những quy luật KT-XH khách quan. Với quan điểm duy vật biện chứng khoa học, các nhà kinh điển Mác-xít đã chỉ ra hình thái KT-XH cộng sản chủ nghĩa tất yếu ra đời và thay thế hình thái KT-XH TBCN. Nó phải trải qua “một thời kỳ và hai giai đoạn”, đó là thời kỳ quá độ, giai đoạn đầu là CNXH, giai đoạn cao là cộng sản chủ nghĩa. Hình thái KT-XH cộng sản chủ nghĩa sẽ phát triển cao hơn và khác về chất so với hình thái KT-XH TBCN nên phải trải qua quá trình cải biến cách mạng lâu dài; không bao giờ tự phát hình thành mà thông qua vận động của các quy luật về KT-XH, con đường đấu tranh cách mạng để xóa bỏ áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản và xây dựng xã hội mới. Hệ thống lý luận cơ bản đó của Chủ nghĩa Mác-Lênin là cách mạng, khoa học, được vận dụng thành công ở nước Nga từ năm 1917. CNXH từ lý luận trở thành hiện thực, từ một nước phát triển thành hệ thống chính trị thế giới đối lập với hệ thống TBCN trong hơn 7 thập niên. Về thực tiễn, CNXH hiện thực ra đời đã thể hiện tính ưu việt hơn CNTB. Công cuộc xây dựng CNXH ở nước Nga, sau đó là Liên Xô có thời gian chưa dài, nhưng đã giành được nhiều thành tựu to lớn trên mọi lĩnh vực. Sản lượng công nghiệp chiếm 20% tổng sản lượng công nghiệp thế giới; sản lượng điện đạt 440 tỷ kWh (gấp hơn 300 lần so với năm 1913; bằng 4 nước lớn là Anh, Pháp, Đức, Italy cộng lại); dầu mỏ đạt 353 triệu tấn, than 624 triệu tấn, thép 121 triệu tấn (vượt sản lượng của Mỹ). Có thể thấy, trong một thời gian ngắn, CNXH ra đời ở Liên Xô và nhiều nước XHCN tuy chưa hoàn thiện nhưng đã phát triển lớn mạnh về nhiều mặt, khác hẳn về chất so với CNTB. Điều đó cho thấy, CNXH là một hiện thực, hoàn toàn không phải là “giấc mơ”, cũng chẳng phải là “ảo tưởng về một thiên đường” như các thế lực thù địch rêu rao! Sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu (trước đây) chỉ là sự đổ vỡ của một mô hình cụ thể do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, chứ không phải do Chủ nghĩa Mác-Lênin hay lý tưởng về CNXH đã lỗi thời, lạc hậu. Mặc dù CNTB đạt được những thành tựu to lớn nhưng chủ yếu đem lại lợi ích cho giai cấp tư sản mà không vì lợi ích của quảng đại quần chúng nhân dân lao động. Những mâu thuẫn nội tại và đối kháng trong xã hội TBCN chỉ giải quyết bằng con đường tất yếu là cách mạng XHCN. Trong bối cảnh hiện nay, CNTB đã có những thích nghi, phát triển nhất định nhờ tận dụng được những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại, toàn cầu hóa và kinh tế tri thức. Các nước XHCN đang ở giai đoạn khó khăn tạm thời, song theo quy luật phát triển khách quan của lịch sử, CNTB sẽ bị xóa bỏ, chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn đầu là CNXH ưu việt hơn sẽ ra đời, tồn tại và phát triển. Đối với cách mạng Việt Nam, những năm nửa đầu thế kỷ 20, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã có 30 năm bôn ba ở nước ngoài, đến các nước tư bản phát triển, đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm ra con đường cách mạng đúng đắn để giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức, bóc lột, xâm lược và đô hộ của chủ nghĩa thực dân và phong kiến. Người khẳng định, muốn giành lại được độc lập cho dân tộc thì phải tiến hành con đường cách mạng vô sản và xây dựng chế độ XHCN. Từ năm 1930, “Chánh cương vắn tắt” của Ðảng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và được Hội nghị thành lập Ðảng thảo luận, thông qua đã xác định rõ đường lối của cách mạng Việt Nam là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Năm 1991, Đảng đã ban hành “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH”, trong đó chỉ ra 6 đặc trưng cơ bản của chế độ XHCN ở Việt Nam. Đến Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã phát triển sáng tạo thành 8 đặc trưng của CNXH ở Việt Nam, trong đó đặc trưng bao trùm là “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Hơn 90 năm được rèn giũa, tôi luyện, thử thách trong thực tiễn cách mạng sôi động, phong phú, Đảng Cộng sản Việt Nam có bản lĩnh chính trị, có trí tuệ, có khả năng lãnh đạo thành công công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam. Đảng lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc lớn trong thế kỷ 20, thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Khi chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu (trước đây) bị khủng hoảng, sụp đổ thì Đảng ta vẫn kiên định con đường đi lên CNXH, kiên trì đường lối đổi mới, giữ vững nguyên tắc “đổi mới nhưng không đổi màu”. Trải qua gần 40 năm tiến hành đổi mới, Đảng ta lãnh đạo nhân dân ta đã đạt được thành tựu rất to lớn, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và có ý nghĩa lịch sử. Đại hội XIII của Đảng đánh giá khái quát: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay... Tiếp tục khẳng định con đường đi lên CNXH của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại”(1). Trong những chặng đường tới, Đảng ta đã có dự báo khoa học về 4 nguy cơ, những thách thức không nhỏ từ bên ngoài và ở trong nước đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Với phương châm vượt qua thách thức, tận dụng những cơ hội, phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại để thúc đẩy công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam phát triển nhanh và bền vững hơn, Đảng ta đặt ra mốc: “Phấn đấu đến giữa thế kỷ 21, nước ta trở thành một nước phát triển, theo định hướng XHCN”(2) là hoàn toàn có cơ sở khoa học đúng đắn và có tính khả thi. Với trí tuệ, khả năng và kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo cách mạng, được sự ủng hộ của nhân dân thì việc kiên định lựa chọn con đường đi lên CNXH cũng không ngoài mục đích nhân văn cao đẹp là tiếp nối truyền thống, xứng đáng với các thế hệ cha anh đã chiến đấu anh dũng, hy sinh vì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; đồng thời đáp ứng lòng mong đợi và phù hợp với khát vọng, mong muốn của gần 100 triệu người dân Việt Nam./.

