Thứ Tư, 26 tháng 4, 2023

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh chống tuyên truyền xuyên tạc của các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 Cuộc chiến chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước và toàn dân sẽ tiếp tục được đẩy mạnh trong thời gian tới. Bên cạnh đó, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về chống tham nhũng sẽ càng gia tăng, tinh vi và xảo quyệt hơn. Do đó, đấu tranh chống tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch về chống tham nhũng phải được triển khai tích cực, thường xuyên và lâu dài. Trong đó, chú trọng một số nội dung cơ bản sau:

Một là, tích cực nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và người dân để họ nhận diện rõ âm mưu của các thế lực thù địch, vạch trần bản chất của chúng, định hướng tiếp nhận thông tin trên mạng có chọn lọc, khách quan.

Trước những sự kiện chính trị, nhất là các vụ việc phức tạp, nhạy cảm, các cơ quan thông tin, truyền thông cần khai thác thông tin từ cơ quan chức năng, để thông tin kịp thời, chính xác, bình luận trung thực, khách quan, góp phần định hướng, tạo sự thống nhất trong nhận thức, thái độ và phương pháp giải quyết vấn đề.

Thực tiễn đã chứng minh, trước những vấn đề bức xúc về tư tưởng, dù phức tạp đến đâu, nếu thực hiện công tác thông tin kịp thời, đúng đắn, làm tốt việc định hướng thông tin, thì sự việc sẽ được giải quyết ổn thỏa, bức xúc trong xã hội sẽ được giải tỏa, không còn cơ hội để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng xuyên tạc, bịa đặt, chống phá.

Nâng cao nhận thức để người dân là người dùng mạng xã hội thông thái. Khi tìm hiểu thông tin trên mạng xã hội nên chọn những trang thông tin tin cậy, uy tín; biết đặt nghi vấn đối với các thông tin; chủ động kiểm chứng, không chia sẻ khi chưa kiểm chứng thông tin...

Mỗi tổ chức, cá nhân phải nhận thức rõ phòng, chống tham nhũng là cuộc chiến chống “giặc nội xâm”, kiên quyết phòng, chống với tinh thần thẳng thắng, quyết liệt. Phòng, chống tham nhũng bằng cả cơ chế, chính sách và hệ thống kiểm soát quyền lực... Có như vậy, tham nhũng, lợi ích nhóm mới bị đẩy lùi. Đồng thời, phải luôn tỉnh táo trước các âm mưu thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề này.

Hai là, xây dựng “mặt trận” thống nhất nhằm phản ứng linh hoạt, chủ động, kịp thời đối với mọi luận điệu tuyên truyền chống phá của các thế lực thù địch về cuộc đấu tranh chống tham nhũng của Đảng ta.

Mỗi cấp ủy, mỗi đảng viên, mỗi tổ chức trong hệ thống chính trị là một chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng, trong đó những người làm công tác tuyên giáo, công tác chính trị, tư tưởng, báo chí là những chiến sĩ tiên phong. Sự lên tiếng chính thức, kịp thời của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm cũng thể hiện rõ vai trò và năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của cấp ủy và chính quyền các cấp, các ngành trước mỗi vấn đề, sự kiện nảy sinh; đồng thời, đây là một biện pháp hiệu quả để định hướng dư luận, củng cố niềm tin, tạo sức đề kháng chống lại sự tuyên truyền chống phá của các thế lực thù địch.

Công tác tư tưởng lý luận cần nhận diện, phát hiện và dự báo sớm một số vấn đề có thể gây bức xúc về tư tưởng và phải luôn đi trước, đi cùng trong quá trình giải quyết vụ việc. Phải có sự vào cuộc tích cực của các cấp ủy, chính quyền, ban tuyên giáo các cấp, kịp thời bám sát thực tiễn, bảo đảm tính chính xác, có chiều sâu trí tuệ, phù hợp với lợi ích và nguyện vọng của nhân dân thì mới hạn chế thấp nhất những tác động của thông tin xấu, độc trên không gian mạng.

Ba là, tiếp tục triển khai có hiệu quả Chỉ thị số 28-CT/TW ngày 16-9-2013 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI về tăng cường công tác bảo đảm an toàn thông tin mạng; Chỉ thị số 15/CT-TTg ngày 17-6-2014 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác bảo đảm an ninh và an toàn thông tin mạng trong tình hình mới và Thông báo số 17/TB-VPTW ngày 23-8-2016 của Thường trực Ban Bí thư về biện pháp cấp bách bảo đảm an ninh, an toàn thông tin mạng... Đặc biệt là tổ chức triển khai mạnh mẽ Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, đây là sự định hướng chiến lược quan trọng trong việc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Bốn là, xây dựng lực lượng tác chiến trên không gian mạng.

Các cơ quan báo chí phải giữ vững vai trò định hướng thông tin, thực hiện kết nối, tích hợp các ứng dụng truyền thông xã hội phổ biến vào sản phẩm báo chí của mình hoặc tạo dựng những kênh truyền thông xã hội riêng nhằm tận dụng lợi thế của các phương tiện này để lan tỏa thông tin chính thức đến công chúng. Đặc biệt, kịp thời biểu dương, khen thưởng các tổ chức, cá nhân có nhiều thành tích, đóng góp trong cuộc đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch./.

Cảnh giác với luận điệu xuyên tạc về công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước

 Trong khi cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước ta được nhân dân đồng tình và quốc tế ca ngợi thì các thế lực phản động, thù địch lại lợi dụng để tuyên truyền nói xấu chế độ, nói xấu Đảng và Nhà nước ta, nhằm thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”.

Các thế lực thù địch, phản động, bất mãn, cơ hội chính trị đưa ra nhiều luận điệu xuyên tạc, thông qua các phương tiện truyền thông, mạng xã hội tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Những luận điệu xuyên tạc đó là:

Một là, chúng xuyên tạc rằng “tham nhũng là bản chất của chế độ cộng sản” và cho rằng “chỉ có ở các nước tư bản nạn tham nhũng mới được dẹp bỏ”

Thực tế, tham nhũng, tiêu cực, lãng phí không phải bây giờ mới có, mà đây là căn bệnh xấu đã có từ lâu trong xã hội. Ở đâu có quyền lực, ở đó có tham nhũng. Ngay từ rất sớm, các triều đại phong kiến đã xác định tham nhũng là hành vi xâm hại trật tự pháp luật, đạo đức và sự tồn vong của triều đại, phải bị lên án và trừng trị nghiêm khắc. Thí dụ, dưới triều đại vua Lê Thánh Tông (1442-1497) và vua Minh Mạng (1791-1840), phòng, chống tham nhũng được triều đình hết sức quan tâm.

Phòng, chống tham nhũng trở thành một nhiệm vụ cấp bách trong chính sách cai trị của nhà Lê sơ (1428-1527), đặc biệt dưới triều vua Lê Thánh Tông. Năm 1483, Lê Thánh Tông cho ban hành Quốc triều hình luật (hay Lê triều hình luật/Luật Hồng Đức) - bộ luật quan trọng và chính thống nhất dưới triều Lê sơ, cũng là bộ luật tiến bộ và hoàn chỉnh nhất ở Việt Nam thời phong kiến. Một trong những nội dung chủ yếu trong bộ luật là phòng, chống tham ô, tham nhũng.

Đến thời nhà Nguyễn (1802-1945), sau khi lên ngôi, vua Gia Long (1762-1820) đã ban hành Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long), bao gồm 22 quyển, chia thành 7 chương, 398 điều và 30 điều tỷ dẫn; trong đó, 17 quyển và 79 điều quy định riêng về luật hình đối với các tội tham ô, nhũng nhiễu và gần 20 điều khoản quy định cụ thể về vấn đề này với những quy định rất hà khắc. Những quy định đó cho thấy, ý thức, chủ trương và quyết tâm của các vị vua và triều đại phong kiến Việt Nam trong việc loại trừ một cách kiên quyết tệ nạn này.

Ở các nước tư bản phát triển có tham nhũng không? Theo một số nghiên cứu mới đây, vấn nạn tham nhũng ở gần một nửa số quốc gia trên thế giới không được cải thiện nhiều. Thậm chí ở nhiều quốc gia, nạn tham nhũng đang ngày càng tăng lên, ảnh hưởng đến hầu hết mọi khía cạnh của cuộc sống ở các dân tộc, ở mọi châu lục.

