Thứ Tư, 26 tháng 4, 2023

GÓC NHÌN BÁO GIỚI NƯỚC NGOÀI VỀ CHIẾN THẮNG 30/4/1975

 Việc Mỹ dính líu vào cuộc chiến tại Việt Nam là một sự hy sinh vô ích về sinh mạng và tiền của người Mỹ và là một chương bi thảm trong lịch sử Mỹ” và “Sự sụp đổ cuối cùng của miền Nam đến quá nhanh, không ai có thể hình dung được”; Việt Nam “kiên cường, anh dũng”; chiến thắng “rung động địa cầu”… là những bình luận của các nhà báo quốc tế đối với ngày kỷ niệm 30/4/1975 của Việt Nam.

Mỹ lần đầu thất bại
“Nếu phía Mỹ không bị tổn thương về mặt thể xác thì sự hủy hoại về mặt tâm lý phải gánh chịu không thể tính toán hết. Việt Nam là một cuộc chiến tranh đầu tiên mà Mỹ thất bại trong việc giành chiến thắng và đã đẩy nước Mỹ đến những phân rẽ cay đắng”, nhà sử học Nigl Cawthorne nhận xét.
Tờ Thời báo New York còn dẫn tập tài liệu mật ghi chép của Lầu Năm Góc, về chiến tranh Việt Nam với gần 70.000 trang, do luật sư Danien phát hiện. Điều này khiến người Mỹ hiểu rõ thực chất cuộc chiến tranh mà Mỹ tiến hành ở Việt Nam là tàn bạo và vô nghĩa.
Thời báo Los Angeles viết: “Người Mỹ ra đi, Việt Nam Cộng hòa đầu hàng, nước Việt Nam đã được trả lại cho người Việt Nam”. Báo Mặt trời Baltimore viết: “Chúng ta bị thương tổn và cảm thấy nhục, nhưng có lẽ chúng ta cũng đã chín chắn hơn lên một chút qua sự kiện chiến sự Sài Gòn – Gia Định”.
Phóng viên hãng UPI đã mô tả: “Quân đội Cộng sản tươi cười và vui vẻ cưỡi xe tăng vào phủ Tổng thống ở Sài Gòn và hô vang với những người đứng bên đường các nhà báo đang theo dõi. Họ thật sự không để ý đến sự có mặt của các nhà báo đang ghi lại sự đầu hàng lịch sử của chính quyền Sài Gòn trước những người cộng sản”.
Hãng tin Pháp AFP bình luận: “Không còn nghi ngờ gì nữa. Chiến sự Sài Gòn – Gia Định kết thúc. Sự kiện này ảnh hưởng to lớn đến khu vực trên thế giới trong tương lai”. Tất cả những thông tin được đăng tải rộng rãi tại Sài Gòn, Mỹ và một số nước phương Tây đã làm cho giới cầm quyền Nhà Trắng và Lầu Năm Góc lúng túng, tức tối vì bị lên án mạnh mẽ.
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ Robert McNamara, sau gần 30 năm im lặng đã phải tự dằn vặt rằng: “Những người cộng sự của tôi trong chính quyền John F. Kennedy và Lyndon B. Johnson là một nhóm người đặc biệt… Tại sao nhóm người giỏi nhất và thông minh nhất ấy lại mắc sai lầm về Việt Nam? Chúng tôi mắc nợ các thế hệ tương lai trong việc giải thích tại sao lại mắc sai lầm như vậy?”.
Chiến thắng “rung động địa cầu”
Một ngày sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, ngày 1/5/1975, hãng tin Pháp AFP viết “Trong năm 1975, sự kiện nổi bật nhất châu Á là sự kiện 30/4 của Việt Nam, ‘dư chấn’ rung động địa cầu”.
Năm 2010, nhân kỷ niệm 35 năm sự kiện 30/4, AFP của Pháp và AP của Mỹ và nhiều hãng tin khác tham gia một cuộc triển lãm ảnh mang tên “Việt Nam, 35 năm sau”. Hãng AFP đánh giá: “không còn nghi ngờ gì nữa, sự kiện trên sẽ có ảnh hưởng không nhỏ đến khu vực và thế giới trong tương lai gần”. Rằng đây là những khoảnh khắc trung thực của chiến tranh, hồi chuông cảnh tỉnh nhân loại hãy làm hết sức mình để không xảy ra một cuộc chiến tương tự, cho dù là bên thắng cuộc.
Ông Alain Rusco nhà sử học người Pháp, kiêm chuyên gia chuyên nghiên cứu về lịch sử Đông Dương, cho rằng, sự kiện 30/4 “gây tiếng vang lớn trên trường quốc tế về một dân tộc không chịu khuất phục trước quân thù”.
Sự kiện 30/4/1975 có ý nghĩa trọng đại không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà còn cả với cộng đồng thế giới. Ông Rusco cũng có bài viết, để có được chiến thắng này hàng triệu người dân Việt Nam đã ngã xuống trong nhiều thập kỷ đầy cam go, quyết liệt. Gần như gia đình người Việt Nam nào cũng có đóng góp và mất mát, cho cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại này.
Tờ Pasason, tiếng nói của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào ngày 29/4/2010, đã có bài viết tựa đề “Truyền thống đấu tranh anh dũng của nhân dân Việt Nam”, ca ngợi sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam và tinh thần chiến đấu ngoan cường và anh dũng của nhân dân ta trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân cũ và mới, tạo ra Chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy tháng 5/1954 và Đại thắng mùa Xuân 1975.
Tạo bước ngoặt lịch sử
Với tựa đề “Sài Gòn sụp đổ”, tờ NewYork Times ngày 1/5/1975 chạy tít lớn suốt 8 cột trang nhất kèm theo hàng loạt tin, ảnh về sự sụp đổ của chính quyền ngụy và chiến thắng của các lực lượng cách mạng. Theo bài viết, ngày 30/4/1975 là ngày “lịch sử của thế giới”.
Cũng trong số ra ngày 1/5/1975, hãng tin AP đăng một bài viết có đoạn “Xe tăng, xe bọc thép và xe tải ngụy trang của Quân Giải phóng tiến nhanh vào Dinh Tổng thống. Cũng trong thời gian này tướng trung lập, Dương Văn Minh đã lên đài phát thanh và truyền hình công bố lệnh đầu hàng”.
Bên cạnh những tờ báo lớn, hầu hết các chương trình thuộc 3 hệ thống truyền hình Mỹ tối 1/5/1975 đều dành cho những đoạn phim về cuộc di tản người Mỹ ra khỏi Sài Gòn ngày 29/4/1975 và các tin về giây phút cuối cùng của chế độ VNCH cùng với việc ra đời một chế độ mới tại miền Nam Việt Nam.
Đánh dấu kỷ niệm 30 năm Việt Nam thống nhất, tờ Washington Time ra đặc san về Việt Nam, trong đó nêu bật những nỗ lực của Việt Nam trên đường đổi mới, hội nhập kinh tế quốc tế. Đặc san đem đến cho độc giả những thông tin chân thực và sinh động về đất nước, con người và sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam
Hãng tin Reuters danh tiếng của Anh cũng đã có bài viết lớn và liên tục cập nhật về cuộc chiến Việt Nam vào giờ phút bước ngoặt đó. Một nhà báo Reuters có mặt tại Sài Gòn 30/4/1975 viết: “Là phóng viên có mặt tại Phủ Tổng thống, tôi chứng kiến chiếc xe tăng đi đầu của quân giải phóng húc đổ cột bằng thép vững chắc và cán cờ ngụy rơi xuống đất, rồi vượt qua.
Gần 10 xe tăng khác nhanh chóng tiến vào theo. Bộ đội Chính phủ Cách mạng tỏa ra khắp khu vực Phủ tổng thống. Lính gác Nam Việt Nam lập tức giơ tay xin hàng và tập hợp thành hàng ngũ chờ lệnh mới. Cờ Chính phủ cách mạng lâm thời tung bay trong không khí chiến thắng ở lan can tầng hai ngay cả trong khi lá cờ ba sọc vẫn còn bay trên nóc mái nhà”.
“Vinh quang và thiện ý”
Mặc dù chiến tranh Việt Nam qua đi hàng thập kỷ, nhưng “dư chấn” về cuộc chiến tranh này vẫn được báo chí Nhật nhắc đến với sự khâm phục, kính nể. Mở đầu, tờ Asahi Shimbun số ra ngày 1/5/2000 có bài xã luận mang tính thời sự: “Chiến tranh Việt Nam đã kết thúc với thắng lợi của lực lượng giải phóng, điều đó có thể khẳng định, thời mà các nước lớn dùng sức mạnh để bóp nghẹt chủ nghĩa dân tộc đã chấm dứt”.
Theo bài báo: “Ngày nay Việt Nam đang tiến hành công cuộc Đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam giành được nhiều thành tựu rất đáng tự hào”. Báo này dẫn chứng, năm 2000, Tổng thống B.Clinton sang thăm Việt Nam và sau đó Thủ tướng Phan Văn Khải đã có chuyến công du Mỹ.
Năm 2006, tờ Asahi Shimbun số ra ngày 29/4 có bài viết “Việt Nam: Vinh quang và thiện ý”, tái hiện lại chiến tranh qua lời kể của các nhân chứng, những người đã trực tiếp tham gia trong cuộc chiến ở cả hai chiến tuyến.
Trong đó có đoạn văn cảm động nói về sự nhân đạo của một nữ du kích Việt Nam: “Tháng 4/1966, tại khu vực Củ Chi, nữ du kích mới 18 tuổi, phát hiện một nhóm lính Mỹ lọt vào bãi mìn của quân giải phóng. Nữ du kích này tận mắt chứng kiến cảnh lính Mỹ ngồi ngay trên bãi mìn đọc thư nhà, xem ảnh người thân và khóc, chị không nỡ nhấn nút phát hỏa. Toán lính Mỹ thoát chết mà không hề hay biết nữ du kích này đã không nỡ giết họ”.
30 năm sau, tờ Nikkei, ấn phẩm chuyên đề kinh tế lớn nhất Nhật Bản số ra ngày 28/4 đăng lại hình ảnh chiếc xe tăng đầu tiên của Quân giải phóng tiến vào Dinh Độc lập, kèm theo bình luận: “Việt Nam sau 30 năm chiến tranh”. Bài báo nhấn mạnh: “Cuộc chiến tranh Việt Nam đã để lại dấu ấn sâu đậm và đầy ấn tượng trong tâm thức người Mỹ, tạo hiệu ứng dây chuyền trong toàn khu vực Đông Dương”.
Thắng lợi trường tồn
Cũng trong năm 2005, nhân kỷ niệm 30 năm chiến thắng lịch sử của dân tộc Việt Nam, tờ People Daily – Cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc số ra ngày 30/4 có bài bình luận dài về “Thắng lợi mãi mãi ghi vào sử sách” của chúng ta. Tờ báo nhấn mạnh, ngày 30/4 là ngày lễ lớn của nhân dân Việt Nam và cũng là ngày đáng được những người yêu chuộng hòa bình, chính nghĩa trên toàn thế giới kỷ niệm.
Trong khi đó, Tân Hoa Xã số ra cùng ngày dành gần hết trang quốc tế cho chủ đề về chiến thắng 30/4 và cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Việt Nam. Giật tít: “30 năm thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, hình ảnh người cựu chiến binh Việt Nam”, báo này đăng hai bức ảnh chụp hai cựu chiến binh Việt Nam ngực đầy huân chương, được nhân dân thành phố Hồ Chí Minh trân trọng tặng hoa.
Thời thế đã đổi thay, Việt Nam đã vượt qua những khó khăn thách thức, đang hướng tới tương lại, hội nhập và phát triển. Chiến thắng vang dội của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử vẫn là niềm tự hào, là động lực để nhân Việt Nam tiếp tục tiến lên trên con đường vinh quang và hạnh phúc./.