Gốc rễ để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng

Để công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng thực sự có hiệu quả, cần xuất phát từ lòng yêu nước chân chính, với niềm tin vào thắng lợi và góp phần tri ân những người đã cống hiến, hy sinh cho độc lập, tự do của Tổ quốc; tuyệt đối tránh hiện tượng chiếu lệ, hình thức, nói không đi đôi với làm. LÒNG YÊU NƯỚC, NIỀM TIN THẮNG LỢI - GỐC RỄ LÂU BỀN TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh, hồn cốt tạo nên những thắng lợi vĩ đại, có ý nghĩa lịch sử của cách mạng Việt Nam bắt nguồn từ ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bởi lẽ, từ nền tảng tư tưởng đó, Đảng ta phát triển, vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, đề ra đường lối phù hợp, đúng đắn; cụ thể hóa trong chính sách, pháp luật của Nhà nước; từng bước đi vào vào quần chúng nhân dân thông qcông tác tư tưởng, biến thành hành động cách mạng thiết thực, hiệu quả, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát: “...Trong mấy mươi năm khi chưa có Đảng, tình hình đen tối như không có đường ra. Từ ngày mới ra đời, Đảng ta liền giương cao ngọn cờ cách mạng, đoàn kết và lãnh đạo toàn dân ta tiến lên đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Màu cờ đỏ của Đảng chói lọi như mặt trời mới mọc, xé tan cái màn đêm đen tối, soi đường dẫn lối cho nhân dân ta vững bước tiến lên con đường thắng lợi”(1). Vậy nên, để tiếp tục giành thắng lợi và bảo vệ vững chắc những thành quả cách mạng, tất yếu phải bảo vệ Đảng. Muốn bảo vệ Đảng, trước hết phải bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, gắn công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng với bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Suy cho cùng, bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ chính là bảo vệ cuộc sống, văn hóa, con người, cốt cách, trí tuệ Việt Nam. Trách nhiệm bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ, bảo vệ thành quả cách mạng không chỉ là việc của cán bộ, đảng viên mà là của mọi tầng lớp nhân dân. Sự thâm độc của các thế lực phản động, thù địch là dùng mọi thủ đoạn tấn công vào “cái gốc”, tức là chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta hòng thủ tiêu vai trò lãnh đạo, triệt tiêu con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Từ đó, chúng xuyên tạc Cương lĩnh chính trị, chủ trương, đường lối của Đảng; phủ nhận vai trò lãnh đạo, công lao, đóng góp của Đảng; đòi đổi tên Đảng, kêu gọi “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”, “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, đòi “thực hiện cạnh tranh chính trị, thiết lập chế độ đa đảng”(2). Cùng với đó là sự xuyên tạc, phủ nhận thắng lợi, thành tựu cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng; khoét sâu sai lầm, khuyết điểm, hạn chế, thiếu sót của Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng; xuyên tạc đoàn kết nội bộ và bôi nhọ thân thế, sự nghiệp, đời tư của lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Do đó, Đảng ta đã xác định, nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân mà tuyên giáo là lực lượng nòng cốt; đồng thời là công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể chính trị - xã hội và của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu(3). Nhiệm vụ cách mạng Việt Nam giai đoạn hiện nay càng đòi hỏi phải bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, vì những lý do sau: 1) xuất phát từ vị trí, vai trò của công tác nay đối với xây dựng Đảng và đối với quá trình xây dựng đất nước; 2) xuất phát từ sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch; 3) xuất phát từ bài học kinh nghiệm của một số nước trên thế giới, đặc biệt là từ sự tan rã, sụp đổ của mô hình XHCN ở Liên Xô và Đông Âu; 4) xuất phát từ thực tế ở trong nước, một bộ phận cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo dức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Song, để công tác này có hiệu quả, cần xuất phát từ trái tim yêu nước, có niềm tin chiến thắng, với trách nhiệm bảo vệ giống nòi, giang sơn gấm vóc Việt Nam, chứ không phải bằng mệnh lệnh, gượng ép, đối phó. Một khi cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu được như vậy, tích cực hành động bằng trái tim tin tưởng, trách nhiệm, nhiệt huyết, chắc chắn nền tảng tư tưởng của Đảng luôn được bảo vệ vững chắc. Rọi chiếu vào lịch sử cách mạng Việt Nam, toát lên chân lý: muốn có chiến thắng, tất yếu phải có niềm tin vào chiến thắng và khi đó mới có sự đồng tâm hợp lực hành động muôn người như một, cống hiến, hy sinh bằng chính sự “chỉ đường dẫn lối” của trái tim yêu nước chân chính. Chính niềm tin của cán bộ, đảng viên, nhân dân vào sự nghiệp chính nghĩa của dân tộc, vào sự lãnh đạo sáng suốt, tài trí của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh là cội nguồn sức mạnh bao trùm, kết nối không gian, vượt qua thời gian, tạo sự bền bỉ, kiên cường, khắc phục mọi khó khăn, thử thách, làm nên thắng lợi vĩ đại. Chính nhờ có niềm tin đã tạo nên những trái tim nhiệt huyết, thôi thúc bản lĩnh, bất chấp hy sinh, gian khổ để xông pha vào các cuộc trường chinh ròng rã gần 100 năm chống ách thống trị của thực dân Pháp, phát xít Nhật và can thiệp của Mỹ; 21 năm chống ách thống trị thực dân kiểu mới và chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ cùng bè lũ tay sai. Niềm tin ấy chính là cội nguồn sức mạnh bất diệt, nguồn cảm hứng, động viên lớp lớp thanh niên lên đường bảo vệ Tổ quốc với tinh thần “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”(4). Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là chiến thắng của trí tuệ, bản lĩnh, niềm tin sắt đá vào thắng lợi của sự nghiệp toàn dân kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Chính sức mạnh của niềm tin đã chiến thắng sức mạnh của vũ khí, đô la của kẻ thù. Nhà báo Duylơrannút từng viết: “Trong thế kỳ XX, chính vật chất là sức mạnh của thời đại. Thời đại có nhiều tên gọi: Thời đại năng lượng nguyên tử, thời đại phản lực, thời đại điều khiển học, thời đại chinh phục vũ trụ, thời đại thông tin hóa. Dù đặt tên cho thiết bị nào thì người Mỹ đều có và người Việt Nam đều không có. Sức mạnh duy nhất của người Việt Nam lúc đó là sức mạnh của con người, của niềm tin chiến thắng”(5). Niềm tin vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là tâm điểm tập hợp, gắn kết cả dân tộc thành một khối thống nhất. Niềm tin này cũng thức tỉnh nhân loại yêu chuộng hòa bình và công lý luôn sát cánh, ủng hộ chính nghĩa của dân tộc Việt Nam. Trong công cuộc bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng hôm nay, luôn cần có và phải có niềm tin ở cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là những người trong bộ máy trực tiếp làm công tác này (Nhóm chuyên gia, Ban Chỉ đạo, Tổ Thư ký giúp việc, Cộng tác viên...). Mỗi khi chúng ta có niềm tin vào thắng lợi, ắt sẽ có cách thức tiến hành để đạt đích thắng lợi. Một khi có niềm tin và trái tim yêu nước chân chính thì lập trường sẽ không dao động, tâm không gợn sóng, hành động không gượng gạo, không chạy theo phong trào và thành tích, càng không vì đối phó, hình thức, mệnh lệnh. Đó chính là gốc rễ đem lại kết quả tích cực, lâu bền trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng TRI ÂN - MỘT TRÁCH NHIỆM TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG Sự nghiệp cách mạng Việt Nam đã để lại nhiều tấm gương chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì ấm no, hạnh phúc của nhân dân, trở thành bài học, nêu gương cho các thế hệ người Việt. Từ những ngày Đảng mới thành lập, các đảng viên nhiệt huyết cách mạng cùng với nhân dân vượt qua gian khó, luôn tin tưởng vào thắng lợi ở ngày mai; không chỉ tin vào chiến thắng ngoại xâm mà cái đích cao cả là niềm tin và chiến đấu cho lý tưởng cộng sản - thực hiện khát vọng công bằng, bình đẳng, nhân văn. Những tấm gương chiến đấu, hy sinh của Tổng Bí thư Trần Phú, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ; các đồng chí Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Văn Tần, Hoàng Văn Thụ, Võ Thị Sáu, Lý Tự Trọng, Trần Văn Ơn, Nguyễn Văn Trỗi... luôn soi sáng lý tưởng cách mạng cho hậu thế, đặc biệt là đối với cán bộ, đảng viên giai đoạn hiện nay tự soi mình, rèn mình, sửa mình, phấn đấu phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Trong khi phần đông ra sức tu dưỡng, rèn luyện, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, góp sức xây dựng Đảng, đổi mới đất nước thì một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, tha hóa, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thậm chí có người quay lưng hại Đảng, phản bội nhân dân, phỉ báng quá khứ, làm nhục quốc thể. Lại có những cán bộ, đảng viên vun vén tư lợi, chạy chức, chạy quyền vì mục đích trục lợi cá nhân; có biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền với cấp dưới, với đồng nghiệp và nhân dân... Những hành động đó làm ảnh hưởng đến uy tín, thanh danh của Đảng; ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân với Đảng và chế độ; làm tổn hại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN mà nhiều thế hệ cán bộ, đảng viên, nhân dân dày công gây dựng, vun đắp. Để có độc lập, tự do của Tổ quốc và cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân hôm nay, đã có bao lớp tiền bối xông pha, cống hiến, chiến đấu, hy sinh. Lịch sử cách mạng Việt Nam được bồi đắp, tô thắm bởi những chiến công và sự hy sinh của các bậc tiền nhân, trong đó có những cán bộ, đảng viên. Pho sử bằng vàng đó thể hiện phong phú, sinh động cuộc đấu tranh anh dũng, kiên cường, bất khuất của nhân dân ta. Những giá trị đó thẩm thấu trong tiến trình lịch sử Đảng, trở thành chân lý, niềm tin, tự hào, lòng biết ơn của nhân dân đối với Đảng, của hậu thế đối với tiền nhân. Do vậy, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, không đơn thuần là bảo vệ cho hiện tại mà còn là bảo vệ thành quả của quá khứ và tạo sự vững bền ở tương lai. Bởi lẽ, “Ăn quả phải nhớ người trồng cây. Trong cuộc tưng bừng vui vẻ hôm nay, chúng ta phải nhớ đến những anh hùng, liệt sĩ của Đảng ta, của dân ta... Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ và chúng ta phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sĩ để vượt tất cả mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sĩ đã chuyển lại cho chúng ta”(6). Từ đó, những lúc bản thân phải gánh vác nhiều công việc, có thể chịu mệt nhọc hơn, hoặc thiệt thòi trong cất nhắc, đề bạt, bổ nhiệm; hoặc bị non kém hơn về quyền lợi, bổng lộc thì vẫn vui vẻ, với tâm niệm đóng góp của bản thân chưa xứng đáng với những đồng chí đã cống hiến, hy sinh. Nếu gặp nghịch cảnh nào đó của thực tế, bản thân có thể chạnh lòng, nhưng không được phép hụt hẫng, nhụt ý chí phấn đấu, mà cần có suy nghĩ tích cực, vượt qua để góp phần tri ân những người đã chiến đấu, hy sinh cho độc lập, tự do của Tổ quốc, vì ấm no, hạnh phúc của nhân dân; luôn xác định làm việc là vì trách nhiệm tri ân, chứ không phải vì để được tôn vinh thành tích cá nhân. Theo đó, tích cực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cũng là một cách thức góp phần trả ơn người đã cống hiến, hy sinh vì sự nghiệp cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trái tim nhiệt huyết, niềm tin vững chắc và lòng tri ân chân thành, sâu sắc chính là gốc rễ quan trọng, góp phần quyết định, đem lại kết quả tích cực trong cuộc đấu tranh bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay. Đó cũng là tiền đề, điều kiện tiên quyết, cơ sở để thực hiện “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”(7) theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng, để “xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội”(8)./.

