Thứ Tư, 26 tháng 4, 2023

ĐỘI QUÂN NHÂN NGHĨA VÀ CÚ ĐẤM NHÂN QUYỀN!


Ngày 29/4/1975, khi quân giải phóng tiến sát Sài Gòn, tướng Trần Văn Trà yêu cầu lực lượng tấn công dừng lại bên ngoài thành phố một ngày để người Mỹ di tản hết rồi mới tiến vào Sài Gòn. Theo lời của tướng Trà, việc ra lệnh cho quân giải phóng đợi vì mục đích chính là “giải phóng Sài Gòn” chứ không phải để giết người.
Trước đó, từ 28/4, Mỹ đã mở chiến dịch Gió lốc (tiếng Anh: Operation Frequent Wind) để di tản người nước ngoài và một số người Việt từng cộng tác chặt chẽ với họ, trong đó có nhiều trẻ em mồ côi ra khỏi Việt Nam. Chỉ trong vòng 2 ngày, 120.000 người Việt, 20.000 người Mỹ được di tản, không có một người nào bị thiệt mạng do hoạt động quân sự của quân giải phóng dù tất cả các vị trí trong Sài Gòn lúc đó đều trong tầm bắn của pháo binh của ta. Hình ảnh đoàn quân “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn – Lấy chí nhân để thay cường bạo” của Nguyễn Trãi 500 năm trước lại trở về, hào hùng và bất khuất.
Cách đó vài cây số, các điểm bốc người di tản bằng trực thăng trở nên hỗn loạn. Lính thủy quân lục chiến Mỹ đã phải rất vất vả để duy trì trật tự, thậm chí phải dùng cả súng. Trước cửa các máy bay, người ta sẵn sàng dùng những “nắm đấm nhân quyền” để gặt phăng những người Việt từng một thời là đồng minh với họ, nhằm đảm bảo chỗ cho những người Mỹ. Người Mỹ là ưu tiên số một. Hình ảnh di tản đã in đậm trong trí óc người Mỹ và người Việt trong chế độ ngụy quyền như những kỉ niệm đau buồn và cay đắng.
Người ta tranh cãi với nhau về chính nghĩa và phi nghĩa của các bên tham gia cuộc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975. Nhưng chỉ nhìn vào những hình ảnh này, người ta sẽ thấu hiểu: ai là thiện, ai là ác trong cuộc chiến này..
ST

LÝ LUẬN VỀ ĐẢNG KIỂU MỚI CỦA LÊNIN ĐÃ PHÁT TRIỂN, HOÀN CHỈNH HỌC THUYẾT VỀ ĐẢNG CỘNG SẢN

 

