Thứ Tư, 3 tháng 5, 2023

Phê phán các luận điệu phủ nhận, xuyên tạc đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

 Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế là chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Điều này đã được khẳng định rõ trong các Văn kiện Đảng và trong thực tiễn công cuộc đổi mới đất nước hơn 35 năm qua. Tuy nhiên, trong âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, phản động, thì chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam là một trong những mục tiêu mà họ nhắm tới và tìm mọi thủ đoạn thâm độc để chống phá.

Sự tinh vi của những luận điệu chống phá chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam

Trong thời gian qua, tình hình thế giới và khu vực chuyển biến nhanh chóng với nhiều diễn biến phức tạp, khó lường. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song các nhân tố bất ổn ngày càng gia tăng. Đặc biệt, trong hơn hai năm qua, đại dịch COVID-19 tác động nghiêm trọng và để lại hậu quả nặng nề trên mọi mặt của đời sống xã hội ở hầu hết các quốc gia. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng quyết liệt hơn, chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa đơn phương, chủ nghĩa bảo hộ trỗi dậy. Các thách thức an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống ngày càng gay gắt. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ. Quá trình định hình lại cấu trúc chính trị, kinh tế thế giới đang diễn ra ngày càng nhanh với những tập hợp lực lượng đa dạng, phức tạp, đan xen, tác động nhiều chiều đến hòa bình, an ninh và phát triển của các nước.

Lợi dụng bối cảnh quốc tế diễn biến phức tạp, nhiều biến động mới; tình hình trong nước còn nhiều khó khăn, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ráo riết tung ra những luận điệu xuyên tạc nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Mục tiêu cuối cùng mà sự chống phá của các thế lực này hướng tới không gì khác là nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng, của chế độ xã hội chủ nghĩa và chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Sự tinh vi của những thủ đoạn này ở chỗ, họ lợi dụng không gian mạng xã hội - nơi khởi phát nhanh chóng những thông tin thật - giả, đúng - sai, tốt - xấu... đa chiều, phức tạp, để tung ra thông tin sai lệch, xuyên tạc đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Thậm chí, một số “nhà hoạt động”, “nhà dân chủ”, “học giả” tự xưng..., kể cả ở ngoài nước, đưa ra những “ý kiến”, “tư vấn”, “phản biện”, tạo những “cơn sóng ngược” trên mạng xã hội, mưu toan gieo rắc tâm lý hoang mang, mất phương hướng, tạo sự bức xúc, tâm lý chống đối, gây mất ổn định xã hội, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta.

Chẳng hạn, họ xuyên tạc rằng đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay là “đu dây”, “tự sát”, bị lệ thuộc, chi phối bởi các cường quốc; rằng sự lạc hậu về chính sách đối ngoại sẽ khiến Việt Nam khó giữ được các quan hệ an ninh với các “phên dậu láng giềng”. Rồi họ đưa ra “lời khuyên”, “chỉ đường” cho Việt Nam nên bỏ chính sách “bốn không” để nghiêng về phương Tây, gắn với thực hiện “dân chủ hóa Việt Nam”. Xem đây là giải pháp để bảo vệ chủ quyền quốc gia. Và rằng, một nền dân chủ đích thực sẽ giúp đất nước thoát khỏi tình thế suy yếu, bị chèn ép...

Tính chất nguy hiểm của các luận điệu nêu trên là tạo ra sự hoang mang, dao động, gây chia rẽ từ bên trong, ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước, nhất là các nước đối tác, đối tác chiến lược, khiến dư luận trong và ngoài nước hiểu sai lệch về Việt Nam.

“Chiến dịch quân sự đặc biệt” mà Nga thực hiện ở U-crai-na là một sự kiện quốc tế được các thế lực thù địch, phản động, lợi dụng triệt để nhằm bóp méo, xuyên tạc chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Quan điểm của Việt Nam hết sức khách quan, rõ ràng, thể hiện qua bốn lần bỏ phiếu, đó là đều khẳng định lập trường nhất quán về giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng các biện pháp hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc, đặc biệt là nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ, không sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế, tiếp tục kêu gọi các bên giảm căng thẳng, ngừng bắn, nối lại đối thoại, tìm giải pháp lâu dài cho các bất đồng trên cơ sở tính tới quyền và lợi ích chính đáng của các bên liên quan. Phát biểu của Trưởng Phái đoàn Việt Nam tại Liên hợp quốc trong Phiên họp lần thứ 11 của Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thể hiện rất rõ quan điểm rằng, Việt Nam hết sức lo ngại về tình hình xung đột vũ trang hiện nay ở U-crai-na, một quốc gia có chủ quyền, thành viên của Liên hợp quốc. Việt Nam cho rằng, điều cấp bách hiện nay là cần kiềm chế tối đa và chấm dứt ngay lập tức việc sử dụng vũ lực để tránh thêm thương vong và tổn thất, đặc biệt là đối với dân thường. Việt Nam kêu gọi các bên liên quan giảm leo thang căng thẳng, nối lại đối thoại và đàm phán thông qua tất cả các kênh, nhằm đạt được giải pháp lâu dài có tính đến lợi ích và quan ngại của tất cả các bên, trên cơ sở luật pháp quốc tế. Tuy nhiên, trên các trang mạng, diễn đàn, tài khoản mạng xã hội của các tổ chức, cá nhân thù địch, chống đối liên tục đăng tải tin, bài, cố tình đưa ra những luận điệu sai trái, suy diễn, võ đoán, quy chụp rằng quan điểm của Việt Nam là “mơ hồ”, “không kiên định”, “lập trường không dứt khoát”, “rõ ràng”; rằng Việt Nam “lạc lõng” trước thời cuộc. Từ đó, họ đưa ra những kết luận hàm hồ, vô căn cứ rằng Việt Nam sẽ “mất đi sự ủng hộ của các nước vì thực chất đã “chọn phe””.

Kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế

Trước hết cần khẳng định, Việt Nam thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng. Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Điều này thể hiện rõ trong các nghị quyết, văn kiện Đại hội Đảng và thực tiễn sinh động của đất nước. Trong hơn 35 năm đổi mới, đường lối độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa của Đảng và Nhà nước ta đã góp phần quan trọng tạo môi trường hòa bình, ổn định, điều kiện thuận lợi và tranh thủ được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, tăng cường quốc phòng - an ninh, nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Do vậy, có thể khẳng định, nhất quán kiên định thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa của Việt Nam xuất phát trước hết vì lợi ích quốc gia - dân tộc, phù hợp với xu thế thời đại là hòa bình, độc lập, phát triển và hội nhập quốc tế.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc chủ trì lễ đón chính thức Tổng thư ký Liên hợp quốc António Guterres thăm Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 45 năm Việt Nam tham gia Liên hợp quốc _Ảnh: TTXVN

Bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc là mục tiêu xuyên suốt, nhất thành bất biến, không thể đánh đổi, không thể thỏa hiệp, dù trong bất cứ thời đoạn, hoàn cảnh nào. Trong mỗi bước đường lịch sử cách mạng, trong mỗi giai đoạn và hoàn cảnh khác nhau, lợi ích quốc gia - dân tộc Việt Nam đều có những thứ tự ưu tiên trước sau, nhưng mục đích xuyên suốt vẫn là độc lập, chủ quyền, tự do cho đất nước, hạnh phúc cho nhân dân. Chúng ta sẽ không vì bất cứ lợi ích trước mắt, lợi ích cục bộ nào mà đánh đổi hoặc nhân nhượng. Đây là nguyên tắc tối cao, bất biến trong chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, để đạt được và bảo vệ lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, dù nhiều lần đứng trước thách thức nghiệt ngã của lịch sử, nhưng chúng ta vẫn giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ, “dĩ bất biến ứng vạn biến”, giành chiến thắng từng bước, thậm chí có lúc phải nhân nhượng để tranh thủ khoảng thời gian hòa bình quý báu, tránh tối đa tình thế bất lợi cho cách mạng, đồng thời bảo toàn, củng cố lực lượng, dồn sức cho cuộc đấu tranh trường kỳ gian khổ, nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu bảo đảm và bảo vệ lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc.

Thưc hiện nhiệm vụ đối ngoại vì lợi ích quốc gia - dân tộc là mục tiêu tối thượng, hàng đầu, xuyên suốt đã được Đảng ta khẳng định trong các văn kiện đại hội Đảng. Đại hội XI đã nêu rõ mục tiêu đối ngoại là “vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh”. Đại hội XII khẳng định: “Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”(1). Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam”(2).

Theo đó, nhiệm vụ xuyên suốt, bao trùm của đối ngoại là đưa đất nước vào vị trí có lợi nhất trong mọi diễn biến bất định của tình hình thế giới, khu vực, xu thế quốc tế và tương quan lực lượng chính trị thế giới; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phục vụ phát triển, bảo vệ vững chắc lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Kiên định thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ

Độc lập, tự chủ trong chính sách đối ngoại là khả năng tự quyết trong các vấn đề liên quan tới hoạch định và triển khai chính sách, chiến lược, hành động của mình, mà không chịu bất kỳ sức ép hay tác động, áp đặt từ các yếu tố bên ngoài, nhằm mục tiêu bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Độc lập, tự chủ còn là khả năng đứng vững, chống chịu trước mọi biến động của thời cuộc, thể hiện rõ tinh thần độc lập, tự cường, dựa vào chính mình để bảo vệ lợi ích của đất nước, dân tộc. Độc lập, tự chủ không đồng nghĩa với biệt lập. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, độc lập, tự chủ chính là sự chủ động tăng cường mở rộng hợp tác quốc tế, xử lý đúng đắn, hài hòa, cân bằng các mối quan hệ lợi ích dân tộc và giai cấp, quốc gia và thời đại. Và trong quá trình mở rộng hợp tác với thế giới, độc lập, tự chủ chính là “mỏ neo” quy định quá trình hội nhập quốc tế. Nói cách khác, độc lập, tự chủ của một quốc gia sẽ quyết định mức độ, phạm vi, chiều hướng hội nhập quốc tế của quốc gia đó.

Hiện nay, thế giới đang trong ngã rẽ của những biến chuyển liên quan đến cạnh tranh nước lớn cũng như những điều chỉnh chính sách của họ. Mọi động thái của các cường quốc đều ảnh hưởng, chi phối đến sự vận động, phát triển của thế giới. Trong môi trường quốc tế bất định, bất an đó, các nước, nhất là các nước nhỏ, đều chuẩn bị cho mình một tâm thế tự chủ, khả năng độc lập trước mọi biến động của tình hình, không ngả nghiêng, dao động, không chịu bất kỳ sức ép bên ngoài nào. Giữa muôn vàn quan hệ lợi ích đa chiều, chồng chéo, đan xen và sự cạnh tranh đối đầu quyết liệt giữa các nước lớn, sức ép của các nước lớn với các nước vừa và nhỏ cũng theo chiều hướng gia tăng, đòi hỏi phải có đối sách thận trọng, mềm dẻo và khôn khéo để duy trì quan hệ cân bằng, tạo thế đan xen lợi ích, giữ được thế trung lập và chính sách ngoại giao độc lập, tự chủ, tránh rơi vào tình trạng đối đầu hay lệ thuộc, vừa bảo vệ độc lập, chủ quyền, vừa bảo vệ hòa bình. 

