Chủ Nhật, 4 tháng 6, 2023

Tỉnh táo, nhạy bén trong cuộc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch

     Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi ra đời đến nay luôn coi công tác lý luận là bộ phận quan trọng, là nhân tố hàng đầu cấu thành hoạt động lãnh đạo của Đảng.

    Có thể nói, sinh mệnh của Đảng cũng như sự thành bại của sự nghiệp cách mạng có liên quan chặt chẽ với hoạt động lý luận của Đảng. Điều này được minh chứng hùng hồn qua những chặng đường lịch sử vẻ vang của cách mạng nước ta. Nền tảng công tác lý luận của chúng ta là Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó, công tác lý luận còn được tổng kết, đúc rút từ thực tiễn. Chính thực tiễn cùng với sự đổi mới không ngừng trong tư duy lý luận là điều kiện và cơ sở để công tác lý luận phát triển và những vấn đề lý luận ngày càng được làm giàu thêm.

    Một vấn đề rất quan trọng cần nhận rõ, lý luận chính trị là bộ môn khoa học luôn phải đối diện với những quan điểm, luận thuyết trái ngược nên công tác lý luận có nhiệm vụ là đấu tranh chống các quan điểm sai trái và những tư tưởng lệch lạc. Lý luận, đặc biệt là lý luận chính trị lúc nào cũng dựa trên lập trường của một giai cấp nhất định và đấu tranh lý luận là một mặt trận quan trọng trong những cuộc đấu tranh giai cấp. Cuộc đấu tranh lý luận không chỉ xoay quanh vấn đề cốt lõi nhất của lý luận mà thường gắn với những vấn đề thực tiễn, nhất là những biến động của đời sống xã hội. 

    Cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng-lý luận hiện nay đang diễn ra trong bối cảnh mới, có nhiều thuận lợi mới và không ít khó khăn, thách thức mới đối với việc bảo vệ những quan điểm lý luận của Đại hội XIII của Đảng. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là động lực, nguồn lực quan trọng để chúng ta vững bước đi lên. Điều đó làm cho công tác lý luận có một cơ sở thực tế mới, có một “cốt vật chất” vững chắc để thực hiện những nhiệm vụ của mình. Tuy nhiên, tình hình trong nước hiện nay vẫn còn tồn tại một số vấn đề đáng được quan tâm giải quyết và cũng là những khó khăn đối với công tác lý luận và đấu tranh lý luận. 

    Bên cạnh đó, những thách thức đối với công tác lý luận từ bên ngoài tác động vào Việt Nam cũng không hề nhỏ. Đó là những nghịch lý, những diễn biến khó lường và khó dự báo của thế giới hiện nay. Ngay cả những giá trị cao đẹp và đích thực mà nhân loại dày công tạo dựng, vun đắp như hòa bình, độc lập, chủ quyền, công bằng, tiến bộ xã hội... cũng bị các thế lực thù địch, phản động dùng mọi mưu mô đánh phá. Đã thế, có một tình hình là thông tin về mọi mặt đời sống chính trị-kinh tế-văn hóa-xã hội ở mọi nơi trên thế giới và trong nước, cả mặt thuận và mặt trái, đều có thể hấp thụ được qua nhiều cách, nhiều chiều trên nhiều phương diện. Việc nghe, việc nhìn cũng như suy nghĩ của mỗi người trong điều kiện thông thoáng bên trong, mở cửa, hội nhập với bên ngoài hôm nay đã khác hôm qua. Tất cả điều đó tác động đến công tác lý luận nói chung và tác động trực tiếp đến cuộc đấu tranh lý luận nói riêng. 

Ảnh minh họa: TTXVN 
Ảnh minh họa: TTXVN 

    Từ những vấn đề đó đặt ra cho cuộc đấu tranh tư tưởng-lý luận hiện nay là chúng ta phải kế thừa những cách thức và phương pháp vốn có, đồng thời phải có cách làm đổi mới, sáng tạo để tìm ra được những luận cứ sắc bén. Điều căn bản là thấy hết những yêu cầu mới đặt ra đối với cuộc đấu tranh lý luận hiện nay. Những yêu cầu đó thể hiện trên một số nội dung chủ yếu sau:

    Một là, trong cuộc đấu tranh lý luận, cần nhận rõ sự phức tạp trên con đường cách mạng nước ta vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH). Trên con đường đó, chúng ta gặp không ít khó khăn, không ít lực cản. Có những khó khăn do chính bản thân chúng ta không lường hết, khó khăn nội tại do chủ quan, duy ý chí hoặc do bảo thủ, trì trệ dẫn tới sự đình đốn, thậm chí vấp ngã. Từ đó dẫn tới sự lúng túng và thiếu lý lẽ, thậm chí bế tắc trong lập luận. Sự kiện ở Liên Xô trước đây và Đông Âu-những nơi mà CNXH hiện thực tưởng như rất vững chắc nhưng đã bị tan rã một cách nhanh chóng-đã cho chúng ta bài học sâu sắc cả về tính phức tạp của thế giới đương đại và những trắc trở, khó khăn trên con đường đi tới tương lai của loài người.

    Thực tiễn quá trình cách mạng của chúng ta hiện nay cũng chứa đựng những vấn đề không đơn giản. Phát triển kinh tế thị trường trong điều kiện toàn cầu hóa, mở cửa hội nhập quốc tế là những nhiệm vụ tất yếu mà chúng ta đang tiến hành. Mặc dù chúng ta luôn giữ định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) nhưng phát triển kinh tế thị trường càng mạnh thì tính tự phát của khuynh hướng tư bản chủ nghĩa cũng sẽ tăng lên. Chúng ta lại đang ở thời kỳ quá độ, trong đó nền kinh tế và cả xã hội cũng có những vấn đề quá độ đan xen nhau, rất khó rạch ròi. Quá trình mở cửa hội nhập, chủ động làm ăn với các nước tư bản chủ nghĩa lại sử dụng những giải pháp và cách thức phát triển của chủ nghĩa tư bản để xây dựng CNXH đặt ra nhiều thách thức đối với công tác lý luận và đặc biệt là công tác đấu tranh về lý luận để bảo vệ những nguyên lý và quan điểm, định hướng của chúng ta.

    Hai là, phải xuất phát từ tư duy khoa học và sáng tạo trong cuộc đấu tranh lý luận; để có sức thuyết phục, mọi lý lẽ được sử dụng phải mang tính khoa học và sáng tạo. Chúng ta đều thấy rằng, một mặt, lý thuyết về CNXH và xã hội XHCN được hình thành một cách khoa học, có khảo sát, phân tích thấu đáo trên cơ sở vận dụng những quy luật khách quan. Nhưng mặt khác, đôi khi chúng ta không chú ý hoặc vô tình bỏ qua một vấn đề quan trọng là những luận thuyết về CNXH được xác lập dựa vào những phương pháp trừu tượng rất cao. Phải tìm tòi và gạt bỏ các vấn đề, các yếu tố đặc thù, hoặc không cơ bản để đi sâu vào lý giải những vấn đề cốt lõi. 

    Tính trừu tượng cao của CNXH khoa học chính là những nguyên lý chung nhất, mang tính phổ biến nhất có thể áp dụng cho mọi nơi, mọi nước. Tuy nhiên, trong quá trình vận dụng để xây dựng CNXH, không thể không tính đến những điều kiện đặc thù. Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực về sự vận dụng một cách sáng tạo như thế. Trên cơ sở nắm bắt sâu sắc bản chất cách mạng và khoa học, tinh thần biện chứng và nhân đạo của học thuyết Mác-Lênin, Bác Hồ đã vận dụng sáng tạo học thuyết đó cùng với việc kế thừa chủ nghĩa yêu nước, truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại để đưa ra những tư tưởng phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã và đang soi đường cho cách mạng Việt Nam giành nhiều thắng lợi, trở thành nền tảng tư tưởng bền vững của dân tộc và có sức lan tỏa ra thế giới.