Thí dụ, vụ Watergate - vụ bê bối về quyền lực chính trị để trục lợi từ năm 1972 - 1974 của Tổng thống Mỹ Richard Nixơn. Trước nguy cơ bị Quốc hội phế truất ngày 09-8-1974, Tổng thống Mỹ Richard Nixơn buộc phải từ chức. Đây là tổng thống đầu tiên và duy nhất trong lịch sử nước Mỹ phải từ chức khi đang là tổng thống nhiệm kỳ thứ hai. Cựu Tổng thống Philíppin Joseph Estrad phạm tội tham nhũng, phải ngồi tù chung thân. Cựu Tổng thống Hàn Quốc Park Geun Hye bị Quốc hội Hàn Quốc phế truất chức tổng thống vào tháng 12-2016 do bị buộc tội tham nhũng, dính líu đến vụ bê bối chính trị dùng quan hệ cá nhân để tăng ảnh hưởng và trục lợi tài chính.

Như vậy, ở các nước tư bản, ngay cả một số nước tư bản phát triển, vẫn có tình trạng tham nhũng và thậm chí ở cấp cao nhất, do đó, luận điểm “chỉ có ở các nước tư bản thì nạn tham nhũng mới được dẹp bỏ” đã trở nên vô giá trị ngay trên chính thực tiễn của nó. Tham nhũng xuất hiện và tồn tại ở tất cả các hình thức, các kiểu nhà nước đã từng tồn tại và đang tồn tại trong lịch sử nhân loại. Tất cả các hình thức, các kiểu nhà nước muốn tồn tại và phát triển đều phải đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng. Đó là lý do vì sao ở các quốc gia đều có luật phòng, chống tham nhũng.

Hai là, luận điệu xuyên tạc rằng chống tham nhũng là “đấu đá”, là “thanh trừng nội bộ”

Thời gian qua, trên không gian mạng đã xuất hiện những bài viết xuyên tạc về công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước ta, trong đó, có luận điệu “đấu tranh phòng, chống tham nhũng là đấu đá, thanh trừng nội bộ”. Gần như mỗi khi trong nước có sự kiện chính trị gì thì các trang mạng phản động như: Việt Tân, VOA Tiếng Việt, Dân làm báo, RFA, BBC... lại tìm mọi cách tung những luận điệu xuyên tạc, bóp méo thông tin, sự thật và tầm quan trọng của vấn đề này. Đáng chú ý là các trang mạng này dẫn lại những bình luận mang tính võ đoán, xuyên tạc, bịa đặt, những thông tin được “thêu dệt” bởi những thế lực phản động, như: Nguyễn Tường Thụy, Lã Việt Dũng, Lê Công Định... Chúng xuyên tạc rằng, “chống tham nhũng thực chất là đấu đá, thanh trừng nội bộ, phe phái”, là “ông ấy tập trung vào phe kia, ông ấy chưa dám động vào những người thuộc phe ông ấy”.

Không chỉ vẽ ra cảnh đấu đá nội bộ ở cấp Trung ương, các thế lực thù địch còn vẽ ra cảnh đấu đá nội bộ ở các địa phương, dựng lên cái gọi là “cuộc chiến chiếm lĩnh quyền thống trị”. Chúng còn bịa ra những lực lượng, cá nhân được hưởng lợi từ sự đấu đá nội bộ trong Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự bịa đặt này cũng không nằm ngoài âm mưu, thủ đoạn chia rẽ nội bộ, làm giảm sút lòng tin của nhân dân với Đảng.

Trước đây, chúng hay công kích nước ta yếu kém trong phòng, chống tham nhũng, thờ ơ, bao che hành vi tham nhũng, nhưng giờ đây, khi công cuộc chống tham nhũng của Đảng ta đang vào giai đoạn nóng bỏng, nạn tham nhũng dần được đẩy lùi, thì chúng lại xuyên tạc nhiều hơn.

Chống tham nhũng trong bất cứ thời đại nào cũng nhằm mục đích giữ ổn định chính trị, phát triển kinh tế, lành mạnh xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân đối với chế độ, đối với nhà nước. Thế nhưng, các thế lực thù địch, phản động đứng dưới mác là “nhà báo độc lập”, “nhà dân chủ” cố tình xuyên tạc mục tiêu, động cơ của công cuộc phòng, chống tham nhũng. Với những luận điệu xuyên tạc, họ đã quy chụp, đánh tráo khái niệm để lôi kéo, dẫn dắt dư luận chống đối. Mục đích của bọn chúng là chia rẽ nội bộ Đảng, làm suy yếu sức mạnh của Đảng và giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước ta, thực hiện các mưu đồ chính trị như phủ nhận chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xuyên tạc, phủ định các quan điểm, chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta; phủ định giá trị lịch sử dân tộc và thành quả cách mạng; xuyên tạc, bóp méo các sự kiện chính trị, xã hội, các vụ việc phức tạp, nhạy cảm; hạ bệ, bôi nhọ, nói xấu các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Thực tế chống tham nhũng nước ta thời gian qua có phải là “thanh trừng nội bộ”? Những kẻ tham nhũng bị xét xử đều là những quan chức vì lòng tham, đã tìm mọi cách đục khoét của công, cuối cùng đều phải cúi đầu nhận tội, “tâm phục, khẩu phục” và thừa nhận rằng pháp luật Việt Nam đã xử đúng người, đúng tội.

Khi cuộc chiến chống tham nhũng ở nước ta càng đi vào chiều sâu, diễn ra ngày càng mạnh mẽ, quyết liệt, các cơ quan thi hành pháp luật càng đưa ra ánh sáng những vụ án tham nhũng lớn, xét xử những cán bộ cao cấp ở trong bộ máy nhà nước thì nhân dân càng tin tưởng, ủng hộ và hệ thống chính trị nước ta càng ổn định.

Chúng ta phải cảnh giác với các âm mưu phản động, phải nhận thức rõ rằng, đây không phải là “một cuộc đấu đá nội bộ” mà là một trong những biện pháp quan trọng để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, để cho Đảng trong sạch hơn, bộ máy nhà nước hoạt động hiệu quả hơn. Đó cũng chính là thực hiện tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, giữ vững và nâng cao niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ.

Ba là, chúng cho rằng “để bài trừ tham nhũng ở Việt Nam thì phải thay đổi chế độ”

Đến đây, những kẻ xuyên tạc cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của nước ta đã phơi bày bộ mặt thật của họ là những kẻ phản động, tuyên truyền cho việc thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, lật đổ chế độ XHCN ở nước ta.

Đặc biệt, trong thời gian gần đây, khi Đảng và Nhà nước ta chủ động đấu tranh phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, các thế lực thù địch đã tìm mọi cách để bóp méo, bịa đặt với mục đích cản trở sự nghiệp cách mạng và công cuộc đổi mới; xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phá hoại Đảng và chế độ, làm tan rã mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân.

Môi trường mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã, đang và sẽ tập trung chủ yếu là các nền tảng mạng xã hội. Thông qua việc thiết lập các website, blog để truyền tải thông tin xấu, độc, nhằm phá hoại tư tưởng, đời sống văn hóa tinh thần của các tầng lớp nhân dân, gây nhiễu loạn thông tin, làm phức tạp về chính trị - xã hội, làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước. Chiêu bài chủ yếu của chúng là lợi dụng những vụ việc tham nhũng, tiêu cực xảy ra trong đời sống để xuyên tạc, thổi phồng; lấy hiện tượng quy kết thành bản chất; đăng tải thông tin thật, giả lẫn lộn, đưa ra cái gọi là “tài liệu chứng minh” để xuyên tạc vai trò lãnh đạo, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bịa đặt về bí mật theo kiểu hé lộ những “thâm cung bí sử” trong Đảng... Qua đó, tác động, “dương Đông kích Tây” làm gia tăng các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và kích động xã hội nảy sinh quan điểm tùy tiện, phản biện vô nguyên tắc, phản đối chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kêu gọi từ bỏ Đảng, chủ nghĩa Mác - Lênin; thúc đẩy lối sống thực dụng, thẩm thấu tư tưởng văn hóa ngoại lai vào đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân (nhất là thế hệ trẻ), làm phai nhạt lý tưởng cách mạng, băng hoại đạo đức xã hội... Lợi dụng các sự kiện chính trị - xã hội “nhạy cảm”, việc bắt, xử lý những cán bộ cao cấp về tội tham nhũng; xét xử số đối tượng chống đối vi phạm pháp luật, để lôi kéo, kích động người dân tập trung đông người gây rối an ninh, trật tự, biểu tình, bạo loạn, lật đổ; tuyên truyền kích động các hoạt động ly khai. Móc nối, lôi kéo các đối tượng cơ hội chính trị, có cả cán bộ đương chức, tướng lĩnh đã nghỉ hưu và thành phần chống đối là trí thức, văn nghệ sĩ, tăng cường chống Đảng, cổ xúy cho “dân chủ tư sản”, “xã hội dân sự”, “xã hội dân chủ”./.

Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, cuộc chiến vừa mang tính cấp bách, vừa cơ bản, lâu dài của Đảng và Nhà nước ta

 Ở Việt Nam, tham nhũng được Đảng ta coi là kẻ thù, giặc “nội xâm”, một trong bốn nguy cơ lớn của sự nghiệp cách mạng, của chế độ XHCN; công tác phòng, chống tham nhũng được xác định là cuộc đấu tranh lâu dài, khó khăn và phức tạp.

Theo định nghĩa của Luật Phòng, chống tham nhũng Việt Nam, tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn, lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó để vụ lợi. Người có chức vụ, quyền hạn ở đây là những người làm việc trong cơ quan, tổ chức và các đơn vị trong hệ thống chính trị sử dụng vốn và tài sản, ngân sách nhà nước.

Các hành vi tham nhũng là: tham ô, nhận hối lộ; lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện hành vi sai trái; dùng tài sản đưa hối lộ; sử dụng trái phép tài sản, lạm dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản; lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ; giả mạo trong công tác để vụ lợi; lạm dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đến người khác...

Hậu quả của tham nhũng là vô cùng nguy hại. Tham nhũng gây thất thoát nguồn lực của quốc gia, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế và ổn định chính trị - xã hội. Về mặt chính trị, tình trạng tham nhũng trong cơ quan nhà nước sẽ khiến nhân dân mất lòng tin với Đảng và hệ thống chính trị, gây cản trở đất nước tiến lên CNXH. Về mặt kinh tế, tham nhũng làm chậm nhịp độ phát triển, phá vỡ chiến lược phát triển, hạn chế nguồn lực đầu tư, gây thiệt hại lớn cho Nhà nước và người dân, doanh nghiệp. Về mặt văn hóa - xã hội, tham nhũng là nguyên nhân phá hoại những giá trị đạo đức tốt đẹp, làm tha hóa đạo đức cán bộ, gây bất bình trong xã hội, làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo.

Vì vậy, ngay từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới thành lập, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiên quyết phòng, chống tham ô, tham nhũng. Người từng nhắc nhở: “Quan liêu, tham ô, lãng phí là tội ác. Phải tẩy sạch nó, phải thực hiện cần kiệm liêm chính, để đẩy mạnh thi đua sản xuất và tiết kiệm, để đưa kháng chiến đến thắng lợi, kiến quốc đến thành công, để xây dựng thuần phong mỹ tục trong toàn dân, toàn quốc”. Như vậy, việc chống tham nhũng không phải bây giờ chúng ta mới làm, mà đã làm từ lâu, làm thường xuyên và hiện nay đang được Đảng, Nhà nước ta lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt.

Trải qua các giai đoạn lịch sử, đến Đại hội VI (năm 1986), Đại hội mở đầu công cuộc đổi mới đất nước, cùng với tập trung khắc phục các mặt tiêu cực, hạn chế, yếu kém, cuộc chiến chống tham nhũng, lãng phí tiếp tục được Đảng ta nhấn mạnh. Đại hội VI thẳng thắn chỉ rõ: “Hiện tượng tiêu cực trong xã hội phát triển. Công bằng xã hội bị vi phạm. Pháp luật, kỷ cương không nghiêm. Những hành vi lộng quyền, tham nhũng của một số cán bộ và nhân viên nhà nước... chưa bị trừng trị nghiêm khắc”. Tiếp đó, Đảng ta đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết về công tác phòng, chống tham nhũng: Nghị quyết số 04/NQ-TW ngày 12-9-1987 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện “Cuộc vận động làm trong sạch và nâng cao sức chiến đấu của tổ chức Đảng và bộ máy nhà nước, làm lành mạnh các quan hệ xã hội”; Nghị quyết Trung ương 8 khóa VI về tiến hành cuộc đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng; Chỉ thị của Bộ Chính trị khóa VII về việc tiếp tục ngăn chặn và bài trừ tệ tham nhũng, buôn lậu; Nghị quyết Trung ương 3 khóa VII về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng; Nghị quyết số 14-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa VII (15-5-1996) về lãnh đạo cuộc đấu tranh chống tham nhũng...

Trong các Văn kiện Đại hội VIII, IX và X, Đảng ta tiếp tục chỉ rõ sự nguy hại của tham nhũng đến sự tồn vong của chế độ. Đại hội X nêu rõ: “Tình trạng suy thoái về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên gắn với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí là nghiêm trọng”.

Đại hội XI, trên cơ sở tổng kết lý luận và thực tiễn, Đảng ta khẳng định, trên lĩnh vực đấu tranh chống tham nhũng đã có những chuyển biến rõ nét. Nhiều vụ việc, vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp được phát hiện, xử lý nghiêm minh, nhiều quan chức cấp cao, kể cả thuộc diện Trung ương quản lý cũng chịu hình phạt nghiêm khắc của pháp luật. Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng quyết định đưa 8 vụ án tham nhũng trọng điểm, làm thất thoát tài sản lớn của đất nước từ vài trăm đến hàng nghìn tỷ đồng ra xét xử trước kỳ Đại hội XII của Đảng.

Đại hội XIII đã đưa ra nhiều chủ trương và giải pháp căn cơ, quyết liệt về phòng, chống tham nhũng: “Triển khai đồng bộ có hiệu quả quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng. Nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng, bảo đảm đúng pháp luật. Thực hiện quyết liệt, nghiêm minh, có hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng”. Đảng ta cũng có những bước phát triển mới về phòng, chống tham nhũng, với nhiều biện pháp, như: hoàn thiện pháp luật, chính sách về kê khai tài sản; kiên trì, kiên quyết và nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng, đặc biệt nhấn mạnh vấn đề phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng: “Khẩn trương xây dựng cơ chế phòng ngừa, cơ chế răn đe để kiểm soát tham nhũng. Thực hiện nghiêm quy định của pháp luật về thực hành tiết kiệm chống lãng phí. Tiếp tục thực hiện chặt chẽ, hiệu quả về kê khai, kiểm soát kê khai tài sản, thu nhập của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp”. Đại hội XIII đã chỉ rõ: “Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng”; “kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ, triệt để hơn và hiệu quả hơn”.

Tại kỳ họp thứ 20 ngày 05-8-2021 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, công tác phòng, chống tham nhũng vẫn không ngừng, không nghỉ, thậm chí ngày càng quyết liệt hơn, ngày càng có hiệu quả hơn và thêm nhiều bài học quý, kinh nghiệm tốt hơn... Thời gian tới phải làm mạnh hơn nữa, quyết liệt hơn nữa, hiệu quả cao hơn nữa... Đây là vì sự nghiệp chung, không thể không làm, cắt một vài cành sâu để cứu cả cây, làm rất quyết liệt nhưng rất nhân văn, nhân đạo, rất có lý, có tình, tâm phục, khẩu phục... Nhiệm vụ sắp tới còn nặng nề, khó khăn, không được chủ quan và mong mỏi của nhân dân vẫn là phải tiếp tục cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng không được dừng.

Với tinh thần không có vùng cấm, không có ngoại lệ, từ năm 2013 đến 2020, các cơ quan tố tụng trong cả nước đã khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm hơn 11.700 vụ án tham nhũng, lạm dụng chức vụ, kinh tế, trong đó có 1.900 vụ án tham nhũng, với gần 4.400 bị cáo, trong đó có 18 cán bộ diện Trung ương quản lý bị xử lý hình sự (1 Ủy viên Bộ Chính trị, 7 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, 4 bộ trưởng, nguyên bộ trưởng, 7 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang...).

Năm 2021, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật 32 cán bộ diện Trung ương quản lý, trong đó 26 cán bộ liên quan đến các vụ án, vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo. Các cơ quan tố tụng cả nước đã khởi tố, điều tra 3.725 vụ/7.066 bị can (tăng 1.186 vụ/2.652 bị can so với năm 2020) về tội tham nhũng, lạm dụng chức vụ, kinh tế; trong đó, riêng án tham nhũng, lạm dụng chức vụ đã khởi tố 390 vụ/1.011 bị can. Cơ quan chức năng đã khởi tố nhiều vụ án lớn, mở rộng điều tra, khởi tố thêm nhiều bị can là cán bộ cấp cao, cả đương chức và nghỉ hưu, sỹ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang. Trong đó, tập trung điều tra, xử lý nghiêm nhiều vụ án, vụ việc tiêu cực xảy ra trong lĩnh vực giáo dục, y tế, như vụ án Công ty Cổ phần Công nghệ Việt Á (Công ty Việt Á). Qua đó, tham nhũng từng bước được kiềm chế, ngăn chặn, góp phần quan trọng giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

Theo kết quả điều tra dư luận xã hội do Ban Tuyên giáo Trung ương tiến hành, đa số ý kiến người dân (93%) bày tỏ tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Điều đó thể hiện công tác phòng, chống tham nhũng hiện nay là nhiệm vụ rất quan trọng, vừa cấp bách, vừa lâu dài./.  