Độc lập, tự chủ là mục tiêu cao nhất của cách mạng Việt Nam, là căn cứ quan trọng nhất để hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại của nước ta. Thực tiễn cách mạng Việt Nam trong quá trình đấu tranh, bảo vệ, giữ vững nền độc lập Tổ quốc, trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước đã cho thấy điều đó.

Sau hơn 35 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, hội đủ tiền đề nội lực để có thể phát huy thế mạnh, bảo đảm sự tự chủ trong các quyết sách liên quan đến vận mệnh phát triển và an ninh của đất nước. Điều này thể hiện rõ trong sự đi lên của đất nước, với cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế ngày càng nâng cao. Việt Nam đã tích cực tham gia vào đời sống quốc tế, góp phần tạo dựng, duy trì, củng cố và gìn giữ môi trường hòa bình, an ninh, ổn định, phát triển. Đảm đương xuất sắc vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Chủ tịch ASEAN nhiệm kỳ 2020 - 2021, liên tục được bầu chọn vào các vị trí quan trọng trong các tổ chức khu vực, quốc tế là những minh chứng cho một Việt Nam ngày càng tự chủ, tự tin, độc lập. Trước những diễn biến mới, phức tạp của một số quốc gia, khu vực trên thế giới, Việt Nam vẫn luôn kiên trì, kiên định giữ vững lập trường đối ngoại, tạo dựng được lợi thế quốc gia và vị thế quốc tế. Do đó, việc cho rằng Việt Nam  cần đi theo và dựa vào một bên để làm điểm tựa chống lại bên khác như một số “luận điệu rao giảng”, sẽ chỉ là ảo tưởng, phi thực tế và vô căn cứ.

Nhất quán chính sách đối ngoại đa dạng hóa, đa phương hóa

Trong dòng chảy toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, thực hiện chính sách đối ngoại cân bằng, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại là một trong những lựa chọn của không ít các quốc gia trên thế giới nhằm tối ưu hóa lợi ích quốc gia.

Trong lịch sử thế giới, mọi quốc gia, dân tộc trong giải quyết các mối quan hệ đối ngoại đều đề cao và đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc mình lên trên hết. Đặc biệt, trong quan hệ quốc tế đương đại, các nước vừa hợp tác, vừa đấu tranh với nhau, vừa là đối thủ, vừa là đối tác của nhau. Không có một quốc gia nào vì quyền lợi nước khác mà hy sinh quyền lợi của nước mình. Do đó, quan điểm liên minh với nước này để chống nước khác hoàn toàn là phi thực tế. Hơn nữa, nếu chỉ trông chờ ảo tưởng vào sự trợ giúp của nước ngoài thì quốc gia đó sẽ trở thành quân cờ trong bàn cờ chiến lược của họ. Nếu chỉ dựa vào một bên, rơi vào quỹ đạo ảnh hưởng của nước khác, không sớm thì muộn, sẽ trở thành đối tượng chiến lược, đối đầu với nước lớn khác, thậm chí còn làm trầm trọng, căng thẳng và phức tạp thêm tình hình. Nó sẽ khiến quốc gia phải lệ thuộc vào chính sự lựa chọn này, là một trong những nguồn gốc làm mất tính độc lập, tự chủ, làm xói mòn sức mạnh, vị thế của đất nước. Nhiều bài học xương máu của các nước trong lịch sử và cả hiện tại minh chứng rõ điều đó.

Bối cảnh phức tạp của tình hình thế giới hiện nay buộc các nước, nhất là các nước vừa và nhỏ, phải có chính sách đối ngoại khôn khéo, giữ cân bằng quan hệ trên tinh thần đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi và phù hợp với luật pháp quốc tế. 

Mở rộng quan hệ đối ngoại với tất cả các nước trên thế giới không phân biệt chế độ chính trị - xã hội là chủ trương của Đảng và Nhà nước ta thể hiện  trong các văn kiện Đại hội. Trong hơn 35 năm đổi mới, nhất là trong thời gian vừa qua, chính sách đối ngoại đa dạng hóa, đa phương hóa giúp Việt Nam tạo dựng một mạng lưới quan hệ rộng khắp, tranh thủ được nhiều yếu tố thuận lợi cho công cuộc phát triển đất nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia, nâng cao vị thế quốc tế. 

Thực hiện chính sách đối ngoại đa dạng hóa, đa phương hóa, đan xen lợi ích với các đối tác chính là nhằm giúp đất nước tránh bị “ngả” về một bên, tránh bị lệ thuộc hoặc bị “kẹt” trong những toan tính chiến lược của các nước khác, bảo đảm sự vững vàng về tâm thế độc lập, tự chủ thông qua sự gia tăng tùy thuộc lẫn nhau giữa nước ta với các nước trên thế giới.

Lịch sử dân tộc đã chứng minh, để bảo vệ được chủ quyền, độc lập dân tộc,  ông cha ta đã phải rất khéo léo trong việc xử lý mối quan hệ bang giao. Nằm ở vị trí địa - chính trị xung yếu, trong hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, Việt Nam luôn phải đối mặt với việc xử lý mối quan hệ với các nước lớn. Do vậy, sự lựa chọn duy nhất trong hoàn cảnh lịch sử bấy giờ buộc ông cha ta phải đứng lên chống ngoại xâm, giành và bảo vệ vững chắc độc lập, song vẫn phải giữ đối sách ứng xử mềm, khôn khéo nhằm bình ổn đất nước, giữ yên bờ cõi.

Ngoại giao đa phương trong tư tưởng Hồ Chí Minh là chính sách đối ngoại làm bạn với tất cả các nước, không gây thù oán với ai đã được Người vận dụng khéo léo trong mọi hoàn cảnh. Năm 1947, thay mặt nhân dân, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người gửi thông điệp tới nhân dân toàn thế giới là: Việt Nam chủ trương làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai(3). Người hết sức coi trọng tình hữu nghị và hợp tác với các nước láng giềng có chung biên giới; mở rộng bang giao với các nước trong khu vực và trên thế giới. Đối với kẻ thù khi bị sa lầy, bại trận, Người luôn tạo điều kiện, sẵn sàng mở cho đối phương một con đường rút lui trong danh dự. Trong ứng xử với các nước lớn, Người luôn khôn khéo xây dựng và giữ gìn được mối quan hệ tốt đẹp, tranh thủ được sự ủng hộ của quốc tế đối với sự nghiệp cách mạng chính nghĩa của dân tộc. Khoan hòa, nhưng rất kiên quyết, kiên định nguyên tắc với kẻ thù. Người từng chỉ rõ, nguyên tắc thì phải vững chắc, nhưng sách lược cần linh hoạt. Chính vì vậy, cách ứng phó linh hoạt, mềm dẻo của Người, thậm chí có lúc chấp nhận lùi một bước để tiến những bước xa hơn, không những tranh thủ được thời cơ vàng để đưa cách mạng tiến lên, mà còn thu phục được sự nể trọng của đối phương.

Đường lối ngoại giao đa phương của Việt Nam ngày nay mang dấu ấn đậm nét tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh. Đó là, “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”(4). Trong triển khai chính sách đối ngoại đa phương, Việt Nam xây dựng, củng cố, phát triển mạng lưới quan hệ quốc tế đa dạng, duy trì cân bằng quan hệ với các nước lớn, “coi trọng phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị, truyền thống với các nước láng giềng;... đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, đặc biệt là các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và các đối tác quan trọng khác, tạo thế đan xen lợi ích và tăng độ tin cậy”(5).

Thái tử kế vị Đan Mạch Frederik trải nghiệm nghệ thuật làm tranh Đông Hồ trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Việt Nam _Nguồn: toquoc.vn

Đối với các nước lớn, Việt Nam thực hiện chính sách đối ngoại “không chọn bên”, đặt mục tiêu lợi ích quốc gia trong ứng xử với các nước này. Tăng cường đa dạng hóa, mở rộng quan hệ đối ngoại với nhiều đối tác sẽ giúp tạo nên một không gian lựa chọn rộng lớn nhiều chiều, nhiều tuyến, nhiều tầng nấc... nhằm tránh bị lệ thuộc vào một vài đối tác, thị trường, thúc đẩy và bảo vệ các lợi ích an ninh và phát triển của Việt Nam, góp phần huy động những nguồn lực và sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong điều kiện hiện nay, giữ cân bằng trong quan hệ với các nước lớn được hiểu là không ngả nghiêng, dao động, không chịu sức ép trước sự lôi kéo, tác động ảnh hưởng từ bên ngoài. Cân bằng trong quan hệ đối ngoại thể hiện sự độc lập, tự chủ trong chính sách, tránh sự lệ thuộc một chiều vào một bên. Trong thế giới toàn cầu hóa và cạnh tranh nước lớn, giữ được thế cân bằng đòi hỏi phải có thực lực và tinh thần tự chủ. Trong hơn 35 năm đổi mới, thực lực cũng như  vị trí, vai trò của Việt Nam trên thế giới không ngừng được nâng cao. Quan hệ song phương và đa phương của Việt Nam với các nước, các tổ chức quốc tế, khu vực ngày càng mở rộng, đi vào thực chất, hiệu quả. Việt Nam giữ vững chính sách quốc phòng “bốn không”: Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Theo đó, chúng ta không dựa vào bên nọ để chống bên kia và ngược lại; phát triển quan hệ đối ngoại đa phương, thiết lập, củng cố quan hệ với tất cả các nước, nhất là các đối tác chiến lược; gia tăng đan xen lợi ích chung với nhiều nước, tranh thủ tối đa và tạo sự ủng hộ, giúp đỡ của cộng đồng quốc tế; ngăn ngừa nguy cơ và đối phó hiệu quả với mọi hình thức chiến tranh xâm lược...

Đứng vững trên cơ sở luật pháp quốc tế, Việt Nam không chọn bên mà chọn chính nghĩa, sự công bằng, công lý và lẽ phải trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc.