Lý luận về đảng kiểu mới của giai cấp công nhân mà Lênin phát kiến đã khẳng định, phát triển và hoàn chỉnh học thuyết Mác-Ăngghen về Đảng Cộng sản, từ đó mở ra một thời đại mới trong lịch sử thế giới nhân loại, thức tỉnh và cổ vũ các dân tộc thuộc địa đứng lên đấu tranh vì lý tưởng và mục tiêu xã hội chủ nghĩa.
Nhân kỷ niệm 153 năm Ngày sinh V.I. Lê-nin (22/4/1870 - 22/4/2023), chúng ta cùng nhắc nhớ lại những công lao vĩ đại của ông trong lịch sử thế giới và với nền cách mạng Việt Nam.
Lý luận về Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân
Một trong những cống hiến vĩ đại của V.I.Lênin đối với sự nghiệp phát triển của học thuyết Mác, cũng như đối với sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân là lý luận về Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân. Những tư tưởng đó thể hiện trong tác phẩm “Một bước tiến, hai bước lùi” năm 1904, trong đó chỉ rõ những nguyên lý cơ bản để xây dựng chính đảng kiểu mới, căn cứ, nguyên tắc để phân biệt một đảng cách mạng, chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân với các tổ chức chính trị, đảng phái khác.
Lênin nhận định mục tiêu, nhiệm vụ chính trị của Đảng là cách mạng vô sản, lật đổ chủ nghĩa tư bản, thiết lập chuyên chính vô sản. Theo Lênin, nguyên tắc cơ bản về Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân là: lấy chủ nghĩa Mác làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động; là người lãnh đạo quảng đại quần chúng giai cấp công nhân; tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản trong xây dựng tổ chức của Đảng, tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng, đoàn kết thống nhất là quy luật trong xây dựng và phát triển của Đảng; tích cực kết nạp những đại biểu ưu tú của giai cấp công nhân và nhân dân lao động vào Đảng và phải thường xuyên đưa những người không đủ tiêu chuẩn và những phần tử cơ hội ra khỏi Đảng; chủ nghĩa Quốc tế Vô sản là một trong những nguyên tắc quan trọng của việc xây dựng tổ chức, hoạt động của Đảng.
Theo V.I.Lênin, khi có chính quyền, cuộc đấu tranh giai cấp chưa chấm dứt, mà tiếp tục diễn ra dưới những nội dung, hình thức và phương pháp mới. Để phối hợp hành động và hướng hoạt động của cả hệ thống chính trị vào xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản “về nguyên tắc, Đảng Cộng sản phải giữ vai trò lãnh đạo”. Muốn vậy, theo Lênin, là bộ phận của hệ thống đó nên Đảng phải là “trí tuệ, danh dự và lương tâm của thời đại chúng ta”.
Để bảo đảm vai trò lãnh đạo và giữ vững bản chất công nhân của Đảng, Lênin cho rằng, Đảng phải quan tâm đến công tác thanh đảng vì đảng cầm quyền phải biết làm cho hàng ngũ của mình trong sạch bằng cách đuổi bọn thoái hóa biến chất, cơ hội, thù địch ra khỏi Đảng. Theo Người, mục đích thanh đảng là loại trừ những người không đủ tiêu chuẩn, bọn khiêu khích, thoái hóa biến chất, cơ hội, thù địch ra khỏi Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; công khai đưa ra khỏi Đảng những đảng viên không còn đủ tiêu chuẩn. Thanh đảng nhằm vào đối tượng bè phái chống Đảng; những phần tử tuyên truyền quan điểm chống Đảng; những đảng viên gian giảo, quan liêu, không trung thực, nhu nhược, xu nịnh, luồn lọt; bọn tham ô, ăn cắp; bọn người lập ra hết ban này ban nọ mà không làm và không biết làm một công tác thực tiễn nào, tức là những đảng viên có phẩm chất đạo đức xấu và yếu kém về năng lực. V.I.Lênin cho rằng, việc thanh đảng cần được thực hiện dưới nhiều hình thức như: đăng ký lại đảng viên, động viên ra khỏi Đảng... Những kẻ đê tiện lẩn lút trong Đảng, hiếp đáp quần chúng thì cần có những biện pháp quyết liệt, mạnh mẽ, kiên quyết khai trừ ra khỏi Đảng, xử lý dứt điểm theo pháp luật tương xứng với tội lỗi đã gây ra.
Những luận điểm của V.I.Lênin về Đảng kiểu mới đã khẳng định, phát triển và hoàn chỉnh học thuyết Mác-Ăngghen về Đảng Cộng sản, đặt cơ sở cho sự ra đời và hoạt động của Đảng Bôsêvích Nga và hàng loạt các Đảng Cộng sản sau này, trong đó có Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời là tiêu chuẩn khoa học để phân biệt chính Đảng Mác xít của giai cấp công nhân với các đảng phái khác.
Với tư cách là Lãnh tụ của Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga 1917, V.I.Lênin là người mác-xít đầu tiên vận dụng sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác, đưa lý luận về Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân vào thực tiễn nước Nga, lãnh đạo thành công cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại và lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực ở nước Nga Xô viết. Dưới ngọn cờ của V.I.Lênin, Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết và hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới được hình thành; chủ nghĩa phát xít bị tiêu diệt; các dân tộc bị áp bức vùng lên giành độc lập dân tộc, làm cho hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc tan rã... Chính V.I.Lênin là người đã làm cho chủ nghĩa Mác từ lý luận trở thành hiện thực; lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, Đảng Cộng sản trở thành đảng cầm quyền, lãnh đạo nhà nước và xã hội.
Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười và sự ra đời của nước Nga Xô Viết, một thời đại mới trong lịch sử thế giới nhân loại đã bắt đầu. Đó là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, thức tỉnh và cổ vũ các dân tộc thuộc địa, phụ thuộc đứng lên đấu tranh vì lý tưởng và mục tiêu xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.
Vận dụng lý luận về đảng kiểu mới trong thực tiễn cách mạng Việt Nam
Trên con đường đi tìm độc lập cho đất nước, tự do cho dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp được Sơ thảo lần thứ nhất về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin. Người đã thốt lên bằng niềm vui sướng tột cùng: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”. Tiếp nhận những tư tưởng, luận điểm sâu sắc từ Lênin, nhất là tư tưởng về quyền các dân tộc bình đẳng, về cách mạng vô sản… và bài học của Cách mạng Tháng Mười Nga; bằng trí tuệ và kinh nghiệm sau nhiều năm bôn ba khắp năm châu bốn biển, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi đến khẳng định: “con đường duy nhất đúng đắn của cách mạng Việt Nam là đi theo con đường cách mạng vô sản”; “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin và vận dụng sáng tạo vào điều kiện thực tiễn cách mạng Việt Nam. Người sáng lập, rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành đội tiên phong của giai cấp công nhân, đủ uy tín, năng lực lãnh đạo nhân dân Việt Nam vượt qua bao khó khăn, thử thách để giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Đó là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lược mà đỉnh cao là đại thắng mùa Xuân năm 1975 giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Người khẳng định: “Chủ nghĩa Lê-nin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái "cẩm nang" thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”.
Vận dụng tư tưởng của Lênin, từ khi thành lập đến nay, Đảng ta đặc biệt coi trọng việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Qua các nhiệm kỳ đại hội, Đảng ta đã ban hành hàng loạt các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định về công tác xây dựng Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, Kết luận số 21 khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá"… để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các trọng tâm về công tác xây dựng Đảng. Nhờ đó, bản lĩnh chính trị, trình độ, năng lực lãnh đạo của Đảng ngày càng được nâng lên, Đảng luôn vững vàng và có những quyết sách phù hợp để chỉ đạo xử lý kịp thời, hiệu quả. Bản chất, lập trường giai cấp công nhân của Đảng được giữ vững; năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt và người đứng đầu các cấp từng bước được nâng lên; tinh thần tự phê bình và phê bình của cán bộ, đảng viên có tiến bộ; việc ngăn chặn, xử lý tiêu cực, sai phạm, thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí có chuyển biến rõ nét.
Đặc biệt, trong công tác phòng, chống tham nhũng, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “Nhận thức của Đảng về tầm quan trọng của phòng, chống tham nhũng ngày càng rõ rét hơn”. Đảng ta khẳng định “cuộc đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu, làm trong sạch đội ngũ đảng viên là một nội dung quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng".
Đảng ta đã thẳng thắn nhìn vào sự thật, chỉ ra những khuyết điểm trong Đảng, sẵn sàng, công khai đưa ra khỏi Đảng những đảng viên thoái hóa biến chất. Cụ thể, trong 10 năm (2012-2022), các cơ quan tiến hành tố tụng cả nước đã khởi tố, điều tra 2.657 vụ án tham nhũng, 5.841 bị can; truy tố 2.628 vụ, 6.199 bị can. Riêng trong năm 2022, có gần 540 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng, cố ý làm trái; 47 cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý bị thi hành kỷ luật. Trong 4 tháng đầu năm 2023, hàng trăm cán bộ, công chức liên quan đến việc nhận hối lộ ở các trung tâm đăng kiểm và vụ án "chuyến bay giải cứu" bị khởi tố.
Những con số trên cho thấy quyết tâm rất cao, nỗ lực rất lớn, nói đi đôi với làm của Đảng, Nhà nước trong phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực, đưa nhiệm vụ đặc biệt quan trọng này không chỉ là tuyên ngôn chính trị mà đã trở thành hành động thực tế. Việc này, theo Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng “kỷ luật đồng chí, đồng đội của mình rất đau xót, nhưng buộc phải làm”, bởi nó đã góp phần giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước; đồng thời bác bỏ luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, phản động, chống đối.
Những tư tưởng của Lênin về xây dựng chính đảng kiểu mới được Đảng ta kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo, cụ thể hóa trên thực tiễn, qua các giai đoạn cách mạng. Nhờ đó Đảng không ngừng lớn mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; uy tín và ảnh hưởng của Đảng ngày càng được nâng cao; Nhân dân đồng tình ủng hộ, giữ vững niềm tin với Đảng.
Trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước có nhiều thời cơ, thuận lợi và không ít khó khăn, thách thức đan xen, Đảng và Nhân dân ta vẫn luôn kiên định con đường cách mạng: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động. Các cấp, các ngành từ Trung ương tới địa phương cơ sở luôn quán triệt và thực hiện có hiệu quả chủ trương, quan điểm của Đảng: phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, xây dựng văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội; coi đây là biểu hiện sinh động nhất của sự kiên định vận dụng sáng tạo quan điểm thống nhất trong nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin về cách mạng vô sản.
ĐCSVN
Có thể là hình ảnh đen trắng về 1 người