 

CHIẾN THẮNG LỊCH SỬ 30/ 4/ 1975 TRONG CON MẮT
CỦA BẠN BÈ QUỐC TẾ 

11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975, lá cờ của Quân Giải phóng đã tung bay trên nóc Dinh Độc Lập - sào huyệt cuối cùng của ngụy quyền Sài Gòn, báo hiệu Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta. Thắng lợi đó là một mốc son chói lọi, một trang sử huy hoàng trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, mở ra một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, thống nhất, cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Rất khó để thống kê số lượng bài viết, phóng sự, hình ảnh về sự kiện trọng đại này đã được báo chí quốc tế đăng tải trong ngày 30-4-1975 và những dịp kỷ niệm kể từ ngày đó đến nay. Tuy nhiên, điểm chung bao trùm là sự khâm phục trước chiến thắng của dân tộc Việt Nam. “Sự sụp đổ cuối cùng của miền Nam đến quá nhanh, không ai có thể hình dung được", Việt Nam “kiên cường, anh dũng”, chiến thắng “rung động địa cầu”... là những bình luận của báo chí quốc tế mô tả về chiến thắng của Việt Nam.

Bạn bè trên khắp thế giới đã thể hiện thái độ khâm phục, chúc mừng cho cuộc đấu tranh chính nghĩa của dân tộc ta. Có thể kể đến một số đại biểu sau đây:

Ngày 3-5-1975, Báo Nhân dân lao động của Myanmar có đoạn: “Với việc giải phóng Sài Gòn, cuộc chiến tranh cuối cùng ở Đông Dương đã chấm dứt... Thất bại của Mỹ là một bằng chứng cho thấy rằng thời đại chính sách dựa vào sức mạnh đã qua rồi”. Cùng cách nhìn nhận trên, Báo Tin tức Ai Cập ngày 7-5-1975 viết: "Không một ai trên trái đất này, dù chính kiến hay màu da của họ thế nào đi nữa, lại không kính trọng và tự hào về dân tộc Việt Nam, một dân tộc đã giương cao ngọn cờ chiến thắng trên phần đất cuối cùng của Tổ quốc mình vào ngày 30-4-1975. Sau 30 năm chiến đấu liên tục, không một phút nghỉ ngơi, dân tộc ấy đã đánh bại 3 tên đế quốc lớn mạnh nhất thế giới là Nhật, Pháp, Mỹ, cuối cùng bằng máu và lửa, đã chứng minh cho cả loài người thấy rằng, những dân tộc đã chiến đấu thì không bao giờ chịu khuất phục và ý chí của họ là vô địch”.

Đánh giá về chiến thắng của Việt Nam, Báo Tiếng nói nhân dân của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, số ra ngày 29-8-1975 phân tích: “Thắng lợi của nhân dân Việt Nam chứng minh rằng một nước dù đất không rộng, người không đông, nền kinh tế chưa phát triển, nhưng nếu có sự lãnh đạo đúng đắn, nhân dân đoàn kết chặt chẽ, biết phát huy truyền thống yêu nước và được sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân thế giới thì có thể đánh thắng chiến tranh phi nghĩa của chủ nghĩa đế quốc, dù đó là đế quốc Mỹ”. Trong bài xã luận số ra ngày 1-5-1975, Báo Asahi Shimbun (Nhật Bản) viết: “Chiến tranh Việt Nam đã kết thúc với thắng lợi của lực lượng giải phóng, điều đó nói lên rằng, thời đại các nước lớn dùng sức mạnh bóp nghẹt chủ nghĩa dân tộc đã chấm dứt rồi”. Tờ Phẩm giá, cơ quan ngôn luận của Đảng Dân chủ Guinea, số ra ngày 4-5-1975 thì khẳng định: “Thắng lợi này của nhân dân Việt Nam là một đóng góp vô giá, một tấm gương lịch sử đối với cách mạng thế giới mà các thế hệ ngày nay và mai sau mãi mãi khâm phục, chiêm ngưỡng và cần phải học tập”.

Tạp chí Châu Âu (Pháp) tháng 10- 1975 viết: “Sau 30 năm chiến đấu-những cuộc chiến đấu lạ lùng-từ mùa xuân này, hòa bình đã trở lại trên toàn nước Việt Nam. Hòa bình trong độc lập. Chắc chắn đây là thắng lợi trọn vẹn nhất mà một dân tộc có thể giành được trước một để quốc hùng cường vào bậc nhất. Phải hàng năm, hàng chục năm nữa mới có thể lường hết được tầm quan trọng của thắng lợi này".

Thượng tướng, GS,TS khoa học quân sự Anatoly Ivanovich Khiupenen (người Nga), nguyên Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô tại Việt Nam, khẳng định: “Lãnh thổ Việt Nam có thể bị xâm chiếm, nhưng nhân dân Việt Nam không bao giờ chịu khuất phục. Lịch sử hàng nghìn năm của Việt Nam cho thấy những kẻ xâm lược cuối cùng đều phải rút chạy khỏi Việt Nam. Đối với chúng tôi, Liên Xô đã hoàn thành nghĩa vụ quốc tế cao cả với nhân dân Việt Nam anh em. Chúng tôi thường nói với nhau, chúng tôi đã làm việc một cách trung thực. Các bạn là một dân tộc kiên cường. Chúng tôi luôn ở bên các bạn. Tình hữu nghị được sinh ra trong chiến đấu là tình cảm bền chặt nhất, không gì hơn được. Chiến thắng của các bạn là chiến thắng chung, chiến thắng của tình hữu nghị Việt Nam-Liên Xô. Chúng ta là những người anh em”.

Nhân kỷ niệm 35 năm chiến thắng 30-4-1975, Bảo Người Lao động của Cuba đăng bài với tiêu đề “Việt Nam tự do và thống nhất", khẳng định: “Ngày 30-4-1975, những hình ảnh chiến thắng đế quốc Mỹ của nhân dân Việt Nam anh hùng đã nhanh chóng lan tỏa khắp thế giới. Cảnh tượng những tên linh Mỹ hoảng loạn chen lấn, xô đẩy trên những máy bay trực thăng Black Hawk trong một cuộc tháo chạy nhục nhã trước sức tiến thần tốc không gì cản nổi của lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam, cũng như hình ảnh các chiến sĩ giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập vẫn còn nguyên đó như những bằng chứng hùng hồn của ngày hai miền Nam-Bắc Việt Nam hoàn toàn thống nhất”.

Ngày 30/4/2023, Kỷ niệm 48 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, chúng ta càng thêm tự hào về dân tộc Việt Nam anh hùng, tự hào về truyền thống đoàn kết và tinh thần kiên quyết, kiên trì bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc. Từ khát vọng thống nhất non sông năm xưa, nay được lớp lớp người Việt Nam kế thừa, phát huy và chung tay hành động, vì khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc./.

 