Thực tế sinh động diễn ra trong hơn 35 năm đổi mới, nhất là những năm gần đây, đã minh chứng cho tính đúng đắn trong đường lối đối ngoại của của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Với mục tiêu tối thượng là bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế của Việt Nam đã góp phần bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa. Quan hệ đối ngoại của Việt Nam được mở rộng, ngày càng đi vào chiều sâu, ổn định; chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; đời sống nhân dân được nâng cao, cải thiện. Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 189/193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc, có quan hệ đối tác chiến lược với 17 nước và đối tác toàn diện với 13 nước. Trên bình diện đa phương, Việt Nam là thành viên tích cực và có trách nhiệm của hơn 70 tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng, như Liên hợp quốc, Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn Hợp tác Á - Âu (ASEM)... Trong thực hiện đường lối đối ngoại, Việt Nam luôn tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước. Đối với những vấn đề phức tạp của các quốc gia, Việt Nam luôn giương cao ngọn cờ hòa bình, hợp tác, tích cực trao đổi, đàm phán, tìm kiếm giải pháp cơ bản, lâu dài cho các tranh chấp bằng biện pháp hoà bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Trong quá trình hội nhập quốc tế, Việt Nam luôn phát huy vai trò thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, thực hiện tốt các nghĩa vụ đối ngoại. Vai trò, vị thế, uy tín của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Thực tế đó là minh chứng không thể phủ nhận về đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong một thế giới đầy biến động, cạnh tranh chiến lược phức tạp và nhiều xu hướng tập hợp lực lượng đa chiều hiện nay./.

-----------------------------

(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 153
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 117 – 118
(3) Xem: Hồ Chí Minh: Toàn tập, t. 5, tr, 256
(4), (5) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIISđd, tr. 162, 163

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước tác động của cuộc chiến thông tin trên không gian mạng.

 Tiến bộ vượt bậc của khoa học - công nghệ, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn được xem là những nguyên nhân chính dẫn đến các cuộc chiến thông tin, nhất là chiến tranh thông tin trên không gian mạng. Các cuộc chiến tranh này đã và đang có những tác động chưa thể lường hết đối với chế độ chính trị, thể chế nhà nước cũng như hệ giá trị của các quốc gia trong quan hệ quốc tế. Mặc dù Liên hợp quốc và các quốc gia trên thế giới, bao gồm Việt Nam, đã và đang nỗ lực để giải quyết, nhưng đến nay vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức.

Tác động của cuộc chiến thông tin trên không gian mạng đối với an ninh quốc gia và quan hệ quốc tế

Sự ra đời và phát triển của internet cùng những yếu tố, như hạ tầng thông tin, công nghệ,... tạo nên không gian mạng, đã và đang giúp tăng khả năng thu thập dữ liệu, lan truyền thông tin, bảo vệ thông tin cũng như làm gián đoạn thông tin, đồng thời tạo ra các cơ hội dễ dàng trong việc tiếp cận thông tin đến từng người dân ở khắp nơi trên thế giới, cộng đồng quốc tế và quan hệ giữa các chủ thể (nhà nước, phi nhà nước) trong quan hệ quốc tế. Với tốc độ đường truyền nhanh, độ bao phủ rộng và chi phí thấp, các chiến dịch thông tin truyền thông trên các nền tảng mạng xã hội tương tác ở tất cả các cấp độ đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống chính trị, an ninh, kinh tế và xã hội trên toàn cầu. 

Thực tiễn những năm qua cho thấy, bên cạnh những thành quả to lớn và khía cạnh tích cực đối với thế giới, không gian mạng và các khía cạnh liên quan đến công nghệ mới đã và đang tạo điều kiện cho sự bùng nổ, phát triển của chiến tranh thông tin trên không gian mạng. Các hoạt động chiến tranh thông tin trên không gian mạng có thể bao gồm các cuộc tấn công mạng, phá hủy hệ thống thông tin của đối phương, tấn công nền tảng mạng xã hội, bằng cách đưa vào trong tâm trí con người hình ảnh, thông tin có chủ đích theo hướng có lợi cho mình/nước mình về thế giới hay quốc gia, cộng đồng nhằm thực hiện mục tiêu xác lập vị thế độc quyền trong việc “diễn giải” một câu chuyện, sự kiện nào đó, trong khi tìm cách “tước đoạt” năng lực phát tán thông tin của một quốc gia hay các chủ thể nhà nước, phi nhà nước trong quan hệ quốc tế. Các hình thức chiến tranh này đã và đang có những tác động sâu sắc trong quan hệ giữa các quốc gia nói chung và nội bộ của từng quốc gia nói riêng với một số nguy cơ đáng chú ý sau:

Một là, đe dọa sự ổn định chính trị, thậm chí là sự tồn vong, sự lựa chọn về thể chế chính trị của các quốc gia, đảng cầm quyền, tổ chức, liên minh. Thông tin sai lệch, xuyên tạc từ nước ngoài được truyền tải bằng các nền tảng công nghệ hiện đại được vận hành cùng với công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI)(1), đã và đang có những tác động rất lớn nhằm tăng cường sự đối nghịch về ý thức hệ, nhằm can thiệp vào các vấn đề chính trị trong nước của quốc gia khác, như can thiệp sâu hơn vào các cuộc bầu cử, bao gồm cả việc cải thiện khả năng nhắm trúng mục tiêu và thuyết phục các nhóm bỏ phiếu cụ thể của đối thủ, thậm chí là thay đổi kết quả bầu cử cũng như hạ bệ đảng cầm quyền, liên minh đảng cầm quyền,... tại nhiều quốc gia trên thế giới, kể cả các nước lớn. Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu gần đây cũng đưa ra không ít bằng chứng về các chiến dịch tin giả, xuyên tạc từ bên ngoài đã có tác động nhất định đối với sự kiện người dân Anh bỏ phiếu rời Liên minh châu Âu (hay còn gọi là “Brexit”). Điều này không chỉ làm suy yếu vị thế toàn cầu của Liên minh châu Âu (EU), mà còn dẫn đến những tác động tiêu cực về xu thế liên kết quốc tế và cân bằng quyền lực trong quan hệ quốc tế.

Cuộc chiến thông tin giữa Nga và phương Tây về cuộc xung đột Nga - U-crai-na hiện nay cũng là một ví dụ điển hình. Với thế mạnh về các nền tảng mạng xã hội, hệ thống truyền thông mạng của phương Tây đã và đang truyền tải nhiều nội dung thông tin, hình ảnh và video một chiều về cuộc xung đột Nga - U-crai-na và tình hình nội trị nước Nga. Ở chiều ngược lại, bên cạnh việc gồng mình chống các hình thức cấm vận toàn diện của phương Tây, Nga cũng có sự chủ động triển khai “phòng thủ” tốt, bao gồm các giải pháp công nghệ do Nga làm chủ nhằm ngăn chặn, đập tan những cuộc xâm nhập, tấn công mạng, lan truyền tin trên không gian mạng mà Nga cho là tin giả, xuyên tạc, kích động, gây rối loạn từ bên trong nước Nga. Bên cạnh đó, Nga cũng chủ động phản công, triển khai các biện pháp truyền tải thông tin có lợi nhất của mình ra bên ngoài khi có thể để cộng đồng quốc tế và người dân phương Tây hiểu rõ nguyên nhân của việc Nga triển khai “chiến dịch quân sự đặc biệt” ở U-crai-na. Trong cuộc chiến này, các phương tiện tuyên truyền chính trị giữa Nga và phương Tây hiện nay đã chuyển sang một không gian mới - không gian của các phương tiện truyền thông xã hội đa nền tảng, như Facebook, Instagram, Tiktok, Twitter, Youtube, Vkontakte, Odnoklassniki và Moy Mir cho đến các ứng dụng di động, các kênh truyền hình, các trang web và tuyên truyền bằng nhiều ngôn ngữ ở hầu khắp các quốc gia trên thế giới, có thể tạo ra những tác động mạnh mẽ ngay lập tức, như BBC, Reuter (Anh), CNN, AP (Mỹ), AFP (Pháp), DW (Đức), RT (Nga)...

Hai làlàm mất lòng tin, căng thẳng chính trị, thậm chí dẫn đến xung đột trong quan hệ quốc tế, đe dọa tới trật tự, an ninh quốc gia, khu vực và thế giới. Các thông tin giả, sai sự thật được sử dụng trong không gian mạng đều có mục đích chính trị nhằm thực hiện lợi ích của các quốc gia, đối thủ và các chủ thể có lợi ích. Đây là một trong những công cụ quan trọng mà các quốc gia sử dụng trong triển khai chính sách đối ngoại nhằm gây hiểu lầm, bất đồng và bất hòa giữa các tầng lớp nhân dân ở các quốc gia khác, nhằm mục tiêu gia tăng lợi ích, vị thế, ảnh hưởng của mình trong quan hệ quốc tế và làm suy yếu vai trò của đối phương(2). Các công nghệ hiện đại ngày nay đã trở thành công cụ để các quốc gia, chủ thể lợi ích (kể cả chủ thể phi nhà nước) tạo ra những loại hình sản phẩm truyền thông, tin tức theo thời gian thực một cách giả mạo, tinh vi nhằm gây ra những xáo trộn, mâu thuẫn, thậm chí là xung đột trong nội bộ một quốc gia hoặc giữa các quốc gia. Có thể thấy, quốc gia nào, xã hội nào cũng đều thấm thía những hậu quả chính trị của những thông tin sai lệch, cho dù mức độ dễ bị tổn thương khác nhau, tùy thuộc vào hoàn cảnh trong nước của từng quốc gia.

Đối với những “điểm nóng” xung đột hay chiến tranh, các loại hình chiến tranh thông tin mạng được triển khai rầm rộ trong thời gian qua đã và đang tạo ra các nguy cơ, hệ lụy đối với hòa bình, an ninh quốc tế. Bên cạnh đó, thông qua các nền tảng mạng xã hội xuyên biên giới, các tổ chức khủng bố, tổ chức tội phạm xuyên quốc gia có thể dễ dàng chiêu mộ, đào tạo trực tuyến, mở rộng hoạt động ở nhiều nơi trên thế giới, đe dọa tình hình an ninh của các quốc gia cũng như sự ổn định, hòa bình, an ninh của khu vực và quốc tế.

Ba là, nguy cơ dẫn đến xung đột về hệ giá trị của các quốc gia. Việc áp dụng, phát triển các nền tảng công nghệ hiện đại, công nghệ mới nổi, đặc biệt là vận hành trên công nghệ AI của các doanh nghiệp, tập đoàn ở các nước lớn, như Mỹ và Trung Quốc, nhằm cạnh tranh, đối phó lẫn nhau sẽ dẫn đến những tác động lớn, thậm chí là xung đột không chỉ về hệ giá trị đối với Mỹ, Trung Quốc nói chung, người dân sử dụng ở Mỹ và Trung Quốc nói riêng, mà còn đối với các quốc gia và người dân trên thế giới. Các nền tảng công nghệ hiện đại vươn tới toàn cầu và công nghệ AI đã được địa phương hóa cho phù hợp với từng khu vực, lãnh thổ, có thể là phương tiện để tăng cường sự đối nghịch về ý thức hệ, tiêu chuẩn về dân chủ, tự do ngôn luận, kích động bạo lực,... phục vụ việc can thiệp vào các vấn đề chính trị trong nước của quốc gia khác, gây ảnh hưởng đến tình hình chính trị của các quốc gia có chủ quyền(3).