Đảng là một ngôi sao sáng, sáng nhất trong muôn vì sao

 


Lễ tổng kết và trao giải Cuộc thi viết “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới” lần thứ hai, năm 2022-2023; phát động Cuộc thi viết “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới” lần thứ ba, năm 2023-2024 bắt đầu lúc 20 giờ 00 phút ngày 26-4 tại Nhà hát Lớn Hà Nội.

HÀNH TRÌNH THEO CHÂN BÁC HỒ

“Tự phê bình và phê bình là thứ v.ũ k.hí giúp cho quân đội ta trở nên quân đội tất thắng”.

Cách đây 77 năm, ngày 26-4-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thông báo với Hội đồng Chính phủ về cuộc tiếp xúc với tướng Juin, Tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp. Juin lúc này vừa từ Trung Quốc đến Việt Nam nhằm tiếp tục gây sức ép buộc quân đội Trung Hoa Quốc dân đảng phải nhanh chóng rút quân và trao lại quyền kiểm soát cho Pháp ở Hà Nội. Dịp này, Bác cũng thông tin về tình hình đoàn Quốc hội ta mới đến Pháp và cuộc Hội nghị trù bị vừa bắt đầu ở Đà Lạt. 

Ngày 26-4-1951, Bác đến dự Hội nghị kiểm thảo Chiến dịch Hoàng Hoa Thám, một chiến dịch quân sự diễn ra dọc đường 18 (Phả Lại - Uông Bí) đạt hiệu quả không cao. Bác nhắc nhở: “Tự phê bình và phê bình để thống nhất tư tưởng. Tư tưởng có thống nhất, hành động mới thống nhất. Tư tưởng và hành động có thống nhất mới đánh thắng được giặc... Cán bộ không có đội viên, lãnh tụ không có quần chúng thì không làm gì được. Từ tiểu đội trưởng trở lên, từ tổng tư lệnh trở xuống phải săn sóc đời sống vật chất và tinh thần của đội viên... Bộ đội chưa ăn cơm, cán bộ không được kêu mình đói. Bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Bộ đội chưa đủ chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt. Thế mới dân chủ, mới đoàn kết, mới tất thắng...

Mình đánh giặc là vì dân. Nhưng mình không phải là “cứu tinh” của dân mà mình có trách nhiệm phụng sự nhân dân... Mỗi quân nhân phải là một cán bộ tuyên truyền bằng việc làm của quân đội... Dân như nước, quân như cá. Phải làm cho dân hết sức giúp đỡ mình thì mình mới đánh thắng giặc được... Tự phê bình và phê bình là thứ v.ũ k.hí giúp cho quân đội ta trở nên quân đội tất thắng”.

Trước đó, khi cùng Bộ Chính trị nghe Đại tướng Võ Nguyên Giáp trình bày kế hoạch kiểm thảo và tự phê bình về Chiến dịch Hoàng Hoa Thám, Bác căn dặn: “Tự phê bình là cần, nhưng tự phê bình phải tăng cường đoàn kết, rút ra được bài học kinh nghiệm, xây dựng được lòng tin vào chiến dịch sau”.

Tháng 4-1952, Bác đến thăm và giải đáp thắc mắc cho cán bộ lớp đảng ủy, liên chi về vấn đề quan hệ trong và ngoài Đảng. Kết luận, Bác nhắc nhở: “Đảng viên lập trường phải vững. Lập trường giúp thành tâm, thành ý phục vụ nhân dân, phục vụ kháng chiến. Tư tưởng trong sạch, tất cả đều giải quyết được, đó là chìa khóa”.

Ngày 26-4-1960, nhận được bức thư của một nữ công dân Liên Xô, chị Ekaterina Iosipdovna, chúc mừng ngày Quốc tế Phụ nữ 8-3 gửi tới “vợ đồng chí Hồ Chí Minh”, Bác đã thân mật viết thư cảm ơn, trong đó có đoạn: “Tôi chưa có gia đình riêng. Gia đình của tôi là đại gia đình các dân tộc Việt Nam”.

Ngày 26-4-1962, nhân dự phiên bế mạc kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa II, Bác gặp đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Hà Giang nhờ chuyển lụa tặng tới cụ Thào Mì Chúa, người H’Mông thọ tới 150 tuổi.

Ngày 26-4-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh họp Bộ Chính trị bàn về Đại hội tuyên dương anh hùng chiến sĩ thi đua và bàn về cách đ.ánh Mỹ, đã đưa ra quan điểm: “Trong cuộc chiến này, Mỹ sẽ bị thua thiệt nhiều và phải rút hết quân, ta sẵn sàng cho họ rút có thể "

Hà Hồng Hải lớp NCS30A

Chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác giáo dục lý luận chính trị và việc vận dụng trong tình hình mới.

  Công tác giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên là một nội dung quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và đào tạo cán bộ. Trong đó, Người đã chỉ dẫn rất cụ thể về mục đích, nội dung, phương pháp, tổ chức quản lý việc giáo dục lý luận chính trị … Trong điều kiện mới, Đảng ta tiếp tục quán triệt, vận dụng sáng tạo những chỉ dẫn quý báu đó của Người trong công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên.

Chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác giáo dục lý luận chính trị và việc vận dụng trong tình hình mới

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm lớp học chính trị của giáo viên cấp II, cấp III toàn miền Bắc, ngày 13-9-1958 - Ảnh tư liệu TTXVN

Chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác giáo dục lý luận chính trị

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định vai trò quan trọng của lý luận cách mạng đối với phong trào cách mạng và ví nó như “kim chỉ nam”, “ngọn đuốc” soi đường thắng lợi cho sự nghiệp cách mạng. Việc Người chú trọng công tác giáo dục lý luận chính trị không chỉ do vai trò của lý luận đối với sự nghiệp cách mạng, mà còn do Người rất thấu hiểu thực trạng trình độ lýluận chính trị của cán bộ, đảng viên cùng với căn bệnh “kém lý luận, hoặc khinh lýluận, hoặc lý luận suông” trong Đảng ta. Khẳng định “không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”(1), do vậy, giáo dục lý luận được Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định là công việc cực kỳ quan trọng trong công tác xây dựng Đảng nói chung, công tác tư tưởng và công tác cán bộ của Đảng nói riêng.

Về mục đích của giáo dục lý luận chính trị

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc giáo dục lý luận chính trị là nhằm từng bước đưa lý luận vào thực tiễn, đào tạo đội ngũ cán bộ cách mạng có trình độ lý luận tốt để làm việc, làm người, làm cán bộNgười xác định rõ, giáo dục lý luận chính trị để giúp cán bộ, đảng viên có thế giới quan khoa học và nhân sinh quan cách mạng, phương pháp luận đúng đắn, có niềm tin vững chắc vào lý tưởng của Đảng, đồng thời nâng cao năng lực lãnh đạo và hiệu quả hoạt động thực tiễn. Tháng 9-1949, trong dịp đến thăm Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ghi vào cuốn Sổ vàng truyền thống của nhà trường lời dạy về mục đích, nội dung của việc học lý luận: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự Đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại. Muốn đạt mục đích thì phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”(2).

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, học tập nâng cao trình độ lý luận còn là yếu tố quan trọng khắc phục những sai lầm, khuyết điểm đối với hoạt động lãnh đạo, quản lý của cán bộ, đảng viên khi triển khai các nhiệm vụ cách mạng ở mỗi thời kỳ. Người viết: “vì trình độ lý luận thấp kém cho nên đứng trước nhiệm vụ cách mạng ngày càng mới và phức tạp, trong việc lãnh đạo, Đảng ta không khỏi lúng túng, không tránh khỏi sai lầm, khuyết điểm, ví dụ như chúng ta đã phạm những sai lầm trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức, hoặc những khuyết điểm trong việc lãnh đạo kinh tế”(3). Bởi thế, “Đảng ta tổ chức trường học lý luận cho cán bộ là để nâng cao trình độ lý luận của Đảng ta đặng giải quyết sự đòi hỏi của nhiệm vụ cách mạng và tình hình thực tế của Đảng ta, để Đảng ta có thể làm tốt hơn công tác của mình, hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ cách mạng vĩ đại của mình”(4).

Về phương châm giáo dục lý luận chính trị phải kết hợp lý luận với thực tiễn

Người coi đây là điều cốt lõi trong giáo dục và học tập lý luận, là một nguyên tắc của lý luận Mác - Lênin: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không có liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”(5). Theo Người, việc gắn lý luận với thực tiễn không chỉ xuất phát từ mục tiêu giáo dục, huấn luyện cán bộ, đảng viên, mà điều quan trọng là học tập lý luận Mác - Lênin còn để nâng cao, củng cố đạo đức cách mạng, giữ vững lập trường, quan điểm để cán bộ, đảng viên làm tốt nhiệm vụ Đảng giao cho. Sự thống nhất giữa lý luận với thực tiễn còn là cơ sở để khắc phục bệnh giáo điều và đề phòng chủ nghĩa xét lại.

Về nội dung giảng dạy, huấn luyện lý luận chính trị

Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn phải lựa chọn những kiến thức cơ bản, cần thiết nhất, không thể thiếu, đồng thời phải phù hợp với trình độ, yêu cầu của người học: “những tài liệu huấn luyện phải nhằm vào sự cần dùng, cần thiết của quần chúng. Phải hỏi: người đến chịu huấn luyện rồi, có áp dụng được ngay không? Có thực hành được ngay không?” (6).

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nội dung giảng dạy, học tập lý luận của cán bộ, đảng viên phải nhằm đạt được những mục đích của việc chỉnh đốn Đảng:

“- Lập trường giai cấp vô sản phải vững chắc.

- Phải làm đúng chính sách của Đảng và của Chính phủ, và theo đúng đường lối quần chúng trong mọi việc.

- Phải triệt để chống bệnh quan liêu, hình thức, tham ô, lãng phí.

- Phải thật sự thi hành dân chủ trong Đảng và trong quần chúng.

- Phải thật thà tự phê bình và phê bình, phải học tập chủ nghĩa Mác - Lênin và thấm nhuần chính sách của Đảng để luôn luôn tiến bộ.

- Thái độ học tập phải nghiêm chỉnh, tự kiểm thảo phải thật thà” (7).

Về phương pháp giảng dạy và học tập

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao tính độc lập, tự chủ, sáng tạo của người học; phát huy sự chủ động của người học trong lĩnh hội kiến thức. Theo Người, trong giảng dạy phải chú trọng “lấy tự học làm cốt”. Giáo dục lý luận là một quá trình, đòi hỏi tính kiên trì của người học, từ đó người học chủ động biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo; phải trên cơ sở tuân thủ nguyên tắc tự nguyện, tự giác, chứ không nên gò bó.

Về xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác huấn luyện lý luận chính trị

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, giảng viên lý luận phải hội tụ đầy đủ những phẩm chất, yêu cầu của một chiến sĩ cách mạng, một nhà giáo dục, nhà khoa học, người cán bộ tuyên truyền có kiến thức toàn diện, có chuyên môn sâu, có phương pháp giảng dạy phù hợp, hiệu quả... Người nêu những yêu cầu cụ thể đối với người huấn luyện: “Muốn huấn luyện thợ rèn, thợ nguội thì người huấn luyện phải thạo nghề rèn, nghề nguội. Người huấn luyện của Đoàn thể phải làm kiểu mẫu về mọi mặt: tư tưởng, đạo đức, lối làm việc. Người huấn luyện phải học thêm mãi thì mới làm được công việc của mình… Người huấn luyện nào tự cho mình đã biết đủ cả rồi thì người đó dốt nhất”(8).

Việc thường xuyên rèn luyện phẩm chất cách mạng, nâng cao năng lực, nắm vững lý luận gắn với thực tiễn của đội ngũ làm công tác giáo dục lý luận chính trị luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm. Trong Diễn văn khai mạc lớp lý luận khóa I trường Nguyễn Ái Quốc ngày 07-9-1957, Người nhấn mạnh: “Trường Đảng là một trường học để đào tạo những chiến sĩ tiên tiến phấn đấu cho sự nghiệp của giai cấp vô sản. Các đồng chí đều là những cán bộ cốt cán của Đảng. Việc học tập lý luận của các đồng chí không phải nhằm biến các đồng chí thành những người lý luận suông mà nhằm làm thế nào cho công tác của các đồng chí tốt hơn, nghĩa là các đồng chí phải học tập tinh thần của chủ nghĩa Mác - Lênin, học tập lập trường quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng ta”(9). Đây chính là luận điểm lớn được rút ra từ chính thực tiễn cuộc đời hoạt động cách mạng của Người.  

Về công tác tổ chức, quản lý giáo dục lý luận

Trước những nhiệm vụ cách mạng của mỗi giai đoạn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều định hướng việc tổ chức các mô hình giảng dạy và học tập lý luận phù hợp. Sau năm 1945, trong điều kiện chính quyền đã về tay nhân dân, Người trực tiếp chỉ đạo việc xây dựng các mô hình đào tạo lý luận chính trị theo cấp học, bậc học cho phù hợp đặc điểm đối tượng, yêu cầu đào tạo cán bộ và với phương pháp giảng dạy có hiệu quả để phục vụ sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc.

Người chỉ rõ: “Tổ chức từng ban cao cấp hoặc trung cấp. Lấy tự học làm cốt. Do thảo luận và chỉ đạo giúp vào”(10). Trước yêu cầu đào tạo cán bộ phục vụ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đang bước vào giai đoạn quyết liệt, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thành lập Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương, hình thành hệ thống các trường chính trị trên phạm vi cả nước. Trong suốt thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, hệ thống các trường chính trị đã có những đóng góp tích cực đối với việc đào tạo đội ngũ cán bộ phục vụ cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc.