Học tập Bác thực hiện Cần kiệm liêm chính chí công vô tư

Cần kiệm liêm chính chí công vô tư là Đức tính hàng đầu mà Bác dạy Đảng viên, cán bộ và nhân dân. - Trước hết nói về cần, kiệm, liêm, chính: Cần tức là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng dẻo dai. Siêng học thì mau biết, siêng làm thì nhất định thành công. Kiệm là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi. Liêm là trong sạch, liêm khiết, không tham địa vị, không tham tiền tài. Chính nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn. Các đức tính đó có mối quan hệ mật thiết với nhau. Cần mà không Kiệm thì như thùng không đáy. Kiệm mà không Cần thì lấy gì mà Kiệm. - Chí công vô tư là khi làm việc gì cũng không nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì nên đi sau, nghĩa là đặt lợi ích của cách mạng, của nhân dân lên trên hết, trước hết, “phải lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Học tập Bác về tính" Cần" Tôi luôn nỗ lực cố gắng hoàn thiện bản thân hàng ngày, hoàn thành công việc mà cấp trên giao luôn tự học tập trau giồi kiến thức và kinh nghiệm, nâng cao trình độ bản thân để ngày càng tiến bộ hơn nữa đáp ứng được yêu cầu mà công việc và đơn vị đặt ra. Học tập Bác về " Kiệm " Tôi hiểu được những khó khăn mà nhà nước và nhân dân trong công cuộc xây dựng đất nước. Do đó bản thân luôn thực hành tiết kiệm , tận dựng mọi nguồn lực của bản thân và phát huy tối đa khả năng của mình xây dựng kinh tế cá nhân vững mạnh xây dựng gia đình và đơn vị vững mạnh. Cần, kiệm, liêm, chính tốt sẽ dẫn đến chí công vô tư. Chí công vô tư, một lòng vì dân vì nước nhất định sẽ thực hiện được cần, kiệm, liêm, chính . Vì thế, là một công chức, trước hết bản thân phải rèn luyện cho mình đạo đức cách mạng Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư, để thật sự là “công bộc” của nhân dân . mặc dù những điều tôi học tập và làm theo gương Bác mới chỉ là kết quả vô cùng nhỏ bé, tuy nhiên từ sự phấn đấu ấy cũng đã tạo ra một phong trào thi đua trong tập thể công chức đơn vị. Phần lớn đảng viên công chức tại cơ quan đều đạt danh hiệu thi đua, đoàn kết, yêu thương, gắn bó, giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Bác đã nói những người trong công sở, ít nhiều đều có quyền hành, nếu không giữ đúng cần, kiệm, liêm, chính thì rất dễ trở lên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân. Chính vì thế đảng viên, công chức chúng ta phải rèn luyện cho mình đạo đức cách mạng, bởi vì Cần, Kiệm, Liêm, Chính là thước đo bản chất đạo đức của con người. Mỗi chúng ta phải học tập tấm gương của Người trên tinh thần tự nguyện tự giác, phải coi đó là việc làm thường xuyên, suốt đời, trong công tác cũng như trong cuộc sống cá nhân. Nếu ở các lĩnh vực quản lý nhà nước khác, để rèn luyện cho mình chữ Liêm, Chính khó một phần thì ở vị trí của công chức ngành Thanh tra, sẽ phải phấn đấu ít nhất hơn một lần thì mới giữ được mình trong môi trường nhạy cảm ấy. Tại môi trường này, chúng ta càng cần phải tiếp tục học tập Bác, noi gương Bác. Càng hiểu về Người, tôi thấy lòng mình sáng hơn, sống có tâm hơn, biết lo cho mình và biết nghĩ về người khác.

Những dấu ấn nổi bật nhất trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng cần phải nhắc tới.

 Một là, chúng ta có hai hội nghị Trung ương 5 và 6 (khóa XIII). Mỗi hội nghị ban hành một nghị quyết về công tác xây dựng Đảng. Hội nghị Trung ương 5 ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW về tăng cường củng cố, xây dựng TCCSĐ và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới. Hội nghị Trung ương 6 ban hành Nghị quyết số 28-NQ/TW về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới. Hai nghị quyết này rất quan trọng, tác động trực tiếp đến việc nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến đổi, diễn biến phức tạp, khó lường.

Hai là, Bộ Chính trị ban hành nhiều quy định liên quan đến công tác xây dựng Đảng và công tác cán bộ của Đảng, như: Quy định số 80-QĐ/TW về phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử; Thông báo kết luận số 20-TB/TW về chủ trương bố trí công tác đối với cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý sau khi bị kỷ luật… Thực hiện các quy định của Bộ Chính trị, tại Hội nghị Trung ương 6, lần đầu tiên Đảng ta cho 3 đồng chí Ủy viên Trung ương đương nhiệm thôi tham gia BCH Trung ương (khóa XIII) khi 3 đồng chí này bị Bộ Chính trị kỷ luật cảnh cáo. Đây là quyết định chưa từng có, thể hiện quyết tâm chính trị cao của Đảng để làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, được Nhân dân đồng tình, ủng hộ, thêm tin tưởng vào Đảng, vào chế độ.

Ba là, việc quán triệt, tuyên truyền, tổ chức thực hiện nghị quyết của Trung ương đã có nhiều đổi mới. Chúng ta đã thực hiện tổ chức hội nghị quán triệt triển khai các nghị quyết của Trung ương vừa trực tiếp, vừa trực tuyến, có những nơi kết nối trực tuyến đến tận cấp xã. Những đảng viên ở cơ sở được lắng nghe và truyền cảm hứng bởi sự truyền đạt nghị quyết từ các đồng chí cán bộ cấp cao của Đảng. Nhờ vậy nghị quyết đi vào cuộc sống nhanh hơn.

Bốn là, công tác phòng, chống tham nhũng tiếp tục được tăng cường. Nhiều vụ án đã được Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đưa vào diện theo dõi, chỉ đạo quyết liệt. Nhiều vụ án lớn được đưa ra ánh sáng. Điều này đã củng cố và tăng cường thêm niềm tin của Nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước.

Năm là, đồng thời với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Đảng ta chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng trên tất cả các lĩnh vực, đạt nhiều thành tựu to lớn trong năm 2022./.

 

CHIẾN THẮNG LỊCH SỬ 30 THÁNG 4 NĂM 1975
TRONG CON MẮT CỦA NGƯỜI MỸ 

Ngày 30/4/1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, chấm dứt 21 năm chiến đấu chống đế quốc Mỹ và chính quyền ngụy Sài Gòn. Để đi đến thắng lợi cuối cùng, Rất khó để thống kê số lượng bài viết, phóng sự, hình ảnh về sự kiện trọng đại này đã được báo chí quốc tế đăng tải trong ngày 30-4-1975 và những dịp kỷ niệm kể từ ngày đó đến nay. Báo chí Mỹ đã có rất nhiều bài viết thể hiện dư luận của các giới học giả, chính khách về sự kiện này. Đó là:

Ngay sau giờ phút lá cờ của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay trên nóc Dinh Độc Lập và lời tuyên bố đầu hàng vô điều kiện của Tổng thống ngụy quyền Sài Gòn Dương Văn Minh, hãng tin UPI của Mỹ ngày 30-4-1975 đã đưa tin: “Quân đội Cộng sản tươi cười lái xe tăng vào Phủ Tổng thống và hô vang “đồng chí" với những người đứng ở bên đường và các bảo đang theo dõi. Họ thật sự không để ý đến sự có mặt của các nhà báo đang ghi lại sự đầu hàng lịch sử của Chính phủ Sài Gòn trước những người Cộng sản”.

Với tựa đề “Sài Gòn sụp đổ”, tờ New York Time ngày 1-5- 1975 chạy tít lớn suốt chiều rộng trang nhất kèm theo hàng loạt tin, ảnh về sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn và chiến thắng của các lực lượng cách mạng Việt Nam. Cũng trong số ra ngày 1-5-1975, hãng tin AP đăng tải bài viết có đoạn “Xe tăng, xe bọc thép và xe tải ngụy trang của Quân Giải phóng tiến nhanh vào dinh Tổng thống. Cũng trong thời gian này, tướng Dương Văn Minh đã lên đài phát thanh và truyền hình công bố lệnh đầu hàng".

Trong tối cùng ngày 1-5-1975, hầu hết các chương trình thuộc 3 hệ thống truyền hình Mỹ đã dành thời lượng cho những đoạn phim về cuộc di tản người Mỹ khỏi Sài Gòn ngày 29-4-1975 và các mẩu tin về giây phút cuối cùng của chế độ Việt Nam Cộng hòa. Tờ Điện tín New York cho rằng, việc Mỹ dính líu vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam là “một sự hy sinh vô ích về sinh mạng và tiền của người Mỹ”, còn các bản tin hằng ngày gọi sự kiện ngày 30-4-1975 là “một chương bị thảm trong lịch sử nước Mỹ".

Còn với bà Merle Ratner (người Mỹ), nhà hoạt động phong trào cánh tả hàng đầu tại Mỹ, từng tham gia phong trào chống chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam, đồng sáng lập và điều phối tổ chức vận động cứu trợ và trách nhiệm đối với nạn nhân chất độc da cam Việt Nam (VAORRC), cảm xúc khi nghe tin về Đại thắng mùa xuân 1975 của nhân dân Việt Nam là một trong những khoảnh khắc hiếm hoi và vui sướng nhất cuộc đời. Bà chia sẻ: “Đây là chiến thắng dành cho những người dân Việt Nam anh hùng, những người đã phải hy sinh cả xương máu để có được chiến thắng vinh quang đó. Chúng tôi cảm thấy chiến thắng của các bạn cũng là chiến thắng dành cho chúng tôi và nhân dân trên toàn thế giới. Chúng tôi vô cùng hân hoan và tự hào! Việt Nam được giải phóng và thống nhất. Điều này đem lại cho chúng tôi một niềm tin rằng nếu như một dân tộc đoàn kết trong cuộc đấu tranh vì công lý thì nhất định dân tộc ấy sẽ giành thắng lợi. Nó cũng khiến chúng tôi tin rằng chủ nghĩa đế quốc Mỹ có thể cũng bị đánh bại ở những nơi khác trên thế giới và ở ngay chính nước Mỹ!”.