Ngoài ra, trên thế giới hiện nay, các chiến dịch tuyên truyền tin giả, xuyên tạc, sai sự thật từ cuộc chiến thông tin giữa các thực thể tham gia quan hệ quốc tế (nhà nước, phi nhà nước) đã và đang lan rộng và trở thành một trong những thách thức nghiêm trọng đối với thế giới, quốc gia và người dân trên toàn cầu. Đại dịch COVID-19, biến đổi khí hậu và bất bình đẳng xã hội ngày càng gia tăng đi kèm với nguy cơ hiện hữu về đói nghèo... đã tạo ra làn sóng thông tin sai lệch, xuyên tạc dữ dội hơn trên các nền tảng mạng xã hội toàn cầu, khu vực và quốc gia, gây ảnh hưởng đến quyền con người cũng như những giá trị tích cực và nỗ lực của các quốc gia, định chế quốc tế, xã hội trên khắp thế giới đạt được trong nhiều thập niên qua.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng ở Việt Nam hiện nay

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tham quan trưng bày thiết bị và ứng dụng công nghệ số tại Hội nghị chuyển đổi số ngành công an nhân dân lần thứ nhất, năm 2022 _Ảnh: TTXVN

Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tốc độ phát triển internet, mạng xã hội nhanh nhất thế giới. Theo số liệu thống kê đến tháng 6-2021, trong số 97,75 triệu dân cả nước có trên 68,72 triệu người (chiếm 70,3% dân số) sử dụng internet, cao thứ 12 trên thế giới và thứ 6 ở châu Á; hơn 72 triệu người (chiếm 73,7% dân số) dùng mạng xã hội, chủ yếu là Youtube, Facebook (đứng thứ 7 trong số 10 quốc gia sử dụng Facebook nhiều nhất) và là một trong 10 nước có số lượng người dùng Youtube cao nhất thế giới. Trong đó, 94% số người sử dụng internet hằng ngày là sinh viên, trí thức trẻ, thanh niên(4).

Trong thời gian qua, lợi dụng những thế mạnh và tính mở của không gian mạng với đặc trưng tự do, đa dạng, bình đẳng, không có ranh giới cụ thể giữa “thực” và “ảo”, các thế lực thù địch, phản động trong nước và ngoài nước, bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, không ngừng ra sức tuyên truyền, xuyên tạc, bóp méo, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, với âm mưu hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam, đó là: 1- Xuyên tạc, hạ thấp, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin; 2- Tập trung công kích, xuyên tạc quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; 3- Bóp méo, hạ thấp, phủ nhận thành quả đổi mới của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng... Điển hình là đầu năm 2022, ngay từ khi xảy ra cuộc xung đột Nga - U-crai-na, trên các diễn đàn đa phương quốc tế và phương tiện thông tin đại chúng, Việt Nam đã nhiều lần nêu rõ quan điểm chính thức của mình. Thế nhưng, trên internet, các trang mạng, diễn đàn, tài khoản mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị lại cố tình đăng tải những tin, bài có nội dung phê phán, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Việt Nam trong quan điểm, cách nhìn nhận, ứng xử trước những vấn đề liên quan đến cuộc xung đột giữa Nga và U-crai-na..., mưu toan hướng dư luận trong nước và quốc tế hiểu sai lệch về Việt Nam, gây ảnh hưởng tới mối quan quan hệ của Việt Nam với Nga, U-crai-na và cộng đồng quốc tế. Các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị còn đẩy mạnh tuyên truyền xuyên tạc, chống phá chính sách đối ngoại quốc phòng của Việt Nam khi xuyên tạc rằng nguyên tắc “không tham gia liên minh quân sự” nêu trong Sách trắng Quốc phòng năm 2019 của Việt Nam là “hành động tự trói”, không phù hợp với xu thế của thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, cần phải thay đổi...

Để chủ động đập tan những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, ngay từ năm 1983, Đảng ta đã đưa ra quan điểm: “Tăng cường hoạt động của các cơ quan nghiên cứu lý luận để làm tốt nhiệm vụ tham gia nghiên cứu, chuẩn bị và giải thích về mặt lý luận đường lối, chính sách của Đảng trên các lĩnh vực, nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm tiên tiến trong các phong trào cách mạng của quần chúng, phê phán những tư tưởng, quan điểm sai trái với chủ nghĩa Mác - Lê-nin và đường lối của Đảng”(5). Kể từ đó đến nay, Đảng ta đã ban hành nhiều văn bản (nghị quyết, chỉ thị) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới, về công tác tư tưởng, lý luận... trong đó nêu rõ các quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp đồng bộ nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, phản động(6). Đặc biệt, ngày 22-10-2018, Bộ Chính trị khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW, “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”... Tháng 1-2021, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị; đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lốì sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” (7). Việc ban hành các nghị quyết, chỉ thị để lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đã thể hiện sự chủ động của Đảng ta trong công tác quan trọng này.

Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm tới vấn đề “bảo đảm chủ quyền, an ninh quốc gia”, nhất là về các nguy cơ, biện pháp bảo đảm an toàn, an ninh, bảo vệ bí mật quốc gia trong không gian mạng, như Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 25-7-2018, của Bộ Chính trị khóa XII, “Về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng”; Nghị quyết số 30-NQ/TW, ngày 25-7-2018, của Bộ Chính trị, “Về Chiến lược an ninh mạng quốc gia”... Có thể thấy, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng đều thống nhất quan điểm chỉ đạo về bảo đảm an toàn, an ninh thông tin và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Trên cơ sở đó, Nhà nước đã thể chế hóa thành pháp luật, như Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, Luật An ninh mạng năm 2018 và Luật Quốc phòng năm 2018(8)... Việc Nhà nước từng bước thể chế hóa chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng về an toàn thông tin, nhất là thông tin mạng, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững kinh tế - xã hội, bảo vệ thông tin và hệ thống thông tin, góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc trên không gian mạng.

Mặc dù vậy, việc triển khai các nghị quyết, chỉ thị, văn bản pháp luật nêu trên, bên cạnh những kết quả đạt được, còn gặp khá nhiều khó khăn, thách thức, xuất phát từ một số nguyên nhân khách quan và chủ quan. Về nguyên nhân khách quan, tình hình thế giới và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, nhanh chóng, khó đoán định. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn song gặp nhiều trở ngại, khó khăn. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, quyết liệt, nhất là ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Cách thức tập hợp lực lượng trên thế giới và trong khu vực diễn ra hết sức linh hoạt. Bên cạnh các thách thức an ninh truyền thống, các thách thức an ninh phi truyền thống, nhất là biến đổi khí hậu và dịch bệnh nổi lên gay gắt hơn. Đặc biệt là đại dịch COVID-19, với sự xuất hiện của các biến chủng mới tiếp tục tác động tiêu cực đến sự phát triển của các quốc gia và quan hệ quốc tế, đồng thời đặt ra nhiều vấn đề về chính trị, đối ngoại, kinh tế, y tế, môi trường, khoa học - công nghệ và văn hóa - xã hội... Tất cả những điều này ít nhiều tác động đến môi trường hòa bình, an ninh và phát triển của quốc tế, khu vực và các nước, trong đó có Việt Nam, tác động đến việc triển khai đường lối đối ngoại, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, cũng như bảo đảm tình hình an ninh, ổn định trật tự xã hội của Việt Nam thời gian qua. Về nguyên nhân chủ quan, hạn chế về nguồn lực triển khai, làm chủ công nghệ, hạn chế về nghiên cứu, dự báo và những thách thức nhức nhối của tình trạng tham nhũng, tiêu cực trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, đã tạo cớ để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng vu cáo, xuyên tạc.

Trên cơ sở những phân tích về thực trạng, tác động của chiến tranh thông tin trong không gian mạng và những khó khăn, thách thức, nguyên nhân nêu trên, để góp phần triển khai thực hiện hiệu quả công cuộc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, phản động trong thời gian tới, cần lưu ý một số nội dung từ góc độ chính trị, đối ngoại như sau:

Ở phương diện quốc tế và khu vực

Một là, tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; vừa hợp tác, vừa đấu tranh; kiên trì về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược, “dĩ bất biến ứng vạn biến”; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở luật pháp quốc tế đối với tất cả các loại hình không gian, nhất là không gian mạng, trong thời gian tới.

Hai là, chủ động tham gia các diễn đàn đa phương quốc tế, trong đó có Liên hợp quốc về việc xây dựng bộ quy chuẩn quốc tế về cách hành xử có trách nhiệm của các thực thể tham gia quan hệ quốc tế (bao gồm nhà nước, phi nhà nước...) khi tham gia, triển khai các hoạt động trên không gian mạng, trong đó nhấn mạnh đến nội dung bảo đảm việc tôn trọng thể chế chính trị, nền tảng tư tưởng và giá trị dân chủ của các quốc gia có chủ quyền cũng như chống các loại hình thông tin xuyên tạc, tin giả, xấu, độc hại và coi các loại hình thông tin này là kẻ thù chung của cộng đồng quốc tế.

Ba là, tham gia thúc đẩy xây dựng các văn kiện quốc tế về hợp tác ở cấp độ quốc tế và khu vực, xây dựng và triển khai các biện pháp xây dựng lòng tin trong quan hệ quốc tế nhằm giải quyết tận gốc vấn đề thông tin xuyên tạc, tin giả, sai sự thật và ngăn chặn các cuộc chiến tranh thông tin trong không gian mạng, thậm chí là chiến tranh mạng..., qua đó đóng góp vào việc xây dựng lòng tin giữa các quốc gia trên không gian mạng; tham gia thảo luận, đóng góp nội dung theo quan điểm của Việt Nam tại các diễn đàn quốc tế, khu vực về xây dựng các văn bản quản lý, quản trị đối với việc áp dụng các công nghệ mới nổi có liên quan đến các lợi ích quốc gia - dân tộc của Việt Nam trong không gian mạng; tham gia thúc đẩy việc triển khai thực hiện các điều ước, nghị quyết liên quan của Liên hợp quốc về bảo vệ và bảo đảm việc thụ hưởng, thực hiện các quyền con người trước những tác động tiêu cực ngày càng gia tăng và sâu rộng của thông tin xuyên tạc, sai lệch, tin giả.

Ở phương diện quốc gia

Thứ nhất, tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị nêu trên của Đảng, Nhà nước về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch(9), nhất là Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018, của Bộ Chính trị khóa XII, Luật An ninh mạng và các luật liên quan; mở rộng, nâng cao hiệu quả và đưa các mối quan hệ đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân đi vào chiều sâu, tạo nền tảng chính trị cho quan hệ giữa Việt Nam với các nước; tạo lập sự đồng thuận và hậu thuẫn chính trị của các chính đảng và các lực lượng chính trị đối với sự nghiệp đổi mới cũng như bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; tăng cường sự phối hợp giữa các tổ chức nhân dân với vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội khác trong hoạt động đối ngoại.