Vận dụng những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác giáo dục lý luận chính trị trong tình hình mới

Nhận thức rõ vị trí, tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị đáp ứng yêu cầu công cuộc đổi mới đất nước, Đảng đã đề ra nhiệm vụ đổi mới căn bản công tác giáo dục lý luận chính trị. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục chỉ rõ nhiệm vụ “Đổi mới căn bản chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục lý luận chính trị theo phương châm khoa học, thực tiễn, sáng tạo và hiện đại; đưa việc bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp chiến lược đi vào nền nếp, nhất quán từ Trung ương đến cơ sở, phù hợp với từng đối tượng, chú trọng chất lượng, hiệu quả, siết chặtkỷ luật, kỷ cương”(11).

Trong thời gian qua, công tác giáo dục lý luận chính trị được đẩy mạnh, đã góp phần quan trọng trong việc trang bị cho cán bộ, đảng viên và nhân dân những kiến thức, nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, nhất là những tri thức lý luận cơ bản cho cán bộ, đảng viên. Hoạt động này giúp cán bộ, đảng viên nâng cao hơn trình độ lý luận chính trị, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị, củng cố lập trường, quan điểm, thống nhất ý chí và hành động trong việc thực hiện thắng lợi nghị quyết của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.

Các cấp ủy, tổ chức đảng đã thường xuyên tổ chức bồi dưỡng, cập nhật thông tin, kiến thức mới. Việc tổ chức học tập nghị quyết tiếp tục được đổi mới theo hình thức kết hợp cả trực tiếp và trực tuyến, bảo đảm chất lượng, kịp thời, tiết kiệm.

Hệ thống các học viện chính trị của Đảng, của Quân đội, Công an, các trường chính trị, trung tâm chính trị cấp huyện được đầu tư phát triển, tăng cường phối hợp trong công tác. Các chương trình đào tạo, bồi dưỡng; giáo trình giảng dạy lý luận chính trị được cập nhật, biên soạn theo hướng gắn kết giữa lý luận với thực tiễn. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã chủ động và có nhiều đổi mới, nâng cao chất lượng về chương trình, giáo trình giảng dạy, cập nhật kiến thức mới về lý luận chính trị. Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp với Ban Cán sự đảng Bộ Giáo dục và Đào tạo hoàn thành 05 chương trình, giáo trình giảng dạy các môn lý luận chính trị (Triết học Mác - Lênin, Kinh tế chính trị, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam) dành cho cả khối chuyên ngành và không chuyên ngành về các môn lý luận chính trị trong hệ thống đào tạo đại học; phối hợp với Ban cán sự đảng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội xây dựng mới chương trình giáo dục chính trị trong các trường cao đẳng, trung cấp nghề của hệ thống giáo dục quốc dân để đưa vào giảng dạy chính thức từ năm học 2019 - 2020 theo tinh thần Kết luận số 94-KL/TW ngày 28-3-2014 của Ban Bí thư “Về tiếp tục đổi mới việc học tập lý luận chính trị trong hệ thống giáo dục quốc dân”.

Chất lượng giảng dạy và học tập lý luận chính trị được nâng lên. Phương pháp giảng dạy lý luận chính trị tiếp tục được đổi mới theo hướng phát huy tính tích cực, chú trọng trao đổi, thảo luận, làm việc nhóm. Việc quản lý,đánh giá chất lượng giảng dạy vàhọc tập lý luận chính trị ngày càng nền nếp, chặt chẽ. Công tác quản lý học viên được quan tâm hơn. Việc kiểm tra, chấm điểm, đánh giá, xếp loại sát hơn, thực chất hơn, phát huy sự sáng tạo, gắn lý luận với thực tiễn. Đội ngũ giảng viên các học viện, trường chính trị, giảng viên giảng dạy các môn lý luận chính trị trong hệ thống giáo dục quốc dân không ngừng được củng cố, nâng cao chất lượng, cơ bản đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ.

Tuy vậy, việc đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy và học tập lý luận chính trị chưa đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Một số nội dung còn nặng về lý thuyết, trùng lặp, bất cập. Vẫn còn hiện tượng học đối phó, không thực chất trong cán bộ, đảng viên. Việc đổi mới học tập lý luận chính trị trong hệ thống giáo dục quốc dân tuy đạt kết quả bước đầu, nhưng vẫn chậm so với yêu cầu, chẳng hạn  chương trình, giáo trình các môn lý luận chính trị trong các trường đại học đã ban hành từ tháng 7 - 2019, nhưng đến tháng 7 - 2021 mới in xong bộ sách này.

Tuân thủ các chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác giáo dục lý luận chính trị và để góp phần khắc phục những hạn chế trên, cần thực hiện một số nội dung sau:

Một là, nghiên cứu một cách nghiêm túc, sâu sắc những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác giáo dục lý luận chính trị. Tư tưởng Hồ Chí Minh về huấn luyện cán bộ, về giáo dục lý luận chính trị là hệ thống những quan điểm, những kinh nghiệm của Người trong quá trình lãnh đạo xây dựng nền giáo dục cách mạng và xây dựng đội ngũ cán bộ nước ta. Đây là vấn đề lớn, nên cần được nghiên cứu sâu sắc, rút ra những giá trị định hướng đối với công tác giáo dục lý luận chính trị, làm cơ sở cho việc vận dụng. Trên nền tảng những giá trị tư tưởng đó, gắn với quan điểm, chủ trương mới của Đảng về công tác giáo dục lý luận để hình thành những chương trình, nội dung, phương pháp giảng dạy - học tập và quản lý đào tạo của hệ thống các trường chính trị, trường đại học, cao đẳng ở nước ta hiện nay.

Hai là, vận dụng sáng tạo những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác giáo dục lý luận chính trị trong xác định mục tiêu, xây dựng khung chương trình, nội dung, phương pháp giảng dạy và công tác quản lý đào tạo. Vận dụng sáng tạo những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cần chú trọng đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy - học và công tác quản lý đào tạo một cách đồng bộ, bám sát thực tiễn, theo quy trình hợp lý, khắc phục những bất cập hiện nay. Cần tạo bước đột phá trong việc xây dựng, đổi mới các chương trình giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên theo phương châm lý luận gắn với thực tiễn, phát huy tính tích cực của người học. Tăng cường nội dung bồi dưỡng nghiệp vụ công tác, xử lý các tình huống nảy sinh trong thực tiễn.

Ba là, tăng cường công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị có chất lượng cao, bảo đảm có phẩm chất, có kiến thức, kinh nghiệm thực tiễn, có phương pháp giảng dạy phù hợp, tâm huyết với nghề. Thường xuyên tổ chức hội thi giảng viên lý luận chính trị giỏi các cấp.Có cơ chế luân chuyển, điều động cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các bộ, ngành, địa phương có trình độ lý luận chính trị, kinh nghiệm thực tiễn, có khả năng làm công tác nghiên cứu giảng dạy lý luận chính trị về công tác tại các cơ quan nghiên cứu lý luận, hệ thống các học viện, nhà trường, các trường chính trị, trung tâm chính trị cấp huyện.

Bốn là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện, khắc phục những hạn chế, khuyết điểm trong toàn bộ hoạt động đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị; biểu dương, nhân rộng những mô hình, điển hình tiên tiến, phát huy tinh thần tự học, tự rèn của mỗi cán bộ, đảng viên; khắc phục tình trạng ngại học tập lý luận chính trị của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Tích cực, chủ động đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch làm thất bại âm mưu, hoạt động chống phá, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.

Năm là, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật và kinh phí bảo đảm cho hoạt động dạy và học lý luận chính trị. Tăng cường đầu tư, chuẩn hóa, xây dựng hệ thống các trường chính trị, trung tâm chính trị cấp huyện phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số quốc gia, quản trị thông minh theo xu thế của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

_________________

Ngày nhận bài: 15-2-2022; Ngày bình duyệt: 30-02-2023; Ngày duyệt đăng: 20-3-2023.