Hãng tin AFP ngày 15-12-1975 thì đánh giá “Trong năm 1975, sự kiện nổi bật nhất châu Á là sự kiện Việt Nam năm 1975, chứng kiến sự ra đời nước Việt Nam thống nhất. Không còn nghi ngờ gì nữa, sự kiện này sẽ có ảnh hưởng to lớn đến khu vực này của thế giới trong tương lai"

Với nước Mỹ, thất bại trong chiến tranh Việt Nam đã để lại nhiều tác động. Nhà sử học Nigel Cawthorne nhận xét: “Nếu phía Mỹ không bị tổn thương về mặt thể xác thì sự hủy hoại về mặt tâm lý phải gánh chịu không thể tính toán hết. Việt Nam là một cuộc chiến tranh đầu tiên mà Mỹ thất bại trong việc giành chiến thắng và đã đẩy nước Mỹ đến những phân rẽ cay đắng”. Tờ Thời báo Los Angeles viết: “Người Mỹ ra đi, Việt Nam Cộng hòa đầu hàng, nước Việt Nam đã được trả lại cho người Việt Nam”. Báo Mặt trời Baltimore bình luận: “Chúng ta bị thương tổn và cảm thấy nhục, nhưng có lẽ chúng ta cũng đã chín chắn hơn lên một chút qua sự kiện chiến sự Sài Gòn-Gia Định".  Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ Robert McNamara đã bày tỏ suy nghĩ với sự dằn vặt. “Những người cộng sự của tôi trong chính quyền John F.Kennedy và Lyndon B.Johnson là một nhóm người đặc biệt... Tại sao nhóm người giỏi nhất và thông minh nhất ấy lại mắc sai lầm về Việt Nam? Chúng tôi mắc nợ các thế hệ tương lai trong việc giải thích tại sao lại mắc sai lầm như vậy".

Chống chủ nghĩa cơ hội trong công tác xây dựng Đảng

Xây dựng Đảng vững mạnh luôn là nội dung cấp bách quan trọng hàng đầu của Nhà nước ta và một nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng đó là chống chủ nghĩa cơ hội đối với đội ngũ cán bộ Đảng viên. Theo V.I.Lênin, chủ nghĩa cơ hội là chủ nghĩa của những người chủ trương và hành động vô nguyên tắc; luôn hy sinh cái cơ bản để đạt tới lợi ích cục bộ, trước mắt và sẵn sàng thỏa hiệp chính trị. Và những người cơ hội chủ nghĩa là những người không kiên quyết, vô nguyên tắc, không rõ ràng, lờ mờ, quanh co, do dự, thiếu kiên định, dao động, lừng chừng về chính trị. Với những người này, thì họ “dễ dàng thừa nhận mọi công thức và rời bỏ mọi công thức cũng dễ dàng như thế”. Vốn bắt nguồn từ bản chất của chủ nghĩa cơ hội, những người sa vào chủ nghĩa cơ hội, những người cơ hội chủ nghĩa bao giờ cũng tránh đặt các vấn đề một cách rõ ràng, dứt khoát, tìm cách thoả hiệp quan điểm này với quan điểm kia, để đứng trung dung giữa những quan điểm đối chọi nhau, do đó, đối với họ, chỉ luôn là những lời nói bóng gió và giả thiết trống rỗng; là lời nói không đi đôi với việc làm, “cái thói nói cách mạng suông mà không ngượng miệng”. Thực tế là, trong Đảng vẫn còn đó không ít những thủ đoạn, biểu hiện của những kẻ cơ hội chủ nghĩa - những người mang danh mácxít song lại sẵn sàng hy sinh lợi ích lâu dài, bền vững của giai cấp vô sản để mưu lợi cho sự “hào nhoáng bề ngoài và chốc lát của mình”, sẵn sàng thoả hiệp với mọi cái xấu để đạt được lợi ích cá nhân, tìm cách thích nghi với mọi phía và mong được các phái chấp nhận, dung nạp, tạo thành bè phái và cánh hẩu. Thực tế cũng cho thấy là, nơi nào có quyền lực, có nhiều lợi ích thì chủ nghĩa cơ hội càng dễ phát sinh; đồng thời ở nơi đó, cũng không thể thiếu những kẻ cơ hội chủ nghĩa - những kẻ “lập lờ”, “ẩn mình” dưới những lời nói hay nhưng trong việc làm thì vô nguyên tắc, chỉ chăm chăm lo lợi ích của chính mình mà không màng đến lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân. Vì thế, để bảo vệ Đảng, V.I.Lênin kiên quyết đấu tranh với những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái đó và phê phán kịch liệt sách lược cơ hội chủ nghĩa của những người kém tính Đảng, kém ý thức tổ chức, mang nặng chủ nghĩa cá nhân, những người làm chia rẽ sự thống nhất về tư tưởng và hành động trong Đảng, chia rẽ nội bộ Đảng, phá hoại sức mạnh khối đoàn kết của Đảng. Để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh và phát triển, theo V.I.Lênin, phải thường xuyên liên tục, không được lơi là cuộc đấu tranh chống những kẻ cơ hội chính trị - những kẻ cái gì cũng cho là đúng, cũng tán thưởng, không có quan điểm chính trị rõ ràng, luôn ngả nghiêng, dao động, không kiên định nguyên tắc dẫn đến gây bè cánh trong Đảng; những kẻ sẵn sàng quỳ gối, uốn lưỡi cho vừa lòng và phù hợp với quan điểm của cấp trên và quần chúng, hòng tăng phiếu ủng hộ trong các dịp bầu cử, nhất là luôn “hy sinh lợi ích căn bản của quần chúng cho lợi ích tạm thời của một số hết sức ít công nhân, nói cách khác tức là sự liên minh giữa một bộ phận công nhân với giai cấp tư sản để chống lại quần chúng vô sản”[4]. Đồng thời, phải chủ động phòng ngừa và đấu tranh chống những phần tử cơ hội chính trị - những kẻ luôn biểu hiện, thể hiện bản thân rất vững vàng về lập trường chính trị, luôn phát biểu và tỏ ra thông suốt lý luận chủ nghĩa Mác, nhưng thực tế thì không phải vậy: chúng không vì lý tưởng cách mạng mà vì động cơ quyền lực, không vì Đảng, vì dân mà hy sinh phấn đấu mà vì lợi ích cá nhân mình; những kẻ “tìm mọi cách” chui vào Đảng, xâm nhập vào bộ máy quyền lực, tìm mọi cách để giành được vị thế/quyền lực, để từ vị trí đó và dùng quyền lực đó thực hiện mục đích của cá nhân, rồi kết bè, kéo cánh cùng những phần tử cơ hội cũ, tạo thành một thế lực đáng kể trong Đảng, làm giảm sức mạnh, uy tín và thanh danh của Đảng; những kẻ không nhận thức đúng con đường đi lên của sự nghiệp cách mạng vô sản, sợ khó khăn trong việc kiến thiết xã hội chủ nghĩa, để những khó khăn đó làm cho khiếp đảm và tỏ ra tuyệt vọng hay hoang mang hèn nhát, người đó không phải là một người xã hội chủ nghĩa[5]. Hơn nữa, phải kiên quyết đưa ra khỏi Đảng “những kẻ gian giảo, những đảng viên cộng sản đã quan liêu hóa, không trung thực, nhu nhược, và những người mensêvích, tuy “bề ngoài” đã được phủ một lớp sơn mới, nhưng trong tâm hồn thì vẫn là mensêvích”[6], làm cho Đảng thực sự là đội ngũ đoàn kết, thống nhất về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đủ năng lực và sức mạnh lãnh đạo tương xứng với nhiệm vụ chính trị được giao.

Việt Nam nhấn mạnh việc đối thoại xây dựng và tôn trọng các quyền lợi chính đáng của tất cả các bên

 Ngày 24-4, tại Trụ sở Liên hiệp quốc, Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc (HĐBA LHQ) đã tổ chức Phiên thảo luận mở cấp Bộ trưởng với chủ đề “Chủ nghĩa đa phương hiệu quả thông qua bảo vệ các nguyên tắc của Hiến chương LHQ”.

Phiên họp do Ngoại trưởng Nga (nước Chủ tịch HĐBA LHQ tháng 4-2023) Sergei Lavrov chủ trì với sự tham dự, phát biểu của Tổng thư ký LHQ và đại diện hơn 50 nước thành viên.

Tại phiên họp, Tổng Thư ký LHQ António Guterres cho rằng hợp tác quốc tế và chủ nghĩa đa phương vừa là khởi nguồn, vừa là trung tâm và tầm nhìn định hướng đối với mọi hoạt động của LHQ. Cộng đồng quốc tế cần coi các nguyên tắc của Hiến chương LHQ, luật pháp quốc tế như tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị của tất cả các quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ, ngăn ngừa xung đột, giải quyết hòa bình các xung đột, tranh chấp và loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử là nền tảng vững chắc để ứng phó ứng phó hiệu quả với những biến động và thách thức phức tạp của tình hình quốc tế hiện nay.