HOÀN THIỆN CƠ CHẾ PHÁT HUY QUYỀN LÀM CHỦ CỦA NHÂN DÂN


Sáng 25/4, tại Hà Nội, Trung tâm Bồi dưỡng cán bộ và nghiên cứu khoa học thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện Nghị quyết số 07-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa VII) ngày 17/11/1993 về đại đoàn kết dân tộc và tăng cường Mặt trận dân tộc thống nhất và Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa IX) về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” - Thực trạng và giải pháp”.
Đồng chủ trì Hội thảo có Tiến sĩ Nguyễn Hữu Dũng, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Tiến sĩ Lê Mậu Nhiệm, Giám đốc Trung tâm Bồi dưỡng cán bộ và nghiên cứu khoa học, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Phát biểu khai mạc, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Nguyễn Hữu Dũng khẳng định, đại đoàn kết dân tộc là đường lối cơ bản, nhất quán của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng. Với chức năng, nhiệm vụ làm nòng cốt để tập hợp, đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân, những năm qua, Mặt trận Tổ quốc các cấp đã tích cực đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, triển khai thắng lợi Chương trình phối hợp thống nhất hành động hằng năm của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được củng cố, phát huy, từ đó góp phần tăng cường đồng thuận xã hội, xây dựng nền tảng vững chắc cho sự ổn định, phát triển của đất nước.
Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Nguyễn Hữu Dũng đề nghị các đại biểu dự Hội thảo chia sẻ kinh nghiệm, đặc biệt là hoạt động thực tiễn ở địa phương, đơn vị trong quá trình công tác, làm rõ quá trình Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp triển khai thực hiện Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 17/11/1993 của Bộ Chính trị (khóa VII) và Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 12/3/2003 Ban Chấp hành Trung ương (khóa IX).
Cùng với đó, Hội thảo cần đánh giá, tổng kết thành tựu, hạn chế và nguyên nhân cũng như các thuận lợi, thách thức trong quá trình triển khai thực hiện hai Nghị quyết trên, từ đó đề xuất các mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Ông Nguyễn Hữu Dũng cũng đề nghị các đại biểu đề xuất phương hướng, kiến nghị để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiếp tục thực hiện hai Nghị quyết phù hợp với giai đoạn tiếp theo.
Để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có đủ các điều kiện căn bản, thiết yếu thực hiện đường lối của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình mới, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Bá Trình, Ủy viên Đoàn Chủ tịch, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đề xuất một số giải pháp về hoàn thiện cơ chế, chính sách, trong đó có việc đổi mới mạnh mẽ hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; xác lập đúng vị trí, vai trò của Mặt trận trong hệ thống chính trị để bảo đảm cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoàn thành nhiệm vụ xây dựng đại đoàn kết toàn dân tộc.
Đồng thời, ông Lê Bá Trình cho rằng, cần hoàn thiện cơ chế, chính sách về mối quan hệ giữa các tổ chức của hệ thống chính trị với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trước hết là quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phải được thực hiện đồng bộ, đồng thời cả hai vai trò: Vai trò thành viên và vai trò lãnh đạo; hoàn thiện cơ chế phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đặc biệt là làm chủ thông qua tổ chức và hoạt động của Mặt trận.
Đánh giá về thực trạng triển khai Nghị quyết số 07-NQ/TW và Nghị quyết số 23-NQ/TW, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Nhật, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho biết, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các tỉnh, thành phố đã phối hợp với các cơ quan hữu quan tổ chức các hội nghị phổ biến Nghị quyết tới các thành phần, đặc biệt là các cán bộ chuyên trách của Mặt trận. Đây là việc làm thể hiện tính chủ động, tinh thần trách nhiệm cao của Mặt trận nhằm phát huy vai trò của các tầng lớp nhân dân, các cá nhân tiêu biểu, có uy tín, các chức sắc tôn giáo và hệ thống Mặt trận trong sự nghiệp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Văn Nhật, việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 07-NQ/TW và Nghị quyết số 23-NQ/TW còn một số hạn chế nhất định cần sớm khắc phục trong thời gian tới, đơn cử như công tác tuyên truyền, phổ biến các mục tiêu, quan điểm, chủ trương, giải pháp thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW ở một số địa phương, nhất là ở cấp huyện và cấp cơ sở có lúc, có nơi còn hạn chế. Ở một số cuộc vận động và phong trào thi đua, việc tập hợp, đoàn kết nhân dân còn mang tính hình thức, phong trào thiếu bền vững, chưa phát huy được tính sáng tạo, tính tự quản của nhân dân. Việc xây dựng, triển khai các chương trình, kế hoạch giám sát, phản biện xã hội chưa chủ động, kịp thời, thiếu trọng tâm, trọng điểm, còn hình thức.
Tại Hội thảo, các đại biểu đã trao đổi, đóng góp nhiều ý kiến tập trung vào một số nội dung khác như: Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong việc phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh ở các địa phương; những yếu tố tác động và phương hướng tiếp tục phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thực hiện đường lối của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc; giải pháp đổi mới công tác tuyên truyền, vận động, tập hợp nhân dân của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong tình hình mới.../.
TTXVN