Thứ hai, tăng cường giáo dục, tuyên truyền sâu rộng về Luật An ninh mạng, để người dân có ý thức đấu tranh mạnh mẽ với các hành vi sử dụng không gian mạng tuyên truyền chống phá Nhà nước, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc của Việt Nam. Quyết tâm thực hiện nội dung về “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” được đề ra tại Đại hội XIII của Đảng, trong đó ưu tiên bảo đảm thực hiện các nội dung hệ giá trị của Việt Nam trong giai đoạn hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng, bao gồm các lợi ích quốc gia - dân tộc, lợi ích xã hội, lợi ích chính đáng của cá nhân, trên cơ sở tập trung nhấn mạnh các thành tố, như dân chủ và pháp quyền, nhân ái và yêu nước, trung thực và bản lĩnh; dân giàu, nước mạnh, công bằng, trách nhiệm, hạnh phúc, đoàn kết, cần cù, sáng tạo; quan tâm đầu tư phát triển các lực lượng đặc biệt, đặc thù và mạng lưới cộng tác viên với sự hỗ trợ của công nghệ AI trong theo dõi, ngăn ngừa, thậm chí là chủ động tấn công, loại bỏ các sản phẩm truyền thông chứa đựng thông tin xuyên tạc, tin giả, độc hại nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng và các chính sách, hoạt động của Đảng và Nhà nước.

Thứ ba, tiếp tục xây dựng, củng cố đoàn kết giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân trong nước cũng như ngoài nước nhằm giải quyết tận gốc “giặc nội xâm” (tham nhũng, tiêu cực...), tranh thủ sự hợp tác, hỗ trợ của bạn bè quốc tế đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, qua đó tăng cường sức mạnh nội tại, bổ trợ cho việc đối phó với các loại hình giặc ngoại xâm thông qua triển khai đồng bộ các biện pháp đối ngoại, quốc phòng và an ninh; quyết liệt triển khai Đề án “Nâng cao hiệu quả công tác thông tin đối ngoại của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài đến năm 2030”, nhằm phục vụ việc quảng bá, nâng cao hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế; đồng thời, thu thập những thông tin có chọn lọc về tình hình, sự phát triển của thế giới, khu vực về các vấn đề được dư luận và nhân dân trong nước quan tâm; đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động.

Ở phương diện ý thức của con người

Một là, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện, tôn trọng và bảo vệ các quyền con người do luật pháp quy định, trong đó bao gồm các quyền về tự do ngôn luận, quyền riêng tư, quyền tham gia các công việc của cộng đồng và bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử; nâng cao, đa dạng hóa các biện pháp triển khai ở tất cả các cấp trong việc củng cố lòng tin của người dân vào Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa và ngăn ngừa, đập tan các xu hướng phân cực, kích động, cổ xúy ngôn từ hận thù trên không gian mạng nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân; củng cố, nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại nhân dân, tạo nền tảng xã hội hữu nghị và hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trên không gian mạng. 

Hai là, xác định cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước những tác động tiêu cực của cuộc chiến thông tin không gian mạng là lâu dài, kiên nhẫn, bền bỉ và cần học cách sống chung với tin giả, thông tin xuyên tạc, qua đó tự tạo sức đề kháng, giúp hệ thống chính trị, cán bộ, đảng viên và nhân dân kiên cường hơn khi tham gia tương tác trên không gian mạng để chống thông tin độc hại, âm mưu thâm độc chống phá Đảng và Nhà nước. Chú trọng tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân để nhìn nhận và có trách nhiệm, ý thức trước mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Củng cố mối quan hệ thường xuyên, liên tục với các nhóm cần tranh thủ ở nước ngoài đã hiểu biết về Việt Nam cũng như ưu tiên xây dựng quan hệ và tạo thiện cảm với các đối tượng, như giới báo chí, giới trẻ, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

Ba la, chú trọng đầu tư và đặt con người vào vai trò chủ thể, luôn làm chủ công nghệ, trong đó có công nghệ hiện đại, công nghệ mới nổi phục vụ việc xây dựng nguồn nhân lực công nghệ số chất lượng cao, trong đó có yêu cầu kiên định về lập trường, bản lĩnh chính trị trước những thay đổi, biến đổi của thế giới trong tương lai.

Lực lượng quân đội tham gia diễn tập ứng cứu sự cố an toàn thông tin _Ảnh: TTXVN

Ở phương diện kỹ thuật

Thứ nhất, tập trung triển khai các chiến lược quan trọng tự lực, tự cường về công nghệ, nhất là Chiến lược chuyển đổi số quốc gia, Chiến lược quốc gia về phát triển trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, trong đó quan tâm tập trung đầu tư cho công nghệ tiên tiến, hiện đại, đặc biệt là công nghệ AI, tiến tới xây dựng Việt Nam trở thành một “cường quốc mạng” (đặc biệt chú trọng phát triển nguồn nhân lực về AI), góp phần gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia, nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế, đóng góp vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, bao gồm việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thứ hai, phát huy phẩm chất cần cù, thông minh, sáng tạo của con người Việt Nam; đẩy mạnh nghiên cứu, xây dựng các nền tảng hạ tầng, hệ thống mạng “Make in Viet Nam” song song với việc làm chủ, quản lý được các hệ thống nền tảng mạng do nước ngoài sản xuất, qua đó giảm dần sự phụ thuộc vào các nền tảng mạng do các doanh nghiệp, tập đoàn của nước ngoài cung cấp và tạo nền móng vững chắc trong việc triển khai, áp dụng các công nghệ hiện đại trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, hệ giá trị quốc gia trong toàn bộ đời sống chính trị, quốc phòng, an ninh, kinh tế, văn hóa, xã hội của Việt Nam trong tương lai; hợp tác, đặt hàng với các trường đại học, viện nghiên cứu có uy tín, các tập đoàn công nghệ lớn (Viettel, VNPT, FPT...) để xây dựng bộ công cụ toàn diện được vận hành bởi công nghệ AI và có tính tương thích cao trên mọi nền tảng mạng xã hội nhằm phục vụ việc triển khai công tác đấu tranh lâu dài của Đảng trong lĩnh vực này.

Thứ ba, sớm xây dựng, cập nhật, ban hành các văn bản pháp luật, trong đó bao gồm các quy định bảo vệ, quản lý dữ liệu quan trọng của quốc gia, của người dân Việt Nam; cập nhật, sửa đổi, bổ sung nội dung liên quan đến công nghệ AI trong các văn bản, chính sách, quản lý hoạt động nền tảng mạng/trực tuyến của các doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam./.

---------------------

(1) AI có thể xây dựng và triển khai các chiến dịch thông tin xuyên tạc, tin giả nhằm gây ảnh hưởng, chia rẽ nội bộ, ảnh hưởng các cuộc bầu cử (thông qua các thuật toán công nghệ tinh vi như deepfakes...). Xem: Ryan Dukeman: “Winning the AI revolution for american diplomacy” (Tạm dịch: Chiến thắng trong cuộc cách mạng AI cho ngoại giao Mỹ), Texas National Security Review, ngày 25-11-2020, https://warontherocks.com/2020/11/winning-the-ai-revolution-for-american-diplomacy/
(2) Tin tặc, troll, honey-pot, bot, tài khoản giả mạo trên không gian mạng, các nhóm người dùng giả mạo và các tác nhân công nghệ mới nổi là những hình thức được các chủ thể (nhà nước và phi nhà nước) sử dụng nhằm triển khai lan truyền tin giả, xuyên tạc, thậm chí là tấn công mạng
(3) Năm 2020, các nghiên cứu, phân tích cho thấy công nghệ AI có tên GPT-3 thời gian qua đã được các phần tử cực đoan sử dụng để tạo ra các ngôn ngữ có tính chất thù hận, kích động bạo lực trong các hoạt động tương tác với con người trên các nền tảng mạng xã hội trực tuyến. Xem: Kris McGuffie - Alex Newhouse: “The Radicalization Risks of GPT-3 and Neural Language Models” (Tạm dịch: Rủi ro cấp tiến của mô hình ngôn ngữ thần kinh và GPT-3), Middlebury Insitute of International Studies at Monterey, Center on Terrorism, Extremism and Counter Terroism, ngày 9-9-2020, https://www.middlebury.edu/institute/academics/centers-initiatives/ctec/ctec-publications/radicalization-risks-gpt-3-and-neural-language
(4) Xem: Nguyễn Sơn: “Một bản báo cáo thiếu khách quan, sai sự thật về tự do Internet ở Việt Nam”, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 1-10-2021, https://dangcongsan.vn/bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-dang/mot-ban-bao-cao-thieu-khach-quan-sai-su-that-ve-tu-do-internet-o-viet-nam-592613.html; Visual Story: “Chuyển đổi số tại Việt Nam và những thống kê ấn tượng ban đầu năm 2021”, Báo Lao động điện tử, 2021, http://specials.laodong.vn/chuyen-doi-so-tai-viet-nam-va-nhung-thong-ke-an-tuong-2021
(5) Nghị quyết số 13-NQ/TW, ngày 24-6-1983, Hội nghị Trung ương 4 khóa V “Về những vấn đề cấp bách về tư tưởng và tổ chức bảo đảm thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ kinh tế và xã hội trước mắt”, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-uong/khoa-v/nghi-quyet-so-13-nqtw-ngay-24061983-hoi-nghi-lan-thu-tu-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-v-ve-nhung-van-de-1093
(6) Điển hình là Nghị quyết số 16-NQ/TW, ngày 1-8-2007, của Hội nghị Trung ương 5 khóa X, “Về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới”; Nghị quyết số 12-NQ/TW, ngày 16-1-2012, của Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, “Về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 30-10-2016, của Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” trong nội bộ”; Chỉ thị số 23-CT/TW, ngày 9-2-2018, của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XII, “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”; Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””
(7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 183
(8) Năm 2018, lần đầu tiên khái niệm “chủ quyền quốc gia trên không gian mạng” được nêu trong thảo luận xây dựng Luật Quốc phòng và được đề cập trong bài phát biểu của Đại tướng Ngô Xuân Lịch trước Quốc hội. Trong mục 7 phần giải thích từ ngữ, có nêu chủ quyền quốc gia trên không gian mạng là tất cả các quyền của Nhà nước đối với không gian mạng theo quy định của pháp luật Việt Nam, phù hợp với quy định của luật pháp quốc tế. Xem: Nguyễn Việt Lâm: “Chủ quyền không gian mạng: Lý thuyết, thực tiễn trong quan hệ quốc tế và những vấn đề đặt ra hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, số 971, tháng 8-2021, tr. 98 – 105
(9) Chỉ thị số 28-CT/TW, ngày 16-9-2013, của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI, “Về tăng cường công tác bảo đảm an toàn thông tin mạng”; Chỉ thị số 15/CT-TTg, ngày 17-6-2014, của Thủ tướng Chính phủ, “Về tăng cường công tác bảo đảm an ninh và an toàn thông tin mạng trong tình hình mới; Thông báo số 17/TB-VPTW, ngày 23-8-2016, của Thường trực Ban Bí thư, “Về biện pháp cấp bách bảo đảm an ninh, an toàn thông tin mạng”

Phản bác các quan điểm sai trái của một số nước phương Tây về quyền con người ở Việt Nam.