    Ba là, trong đấu tranh lý luận không được phiến diện, tuyệt đối hóa một chiều và không công thức hóa. Phiến diện và tuyệt đối hóa sẽ dẫn tới làm mất đi tính khoa học của lý luận và tính phong phú của thực tế, làm cho lý luận bị ngưng đọng và không đủ uyển chuyển để tìm ra những luận cứ đấu tranh. Như khi luận bàn về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, chúng ta có lúc đánh giá, nhìn nhận quá cao tác dụng “mở đường” của quan hệ sản xuất; lúc khác thì chỉ để ý đến vấn đề lợi ích, đến việc phát huy các yếu tố của lực lượng sản xuất nên coi nhẹ, thậm chí quên mất việc quan hệ sản xuất phù hợp một cách chủ động và tích cực đối với lực lượng sản xuất. Khi nói về kết cấu và bản chất của CNXH, đôi khi chúng ta mô tả nó một cách công thức đơn giản, hời hợt, sơ lược, coi như không có mâu thuẫn; không nhìn thấy hết và không quan tâm hết đến các hệ thống lợi ích khác nhau của các tầng lớp xã hội. Tất cả những điều đó đã vô tình hạ thấp vị trí và vai trò của hệ tư tưởng XHCN và trên thực tế sẽ tạo ra những cơ chế kìm hãm sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.

    Bốn là, đấu tranh lý luận cần lấy căn cứ từ thực tiễn, quan tâm đến vấn đề của thực tiễn đặt ra. Nếu trong đấu tranh lý luận mà cứ đi theo công thức định sẵn, không chú ý đến các vấn đề mới nảy sinh trong kinh tế, không để tâm đến tâm trạng xã hội và tình cảm của nhân dân thì không thể đủ sức thuyết phục. Một khi công tác tư tưởng, lý luận cứ theo một khuôn khổ cứng nhắc, không đề cập đến những vấn đề thực tiễn đang nảy sinh vào hoạt động của mình thì nhất định các tư tưởng lý luận xa lạ sai lệch sẽ xen vào. Trong những dạng thức tư tưởng dễ xâm nhập vào quần chúng, phải kể đến ý thức tư tưởng tiểu tư sản. Ý thức tiểu tư sản thường được “tái sinh” từ sự chủ quan của công tác tư tưởng nói chung và công tác đấu tranh lý luận nói riêng; từ những vi phạm nguyên tắc XHCN trong sản xuất, phân phối và trong cả sinh hoạt đời sống đã động chạm đến lợi ích vật chất, quyền lợi của quần chúng lao động. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người mở đầu cho cuộc đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa tự giải phóng khỏi ách kìm kẹp của chủ nghĩa thực dân, đứng lên giành chính quyền, xây dựng xã hội mới. Trên từng bước đường đổi mới gặp vô vàn khó khăn của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chứng minh một cách rõ ràng cho quần chúng hiểu được những điều cụ thể, từng công việc cần làm và sẽ làm được nếu tất cả mọi người cùng giác ngộ, cùng quyết tâm, đồng lòng, chung sức.

    Năm là, đấu tranh lý luận phải hướng vào chủ đích là củng cố niềm tin, sao cho toàn thể cán bộ, đảng viên, nhân dân tin vào sự tất thắng của sự nghiệp cách mạng, quyết tâm thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Một điều rất hiển nhiên là triển vọng phát triển của đất nước phụ thuộc đáng kể vào tư tưởng và nhận thức của con người. Khi tư tưởng đã thông, thống nhất một cách nghĩ sẽ biến ý chí thành hành động, làm cho triệu người đồng lòng, chung sức, tạo thành lực lượng vật chất to lớn thúc đẩy xã hội tiến lên. Yếu tố cốt lõi đưa tới thống nhất tư tưởng và hành động là niềm tin. Niềm tin trong mỗi con người là sự chắt lọc từ nhận thức và nằm trong chiều sâu nhận thức, nhưng lại có ý nghĩa vô cùng lớn lao đối với việc định hướng tư tưởng và định hướng hành động. Niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân là keo gắn trong Đảng và giữa Đảng với nhân dân, tạo thành động lực to lớn giúp chúng ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

    Để xác lập và củng cố niềm tin, điều cần thiết nhất là phải nâng cao trình độ giác ngộ, trình độ hiểu biết cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, đối với chúng ta, chỉ có tình cảm là không đủ, mà phải là tình cảm cách mạng dựa trên cơ sở lý luận khoa học vững chắc. Có như vậy mới định hướng đúng cho mỗi người khi gặp những điều kiện và biến cố phức tạp trong một thế giới đầy xáo động, ngổn ngang, bất trắc khôn lường. Có như vậy mới đủ kiên định trước mọi thử thách của thời cuộc.

HAI BÀN TAY TRẮNG VÀ TRÁI TIM ĐỎ

 Câu chuyện người thanh niên Nguyễn Tất Thành giơ hai bàn tay mình ra để khẳng định, bằng sức lao động, anh có thể kiếm sống trong hành trình ra thế giới tìm đường cứu nước đã và mãi là nguồn cảm hứng cho nhiều thế hệ trẻ Việt Nam trước đây, hiện nay và cả mai sau.