Văn học, nghệ thuật không thể đứng ngoài chính trị

Văn học, nghệ thuật chính thống của một chế độ xã hội bao giờ cũng phục tùng, phục vụ việc xây dựng và củng cố chế độ xã hội ấy. Cả trên phương diện lý luận và thực tiễn đã chứng minh rõ ràng: Văn học, nghệ thuật không thể đứng ngoài chính trị, không thể tách khỏi sự lãnh đạo của giai cấp cầm quyền. Đó là quy luật. Ấy vậy mà, một số người, nhóm người vẫn cố tình đi ngược lại quy luật khách quan đó. Thời gian qua, một số người biến chất hoạt động trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật nước nhà được sự hà hơi, tiếp sức, kích động của các thế lực bên ngoài đã lớn tiếng kêu gọi và đòi văn học, nghệ thuật không phụ thuộc vào sự lãnh đạo của Đảng, đứng ngoài chế độ chính trị hiện hành (cho dù chính chế độ này đã mang lại cho họ những giá trị đích thực và họ đã, đang được hưởng). Vì thế, họ ra sức truyền bá các tác phẩm văn học, hội họa, những chương trình ca nhạc, phim ảnh có nội dung chống chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN), phủ nhận thành quả của cách mạng, phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ đề cao, cổ súy một số tác phẩm của những văn nghệ sĩ cực đoan, quá khích. Thậm chí, họ còn cho rằng, những tác phẩm này đã tạo nên "luồng gió mới" trong lĩnh vực báo chí, văn học, nghệ thuật nước ta và đã "tiên phong" thoát ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, thể hiện đúng tinh thần "văn nghệ mở". Bên cạnh đó, một số kẻ đã cố tình bôi nhọ, đả kích các nhân vật, các nhà phê bình văn học có quan điểm chính thống; xuyên tạc cho rằng họ là những "bồi bút” cho Đảng, "con rối" trên diễn đàn văn chương... Điển hình trong đó có nhóm tự xưng “Ban vận động Văn đoàn Việt Nam độc lập”, phiến diện cho rằng: Văn học, nghệ thuật do Đảng lãnh đạo là thứ văn học, nghệ thuật minh họa nghị quyết, tô hồng thực tế theo chỉ đạo của Đảng. Thật đáng buồn hơn, khi có nhà văn, nhà thơ trưởng thành trong nền văn chương cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhưng đã “mắc bệnh nặng” nên “mờ mắt”, phủ nhận chính những đứa con tinh thần của mình khi "loạn ngôn" cho rằng: Các tác phẩm văn học viết trong chiến tranh là những kiểu viết minh họa đầy chất “đặt hàng” của Đảng mà không phải viết do cảm xúc, do tình người của nhà văn. Do đó, những tác phẩm đó không có giá trị và phải có nhận thức mới để thoát khỏi sự can dự của Đảng (!) Chắc chắn các “nhà văn nghệ mở” đều đã biết, sự tồn tại của chính trị trong một xã hội thường được thể hiện trên hai phương diện là học thuyết chính trị và nhà nước. Trong đó, học thuyết chính trị giữ vai trò chủ đạo trong ý thức xã hội để giải quyết mối quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc, các tầng lớp trong xã hội và xây dựng nên một nhà nước nhằm tổ chức, quản lý, điều chỉnh và định hướng xã hội phát triển theo lý luận, quan điểm của học thuyết chính trị đó. Như vậy, trong một xã hội, nói đến chính trị là nói đến vai trò chủ đạo cả trong ý thức xã hội lẫn hệ thống thiết chế mang tính chất nhà nước để bảo đảm cho sự hiện thực hóa tư tưởng chính trị. Khi đã hiển nhiên giữ vai trò chủ đạo trong một xã hội, thì chính trị không chỉ ảnh hưởng và tác động tới các hình thái ý thức xã hội khác cùng trong một kiến trúc thượng tầng, mà còn giữ vai trò lãnh đạo và chi phối mọi hoạt động trong lĩnh vực vật chất, tinh thần của xã hội. Bằng cách tiếp cận thực sự khách quan, toàn diện, khoa học, Chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ ra, văn học, nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội nhưng là hình thái ý thức xã hội đặc thù; biểu hiện tập trung, đầy đủ, sâu sắc nhất quan hệ thẩm mỹ của con người đối với hiện thực và luôn nhấn mạnh văn học, nghệ thuật phải thấm nhuần tư tưởng cách mạng, có tính giai cấp, tính đảng, tính định hướng... Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Rõ ràng là dân tộc bị áp bức, thì văn nghệ cũng mất tự do. Văn nghệ muốn tự do thì phải tham gia cách mạng”[1]. Vì vậy, dù có những đặc trưng, đặc thù nào đi chăng nữa thì từ sự nhận thức, phản ánh của mình, văn học, nghệ thuật vẫn phải nhằm mục đích góp phần vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc, giải quyết những mâu thuẫn, những yêu cầu đặt ra của thời đại. Ý thức chính trị và ý thức văn học là những người bạn đồng hành trên con đường đi tìm hạnh phúc. Tiếng nói chính trị và tiếng nói nghệ thuật bổ sung cho nhau, làm thăng bằng đời sống tinh thần của xã hội. Thực hiện sứ mệnh mà dân tộc, nhân dân giao cho, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo văn học, nghệ thuật nhằm phát huy cao nhất tính “chân, thiện, mỹ” của nó, vì khát vọng cao đẹp của nhân dân và dân tộc Việt Nam. Điều đó cũng có nghĩa, Đảng lãnh đạo văn học, nghệ thuật không phải là sự áp đặt, mà trở thành nhu cầu khách quan, không chỉ cho việc thực hiện mục tiêu, lý tưởng của dân tộc, mà còn vì chính sự tồn tại, phát triển của văn học, nghệ thuật; bảo đảm cho “hình thái ý thức xã hội đặc thù” này phát triển đúng hướng, toàn diện, có ích và đáp ứng khát vọng tốt đẹp, phong phú, lành mạnh của nhân dân, của dân tộc. Vì vậy, ngay từ năm 1943, Ðề cương văn hóa-chiến lược đầu tiên về văn hóa (trong đó có văn học, nghệ thuật) của Ðảng đã đặt văn hóa là một cuộc cách mạng được tiến hành đồng thời với cách mạng chính trị và cách mạng kinh tế. Quan điểm đúng đắn đó, được khẳng định lại trong nhiều nghị quyết của