VOA BAO CHE CHO NHỮNG KẺ NHÂN DANH HOẠT ĐỘNG VÌ MÔI TRƯỜNG ĐỂ VI PHẠM PHÁP LUẬT

 Trong những năm qua các đối tượng xấu, phần tử cơ hội đã và đang ráo riết thực hiện nhiều chiêu trò để chống phá đất nước. Lợi dụng quyền tự do lập hội được quy định của pháp luật, các đối tượng thực hiện tuyên truyền đánh lận bản chất vấn đề nhằm hình thành các tổ chức tự phát, không theo quy định của pháp luật.

Trong năm 2022 Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội đã tuyên phạt các bị cáo cụ thể: 11/01 tuyên phạt Mai Phan Lợi 4 năm tù giam và Bạch Hùng Dương 2 năm 6 tháng tù giam; 17/6 tuyên phạt Ngụy Thị Khanh 24 tháng tù giam; 11/8 tuyên phạt Đặng Đình Bách 5 năm tù giam đối với các đối tượng trên về tội trốn thuế.
Ngày 21/4/2023 một số cá nhân, tổ chức thù địch, trong đó có Huy Nguyễn là phần tử phản động của đài VOA đã đưa bài và tin xuyên tạc, chống đối với thông tin không chính xác, bẻ lái theo hướng tiêu cực, tạo cớ can thiệp vào công việc của các cơ quan thực thi pháp luật Việt Nam để đả kích chính quyền: “Nhóm nhân quyền: Việt Nam vũ khí hóa pháp luật để truy tố các nhà hoạt động môi trường”. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị được dịp hùa vào ăn theo xuyên tạc, suy diễn khi cho rằng “chính quyền bỏ tù các nhà hoạt động môi trường”, rồi kêu gọi Việt Nam “trả tự do” cho các đối tượng trên, chúng tung ra những thông tin lập lờ nhằm đánh lận bản chất vụ án. Thay vì đưa thông tin đúng về vụ việc, VOA lại dẫn dắt người đọc đến các vấn đề “xã hội dân sự”. Bất chấp thực tế các đối tượng trên có hành vi trốn thuế, những kẻ lấy vỏ bọc các nhà “dân chủ”, “nhân quyền” cố tình phớt lờ sự thật để xuyên tạc, suy diễn vấn đề, vẽ ra các “thuyết âm mưu”, hướng lái dư luận về bản chất vụ việc, dựng chuyện chính quyền bắt bớ người vô tội để “ngăn chặn các tổ chức dân sự”.
Không riêng Việt Nam mà các quốc gia khác trên thế giới cũng có những quy định hết sức chặt chẽ liên quan đến thuế. Tuỳ theo tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm người phạm tội sẽ phải chịu những chế tài tương ứng. Trên thế giới, những người nổi tiếng trên nhiều lĩnh vực bị bắt, bị phạt về tội trốn thuế không phải là chuyện hiếm gặp. Ví dụ như trường hợp năm 2017, một công tố viên tại Tây Ban Nha đã cáo buộc Cristiano Ronaldo 4 tội trốn thuế về tiền bản quyền hình ảnh trong khoảng thời gian gắn bó với Real Madrid từ năm 2011 tới 2014 với tổng số tiền lên tới 14,7 triệu euro. Cầu thủ bóng đá Lionel Messi cũng bị kết án 21 tháng tù treo do 3 lần trốn thuế từ khoản thu nhập 4,1 triệu euro bản quyền hình ảnh từ năm 2007 đến 2009. Điều đó cho thấy rằng, bất kể ở quốc gia nào, nếu trốn thuế, phạm pháp thì phải chịu các biện pháp xử lý. Đối với tội trốn thuế, đây là hành vi khai báo gian dối trong sản xuất, kinh doanh để không phải đóng thuế hoặc đóng mức thuế thấp hơn nhiều so với mức phải đóng. Việc khởi tố, xét xử các đối trượng trên về tội danh trốn thuế theo Bộ luật Hình sự Việt Nam là theo đúng pháp luật để đảm bảo an ninh trật tự xã hội, bảo vệ quyền lợi chính đáng của cộng đồng, giữ nghiêm kỷ cương phép nước. Quá trình điều tra, xét xử được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật. Phiên tòa được diễn ra công khai, bị cáo được bảo đảm đầy đủ các quyền theo quy định của pháp luật.
Về lĩnh vực bảo vệ môi trường Việt Nam luôn cam kết nghiêm túc và mạnh mẽ trong ứng phó với biến đổi khí hậu, phát triển xanh và bền vững. Việt Nam đang tiến hành nhiều biện pháp tổng thể và toàn diện trong lĩnh vực chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh và tuần hoàn. Điều này đã được nêu rõ trong nhiều văn bản pháp luật, chủ trương và chính sách của Việt Nam. Tại Hội nghị lần thứ 26 các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu COP 26, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã có bài phát biểu khẳng định cam kết của Việt Nam trong việc đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050; giảm 30% lượng phát thải khí methane gây hiệu ứng nhà kính vào năm 2030; tham gia Tuyên bố toàn cầu về chuyển đổi điện than sang điện sạch và Tuyên bố các nhà lãnh đạo về rừng và sử dụng đất.
Do đó, Đảng, Nhà nước ta tiến hành thường xuyên và rộng rãi việc tham vấn, lấy ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các tổ chức phi Chính phủ và các đối tác quốc tế trong việc xây dựng chính sách, pháp luật về vấn đề môi trường, biến đổi khí hậu. Những tổ chức hỗ trợ cho hoạt động bảo vệ môi trường, phát triển xanh ở Việt Nam đã tham gia và có những đóng góp tích cực đều được ghi nhận. Đồng thời, chúng ta cũng xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng danh nghĩa xã hội dân sự, bảo vệ môi trường để gây mất trật tự xã hội, vi phạm luật pháp.

UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒNVk

Dù ai đi ngược về xuôi 

Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba

Đời đời tưởng nhớ ông cha 

Vị vua khai quốc lập lên nước nhà 

Nam Diệt trừ bè lũ gian tham 

Dựng xây bờ cõi ngàn năm cơ đồ 

Con dân mãi mãi tôn thờ 

Dù xa vạn nẻo bến bờ muôn phương 

Nhớ ngày giỗ Tổ Hùng Vương 

Về thăm dâng kính nén hương cội nguồn . 



 Ngày giỗ tổ Hùng Vương 10-3 chính là nhắc nhở con cháu nhớ về cội nguồn, công ơn của những người đi trước. Hàng năm, cứ vào ngày này thì người dân Việt Nam dù đang ở đâu cũng cùng nhau hướng về cội nguồn dân tộc. Kể từ năm 2007, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã chính thức công nhận giỗ tổ Hùng Vương là Quốc lễ. Từ đó, ngày này có ý nghĩa đặc biệt hơn với con dân người Việt.