 

(1), (6), (10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.274, 288, 312.

 (2), (8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.6, Sđd, tr. 208, 356.

 (3), (4), (5), (9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.11, Sđd, tr. 91, 90, 95, 95.

(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.8, Sđd, tr. 380.

(11) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.182-183.


Xây dựng đội ngũ giảng viên, nâng cao chất lượng giảng dạy lý luận chính trị trong bối cảnh chuyển đổi số.

 Trước sự tác động đa chiều của quá trình chuyển đổi số, công tác giảng dạy lý luận chính trị đặt ra những yêu cầu mới về năng lực, trình độ, phẩm chất, kỹ năng… cho mỗi giảng viên để thích ứng với những biến đổi mới. Bài viết làm rõ tầm quan trọng và thực trạng chất lượng giảng dạy lý luận chính trị, tác động của chuyển đổi số đến giảng viên, qua đó đề xuất một số giải pháp xây dựng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.   

Xây dựng đội ngũ giảng viên, nâng cao chất lượng giảng dạy lý luận chính trị trong bối cảnh chuyển đổi số

Quá trình chuyển đổi số đem lại nhiều điều kiện thuận lợi cho giảng viên lý luận chính trị, đặc biệt trong thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng hiện đại - Ảnh: IT

Chúng ta đang bước vào kỷ nguyên số với sự biến đổi to lớn trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, thể hiện vai trò đặc biệt của công nghệ số trong toàn bộ chu trình: Công nghệ số - sản xuất - con người - quan hệ xã hội - môi trường; công nghệ số trở thành nhân tố quan trọng trong lực lượng sản xuất. Để xây dựng và phát triển kinh tế số, xã hội số, thì chuyển đổi số trở thành yêu cầu tất yếu. 

Chuyển đổi số là phương thức ứng dụng công nghệ số vào các mô hình và hoạt động của nhà nước, các ngành kinh tế, văn hóa, các doanh nghiệp và đời sống của người dân nhằm tối ưu hóa trong việc sử dụng các nguồn lực để tạo ra năng lực mới, bước phát triển mới. Trong giai đoạn này, hoạt động giáo dục, đào tạo nói chung và giáo dục lý luận chính trị (LLCT) nói riêng, đang đứng trước những thời cơ và thách thức mới. Trước sự tác động đa chiều của quá trình chuyển đổi số, công tác giảng dạy LLCT đặt ra những yêu cầu mới về năng lực, trình độ, phẩm chất, kỹ năng… cho mỗi giảng viên để thích ứng với những biến đổi mới của chuyển đổi số đối với sự phát triển xã hội.

1. Giảng viên và việc giảng dạy lý luận chính trị trong thời kỳ chuyển đổi số

Giảng dạy LLCT tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trường cán bộ của các bộ, ngành, đoàn thể Trung ương, các trường đại học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn là quá trình truyền thụ, lĩnh hội tri thức chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng ta về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Thông qua giảng dạy LLCT, trang bị một cách cơ bản, hệ thống những tri thức lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối cách mạng của Đảng cho người học; hình thành thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cách mạng và phương pháp luận khoa học, định hướng các giá trị và phát triển nhân cách của người học, giúp họ có được nhận thức và hành động đúng đắn. 

Đội ngũ giảng viên LLCT là một bộ phận quan trọng của giới nghiên cứu, giảng dạy, tuyên truyền lý luận Việt Nam, đã và đang tích cực tham gia nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; góp phần thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. 

Việc xây dựng đội ngũ giảng viên LLCT trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay sẽ góp phần nâng cao năng lực, trình độ của lực lượng tham gia nghiên cứu, tư vấn chính sách cho Đảng, Nhà nước. Giảng viên LLCT là lực lượng nòng cốt trong đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong cán bộ, đảng viên của hệ thống chính trị và toàn xã hội.

Trong chuyển đổi số, giảng viên LLCT không chỉ là người thày truyền đạt những tri thức LLCT cho người học, mà còn là nhà hoạt động chính trị cả trực tiếp và gián tiếp thông qua việc cung cấp và phổ biến những quan điểm, đánh giá, nhận xét về các vấn đề LLCT và các hoạt động, lĩnh vực xã hội. Đồng thời, là chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng của Đảng, cung cấp thông tin và phản hồi diễn biến tình hình tư tưởng chính trị trong xã hội, trong nhân dân đến Đảng và từ Đảng đến nhân dân. Họ còn góp phần tham gia vào công tác lý luận chính trị của Đảng thông qua việc công bố các bài viết, các công trình nghiên cứu khoa học,... Do đó, bên cạnh các yêu cầu về tri thức chuyên môn và kỹ năng giảng dạy, giảng viên LLCT còn cần có những phẩm chất và năng lực đặc thù để đáp ứng những yêu cầu ngày càng khắt khe và đa dạng, phong phú của thực tiễn quá trình giảng dạy trong bối cảnh đất nước hội nhập ngày càng sâu rộng.

2. Những tác động của chuyển đổi số đến giảng dạy lý luận chính trị

-       Những tác động tích cực

Quá trình chuyển đổi số đã và đang đem lại nhiều điều kiện thuận lợi cho giảng viên LLCT, đặc biệt trong thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng hiện đại. Sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ đã tạo ra một môi trường thông tin đa dạng, đa chiều trên internet, mạng xã hội, hỗ trợ đắc lực cho việc học tập của học viên và hoạt động chuyên môn của giảng viên LLCT. Trước đây, việc tìm kiếm, thu thập, xử lý thông tin phục vụ giảng dạy, nghiên cứu của giảng viên mất rất nhiều thời gian, công sức, thì hiện nay với công nghệ thông tin, internet, họ có thể thực hiện công việc đó một cách dễ dàng, thuận lợi, nhanh chóng. Nhất là gần đây, OpenAI - một tổ chức nghiên cứu trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI) ở California (Mỹ) do tỷ phú Elon Musk đồng sáng lập cùng với các nhà đầu tư khác tại Thung lũng Silicon, cho ra đời công nghệ ChatGPT, theo đó ChatGPT chỉ mất 60 phút để hoàn thành việc soạn một giáo án mà trước đây phải mất 2 ngày(1).

Giảng viên có nhiều lựa chọn đối với các phương tiện kỹ thuật phù hợp, sử dụng được nhiều phần mềm dạy học hiện đại cùng với mô hình phòng học đa phương tiện, làm cho bài giảng trở nên sinh động, hấp dẫn hơn. Các bài giảng có thể sử dụng các ứng dụng công nghệ 3D, minh họa nội dung bài giảng thông qua các video, hình ảnh,... trên cơ sở đồng bộ hóa với các trang thiết bị hiện đại như: bảng cảm ứng, máy tính, máy chiếu, âm thanh, internet,.. trong lớp học. Những tiện ích đó giúp giảng viên LLCT, nhất là đội ngũ giảng viên trẻ tìm hiểu, sử dụng tài nguyên số để nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy. Sự chuyển biến theo hướng hiện đại này khác hoàn toàn với mô hình giảng dạy LLCT “thầy đọc, trò ghi” một cách thụ động trước đây. 

Cùng với những mặt tích cực đó, xu hướng “Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cùng các thiết bị thông minh đã hình thành mô hình trường học trực tuyến”(2); dạy học online, E-learning cũng xuất hiện và tạo ra sự thay đổi lớn trong giảng dạy LLCT.

-       Những tác động tiêu cực

Các công cụ hỗ trợ ngày càng hiện đại hơn, đòi hỏi giảng viên LLCT phải thường xuyên cập nhật các phương pháp dạy học hiện đại để theo kịp và ứng dụng hiệu quả trong giảng dạy. Khả năng làm chủ các công nghệ hiện đại của mỗi giảng viên phải được nâng cao, nếu không muốn bị lạc hậu, hiệu quả giảng dạy thấp. Đồng thời, cũng gây khó khăn cho giảng viên trong việc lựa chọn và sử dụng tài liệu, nhất là việc tiếp cận, xác định những tài liệu khoa học chính thức trên internet trong nghiên cứu, giảng dạy LLCT. 