Ðảng. Quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn đề cao văn hóa, coi đó là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, là sự bảo đảm cho phát triển bền vững: "Không có hình thái tư tưởng nào có thể thay thế được văn học và nghệ thuật trong việc xây dựng tình cảm lành mạnh, tác động sâu sắc vào việc đổi mới nếp nghĩ, nếp sống của con người”[2]. Trong quá trình lãnh đạo, Đảng không can thiệp sâu vào những vấn đề cụ thể như cá tính sáng tạo, cảm hứng sáng tác, các tác nghiệp, kỹ năng thực hành văn hóa... Đảng chủ trương đổi mới phương thức lãnh đạo đối với văn học, nghệ thuật theo hướng vừa bảo đảm để văn hóa, văn học, nghệ thuật phát triển đúng định hướng chính trị, tư tưởng của Đảng, vừa bảo đảm quyền tự do, dân chủ cá nhân trong sáng tạo trên cơ sở phát huy tính tự giác cao với mục đích đúng đắn. Trong bài phát biểu tại Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam (25-7-2018), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: Để tạo điều kiện cho văn học, nghệ thuật phát triển, Đảng và Nhà nước luôn khuyến khích mọi tìm tòi, tôn trọng tự do sáng tạo của người nghệ sĩ, xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù đối với văn học, nghệ thuật và văn nghệ sĩ phù hợp với sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh, đường lối văn học, nghệ thuật của Ðảng là một bộ phận trong đường lối phát triển con người, phát triển đất nước, được xây dựng trên những căn cứ khoa học xác đáng, hướng tới những mục tiêu cao đẹp mà văn học, nghệ thuật cũng nhằm hướng tới. Do đó, văn học, nghệ thuật Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo đã chuyển hóa lập trường cho nhiều trí thức tiểu tư sản sang người trí thức cách mạng giàu lòng yêu nước. Đơn cử như, bài thơ “Từ ấy” của Tố Hữu (năm 1938) là một mốc son đánh dấu sự chuyển biến, đi theo lý tưởng cao đẹp, dám sống, dám đấu tranh của giới văn nghệ sĩ lúc bấy giờ. Nhà thơ Chế Lan Viên đã cảm ơn Đảng: Người thay đổi đời tôi, Người thay đổi thơ tôi. Nhà văn Nguyễn Công Hoan cũng đã khẳng định: Chính Cách mạng Tháng Tám đã cứu sống đời ông, giải phóng cho gia đình ông và giải phóng cho ngòi bút viết tiểu thuyết của ông... Trong giai đoạn cách mạng từ 1930 đến 1945, văn học, nghệ thuật đã có vai trò quan trọng trong vận động cách mạng, cổ vũ đồng bào cả nước làm nên thắng lợi lịch sử Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, các tên tuổi, như: Nguyễn Đình Thi, Phạm Tiến Duật, Xuân Hồng, Phạm Tuyên, Nguyễn Thi, Lê Anh Xuân... đã vừa cầm súng, vừa cầm bút; vừa chiến đấu, vừa sáng tác, góp phần làm nên hình ảnh cao đẹp, đáng tự hào-“Người nghệ sĩ-chiến sĩ”. Họ đã có những tác phẩm đạt tới tầm cao về tư tưởng, văn học, nghệ thuật; tạo ra những hình tượng đậm chất lý tưởng, thực sự mang tầm văn hóa lớn trong đấu tranh cách mạng, hướng bạn đọc đi đến những cái cao thượng anh hùng... Từ khi đất nước thống nhất, đặc biệt trong sự nghiệp đổi mới, văn học, nghệ thuật tiếp tục đạt được những thành tựu đáng trân trọng; đại đa số các văn nghệ sĩ phát huy trách nhiệm công dân, trách nhiệm nghệ sĩ-chiến sĩ, sáng tác ra nhiều tác phẩm có giá trị về tư tưởng và nghệ thuật, góp phần thúc đẩy phát triển văn hóa nước nhà, xứng đáng đại diện cho “những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng”[3]. Thực tế là vậy! Thử hỏi các “nhà văn nghệ mở”, các ngòi bút “tiên phong” rằng, đó có phải là bóp nghẹt tự do, dân chủ, áp đặt tư tưởng, quan điểm trong sáng tạo văn học, nghệ thuật; hay trấn áp những văn nghệ sĩ, đấu tranh cho tự do tư tưởng, tự do sáng tạo không? Và, nếu các tác phẩm được viết theo kiểu “minh họa”, hay viết theo “đặt hàng mà không phải do cảm xúc” thì liệu có đạt tới tầm cao về tư tưởng, văn học, nghệ thuật như vậy không? Phải chăng, từ ý thức chính trị kết hợp với tài năng và tấm lòng trong sáng đã đem tới các thế hệ văn nghệ sĩ cách mạng Việt Nam ý chí, tình yêu vô bờ bến với sự nghiệp chính nghĩa của dân tộc. Từ ý thức đó, các văn nghệ sĩ được tự do sáng tác và vững bước cùng dân tộc, góp phần cùng dân tộc làm nên những kỳ tích mà lịch sử sẽ còn lưu giữ mãi. Thời gian qua, các cơ quan chức năng của Việt Nam đã cấm phát hành và quyết định thu hồi một số tác phẩm, ấn phẩm văn học đã phát hành là do vi phạm Luật Xuất bản; thậm chí có tác phẩm có những quan điểm, nhận định, đánh giá thiếu căn cứ khoa học, mơ hồ về chính trị, hoặc có nội dung xuyên tạc lịch sử, thông tin tư liệu sai lệch, tuyên truyền chủ nghĩa xét lại một cách cực đoan, kích động thù hằn dân tộc, tạo tâm lý oán trách... Việc làm đó là hoàn toàn chính xác, đúng đắn để tạo điều kiện cho nền văn học, nghệ thuật chân chính phát triển, góp phần tích cực vào xây dựng chế độ XHCN mà nhân dân Việt Nam, dân tộc Việt Nam đã lựa chọn, chứ không như một số người rêu rao: Trừng trị, triệt tiêu những đóng góp của giới tinh hoa, trí thức! Có chăng, đó chỉ là việc làm ngăn chặn những tác phẩm bôi đen, trút bức xúc và hằn học cá nhân, lấy cái tôi để làm thước đo phẩm chất cộng đồng...; những tác phẩm đó bao giờ cũng mang tới sự “phản giá trị” đối với tác phẩm và chính chủ nhân của nó. Đó là sự thật không thể chối cãi được. Cho nên, khi người ta đòi hỏi tách văn học, nghệ thuật khỏi chính trị, thì nếu đó không nhằm tiếp tay, thực hiện ý đồ đen tối cho các thế lực phản động, thì cũng là biểu hiện của sự ấu trĩ, mất phương hướng trong nhận thức mà thôi.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 27/4