Phát biểu tại phiên thảo luận, Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng Phái đoàn Việt Nam tại LHQ, cho rằng để thúc đẩy chủ nghĩa đa phương hiệu quả tất cả các quốc gia có trách nhiệm tuân thủ Hiến chương LHQ và luật pháp quốc tế, nhất là nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia, không sử dụng và đe dọa sử dụng vũ lực, giải quyết hòa bình tất các tranh chấp trên cơ sở các tiến trình pháp lý và ngoại giao. Cùng với đó, cần tận dụng mọi nguồn lực và cơ hội để ngăn ngừa xung đột và đạt giải pháp cho hòa bình và an ninh. Chủ nghĩa đa phương chỉ hiệu quả nếu có sự thiện chí, tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau với tinh thần cởi mở, bao trùm và bình đẳng. Đối thoại xây dựng và tôn trọng các quyền lợi chính đáng của tất cả các bên trên cơ sở luật pháp quốc tế cũng đóng vai trò quan trọng trong giải quyết các khác biệt và giảm căng thẳng.

Về vai trò của LHQ, Đại sứ nhấn mạnh LHQ và các cơ quan chính trong hệ thống cần tiếp tục đóng vai trò trung tâm, thúc đẩy hợp tác, đối thoại và đoàn kết. Việt Nam ủng hộ vai trò của HĐBA trong việc bảo đảm tôn trọng Hiến chương LHQ và pháp quyền như đã khẳng định trong Tuyên bố Chủ tịch HĐBA hồi tháng 1-2020 do Việt Nam chủ trì đề xuất.

Nhân dịp này, Đại sứ Đặng Hoàng Giang cũng nêu bật các nỗ lực và đóng góp của Việt Nam và ASEAN trong thúc đẩy các giải pháp đối với các thách thức toàn cầu và khu vực, góp phần vào việc duy trì hòa bình, ổn định và thịnh vượng khu vực và quốc tế

Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn mới

cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái thù địch hiện nay là rất khó khăn, phức tạp rất quyết liệt và không khoan nhượng. Trong bối cảnh tình hình mới, Đảng ta phải coi trọng nâng cao năng lực lãnh đạo đối với nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, lâu dài này. Ở Việt Nam, từ khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời cho đến ngày nay, chủ nghĩa Mác-Lênin đã được Đảng ta và chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thu; vận dụng và phát triển sáng tạo phù hợp với điều kiện của Việt Nam và quy luật của thời đại. Ngay từ khi Đảng ta ra đời năm 1930 đã phải tiến hành cuộc đấu tranh quyết liệt chống lại các âm mưu thủ đoạn chống phá thâm độc của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận,bảo vệ bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh – Bảo vệ hệ thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại. Trong bối cảnh hiện nay, chúng ta đã nhận diện rõ những âm mưu, thủ đoạn, phương thức, hình thức, các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị tấn công vào nền tảng tư tưởng, cương lĩnh đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước ta thể hiện chủ yếu trên những vấn đề sau: - Tấn công trực diện vào nền tảng tư tưởng của Đảng để phủ định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ định con đường đi lên CNXH. Các thế lực thù địch đẩy mạnh tuyên truyền, cổ xuý du nhập các trào lưu tư tưởng cực đoan: chủ nghĩa dân tuý, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa dân tộc cực đoan từ bên ngoài kết hợp với kích động chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa bè phái, chủ nghĩa hưởng lạc từ bên trong nhằm thúc đẩy “tự diễn biến” “tự chuyển hoá” trong hệ thống chính trị và xã hội. - Phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng và thể chế chính trị XHCN với các luận điệu: “Đảng tự cho mình đứng trên tất cả”; “Đảng cầm quyền phi chính danh”, “Đảng không còn bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc”; cổ xuý “Phi chính trị hoá” lực lượng vũ trang; phủ nhận kinh tế thị trường định hướng XHCN, đối lập kinh tế thị trường với định hướng XHCN; quy kết chế độ hiện nay mắc “lỗi hệ thống”, đòi cải cách thể chế chính trị theo hướng đa nguyên, đa Đảng, thực hiện “tam quyền phân lập”, phát triển “xã hội dân sự” theo tiêu chí phương Tây. - Xuyên tạc tình hình đất nước, rêu rao cái gọi là “khủng hoảng toàn diện”, “tình thế hiểm nghèo”; cường điệu, vu khống khoét sâu các vấn đề xã hội, tôn giáo, dân tộc, nhân quyền, đất đai…nhằm phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. - Nguỵ tạo, tô vẽ, thổi phồng những yếu kém khuyết điểm của một số tổ chức, cá nhân cán bộ, Đảng viên quy kết thành bản chất của Đảng cầm quyền, kích động đối lập Đảng, nhà nước với nhân dân. - Xâm nhập vào nội bộ của ta, tiếp cận, lôi kéo, mua chuộc nhằm phân hoá nội bộ, dựng “ngọn cờ” để tập hợp lực lượng. Đẩy mạnh tìm kiếm những phần tử thoái hoá biến chất trong hàng ngũ cán bộ Đảng viên nhất là những kẻ bất mãn, cơ hội chính trị, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” để tán phát các quan điểm sai trái, phản động. - Phá hoại đường lối đối ngoại độc lập tự chủ đa phương hoá, đa dạng hoá trong hội nhập quốc tế của Đảng ta với các chiêu bài như “bài”, “thoát” nước này, liên minh với nước kia, cổ xuý chủ nghĩa ly khai. Chúng triệt để lợi dụng các vấn đề chủ quyền biển đảo để tung tin thất thiệt làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển đảo của Đảng và Nhà nước ta. Chúng tổ chức tán phát các “Thư ngỏ”, “tuyên bố”, “kiến nghị” để lôi kéo kích động đồng bào ta ở trong và ngoài nước kêu gọi chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế can thiệp vào công việc nội bộ, gây sức ép với Việt Nam về các vấn đề dân chủ, nhân quyền… Công cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước sự chống phá của các thế lực địch phản động ngày nay càng ngày càng diễn biến phức tạp và khó khăn hơn bao giờ hết. Để làm được điều đó thì rất cần sự chung tay của tất cả toàn xã hội. Đẩy mạnh tất cả các biện pháp để phòng chống, giáo dục và phát huy tinh hoa của xã hội.

CHIẾN DỊCH GIẢI PHÓNG SÀI GÒN - GIA ĐỊNH MANG TÊN CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH ĐƯỢC QUYẾT ĐỊNH VÀO THỜI ĐIỂM NÀO?