 Thời gian qua, một số nước phương Tây đã đưa ra các đánh giá, nhận định không đúng về quyền con người ở Việt Nam. Nhận diện và đấu tranh bác bỏ các quan điểm sai trái này cần được đặc biệt coi trọng trong cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận, không chỉ vì hình ảnh, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, mà còn vì chân lý, lẽ phải luôn thuộc về chúng ta.

Quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế(1). Nội hàm của quyền con người rất rộng, không ngừng được bổ sung và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội. Trên thế giới không có quyền con người trừu tượng, chỉ có quyền con người cụ thể. Tuy nhiên, mỗi giai cấp và xã hội khác nhau có sự lý giải khác nhau đối với quyền con người. Nhìn đại thể, luận điệu sai trái của nhiều nước phương Tây về quyền con người ở Việt Nam thường biểu hiện ở các nội dung sau đây cần được nhận diện và đấu tranh phản bác:

Sai lầm của luận thuyết “nhân quyền cao hơn chủ quyền”

Lâu nay, các nước phương Tây thường rêu rao cái gọi là “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, “quyền lực nhà nước ở một quốc gia không được đàn áp nhân quyền”. Về thực chất, quan điểm này đã đối lập quyền con người với chủ quyền. Họ lập luận một cách phi lý rằng, vấn đề quyền con người không thuộc công việc nội bộ của một nước. Thậm chí, một số nước phương Tây còn quy chụp rằng “việc Việt Nam nhấn mạnh chủ quyền quốc gia cao hơn tất cả, trên thực tế là lấy danh nghĩa duy trì chủ quyền quốc gia để duy trì quyền lực thống trị của Đảng Cộng sản Việt Nam” (!?). Họ còn rêu rao rằng, tuyệt đối hóa tầm quan trọng của chủ quyền quốc gia là sai lầm (!?) và ngụy biện bằng viện dẫn báo cáo về an ninh con người của một số tổ chức quốc tế, như Báo cáo phát triển con người của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), cũng nhấn mạnh bảo đảm an ninh cá nhân, mà coi nhẹ, không đề cập đến an ninh quốc gia(2).

Có thể nói, quan điểm “nhân quyền cao hơn chủ quyền” là hoàn toàn sai trái. Như chúng ta đã biết, quyền con người không bao giờ tách khỏi điều kiện, trình độ phát triển và chủ quyền của từng quốc gia - dân tộc. Quan điểm “nhân quyền cao hơn chủ quyền” thực chất chỉ là “bình phong” che đậy cho các âm mưu mà các nước phương Tây lợi dụng để can thiệp vào công việc nội bộ, chủ quyền của nước khác. Để nhận diện và bóc trần âm mưu, thủ đoạn này, cần nhận thức đúng đắn mấy vấn đề sau đây:

Thứ nhất, tôn trọng chủ quyền của các quốc gia là một tiêu chuẩn đã được cộng đồng quốc tế công nhận, cũng là cơ sở và tiền đề để thực hiện quyền con người. Nghị quyết 2625 (XXV) của Đại hội đồng Liên hợp quốc, ngày 24-10-1970, đã đưa ra Tuyên bố về những nguyên tắc của Luật Quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc, trong đó khẳng định các nguyên tắc, như nguyên tắc chủ quyền quốc gia, nguyên tắc bình đẳng chủ quyền của các quốc gia, nguyên tắc không can thiệp vào các vấn đề thuộc thẩm quyền của các quốc gia khác...(3). Vì vậy, nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia được áp dụng trong tất cả các lĩnh vực quan hệ quốc tế, bao gồm lĩnh vực quyền con người. Không có chủ quyền quốc gia, cũng như không có luật pháp quốc tế, thì không thể nói đến bảo đảm quyền con người. Quan điểm cho rằng “nhân quyền cao hơn chủ quyền” trực tiếp vi phạm tôn chỉ và nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc.

Thứ hai, việc thực hiện quyền con người cần phải dựa vào chủ quyền, do các nước thông qua pháp luật, biện pháp và cơ chế của nhà nước ở từng quốc gia - dân tộc để thực hiện. Các điều ước quốc tế về quyền con người đã quy định quyền con người về dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội. Để thực hiện tốt các quyền này, cần phải thông qua pháp luật quốc gia cũng như cơ chế bảo đảm của pháp luật quốc gia.

Thứ ba, quyền con người không thể tách rời chủ quyền quốc gia. Quyền con người của cá nhân và chủ quyền quốc gia có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, không có chủ quyền thì không thể nói đến quyền con người, mất đi chủ quyền cũng có nghĩa là mất đi sự bảo đảm đối với quyền con người.

Thứ tư, quyền con người mang tính quốc tế, nhưng về bản chất là vấn đề thuộc công việc nội bộ của một quốc gia. Vì vậy, các nước có quyền căn cứ vào tình hình cụ thể của nước mình để bảo vệ và thúc đẩy quyền con người.

Thứ năm, so với chủ quyền quốc gia, quyền con người nằm ở vị trí phụ thuộc. Như chúng ta đã thấy, trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, chủ quyền quốc gia nằm ở vị trí ưu tiên. Bởi vì, quyền con người của cá nhân chịu sự quy định, chi phối và chế ước của pháp luật quốc gia. Đối với các điều ước quốc tế không phù hợp với chế độ chính trị, cũng như không phù hợp với trình độ phát triển về kinh tế - xã hội, chính phủ các nước có quyền từ chối tham gia hoặc bảo lưu nhằm tránh việc đảm nhận nghĩa vụ điều ước có thể gây tổn hại đến chủ quyền quốc gia. Hiện nay, có khoảng hơn 28 điều ước quốc tế về quyền con người, nhưng Mỹ mới chỉ phê chuẩn 4 điều ước. Đặc biệt, nước này vẫn chưa phê chuẩn một số điều ước cốt lõi về quyền con người, trong đó có Công ước lao động cưỡng bức năm 1930. Lý do được Mỹ đưa ra là Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị xung đột với pháp luật của nước này, và bởi “chủ quyền quốc gia của nước Mỹ cao hơn tất cả”. Điều này cho thấy, so với chủ quyền quốc gia, quyền con người chỉ ở vị trí phụ thuộc.

Thứ sáu, các quốc gia bất kể lớn hay nhỏ, giàu hay nghèo đều có quyền tự chủ trong việc lựa chọn chế độ chính trị và con đường phát triển của mình, các quốc gia khác không có quyền can thiệp. Hơn nữa, các quốc gia do sự khác nhau về điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và sự khác biệt về điều kiện lịch sử nên phương thức bảo đảm quyền con người có thể khác nhau.

Thứ bảy, việc các nước phương Tây rêu rao rằng “nhân quyền cao hơn chủ quyền” thực chất xuất phát từ nhu cầu can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác cũng như thúc đẩy chính trị cường quyền mà thôi. Trên thực tế, nhân danh “dân chủ nhân quyền”, trong những thập niên qua, Mỹ và một số quốc gia đã sử dụng vũ lực can thiệp vào công việc nội bộ, thay đổi chế độ chính trị ở một số nước. Tuy nhiên, thực tế ở các nước sau khi Mỹ “can dự” cho thấy, cái mang lại cho những quốc gia này không hề là “dân chủ nhân quyền”, mà là sự xung đột và hỗn loạn. Chính vì thế, quan điểm “nhân quyền cao hơn chủ quyền” không hề có giá trị đối với việc thúc đẩy quyền con người, mà trái lại, khiến khả năng xâm hại quyền con người một cách nghiêm trọng hơn.

Cái gọi là “quyền con người không có biên giới quốc gia” - một cách che giấu mưu đồ quốc tế hóa các vấn đề nhân quyền, mở đường can thiệp vào công việc nội bộ, chủ quyền quốc gia

Một số nước phương Tây tuyệt đối hóa tính phổ biến, phổ quát của quyền con người, phủ định hoặc cố tình “lờ đi” tính đặc thù của quyền con người, ra sức cổ vũ cho cái gọi là “quyền con người không có biên giới quốc gia”, “nhân quyền phổ biến chỉ có một, bất kỳ quốc gia nào cũng đều cần phải tuân thủ tiêu chuẩn thống nhất về quyền con người”. Không chỉ dừng lại ở việc nêu lên quan điểm, một số nước phương Tây còn dựa trên “tiêu chuẩn” chủ quan của mình để kêu gọi việc thiết lập cơ chế cần thiết nhằm đánh giá việc thực hiện quyền con người của nước khác. Chẳng hạn, Quốc hội Mỹ đã ra nghị quyết yêu cầu Chính phủ Mỹ hằng năm phải đệ trình báo cáo tình hình nhân quyền của các nước trên thế giới. Trước tiên, cần khẳng định rằng, quyền con người là một trong những vấn đề thu hút sự quan tâm của cộng đồng quốc tế hiện nay. Tuy nhiên, dù vấn đề quyền con người có tính phổ biến, có điểm chung ở mức độ nhất định, nhưng không thể coi nhẹ hoặc phủ nhận tính đặc thù của nó. Mặt khác, cơ chế hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quyền con người cũng không được vượt qua chủ quyền quốc gia. Quan điểm “quyền con người không có biên giới quốc gia” là phi lý, cần phải đấu tranh, bác bỏ, sở dĩ như vậy là vì:

Một là, các nước phương Tây đưa ra tiêu chuẩn phổ biến về quyền con người là không hiện thực, thậm chí là lừa bịp. Sự phát triển và cải thiện về quyền con người luôn tùy thuộc vào những điều kiện cụ thể ở từng quốc gia - dân tộc. Do sự khác nhau về điều kiện của từng quốc gia nên không thể có tiêu chuẩn thống nhất về quyền con người mà các quốc gia cần phải tuân thủ. Cho đến nay vẫn chưa có tiêu chuẩn về quyền con người được quốc tế công nhận. Ngay kể cả đối với khái niệm hoặc định nghĩa về quyền con người, giới nghiên cứu pháp luật nói chung, pháp luật quốc tế nói riêng cũng chưa đưa ra được một định nghĩa thống nhất.