“ Muốn trở nên người quân nhân mới, xứng đáng với cái vinh hạnh đứng trong quân đội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, thì mỗi chiến sĩ, từ trên đến dưới, các cấp bậc đều phải nghiên cứu, học tập, luôn luôn cầu tiến bộ”. Lời dạy trên được Bác viết trong Thư gửi Quân sự Tập san, năm 1948.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc rằng, người chiến sĩ chính là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Người chiến sĩ quân đội mới phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, tri thức về quân sự, trình độ văn hóa và sức khỏe dồi dào, là những con người dám “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Việc học, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh phải quán triệt quan điểm Người viết trong thư gửi Quân sự Tập san (Tạp chí Quốc phòng toàn dân hiện nay): “Nghiên cứu mà không thực hành là nghiên cứu suông. Thực hành mà không nghiên cứu thì thường hay bị mù quáng. Vậy cần phải nghiên cứu kinh nghiệm cũ để giúp cho thực hành mới, lại đem thực hành mới để phát triển kinh nghiệm cũ, làm cho nó đầy đủ, dồi dào thêm”.
Bác cũng nhấn mạnh về mục đích của học tập: “Học để tiến bộ mãi, càng tiến bộ càng thấy cần phải học”. Người cũng chỉ ra phương pháp học tập: “Học ở nhà trường, học ở thầy, học ở bạn, học trong sách vở và học nhân dân”. Quá trình lao động, làm việc là quá trình tự học tập, tích lũy, bổ sung kinh nghiệm và đúc kết kiến thức từ thực tiễn.
Học tập và làm theo lời Bác dạy, công tác huấn luyện trong quân đội được đổi mới theo phương châm “cơ bản, thiết thực, vững chắc”, coi trọng huấn luyện đồng bộ và chuyên sâu, sát thực tế chiến đấu, nhiệm vụ, địa bàn hoạt động, cũng như yêu cầu tác chiến, trong điều kiện sử dụng vũ khí công nghệ cao; chú trọng diễn tập hiệp đồng quân binh chủng, diễn tập cơ động và diễn tập khu vực phòng thủ, đáp ứng yêu cầu tác chiến mới. Xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đòi hỏi phải đồng bộ cả con người và vũ khí, trang bị. Trước hết phải nâng cao chất lượng tuyển quân và chất lượng giáo dục, đào tạo, huấn luyện, để mỗi quân nhân, nhất là đội ngũ sĩ quan có bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng, phẩm chất đạo đức và trình độ kỹ, chiến thuật tốt, có tư duy đổi mới, nhạy bén, sáng tạo; trình độ chuyên môn nghiệp vụ, khoa học-công nghệ, ngoại ngữ, tin học đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ; có ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm, làm chủ vũ khí, trang bị, phương tiện kỹ thuật hiện đại, chịu đựng gian khổ, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Mỗi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội phải ra sức học tập chính trị, quân sự, văn hóa, khoa học kỹ thuật, vững về bản lĩnh, giỏi về chuyên môn, phải thường xuyên học tập, học suốt đời, kiên quyết đấu tranh với bệnh tự mãn, lười học tập, rèn luyện./.
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'TƯ TƯỞNG Há CHÍ MINH MÃI MÃI SOI SÁNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM'

SỰ TIẾC NUỐI VÔ VỌNG VÀ ẢO MỘNG NGÔNG CUỒNG


Tháng 12-1976, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV đã khẳng định: “Với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã toàn thắng. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mở ra một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc. Nó kết thúc vẻ vang quá trình 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc bắt đầu từ Cách mạng Tháng Tám, chấm dứt vĩnh viễn ách thống trị hơn một thế kỷ của chủ nghĩa đế quốc trên đất nước ta, làm cho Tổ quốc ta vĩnh viễn độc lập, thống nhất và đưa cả nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội”.
Trong khi Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam cũng như đông đảo dư luận quốc tế đồng tình, đánh giá cao sự thật trên thì các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại cố tình xuyên tạc, chống phá. Chúng cho rằng, đó là cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn, miền Bắc xâm lược miền Nam; chúng gọi tháng Tư hằng năm là “Tháng Tư đen”, Ngày 30-4 là “Ngày Quốc hận”; chúng tỏ ra tiếc nuối mối quan hệ “đồng minh thân hữu” giữa Mỹ với ngụy quân, ngụy quyền, ra sức ca ngợi chế độ Việt Nam Cộng hòa: “Đó mới là chế độ của nền văn minh”. Chúng kích động, kêu gọi nhân dân phải “Lấy lại Việt Nam Cộng hòa” để “Giữ lại lịch sử”…
Nhưng đó chỉ là sự tiếc nuối vô vọng và ảo mộng ngông cuồng của những kẻ cố tình mang trong lòng sự thù hận, muốn “đổi trắng thay đen”, muốn “lật sử”. Với tinh thần khép lại quá khứ, hướng tới tương lai, chúng ta không bới lại lịch sử để gây thù hận, nhưng cũng cần phải chỉ rõ sự thật để đập tan những âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, chống phá của các thế lực chống đối, thế lực xấu.
Trước hết, phải khẳng định ngay rằng: Đế quốc Mỹ đã tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam (vào năm 1991, cuốn sách “Chiến tranh Việt Nam và văn hóa Mỹ” được xuất bản ngay tại Mỹ đã viết rõ: “Nói ngắn gọn, Mỹ xâm lăng Nam Việt Nam”). Mỹ cũng trực tiếp gây ra nhiều tội ác với nhân dân Việt Nam. Mỹ đã huy động 3 triệu lượt lính Mỹ trực tiếp vào chiến trường miền Nam, chi hàng trăm tỉ USD, ném khối lượng bom đạn khổng lồ xuống Việt Nam trong cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa của chúng. Lịch sử còn ghi rõ: cuối tháng 12-1972, Mỹ huy động hàng trăm lần chiếc B.52 đánh phá dã man nhà thương, trường học các khu vực dân cư ở nội thành Hà Nội, ném bom rải thảm xuống khu phố Khâm Thiên - một nơi có mật độ dân số đông nhất Thủ đô gây tổn thất rất lớn về người và của. Tờ Thời báo Niu-Oóc của Mỹ ngày 26-12- 1972 cảnh báo: Mỹ có nguy cơ trở lại một kiểu dã man của thời kỳ đồ đá. Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ McNamara đã viết về cuộc chiến tranh mà ông ta được coi là “Kiến trúc sư”: “Chúng tôi đã sai lầm, sai lầm khủng khiếp. Chúng tôi đã mắc nợ các thế hệ tương lai trong việc giải thích tại sao lại sai lầm như vậy”.
Còn Việt Nam Cộng hòa thực chất là chế độ bù nhìn, tay sai của Mỹ, phụ thuộc hoàn toàn vào Mỹ, tiếp tay cho Mỹ và trực tiếp phá hoại, giết hại đồng bào miền Nam Việt Nam. Chính Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu vào tháng 8-1972 đã xin Mỹ: Ném bom cho tan nát miền Bắc Việt Nam. Báo Nhân đạo của Pháp đã bình luận về hành động này của Nguyễn Văn Thiệu: “Ngay như trước đây trong hồi chiến tranh thế giới thứ II những tên Pháp gian … cũng không dám đề nghị đồng minh tàn phá Paris. Thế mà nay Thiệu lại mong muốn Mỹ ném bom tàn phá đất nước mình. Thiệu thật đáng xấu hổ hơn cả sự xấu hổ”. Ngay những người cầm quyền của Việt Nam Cộng hòa cũng từng đánh giá rằng: Việt Nam Cộng hòa “lệ thuộc vào Hoa Kỳ gần như hoàn toàn, cả về vật chất và tâm lý…” và “Lãnh đạo thì độc tài, quá tin vào Mỹ, tham nhũng, có khi còn xa hoa quá mức…”. Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu đã từng phải thừa nhận: “Nếu Mỹ không viện trợ cho chúng tôi nữa thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau 3 giờ, chúng tôi sẽ rời khỏi Dinh Độc Lập”. Còn Tổng thống Mỹ Nixon, trước nguy cơ thất bại của Việt Nam Cộng hòa, đã nói với cấp dưới của mình: “Nếu họ dễ sụp như vậy có khi cứ để cho họ sụp. Phải nhớ rằng ta không thể cứ cho họ bú mớm mãi được...”. Cũng cần phải nhắc lại rằng: Năm 1972, hòng xoa dịu Việt Nam Cộng hòa, Mỹ tăng cường viện trợ ồ ạt nhằm hà hơi tiếp sức cho ngụy quân, ngụy quyền, đến mức một viên tướng Mỹ đã bình luận: “Ta mà viện trợ quân sự cỡ này cho miền Bắc Việt Nam thì họ có thể đánh nhau với ta đến hết thế kỷ”.
Cuộc chiến tranh phi nghĩa của đội quân xâm lược và chính quyền bù nhìn tay sai chắc chắn phải thất bại trước sức mạnh chính nghĩa của cả dân tộc Việt Nam đoàn kết chiến đấu vì độc lập dân tộc của mình. Và thực tế chúng ta đã chiến thắng, đã đánh cho Mỹ cút, ngụy nhào, giải phóng hoàn toàn miền Nam, cả nước thống nhất đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.
48 năm qua, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã phát huy truyền thống sức mạnh chiến thắng vững vàng đi lên xây dựng và bảo vệ thành công Tổ quốc Việt Nam giàu mạnh, hùng cường. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị mặc dù đã không từ một âm mưu, thủ đoạn nào, kể cả những hành động xâm phạm, khủng bố của những kẻ như Hoàng Cơ Minh và đồng bọn, của tổ chức phản động Việt Tân… nhưng đều đã, đang và chắc chắn sẽ thất bại hoàn toàn.
ST
Có thể là hình ảnh về văn bản