Bất cứ thời thế nào, điều kiện sống ra sao, nếu có chí hướng phấn đấu đúng đắn hay nói hình ảnh là trái tim đỏ thì hai bàn tay trắng sẽ làm nên tất cả.
Trải muôn đời, không bao giờ tuổi trẻ Việt Nam không có những tấm gương sáng như thế. Đó là Bà Trưng với tâm nguyện “Một xin rửa sạch quốc thù/ Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng”. Đó là chàng trai trẻ Trần Quốc Toản nghe nhà vua và tướng lĩnh bàn về sự tàn bạo và kế sách đánh giặc dữ Nguyên-Mông mà bàn tay bóp nát quả cam lúc nào không biết... Trong hòa bình dựng nước, hàng vạn, hàng triệu đôi tay lao động của tổ tiên ta qua các đời đã chung sức khai phá các vùng núi non, đồng bằng, biển, đảo, tạo dựng nên các nền văn minh và giang sơn gấm vóc giàu đẹp.
“Đất nước đẹp vô cùng. Nhưng Bác phải ra đi...” nói hộ tấm lòng của chúng ta. Nhà thơ Chế Lan Viên đã viết câu thơ chứa chan ấy để mở đầu cho bài thơ “Người đi tìm hình của nước”. Nỗi thương nước, thương nòi của Bác được nhà thơ viết nên da diết: “Đêm mơ nước, ngày thấy hình của nước/ Cây cỏ trong chiêm bao xanh sắc biếc quê nhà/ Ăn một miếng ngon cũng đắng lòng vì Tổ quốc/ Chẳng yên lòng khi ngắm một nhành hoa”.
Đã 112 năm Bác ra đi tìm đường cứu nước. Tổ quốc đã vẹn toàn, phơi phới đi lên thỏa niềm mong mỏi thiết tha của Người. Một cơ đồ tươi đẹp đang mở ra cho tất cả mọi người dân, trong đó có hàng triệu bạn trẻ. Vẫn là hai bàn tay lao động do mẹ cha sinh ra nhưng thế hệ trẻ ngày nay có đủ tri thức, kỹ năng để chọn lựa con đường lập thân, lập nghiệp của chính mình và đóng góp cho quê hương, đất nước. Thật hứng thú làm sao khi những năm tháng này đây phong trào khởi nghiệp đang bừng lên sôi động trên khắp mọi miền đất nước, khi trên những mũi nhọn sáng tạo và đấu tranh vì sự phát triển, hạnh phúc, công bằng hay đương đầu với thiên tai, dịch bệnh luôn có mặt những gương mặt trẻ, đội quân trẻ. Chính họ đã làm cho quê hương, đất nước mỗi ngày mỗi thêm tươi đẹp, ấm êm. Họ là những người “vừa hồng, vừa chuyên” như Bác hằng mong và gửi gắm.
Tất nhiên cuộc sống vốn luôn mang muôn vàn sắc màu. Có những người tham lam, ngộ nhận, lầm lạc. Có những nết, tật xấu muốn "ăn trên ngồi trốc", muốn "ngồi mát ăn bát vàng". Có những người trẻ mà già cũ trong tâm hồn, trí tuệ, thiếu chí tiến thủ vươn lên. Có những người an phận thủ thường sống dựa, sống chờ thụ động... Không có trái tim nóng bỏng nhiệt huyết vươn lên và dâng hiến, thì đôi bàn tay trắng của họ thành vô dụng, nhợt nhạt, thậm chí thành những bàn tay đen ngăn trở, hãm hại xã hội. Không ngạc nhiên khi ở thời công nghệ này cứ hay có những “ngón tay bẩn” gõ trên bàn phím những dòng lạnh lùng, vô cảm hoặc dối trá, lừa đảo...
“Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp/ Giấc con mơ con đè nát cuộc đời con/ Hạnh phúc đựng trong một tà áo đẹp/ Một mái nhà yên rủ bóng xuống tâm hồn”. Một thời đất nước lầm than, tăm tối, con người chỉ biết co mình, tự ru ngủ mình như tâm sự của nhà thơ Chế Lan Viên đã qua từ quá lâu rồi song di chứng vẫn còn tồn tại. Vì thế, nếu như tấm lòng và con đường của Bác đã làm thức tỉnh hàng triệu, hàng triệu người dân bình dị đứng lên làm chủ vận mệnh của đất nước và chính mình thì trách nhiệm của xã hội hôm nay phải tiếp tục làm cho tấm lòng và con đường của Bác cảm hóa, thay đổi những thân phận lạc lối. “Không để ai bị bỏ lại phía sau”-mục đích nhân văn cao đẹp ấy luôn là ước mơ và hành động mỗi ngày.
Tự lòng mình có ai không thấm “Yêu Bác, lòng ta trong sáng hơn” (Tố Hữu). Học Bác, noi gương Bác, mọi cuộc đời sẽ trở nên trong lành, hạnh phúc./.
ST


TẬP KÍCH CĂN CỨ THỨ MƯỜI MỘT

 Cuối năm 1969, Bộ tư lệnh Quân khu 9 quyết tâm tập trung lực lượng tiêu diệt cụm phòng ngự hỗn hợp Thứ Mười Một của địch. Đây là căn cứ quân sự lớn, nằm án ngữ trên kênh Xáng Xẻo Rô-tuyến giao thông quan trọng từ Rạch Giá đi Cà Mau và cắt rừng U Minh Thượng thuộc xã Đông Thái, huyện An Biên (nay thuộc tỉnh Kiên Giang). Tại đây, địch bố trí lực lượng cả hai bên bờ kênh, gồm chỉ huy Lữ đoàn B (thủy quân lục chiến) và 3 đại đội trực thuộc; Tiểu đoàn 4 (Lữ đoàn B gồm 4 đại đội và Giang đoàn 74, tổng số quân khoảng 750 tên).

Trong trận này, Trung đoàn 1-U Minh (nay thuộc Sư đoàn 330, Quân khu 9) được giao nhiệm vụ tập kích trên hướng chủ yếu, tiêu diệt địch ở bờ Tây kênh Xáng; Trung đoàn 2 mới được tăng cường về Quân khu, đảm nhiệm bờ Đông kênh Xáng, diệt đoàn tàu địch ở kênh Xáng và lực lượng địch tại căn cứ Thứ Mười Một.
Thực hiện kế hoạch tác chiến, đêm 5 rạng sáng 6-11-1969, Đại đội 2 (Tiểu đoàn 309, Trung đoàn 1) đảm nhiệm mũi tiến công trên hướng chủ yếu do đồng chí Lý Thanh Hùng (Hùng Miền) làm mũi trưởng, dẫn 12 đồng chí thọc sâu, trong đó có 6 đồng chí luồn sâu vào ém sẵn khu vực sở chỉ huy của địch. Nhận được tín hiệu, lực lượng luồn sâu đánh khối thuốc nổ 8kg, phá hủy hầm sở chỉ huy Lữ đoàn B, báo hiệu cho các đơn vị nổ súng tiến công. Lập tức, các trận địa địch ở 2 bên bờ kênh Xáng chìm ngập trong khói lửa. Với lối đánh tập kích, mỗi đại đội của ta có từ 1 đến 3 mũi bí mật luồn sâu, nhanh chóng vượt qua những bãi mìn và tuyến bộ binh của địch ở vòng ngoài. Khi quả bộc phá của Đại đội 1, Tiểu đoàn 309 phá hủy hoàn toàn sở chỉ huy lữ đoàn địch cũng là lúc các mũi của ta bật dậy đánh địch bằng thủ pháo, lựu đạn, bắn găm, bắn gần... từ trong đánh ra kết hợp với từ ngoài đánh vào. Có mũi đánh lướt các mục tiêu bên ngoài để nhanh chóng vào bên trong, diệt các mục tiêu quan trọng rồi mới đánh ngược trở ra. Đến 3 giờ 15 phút ngày 6-11, đơn vị cơ bản làm chủ trận địa.
Ở hướng bờ Đông, Trung đoàn 2 cũng làm chủ tình hình và phối hợp với Trung đoàn 1 tiêu diệt tàu địch. Các khẩu đội ĐKZ nhanh chóng cơ động vào bên trong tham gia đánh tàu. Bấp chấp các trận địa pháo binh của địch gần đó bắn cấp tập hòng chi viện cho căn cứ Thứ Mười Một, bộ đội ta vẫn anh dũng chiến đấu. Kết thúc trận đánh, ta tiêu diệt hoàn toàn cụm phòng ngự hỗn hợp Thứ Mười Một, loại khỏi vòng chiến đấu 680 tên (trong đó có 4 cố vấn Mỹ), phá hủy và nhấn chìm 8 tàu sắt (có tàu sở chỉ huy), 6 khẩu pháo, hơn 20 khẩu cối, ĐKZ và đại liên; thu hàng chục máy thông tin và súng các loại./.
ST


THÀNH QUẢ NỬA NHIỆM KỲ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG: “TIẾNG TRỐNG LỆNH” VÀ SỨC MẠNH HIỆU TRIỆU

 Trong cuộc chiến phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (PCTNTC), người đứng đầu có vai trò đặc biệt quan trọng suốt quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện và nêu gương sáng để khởi phát, dẫn dắt cao trào cách mạng. Thực tế đó được minh chứng rõ nét, thuyết phục từ quá trình vận hành đánh “giặc nội xâm” ở Việt Nam thời gian qua.