CHIẾN THẮNG 30/4 - ĐỈNH CAO CHÓI LỌI CỦA SỰ NGHIỆP GIẢI PHÓNG DÂN TỘC

 Năm 2023, kỷ niệm 48 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2023), trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang tích cực đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đi vào cuộc sống. Năm 2023 cũng được Đảng và Nhà nước xác định là năm bản lề thực hiện các chương trình về kinh tế - xã hội theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Đây là dịp để chúng ta ôn lại những trang sử hào hùng của dân tộc, nhìn lại chặng đường xây dựng và phát triển đất nước từ khi tiến hành sự nghiệp đổi mới và nhận thức sâu sắc hơn những giá trị, những bài học kinh nghiệm được đúc kết từ trong thực tiễn đấu tranh của dân tộc để tiếp thêm sức mạnh, ý chí, quyết tâm trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Theo dòng lịch sử, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, đế quốc Mỹ có tiềm lực rất mạnh, nổi lên cầm đầu phe đế quốc, hiếu chiến và âm mưu bá chủ thế giới, từng bước khẳng định sự có mặt ở Đông Dương. Sau thất bại của thực dân Pháp ở Điện Biên Phủ, chủ nghĩa thực dân cũ sụp đổ, đế quốc Mỹ nhảy vào miền Nam Việt Nam, áp đặt chủ nghĩa thực dân mới, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta. Vào thời điểm này trên thế giới đã phân chia thành hai hệ thống xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa đối đầu gay gắt bằng cuộc “Chiến tranh lạnh” và chạy đua vũ trang quyết liệt. Hệ thống chủ nghĩa xã hội, phong trào công nhân ở các nước tư bản, phong trào giải phóng dân tộc ở khắp nơi trên thế giới dâng cao. Ở trong nước, sau 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, miền Bắc được giải phóng và bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam vẫn dưới ách thống trị của đế quốc Mỹ và chính quyền ngụy Sài Gòn. Đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước trở thành nhiệm vụ thiêng liêng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong thời điểm lịch sử lúc bấy giờ.
Chiến thắng 30/4/1975 mãi mãi đi vào lịch sử, khẳng định tầm vóc vĩ đại và ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược. Nó thể hiện ý chí độc lập, tự chủ, tự lực, từ cường và khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đã trải qua hơn 21 năm, là cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ và nhiều thử thách, cam go, ác liệt nhất. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã đương đầu với tên đế quốc giàu mạnh nhất và hung bạo nhất trong phe đế quốc.
Cuộc kháng chiến đã trải qua nhiều giai đoạn, phải đối phó lần lượt với các kế hoạch chiến lược của đế quốc Mỹ. Đó là 5 giai đoạn: (1) Từ tháng 7/1954 đến hết năm 1960, ta tập trung đấu tranh giữ gìn lực lượng, chuyển dần sang thế tiến công, làm thất bại bước đầu phương thức chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ; (2) Từ đầu năm 1961 đến giữa năm 1965, ta giữ vững và phát triển thế tiến công, đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ; (3) Từ giữa năm 1965 đến hết năm 1968, Đảng phát động toàn dân chống Mỹ cứu nước, đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ ở miền Nam, đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân lần thứ nhất ở miền Bắc; (4) Từ năm 1969 đến 1973, quân và dân ta phát huy sức mạnh chiến đấu của ba nước: Việt Nam - Lào - Campuchia, làm thất bại một bước chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân lần thứ hai ở miền Bắc, tạo thế mạnh trong đàm phán; (5)Từ cuối năm 1973 đến ngày 30/4/1975 là giai đoạn tạo thế và lực, tạo thời cơ, kiên quyết tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, kết thúc thắng lợi trọn vẹn cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Chiến thắng 30/4 là chiến công oanh liệt của sự nghiệp chống Mỹ cứu nước. Phát huy tinh thần cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cả dân tộc ta lại vận dụng một cách sáng tạo vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đã đạt được những thành tựu to lớn.
Thứ nhất, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chiến đấu của Đại thắng mùa Xuân 1975, động viên toàn thể dân tộc Việt Nam vững bước trên con đường xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh và hạnh phúc theo mục tiêu cao cả của Đảng: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa anh hùng cách mạng được phát huy trên tất cả các lĩnh vực, như: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc và an ninh chính trị, lao động sản xuất, nghiên cứu, học tập, xả thân cứu dân trong thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, giữ vững khối đại đoàn kết dân tộc, tiếp tục phát huy tinh thần tương thân, tương ái, gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.
Thứ hai, phát huy cao độ tinh thần quyết chiến, quyết thắng của Đại thắng mùa Xuân 1975 để vượt qua mọi khó khăn, thử thách, không chịu tụt hậu, từng bước tiến kịp thời đại, đưa đất nước ngày càng phát triển, có vị thế xứng đáng trên thế giới. Khát vọng chính đáng đó của dân tộc, cũng thiêng liêng và mãnh liệt như ý chí giành độc lập, thống nhất Tổ quốc.
Thứ ba, phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, là động lực chủ yếu, là nhân tố đặc biệt quan trọng bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp đổi mới. Trên tinh thần đó, toàn dân đoàn kết, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, chung sức, đồng lòng xây dựng một nước Việt Nam ngày càng phồn vinh và hạnh phúc.
Thứ tư, phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng giữ vững tinh thần độc lập, tự chủ, tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, phát huy nội lực của đất nước với sự giúp đỡ, hợp tác với các nước, tận dụng triệt để các nguồn lực trong và ngoài nước; giải quyết hài hòa các nhiệm vụ đối nội và đối ngoại. Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho sự phát triển, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, nâng cao vị thế đất nước, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.
Thứ năm, phát huy Đại thắng mùa Xuân 1975 vào sự nghiệp giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng con người mới Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đặt niềm tin vào thế hệ trẻ sẽ nối tiếp xứng đáng sự nghiệp của các thế hệ đi trước trong điều kiện mới, xung kích tiến công vào khoa học và công nghệ, vươn tới những đỉnh cao của trí tuệ loài người, mà trước hết là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Nâng tầm văn hóa trong cuộc sống, năng động, sáng tạo trong học tập, lao động, kinh doanh, trong nghiên cứu khoa học, công nghệ và các hoạt động văn hóa, xã hội, trong nhiệm vụ bảo vệ an ninh và quốc phòng. Thế hệ thanh niên trước đây đã đảm đương xuất sắc vai trò xung kích trong Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và hai cuộc chiến tranh biên giới phía Tây Nam và phía Bắc, ngày nay là lực lược xung kích, đi đầu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Thứ sáu, phát huy tri thức, kinh nghiệm quân sự, công tác tư tưởng trong Đại thắng mùa Xuân 1975 vào bảo vệ Tổ quốc thân yêu của chúng ta hiện nay. Xây dựng nền quốc phòng vững mạnh sẽ góp phần trực tiếp vào việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, xã hội, bảo đảm và tạo điều kiện quan trọng cho việc thực hiện những mục tiêu cốt lõi và chiến lược của đất nước. Không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục quốc phòng - an ninh, nêu cao ý thức trách nhiệm đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cho mọi công dân nhằm khơi dậy, khích lệ, phát huy những giá trị truyền thống yêu nước của dân tộc trong điều kiện lịch sử mới.
Kỷ niệm 48 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là dịp toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta ôn lại những trang sử hào hùng của dân tộc. Đồng thời phát huy tinh thần và hào khí của Đại thắng mùa Xuân 1975 để đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đi vào cuộc sống, xác định năm 2023 là năm bản lề phấn đấu xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc, hiện thực hóa những khát vọng cao cả mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra, để phấn đấu đến năm 2045 đưa nước ta trở thành nước phát triển theo hướng xã hội chủ nghĩa./.
ST


GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG QUA CÁC MỐC LỊCH SỬ

 1. Một tháng sau khi quét sạch 29 vạn quân xâm lược Mãn Thanh ra khỏi bờ cõi đất nước vào đầu Xuân Kỷ Dậu 1789, anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ đã có sắc chỉ đề: “Ngày 16 tháng Hai niên hiệu Quang Trung thứ hai” gửi về cho xã Hy Cương ở chân núi Hùng với lời mở đầu viết: “Nay trẫm theo mệnh trời, giữ việc giáo hóa, xét theo điển cũ thờ tự, chuẩn cho xã này được làm dân hộ nhi, ban xuống cho hợp hành ân điển, làm trưởng tạo lệ như xưa”.