Giảng viên cần phải có lập trường chính trị vững vàng trong đấu tranh với quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Điều này rất quan trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành thế giới quan, nhân sinh quan của người học, tạo hưng phấn trong học tập các môn LLCT. 

Sự phát triển khoa học công nghệ cũng khiến cho một bộ phận sinh viên lười suy nghĩ, tiếp nhận thông tin một chiều, không chú trọng kiến thức LLCT, học tập đối phó, đạo văn, sao chép thông tin trên mạng, thiếu chính kiến trong học tập, có thể còn lạm dụng ChatGPT khi viết bài luận, thi cử...

3. Chất lượng giảng dạy lý luận chính trị trước tác động của chuyển đổi số

Những năm qua, công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên LLCT được Đảng và Nhà nước quan tâm chỉ đạo thông qua việc ban hành các nghị quyết, quy định, kết luận về công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị. Tiêu biểu như: Quy định số 54-QĐ/TW của Bộ Chính trị ngày 12-5-1999 “về chế độ học tập lý luận chính trị trong Đảng”; Kết luận 94-KL/TW, ngày 28-3-2014 của Ban Bí thư “về việc tiếp tục đổi mới việc học tập lý luận chính trị trong hệ thống giáo dục quốc dân”; Nghị quyết số 32-NQ/TW ngày 26-5-2014 của Bộ Chính trị “về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý”; Quy định số 57-QĐ/TW ngày 8-2-2022 của Ban Chấp hành Trung ương “về đối tượng, tiêu chuẩn và phân cấp đào tạo lý luận chính trị”…     

Quán triệt các nghị quyết, quy định, kết luận của Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trường cán bộ của các bộ, ngành, đoàn thể Trung ương, các trường đại học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn đã có nhiều chủ trương, giải pháp mang tính đột phá nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy LLCT. Các học viện, nhà trường đã lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên bổ sung, cập nhật, đổi mới chương trình, nội dung đào tạo, giảng dạy LLCT cho các đối tượng theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa. 

Đội ngũ giảng viên LLCT nêu cao tính tích cực, nỗ lực trong đổi mới phương pháp giảng dạy và đạt nhiều kết quả mới, thiết thực đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thực tiễn giảng dạy LLCT trong bối cảnh số hóa, chuyển đổi số. Phần lớn các bài giảng đã được giảng viên linh hoạt ứng dụng các phần mềm dạy học mới, tăng khả năng sử dụng phương tiện dạy học mới, tính tương tác giữa người dạy và người học được nâng cao; việc duy trì hoạt động dạy học trực tuyến trên phạm vi toàn quốc ngay trong đại dịch Covid-19 từ đầu năm 2020 đến đầu năm 2022 là một minh chứng rõ nét trong đột phá ứng dụng hiệu quả khoa học công nghệ trong giảng dạy LLCT. 

Các học viện, nhà trường quan tâm triển khai nhiều chương trình tập huấn phương pháp giảng dạy mới và ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy; xây dựng các chương trình, kế hoạch tích hợp trong kiểm tra, đánh giá chất lượng dạy và học hiệu quả, phù hợp; hệ thống ngân hàng đề thi, câu hỏi thi, kiểm tra kết thúc môn học được kiểm định chặt chẽ, thông qua chuyển đổi số. Nhất là việc dạy học trực tuyến đã rút ngắn thời gian lên lớp cho giảng viên, tạo điều kiện thuận lợi cho giảng viên thay đổi tư duy, phương pháp dạy học trong bối cảnh thực hiện chuyển đổi số.

Tuy nhiên, chất lượng giảng dạy LLCT trong hệ thống Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, các trường chính trị và các trường đại học còn một số hạn chế: thiếu tính sinh động, “còn quá nặng về truyền đạt kiến thức mà chưa thực sự hướng đến phát triển phẩm chất và năng lực”(3), chưa thực sự khơi dậy, phát triển tiềm năng tư duy của người học. Giảng viên chưa thực sự quan tâm đến việc dạy học theo định hướng phát triển tư duy, nâng cao khả năng phân tích, đánh giá, xử lý các tình huống, các vấn đề phức tạp trong cuộc sống, qua đó hình thành năng lực giải quyết vấn đề trong kỷ nguyên số hóa. Một bộ phận giảng viên còn chưa tích cực áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại vào bài giảng; việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy chưa thực sự đáp ứng đòi hỏi của chuyển đổi số trong giảng dạy LLCT;... cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật cho giảng dạy LLCT cũng còn chưa bảo đảm về số lượng và chất lượng để đáp ứng yêu cầu giảng dạy và học tập LLCT, làm hạn chế khả năng ứng dụng công nghệ thông tin, các phương tiện kỹ thuật dạy học. Chất lượng của hệ thống giáo trình, tài liệu phục vụ nghiên cứu các môn LLCT còn ít được số hóa, chưa cập nhật tài liệu mới, chưa đáp ứng kịp thời nhu cầu nghiên cứu của giảng viên và học viên.

Những hạn chế nêu trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân: thứ nhất, một bộ phận lãnh đạo, quản lý các cấp ở các học viện, nhà trường nhận thức chưa sâu sắc vị trí, vai trò của giảng dạy LLCT, chưa thực sự quan tâm đầu tư đúng mức đến các môn LLCT, từ đó dẫn đến hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện việc nâng cao chất lượng giảng dạy các môn LLCT trước tác động của số hóa, chuyển đổi số chưa đạt hiệu quả như mong muốn. Một bộ phận cán bộ, giảng viên chưa tận dụng và khai thác hiệu quả phương tiện, trang thiết bị kỹ thuật hiện đại; chưa có ý thức tốt trong việc sử dụng, bảo quản trang thiết bị,... Đội ngũ giảng viên LLCT có bề dày công tác, có kiến thức, kỹ năng sư phạm, có khả năng phân tích và lựa chọn thông tin một cách sâu sắc, song, do tuổi cao nên hạn chế về khả năng tiếp cận các trang thiết bị hiện đại trong tìm kiếm thông tin, tài liệu trên internet phục vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học.

4. Một số giải pháp xây dựng, nâng cao chất lượng giảng dạy lý luận chính trị hiện nay

Để xây dựng đội ngũ giảng viên LLCT thích ứng trong chuyển đổi số, góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu, tư vấn chính sách cho Đảng, Nhà nước cần thực hiện những giải pháp cơ bản sau:

Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của lãnh đạo, quản lý các cấp

Để xây dựng đội ngũ giảng viên LLCT trước bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, cần sớm thực hiện việc tổng kết, đánh giá về tổ chức bộ máy, công tác quản lý đào tạo, học tập và quá trình xây dựng, phát triển đội ngũ giảng viên LLCT, rút ra những bài học kinh nghiệm, trên cơ sở đó, xây dựng chiến lược phát triển đội ngũ giảng viên LLCT đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới đến năm 2030 và những năm tiếp theo. 

Các học viện, nhà trường cần xác định những nội dung lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể đối với nhiệm vụ nâng cao chất lượng giảng dạy các môn LLCT. Tiếp tục đổi mới, hiện đại hóa chương trình, nội dung giảng dạy LLCT theo hướng tinh giản, khắc phục sự quá tải, trùng lặp, lạc hậu, tăng cường nghiên cứu vận dụng những vấn đề thực tiễn mới nảy sinh có liên quan đến nội dung các môn học LLCT. Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên LLCT phải gắn với khắc phục những hạn chế trong nhận thức của các cơ quan quản lý giáo dục, các cấp ủy đảng và chính quyền về vai trò, tầm quan trọng của đội ngũ giảng viên LLCT.