Mệnh lệnh con tim - mệnh lệnh niềm tin!
Trước năm 2011, tham nhũng vẫn là thách thức lớn trong toàn Đảng, toàn hệ thống chính trị và xã hội. Lúc bấy giờ, dù Trung ương đã ban hành Nghị quyết Trung ương 3, khóa X về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác PCTN, lãng phí”; Quốc hội ban hành Luật PCTN số 55/2005/QH11 được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 01/2007/QH12... nhưng tham nhũng, lãng phí vẫn xảy ra nghiêm trọng ở nhiều lĩnh vực, gây bức xúc xã hội; là thách thức lớn đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước.
Trước thực tế đó, Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI được Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết nghị, ban hành. Thế nhưng, quá trình triển khai ở giai đoạn đầu, dù các cấp đã nỗ lực, quyết liệt vào cuộc nhưng xem ra kết quả chưa đạt như mong muốn, khiến một số người hoài nghi; là cái cớ để lực lượng thù địch lợi dụng, chống phá... Với tinh thần thẳng thắn, trách nhiệm, vào tháng 10-2012, khi phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 6, khóa XI, thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhận lỗi trước toàn Đảng, toàn dân về “một số khuyết điểm lớn” cả hiện tại và cả của các nhiệm kỳ trước. Bấy giờ, giọng của Tổng Bí thư trở nên nghẹn ngào và giọt nước mắt của người đứng đầu Đảng bỗng trào ra!
Sau này, khi kết quả PCTNTC có nhiều chuyển biến rõ nét, thực chất, nhiều chính trị gia, các nhà quan sát, bình luận chính trị đã thừa nhận và so ví hình ảnh ấy là “giọt nước mắt rơi vào lịch sử”. Đồng thời thừa nhận, nỗi đau ấy của người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam đã chạm đến lương tri, trách nhiệm của phần lớn cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng; giúp khởi tạo và lan tỏa sâu rộng một cao trào đánh “giặc nội xâm” ở mọi cấp, mọi ngành, mọi lĩnh vực.
Với trọng trách được giao, quá trình công tác, đặc biệt là trong nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng luôn thể hiện rõ quan điểm, quyết tâm, đặt ra những yêu cầu cao, trao gửi nhiều thông điệp và đã gióng lên những “tiếng trống lệnh” tuyên chiến với “giặc nội xâm”. Thực tế cho thấy, “tiếng trống lệnh” của Tổng Bí thư, cùng với quyết tâm chính trị rất cao của tập thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã thúc giục toàn Đảng, hệ thống chính trị và toàn xã hội tuyên chiến, đẩy lùi và tiến lên từng bước quét sạch vấn nạn tham nhũng, tiêu cực. Quyết tâm của đồng chí Tổng Bí thư được thể hiện rõ trong nhiều bài viết, nhiều bài phát biểu tại các hội nghị và trước cử tri; được xuất bản thành những cuốn sách giá trị-là cẩm nang chỉ đạo công tác PCTNTC có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Là người đứng đầu Đảng, Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN và chủ trì hầu hết phiên họp của Ban Chỉ đạo từ khi thành lập đến nay, đồng chí Tổng Bí thư thường xuyên chỉ đạo quyết liệt các cơ quan chức năng cần làm tốt hơn nữa việc phát hiện và xử lý tham nhũng, tiêu cực.
Đặc biệt, trong từng vụ việc cụ thể, đồng chí luôn có những chỉ đạo, định hướng quan trọng; yêu cầu cơ quan chức năng theo dõi sát sao, chỉ đạo điều tra làm rõ đến cùng, với tinh thần không có vùng cấm, không có ngoại lệ, “không chịu bất kỳ một sức ép nào của bất cứ tổ chức, cá nhân nào”. Trong bất kỳ cuộc họp nào, lĩnh vực gì, tiếp xúc cử tri, trò chuyện với dân... đồng chí đều khẳng định đanh thép nỗ lực quyết tâm PCTNTC. Đó là cách giúp Đảng ta mạnh hơn, dẫn dắt công cuộc đổi mới đi đến thành công.
Theo dõi, nghiên cứu những cuốn sách, bài viết, bài phát biểu và các bài nói chuyện của đồng chí Tổng Bí thư với cử tri trong thời gian qua, có thể thấy rõ hệ thống quan điểm, tư tưởng và hành động về đấu tranh PCTNTC hết sức chặt chẽ, nhất quán; có sự phát triển theo từng bước, từng giai đoạn PCTNTC; bảo đảm công tác PCTNTC được làm đến đâu, chắc đến đó. Đồng chí khẳng định chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước là kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, hư hỏng trong nội bộ, tuy nhiên xử lý trước mắt phải nghĩ đến lâu dài, giữ cho được ổn định để đất nước phát triển. "Phải bình tĩnh tỉnh táo, rất khôn ngoan, có con mắt chiến lược. Bác Hồ dạy rồi, cha ông ta dạy rồi, đánh con chuột đừng để vỡ bình, làm sao diệt được chuột mà bảo vệ được bình hoa. Tức là phải giữ cho được cái ổn định", Tổng Bí thư khẳng định.
Sức mạnh nêu gương của người đứng đầu
Qua các nhiệm kỳ Đại hội XI, XII và nửa nhiệm kỳ Đại hội XIII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã cùng với Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, vạch đường, dẫn lối cho công tác PCTNTC của toàn Đảng đạt nhiều thành quả có dấu ấn lịch sử. Những thành quả này được cộng hưởng và có thêm sức mạnh kêu gọi, hiệu triệu toàn Đảng, toàn dân và toàn quân từ tấm gương liêm khiết, thanh sạch về đạo đức, lối sống của đồng chí Tổng Bí thư.
Ngay các phiên họp của Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTNTC, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng luôn bày tỏ mong muốn, mỗi thành viên, mỗi cán bộ làm việc trong lĩnh vực này phải hết sức gương mẫu, liêm, dũng, chính, trực, tức là phải trong sạch, dũng cảm, ngay thẳng, công tâm, trung thực. Bản thân mỗi đồng chí và cả gia đình, vợ, con phải giữ gìn sự trong sạch, rồi mới chống tham nhũng được, nếu không nói chẳng ai nghe, tay đã nhúng chàm thì không thể làm gì khác được. “Chúng ta phải cam kết với nhau, mỗi thành viên Ban Chỉ đạo phải là một tấm gương về liêm sáng, trung thực, công tâm, khách quan, nếu không dân không tin”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ quan điểm.
Ít người biết rằng, vào ngày 14-4 hằng năm (sinh nhật của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng), đồng chí thường chủ động có kế hoạch đi công tác cơ sở, đến với vùng sâu, vùng xa, trực tiếp gặp gỡ, trò chuyện cùng cán bộ, chiến sĩ, đồng bào. Những cán bộ được tiếp cận, làm việc thường xuyên với Tổng Bí thư đều thấu hiểu và cảm nhận chủ ý đi công tác vào dịp ấy của đồng chí.
Là người lãnh đạo cấp cao, nhưng Tổng Bí thư vẫn thường đơn sơ trong bộ vest cũ hay những chiếc áo bạc màu đã được sử dụng hàng chục năm; vẫn sống trong căn nhà công vụ, làm việc trong căn phòng bình dị; thường đi lại bằng chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Crown sản xuất những năm 90 của thế kỷ 20... Đó là cách sống và sự lựa chọn của một nhà lãnh đạo giản dị và cũng là tâm nguyện mà Tổng Bí thư từng chia sẻ với đội ngũ cán bộ: Danh thơm còn mãi, chức tước, tiền tài chỉ là phù vân!
Chỉ đạo rất quyết liệt, trực tiếp điều hành Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTNTC, cùng Bộ Chính trị đôn đốc, chỉ đạo các vụ đại án lớn; không nề hà tình cảm, không nhân nhượng bao che để kỷ luật Đảng, không có vùng cấm, nhưng mỗi khi có cán bộ bị xử lý, Tổng Bí thư chính là người trăn trở, lo nghĩ nhiều nhất. Đồng chí từng nhiều lần trăn trở: Việc xử lý nghiêm nhiều cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao sai phạm là điều không ai mong muốn, thậm chí rất đau xót, rất đau lòng, nhưng vì sự nghiệp chung, vì sự nghiêm minh kỷ luật của Đảng, thượng tôn pháp luật của Nhà nước, sự trong sạch, vững mạnh và uy tín của Đảng, Nhà nước và ý nguyện của nhân dân, chúng ta phải làm và kiên quyết làm. Kỷ luật một vài người để cứu muôn người và sẽ còn phải tiếp tục làm quyết liệt, mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới.
Tinh thần quyết tâm, quyết liệt chống tham nhũng của người đứng đầu Đảng; sự chỉ đạo sát sao, hiệu quả của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTNTC đã khởi tạo nên cao trào cách mạng rộng khắp, huy động sự vào cuộc của cả xã hội cùng chung sức, đồng lòng đẩy lùi quốc nạn tham nhũng. Trong toàn Đảng và toàn hệ thống chính trị từ Chính phủ đến Quốc hội, từ Trung ương về cơ sở, công tác PCTNTC được tiến hành thường xuyên, liên tục, kiên quyết, kiên trì; từ đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ trì, chủ chốt các cấp đến quần chúng đều dành tâm huyết, trí tuệ, công sức và cả dũng khí, bản lĩnh tham gia hiệu quả vào công cuộc PCTNTC theo chức trách, nhiệm vụ và bổn phận công dân Việt Nam. Người dân từ khi nhận thấy quyết tâm chính trị rất cao của người đứng đầu, của tập thể Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTNTC nên đã có thái độ tích cực hơn trong việc tham gia đóng góp, hiến kế PCTNTC. Nói cách khác, những “hồi trống lệnh” được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khởi xướng đã đáp ứng mong mỏi của đảng viên và nhân dân cả nước. Nhờ đó mà tinh thần quyết tâm, kiên quyết, kiên trì tuyên chiến với giặc nội xâm từ trong Đảng và toàn hệ thống chính trị đã lan tỏa mạnh mẽ ra toàn xã hội, được nhân dân đồng lòng ủng hộ. Sự giám sát của các cơ quan dân cử, vai trò của Mặt trận Tổ quốc, nhân dân và báo chí, truyền thông trong PCTNTC được phát huy tốt hơn. Khắp nơi nơi, bầu không khí chính trị trong chiến sĩ, đồng bào cả nước đều rất phấn khởi, vui mừng trước thành quả từ công cuộc PCTNTC do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo./.
ST