Cụ thể đến từng chi tiết về kiến trúc và đồ thờ trên núi Hùng, sắc chỉ viết tiếp: “Các tòa cung điện: Đền Thượng, đền Trung, đền Hạ, cho đến chùa, miếu, giếng, đền rồi đến Hậu thượng đường, các cổng nghi môn, các vật: Kiện nghi vệ, tế khí, kiệu rồng, tán, biển, cờ, trống giữ nguyên như cũ”.
Những chế độ, chính sách liên quan đến việc thờ phụng cũng được sắc chỉ viết rõ: “Phàm binh phận, hộ phận, tiền gạo tô dung, thuế điền, thuế cửa đình, các khoản thuế lệ tự đến phát sinh, cùng vật tế thờ, chuẩn giao cho viên giám tri điện được kế tập, để cùng dân xã (Hy Cương) này thu nhận, chiếu theo công việc mà tế tự, cho đến các việc bồi dưỡng, đắp đê lộ, các khoản đề ra trong các dịch vụ mua sắm vật dụng, luân chuyển phục dịch trong các đình tạ, rau dưa lương tiền, đều được miễn trừ, nhằm tỏ rõ thịnh ý tại bản đền”.
Còn đây là mệnh lệnh về việc tổ chức lễ hội: Sinh thời, kỵ thời (của Vua Hùng), cùng ngày nhập kỵ hằng năm, cho được mở hội lệ xướng ca, múa rối, kéo co. Ngày sóc vọng, tứ thời bát tiết, lo sửa lễ vật, tế theo nghi thức. Còn việc tu sửa miếu điện, phải chăm lo cẩn thận, cốt tiện phụng sự, khiến mạch nước dài lâu, núi sông trường tồn.
Và thật quý giá là sự xác định chủ đề tín ngưỡng, cùng lý do và căn nguyên của việc Quang Trung Nguyễn Huệ đặc biệt ân tứ cho xã Hy Cương: Do xã này là ấp sở tại của họ Việt Thường thời cổ, trước vẫn là dân trưởng tạo lệ, hộ nhi, Trung Nghĩa hương nối đời hương đèn, phụng thờ Hùng Vương Sơn Thánh Tổ, Nam Thiên Đại Bảo Tiền Hoàng đế, khởi dựng cơ đồ, thủy tổ Nam Việt, (cùng với) Đại Thánh Đột Ngột Cao Sơn và 18 vị thánh vương họ Hùng nước Việt cổ, nối truyền danh hiệu, trải hàng nghìn năm, mạch thọ trường tồn, hưởng nguồn từ đó.
Văn bản “sắc chỉ” của Quang Trung Nguyễn Huệ có niên đại cuối thế kỷ 18 này được tìm thấy trong “Hồ sơ tư liệu Hán Nôm Đền Hùng và phụ cận”, lưu trữ ở Bảo tàng Hùng Vương, đã cắm một cột mốc quan trọng trên tiến trình thực hành tín ngưỡng Giỗ Tổ Hùng Vương ở Khu di tích Đền Hùng, đánh dấu sự thể: Cho đến năm 1789, Lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương vẫn còn ở quy mô và cấp độ địa phương nhưng đã được nhà nước phong kiến (cụ thể là triều đình Tây Sơn của vua Quang Trung) công nhận, khuyến khích, cho hưởng nhiều ưu đãi, với mục đích và lý do: “Khiến cho mạch nước được dài lâu, núi sông trường tồn”, tức thị: Có ý nghĩa và giá trị quốc gia, dân tộc.
2. Đến đầu thế kỷ 20, trong phong trào yêu nước, chống thực dân Pháp xâm lược và đô hộ, nhiều chí sĩ-sĩ phu đã nhìn thấy ở Đền Hùng một nguồn lực cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Cho nên, cụ Ngô Quang Đoan mới hành hương lên Đền Hùng để day dứt câu hỏi:
Tinh linh phảng phất, Lăng còn đó
Đất nước tan tành, Tổ biết không?
Còn cụ Dương Bá Trạc thì:
Một dải non sông đầm máu Cuốc (quốc)
Muôn năm cơ nghiệp tủi nòi Rồng
Quốc hồn vơ vẩn đi đâu tá?
Hỏi núi Hùng kia có biết không?
Những “dẫn luận” ấy, tất dẫn đến sự thể vang lên ở Đền Hùng lời khẩn nguyện:
Cầu khẩn xin cho soi xét lại
Mau mau cứu vớt giống Tiên Rồng!
Đền Hùng và Lễ hội Giỗ Tổ từ đây được thiêng hóa để thành một động lực trong sự nghiệp cứu nước. Và ảnh hưởng ngay cả đến nhiều chức sắc người Việt trong bộ máy chính quyền bù nhìn-tay sai lúc bấy giờ trong việc tu bổ, nâng cấp kiến trúc, cảnh quan và Lễ hội Đền Hùng. Văn bia “Hùng Vương từ khảo” ở đền Thượng trên núi Hùng viết: “Trước đây, ngày quốc tế (lễ tế cấp quốc gia) lấy vào mùa thu làm định kỳ. Đến năm Khải Định thứ hai (1917), Tuần phủ Phú Thọ là Lê Trung Ngọc có công văn xin Bộ Lễ ấn định lấy mồng 10-3 hằng năm làm ngày quốc tế, tức: Trước ngày húng nhật của Vua Hùng một ngày. Còn ngày giỗ 11-3 thì do dân sở tại làm lễ”.
Vậy là, Giỗ Tổ Hùng Vương lúc này đã được nâng cấp: Vẫn có phần do “dân sở tại” (tức xã Hy Cương) đảm nhiệm, nhưng phần chính yếu (vào mồng 10 tháng Ba âm lịch) là do nhà nước phong kiến (triều Nguyễn) chủ trì với những điều lệ được khắc ghi vào bia “Hùng miếu điển lệ bi” như sau:
“Bộ Lễ chuẩn nghị: Hằng năm, cứ đến ngày 10-3, Nhà nước định nhật kỳ ngày “quốc tế” về sửa lễ tại Công quán. Làm lễ cúng tế tại đền Thượng vào giờ Tỵ. Lễ vật là “tam sinh”. Quan tỉnh duyệt lễ trước ngày 9-3. Tiền sắm lễ, mỗi năm nhà nước cấp 100 đồng bạc”.
Được “tháo khoán” (khích lệ, nâng cấp) như thế, nhân dân nô nức tìm đến tôn tạo Đền Hùng. Năm 1917, bà chủ cửa hàng Đồng Thuận ở Hà Nội là Phạm Thị Thạnh, công đức xây dựng tòa cổng đền hoành tráng với 4 chữ đề: “Cao sơn cảnh hành” (Lên núi cao nhìn xa rộng) như đến nay vẫn còn. 18 cấp, 525 bậc dẫn từ cổng đền lên đền Thượng, kinh phí làm đường hết 1.000 đồng bạc, cũng do bà chủ hiệu Nghĩa Lợi là Lê Thị Trai ở Hà Nội cung tiến.
Một cột mốc quan trọng nữa, đã được dựng trên tiến trình Giỗ Tổ Hùng Vương, ở lát cắt thời gian đầu thế kỷ 20 là như vậy.
3. Ở lễ Giỗ Tổ đầu tiên sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, năm 1946, cụ Huỳnh Thúc Kháng, đại diện Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã từ Thủ đô Hà Nội lên dâng hương ở Đền Hùng, cùng với một lá cờ đỏ sao vàng và một thanh kiếm, ngụ những ý tứ thật sâu sắc: Cáo yết cùng tổ tiên dân tộc rằng, đất nước đã giành lại được độc lập và sẵn sàng kháng chiến giữ nước.
Ngày 19-9-1954, cuộc trường kỳ kháng chiến vừa thành công, trên đường từ Chiến khu Việt Bắc về Thủ đô Hà Nội sắp được giải phóng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn Đền Hùng làm nơi gặp gỡ với Đại đoàn Quân Tiên Phong để nói lời tuyên ngôn bất hủ, lần đầu tiên tổng kết hai truyền thống và nhiệm vụ lịch sử song hành của dân tộc là: Dựng nước và giữ nước; đồng thời cũng là lần đầu tiên khẳng định vị thế cùng công lao của các Vua Hùng là tổ dựng nước của dân tộc qua lời căn dặn: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.
4. Bác Hồ còn có lần thứ hai lên thăm Đền Hùng vào ngày 19-8-1962 dâng hương viếng Tổ ở đền Hạ vào lúc 9 giờ sáng. Khi mọi người sợ Bác mệt, mời Bác xuống núi, Người đã nói: “Leo núi phải lên đến đỉnh. Cũng như người làm cách mạng, không được bỏ nửa chừng. Đã đi, phải tới đích”. Và khoảng 11 giờ trưa lên tới đền Thượng, trước khi ra về, Bác còn căn dặn: “Phải chú ý bảo vệ, trồng thêm hoa, cây cối để Đền Hùng ngày càng trang nghiêm, đẹp đẽ, để Đền Hùng thành công viên cho con cháu sau này tham quan”.
Đó là vì, từ ngày 18-2-1946, Bác đã ký ban hành Sắc lệnh số 22C/SL về những ngày nghỉ Tết, ngày kỷ niệm lịch sử và ngày lễ tôn giáo, trong đó quy định: Giỗ Tổ Hùng Vương mồng 10 tháng Ba âm lịch là ngày kỷ niệm lịch sử của quốc gia.
Cho nên, năm 1999, Bộ Chính trị đã ra nghị quyết về việc tổ chức các ngày lễ lớn vào năm 2000, trong đó, ngày Giỗ Tổ Hùng Vương mồng 10 tháng Ba âm lịch sẽ được tổ chức như một “biểu tượng của giá trị văn hóa, tinh thần của dân tộc Việt Nam, thể hiện sức mạnh và niềm tự hào dân tộc, củng cố khối đại đoàn kết, truyền thống uống nước nhớ nguồn và bản sắc văn hóa của nhân dân ta”.
Vì thế, năm 2007, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã phê chuẩn Luật số 84/2007/QH11 sửa đổi, bổ sung Điều 73 của Bộ luật Lao động quy định về việc người lao động được nghỉ ngày Giỗ Tổ Hùng Vương mồng 10 tháng Ba âm lịch hằng năm để đồng bào cả nước cùng hướng về đất Tổ, nhớ về ngày Giỗ Tổ chung của dân tộc, tri ân công lao của các Vua Hùng, thể hiện bản sắc văn hóa độc đáo của dân tộc Việt Nam.
Năm 2009, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành Quyết định số 1272/QĐ-TTg xếp hạng Di tích lịch sử đền Hùng (ở thành phố Việt Trì, huyện Lâm Thao và huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ) là Di tích quốc gia đặc biệt.
Ngày 6-12-2012, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Đây là một cột mốc lớn nữa, ở thời hiện đại, đã hình thành trên tiến trình Giỗ Tổ Hùng Vương./.
ST


ĐỪNG NGẠI THỂ HIỆN YÊU THƯƠNG

 Hãy luôn trân trọng những người quan trọng, yêu thương bạn hết mình và đừng bao giờ tiếc hay ngại thể hiện sự quan tâm dành cho họ, bởi với họ, những cử chỉ yêu thương, lo lắng dù nhỏ bé của bạn cũng đủ khiến họ có được niềm vui, hạnh phúc và mạnh mẽ để cùng bạn đi đến cuối cuộc đời.