Đối với cán bộ các viện, khoa, bộ môn và đội ngũ giảng viên LLCT là những chủ thể trực tiếp trong việc thực hiện nhiệm vụ nâng cao chất lượng giảng dạy LLCT. Vì vậy, lãnh đạo, quản lý khoa, cán bộ các bộ môn cần phát huy vai trò trách nhiệm trong chỉ đạo và tổ chức thực hiện đổi mới toàn diện giáo dục, đào tạo trước những tác động của quá trình số hóa, chuyển đổi số: tăng tính cập nhật, tính đấu tranh, phê phán trong bài giảng các môn LLCT; nâng cao tính thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, luận giải những vấn đề thực tiễn mới nảy sinh từ chuyển đổi số có liên quan đến vấn đề nội dung môn học. 

Các viện, khoa LLCT cũng cần duy trì và tăng cường các hoạt động chuyên môn như thao giảng, giảng mẫu, kiểm tra, dự giờ rút kinh nghiệm đối với hoạt động giảng dạy của giảng viên. Qua đó, có những chỉ đạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng và biểu dương, khen thưởng, động viên kịp thời đối với giảng viên của viện, khoa các bộ môn LLCT, góp phần trực tiếp nâng cao chất lượng giảng dạy LLCT thích ứng với chuyển đổi số.

Hai là, tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy và nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ thông tin của giảng viên LLCT

Trong chuyển đổi số, mỗi giảng viên cần nghiên cứu và tiến hành đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng phát triển tư duy độc lập, tư duy sáng tạo và tư duy phản biện của sinh viên như: coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học(4), nói không với học tập thụ động, tích cực ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học,... Điều đó sẽ là động lực và là thước đo chất lượng giảng dạy, nghiên cứu khoa học của giảng viên LLCT ở các nhà trường.

Giảng viên phải luôn luôn tìm tòi, sáng tạo để có được những bài giảng hấp dẫn, sinh động. Mỗi bài giảng phải thay đổi căn bản phương pháp truyền thụ cho thích hợp với từng đối tượng học viên, trên cơ sở lấy người học làm trung tâm và ứng dụng công nghệ thông tin trong thiết kế và thực hiện bài giảng.

Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động giảng dạy LLCT giúp mỗi giảng viên thích ứng với những biến đổi từ tác động của chuyển đổi số một cách hiệu quả. Tuy nhiên, cần phải xác định rõ công nghệ thông tin chỉ là công cụ, phương tiện hỗ trợ cho quá trình dạy học để nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy LLCT, bản thân nó không phải là phương pháp. Nếu quá lạm dụng công nghệ thông tin thì công tác giảng dạy LLCT sẽ phản tác dụng. Do đó, nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ thông tin, các phương tiện, trang thiết bị kỹ thuật hiện đại của giảng viên là một trong những biện pháp quan trọng góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy hiện nay. Ứng dụng công nghệ thông tin và các phương tiện dạy học hiện đại sẽ giúp giảng viên nhanh chóng tiếp cận với lượng tri thức của nhân loại; xử lý hiệu quả thông tin đa chiều và cập nhật nhanh chóng, kịp thời những kiến thức mới, những vấn đề thực tiễn nóng bỏng để làm phong phú bài giảng và nâng cao tính thực tiễn của bài giảng, đem lại sự hứng thú, say mê cho người học, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy LLCT.

Giảng dạy LLCT, mỗi giảng viên cần thường xuyên cập nhật thông tin, các tiến bộ của khoa học và công nghệ; không ngừng nâng cao năng lực thu thập, xử lý thông tin phục vụ giảng dạy, phát triển tư duy phản biện, tư duy sáng tạo, vượt qua những rào cản của tư duy ngụy biện, lối mòn, dập khuôn, máy móc. Đặc biệt, cần tìm kiếm và giải quyết các vấn đề nghiên cứu dựa trên việc ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ một cách thực tế hơn. Thông qua các nguồn, kênh thông tin khác nhau như: giao lưu, hợp tác với các tổ chức, cơ quan, đồng nghiệp, qua internet, công trình nghiên cứu khoa học đã công bố và các hoạt động khoa học để nắm bắt, cập nhật, bổ sung thông tin cần thiết. Bên cạnh đó, mỗi giảng viên phải tích cực tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, nâng cao trình độ ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh, để có thể tiếp cận được những tài liệu nước ngoài, mở rộng, cập nhật tri thức.

Ba là, tạo môi trường thuận lợi cho giảng viên LLCT

Để xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên LLCT trong bối cảnh chuyển đổi số, các học viện, nhà trường cần xây dựng môi trường thông tin phong phú, đa chiều, mở rộng, công khai, trung thực và dân chủ. Qua đó, kích thích, động viên, tạo điều kiện nâng cao năng lực thu thập, xử lý thông tin của mỗi giảng viên.    Trong điều kiện khoa học, công nghệ thông tin phát triển hiện nay, nếu các nguồn thông tin ít bị nhiễu, trung thực, khách quan sẽ tạo điều kiện để giảng viên tiếp nhận, xử lý thông tin nhanh và hiệu quả trong quá trình giảng dạy LLCT. Trong chuyển đổi số, ứng dụng các thành tựu công nghệ mới vào xây dựng đội ngũ giảng viên LLCT, ví dụ ứng dụng ChatGPT, cần có sự vào cuộc của Nhà nước trong xây dựng hành lang pháp lý cho công nghệ, hướng việc huấn luyện, hướng dẫn trí tuệ nhân tạo (IA) theo hướng công bằng, tránh tình trạng chậm hoặc thiếu hành lang pháp lý dẫn đến ứng dụng kém hiệu quả hoặc gây ra những hậu quả tiêu cực, không đáng có.

Ngoài ra, tạo môi trường thuận lợi còn là tạo điều kiện vật chất để giảng viên LLCT phát triển tài năng, được hưởng lợi ích tương xứng trong quá trình công tác của họ. Đầu tư xây dựng hệ thống giảng đường bảo đảm đầy đủ về số lượng trang thiết bị và phương tiện phục vụ hoạt động dạy và học. Quan tâm xây dựng hệ thống thư viện số với tính năng hiện đại, bổ sung hệ thống giáo trình, tài liệu mới được số hóa, bảo đảm cập nhật những vấn đề thực tiễn từ quá trình chuyển đổi số phục vụ thiết thực cho hoạt động giảng dạy và học tập. Quan tâm bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng sử dụng trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật hiện đại cho đội ngũ giảng viên LLCT. Tổ chức mở các lớp bồi dưỡng kỹ năng sử dụng phương tiện kỹ thuật hiện đại, kỹ năng khai thác, tìm kiếm và xử lý thông tin trên internet.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đề cập một trong những giải pháp quan trọng để xây dựng, nâng cao phẩm chất, năng lực của đội ngũ giảng viên LLCT là: “Tập trung xây dựng, củng cố, thường xuyên bồi dưỡng, nâng cao phẩm chất, năng lực của đội ngũ giảng viên chính trị, báo cáo viên”(5). Theo đó, để xây dựng đội ngũ giảng viên LLCT có phẩm chất, năng lực tốt, bản thân mỗi giảng viên phải không ngừng tự đổi mới, nâng cao trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức, năng lực nghề nghiệp, làm tăng tính hấp dẫn, lôi cuốn trong các bài giảng LLCT, từ đó nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT. 

Ngày nhận: 17-03-2023; Ngày bình duyệt: 20-3-2023; Ngày duyệt đăng: 6-4-2023.

(1) “Trí tuệ nhân tạo - Bước đi thần tốc của sự phát triển hay mối đe dọa đối với nhân loại?” VTV Toàn cảnh thế giới - Chủ nhật, ngày 05-03-2023 10:43 GMT+7.

(2) ĐCSVN: Kết luận 94-KL/TW, ngày 28-3-2014 của Ban Bí thư “về việc tiếp tục đổi mới việc học tập lý luận chính trị trong hệ thống giáo dục quốc dân”, Hà Nội, 2014.

(3) Phan Chí Thành: Cách mạng công nghiệp lần thứ tư - xu thế phát triển của giáo dục trực tuyến, Tạp chí Giáo dục, số 421-2018, tr.32.

(4) Dẫn theo Phùng Xuân Nhạ: Giáo dục Việt Nam trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Tạp chí Cộng sản, số 909, 2018, tr. 45.

(5) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.236.