ASEAN PARA GAMES 12: ĐOÀN VIỆT NAM CÓ HUY CHƯƠNG VÀNG ĐẦU TIÊN

 Vận động viên Võ Huỳnh Anh Khoa (hạng thương tật S8) đã xuất sắc cán đích đầu tiên ở nội dung bơi 400m tự do, với thành tích 5 phút 20 giây 94.

Trong ngày 4/6 - ngày thi đấu chính thức đầu tiên của Đại hội thể thao người khuyết tật Đông Nam Á (ASEAN Para Games 12), Đoàn thể thao người khuyết tật Việt Nam đã giành được tấm Huy chương Vàng đầu tiên, nhờ công của vận động viên Võ Huỳnh Anh Khoa.
Tại Cung thể thao dưới nước ở sân vận động quốc gia Morodok Techo ở ngoại ô thủ đô Phnom Penh của Campuchia, Võ Huỳnh Anh Khoa (hạng thương tật S8) đã xuất sắc cán đích đầu tiên ở nội dung bơi 400m tự do, với thành tích 5 phút 20 giây 94.
Đây là cơ hội lớn để các tuyển thủ thể thao người khuyết tật Việt Nam thử thách ý chí và nghị lực bản thân và khẳng định khát vọng chiến thắng ở đấu trường khu vực.
Ngoài Võ Huỳnh Anh Khoa - vận động viên đã chiến thắng căn bệnh ung thư và trở thành nhà vô địch với đôi chân tật nguyền, đội tuyển bơi người khuyết tật Việt Nam dự ASEAN Para Games 12 với những gương mặt khá quen thuộc như Đỗ Thanh Hải, Võ Thanh Tùng, Trịnh Thị Bích Như, Nguyễn Thành Trung...
Tại ASEAN Para Games 11, bơi đã góp đến 27 Huy chương Vàng trên tổng số 65 huy chương Vàng của Đoàn thể thao người khuyết tật Việt Nam.
Do đó, tại kỳ đại hội năm nay, bộ môn này vẫn tiếp tục được xem là "mỏ huy chương" của thể thao người khuyết tật Việt Nam./.
ST


THIÊN AN MÔN!

 Cách đây đúng 34 năm, sự kiện Thiên An Môn (4/6/1989) xảy ra và ảnh hưởng rất lớn tới lịch sử Trung Quốc hiện đại. Đến tận ngày nay, Thiên An Môn luôn được coi là một sự kiện rất đặc biệt, đến nay vẫn còn nhiều điều bí ẩn; bên cạnh đó, từ khóa “thiên an môn” là từ khóa không xuất hiện kết quả phù hợp trên bất cứ công cụ tìm kiếm nào của Trung Quốc đại lục. Thậm chí, khi được hỏi, nhiều bạn trẻ Trung Quốc đại lục thậm chí không hề biết về sự kiện này. Tuy nhiên, đây là một sự kiện gây tranh cãi trong cộng đồng mạng, nhất là ở Việt Nam. Tóm tắt lại vụ việc, có thể chia thành 3 giai đoạn như sau:

- Giai đoạn một: Sinh viên và người dân tụ tập biểu tình đòi quyền tự do dân chủ, đẩy mạnh cải cách, tự do ngôn luận,… Quân đội được đưa đến ổn định tình hình. Lúc này chủ trương không được dùng vũ lực mà phải thuyết phục người dân mềm mỏng. Một số yêu sách được đáp ứng, nhưng các cuộc biểu tình ngày càng được mở rộng.
- Giai đoạn hai: Các phần tử kích động bắt đầu tấn công lực lượng quân đội không vũ trang, gi.ết và đốt x.ác nhiều binh sĩ, thậm chí thi.êu sống cả sĩ quan. Tình hình lúc này khá nguy cấp, nhưng lãnh đạo Bắc Kinh vẫn chưa đưa ra quyết định nào. Phía binh sĩ vẫn cố thuyết phục người dân bình tĩnh, nhưng vì thiếu thông tin nên xảy ra một vụ hỗn chiến giữa nhóm binh lính không vũ trang và các sinh viên đang kích động.
- Giai đoạn ba: Đặng Tiểu Bình bỏ ngoài tai ý kiến tiếp tục hòa hoãn, ra lệnh xe tăng và các quân khu phía ngoài tiến vào Thiên An Môn, các bạn đã biết chuyện gì xảy ra sau đó.
Sau khi giải quyết xong sự kiện Thiên An môn, Trung Quốc nhận thấy tầm quan trọng việc kiểm soát thông tin, đẩy mạnh xây dựng hệ thống tường lửa Great Fire Wall, phát triển các dịch vụ mạng Internet cho riêng mình. Những thứ Trung Quốc làm phải đến 20 năm sau, nhiều nước khác mới nhìn nhận ra và bắt tay thực hiện.
Thực chất, sự kiện Thiên An Môn chính là cuộc cách mạng đường phố, giống với những gì đã xảy ra ở Đông Âu cuối thập niện 80 thế kỷ trước. Tuy nhiên, khác với Ba Lan, Tiệp Khắc, trong cuộc cách mạng này, lực lượng sinh viên trở thành lực lượng nòng cốt. Thực tế, cuộc biểu tình lên tới hàng vạn người trước quảng trường Thiên An Môn được lên kế hoạch kỹ càng, và không khó để hiểu ai đứng đằng sau các cuộc biểu tình này. Nó thực sự là thách thức đối với sự cầm quyền của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, tương tự với những gì đang diễn ra ở Liên Xô và Đông Âu lúc bấy giờ.
Sẽ không khó để tưởng tượng, nếu chính quyền Trung Quốc mềm mỏng, buông súng trước lực lượng biểu tình trong vụ Thiên An Môn, hậu quả của nó sẽ thế nào. Sẽ là một Trung Quốc hỗn loạn, suy yếu và lệ thuộc với nước ngoài, tương tự như những gì đã xảy ra với Ucraina, Tiệp Khắc hay nước Nga sau khi Liên Xô sụp đổ./.
ST