Hai là, nguyên tắc tính phổ biến của quyền con người cần được quy chiếu với điều kiện cụ thể và thực tiễn của từng nước nhằm bảo đảm kết hợp hài hòa giữa tính phổ biến và tính đặc thù. Những quan điểm và nội dung cốt lõi về quyền con người mà cộng đồng quốc tế thừa nhận và có sự đồng thuận là điều chúng ta cần tôn trọng, nhất là khi điều này có ý nghĩa tích cực đối với việc phát triển con người. Chúng ta không phủ nhận giá trị phổ biến về quyền con người, nhưng điều kiện, tình hình của từng nước rất khác nhau, việc thực hiện quyền con người không thể tránh khỏi sự chế ước của điều kiện kinh tế - xã hội. Việc nhìn nhận thực trạng quyền con người của một quốc gia cần phải theo quan điểm lịch sử - cụ thể và quan điểm phát triển, không được coi nhẹ đặc điểm khác nhau giữa các quốc gia, không lấy tiêu chuẩn và giá trị của nước mình áp đặt cho nước khác. Trên thực tế, Việt Nam đã kết hợp tốt nguyên tắc tính phổ biến và tính đặc thù về vấn đề quyền con người. Điều này thể hiện rõ nét ở việc Việt Nam tham gia hầu hết các điều ước quốc tế về quyền con người.

Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác trẻ em để bảo đảm thực hiện tốt nhất các quyền của trẻ em được phát triển toàn diện _Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Ba là, quyền con người bị giới hạn bởi chủ quyền quốc gia và pháp luật quốc gia. Một số hành vi ảnh hưởng đến hòa bình của thế giới và không có lợi cho việc bảo đảm quyền con người, như khủng bố quốc tế, xâm lược vũ trang, đe dọa môi trường sinh thái,... cần phải bị lên án và đấu tranh, cộng đồng quốc tế cần sử dụng biện pháp tích cực để ngăn chặn. Tuy nhiên về bản chất, quyền con người là một vấn đề thuộc chủ quyền quốc gia, cần phải được bảo đảm bởi pháp luật quốc gia. Do vậy, chỉ khi thông qua pháp luật và nghĩa vụ quốc gia thì các điều ước quốc tế về quyền con người mới có thể thực hiện hiệu quả.

Bốn là, cơ chế bảo vệ của quốc tế về quyền con người được thực hiện với điều kiện và phạm vi nhất định. Một số nước phương Tây nỗ lực đưa vấn đề quyền con người vào các cơ chế của quan hệ quốc tế, hơn nữa đưa ra luận điệu “không can thiệp vào nội bộ là không thích hợp với vấn đề quyền con người”,... chính là biểu hiện điển hình của chính trị cường quyền. Hiến chương Liên hợp quốc chỉ đưa ra những nguyên tắc thông thường nhằm thúc đẩy chính phủ các nước không ngừng cải thiện quyền con người, mà không đưa ra nghĩa vụ mang tính chế ước đối với các nước thành viên; đồng thời, quy định rõ nếu chưa được sự trao quyền của Liên hợp quốc thì bất cứ quốc gia thành viên nào cũng không được nhân danh quyền con người để can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác. Điều đó cho thấy, việc một số nước phương Tây tự ý đưa ra tiêu chuẩn nhân quyền, rồi mưu toan sử dụng sức ép quốc tế để can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác là không thể chấp nhận được.

Năm là, hợp tác quốc tế về quyền con người chỉ được thực hiện dựa trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền của các nước, không can thiệp vào công việc nội bộ cũng như thông qua cơ chế đối thoại. Phát triển và thúc đẩy quyền con người một cách đầy đủ là mong muốn của cộng đồng quốc tế hiện nay. Việc hợp tác và đối thoại giữa các quốc gia để thúc đẩy và bảo vệ quyền con người là một yêu cầu cần thiết và khách quan. Việt Nam ủng hộ việc tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quyền con người trên cơ sở đối thoại bình đẳng, xây dựng, tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, vì mục tiêu chung là thúc đẩy và bảo vệ ngày càng tốt hơn các quyền con người.

Sáu là, chỉ khi kết hợp đồng thời giữa thúc đẩy quyền con người với duy trì hòa bình trên thế giới gắn với phát triển kinh tế - xã hội mới có thể đạt được tiến bộ thực chất trên lĩnh vực quyền con người. Không có môi trường quốc tế hòa bình, ổn định, không có một trật tự kinh tế quốc tế hợp lý, công bằng thì không thể thực hiện được quyền con người phổ biến.

Bảy là, sự khác nhau giữa lời nói và việc làm trên lĩnh vực quyền con người của Mỹ. Mỹ tự cho mình cái quyền đánh giá, chỉ trích mức độ bảo đảm quyền con người của các nước khác, song chính nội bộ nước Mỹ lại tồn tại những vấn đề nghiêm trọng về quyền con người. Đơn cử như, năm 2021, ở Mỹ đã xảy ra 693 vụ xả súng (tăng 10,1% so với năm 2020), khiến hơn 44.000 người thiệt mạng. Cũng trong năm 2021, 9 tiểu bang của Mỹ đã đề xuất hơn 420 dự luật nhằm hạn chế việc bỏ phiếu của cử tri; chỉ 7% thanh niên Mỹ tin rằng hệ thống dân chủ Mỹ vẫn “lành mạnh”. Tại biên giới phía Nam, Mỹ đã giam giữ hơn 1,7 triệu người nhập cư, trong đó có 45.000 trẻ em(4)Một mặt, Mỹ nhấn mạnh tính phổ biến của quyền con người; mặt khác, Mỹ lại từ chối ký kết và tham gia nhiều điều ước quốc tế về quyền con người, như Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, Công ước xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em, Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật...

Tám là, việc các nước phương Tây nhấn mạnh cái gọi là “quyền con người không có biên giới quốc gia” thực chất là nhằm phục vụ lợi ích kinh tế, chính trị của các nước phương Tây. Quan điểm này không có giá trị gì cho việc thúc đẩy quyền con người ở trên thế giới, cần kiên quyết đấu tranh, bác bỏ.

Tính phi lý của quan điểm “quyền chính trị là quyền con người quan trọng nhất, duy nhất”, nhưng lại coi nhẹ quyền sống và quyền phát triển của con người

Người dân trên thế giới hiện nay, nhất là người dân ở các nước đang phát triển đều có khát vọng, mong muốn về kinh tế phồn vinh, xã hội tiến bộ cũng như chất lượng sống không ngừng được nâng lên. Vì thế, có thể cho rằng, ở nhiều quốc gia, quyền sống và quyền phát triển trở nên bức thiết và quan trọng hơn bao giờ hết. Trong thời kỳ đấu tranh nhằm lật đổ chế độ phong kiến, quyền sống và quyền phát triển là một vũ khí được giai cấp tư sản nhấn mạnh. Tuy nhiên, khi giai cấp tư sản giành được quyền lực nhà nước thì họ lại “vứt bỏ” những quyền này, đặt quyền sống và phát triển của nhân dân lao động sang một bên, thay vào đó nhấn mạnh một cách phiến diện các quyền chính trị. Thật là phi lý khi lập luận rằng, chỉ khi ưu tiên cho dân chủ và nhân quyền, kinh tế và xã hội mới có thể phát triển; sự phát triển về kinh tế và xã hội phải trên cơ sở thúc đẩy sự tiến bộ và phát triển của dân chủ và nhân quyền. Với nhận thức này, một số nước phương Tây nhấn mạnh việc thực hiện dân chủ, nhân quyền ở các nước trên thế giới, cũng như dưới chiêu bài “dân chủ, nhân quyền” để can thiệp vào công việc nội bộ của một số nước. Trên thực tế, việc nhấn mạnh quyền chính trị mà coi nhẹ các quyền khác của con người, nhất là quyền sống và quyền phát triển là không có cơ sở. Về vấn đề này, cần nhận thức đúng đắn và khẳng định các vấn đề sau:

Cần phải kiên trì tính không thể tách rời và tính lệ thuộc lẫn nhau của quyền con người. Các quyền dân sự, chính trị; quyền kinh tế, văn hóa và xã hội lệ thuộc lẫn nhau, bổ sung và thúc đẩy lẫn nhau. Theo quan điểm của Liên hợp quốc, tất cả quyền con người và tự do cơ bản đều không thể tách rời, mà có sự lệ thuộc lẫn nhau. Việc thực thi, bảo vệ, tăng cường đối với quyền công dân và các quyền chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội cần được coi là bức thiết như nhau và cần được chú ý như nhau. Vì vậy, việc các nước phương Tây tuyệt đối hóa quyền chính trị, nhưng lại coi nhẹ các quyền khác của con người là thiếu khách quan, không đúng bản chất quyền con người.

Quyền sống và quyền phát triển là quyền con người cơ bản nhất. Quyền độc lập của một quốc gia, quyền sống, quyền phát triển của công dân là các quyền con người cơ bản nhất. Không có quyền sống, các quyền khác của con người đều trở nên vô nghĩa; quốc gia không độc lập, quyền sống của người dân khó được bảo đảm; kinh tế, văn hóa, xã hội không phát triển, đời sống của người dân khó có thể được nâng cao. Vì thế, quyền độc lập, quyền sống và quyền phát triển là những quyền con người cần được ưu tiên.

Đối với các nước đang phát triển, quyền sống và quyền phát triển có ý nghĩa rất quan trọng, cần phải được ưu tiên hơn so với một số quyền khác. Nhiệm vụ bức thiết mà các nước đang phát triển cần quan tâm, giải quyết đó chính là những vấn đề cơ bản, thiết yếu, như ăn, ở, mặc, đi lại, việc làm, giáo dục, sức khỏe, cải thiện và nâng cao chất lượng sống của người dân. Quyền chính trị dù rất quan trọng, nhưng các quyền về kinh tế, văn hóa, xã hội được bảo đảm thì mới có điều kiện thực hiện quyền chính trị. Nếu quyền kinh tế, văn hóa, xã hội không được bảo đảm thì việc thực hiện quyền chính trị trở nên khó khăn.

Nhấn mạnh quyền sống và quyền phát triển không có nghĩa là coi nhẹ hay phủ nhận các quyền chính trị. Các nước phương Tây luôn rêu rao rằng, “quyền chính trị là quyền con người quan trọng nhất, thậm chí là quyền con người duy nhất”. Đây là quan điểm phiến diện, không phù hợp với thực tế. Cho dù quyền tự do, dân chủ về chính trị là một trong những quyền con người quan trọng, có vai trò không thể thiếu đối với việc thực hiện quyền sống và quyền phát triển, nhưng không phải là quyền con người duy nhất.

Việc thực hiện quyền con người là một quá trình tiệm tiến, chịu sự chế ước bởi những điều kiện về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội, vừa không thể yêu cầu quá cao, nằm ngoài các điều kiện hiện thực, vừa không được bằng lòng với hiện thực, lạc hậu so với nhu cầu hiện thực của sự phát triển xã hội. Các phương diện có thể làm được, Đảng và Nhà nước ta đã đáp ứng tốt nhu cầu chính đáng, hợp pháp của người dân. Không chỉ bảo đảm các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội, mà các quyền dân sự, chính trị rất được coi trọng thúc đẩy với tính đồng bộ, toàn diện, nhất là không ngừng bảo đảm tốt hơn quyền tự do, dân chủ của người dân.