Sau khi giải phóng Tây Nguyên và các tỉnh ở miền Trung, vào đầu tháng 4-1975, các cánh quân của ta đều hướng về phía Nam chuẩn bị cho cuộc hội quân lớn để giải phóng Sài Gòn. Trước tình thế ngày càng khẩn trương, các vị tướng lĩnh chỉ huy chiến dịch cũng chuyển vào Nam Bộ và gặp nhau tại căn cứ của Miền ở khu vực Tà Thiết - Lộc Ninh.
Tại đây đã có mặt các đồng chí trong Trung ương Cục và Bộ Tư lệnh Miền gồm: Phạm Hùng, Nguyễn Văn Linh, Văn Tiến Dũng, Trần Nam Trung, Trần Văn Trà, Phan Văn Đảng, Võ Văn Kiệt, Nguyễn Văn Xô, Lê Đức Anh, Lê Văn Tưởng, Đồng Văn Cống, Lê Ngọc Hiền, Đinh Đức Thiện, Lương Văn Nho. Chiều 7-4, đồng chí Lê Đức Thọ cũng đã vào tới Tà Thiết.
Ngày 8-4, trong cuộc họp đông đủ của Trung ương Cục, Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền, có thêm cán bộ của Bộ Tổng tư lệnh tham dự, đồng chí Lê Đức Thọ phổ biến nội dung Nghị quyết của Bộ Chính trị họp ngày 25-3 ở Hà Nội. Cuối cuộc họp, đồng chí phổ biến quyết định của Bộ Chính trị thành lập Bộ Tư lệnh chỉ huy Chiến dịch giải phóng Sài Gòn-Gia Định gồm các đồng chí: Văn Tiến Dũng, Tư lệnh; Phạm Hùng, Chính ủy; các Phó tư lệnh: Trần Văn Trà, Lê Đức Anh; Đinh Đức Thiện, Phó tư lệnh phụ trách hậu cần; Lê Ngọc Hiền, Tham mưu trưởng.
Sang ngày 22-4-1975, bổ sung thêm đồng chí Lê Trọng Tấn làm Phó tư lệnh; Lê Quang Hòa làm Phó chính ủy.
Bộ chỉ huy chiến dịch sử dụng các cơ quan tham mưu chính trị, hậu cần vốn có của Miền để làm việc, có tăng cường thêm một số cán bộ của Đoàn A75 vừa ở Tây Nguyên tới và từ Bộ Tổng Tham mưu phái vào.
Thời gian hết sức khẩn trương, Bộ Chính trị chỉ thị cuộc tổng công kích vào Sài Gòn càng sớm càng tốt.
Trong không khí náo nức, sôi động của chiến trường, lần lượt các Bộ tư lệnh quân chủng, binh chủng, quân đoàn đến sở chỉ huy chiến dịch nhận nhiệm vụ. Riêng đối với Quân đoàn 4, Quân đoàn 2, Sư đoàn 3, của Quân khu 5 đang chiến đấu ở cánh Đông, Bộ chỉ huy chiến dịch cử Đại tá Lương Văn Nho (sau này là Phó tư lệnh Quân khu 7) đi truyền đạt nhiệm vụ. Bản mệnh lệnh có chữ ký của đồng chí Phạm Hùng và Văn Tiến Dũng. Mệnh lệnh nêu rõ: Tất cả các binh đoàn thuộc cánh quân phía đông đều đặt dưới quyền chỉ huy của đồng chí Lê Trọng Tấn, tác chiến theo kế hoạch thống nhất của Bộ Chỉ huy chiến dịch.
Sau khi thành lập Bộ Chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài Gòn và điểm các cánh quân trên các hướng, các đồng chí trong Bộ Chỉ huy thao thức, trăn trở nhớ đến Bác Hồ, Người đã suốt đời hy sinh tất cả cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Nhớ tên Bác đã được đặt cho thành phố Sài Gòn, Bộ Chỉ huy chiến dịch nhất định đặt tên chiến dịch tổng công kích và nổi dậy giải phóng Sài Gòn với ý nghĩa và quy mô lớn nhất trong cuộc chiến tranh giải phóng đất nước nước, là Chiến dịch Hồ Chí Minh. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương thông qua quyết tâm và kế hoạch giải phóng Sài Gòn-Gia Định. Hồi 17 giờ 50 phút ngày 14- 4-1975, bức điện số 37/TK của đồng chí Lê Duẩn, Bí thư Thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng gửi đến mặt trận Sài Gòn "đồng ý chiến dịch Sài Gòn lấy tên là Chiến dịch Hồ Chí Minh".
Như vậy, Sài Gòn là nơi Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước. Tên Bác gắn với một sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc, cho thấy tầm vóc to lớn của chiến dịch, tính triệt để và tất thắng của nó, đánh vào Sài Gòn như thế nào cho nhanh, chắc thắng, làm sụp đổ cả chế độ phản động, đập tan cả hệ thống tổ chức ngụy quân, ngụy quyền từ Trung ương đến tận cơ sở, phá tan bộ máy chiến tranh, với bản chất phản động hiếu chiến, ngoan cố của bè lũ tay sai, đè bẹp ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ (1).
ST (Báo QĐND)
Bộ đội lên máy bay vận tải vào miền Nam tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng Sài Gòn (tháng 4-1975). Ảnh: TTXVN
Có thể là hình ảnh về 10 người và máy bay trực thăng
Tất cả cảm xúc:
54

CẮT PHÁO RA KHỎI XE ĐỂ TIÊU DIỆT ĐỊCH


Đêm 25-4-1975, Trung đoàn 280 (nay thuộc Sư đoàn 361, Quân chủng Phòng không-Không quân) nhận lệnh tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh.
Theo đó, đơn vị có nhiệm vụ vượt qua sông Bé, phối thuộc chiến đấu bảo vệ đội hình của Sư đoàn Bộ binh 320 và Lữ đoàn Xe tăng 202 đánh địch giải phóng Tân Uyên, Lái Thiêu, Bình Triệu và tiến vào Sài Gòn đánh chiếm Bộ Tổng Tham mưu ngụy.
Ngay sáng hôm sau, Đảng ủy Trung đoàn tổ chức cuộc họp thông qua kế hoạch chiến đấu. Tại cuộc họp này, Trung đoàn trưởng Đào Khắc Sương nêu quyết tâm: Phải đánh thắng địch trong mọi tình huống, cả khi có chuẩn bị và khi chưa được chuẩn bị kỹ, cả lúc tập trung hoặc độc lập ở tuyến trước hay tuyến sau, trên không hoặc mặt đất, bảo vệ an toàn cho đơn vị bạn tiến công giải phóng Sài Gòn thắng lợi.
Sau khi chuẩn bị chu đáo mọi mặt, đêm 29-4-1975, lực lượng của Trung đoàn 280 chia thành 3 khối: Tiểu đoàn 105 đi đầu, tiếp sau xe tăng, thiết giáp; Tiểu đoàn 102 đi giữa bảo vệ bộ binh cơ giới; Tiểu đoàn 103 đi gần cuối có nhiệm vụ vừa hành quân vừa chiến đấu trên không và mặt đất. Tất cả đều nhằm hướng Quốc lộ 13 tiến lên Tân Uyên, Thủ Dầu Một (Bình Dương).
8 giờ sáng 30-4, xe tăng ta bắt đầu nổ súng bắn vào sở chỉ huy địch ở Tân Uyên. Sau gần một giờ chiến đấu, phần lớn quân địch đã bị tiêu diệt. Nhưng đội hình quân ta đang phát triển thì gặp hai hỏa điểm ngầm dã chiến của địch kháng cự. Chúng bắn vào đội hình bộ binh ta, tạo điều kiện cho bọn địch ở trên 3 khu nhà hai tầng bắn xuống. Do phía trước có giao thông hào, hàng rào dây thép gai và bãi mìn, nên bộ binh và xe tăng của ta không thể cơ động vào trong.
Trước tình huống hiểm hóc này, sau khi hội ý ban chỉ huy, Trung đoàn trưởng Đào Khắc Sương lệnh cho Tiểu đoàn 105 cắt hai khẩu pháo 37mm khỏi xe, dùng tay kéo pháo lên gò cao rồi hạ nòng bắn tiêu diệt hai lô cốt và điểm xạ vào khu nhà gác, nơi bọn địch đang ẩn náu. Được pháo phòng không yểm trợ, bộ binh ta thừa thắng xông lên làm chủ cứ điểm Tân Uyên.
Cùng thời điểm đó, tại Lái Thiêu, một số lô cốt bảo vệ vòng ngoài của trung tâm huấn luyện thuộc Sư đoàn 5 bộ binh ngụy kháng cự kịch liệt, cố thủ ngăn cản bước tiến của ta. Tiểu đoàn 102 dừng lại cách địch 400m, dùng hai khẩu pháo 57mm bắn thẳng, diệt 2 lô cốt. Địch hoảng loạn trước uy lực sát thương của pháo 57mm, nhanh chóng đầu hàng. Hàng binh ngụy quàng tay sau gáy, vừa đi vừa xì xào hỏi nhau: “Không biết việt cộng có hỏa lực gì mà ghê gớm thế?”.
Chứng kiến cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 280 hạ nòng pháo tiêu diệt địch nhanh gọn, một cán bộ của Sư đoàn 302 nói với Trung đoàn trưởng Đào Khắc Sương: “Các đồng chí đánh từ Bắc vào Nam nên thiện chiến và uy lực thật. Giữa đồng bằng, cắt pháo ra khỏi xe, hạ nòng bắn tan tác cứ điểm địch chỉ trong mấy phút, hiếm thấy trong lịch sử quân sự. Có các đồng chí ở bên, chúng tôi càng thêm vững tin tiến lên!”.
Với kinh nghiệm hơn 15 năm chiến đấu khắp các chiến trường từ Bắc vào Nam, nên trên đường hành quân bảo vệ đội hình của Sư đoàn Bộ binh 320 và Lữ đoàn Xe tăng 202 vào đánh các mục tiêu ở nội đô Sài Gòn ngày 30-4-1975, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 280 đã mưu trí, dũng cảm tiêu diệt nhiều máy bay và hỏa lực, cứ điểm địch, không chỉ tạo thuận lợi cho các đơn vị cơ động tiến công mà còn tạo quyết tâm chiến đấu cao cho cán bộ, chiến sĩ.
ST( Báo QĐND)
(theo lời kể của Đại tá, cựu chiến binh Đào Khắc Sương, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 280).
Đảng ủy Trung đoàn 280 họp thông qua kế hoạch chiến đấu, ngày 26-4-1975 (Trung đoàn trưởng Đào Khắc Sương, thứ năm, từ phải sang). Ảnh tư liệu
Có thể là hình ảnh về 6 người