ANH CHÀNG NGƯỜI MỸ GỐC VIỆT CHỨNG MINH TRƯỜNG SA CỦA VIỆT NAM KHIẾN CẢ NƯỚC MỸ NGHIÊNG MÌNH THÁN PHỤC !

 Lần đầu tiên những bản đồ cổ giúp chứng minh chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa do Việt kiều Trần Thắng sưu tầm được trưng bày ở Mỹ.

Người sưu tầm 100 bản đồ Trung Quốc không có Hoàng Sa
20 bản đồ Hoàng Sa, 20 bản đồ cổ Trung Quốc và 2 sách atlas Trung Quốc được triển lãm tại Hội thảo quốc tế "Sự xung đột trong Biển Đông", tổ chức tại ĐH Yale, Mỹ cuối tuần qua. Ðây là 40 bản đồ trong bộ sưu tập 150 bản đồ cổ Hoàng Sa và Trung Quốc, cùng 3 sách atlas Trung Quốc mà ông Trần Thắng, Việt kiều Mỹ, sưu tập từ giữa năm 2012. Những bản đồ này đã được ông Thắng gửi tặng cho Việt Nam và UBND huyện đảo Hoàng Sa, Đà Nẵng.
Prevost Bellin, Đức, 1747, cho thấy lãnh thổ Trung Quốc chỉ dừng lại ở đảo Hải Nam. Ảnh: Trần Thắng.
20 bản đồ Hoàng Sa do các nước phương Tây và Việt Nam vẽ, từ năm 1618 đến 1859, chứng minh vùng quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam. Trong khi đó, 20 bản đồ các nước phương Tây vẽ về Trung Quốc từ năm 1626 đến 1980, cho thấy miền Nam của Trung Quốc chỉ dừng lại ở đảo Hải Nam. Hai sách bản đồ Atlas, một cuốn do Nhà nước Trung Hoa phát hành tại Nam Kinh năm 1933, cuốn còn lại do Phái bộ truyền giáo Trung Quốc phát hình tại Anh năm 1908 cũng chỉ rõ lãnh thổ nước này dừng lại ở Hải Nam.
Giáo sư Carl Thayer, chuyên gia người Australia nghiên cứu các vấn đề về Biển Đông, từng nhận xét bộ sưu tập của ông Trần Thắng cho thấy những mâu thuẫn trong tuyên bố của Trung Quốc về cái gọi là "chủ quyền không thể tranh cãi" đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Ông Trần Thắng (bìa phải) và Giáo sư Carl Thayer tại Hội thảo.
Trao đổi với VnExpress, ông Trần Thắng, chủ tịch Viện văn hóa - giáo dục Việt Nam (IVCE), cho biết các học giả tham dự hội thảo đều cho rằng, hiện chưa có sách hoặc công trình nghiên cứu về Hoàng Sa và Trường Sa được viết bằng tiếng Anh được phát hành rộng rãi. Điều này khiến các học giả quốc tế than phiền rằng họ không có tài liệu để nghiên cứu.
"Việt Nam được một số học giả quốc tế tranh đấu bảo vệ lợi ích Biển Ðông. Chính phủ Việt Nam cũng cần lập ra quỹ về Biển Ðông để tạo mọi điều kiện phát triển thông tin về Biển Ðông. Từ nguồn ngân sách này, có thể dùng dịch sách, các công trình nghiên cứu, phim tài liệu và tài liệu về Biển Ðông sang tiếng Anh và tiếng Trung Quốc", ông Thắng nói và cho rằng quỹ Biển Ðông cũng sẽ hỗ trợ cho các công trình nghiên cứu Biển Ðông.
The Atlas of The World, Johnsons Atlas, New York, 1869. cũng cho thấy chủ quyền tại quần đảo Hoàng Sa thuộc Việt Nam. Ảnh: Trần Thắng.
Hiện Trung Quốc và các nước trong khối Ðông Nam Á tăng cường phát triển quân sự, có nghĩa là phát triển "sức mạnh cứng". Cái giá phát triển sức mạnh cứng là hàng tỷ tỷ USD, trong khi giá thành phát triển sức mạnh mềm như đầu tư nghiên cứu Biển Đông chỉ vài triệu USD. "Ðiều quan trọng của sức mạnh mềm là gìn giữ được hoà bình trong khu vực trong các cuộc xung đột về Biển Ðông", ông Thắng nói.
"Tôi nghĩ Chính phủ cần phải công khai giải pháp cụ thể về Biển Đông. Ví dụ như trường hợp Philippines họ chọn giải pháp về môi trường biển và giá trị pháp lý về đường lưỡi bò để chống lại Trung Quốc tại tòa án quốc tế, và giải pháp này được công khai trong nước và cả thế giới", ông cho biết thêm.
Ông Trần Thắng tốt nghiệp kỹ sư cơ khí tại University of Connecticut và làm việc cho công ty động cơ máy bay Pratt & Whitney từ năm 2000. Ông đồng thời là Chủ tịch Viện văn hóa - giáo dục Việt Nam (IVCE) tại New York, nhằm phát huy giáo dục Mỹ tại Việt Nam và giới thiệu văn hóa Việt Nam tại các ÐH Mỹ.
Năm 2012, ông Trần Thắng sưu tầm 150 bản đồ cổ Trung Hoa, bản đồ Hoàng Sa và 3 sách atlas Trung Hoa chứng minh chủ quyền biển đảo Việt Nam. Với đóng góp này, ông nhận được bằng khen của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Bộ Thông tin và Truyền thông, Ủy Ban biên giới - Bộ Ngoại giao, UBND thành phố Ðà Nẵng./.
ST


 

Chúng ta đều là người chiến thắng

Trung tướng Lê Nam Phong đã rời cõi tạm, còn tôi vẫn khôn nguôi nhớ vị Tư lệnh Sư đoàn 7, người chỉ huy mũi tiến công chủ yếu trên hướng Đông năm 1975, góp phần đập tan “cánh cửa thép” Xuân Lộc để quân ta tiến vào nội đô Sài Gòn.