Nhận thức sai lầm khi tuyệt đối hóa quyền con người của cá nhân, đặt quyền con người của cá nhân lên trên quyền con người của tập thể

Lấy “chủ nghĩa cá nhân” làm ý thức hệ cơ bản, giai cấp tư sản cho rằng, quyền con người là quyền tự nhiên, tuyệt đối, vốn có của cá nhân; quyền của cá nhân là cái tự nhiên, bất khả nhượng. Họ chủ trương đặt lên hàng đầu việc bảo vệ quyền con người của cá nhân khi cho rằng “trong xã hội tự do của toàn thế giới, tất cả nhân dân đều có quyền thể hiện quan điểm chính trị cá nhân”. Cả lý luận và thực tiễn đều bác bỏ việc tuyệt đối hóa quyền con người của cá nhân, chỉ ra việc đặt quyền cá nhân lên trên quyền của tập thể, của cộng đồng, của quốc gia - dân tộc là sai lầm, bởi vì:

Thứ nhất, nhấn mạnh quyền con người của cá nhân theo quan điểm của giai cấp tư sản là quyền con người của số ít người. Quyền con người “lấy cá nhân làm trung tâm” là sản phẩm của chế độ sở hữu tư bản tư nhân về tư liệu sản xuất, liên quan mật thiết với chế độ kinh tế, chính trị của chủ nghĩa tư bản. Nó nhấn mạnh giá trị cá nhân, quyền cá nhân và đặt lên hàng đầu lợi ích cá nhân. Quyền con người của giai cấp tư sản chính là đặc quyền của thiểu số. Trên thực tế, ở trong nước, quyền con người của giai cấp tư sản chính là sự tước đoạt đối với quyền con người của đại đa số; còn trong quan hệ quốc tế, đó là sự can thiệp một cách vô căn cứ vào chủ quyền, công việc nội bộ của nước khác.

Thứ hai, bảo vệ quyền con người của đại đa số người là ưu tiên số một của quyền con người trong chế độ xã hội chủ nghĩa. Quyền con người ở Việt Nam bao gồm các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội. Bảo đảm để nhân dân Việt Nam thụ hưởng rộng rãi, đầy đủ và toàn diện các quyền này là mục tiêu cơ bản về vấn đề quyền con người ở Việt Nam. Ở Việt Nam, chủ thể thụ hưởng quyền con người không phải là thiểu số, cũng không phải là một bộ phận người thuộc giai cấp hay tầng lớp nào đó, mà là toàn thể nhân dân Việt Nam. Điều này thể hiện tính công bằng của quyền con người ở Việt Nam, cũng là điểm cơ bản thể hiện sự khác biệt quyền con người ở Việt Nam với quyền con người ở các nền dân chủ đa nguyên phương Tây.

Cán bộ y tế cơ sở chăm sóc sức khỏe cho đồng bào các dân tộc thiểu số _Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Thứ ba, chúng ta nhấn mạnh phát triển quyền con người của tập thể, quyền cá nhân không được “đứng lên trên” quyền và lợi ích của tập thể, của cộng đồng xã hội. Quyền cá nhân và quyền tập thể có mối quan hệ với nhau, không thể tách rời, không có quyền con người của cá nhân thì không có quyền con người của tập thể, quyền tập thể hay quyền con người của tập thể lại là cơ sở của tất cả quyền con người của cá nhân, là điều kiện tiên quyết để cá nhân thụ hưởng tất cả các quyền và tự do. Đúng như quan niệm cho rằng “nước mất thì nhà tan”. Chúng ta vừa cần phải bảo vệ, tôn trọng quyền và tự do cá nhân, vừa phải tôn trọng quyền của người khác, cũng như tôn trọng, bảo vệ lợi ích của quốc gia, xã hội và tập thể. Không thể lấy danh nghĩa bảo vệ quyền con người của thiểu số mà xâm hại đến quyền con người của đại đa số người, thậm chí gây tổn hại đến lợi ích quốc gia; nhấn mạnh quyền con người của tập thể chính là để bảo vệ nhiều hơn quyền con người của cá nhân.

Thứ tư, nhấn mạnh sự thống nhất giữa quyền và nghĩa vụ là một nguyên tắc cơ bản của quyền con người ở Việt Nam. Quyền và nghĩa vụ không thể tách rời. Điều 15, Hiến pháp Việt Nam năm 2013 chỉ rõ: “Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân. Mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác. Công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội. Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”(5). Bất kỳ quyền và tự do nào cũng là tương đối, trên thế giới không có quyền và tự do tuyệt đối mà không chịu sự hạn chế hay chỉ có quyền mà không có nghĩa vụ.

Thứ năm, việc Nhà nước Việt Nam truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với một số đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật không phải là “vi phạm nhân quyền” như một số nước phương Tây quy chụp. Đây là sự thực thi quyền năng của Nhà nước nhằm ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật, đồng thời bảo đảm hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của mọi người dân.

Che giấu bản chất, đánh tráo khái niệm khi cho rằng “Quyền con người là phi giai cấp”, “quyền con người không gắn liền với pháp luật và pháp quyền”

Quyền con người là sản phẩm của giai cấp xã hội, có mối quan hệ chặt chẽ với chế độ nhà nước và pháp luật. Thế nhưng, nhiều nước phương Tây công khai can thiệp vào hoạt động tư pháp của một số nước, lập luận hàm hồ rằng “quyền con người là phi giai cấp, quyền con người không gắn liền với pháp luật và pháp chế”. Cũng từ cách lập luận hàm hồ này, một số nước phương Tây chỉ trích vô căn cứ việc Việt Nam xử lý một số đối tượng vi phạm pháp luật, gây tổn hại đến lợi ích của nhà nước và tập thể. Họ lập luận rằng, hành vi của họ không phải là can thiệp vào hoạt động tư pháp, mà là để duy trì quyền con người. Thế nhưng cần thấy rằng, trong chế độ xã hội và giai cấp khác nhau, việc thụ hưởng quyền con người cũng khác nhau. Bất luận nhà nước nào cũng đều có quy định pháp luật để xử lý những hành vi vi phạm pháp luật. Xét từ bản chất Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, pháp luật Việt Nam xử lý các hành vi vi phạm pháp luật là nhằm bảo vệ quyền tự do dân chủ và lợi ích của đa số, vì quyền con người chính đáng, hợp pháp, bảo đảm môi trường thuận lợi cho phát triển đất nước (an ninh, trật tự an toàn xã hội, ổn định chính trị - xã hội...). Vì thế, quan điểm phủ nhận tính giai cấp của quyền con người cũng như việc “cổ xúy” cho nhân quyền nằm trên pháp luật là thiếu căn cứ vì những lý do sau:

Quyền con người có tính giai cấp. Trong xã hội có giai cấp, con người có tính giai cấp, nội dung của quyền con người, pháp luật về quyền con người, đạo đức về quyền con người, quyền và tự do cơ bản của con người đều có tính giai cấp. Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, về vấn đề quyền con người, thành viên thuộc các giai cấp khác nhau dù có điểm chung nhất định, nhưng do địa vị chính trị, kinh tế và xã hội khác nhau nên mức độ thụ hưởng quyền và yêu cầu đối với quyền con người cũng khác nhau. Trong nhà nước xã hội chủ nghĩa, quyền con người cũng có tính giai cấp, nhưng tính giai cấp và tính nhân dân là thống nhất, bởi vì lợi ích cơ bản là thống nhất, đều vì làm cho toàn thể nhân dân có được quyền dân chủ và tự do được thực hiện đầy đủ.

Quyền con người do pháp luật quy định và bảo đảm. Không một tổ chức hay cá nhân nào được tùy tiện đưa ra quy định về việc thực hiện quyền con người mà phải thông qua cơ chế pháp luật của một nhà nước có chủ quyền. Tách rời nhà nước và pháp luật quốc gia thì quyền con người chỉ nằm trên các tuyên bố chính trị mà không có tính khả thi, thậm chí là không tưởng. Nếu không có thể chế pháp luật, mỗi cá nhân thực hiện hành vi tùy tiện theo ý muốn của mình thì xã hội sẽ trở nên hỗn loạn. Vì thế, việc thụ hưởng quyền và tự do của cá nhân phải trên cơ sở pháp luật.

Quyền con người chịu sự chế ước và hạn chế bởi pháp luật. Quyền con người do pháp luật quy định, đồng thời thông qua pháp luật để bảo đảm quyền con người. Vì thế, quyền con người cần phải chịu sự chế ước bởi pháp luật. Khoản 2, Điều 19 trong Tuyên ngôn Thế giới về quyền con người chỉ rõ, khi thực hiện các quyền và tự do của mình, mọi người chỉ chịu những hạn chế do luật định, nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm sự công nhận và tôn trọng thích đáng đối với các quyền và tự do của người khác cũng như đáp ứng những yêu cầu chính đáng về đạo đức, trật tự xã hội và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ. Điều này cho thấy, quyền con người không phải là tuyệt đối, quyền con người không thể thoát ly khỏi quy định pháp luật và nguyên tắc pháp quyền. Trên thế giới, không có quốc gia nào cho phép công dân của nước mình có quyền tự do vô hạn mà không chịu sự hạn chế và điều chỉnh của pháp luật.

Tóm lại, hiện nay một số nước phương Tây vẫn đưa ra những quan điểm về quyền con người thiếu căn cứ cả về phương diện lý luận và thực tiễn, không phù hợp với các quy định của pháp luật quốc gia và quốc tế về quyền con người, trong đó có Hiến chương của Liên hợp quốc. Việc đấu tranh với các quan điểm sai trái này phải được thực hiện một cách đồng bộ trên nhiều mặt trận thông qua các phương thức đa dạng, như chính trị, tư tưởng, pháp lý,... gắn chặt giữa bảo đảm quyền con người với bảo vệ quyền người./.

--------------------------

(1) Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng (Chủ biên): Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011, tr. 37
(2) UNDP: “Human Development Report 1994” (Tạm dịch: Báo cáo Phát triển con người 1994), Oxford University Press, New York, 1994
(3) Thư viện pháp luật: “Tuyên bố về những nguyên tắc của Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc”, ngày 24-10-1970, https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Van-hoa-Xa-hoi/Tuyen-bo-nguyen-tac-cua-Luat-Quoc-te-dieu-chinh-quan-he-huu-nghi-hop-tac-giua-cac-quoc-gia-phu-hop-voi-Hien-chuong-lien-hop-quoc-1970-65775.aspx
(4) China Daily website: “The Report on Human Rights Violations in the United States in 2021” (Tạm dịch: Báo cáo về vi phạm nhân quyền ở Mỹ năm 2021), ngày 3-1-2022, https://global.chinadaily.com.cn/a/202203/01/WS621d8922a310cdd39bc8984b.html
(5) Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2014, tr. 15