Lâu lắm rồi, Kiên mới xem một bộ phim và cảm thấy nó hay đến thế. Kiên thấy bản thân mình giống như anh chồng trong phim, tuy tốt tính nhưng không biết cách thể hiện tình yêu với vợ. Yêu nhau suốt những năm tháng sinh viên, Kiên và vợ chia tay nhiều lần bởi sự khô khan, chỉ biết công việc, nhưng cuối cùng hai người vẫn đi đến hôn nhân. Có lẽ, Hà - vợ Kiên đã quá quen với tính cách của chồng nên cô cũng không đòi hỏi sự lãng mạn, quan tâm từ chồng.
Đến một ngày, Kiên phát hiện ra Hà khác trước. Cô vui vẻ, tươi tắn hơn. Nếu như trước đây, Hà chỉ ăn mặc giản dị thì nay cô biết trưng diện những bộ váy hiện đại, trẻ trung. Hà còn đặc biệt tham gia những khóa học trang điểm, kỹ năng mềm để bản thân trở nên tự tin hơn. Cô cũng không ở nhà dành hết thời gian cho công việc nội trợ mà kinh doanh online, đi tập gym, du lịch cùng bạn bè,… Hà phát hiện mình đã bỏ lỡ rất nhiều điều thú vị xung quanh để đóng khung mình trong một mối quan tâm duy nhất là chồng.
Thời gian này, Hà được công ty cử đi học nửa năm tại nước ngoài. Nếu như là Hà trước đây, cô sẽ từ chối vì còn phải ở nhà cơm nước cho chồng nhưng lần này, cô đồng ý. Sau bữa cơm tối, Hà nói với chồng về việc mình sẽ đi học ở nước ngoài nửa năm. Kiên chưa từng can ngăn Hà trong công việc, cũng không có lý do níu giữ cô ở lại nên dù không muốn cho vợ xa nhà nhưng anh cũng không ngăn cản cô.
Ngày Hà đi, Kiên chỉ kịp chở cô ra sân bay rồi quay lại với công việc. Hà tủi thân, cố giấu những giọt nước mắt trong chiếc khẩu trang. Đôi mắt cô hướng về phía chồng nhưng anh đã vội vã rời đi. Dù buồn nhưng Hà cố gắng đặt những tâm sự riêng tư sang một bên để tập trung cho việc học. Cô trở thành học viên ưu tú, thậm chí được chi nhánh công ty mẹ giữ lại nước ngoài làm việc một thời gian. Có điều, Hà vẫn đang phân vân vì việc xa nhà lâu ngày có thể ảnh hưởng đến hạnh phúc của gia đình.
Về phần Kiên, ở nhà một mình trong ngôi nhà rộng lớn, chưa khi nào anh lại cảm thấy cô đơn khi vắng bóng vợ đến thế. Dường như lúc này, anh mới nhận ra sự vô tâm của mình. Bao năm qua, Kiên chỉ biết phát triển sự nghiệp mà quên đi những gì vợ phải trải qua. Với sự bao dung, Hà đã bỏ qua rất nhiều lần cho Kiên nhưng không được chồng thấu hiểu. Và tối nay, khi xem bộ phim có nhân vật giống mình, Kiên nhận ra bấy lâu nay mình đã quá ích kỷ.
Kiên cũng chợt nhận ra những cơn “sóng” đang cuộn chảy trong lòng, liệu vợ có chán anh mà không muốn trở về? Đang suy tư chưa biết làm sao để xin lỗi vợ thì Hà gọi về, vẫn giọng điệu nhỏ nhẹ, quan tâm chồng như trước đây. Kiên thủ thỉ qua điện thoại: “Em học xong thì về với anh nhé!”. Bấy nhiêu thôi cũng đủ làm trái tim Hà loạn nhịp. Có lẽ, khoảng thời gian xa nhau chính là thử thách để hai người nhận ra đối phương thực sự quan trọng với mình.
Hãy luôn trân trọng những người quan trọng, yêu thương bạn hết mình và đừng bao giờ tiếc hay ngại thể hiện sự quan tâm dành cho họ, bởi với họ, những cử chỉ yêu thương, lo lắng dù nhỏ bé của bạn cũng đủ khiến họ có được niềm vui, hạnh phúc và mạnh mẽ để cùng bạn đi đến cuối cuộc đời./.
ST


NON SÔNG THỐNG NHẤT

 Ngày thắng lợi tưng bừng muôn ngã

Dấu mốc son lịch sử sang trang
Cờ bay phấp phới sao vàng
Thu về một cõi vẹn toàn nước non.
Bốn bảy năm vẫn còn vang vọng
Sáng năm châu chấn động địa cầu
Làm theo lời Bác hôm nào
Đánh cho Mỹ cút ngụy nhào mới thôi.
Cuộc kháng chiến kéo dài ròng rã
Lớp lớp người tuổi trẻ hiến dâng
Bước chân xẻ dọc Trường Sơn
Sục sôi khí thế chiến trường xông pha.
Vì nghĩa lớn tình nhà gác lại
Để muôn năm sông núi trường tồn
Rừng thiêng nước độc đại ngàn
Yên bao giấc ngủ vĩnh hằng thiên thu.
Ngày kỷ niệm tháng tư lịch sử
Gửi tri ân thế hệ cha ông
Một thời oanh liệt chiến công
Tự do độc lập đổi bằng máu xương.
Đây Tổ Quốc thiêng liêng hùng vĩ
Khắp nơi nơi thấm đỏ máu đào
Tháng tư khúc hát nghẹn ngào
Anh hùng mãi mãi đi vào sử xanh.
...
Ba mươi tháng bốn bảy lăm
Tự hào đất nước Việt Nam kiên cường
Cờ bay rợp bóng phố phường
ST


KHÔNG ĐƯỢC DIỄN GIẢI LỊCH SỬ MỘT CÁCH TÙY TIỆN

 Thời gian gần đây, trên một số diễn đàn, tình trạng diễn giải, suy đoán lịch sử một cách tùy tiện, vô căn cứ đang diễn ra với mức độ ngày càng tăng, gây bức xúc trong dư luận, tạo nhiều nguy cơ với hệ lụy khó lường. Đây là hiện tượng tiêu cực cần phải kịp thời ngăn chặn để bảo đảm niềm tin trong xã hội, lấy lại sự lành mạnh cho môi trường nghiên cứu học thuật và niềm tin của cộng đồng.