Trận đánh quyết định

Sau Tết Nguyên đán năm 2022, hay tin bệnh tình Trung tướng Lê Nam Phong trở nặng, chúng tôi vội đến thăm. Ông mệt nhiều nhưng vẫn tỉnh táo. Xưa, tính ông vốn nóng nảy nhưng luôn hài hước với giọng xứ Nghệ thân quen. Nay, bệnh tình mệt nhọc thế mà khi tỉnh lại, ông vẫn hài hước như xưa. Tôi hỏi: “Sao bố ở viện lâu thế?”. Ông hóm hỉnh: “Bà nhà tau hay hờn. Mỗi lần bà hờn, tau vô đây vài ngày. Hết hờn, hết giận lại về. Có chi mô. Cả đời trận mạc, xa nhau. Giờ hòa bình, đời nào tau muốn rời bà ấy!”.

Thấy ông tỉnh táo, tôi gợi chuyện Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975. Năm ấy, Tư lệnh Sư đoàn 7 Lê Nam Phong được giao chỉ huy mũi tiến công chủ yếu hướng Đông chiếm Xuân Lộc, phòng tuyến cuối cùng của địch. Và ông hào hứng kể về trận đánh ác liệt trong thời khắc quyết định, xốc tới dinh lũy cuối cùng.

Ngày đó, Sư đoàn 7 đang đà tiến công Đà Lạt thì nhận lệnh gấp rút quay về xuôi. Ngày 3-4-1975, ông có mặt tại Sở chỉ huy Quân đoàn 4 (đóng ở bờ sông La Ngà) nhận nhiệm vụ. Tại đây, cuộc họp của Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân đoàn bàn cách đánh Xuân Lộc diễn ra. “Cần hiểu Xuân Lộc là mắt xích phòng ngự quan trọng nhất trong toàn bộ phòng tuyến vòng ngoài cuối cùng nội đô Sài Gòn. Dù chúng không biết ý định ta đánh, nhưng Tổng thống Thiệu đã sử dụng những viên tướng chỉ huy giỏi nhất, đổ vào đây khoảng 50% lực lượng bộ binh, 60% pháo binh và hầu hết xe tăng, thiết giáp cùng lực lượng dự bị. Chúng đoán quân ta ở phía Bắc đang trên đà tiến vào chứ không nghĩ quân chủ lực Miền đủ sức tiến đánh và đánh từ phía trong khi ta có 3 sư đoàn chủ lực và các đơn vị chiến đấu khác đã sẵn sàng”, Trung tướng Lê Nam Phong cho biết.

Nhận rõ thời cơ đến, ta quyết định mở chiến dịch theo phương án tập trung binh, hỏa lực mạnh đột phá Xuân Lộc. Đánh được Xuân Lộc “giập đầu” thì toàn bộ Quân khu 3, Quân đoàn 3 địch rã đám. Ngày 4-4, Sư đoàn 7 đã có mặt tại vị trí tập kết, chuẩn bị mọi mặt tiến công hướng chủ yếu, đánh thọc sâu, chiếm giữ Sở chỉ huy Sư đoàn 18 ngụy. “Nhiệm vụ này vô cùng khó khăn vì thời gian tương đối gấp.  Đảng ủy Sư đoàn phân tích kỹ thuận lợi, khó khăn, xây dựng quyết tâm, làm tốt mọi công tác chuẩn bị, đúng giờ nổ súng”, ông nhớ lại.

Theo hiệp đồng, đúng 5 giờ 40 phút sáng 9-4, các hướng, mũi ta nổ súng tiến công. Từ ngày 9 đến 11-4, hướng chủ yếu Sư đoàn 7 tiến công liên tục. Ta chiếm được một số mục tiêu, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giữ những bàn đạp quan trọng, nhưng không lường hết quân địch đông, liên tục tăng viện, hỏa lực mạnh, công sự, hầm hào, boong ke kiên cố. Sau 3 ngày tiến công đột phá nhưng ta chưa xóa sổ được lực lượng địch, chưa đánh giá đúng sức kháng cự của chúng, gây ra thương vong lớn. Ta nhanh chóng tổ chức hội nghị rút kinh nghiệm và tìm cách đánh khác. Đó là tổ chức lực lượng đánh cắt rời Xuân Lộc với Biên Hòa tại điểm Dầu Giây, đánh chặn và ghìm chân địch ở Túc Trưng, cắt Đường số 1 và 20, cắt đứt Xuân Lộc với Bàu Cá, không cho địch co cụm, tiếp tế chi viện, không cho địch rút về Đường số 2 đi hướng Bà Rịa...

Liên tục hơn 11 ngày đêm chiến đấu, Quân đoàn 4 phối hợp với các lực lượng đã giải phóng Xuân Lộc. Từ đây, cửa ngõ hướng Đông Sài Gòn mở toang, 5 cánh quân ta siết chặt vòng vây, xốc tới dinh lũy cuối cùng của địch.

Cắm cờ thấp vẫn là cờ chiến thắng

Khi tôi hỏi trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, ông nhớ nhất điều gì, Trung tướng Lê Nam Phong cười, bảo: “Nhiều lắm. Nhớ anh em đồng đội. Nhớ nhất là cắm cờ Giải phóng thấp phía dưới nhưng vẫn vui sướng!”.

Tuy tổn thất đáng kể trong trận Xuân Lộc nhưng lúc ấy “một ngày bằng 20 năm”, quân ta khí thế bừng bừng xốc tới, không gì cản được. Ngày 29-4-1975, Sư đoàn 7 nhận nhiệm vụ mới. Trước lúc xuất quân, Tư lệnh Quân đoàn 4 Hoàng Cầm trao Cờ “Quyết chiến, Quyết thắng”, chỉ thị Tư lệnh Sư đoàn 7 Lê Nam Phong cắm cờ lên nóc Dinh Độc Lập. “Lúc đó, tau dõng dạc: “Thay mặt cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 7, tôi xin hứa sẽ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”, ông kể.

Chỉ tiếc là khi đến Biên Hòa, địch còn nhiều ổ đề kháng ẩn nấp trong thành phố, nhà cao tầng chống trả quyết liệt. Đơn vị nhanh chóng vượt qua các chướng ngại, vượt cầu Ghềnh thẳng tiến Sài Gòn. Nhưng cầu nhỏ và yếu quá, xe tăng, thiết giáp không thể qua được, ông hạ lệnh chuyển hướng tiến quân, đi tắt ra xa lộ Biên Hòa. Sáng 30-4, dòng người đổ về chen kín xa lộ khiến bộ đội, xe pháo cơ động rất chậm. Lập tức, ông nhảy khỏi xe thiết giáp, trao đổi nhanh với Chính ủy Nguyễn Văn Thái, gọi chiến sĩ dùng xe gắn máy chở ông lách qua dòng người chạy thẳng vào Dinh Độc Lập. “Đến cầu Thị Nghè, gặp Trợ lý tác chiến Sư đoàn, tau hỏi ngay: “Đại đội 7 có cắm cờ được không”? Lắc đầu: “Quân đoàn 2 cắm rồi. Xe tăng của Đại đội 7 vào trễ 30 phút”. Một phút tiếc nuối hiện lên. Ngước thấy cờ Giải phóng tung bay trên nóc dinh, ông nói: “Quân đoàn 2 cắm cờ trên cao thì ta cắm cờ thấp, đều là “Quyết chiến, Quyết thắng” cả. Tất cả chúng ta đều là người chiến thắng!”.


Một buổi huấn luyện tìm kiếm cứu nạn cùng “trợ thủ đặc biệt”

     Đợt thực tập tốt nghiệp cùng các chú chó nghiệp vụ là cơ hội tốt để học viên thực hành các nội dung tình huống tìm kiếm cứu nạn sát với thực tế, mục tiêu, yêu cầu đào tạo.