Những luận điệu xuyên tạc kệch cỡm

Những luận điệu cho rằng chỉ có “đa nguyên, đa đảng”, “tam quyền phân lập” mới chống được tham nhũng thật nực cười. Bởi nếu chỉ đơn giản vậy, sao nhiều quốc gia được gọi là “đa nguyên, đa đảng”, “xã hội dân sự”, “tam quyền phân lập” mà tham nhũng vẫn tràn lan? Để đẩy mạnh hơn nữa cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (PCTN, TC), Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã quyết định thành lập Ban chỉ đạo PCTN, TC tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (viết tắt là Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, TC). Đến nay, tất cả 63 tỉnh, thành phố đã thành lập Ban chỉ đạo PCTN, TC. Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đang xuyên tạc trắng trợn chủ trương đúng đắn này. Chúng nhận định bừa rằng "việc thành lập càng nhiều ban bệ thì càng tham nhũng hơn, thêm một cấp là thêm tham nhũng...". Thực tế đã cho thấy rõ những luận điệu trên của thế lực thù địch là hoàn toàn sai trái, kệch cỡm. XUYÊN TẠC TRẮNG TRỢN, BẤT CHẤP THỰC TẾ Bất chấp hiệu quả của công tác đấu tranh PCTN, TC tại Việt Nam thời gian qua được nhân dân và cộng đồng quốc tế ghi nhận, các thế lực thù địch, phản động vẫn cố tình đăng tải, chia sẻ nhiều thông tin sai trái, xuyên tạc, suy diễn, quy chụp chủ trương của Đảng thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, TC. Đặc biệt, các tổ chức phản động như Việt Tân, Hội Anh em dân chủ; các hãng truyền thông nước ngoài và các chương trình có phát sóng bằng tiếng Việt như RFA, VOA, RFI, BBC... tán phát nhiều bài viết, hình ảnh xuyên tạc, công kích, đả phá kịch liệt chủ trương thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, TC của Đảng, Nhà nước ta. Đài Á Châu Tự Do (RFA), Đài Tiếng nói Hoa Kỳ (VOA)... đưa ra luận điệu: “Vì sao “lò” chống tham nhũng đang cháy mà hàng loạt cán bộ cao cấp vẫn không sợ?”. Những kẻ thiếu tử tế vu khống rằng, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực tại Việt Nam thực chất là việc các phe phái tranh quyền để triệt hạ nhau dưới vở kịch chống tham nhũng. Họ hồ đồ cho rằng, "trên thế giới này, không có quốc gia nào mà người dân lại phải còng lưng đóng thuế để nuôi nhiều cơ quan chống tham nhũng đến vậy"... Hoặc "hơn 10 năm chống tham nhũng, càng chống thì càng tham nhũng, vụ sau lớn hơn vụ trước cả về số tiền của và quan chức với chức vụ cao hơn, diễn ra ở nhiều ngành, nhiều cấp...". Cá biệt, có đối tượng còn đưa ra luận điệu xuyên tạc, suy diễn vô căn cứ rằng, chính quyền sinh ra tham nhũng rồi lại thành lập Ban chỉ đạo PCTN, TC thì chỉ để làm khổ người dân mà thôi; không cần thiết và tốn tiền, tốn của. Từ đó chúng hô hào, kêu gọi: Muốn chống tham nhũng thì phải thay đổi chế độ, phải “đa nguyên, đa đảng”, phải thực hiện cái gọi là “xã hội dân sự”, “tam quyền phân lập”... HIỆU QUẢ RÕ RÀNG CỦA CUỘC ĐẤU TRANH PCTN, TC Đầu tiên có thể thấy rõ ràng rằng, công tác PCTN, TC ở Việt Nam thời gian qua có nhiều bước đột phá mạnh mẽ, mang lại hiệu quả, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, cộng đồng quốc tế ghi nhận. Theo thông tin được công bố sau Phiên họp thứ 22 của Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, TC, thời gian qua, nhiều chủ trương, chính sách lớn về xây dựng Đảng và PCTN, TC được ban hành tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động. Công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán được đẩy mạnh. Nhiều cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên vi phạm, cả cán bộ cấp cao, đương chức và nghỉ hưu bị xử lý nghiêm minh. Từ đầu nhiệm kỳ đến nay đã thi hành kỷ luật cán bộ liên quan đến tham nhũng, tiêu cực ở các cấp, trong đó có 56 cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, có 10 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng. Thời gian qua, Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, TC đã chỉ đạo triển khai khá toàn diện, đồng bộ, quyết liệt nhiều giải pháp để xây dựng, hoàn thiện thể chế về PCTN, TC cả trong Đảng và Nhà nước. Từ nghiên cứu, ban hành mới đến rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện một số quy định của Đảng và các quy định của pháp luật còn bất cập hoặc chưa phù hợp với thực tiễn, để kịp thời bổ sung, điều chỉnh; từng bước hình thành khuôn khổ pháp lý vững chắc để cán bộ không thể tham nhũng, tiêu cực. Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, TC đã từng bước gắn kết đồng bộ giữa phòng, chống tham nhũng với phòng, chống tiêu cực. Nếu như ở các nước chỉ có quy định, chế tài xử lý các hành vi tham nhũng, thì tại Việt Nam hiện nay đã có cả quy định, chế tài xử lý các hành vi tiêu cực. Đó là một bước tiến vượt trội! Từ đầu năm 2022 đến nay, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, TC đã ban hành gần 30 văn bản về xây dựng Đảng, hệ thống chính trị và PCTN, TC. Đặc biệt, việc ban hành Quy định số 69-QĐ/TW, ngày 6-7-2022 của Bộ Chính trị về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm và Hướng dẫn số 25-HD/BCĐTW, ngày 1-8-2022 của Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, TC hướng dẫn một số nội dung về công tác phòng, chống tiêu cực đã hình thành cơ chế đấu tranh ngăn chặn, phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực ngày càng đồng bộ, thống nhất, chặt chẽ. Trong 6 tháng đầu năm 2022, Quốc hội đã thông qua 6 dự án luật; Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành 44 nghị định, 15 quyết định; các bộ, ngành ban hành 216 thông tư, thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện các quy định của pháp luật về quản lý kinh tế-xã hội, kịp thời thể chế hóa các đường lối, chủ trương của Đảng, góp phần phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực. Bên cạnh đó, Quốc hội, Chính phủ cũng đang chỉ đạo rà soát, sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách, pháp luật liên quan đến việc đấu thầu, đấu giá, quy hoạch, quản lý, sử dụng đất, tài sản công, tài chính công, chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp,... theo đề xuất của Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, TC. Những luận điệu cho rằng chỉ có “đa nguyên, đa đảng”, “tam quyền phân lập” mới chống được tham nhũng thật nực cười. Bởi nếu chỉ đơn giản vậy, sao nhiều quốc gia được gọi là “đa nguyên, đa đảng”, “xã hội dân sự”, “tam quyền phân lập” mà tham nhũng vẫn tràn lan? Tại sao với chế độ một đảng lãnh đạo, Việt Nam vẫn đang thực hiện hiệu quả công tác PCTN, TC? Có thể thấy, thực tế kết quả công tác PCTN, TC tại Việt Nam thời gian qua đã khiến những luận điệu xuyên tạc của thế lực thù địch trở nên kệch cỡm. BẢO ĐẢM CÔNG TÁC ĐẤU TRANH PCTN, TC CHẶT CHẼ, THÔNG SUỐT Việc thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, TC là thực sự cần thiết, phù hợp với thực tiễn hiện nay. Việc làm này thể hiện rõ quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh PCTN, TC ở mọi cấp, mọi ngành, thực hiện cam kết của Việt Nam với cộng đồng quốc tế. Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, TC được thành lập sẽ góp phần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương công tác PCTN, TC, thể hiện tinh thần "trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt", khắc phục tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”. Ban chỉ đạo cấp tỉnh là cánh tay nối dài của Ban chỉ đạo Trung ương nhằm nâng cao sức chiến đấu của Đảng, bảo đảm cho công tác đấu tranh PCTN, TC được liền mạch, chặt chẽ, thống nhất từ Trung ương đến địa phương; kịp thời giải quyết những vướng mắc, bức xúc của nhân dân về tham nhũng, tiêu cực và đưa công tác này tiến lên một bước mới. Vì vậy, cần phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền sâu rộng hơn nữa trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, kiều bào ta ở nước ngoài, cộng đồng quốc tế về những thành tựu đạt được trong PCTN, TC ở Việt Nam; về sự cần thiết phải thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, TC, từ đó củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân. Cùng với đó, cần tỉnh táo nhận diện và bác bỏ các luận điệu sai trái của các thế lực phản động, thù địch, chống phá cách mạng Việt Nam. PCTN, TC là cuộc đấu tranh lâu dài, gian nan, vất vả để chống “giặc nội xâm”. Để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh này, không được chủ quan, không nóng vội, không được thỏa mãn và né tránh, cầm chừng mà phải thật kiên trì, đấu tranh không ngừng, không nghỉ; vừa phải kiên quyết phát hiện, xử lý tham nhũng, vừa phải kiên trì giáo dục, quản lý, ngăn ngừa, răn đe, không để xảy ra tham nhũng; đồng thời phải cảnh giác, đấu tranh với những âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, phần tử xấu lợi dụng đấu tranh PCTN, TC để kích động, chia rẽ, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta./.

Phai nhạt lý tưởng cách mạng - con đường dẫn đến “tự triệt tiêu mình”

Lý tưởng cách mạng là định hướng giá trị cốt lõi, xuyên suốt của người cộng sản, là mục tiêu phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Những người đảng viên cộng sản chúng ta rất tự hào được sống, chiến đấu, phấn đấu cho lý tưởng cao cả đó. Tuy nhiên, những năm gần đây, do cả yếu tố khách quan và chủ quan, một bộ phận đảng viên có biểu hiện phai nhạt lý tưởng cách mạng, một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị đã được Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng chỉ ra. “Ngọn đuốc soi đường” cho những người cộng sản Trong dịp kỷ niệm 75 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ (27-7-1947 / 27-7-2022), ông Nguyễn Tiến Hà, 90 tuổi, Trưởng ban liên lạc chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày tại Nhà tù Hỏa Lò xúc động kể lại: “Thường ngày từ sáng sớm, các đồng chí bị địch dẫn đi hành quyết. Trong giây phút ngắn ngủi còn lại của cuộc đời, chuẩn bị bước lên máy chém nhưng các chiến sĩ vẫn rất kiên cường, hô to: “Thực dân Pháp đưa chúng tôi ra pháp trường đây. Các đồng chí ở lại mạnh khỏe, chiến đấu bảo vệ quê hương. Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm! Việt Nam độc lập, thống nhất muôn năm!”. Lúc đó, trong nhà tù bừng bừng khí thế chiến đấu, hô vang những khẩu hiệu: “Phản đối thực dân Pháp”, “Phản đối án tử hình”... Hẳn ai nghe lời kể của cựu tù chính trị Nguyễn Tiến Hà đều thấy khí phách ngời sáng, kiên trung của hàng vạn chiến sĩ cách mạng trong các ngục tù của thực dân, đế quốc. Họ sẵn sàng chiến đấu, hy sinh, chấp nhận cái chết một cách thanh thản vì mục tiêu, lý tưởng cách mạng cao đẹp của Đảng, của dân tộc. Nói đến lý tưởng cách mạng là định hướng giá trị cốt lõi, xuyên suốt của người cộng sản, là mục tiêu phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng đó, trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, các thế hệ cán bộ, đảng viên đã không quản ngại hy sinh gian khổ, quyết chiến và quyết thắng, sẵn sàng xả thân vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Khi đất nước nằm trong ách nô lệ của thực dân, đế quốc, ai đi theo Đảng, theo cách mạng cũng nhận thấy đó là con đường gian khổ, phải chấp nhận hy sinh, phải quên mình vì đất nước, vì dân tộc. Trong cuộc sống, không ai muốn tước bỏ mạng sống của mình. Chỉ có lý tưởng cách mạng, vì nước, vì dân, người chiến sĩ cộng sản mới chịu mọi cực hình tra tấn của kẻ thù cho đến hơi thở cuối cùng. Chỉ có lý tưởng chiến đấu cao cả vì độc lập, tự do của dân tộc mới khiến biết bao chiến sĩ Thủ đô ôm bom ba càng lao vào xe tăng địch với tinh thần “quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”; chiến sĩ Tô Vĩnh Diện mới lấy thân mình chèn cứu pháo; chiến sĩ Bế Văn Đàn mới lấy thân mình làm giá súng; chiến sĩ Phan Đình Giót mới lấy thân mình lấp lỗ châu mai... và cả hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ lặng lẽ làm nhiệm vụ trên những con tàu không số luôn sẵn sàng xả thân trước mọi hiểm nguy giữa trùng khơi biển cả. Giữa cái sống và cái chết trong tích tắc nhưng các anh vẫn không hề nao núng và không bao giờ tính toán đến lợi ích, hưởng thụ cho bản thân. Tất cả cho mục tiêu chiến đấu, chiến thắng kẻ thù xâm lược! Tất cả dâng hiến cho mục tiêu, lý tưởng cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã chọn. Có thể nói rằng, Đảng ta vĩ đại, Đảng ta phát triển không ngừng lớn mạnh, có năng lực lãnh đạo toàn diện như ngày nay là do có đội ngũ đảng viên kiên trung, gương mẫu. Lớp lớp thế hệ đảng viên luôn thấm nhuần lý tưởng cách mạng của Đảng, của Bác Hồ, trong mọi lĩnh vực đều thể hiện rõ bản chất cách mạng, tinh thần tiên phong, xông pha, xả thân vì nghĩa lớn, đồng thời cũng thể hiện rõ vai trò “là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” như Bác Hồ đã dạy. Đối với những đảng viên chân chính, trong chiến đấu thì dũng cảm, sẵn sàng hy sinh vì nước, vì dân; trong xây dựng đất nước thì tận tâm, tận lực, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Phẩm chất, tinh thần cao đẹp đó của đội ngũ đảng viên đã và đang tỏa sáng trong xã hội, được nhân dân trân trọng, tin yêu, học tập và noi theo. Xa rời lý tưởng cách mạng - con đường dẫn tới sự tha hóa, biến chất Tuy nhiên, bên cạnh đội ngũ tiên phong của hàng triệu cán bộ, đảng viên đó cũng còn không ít cán bộ, đảng viên đã và đang phai nhạt lý tưởng cách mạng. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) chỉ ra: Phai nhạt lý tưởng cách mạng là biểu hiện đầu tiên của tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị. Phai nhạt về lý tưởng cách mạng thường diễn ra hai khuynh hướng chủ yếu. Thứ nhất, mơ hồ về nhận thức, lập trường ngả nghiêng, ngộ nhận về quan điểm giai cấp, hùa theo quan điểm chống đối của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, cho rằng đất nước cần phải đa nguyên, đa đảng. Thực tiễn cho thấy, có những cán bộ, đảng viên từng vào sống ra chết trong trận mạc, gia đình có truyền thống cách mạng, nhưng sau này do không làm chủ được bản thân nên đã bị lôi kéo, kích động bởi các luận điệu tuyên truyền của các thế lực phản động, để rồi quay lại phản bội mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng. Cũng có cán bộ khi đất nước có chiến tranh vẫn được Đảng, Nhà nước lựa chọn ưu tiên đi đào tạo ở nhiều trường trong nước và nước ngoài để phục vụ Tổ quốc, nhân dân sau khi đất nước hòa bình, nhưng khi có học hàm, học vị cao lại đưa ra quan điểm, lập luận xa lạ với quan điểm chính trị cũng như mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Họ gieo rắc quan điểm cá nhân, tô hồng chủ nghĩa đa nguyên, đa đảng đối lập. Họ hùa theo những phần tử cơ hội, chống đối, xuyên tạc Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nói xấu Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta hòng làm cho đất nước ta đi chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Thứ hai, do chủ nghĩa cá nhân chi phối, vì lợi ích vật chất tầm thường mà bất chấp lý tưởng, mục tiêu phấn đấu, lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để tham nhũng, làm thiệt hại tài sản lớn cho đất nước, vi phạm pháp luật, làm ô uế thanh danh người cán bộ, đảng viên của Đảng. Theo số liệu của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, 10 năm qua (2012-2022), cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 2.700 tổ chức đảng, gần 168.000 đảng viên, trong đó có hơn 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng. Đáng nói là có hơn 170 cán bộ cấp cao diện Trung ương quản lý đã bị kỷ luật, thậm chí bị truy tố, xét xử theo Bộ luật Hình sự. Suy cho cùng, số cán bộ, đảng viên bị kỷ luật, xử lý về tội tham nhũng có căn nguyên từ việc họ bị thẩm thấu tư tưởng đặc quyền, đặc lợi của chủ nghĩa phong kiến, luôn muốn bản thân an nhàn mà lại được đãi ngộ, hưởng thụ cao. Khi có vị trí, có điều kiện quyền lực, bên cạnh bị vật chất, đồng tiền cám dỗ thì họ lu mờ về chính trị, sa ngã vào chủ nghĩa cơ hội, thực dụng, từ đó xa rời lợi ích tập thể, lợi ích của nhân dân, của đất nước... Đó là con đường dẫn họ tới xa rời, phai nhạt lý tưởng cách mạng, đồng nghĩa với “tự triệt tiêu mình”. Trọn đời giữ gìn điều thiêng liêng, cao quý nhất Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, không có lý tưởng cách mạng làm hành trang, người cán bộ, đảng viên mất đi tính tiền phong, gương mẫu, không làm tròn vai trò dẫn dắt phong trào cách mạng và lãnh đạo nhân dân. Theo Người, Đảng cần phải có những đảng viên kiên trung với lý tưởng, đường lối của Đảng: “Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, cần phải có tính đảng mới làm được việc”, nếu “kém tính đảng, thì việc gì cũng không làm nên”. Cán bộ, đảng viên muốn lãnh đạo vững thì trước hết phải có tư tưởng, lập trường vững chắc. Bác khẳng định: “Nếu chỉ có công tác thực tế mà không có lý tưởng cách mạng, thì cũng không phải là người đảng viên tốt”. Trong buổi lễ kết nạp Đảng, trước cờ Đảng, cờ Tổ quốc và chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đảng viên mới đều dõng dạc tuyên thệ: “Tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, sẵn sàng nhận bất cứ nhiệm vụ gì khi được phân công, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân!”. Lời thề đó là thiêng liêng, là danh dự cao nhất, rất cần thiết đối với người đảng viên cộng sản. Để lý tưởng cách mạng luôn là linh hồn sống, là ngọn đuốc soi đường cho cán bộ, đảng viên, giải pháp quan trọng hàng đầu là cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục, rèn luyện nâng cao nhận thức về Đảng cho cán bộ, đảng viên; thường xuyên bồi dưỡng nâng cao nhận thức, hành động thực tiễn cho đảng viên trẻ, đảng viên mới kết nạp, chủ động đưa họ vào những nơi khó khăn, gian khổ để rèn luyện, thử thách, qua đó xây dựng, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị và năng lực thực tiễn. Chú trọng xây dựng và thực hiện tốt quy chế làm việc của cấp ủy các cấp là việc làm rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với việc nâng cao chất lượng hoạt động của mỗi tổ chức đảng, nhằm thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, bảo đảm vai trò lãnh đạo tập thể của cấp ủy, phát huy trách nhiệm cá nhân cấp ủy viên, nhất là người đứng đầu và giải quyết tốt các mối quan hệ công tác. Quy chế làm việc của mỗi cấp ủy là cụ thể hóa các nguyên tắc, quy định của Điều lệ Đảng, các quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư thành các nguyên tắc, chế độ quy định, hoạt động của mỗi tổ chức đảng. Trong đó quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của tập thể cấp ủy (thường vụ) và từng cấp ủy viên, cũng như quy định các mối quan hệ giữa cấp ủy đảng với các tổ chức chính quyền và các tổ chức chính trị-xã hội. Những điều khoản quy định trong quy chế buộc tất cả thành viên trong cấp ủy phải chấp hành và thực hiện một cách nghiêm túc, bảo đảm sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng trong mọi lĩnh vực công tác. Nếu các cấp ủy đảng luôn siết chặt hoạt động lãnh đạo thông qua quy chế về các lĩnh vực nhạy cảm như kinh tế, tài chính, nhân sự... thì không một cá nhân nào có thể dễ dàng lộng hành, thao túng. Giữ vững nguyên tắc Đảng cũng là một cách góp phần bảo đảm cho cán bộ, đảng viên luôn trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Trong tình hình hiện nay, cần tăng cường giáo dục, bồi dưỡng lý luận, mục tiêu, lý tưởng của Đảng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; cùng với đó là nghiêm túc thực hiện kỷ luật Đảng, nhất là thực hiện Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm, nhằm tăng cường kỷ cương, kỷ luật của Đảng và giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, tính tiền phong, gương mẫu của đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng. Đó là con đường làm cho Đảng ta luôn trong sạch, vững mạnh từ cơ sở. Đó cũng là con đường cơ bản để mỗi cán bộ, đảng viên rèn luyện, tu dưỡng, gìn giữ phẩm chất đạo đức trong sáng, luôn lấy lý tưởng cách mạng là linh hồn sống, là kim chỉ nam, là ngọn đuốc soi đường của mình. Mỗi cán bộ, đảng viên một lòng một dạ trung thành với lý tưởng, sự nghiệp cách mạng của Đảng là điều kiện tiên quyết giúp họ có cơ hội học tập, công tác tốt, tích cực cống hiến và trưởng thành, xứng danh là người chiến sĩ tiên phong ưu tú đứng trong hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh./.