Nhân dịp Giỗ Tổ Hùng Vương vừa qua, một báo điện tử đã đăng bài: “Truyền thuyết 18 vị vua Hùng và ngày Giỗ Tổ Hùng Vương” của P.T.H. Trong bài viết, tác giả liệt kê (không dẫn nguồn) thông tin về “18 đời vua Hùng” với tên hiệu, tên húy, năm sinh (cả năm dương lịch và năm can chi), số năm tại vị của từng người. Chẳng hạn: “Hùng Hoa Vương, húy Bửu Lang, không rõ năm sinh, lên ngôi năm Đinh Hợi (2252 tr. TL), không rõ truyền được mấy đời vua đều xưng là Hùng Hoa Vương, ở ngôi tất cả 342 năm, từ năm Đinh Hợi (2254 tr. TL) đến năm Mậu Thìn (1913 tr. TL)” (?).
Khi được độc giả hỏi về nguồn tư liệu, ông P.T.H viện dẫn bài viết “Hùng Vương là ai và lịch sử các Vua Hùng” của tác giả BTV/Sức Khỏe Cộng Đồng đăng trên tintucvietnam.vn có nội dung hầu như giống hoàn toàn. Đáng nói là ở bài viết “Hùng Vương là ai và lịch sử các Vua Hùng”, tác giả cho biết dẫn lại tư liệu từ cuốn sách Thế thứ các triều vua Việt Nam của Nguyễn Khắc Thuần (NXB Giáo dục, H.1995) nhưng tìm đọc sẽ thấy, trong cuốn sách của mình, Nguyễn Khắc Thuần chỉ viết ngắn gọn: “1 - Hùng Dương (tức Lộc Tục). 2 - Hùng Hiền (tức Sùng Lãm). 3 - Hùng Lân. 4 - Hùng Việp. 5 - Hùng Hy. 6 - Hùng Huy. 7 - Hùng Chiêu. 8 - Hùng Vỹ. 9 - Hùng Định. 10 - Hùng Hy (3). 11 - Hùng Trinh. 12 - Hùng Võ. 13 - Hùng Việt. 14 - Hùng Anh. 15 - Hùng Triều. 16 - Hùng Tạo. 17 - Hùng Nghị. 18 - Hùng Duệ. 18 đời nối nhau trị vì 2622 năm (từ năm 2879 trước Công nguyên đến năm 258 trước Công nguyên). Đó là những con số rất khó thuyết phục người đọc. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, với người Việt, số 9 là số thiêng, các bội số của số 9 (như 18, 36, 72, 99…) cũng là những số thiêng tương tự. Cho nên, con số 18 đời Hùng Vương mà Hùng triều ngọc phả nói tới cũng chỉ là con số ước lệ, biểu tượng của một ý niệm thiêng liêng nào đó. Cũng trong cuốn sách, Nguyễn Khắc Thuần viết: “Tóm lại, nước Văn Lang là một thực thể có thật của lịch sử nước ta, nhưng Văn Lang chỉ tồn tại trước sau trong khoảng ba trăm năm và con số 18 đời Hùng Vương cho đến nay vẫn là con số của huyền sử”. Như vậy, dù tác giả trên trang tintucvietnam.vn có bảo lưu rằng: “Con số 18 chỉ mang tính tượng trưng” thì vẫn có thể thấy hai tác giả P.T.H và BTV/Sức Khỏe Cộng Đồng đã “sáng tác” cho các vua Hùng tên húy, thứ tự chi theo bát quái, chua thêm năm can chi vào “năm sinh”, năm đầu và năm cuối “thời gian ở ngôi”. Thoạt nhìn có vẻ chính xác, tuy nhiên hai bài viết đều sai vì những chi tiết về các vua Hùng được nêu ra không hề có căn cứ kiểm chứng. Chưa kể, nếu đối chiếu lịch can chi với năm dương lịch sẽ thấy năm can chi được tính tương đương với năm dương lịch. Thực tế là cho đến tận bây giờ, chúng ta vẫn chưa tìm thấy tư liệu chữ viết thời Hùng Vương. Không biết hai tác giả nêu trên đã căn cứ vào đâu để khai thác những chi tiết rất cụ thể về năm sinh năm mất, năm ở ngôi, tên húy, tên hiệu, số đời truyền làm vua... của các vua Hùng độ xác tín ra sao?
Hiện tượng “cụ thể hóa”, thậm chí dung tục hóa những điều chép trong sử sách hay các thông tin lưu truyền trong huyền thoại gần đây cũng có chiều hướng xuất hiện ngày một gia tăng trên nhiều diễn đàn, báo chí, nhất là vào những dịp kỷ niệm, tưởng niệm các sự kiện, nhân vật lịch sử. Ngày 4-4 vừa qua, Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên, người gắn liền với con đường Hồ Chí Minh huyền thoại đã ra đi. Đồng đội và nhân dân tiếc thương ông, tưởng nhớ về ông với những kỷ niệm sâu sắc. Thế nhưng, nhân sự kiện này, blogger (người viết blog) D.P có số người theo dõi khá đông (từng được tung hô như một “hiện tượng viết sử trẻ” hay như là một người đã chuyển tải lịch sử đến giới trẻ bằng một góc nhìn mới mẻ và khác biệt (!) đã tranh thủ “múa bút” bất kể lô-gich, đúng - sai. Như người này tưởng tượng ra việc tướng Đồng Sỹ Nguyên “chỉ huy một đoàn quân với bom lượn ở trên đầu, xây nên một con đường mà Mỹ nhận định là không thể xây được, và tạo nên một con đường cứ bị san phẳng hôm qua thì vài ngày sau bỗng trở lại”. Cũng trong bài viết đó, người này còn đưa ra những nhận định ngô nghê và hồ đồ: “Đại tướng Võ Nguyên Giáp có bên mình hai cánh tay trái và phải. Cánh tay phải của ông là tướng Hoàng Văn Thái, người đã ở cạnh ông và cùng ông lập nên các chiến lược quân sự lớn. Còn cánh tay trái của ông là tướng Lê Trọng Tấn, người sẽ ở trận tiền, thực hiện các chiến lược mà tướng Giáp đề ra”. Chưa kể trong bài viết còn có một số câu văn bị nhiều độc giả đánh giá là thiếu sự tôn trọng đúng mức với Đại tướng Võ Nguyên Giáp và đồng chí, đồng đội của ông. Lối “kể chuyện” sử như không hề đọc sử của người này còn có thể làm người chưa biết về Đại tướng Lê Trọng Tấn sẽ tiếp nhận thông tin không chính xác về ông, như D.P cho rằng ông là người “đã bắt”, “áp giải” các tướng De Castri (Đờ Cát-xtơ-ri) và Dương Văn Minh. Đọc bài viết nhiều người yêu thích, am hiểu lịch sử thực sự phẫn nộ vì cách viết bịa tạc, đầy xúc phạm như vậy.
Việc “cụ thể hóa” tới mức dung tục các huyền sử không phải là cách tôn vinh tiền nhân mà trái lại, là hạ thấp giá trị của niềm tin trong xã hội, thậm chí là cả tín ngưỡng thiêng liêng của dân tộc. Vì thế, người viết cần luôn ý thức không thể viết một cách tùy hứng và tùy tiện về lịch sử, bởi sẽ gây hệ lụy khôn lường. Thế nhưng, hiện tượng đi ngược với yêu cầu này đang ngày càng nhiều, thậm chí ngang nhiên xuất hiện ở ngay cả những diễn đàn, những hội thảo khoa học. Như tại hội thảo khoa học quốc gia “Đại tướng Võ Nguyên Giáp với văn hóa dân tộc” (12-2018) một tác giả đã hồn nhiên trình bày quan điểm tối nghĩa khiến người nghe không thể hiểu nổi: “Thì ra sự chịu đựng bình đẳng cả địch và ta, cả chính nghĩa và phi nghĩa, cả thấp hèn và cao thượng”; “Đại tướng Võ Nguyên Giáp chịu đựng cả sự chịu đựng của dân tộc”, “chỉ có nhân loại là không chịu đựng vì đã thấy được một con người có mức độ” (Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia “Đại tướng Võ Nguyên Giáp và văn hóa dân tộc” - Hà Nội, 12-2018). Blogger D.P cũng xuất hiện tại hội thảo này, để đưa ra khái niệm “văn hóa quân sự “bóc múi bưởi”...”, rồi nhận định “có một trận Điện Biên Phủ năm 1975” khiến các chuyên gia nghiên cứu lịch sử và nghệ thuật quân sự lắc đầu ngao ngán.
Những thí dụ đã nêu chỉ là vài minh họa cho một xu hướng đáng báo động về tình trạng diễn đạt, xuyên tạc lịch sử sai lệch và tùy tiện đang diễn ra ở nhiều nơi. Điều đáng lo ngại là ở đây không chỉ còn là những ý kiến cá nhân trong một cộng đồng hẹp, mà những quan điểm lệch lạc như vậy đang được trình bày trên một số trang báo chính thống, tại một số hội thảo khoa học, được phát tán trên mạng xã hội với độ lan truyền nhanh chóng. Có thể thấy, nếu không kịp thời có biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn hiệu quả, những “tri thức” méo mó về lịch sử như vậy sẽ có nguy cơ “đầu độc” công chúng, nhất là giới trẻ.
Lịch sử là câu chuyện của quá khứ, đòi hỏi việc xem xét, đánh giá chuẩn xác. Những người làm công tác nghiên cứu hoặc viết về lịch sử vì vậy cần phải được trang bị kiến thức đầy đủ cùng khả năng diễn đạt chính xác, khoa học. Bất cứ luận điểm nào về một vấn đề, một sự kiện, một nhân vật lịch sử… đều cần chứng minh bằng sử liệu. Chỉ với sự tuân thủ các nguyên tắc đó, nội dung viết về lịch sử mới thuyết phục được người đọc, mang lại tri thức lịch sử lành mạnh và hữu ích cho công chúng. Tất nhiên, theo dòng thời gian, lịch sử có thể được điều chỉnh hoặc bổ sung thông tin nếu có thêm tư liệu mới dẫn đến nhận thức mới. Song dẫu vậy, không thể chấp nhận và đồng tình với cách “viết lại” lịch sử tùy tiện thiếu phương pháp nghiên cứu, phản khoa học và sự thật lịch sử như trên.
Chưa kể cách thức làm việc cẩu thả, vô trách nhiệm cùng động cơ không trong sáng của một số cá nhân trong việc lợi dụng lịch sử để đánh bóng tên tuổi và để “câu like” đã dẫn đến tình trạng nhiễu loạn, dung tục hóa lịch sử gây hoang mang, mất lòng tin ở nhiều người. Để những hiện tượng này xuất hiện trên các diễn đàn chính thống, trước hết có phần trách nhiệm của những “người gác cổng” là biên tập, chuyên gia thẩm định ở các cơ quan báo chí, hội nghị, hội thảo. Người đọc duyệt, xử lý tin, bài cần phải không ngừng nâng cao tri thức, trình độ chuyên môn, tỉnh táo trước quan điểm, ý kiến “khác lạ”, chủ động sàng lọc ngay từ đầu vào các thông tin thiếu cơ sở, chưa được kiểm chứng, thậm chí bắt nguồn từ động cơ xấu. Trước vấn đề liên quan đến lịch sử còn nhiều tranh cãi, người có trách nhiệm cần kiểm tra nguồn tư liệu được dẫn ra, xem xét kỹ các quan điểm đánh giá,… để bảo đảm tính chân thực của các chi tiết, tính chính xác, khoa học của các nhận định. Nếu còn vấn đề chưa sáng tỏ có thể tham khảo ý kiến thẩm định của các chuyên gia. Đối với các trang mạng xã hội, sự tự do trên mạng có thể dẫn đến sự tùy tiện, dễ dãi trong việc phát ngôn, nêu quan điểm, nhưng hiện nay chúng ta đã có khung pháp luật để xử lý nghiêm cá nhân, tổ chức đưa thông tin sai trái, trong đó bao gồm cả hành vi xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ nhân vật lịch sử. Chúng ta tôn trọng quyền bày tỏ ý kiến chính đáng của mỗi cá nhân nhưng cần phải coi việc đưa các thông tin xuyên tạc lịch sử, làm nhiễu loạn thông tin, gây hoài nghi và muốn xét lại lịch sử là một xu hướng tiêu cực, không bao giờ được cộng đồng nghề nghiệp và công chúng chấp nhận.
Để đề phòng, ngăn chặn thông tin sai lạc và đánh giá tiêu cực, xuyên tạc về lịch sử, đã đến lúc cần có sự phối hợp vào cuộc của các cấp, các ngành liên quan trong công tác tuyên truyền, như: tích cực truyền bá thông tin chính xác, không ngừng nâng cao hiểu biết của công chúng về truyền thống dân tộc, về sự kiện, nhân vật lịch sử để mỗi người tự nâng cao “sức đề kháng”, tham gia bảo vệ sự thật lịch sử, bài trừ những xu hướng, quan điểm sai trái. Đó là cách thức quan trọng giúp bảo vệ sự lành mạnh của môi trường thông tin cũng như sự chính xác của lịch sử./.
ST