    Vừa qua, Trường Trung cấp 24 Biên phòng cử học viên Khóa 10 Trung cấp đào tạo huấn luyện viên và chó nghiệp vụ phát hiện ma túy, tìm kiếm cứu nạn đi thực tập tại các đồn biên phòng thuộc Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Điện Biên. Đây cũng là khóa đầu tiên của nhà trường được đi thực tập nội dung tìm kiếm cứu nạn trên địa bàn biên giới. Trong đó, đội thực tập tại Đồn Biên phòng Mường Pồn gồm 10 đồng chí (1 giáo viên hướng dẫn, 1 đội trưởng, 1 cán bộ thú y, 7 học viên) và 7 chó nghiệp vụ.

    Theo Thiếu tá Nguyễn Văn Nghĩa, Chủ nhiệm Bộ môn Tìm kiếm cứu nạn, Trường Trung cấp 24 Biên phòng, đồng thời là giáo viên hướng dẫn đội thực tập, ngay sau khi hành quân đến đơn vị an toàn, Đồn Biên phòng Mường Pồn đã tạo mọi điều kiện để đội nhanh chóng ổn định chỗ ăn ở cho người, chó nghiệp vụ và triển khai thực hiện kế hoạch thực tập.

    Trong quá trình thực tập, đội chú trọng tổ chức duy trì huấn luyện các nội dung, tình huống tìm kiếm cứu nạn trong sạt lở đất, đá, sập đổ công trình xảy ra trên địa bàn biên giới thuộc Đồn Biên phòng Mường Pồn quản lý. Sau 3 tháng thực tập, học viên đã nắm chắc được các nội dung, yêu cầu đề ra. Ngoài ra, đội cũng đưa học viên và chó nghiệp vụ phối hợp với cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Mường Pồn tham gia tuần tra đường biên, mốc quốc giới, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới, giúp nhân dân trên địa bàn phát triển kinh tế, phòng, chống cháy rừng...

    Báo Quân đội nhân dân Điện tử xin giới thiệu một số hình ảnh về một buổi huấn luyện tìm kiếm cứu nạn của đội thực tập tại Đồn Biên phòng Mường Pồn:

Theo tình huống giả định, một vụ sạt lở đất, đá nghiêm trọng vừa xảy ra trên địa bàn bản Pá Chả, xã Mường Pồn, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên, làm sập 3 nhà dân và khiến 2 người bị mắc kẹt trong đống đổ nát. Ngay sau khi nhận được thông tin, Chỉ huy đồn giao nhiệm vụ cho đội thực tập cử lực lượng và chó nghiệp vụ xuống hiện trường, tổ chức công tác tìm kiếm cứu nạn. Trong ảnh: Trung tá Nguyễn Đình Thuần, Đồn trưởng Đồn Biên phòng Mường Pồn giao nhiệm vụ cho đội thực tập. 
Theo tình huống giả định, một vụ sạt lở đất, đá nghiêm trọng vừa xảy ra trên địa bàn bản Pá Chả, xã Mường Pồn, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên, làm sập 3 nhà dân và khiến 2 người bị mắc kẹt trong đống đổ nát. Ngay sau khi nhận được thông tin, Chỉ huy đồn giao nhiệm vụ cho đội thực tập cử lực lượng và chó nghiệp vụ xuống hiện trường, tổ chức công tác tìm kiếm cứu nạn. Trong ảnh: Trung tá Nguyễn Đình Thuần, Đồn trưởng Đồn Biên phòng Mường Pồn giao nhiệm vụ cho đội thực tập. 
Đội thực tập nhanh chóng cơ động tới hiện trường. 
Đội thực tập nhanh chóng cơ động tới hiện trường. 
Một buổi huấn luyện tìm kiếm cứu nạn cùng “trợ thủ đặc biệt”
Theo tình huống giả định, khu vực sạt lở nằm cách Đồn Biên phòng Mường Pồn khoảng 5km. Do địa hình phức tạp nên trong nội dung huấn luyện, đội kết hợp nội dung hành quân đường dài để tăng sức bền cho học viên cũng như chó nghiệp vụ. 
Theo tình huống giả định, khu vực sạt lở nằm cách Đồn Biên phòng Mường Pồn khoảng 5km. Do địa hình phức tạp nên trong nội dung huấn luyện, đội kết hợp nội dung hành quân đường dài để tăng sức bền cho học viên cũng như chó nghiệp vụ. 
Ngay sau khi tiếp cận hiện trường, chỉ huy đội tập hợp học viên để quán triệt về yêu cầu, nhiệm vụ và phân công các vị trí để học viên và chó nghiệp vụ tiến hành công tác tìm kiếm cứu nạn. Từ vài ngày trước, đội đã cử người đi bố trí một số áo, quần ở khu vực huấn luyện để chó nghiệp vụ đánh hơi.
Ngay sau khi tiếp cận hiện trường, chỉ huy đội tập hợp học viên để quán triệt về yêu cầu, nhiệm vụ và phân công các vị trí để học viên và chó nghiệp vụ tiến hành công tác tìm kiếm cứu nạn. Từ vài ngày trước, đội đã cử người đi bố trí một số áo, quần ở khu vực huấn luyện để chó nghiệp vụ đánh hơi.
Một buổi huấn luyện tìm kiếm cứu nạn cùng “trợ thủ đặc biệt”
Học viên đưa chó nghiệp vụ vào khu vực sạt lở.
Học viên đưa chó nghiệp vụ vào khu vực sạt lở.
Chỉ trong chốc lát, chó nghiệp vụ đã phát hiện vị trí có nguồn hơi người bị vùi lấp, liên tục cào đất để báo hiệu.
Chỉ trong chốc lát, chó nghiệp vụ đã phát hiện vị trí có nguồn hơi người bị vùi lấp, liên tục cào đất để báo hiệu.
Một buổi huấn luyện tìm kiếm cứu nạn cùng “trợ thủ đặc biệt”
Học viên sử dụng cờ để báo cáo cho người chỉ huy, sau đó cắm cờ đánh dấu vị trí có nguồn hơi người để các lực lượng cứu hộ tiến hành đào bới. 
Học viên sử dụng cờ để báo cáo cho người chỉ huy, sau đó cắm cờ đánh dấu vị trí có nguồn hơi người để các lực lượng cứu hộ tiến hành đào bới. 
Một chú chó nghiệp vụ khác cũng phát hiện vị trí có nguồn hơi người bị vùi lấp còn lại.
Một chú chó nghiệp vụ khác cũng phát hiện vị trí có nguồn hơi người bị vùi lấp còn lại.
Phút nghỉ giải lao của học viên và những “trợ thủ đặc biệt”. Để tăng chất lượng huấn luyện tìm kiếm cứu nạn trong đợt thực tập, giáo viên và chỉ huy đội thường xuyên thay đổi khu vực giả định có sự cố cũng như các tình huống sự cố khác nhau.

Phút nghỉ giải lao của học viên và những “trợ thủ đặc biệt”. Để tăng chất lượng huấn luyện tìm kiếm cứu nạn trong đợt thực tập, giáo viên và chỉ huy đội thường xuyên thay đổi khu vực giả định có sự cố cũng như các tình huống sự cố khác nhau.

Kết thúc mỗi buổi huấn luyện, đội kiểm tra sức khỏe và cho các chú chó nghiệp vụ ăn theo tiêu chuẩn quy định. 
Kết thúc mỗi buổi huấn luyện, đội kiểm tra sức khỏe và cho các chú chó nghiệp vụ ăn theo tiêu chuẩn quy định.