TRÁCH NHIỆM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 


Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn nhấn mạnh vị trí, vai trò của công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, coi đó là một bộ phận quan trọng trong công tác tư tưởng, lý luận của Đảng nhằm bảo vệ đường  lối, Cương lĩnh lãnh đạo của Đảng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Để văn hóa thúc đẩy sự phát triển kinh tế

 Văn hóa vừa là nền tảng tinh thần xã hội, vừa có thể chuyển hóa thành lực lượng vật chất trong quá trình con người tìm hiểu và cải tạo thế giới, do đó, có tác động quan trọng đến sự phát triển xã hội và sự trưởng thành của cá nhân. Trong thế giới ngày nay, văn hóa, kinh tế, chính trị luôn đan xen với nhau, và văn hóa là một lĩnh vực quan trọng, có vị trí đặc biệt trong cuộc cạnh tranh về sức mạnh tổng hợp của mỗi quốc gia, các ngành công nghiệp văn hóa là một lĩnh vực đặc biệt, vừa mang lại lợi ích kinh tế, vừa có giá trị xã hội, nhân văn. Vì vậy, kể từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn coi trọng sự phát triển của văn hóa dân tộc, xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

Do đó, mỗi người dân cần nhận thức rõ trọng trách phát huy và phát triển văn hóa dân tộc. Điều này thể hiện ở tình cảm yêu nước nồng nàn, lòng tự tôn dân tộc của nhân dân Việt Nam, đồng thời có trách nhiệm thúc đẩy phát triển văn hóa nhằm thực hiện khát vọng phát triển đất nước hùng cường, thịnh vượng. Sức mạnh văn hóa là một phần quan trọng sức mạnh tổng thể của quốc gia. Khi văn hóa mai một thì sức mạnh kinh tế cũng bị suy yếu, kìm hãm sự phát triển kinh tế nói riêng, sự phát triển đất nước nói chung. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “phát triển văn hóa đồng bộ, hài hòa với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội là một định hướng căn bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”(8). Nếu không hướng đến mục tiêu văn hóa thì mọi nỗ lực phát triển kinh tế sẽ trở nên vô nghĩa. Do vậy, cần phải phát triển mạnh mẽ văn hóa.

Có thể nói, phát triển các ngành công nghiệp văn hóa là một “mặt trận” để chúng ta tham gia vào cuộc cạnh tranh toàn cầu. Điều này đặt ra yêu cầu đối với Nhà nước là cần phải có sự đầu tư mạnh mẽ về tài chính cho phát triển các ngành công nghiệp văn hóa; Chính phủ và chính quyền các địa phương cần thành lập các quỹ hỗ trợ phát triển các ngành công nghiệp văn hóa; thực hiện các chính sách về giảm và miễn thuế đối với các ngành công nghiệp văn hóa. Hướng dẫn các tổ chức tài chính, ngân hàng đổi mới hệ thống quản lý tín dụng thích ứng với sự phát triển của các ngành công nghiệp văn hóa, đồng thời thúc đẩy sự thích ứng của các ngành công nghiệp văn hóa với các sản phẩm sáng tạo; xây dựng cơ chế bảo hiểm để hỗ trợ các ngành công nghiệp văn hóa phát triển...

Để hỗ trợ các ngành công nghiệp văn hóa vươn ra toàn cầu, các ngành, các cấp cần có sự phối hợp chặt chẽ trong xây dựng và thực hiện các cơ chế, chính sách hoàn thiện hệ thống tài chính, thuế và mở rộng mạng lưới ngoại thương văn hóa, tích cực mở rộng đầu tư ra nước ngoài... Trong thời gian tới, một mặt, cần tiếp tục phát triển và bảo đảm an sinh xã hội, phúc lợi công cộng, bảo vệ các quyền và lợi ích cơ bản về văn hóa của nhân dân; mặt khác, đẩy nhanh phát triển công nghiệp văn hóa để sớm trở thành ngành quan trọng của nền kinh tế quốc dân, phục vụ nhu cầu văn hóa tinh thần ngày càng đa dạng của nhân dân; đồng thời, cần nâng cao sức mạnh mềm văn hóa của đất nước.

Trên thực tế, bất kể từ góc độ văn hóa (về nội dung, công nghệ truyền thông, chủ trương văn hóa,...) hay từ góc độ phúc lợi công cộng văn hóa, công nghiệp văn hóa, phải đặt lợi ích xã hội lên hàng đầu, tránh tâm lý đầu tư phát triển theo số đông và chỉ coi trọng tăng trưởng kinh tế; xây dựng hệ thống chính sách và kết cấu hạ tầng để thúc đẩy phát triển văn hóa nói chung và các ngành công nghiệp văn hóa nói riêng theo hướng bền vững./.

Phát triển các ngành công nghiệp văn hóa trên cơ sở gắn kết chặt chẽ với kinh tế tri thức, kinh tế số

 Kinh tế tri thức là nền kinh tế dựa trực tiếp vào việc sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức, thông tin. Cơ sở của nền kinh tế tri thức là tri thức, văn hóa. Nói cách khác, đó là nền kinh tế kết hợp giữa công nghệ cao và văn hóa cao. Trong thời đại ngày nay, các sản phẩm và dịch vụ cạnh tranh không chỉ có hàm lượng kỹ thuật cao, mà còn phải có hàm lượng văn hóa cao. Nâng cao hàm lượng văn hóa của hàng hóa và dịch vụ cũng quan trọng như nâng cao hàm lượng kỹ thuật, để tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Để nâng cao hàm lượng văn hóa của hàng hóa và dịch vụ, phải chú ý đến việc quảng bá văn hóa dân tộc và tạo ra các sản phẩm, dịch vụ mang phong cách và đặc trưng riêng của đất nước. Trong sự phát triển của toàn cầu hóa kinh tế, khi con người tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ từ các quốc gia khác, họ cũng sẽ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố văn hóa như hệ tư tưởng và các giá trị được cô đọng trong các hàng hóa và dịch vụ.

Kinh tế số là phát triển kinh tế dựa trên nền tảng số, là trình độ phát triển cao của lực lượng sản xuất mà trực tiếp là sự phát triển mạnh mẽ và song hành giữa các công nghệ số hóa (điển hình là internet kết nối vạn vật) và kinh tế số, đã tạo nên sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế và tác động đến mọi mặt của đời sống con người. Thị trường số là lĩnh vực phát triển tiên phong của kinh tế số. Ngày nay, kinh tế số là một cấu phần đóng góp một tỷ trọng đáng kể với xu thế ngày càng tăng nhanh trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Phát triển kinh tế số đã trở thành xu thế tất yếu trên con đường hiện đại hóa của mọi quốc gia, phản ánh trình độ của nền kinh tế ở mức độ phát triển cao. Do đó, phát triển văn hóa hiện nay cũng không thể tách khỏi nền tảng của kinh tế số.

Công nghiệp văn hóa là ngành kinh tế tạo ra của cải xã hội mới trong xã hội hiện đại. Trong cơ cấu kinh tế thế giới, tỷ trọng công nghiệp văn hóa ngày càng tăng, công nghiệp văn hóa đã trở thành ngành đi đầu trong việc mở rộng ngoại thương ở một số nước phát triển và là ngành quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia. Phát triển các ngành công nghiệp văn hóa là một phương thức quan trọng để mở rộng việc làm. Tích cực áp dụng các thành tựu khoa học, công nghệ mới và phát triển các ngành công nghiệp văn hóa mới đã trở thành trọng tâm để tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, mà nhiều quốc gia đã triển khai thành công. Sự thâm nhập và chuyển hóa các thành tựu công nghệ cao vào công nghiệp văn hóa ngày càng rõ nét. Chẳng hạn, việc chuyển đổi sang truyền thông kỹ thuật số là một bước cần thiết để phát triển tài nguyên văn hóa truyền thống thành tài nguyên kinh tế, về bản chất là chuẩn bị điều kiện cho hội nhập công nghiệp quy mô rộng lớn, có ý nghĩa kinh tế quan trọng.

Ở nước ta, việc gắn công nghiệp hóa, hiện đại hóa với phát triển kinh tế tri thức và kinh tế số trong điều kiện hiện nay sẽ khắc phục được những hạn chế của công nghiệp hóa truyền thống và tạo ra khả năng rút ngắn đáng kể thời gian để xây dựng, phát triển một nền kinh tế hiện đại, đặc biệt là trong phát triển các ngành công nghiệp văn hóa. Tại Hội nghị văn hóa toàn quốc (tháng 11-2021), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Xây dựng môi trường văn hóa số phù hợp với nền kinh tế số, xã hội số và công dân số, làm cho văn hóa thích nghi, điều tiết sự phát triển bền vững đất nước trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Khẩn trương phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, xây dựng thị trường văn hóa lành mạnh”.

Trước đó, Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam, đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 cũng đưa ra các nhiệm vụ, giải pháp nhằm phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, gia tăng sức sản xuất và cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ văn hóa. Đến nay, tại Việt Nam, các ngành công nghiệp văn hóa được nhiều người biết đến là truyền hình - phát thanh, điện ảnh, quảng cáo, du lịch văn hóa, nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật, nhiếp ảnh, triển lãm, thủ công mỹ nghệ, thiết kế,...

Với những thay đổi thể chế mang tính tích cực, Việt Nam đã từng bước gắn các thành tố sức mạnh mềm văn hóa với tiến trình phát triển các ngành công nghiệp văn hóa để tái cơ cấu nền kinh tế sang hướng kinh tế tri thức, từ đó chuyển hóa nguồn tài nguyên mềm văn hóa thành năng lực cạnh tranh, sức thu hút, hấp dẫn, góp phần nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế. Các ngành công nghiệp văn hóa đã thúc đẩy thị trường công nghiệp văn hóa Việt Nam có những bước tiến mới, mang lại những đóng góp nhất định vào tăng trưởng GDP của cả nước. Năm 2015, các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 2,68% GDP, đến năm 2019 đã tăng lên 3,42% GDP. Sự thay đổi này cho thấy, các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đang phát huy khá hiệu quả các thành tố sức mạnh mềm văn hóa thông qua hoạt động của các ngành công nghiệp văn hóa, dần rút ngắn khoảng cách với các nền công nghiệp văn hóa trên thế giới, góp phần gia tăng sức cạnh tranh và hội nhập quốc tế.

Có thể nói, trong thế giới ngày nay, ảnh hưởng của các nhóm công nghiệp văn hóa xuyên quốc gia ngày càng gia tăng và sức thâm nhập của chúng vào nền văn hóa của từng quốc gia ngày càng mạnh mẽ. Dòng chảy toàn cầu của vốn văn hóa xuyên quốc gia cũng như vai trò to lớn của phân công lao động trong phân bổ nguồn lực đã trở thành những yếu tố ảnh hưởng đến những thay đổi trong cấu trúc các ngành công nghiệp văn hóa thế giới và xu hướng của thị trường văn hóa thế giới. Trước thực trạng đó, sự phát triển và lớn mạnh của nền công nghiệp văn hóa của quốc gia - dân tộc có liên quan đến sự tồn tại và phát triển của văn hóa dân tộc và an ninh văn hóa của đất nước. /.

Phát huy tiềm lực và sức mạnh văn hóa là yêu cầu cấp thiết, là tất yếu để nâng cao trình độ phát triển của nền kinh tế

 Nhận thức sâu sắc ý nghĩa chiến lược của việc xây dựng văn hóa và thúc đẩy sự phát triển, phồn vinh của nền văn hóa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, tại Hội nghị văn hóa toàn quốc (tháng 11-2021), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, cấp ủy và chính quyền các cấp phải nhận thức sâu sắc và quán triệt đầy đủ các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng về văn hóa, trên cơ sở đó, xây dựng các chương trình, kế hoạch thực hiện, huy động tối đa các nguồn lực để phát triển văn hóa; khắc phục tư tưởng “duy kinh tế”, chỉ tập trung nguồn lực cho phát triển kinh tế mà ít quan tâm đến phát triển văn hóa; phải quán triệt nghiêm túc quan điểm “văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội”. Có thể nói, trong thế giới ngày nay, khi văn hóa, kinh tế, chính trị hòa quyện với nhau, thì vị trí, vai trò của từng thành tố trong quá trình xây dựng, tích lũy và phát triển sức mạnh toàn diện của dân tộc ngày càng trở nên nổi bật. Đây là sự phản ánh nhạy bén và nắm bắt chính xác những xu hướng và đặc điểm mới sự phát triển của các quốc gia trên thế giới trong thời đại thông tin, đồng thời là sự khái quát mới trong nhận thức của Đảng ta về văn hóa.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế hiện nay, sự phát triển tổng thể sức mạnh quốc gia và khả năng phục hồi kinh tế của một quốc gia ngày càng phụ thuộc vào sức mạnh mềm văn hóa của quốc gia đó. Để thúc đẩy sự phát triển đồng bộ nền kinh tế, không chỉ cần tiến hành cải cách hệ thống kinh tế tương ứng, mà còn phải nâng cao năng lực cạnh tranh về văn hóa nói riêng, sức mạnh văn hóa nói chung. Đây là sự lựa chọn tất yếu để thúc đẩy sự phát triển chung của nền kinh tế, xã hội và con người. Trong đó, vai trò của văn hóa đối với việc thúc đẩy, hướng dẫn và hỗ trợ phát triển kinh tế ngày càng rõ nét, như nhà xã hội học, kinh tế học Max Weber từng khẳng định: Chúng ta nên lý giải vai trò của văn hóa từ những yếu tố quyết định đến sự thịnh vượng của nền kinh tế; sở dĩ các nước phương Đông và phương Tây quyết định lựa chọn con đường phát triển khác nhau là do các yếu tố đặc điểm văn hóa truyền thống không giống nhau; trong quá trình phát triển của nền kinh tế - xã hội nói chung đó, văn hóa có vai trò giúp chúng ta khai mở những cách nhìn mới(2).

Công nghiệp văn hóa “đang là xu thế lớn và quan trọng trong chính sách văn hóa của các nước trên thế giới”(3). Từ đó, cần có những giải pháp tạo điều kiện, môi trường thuận lợi về mặt cơ chế, chính sách và kinh doanh để phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, thể hiện chủ trương gắn kết phát triển văn hóa và phát triển kinh tế. Đặc biệt, ngày 8-9-2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1755/QĐ-TTg, phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, tạo khung chính sách tương đối thuận lợi để các ngành công nghiệp văn hóa có khả năng khai thác và chuyển hóa hiệu quả các thành tố sức mạnh mềm văn hóa nằm trong các trụ cột tài nguyên văn hóa thành sức thu hút, hấp dẫn văn hóa thông qua các sản phẩm và dịch vụ văn hóa.

Nhận thức rõ tầm quan trọng của văn hóa, Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh vai trò động lực của văn hóa trong phát triển kinh tế: “Gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Xây dựng, phát huy yếu tố văn hóa để thực sự là đột phá phát triển kinh tế  - xã hội, hội nhập quốc tế”(4) và “Phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, môi trường văn hóa, đời sống văn hóa phong phú, đa dạng, văn minh, lành mạnh; vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và động lực đột phá cho phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế”(5).

Có thể nói, sức mạnh văn hóa là kết quả của sự gắn kết, hướng dẫn, truyền cảm hứng và tạo động lực bởi các yếu tố văn hóa khác nhau trong việc thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế, xã hội và con người nói chung. Trong thời đại ngày nay, sức mạnh văn hóa cũng như năng lực cạnh tranh về văn hóa của các quốc gia chủ yếu thể hiện ở ba khía cạnh sau:

Một là, khả năng đổi mới văn hóa. So với đổi mới trên các lĩnh vực khác, đổi mới văn hóa có ý nghĩa đặc biệt hơn, trong đó sáng tạo là “lẽ sống” của văn hóa; sản phẩm văn hóa có cạnh tranh được hay không phụ thuộc chủ yếu vào năng lực đổi mới văn hóa.

Hai là, gia tăng hàm lượng công nghệ của công nghiệp văn hóa. Sự phát triển của các ngành công nghiệp văn hóa là kết hợp giữa công nghệ, thị trường và văn hóa. Sự cạnh tranh trong công nghiệp văn hóa ngày càng biểu hiện rõ ở cạnh tranh về sức mạnh công nghệ. Chỉ bằng cách phát triển mạnh mẽ công nghệ cao và các ngành liên quan, thúc đẩy sự kết hợp của các ngành công nghiệp văn hóa và công nghệ thông tin, công nghệ cao mới có thể nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành công nghiệp văn hóa nói riêng và sức mạnh văn hóa dân tộc nói chung.

Ba là, nguồn nhân lực chất lượng cao. Việc thúc đẩy đổi mới văn hóa, ứng dụng công nghệ cao để phát triển các ngành công nghiệp văn hóa không thể tách rời nguồn nhân lực chất lượng cao. Vì vậy, điểm cơ bản của nâng cao năng lực cạnh tranh về văn hóa và tăng sức mạnh văn hóa dân tộc nằm ở việc xây dựng một nguồn nhân lực thực sự có chất lượng cho sự phát triển của các ngành công nghiệp văn hóa.

Với sự phát triển của khoa học, công nghệ và kinh tế, văn hóa đã thâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; hội nhập kinh tế và văn hóa trở thành xu thế trong sự phát triển xã hội ngày nay. Nhờ đó, lợi ích kinh tế, xã hội do văn hóa tạo ra ngày càng cao. Trong những năm gần đây, ở nước ta, không chỉ phát triển kinh tế mới cần đến sự hỗ trợ của văn hóa, mà bản thân công nghiệp văn hóa đã bắt đầu trở thành một bộ phận của nền kinh tế, với những đóng góp ngày càng rõ nét. Sự phụ thuộc và thúc đẩy lẫn nhau của văn hóa và kinh tế làm cho sự phát triển của văn hóa và kinh tế thể hiện một xu hướng hội nhập rõ ràng. Sự phát triển của một số quốc gia, nhất là các nước lớn, như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản... đã cho thấy năng lực cạnh tranh về văn hóa là một trong những thành tố quan trọng trong năng lực cạnh tranh toàn diện của quốc gia. Vì vậy, nâng cao năng lực cạnh tranh của một quốc gia không chỉ là nâng cao năng lực tăng trưởng của kinh tế, mà còn phải nâng cao năng lực phát triển tổng thể của kinh tế, xã hội, văn hóa, đặc biệt là nâng cao năng lực cạnh tranh về văn hóa của quốc gia đó; và Việt Nam không phải là ngoại lệ.

Về mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế