Chủ Nhật, 4 tháng 6, 2023

NGƯỜI DẪN LỐI CHO DÂN TỘC

 Vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc không chỉ được nhân dân trong nước mà cả quốc tế thừa nhận. Tư tưởng Hồ Chí Minh là di sản tinh thần vô giá của Đảng và nhân dân ta. Tuy nhiên, vẫn có những luận điệu lạc lõng, phủ nhận vai trò đóng góp và tư tưởng của Người.

Cả cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng của Hồ Chí Minh gắn liền với cách mạng giải phóng dân tộc, kiên định con đường độc lập dân tộc và CNXH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Trên phương diện quốc tế, Người đã đóng góp toàn tâm, toàn ý cho sự nghiệp đấu tranh chống bất công, tạo động lực cho phong trào giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa, dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống thực dân, đế quốc kiểu cũ trên toàn thế giới.
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đã vinh danh Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam. Mặc cho sự thừa nhận của tổ chức quốc tế có uy tín hàng đầu thế giới hiện nay, các thế lực phản động, thù địch, cơ hội vẫn không từ thủ đoạn, bôi đen sự thật, trắng trợn xuyên tạc, vu cáo sự nghiệp, tư tưởng của Người.
Thông qua “loa truyền thông”, những kẻ tự xưng là “yêu nước”, “dân chủ”, “có tiếng nói phản biện” đã bịa đặt thông tin về đời tư, về ngày sinh, về những người thân trong gia đình Chủ tịch Hồ Chí Minh, về nguồn gốc của Người, nhằm hạ bệ thần tượng. Những kẻ này còn xuyên tạc và phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh khi cho rằng, “tư tưởng Hồ Chí Minh là sự du nhập tư tưởng ngoại lai vào Việt Nam”; “Hồ Chí Minh là nhà dân tộc chủ nghĩa chứ không phải là người cộng sản”; “Hồ Chí Minh đi trên cỗ xe Nho giáo đến với chủ nghĩa Mác – Lê-nin”; “tư tưởng Hồ Chí Minh là tư biện, lý thuyết, giáo điều, sao chép, máy móc”; “Chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã lỗi thời, không phù hợp với thực tiễn Việt Nam hiện nay”…
Thực tế, cả cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh đều vì dân, vì nước, vì sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam cũng như những dân tộc bị áp bức trên thế giới. Vì lo cho dân, cho nước, cho dân tộc, Người gác qua niềm vui, quyền lợi riêng tư của bản thân, gia đình mình. Từ khi quyết định rời bến cảng Nhà Rồng (1911), ra đi tìm đường cứu nước, Người đã vượt qua biết bao gian khổ, quyết tâm tìm ra con đường giải phóng dân tộc. Sự nghiệp đó, công lao đó, được lịch sử ghi nhận. Việc bịa đặt, bôi đen đời tư, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh là hành vi xấu xa, không có lương tri, không thể chấp nhận được.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại… Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nắm lấy tinh thần, bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, có bổ sung trong quá trình vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận về dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc; về thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, chú trọng xây dựng và chỉnh đốn Đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh; về xây dựng, tập hợp lực lượng, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân trong các hình thức mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi…
Nghị quyết 09-NQ/TW, ngày 18/2/1995 của Bộ Chính trị (khóa VII) đã khẳng định: “Trong khi giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần phát triển chủ nghĩa Mác – Lê-nin trên nhiều vấn đề quan trọng, đặc biệt là lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc và tiến lên CNXH ở các nước thuộc địa và phụ thuộc”.
Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với tiến trình cách mạng Việt Nam là không thể phủ nhận, bởi đó là linh hồn, ngọn cờ thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong 93 năm qua, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (3/2/1930). Đại hội IX của Đảng (tháng 4/2001) khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại… Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta”. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh”.
Hiện nay, các thế lực thù địch ngày càng đẩy mạnh chiến dịch, thủ đoạn, hình thức từ bên ngoài, cấu kết và phối hợp với đối tượng phản động, cơ hội chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nước để chuyển tải, truyền bá thông tin sai lệch, bịa đặt, vu khống, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng, đặc biệt là chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Việc chủ động phòng, chống sự xuyên tạc sự nghiệp và tư tưởng Hồ Chí Minh ngày càng trở nên bức thiết.
Bên cạnh xây dựng lực lượng nòng cốt, chuyên trách để vạch trần và phản biện nhanh với luận điệu xuyên tạc, vu khống, cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục lý luận chính trị, nâng cao tính hấp dẫn trong dạy và học môn tư tưởng Hồ Chí Minh, lan tỏa mạnh mẽ gương điển hình học Bác, góp phần làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc trong Đảng và trong xã hội; trở thành nhu cầu tự thân, nền nếp của mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị và cá nhân. Khi đó, không luận điệu xằng bậy nào có thể làm lu mờ hình tượng, tư tưởng Hồ Chí Minh trong lòng mỗi người dân và cả dân tộc Việt Nam.

HỒI ỨC CỦA NHỮNG THƯƠNG BINH NẶNG: LÍNH ĐẶC CÔNG VÀ NHỮNG LẦN LÀM " LỄ TRUY ĐIỆU SỐNG"

 Cùng đoàn và là đồng hương với ông Vĩnh, ông Phạm Bá Bảy (SN 1950), quê ở Sao Đỏ, TP. Chí Linh vẫn còn vẻ rắn rỏi, linh hoạt của một người lính đặc công. Năm hai mươi tuổi, với nhiệt huyết của tuổi trẻ, sau khi học xong nghề cơ điện, chàng thanh niên ấy lên đường theo tiếng gọi của Tổ quốc.

Ban đầu, tổ chức định sắp xếp ông làm nhiệm vụ lái xe tăng. Tuy nhiên, xét thấy nguyện vọng của ông là được tham gia vào một đơn vị đặc công với sức khoẻ loại tốt, cấp trên đã đồng ý.
“Ngày đấy còn trẻ, khí thế và nhiệt huyết lắm. Với lại, khi còn ở nhà, tôi đã ngưỡng mộ những người lính đặc công. Họ giỏi, nhanh nhẹn, gan dạ và bí hiểm, hay nói cách khác là “xuất quỷ nhập thần” nên khi đi bộ đội, tôi đã ghi rõ nguyện vọng được tham gia vào lực lượng đặc công”, ông Bảy tự hào.
Chiến dịch Tây Nguyên (tháng 3-1975) là chiến dịch mở đầu cuộc tiến công chiến lược, đã tiêu diệt và đập tan toàn bộ hệ thống phòng ngự của Mỹ ngụy ở Tây Nguyên; tạo ra thời cơ và điều kiện thuận lợi phát triển thành cuộc tổng tiến công chiến lược, giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Sân bay Hoà Bình (nay là sân bay Buôn Mê Thuột) là địa bàn có vị trí rất quan trọng, lợi hại, địch sử dụng làm nơi đổ quân, đổ phương tiện, tập trung lực lượng đi ứng cứu các nơi hoặc phản kích đánh chiếm lại mục tiêu đã bị mất.
Trung đoàn Đặc công 198 đảm nhận nhiệm vụ đánh chiếm sân bay Hòa Bình. Khi đó, ông Phạm Bá Bảy được biên chế vào Tiểu đoàn 27, một trong những đơn vị được giao nhiệm vụ đánh vào điểm khó khăn nhất, quan trọng nhất của địch ở Sân bay Hoà Bình.
Quanh căn cứ mục tiêu có nhiều lớp hàng rào, xen kẽ giữa các lớp rào là bãi mìn. Lớp tường đất bao quanh căn cứ đắp cao và dày, các lô cốt và các ụ súng cũng được bố trí ngay trong tường đất hướng mũi súng ra ngoài. Hai hầm chỉ huy của Trung đoàn trưởng bằng bê tông xây chìm xuống đất...
Chỉ cho chúng tôi xem thương tích và những mảnh kim khí vẫn còn nằm lại trên thân thể, người lính đặc công Phạm Bá Bảy kể: “Lính đặc công chỉ mặc bộ quần áo cộc, đeo vài quả lựu đạn, dao găm, khẩu súng để bí mật chui sâu vào trận tuyến của địch.
Do vậy, trước khi lên đường làm nhiệm vụ, chúng tôi đã được anh em trong đơn vị làm “Lễ truy điệu sống” rồi”. Là lính đặc công lại làm nhiệm vụ trinh sát, có thể nói, ông và đồng đội là những người đi mở đường đầu tiên. Giữa những “hàng rào mìn” rộng lớn và dày đặc, đi đến đâu họ cũng phải gỡ mìn đến đấy. Nguyên tắc của lính đặc công là khi bước không bao giờ đặt cả bàn chân xuống đất mà phải đặt từ từ bằng gót, nhẹ nhàng. Khi phát hiện mìn phải tìm cách phân biệt loại mìn và tháo gỡ. Bởi chỉ một sơ suất thôi thì không có lần thứ 2 để sửa chữa...
Vì là vị trí cực kỳ quan trọng của cả ta và địch nên cuộc chiến đấu càng gay go, ác liệt hơn. Tranh giành nhau từng vị trí. Tương quan lực lượng giữa ta và địch lớn, địch mạnh, ta yếu. Cũng vì vậy nên chỉ đánh một tối là hết đạn dược và lương thực. Trong khi đó, xe tăng của ta bị địch chặn, chưa vào được đến nơi để hỗ trợ. Cố cầm cự sang đến ngày thứ ba, gần 1/3 đơn vị đã hy sinh. Sau tiếng nổ dữ dội vào đêm ngày thứ ba, ông Bảy ngất lịm, mảnh kim khí găm khắp cơ thể.
“Tuy nhiên, sau 7 ngày đêm chiến đấu, ta đã chiếm giữ hoàn toàn sân bay, đánh tan hàng chục đợt phản kích của địch”, ông nói.
Trở lại cuộc sống đời thường với thương tật 1/4, sức khoẻ giảm sút rất nhiều, mất sức lao động, ông mở một quán nước nho nhỏ để tạo niềm vui và cũng là kiếm thêm thu nhập, đỡ đần vợ chăm lo cho con cái. Với những gì đã trải qua của cuộc đời mình, ông hiểu rõ giá trị của “hoà bình”. Trong những quyển sách của con, ông thường ghi dòng chữ “Bố hy sinh để nâng cánh cho các con đi đến những ước mơ”...

Đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, làm việc cầm chừng, sợ sai...hiện trạng đáng lo ngại đối với đội ngũ cán bộ, công chức

    Đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, làm việc cầm chừng, sợ sai không dám làm trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp thời gian qua đã được đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhắc nhở, được dư luận xã hội, cử tri và Nhân dân cả nước quan tâm, có cả sự động viên, khích lệ, đầy ý thức xây dựng; có cả sự trăn trở, băn khoăn, lo lắng. Theo đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cũng rất chú ý, ra sức “bới lông tìm vết”, tìm kiếm, thêu dệt, tán phát thông tin xấu, độc trên mạng xã hội; thi nhau xuyên tạc, bôi đen sự thật nhằm chống phá công tác cán bộ của Đảng, Nhà nước ta, trực tiếp chống phá Hội nghị Trung ương 7 khóa XIII (giữa nhiệm kỳ); Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XV và sự điều hành của Chính phủ về các nội dung phát triển kinh tế – xã hội. Đùn đẩy, né tránh trách nhiệm... là hiện trạng đáng lo ngại, gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh, cảnh báo đối với đội ngũ cán bộ, công chức về trách nhiệm đối với nhiệm vụ được giao trước Tổ quốc, trước Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Chính hiện trạng này nhắc nhở chúng ta phải đề luôn cao cảnh giác, hết sức đề phòng kẻ xấu việc lợi dụng Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XV để thực hiện âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc đổi mới, phát triển đất nước; thực nghị quyết Đại hội XIII của Đảng mà các thế lực thù địch chủ mưu. Hơn thế, cần phải đặc biệt chú ý đến hệ lụy từ những tác động của 4 nguy cơ đe dọa Cách mạng Việt Nam mà Đảng ta đã chỉ ra. Hiện trạng đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, làm việc cầm chừng, sợ sai không dám làm là biểu hiện tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên; đã và đang gây ra nhiều hệ lụy xấu, làm chậm tiến trình phát triển kinh tế – xã hội. Vì vậy, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý nghiêm minh trách nhiệm người đứng đầu các cơ quan, địa phương để xảy ra tình trạng tiêu cực; trước hết xử lý trách nhiệm người đứng đầu có ý nghĩa rất quan trọng trong việc cảnh tỉnh, cảnh báo, giáo dục cán bộ, công chức hiện nay.

Sẵn sàng ứng phó thiên tai

 

Cùng với thực hiện tốt nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, lực lượng “sao vuông” Thủ đô luôn thể hiện vai trò nòng cốt, tích cực tham gia công tác phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn.

Thành tích cao nhờ nỗ lực luyện rèn

 

Từ sáng sớm, các chiến sĩ của Đại đội 9, Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 692 (Sư đoàn 301, Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội) đã hoàn thành mọi công tác chuẩn bị cho buổi kiểm tra "3 tiếng nổ", kết thúc khóa huấn luyện chiến sĩ mới. Hồi hộp xen lẫn háo hức, các chiến sĩ trong loạt bắn thứ nhất vào khu vực nhận đạn, cơ động vào tuyến bắn sẵn sàng chờ lệnh.

Nhân lên tình yêu quê hương, biển, đảo

 

Tại Hải đoàn 32, Bộ tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 3 vừa phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương tổ chức Hành trình “Thanh niên Khánh Hòa vì biển, đảo quê hương” năm 2023.

Thi đua phải thực chất, hình thức

 

Có thể khẳng định, các phong trào thi đua đã tạo khí thế, quyết tâm, động lực để cán bộ, chiến sĩ toàn quân vượt khó, hăng hái thi đua lập thành tích, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ được giao.

Hướng vào khắc phục khâu yếu

 

Đảng ủy, chỉ huy Lữ đoàn Pháo binh 16 (Quân khu 4) luôn xác định, duy trì và thực hiện tốt Phong trào Thi đua Quyết thắng chính là yếu tố quyết định đến việc hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.

Cần xây dựng mô hình lối sống văn hóa gia đình trong xã hội đương đại hiện nay

Gia đình của lớp người thời kinh tế thị trường sống tiện nghi, tốc độ và vô cảm trong lối sống phần đông của con người hôm nay. Dù xã hội đang thức dậy và khuyến khích những tấm gương sáng về lòng từ thiện, lòng nhân ái bao dung, sống vì cộng đồng… nhưng chưa đủ mạnh để thu hút giới trẻ đi theo. Lớp người mới thích làm ít hưởng nhiều, sống bất cần ai, bất cần đời, cái tôi là vũ trụ, hưởng thụ bản thân đòi hỏi cao, đây là con đường dẫn đến mọi tội ác trong đó có tội xâm hại trẻ em để hưởng lạc thỏa mãn bản thân. Chúng ta phải nhìn thẳng vào sự thật để tìm ra các giải pháp xây dựng văn hóa gia đình và chống xâm hại trẻ em. Xây dựng văn hóa gia đình Việt Nam trong xã hội công nghệ cần: không chạy theo thành tích, không khuyên dạy giới trẻ những bài học lý thuyết giáo điều, mà hướng đến cụ thể giải quyết những khó khăn bế tắc của lớp người mới bằng việc làm cụ thể như giải quyết tâm tư tình cảm, công việc làm kiếm sống, đào tạo nghề, hướng nghiệp…Xã hội cần hướng nghiệp cho lớp trẻ, phải không ngừng nâng cao dân trí, chống các khuynh hướng bảo thủ giáo điều, để xây dựng một xã hội có nhiều gia đình văn hóa, văn minh hội nhập, quốc tế hóa. Mô hình lối sống giới trẻ của gia đình Việt Nam đương đại là: "Gia đình văn hóa, văn minh Dân tộc truyền thống và đương đại. Gia đình an vui sống lành mạnh, phát triển văn hóa dân tộc và tính quốc tế". Xây dựng lối sống văn hóa gia đình của giới trẻ trong xã hội đương đại là nền tảng của mọi giá trị đạo đức nhân văn, kiến tạo một xã hội bình yên để phát triển con người, phát triển đất nước giàu mạnh. Phát triển nền kinh tế thị trường cùng với xây dựng vững chắc nền văn hóa nghệ thuật đương đại Việt Nam, xây dựng văn hóa gia đình, dân tộc truyền thống và đương đại.

KỶ NIỆM 112 NĂM NGÀY BÁC HỒ RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC (5/6/1911 - 5/6/2023)!

CUỘC HÀNH TRÌNH
VĨ ĐẠI VÌ ĐỘC LẬP CHO DÂN TỘC, TỰ DO CHO NHÂN DÂN!
“Hành trình của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một cuộc hành trình vĩ đại để tìm đường, mở đường và dẫn đường cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước. Mỗi bước đi của Người trong hành trình ấy đều gắn liền với những quyết định trọng đại, những mốc son lịch sử của cách mạng Việt Nam…”.

“Đất nước đẹp vô cùng. Nhưng Bác phải ra đi”!
Nước mất, nhà tan. Nhân dân chịu hai tầng áp bức, bóc lột. Những cuộc nổi dậy, các trào lưu yêu nước, các cuộc khởi nghĩa nổ ra liên tục nhưng đều thất bại, hoặc chìm trong biển máu hoặc dần đi đến thoái trào… Tất cả hiện trạng ấy đã đặt ra cho lịch sử một câu hỏi lớn về con đường đấu tranh đúng đắn nhất, phù hợp nhất với dân tộc, với bối cảnh Việt Nam những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.
Sinh ra trong tình cảnh ấy, cũng thấm thía hơn ai hết cái tình cảnh trớ trêu ấy; hơn nữa, lại mang trong mình trái tim yêu nước, thương nòi thiết tha bậc nhất, người thanh niên Nguyễn Tất Thành chưa khi nào thôi trăn trở, thôi nung nấu ý định tìm ra con đường cứu nước, cứu dân. Vậy nên, với tất cả nhiệt huyết của tuổi trẻ và đặc biệt là với mong ước tột cùng là “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn; đấy là tất cả những điều tôi hiểu”, ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành dưới tên gọi Văn Ba, làm phụ bếp trên con tàu của Pháp Latouche - Tréville, đã rời bến cảng Sài Gòn bắt đầu cuộc hành trình đi tìm đường cứu nước. Ngày 6-7-1911, con tàu cập cảng Marseille, Pháp, từ đây mở ra chương khởi đầu trên hành trình tìm kiếm con đường đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi họa ngoại xâm của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành.
Khi đánh giá về sự kiện lịch sử này, có người cho rằng đây là “một sự đổi mới đầy dũng cảm”. Còn các nhà nghiên cứu Nguyễn Mạnh Hà, Vũ Thị Hồng Nhung thì cho rằng: Chỉ có lòng yêu nước mãnh liệt, ý chí kiên định về giải phóng dân tộc, giải phóng Nhân dân khỏi cảnh áp bức, lầm than và lòng quả cảm mới đưa Nguyễn Tất Thành tới một lựa chọn dứt khoát, khác biệt mọi người. Chuyến đi là một quyết định mang tính lịch sử, một sự kiện mới rất đặc biệt chưa từng xảy ra. Điểm đặc biệt của chuyến đi lịch sử này, trước hết nằm ở “định hướng đi”: trước những cách thức cũ, hướng đi cũ, sang phương Đông hay lên phía Bắc mà các bậc cha anh đã chọn đều không mang lại kết quả hay thắng lợi cuối cùng; thì việc lựa chọn sang phương Tây mà trực tiếp là sang Pháp đã “phản ánh một tư duy vượt trội, rõ ràng, mạnh bạo, dám đi tới tận nơi phát sinh của vấn đề để tìm cách giải quyết vấn đề. Đó là sự khác biệt sâu sắc trong định hướng ra đi của Nguyễn Tất Thành với các thế hệ cha anh đi trước”.
Cùng với chọn “hướng đi” là xác định “mục đích đi”. Cũng theo các nhà nghiên cứu Nguyễn Mạnh Hà, Vũ Thị Hồng Nhung, bỏ qua những ý kiến mang tính suy diễn, không phản ánh đúng thực chất mục đích chuyến đi, thì hầu hết các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đều thống nhất cho rằng, Nguyễn Tất Thành xuất dương là nhằm đi tìm con đường cứu nước cho dân tộc. Điều này xuất phát từ lòng yêu nước được trao truyền, hun đúc trong dòng máu gia đình, quê hương, cũng như xuất phát từ ý thức dân tộc và đặc biệt là từ hoài bão “phải có danh gì với núi sông” của tuổi trẻ. Bản thân Người cũng đã nhiều lần nói rõ mục đích chuyến đi của mình khi trả lời báo chí. Chẳng hạn, năm 1919, khi phóng viên báo Y Chê Pao (xuất bản ở Thiên Tân, Trung Quốc ngày 20-9-1919) hỏi về mục đích đến Pháp để làm gì, Người đã trả lời: để đòi những quyền tự do mà Việt Nam phải được hưởng, với phương châm là luôn luôn tiến lên phía trước tùy theo sức mạnh của mình. Hay năm 1923, khi trả lời tạp chí “Ngọn lửa nhỏ” tại Matxcơva, Người giải thích: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái... tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy”… Nói tóm lại, mục đích cuối cùng và cao cả nhất không gì khác là tìm ra con đường cứu nước thoát khỏi họa ngoại xâm, cứu dân thoát khỏi cảnh áp bức lầm than.

Song, nói thì dễ nhưng để có bước chân đầu tiên trên hành trình ấy lại cần một quyết tâm rất lớn, với một trái tim kiên nghị và quả cảm, một tinh thần dám dấn thân và sẵn sàng hy sinh, một lòng nồng nàn yêu nước, luôn đau đáu vì nước, vì dân… Quyết định bước chân lên con tàu Latouche - Tréville của con người nhỏ bé ngày ấy và lần đầu xa Tổ quốc, một mình đối diện với đại dương mênh mông, mịt mờ của thời cuộc khi ấy, ít ai ngờ lại trở thành bước đi của lịch sử. Đó là hành trình đầy gian khổ, hiểm nguy và gắn với vô số các sự kiện, các mốc lịch sử nổi bật trong hành trình giải phóng dân tộc của Người.
Dù “Tổ quốc đẹp vô cùng. Nhưng Bác phải ra đi”. Đó là đòi hỏi tất yếu của lịch sử đối với con người sẽ làm nên lịch sử - làm thay đổi vận mệnh đất nước, thậm chí là làm ảnh hưởng mạnh mẽ tới thế giới sau này - với tư cách là Người viết lại “lịch sử chế độ thực dân” trong thế kỷ XX, như chính người Pháp đã thừa nhận “Con người thanh niên mảnh khảnh và đầy sức sống này có thể là người sẽ đặt chữ thập cáo chung lên nền thống trị của chúng ta ở Đông Dương” (dự cảm của Paul Arnoux - một mật thám Pháp chuyên theo dõi Nguyễn Ái Quốc kể từ sau sự kiện bản “Yêu sách của Nhân dân An Nam” và khi nghe Nguyễn Ái Quốc nói chuyện ở hội trường Hooctiquyntơ, Pari)

“Người đi tìm hình của nước”
“Cuộc hành trình đời người” kéo dài suốt 3 thập kỷ (1911-1941) đã đưa người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc qua nhiều quốc gia, để vừa lao động kiếm sống, vừa không ngừng quan sát, tìm hiểu, chiêm nghiệm và nhận thức thực tiễn. Ví như, Người từng cảm khái khi đứng dưới chân tượng Nữ thần Tự do tại New York, Mỹ vào một ngày cuối tháng 12-1912: “Ánh sáng trên đầu thần Tự do tỏa rộng khắp trời xanh, còn dưới chân tượng thần Tự do thì người da đen đang bị chà đạp... Bao giờ người da đen được bình đẳng với người da trắng? Bao giờ có sự bình đẳng giữa các dân tộc?”. Đồng thời, Người tích cực tìm hiểu các phong trào đấu tranh của Nhân dân lao động ở nhiều nước tư bản và thuộc địa, từ đó, không ngừng học hỏi, đánh giá và tìm kiếm con đường đấu tranh đúng đắn, khoa học để giải phóng dân tộc ta.

Trong suốt 30 năm bôn ba, đã có nhiều dấu mốc quan trọng, tác động đến cuộc đời hoạt động của Người. Sau khi sang Pháp, Nguyễn Tất Thành vừa làm vừa học và sau này gia nhập Đảng Xã hội Pháp. Đến giữa năm 1919, chính giới Pháp Pari và chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương, Việt Nam, bắt đầu xôn xao về một nhân vật có tên là Nguyễn Ái Quốc - người đại diện cho “Hội những người yêu nước An Nam tại Pháp”, ký tên dưới “Bản yêu sách của Nhân dân An Nam” gửi đến đại biểu các nước thắng trận Chiến tranh thế giới thứ nhất tham dự hội nghị hòa bình họp tại lâu đài Versailles, ngoại ô thủ đô Pari. “Bản Yêu sách của nhân dân An Nam” yêu cầu Chính phủ Pháp: (1) Tổng ân xá cho tất cả những người bản xứ bị án tù chính trị; (2) Cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng được quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu châu; xóa bỏ hoàn toàn các tòa án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong Nhân dân An Nam; (3) Tự do báo chí và tự do ngôn luận; (4) Tự do lập hội và hội họp; (5) Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương; (6) Tự do học tập, thành lập các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ; (7) Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật; (8) Đoàn đại biểu thường trực của người bản xứ, do người bản xứ bầu ra, tại Nghị viện Pháp để giúp cho Nghị viện biết được những nguyện vọng của người bản xứ…
Từ sự kiện này, Bộ Nội vụ Pháp đã xác định: “Cuộc điều tra về phong trào tuyên truyền chống Chính phủ trong các giới Việt Nam ở Pari để ủng hộ “Bản Yêu sách của Nhân dân An Nam” cho phép rút ra kết luận rằng, hiện nay linh hồn của phong trào đó chính là Nguyễn Ái Quốc, Tổng thư ký Hội những người Việt Nam yêu nước”. Đồng thời, có nhận định cho rằng, “lần đầu tiên trong lịch sử, có một người Việt Nam tuyên bố trước toàn thế giới chủ trương giành độc lập cho dân tộc mình; lần đầu tiên trong lịch sử, có một người Việt Nam dám bóc trần những tội ác của bọn thực dân Pháp ngay ở Paris”. Cũng từ đó mà “Chính cái tên Nguyễn Ái Quốc bản thân nó có sức hấp dẫn lạ kỳ”!
Có thể nói, Hồ Chí Minh là con người của hành động. Theo nhiều nhà nghiên cứu, triết lý hành động Hồ Chí Minh, trước hết xuất phát từ trong tư tưởng, truyền thống văn hóa Việt Nam. Trong đó, điều nhân lõi nhất của triết lý nhân sinh truyền thống Việt Nam đã trở thành nền tảng cho mọi quan điểm và hành động của Chủ tịch Hồ Chí Minh là triết lý về ở đời và làm người. Đồng thời, triết lý hành động của Người cũng chịu ảnh hưởng của các nhà tư tưởng lớn của dân tộc, như Nguyễn Trãi trong “Bình Ngô đại cáo” gắn với triết lý “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”; hay Lý Thường Kiệt với “Nam quốc sơn hà” đã khảng khái khẳng định chủ quyền quốc gia dân tộc… Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chiêm nghiệm: “Nghĩ cho cùng, mọi vấn đề... là vấn đề ở đời và làm người. Ở đời và làm người là phải thương nước, thương dân, thương nhân loại đau khổ bị áp bức”! Cũng bởi xuất phát từ yêu nước, thương dân, đau đáu trước cảnh nước mất, nhà tan nên chàng trai trẻ Nguyễn Tất Thành mới quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân.
Bởi vậy, hành trình ra đi tìm đường cứu nước suốt 30 năm là minh chứng sống động về con người hành động hay triết lý hành động Hồ Chí Minh. Đó là chủ nghĩa yêu nước, là tinh thần dân tộc, là khát khao độc lập cho dân tộc, tự do cho Nhân dân… Tất cả, đã dẫn dắt Người đến với Chủ nghĩa Mác - Lênin, với học thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học và đặt nền móng cho lý luận cách mạng Việt Nam trong thời đại mới. Có thể khẳng định, “hành trình của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một cuộc hành trình vĩ đại để tìm đường, mở đường và dẫn đường cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước. Mỗi bước đi của Người trong hành trình ấy đều gắn liền với những quyết định trọng đại, những mốc son lịch sử của cách mạng Việt Nam”. Đó là hành trình tìm lại “hình” của nước, hay tìm lại “sắc vàng nghìn xưa, sắc đỏ tương lai” - tìm lại truyền thống lịch sử - văn hóa hào hùng để làm điểm tựa cho một tương lai rạng rỡ Việt Nam; cũng đồng thời là khẳng định quyền tự quyết dân tộc để vẽ lại hình chữ S tươi mới trên bản đồ nhân loại. Đó cũng chính là “thế đi đứng”, là “cách vin hoa” mà mỗi người Việt Nam hôm nay luôn tự hào, vốn được đặt nền móng từ cách đây 112 năm, khi người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành rời bước chân đầu tiên từ bến Nhà Rồng.
(Bài viết có sử dụng một số tư liệu trong cuốn “Hồ Chí Minh - Hành trình vì độc lập dân tộc (1911-1945). NXB Chính trị quốc gia Sự Thật - 2022)./.
Yêu nước ST.

Tư tưởng Hồ CHí Minh “Nước lấy dân làm gốc”- là tư tưởng vì nhân dân, vì con người

Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử, là kết quả của sự kết hợp giữa tư tưởng lấy "dân làm gốc" ra đời trong truyền thống dựng nước, giữ nước của dân tộc và học thuyết Mác- Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân trong đấu tranh cách mạng. Kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, giữa lý luận và thực tiễn - Chủ tich Hồ Chí Minh đã nâng tư tưởng “Nước lấy dân làm gốc” lên một tầm cao mới vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nhân văn sâu sắc. Tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa, sáng tạo đúng đắn về vai trò của quần chúng cho nên Người tập hợp, đoàn kết đông đảo nhân dân, phát huy được vai trò của họ trong đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta. Quan điểm cơ bản trong tư tưởng của Người về vai trò quần chúng nhân dân là: "Dân là gốc của một nước, nước lấy dân làm gốc". Đây chính là chân lý mà Người đúc kết được sau bao năm bôn ba hoạt động ở nước ngoài và tổng kết từ thực tiễn cách mạng trong nước. Bác khẳng định:“Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, chứ không phải là sự nghiệp của cá nhân anh hùng nào. Thành công của Đảng ta là ở nơi Đảng đã tổ chức và phát huy lực lượng cách mạng vô tận của nhân dân” . “Trong cuộc kháng chiến kiến quốc lực lượng chính là ở dân”. “Cách làm là dựa vào lực lượng của dân, tinh thần của dân, để gây hạnh phúc cho dân” . "Gốc có vững cây mới bền, Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân" . Từ quan điểm “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận ra sức mạnh của nhân dân trong sự cấu kết với cộng đồng dân tộc, giai cấp với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Có dân là có tất cả đã trở thành phương pháp luận trong tư tưởng của Người. “Dễ mười lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong” . Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”. Mỗi thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong lịch sử dựng nước, giữ nước đều do nhân dân quyết định. Nhà quân sự lỗi lạc, đại văn hào Nguyễn Trãi đã từng nói:“Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân, thuận lòng dân thì sống, nghịch lòng dân thì chết”. Đảng ta cũng khẳng định rằng cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân và quan điểm “lấy dân làm gốc” trở thành tư tưởng thường trực để lãnh đạo đất nước hơn 80 năm qua "lực lượng của dân rất to, khả năng của dân thật phi thường". Vì thế, trong kháng chiến kiến quốc, muốn thắng lợi được kẻ thù thì phải huy động sức mạnh của toàn dân, biết phát huy tinh thần của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường căn dặn Đảng ta là: "Phải gần gũi nhân dân, dựa vào lực lượng của nhân dân, xa rời dân thì tài tình mấy cũng không làm gì được" . Nhưng để lực lượng dân trở thành một khối thống nhất cả trong tư tưởng và hành động thì chúng ta phải đoàn kết nhau lại, vì sự đoàn kết của nhân dân là vô địch, không một kẻ thù nào có thể chia cắt được. Thực tiễn lịch sử Việt Nam ta mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước đã chứng tỏ điều đó. Sự nghiệp vẻ vang của Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, v.v. chính cũng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân. Tuy nhiên dưới chế độ phong kiến, vai trò của quần chúng bị lu mờ, và chính bản thân quần chúng cũng không nhận thức được sức mạnh của mình. Các triều đại liên tiếp đổi thay, chính quần chúng là người quyết định sự biến đổi ấy, từ thực tiễn đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Dân trí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống nổi", "Sự đồng tâm của đồng bào đúc thành một bức tường đồng xung quanh Tổ quốc. Dù địch hung tàn xảo quyệt đến mức nào, đụng đầu nhằm bức tường đó, chúng cũng phải thất bại" Đoàn kết là sức mạnh, đó là nguyên nhân của mọi thành công, mọi thắng lợi trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công” . Sự đoàn kết càng mở rộng thì sự thành công càng chắc chắn, cho nên trong quá trình lãnh đạo cách mạng Bác luôn coi trọng sự đoàn kết nhân dân, xem đó là vấn đề có ý nghĩa chiến lược. Và đó cũng là lý do để Người quyết định thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất đoàn kết xã hội thành một khối thống nhất chống ngoại xâm. Với quan điểm “Cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân và vì dân” là một tư duy hoàn toàn mới trong lịch sử tư tưởng Việt Nam. Đó chính là sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng nước ta. Quan điểm này đã trở thành cơ sở lý luận cho mọi hoạt động của tổ chức và cá nhân trong xã hội nhằm phát huy vai trò sáng tạo, tích cực của quần chúng. Xuất phát từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xem mình là người phục vụ quần chúng, chịu trách nhiệm trước quần chúng. Người nghiêm khắc phê phán những biểu hiện của tệ quan liêu, xa dân, khinh dân, đặc biệt là thói kiêu ngạo “quan cách mạng”, ra lệnh, ra oai, “không tin dân” để dẫn đến chỗ “dân không tin” làm hại đến uy tín của Đảng, của Chính phủ. Trong điện gửi các cán bộ chính quyền và đoàn thể miền Nam Trung Bộ năm 1950, Người phê bình: “...Máy móc, ép buộc đồng bào, nhiều việc quá trình độ, dân không hiểu, không thích. Đã thấy sai lầm mà không kịp thời sửa chữa, kịp thời báo cáo. Dùng thói quan liêu, chỉ biết ra lệnh, ép buộc dân chúng đóng góp” . Khẳng định vai trò của quần chúng nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, Đảng, Nhà nước và mỗi cán bộ, đảng viên có trách nhiệm giác ngộ, tập hợp, đoàn kết nhân dân lại rồi dẫn đường cho họ đi vào hoạt động cách mạng, nhằm đem lại lợi ích thiết thực cho dân. Người khẳng định: “Đảng ta là một đảng cầm quyền...phải xứng đáng là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”, theo Người ngoài lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Đảng ta không còn lợi ích nào khác. Mục đích của Đảng là phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, để phục vụ tốt mục đích trên thì Đảng phải là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Mọi cơ quan, tổ chức của Đảng, Nhà nước đều là công bọc của nhân dân. Người viết: “Nước ta là Nhà nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ, trong bộ máy cách mạng từ người quét nhà, nấu ăn cho đến Chủ tịch nước đều phân công làm đầy tớ cho dân”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt niềm tin tuyệt đối vào nhân dân, ngay cả khi cách mạng đang ở trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” Người vẫn một lòng tin tưởng vào nhân dân. Người cho rằng “có dân sẽ có tất cả”, “có dân việc gì cũng làm được” và Người thường xuyên động viên nhắc nhở:“chúng ta phải ghi tạc vào đầu cái chân lý này: dân rất tốt. Lúc họ đã hiểu thì việc khó khăn mấy họ cũng làm được, hy sinh mấy họ cũng không sợ”. Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người không chỉ tin tưởng vào sức mạnh phi thường của nhân dân mà còn tin tưởng vào cả tấm lòng yêu nước, ý chí, quyết tâm, lòng dũng cảm và sự trung thành tuyệt đối vào Đảng của nhân dân. Người khẳng định: “nhân dân ta rất anh dũng, dũng cảm, hăng hái cần cù. Từ ngày có Đảng nhân dân ta luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng...Dù khó khăn mấy nhân dân ta nhất định thắng lợi…” Vì thế, Bác rất tôn trọng người lao động, theo Bác, tôn trọng người lao động là phải gần gũi nhân dân, hòa cùng nhân dân, không được tự tách ra khỏi dân, không được đặt mình cao hơn dân. Người dạy cán bộ, đảng viên “Từ nơi quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng. Có gần gũi, hòa cùng nhân dân thì mới hiểu được dân, đồng cảm với dân, nắm được tâm tư tình cảm của dân... Hòa cùng nhân dân còn để giác ngộ, lãnh đạo nhân dân thúc đây xã hội phát triển theo chiều hướng có lợi cho nhân dân”. Đánh giá đúng vai trò của quần chúng nhân dân vừa là mục tiêu, vừa là động lực, vừa là bí quyết thắng lợi của mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Chủ nghĩa xã hội là nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân và do nhân dân xây dựng. Nghĩa là phải phát huy tinh thần làm chủ, sáng tạo của dân; nhân dân phải được tham gia một cách trực tiếp vào công việc quản lý, sản xuất và đời sống của mình; phải tôn trọng, lắng nghe ý kiến của dân thông qua hệ thống chính trị ở cơ sở. Người luôn nhắc nhở “Các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng đều là công bộc của dân, nghĩa là gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải đè đầu dân...”. “Việc gì lợi cho dân ta phải hết sức làm. Việc gì có hại đến dân, ta phải hết sức tránh” . Tư tưởng “Nước lấy dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tư tưởng vì nhân dân, vì con người. Dựa vào dân, tin vào lực lượng, trí tuệ của nhân dân, chăm lo cho cuộc sống vật chất, tinh thần của nhân dân là tạo nên sức mạnh đoàn kết và mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Đó chính là nền tảng của công cuộc đổi mới và phát triển mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang lãnh đạo nhân dân thực hiện. Suy ngẫm về tư tưởng Hồ Chí Minh “Nước lấy dân làm gốc” trong bối cảnh toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đang quyết tâm cao độ đưa Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI vào cuộc sống, quyết tâm ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên; xây dựng đội ngũ cán bộ; xác định trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, cơ quan đơn vị. Với yêu cầu, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Tạo sự chuyển biến thực sự rõ nét, khắc phục những yếu kém tồn tại, củng cố thêm niềm tin với Đảng… Trong không khí cùng cả nước thi đua lập thành tích cao nhất chào mừng kỷ niệm 67 năm cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9 trước anh linh của Người và các anh hùng liệt sỹ cán bộ, đảng viên chúng ta nguyện suốt đời đi theo con đường mà Bác và Đảng Cộng sản Việt Nam đã lựa chọn trong những năm 30 của thế kỷ trước, góp phần nhỏ bé của mình xây dựng thành công một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”

Lối sống và những vấn đề đặt ra trong việc xây dựng lối sống con người mới xã hội chủ nghĩa hiện nay

Có thể nói, lối sống là một hình thức biểu hiện của văn hóa. Nói đến lối sống là nói đến cả khía cạnh văn minh nhân loại và truyền thống của một dân tộc, cả các giá trị phổ quát và cả các giá trị phù hợp với điều kiện lịch sử của từng thời kỳ nhất định. Lối sống hiểu một cách chung nhất là một tập hợp những nét cơ bản, tiêu biểu, ổn định của các hình thức hoạt động sống đặc trưng cho mỗi dân tộc, quốc gia, vùng địa lý, nhóm xã hội và cá nhân trong những điều kiện chính trị - kinh tế - văn hóa - xã hội cụ thể. Đó là cách thức hoạt động, ứng xử của chủ thể (cá nhân, tập thể) để đáp ứng nhu cầu sống, từ ăn, mặc, ở, đi lại, tái tạo giống nòi đến học hành, vui chơi, giao tiếp và thoả mãn nhu cầu trí tuệ, thẩm mỹ,vv..; từ hoạt động kinh doanh, chính trị, văn hoá đến việc tổ chức đời sống cá nhân, gia đình và xã hội. Lối sống người Việt Nam được hình thành do điều kiện địa lý, kinh tế, chính trí, trước hết là tâm lý và văn hoá dân tộc Việt Nam. Vì vậy, lối sống người Việt Nam chính là sự hoá thân của các đặc điểm truyền thống dân tộc, mang những nét riêng bản sắc con người và văn hoá Việt Nam. Có nhiều yếu tố cấu thành nên lối sống, có thể kể ra một vài thành tố quan trọng nhất của nó như: Cách thức lao động, làm ăn, kinh doanh; Các phong tục tập quán; Cách thức giao tiếp, ứng xử của con người; Quan niệm về đạo đức và nhân cách... Như vậy, lối sống chịu sự quy định của phương thức sản xuất xã hội và toàn bộ những điều kiện sống của con người. Nhưng nó không phải là sản phẩm thụ động bởi lối sống của con người là do con người tạo ra mà con người vừa là sản phẩm của hoàn cảnh, vừa là chủ thể sáng tạo ra hoàn cảnh sống của chính mình. Do đó, lối sống có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đến phương thức sản xuất và toàn bộ đời sống xã hội. Giống như một số nước phương Đông khác, đời sống tinh thần xã hội Việt Nam truyền thống dựa trên nền tảng vật chất là nền sản xuất nhỏ. Trải qua hàng nghìn năm phát triển lối sống truyền thống ít nhiều có sự biến đổi chứ không phải bất di bất dịch. Từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 cho đến nay, dân tộc ta đã bước vào thời kỳ bảo vệ độc lập và phát triển đất nước trong thế giới hiện đại. Sau khi giành được độc lập, dân tộc ta đã tiến hành hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954) và đế quốc Mỹ (1955 - 1975) để bảo vệ nền độc lập, thống nhất của tổ quốc. Bước vào thời kỳ CNH, HĐH, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, lối sống của con người Việt Nam tất yếu phải có sự thay đổi. Bước chuyển về mặt sản xuất vật chất xã hội đã phức tạp, bước chuyển về mặt lối sống càng phức tạp hơn. Đặc biệt, lối sống truyền thống, vốn dựa trên nền sản xuất tiểu nông, có nhiều nhân tố không tương hợp với tính chất của kinh tế thị trường. Có thể nói, ngoài mặt tích cực thì mặt trái của kinh tế thị trường có tác động tiêu cực làm phai nhạt lối sống tình nghĩa, làm rạn vỡ tinh thần tập thể, sự ổn định gia đình, đồng thời làm nảy sinh lối sống cá nhân chủ nghĩa, lối sống gấp, trụy lạc, vv… Trong lĩnh vực đạo đức: Trong thời kỳ cách mạng dân tộc, dân chủ trước đây, đạo đức xã hội hướng tới việc đề cao ý thức cộng đồng, nhấn mạnh tinh thần hy sinh cá nhân phục vụ lợi ích tập thể là “trung với Đảng, hiếu với dân”, “cần kiệm liêm chính chí công vô tư”, là nét đẹp lý tưởng của con người có đạo đức mẫu mực. Hiện nay, những chuẩn mực đạo đức đó vẫn được phát huy cho phù hợp với thời kỳ mới. Đó là, Các khái niệm luân lý như “kính lão”, “tôn sư”, “trọng trưởng”, “tín nghĩa”, “chung thủy”, “hiếu thảo”, các nhu cầu về quan hệ gia đình, dòng họ, làng xóm, quan hệ trong làm ăn, cư trú...đang dần dần mang thêm diện mạo mới. Giá trị đạo đức được đánh giá không chỉ trên phương diện quan hệ giữa người với người trong sinh hoạt đời thường, mà chuyển dần về cái gốc của nó là quan hệ giữa con người với lao động sản xuất. Tài năng trong lao động được coi trọng và được xem là phẩm chất đạo đức. Người tốt phải là người biết làm giàu chính đáng cho mình, đồng thời giúp đỡ người khác thoát khỏi cảnh nghèo khó. Sự quan tâm đến người khác không chỉ dừng ở lời nói, mà phải được thể hiện thành hành động cụ thể. Đó chính là xu thế vận động tích cực của giá trị đạo đức. Trong nền kinh tế thị trường, ý thức đạo đức đối với lao động đã thay đổi. Bất cứ lao động nào, làm việc gì, nghề gì, bằng sức lao động của mình đem lại hiệu quả cao, bảo được đời sống của bản thân và gia đình, đóng góp đống góp tích cực cho xã hôi không trái với pháp luật đều được xem như là lao động có ích, được thừa nhận và có giá trị xã hội như nhau về mặt đạo đức. Một quan niệm mới về đạo đức và một lối sống mới hình thành, đó làđạo đức hướng tới hành động, hướng vào hiệu quả công việc, hướng vào sự hình thành và phát triển cá nhân, như một chủ thể mang nhân cách khẳng định cá nhân, cá tính, ý thức về vai trò chủ thể, con người làm quen với lối sống thiết thực, khẩn trương, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm, có trách nhiệm với bản thân và xã hội. Hiện nay, trong xã hội mới – xã hội chủ nghĩa, người được coi là có đạo đức, có tinh thần yêu nước, phải là người có năng lực để lao động tự giác, làm việc hết mình vì trách nhiệm với mình và với xã hội. Đạo đức trong xã hội mới còn có biểu hiện tích cực thông qua những hành động cụ thể như: nghĩa cử đền ơn đáp nghĩa đối với những người có công, gia đình thương binh liệt sĩ, những người cô đơn, những người mắc bệnh hiểm nghèo... đã nói lên tình cảm đạo đức cao đẹp, sự cố kết cộng đồng của dân tộc ta. Trên thực tế, đạo đức xã hội nước ta hiện nay vừa có mặt tích cực vẫn có mặt tiêu cực, đang cản trở sự phát triển. Từ góc nhìn văn hóa, yếu tố tiêu cực đang có xu hương biểu hiện ngày càng tăng. Mặc dù, nó không hiện hữu nhưng đang có tính phổ biến, có thể phá hủy, bào mòn những nền tảng tinh thần đạo đức tốt đẹp của dân tộc. Đó là, chủ nghĩa cá nhân và sự suy thoái trong quan niệm sống trong một phận không nhỏ, cán bộ, đảng viên đang có chiều hướng gia tăng. Từ đó, nó làm nảy sinh tâm lý sống thực dụng, đề cao một chiều các giá trị vật chất, thói vụ lợi, vị kỷ, ích kỷ, xem đồng tiền là thước đo của giá trị. Bên cạnh đó, những mặt trái của nền kinh tế thị trường cũng đang có những tác động đến đạo đức lối sống trong toàn xã hội. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay là tệ quan liêu, tham nhũng, nhũng nhiễu, hách dịch dân... của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên vì lợi ích cá nhân đã làm xói mòn niềm tin của dân đối với Đảng, Nhà nước. Hiện nay, nước ta đang đẩy mạnh CNH, HĐH vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, Theo quan điểm của Đảng ta những đức tính của con người Việt Nam cần phải xây dựng, phát triển trong giai đoạn cách mạng mới là, có tinh thần yêu nước, bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, phấn đấu vì độc lập dân tộc, vì Chủ nghĩa xã hội.

 THÔNG ĐIỆP MẠNH MẼ VỀ QUYẾT TÂM PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC 

Cuốn sách “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được xuất bản và triển khai sâu rộng trên toàn quốc đã nhận được sự đồng tình, ủng hộ và hưởng ứng mạnh mẽ của đông đảo cán bộ, đảng viên cũng như các tầng lớp nhân dân. Các ý kiến đều cho rằng, cuốn sách có nội dung sâu sắc về lý luận và thực tiễn với cách tiếp cận vấn đề cụ thể rất dễ tiếp nhận, thể hiện rõ ý chí, nguyện vọng, đường lối mà Đảng ta đã, đang và sẽ triển khai. Những bài viết trong cuốn sách thể hiện rõ tư duy sắc bén, nhãn quan chính trị vượt trội của Tổng Bí thư về vấn đề căn cơ trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là phòng ngừa từ xa, từ sớm mà trọng tâm là xây dựng, chỉnh đốn Đảng, là phòng chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, tức là trị tận gốc tham nhũng tiêu cực.

Trong những năm qua, với tinh thần chống tham nhũng “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”, Chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) của Việt Nam đã tăng liên tục qua các năm. Ngày 31/1/2023, Tổ chức Minh bạch Quốc tế (TI) đã công bố CPI năm 2022, 124 quốc gia không có tiến bộ trong chống tham nhũng; hơn 2/3 số quốc gia (68%) có điểm dưới 50 và điểm trung bình toàn cầu không thay đổi, ở mức 43.

CPI năm nay cho thấy, 124 quốc gia được đánh giá ở mức độ trì trệ, “dậm chân tại chỗ” trong chống tham nhũng, trong khi số quốc gia suy giảm đang gia tăng. Đáng chú ý tại bảng xếp hạng CPI 180 quốc gia, vùng lãnh thổ, Việt Nam đã tiến 10 bậc, từ xếp thứ 87 (năm 2021) lên 77 (năm 2022), điều này cho thấy những nỗ lực, sự quyết tâm mạnh mẽ chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước ta trong năm qua đã có nhiều chuyển biến tích cực.

Với những thành tựu ấn tượng trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam 10 năm qua đã được các tầng lớp nhân dân trong nước và ở nước ngoài đồng tình ủng hộ, nhiều chính khách, học giả nước ngoài ghi nhận, bày tỏ sự tin tưởng, đánh giá cao.

Ngài Kamal Malhotra, đại diện thường trú của Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam đánh giá: “Kiểm soát tham nhũng trong khu vực công của Việt Nam là một điểm sáng đáng chú ý”. Đài Bắc Kinh đánh giá: “Cường độ chống tham nhũng của Việt Nam là chưa từng có. Đối với một số vụ án tham nhũng lớn và quan trọng, Ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam trực tiếp chỉ đạo và giám sát điều tra…”.

Tổ chức Minh bạch Quốc tế (TI) trong “Báo cáo Phong vũ biểu tham nhũng toàn cầu 2019” (GCB) đã đánh giá: “Bên cạnh việc Việt Nam hoàn thiện khung khổ pháp luật về phòng, chống tham nhũng, Chính phủ đã và đang thực hiện nhiều biện pháp, hành động phòng, chống tham nhũng, đưa ra ánh sáng nhiều vụ án tham nhũng quy mô lớn chưa từng có”.

Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden đánh giá rất cao công cuộc lãnh đạo đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng: “Tôi hoan nghênh nỗ lực chống tham nhũng và thúc đẩy quản trị tốt của Ngài trên cương vị Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam. Giải quyết nạn tham nhũng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hòa bình và an ninh trong khu vực Đông Nam Á và trên thế giới” v.v…

Đây chính là minh chứng cho luận điểm mà Tổng Bí thư đã viết trong cuốn sách, đó là: “Đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã trở thành phong trào, thành xu thế không thể đảo ngược, được đông đảo cán bộ, đảng viên, nhân dân đánh giá cao, bạn bè quốc tế ghi nhận”.

Chính vì thế không có gì lạ khi thời gian gần đây các đối tượng thù địch, chống phá, thiếu thiện chí ra sức phủ nhận quyết tâm đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta, đồng thời đưa ra luận điệu xuyên tạc cho rằng độc đảng là nguồn gốc sinh ra tham nhũng, do đó Việt Nam không thể chống tham nhũng. Muốn chống tham nhũng, tiêu cực thì phải đa đảng. Cần thấy rằng thể chế chính trị của mỗi quốc gia trên thế giới do lịch sử và người dân của quốc gia đó lựa chọn và quyết định.

Để chống tham nhũng hiệu quả không phụ thuộc vào việc có một hay nhiều đảng. Trong tác phẩm của mình, Tổng Bí thư viết: “tham nhũng (tham ô, nhũng nhiễu) “là hiện tượng xã hội tiêu cực, xấu xa mà thời nào, chế độ nào, quốc gia nào cũng có; đó là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực”. Vì vậy, các quốc gia tồn tại và phát triển vững mạnh đều quan tâm và tiến hành đấu tranh phòng, chống tham nhũng có hiệu quả”.

Từ đây cho thấy rằng tham nhũng không phải do cơ chế một đảng. Chưa kể, khi xuyên tạc công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam, các luận điệu xuyên tạc cho rằng tham lam là bản chất của con người, vậy mà chỉ dùng hô hào suông về đạo đức thì sẽ không thể chống được tham nhũng. Song nếu nhìn thực tiễn công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam suốt những năm qua không khó để nhận thấy nhiệm vụ này đã được triển khai trên diện rộng với nguyên tắc vào cuộc “trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt” từ Trung ương tới cơ sở, từ khu vực công sang khu vực tư…

Trong 10 năm qua (2013-2023) đã có 2.740 tổ chức Đảng, hơn 167.700 đảng viên, trong đó có hơn 190 cán bộ diện Trung ương quản lý (4 Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị; 36 Ủy viên Trung ương, nguyên Ủy viên Trung ương) đã bị xử lý kỷ luật bằng nhiều hình thức khác nhau. Các cơ quan bảo vệ pháp luật đã khởi tố, điều tra 19.546 vụ/33.868 bị can; truy tố 16.699 vụ/33.037 bị can; xét xử sơ thẩm 15.857 vụ/30.355 bị cáo; xử lý hình sự 37 cán bộ diện Trung ương quản lý. Thực tế này cho thấy cuộc chiến chống tham nhũng ở Việt Nam thực hiện trên nguyên tắc không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không có đặc quyền, bất kể người đó là ai.

Bên cạnh việc xử lý nghiêm minh các sai phạm bằng kỷ luật Đảng, bằng pháp luật của Nhà nước, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đề cao giáo dục và rèn luyện đạo đức để phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Vấn đề giáo dục đạo đức cách mạng không phải đến nay mà đã từ rất sớm, ngay từ những ngày đầu chuẩn bị các điều kiện cho sự ra đời của một chính đảng cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ hội đủ 2 điều kiện cần và đủ là: ĐỨC và TÀI.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: Đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thấy rõ bổn phận và trách nhiệm của mình, luôn vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức và không bị cám dỗ bởi vật chất, tiền tài, danh vọng; đấu tranh có hiệu quả với mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, bệnh quan liêu, cơ hội, cục bộ, bè phái, mất đoàn kết. Kỷ luật Đảng nghiêm minh, pháp luật nghiêm minh là cần thiết nhưng nó chỉ góp phần xử cái sai, cái xấu, cái ác, chỉ có đạo đức mới làm cho cái tốt nảy nở, sinh sôi.

Trong tác phẩm này, Tổng Bí thư yêu cầu: “Phải xây dựng các quy chế quản lý nội bộ của Đảng; các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức áp dụng đối với cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu trong việc giữ gìn phẩm chất đạo đức, liêm chính, gương mẫu đi đầu trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực”. Cụ thể, việc “gắn bó chặt chẽ phòng, chống tham nhũng với phòng, chống tiêu cực, trọng tâm là suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức”, “không chỉ đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực kinh tế mà quan trọng hơn phải chống tiêu cực trong cả lĩnh vực tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; đây mới là cái gốc, cái cơ bản cần phải chống”; “khẩn trương rà soát, bổ sung, hoàn thiện thể chế về kiểm soát quyền lực trong các lĩnh vực, hoạt động dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực; trách nhiệm người đứng đầu, trách nhiệm giải trình, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch; các quy định và chế tài xử lý đối với tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; cơ chế bảo vệ, khuyến khích người dân phản ánh, tố giác cán bộ, đảng viên tham nhũng, tiêu cực”…

Không chỉ đề cao giáo dục đạo đức, Tổng Bí thư đã nhiều lần khẳng định cần “nhốt quyền lực vào lồng cơ chế”. Ngay ở những trang mở đầu của cuốn sách, tác giả đã viết: “Hoàn thiện cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để không thể tham nhũng, tiêu cực; phát hiện, xử lý kịp thời nghiêm minh các hành vi tham nhũng, tiêu cực; đẩy mạnh cải cách hành chính tiền lương, nâng cao đời sống của cán bộ, công chức, viên chức; xây dựng văn hóa liêm chính, tiết kiệm để không cần, không muốn tham nhũng, tiêu cực”.

Không chỉ đề cao giáo dục đạo đức, Tổng Bí thư đã nhiều lần khẳng định cần “nhốt quyền lực vào lồng cơ chế”. Ngay ở những trang mở đầu của cuốn sách, tác giả đã viết: “Hoàn thiện cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để không thể tham nhũng, tiêu cực; phát hiện, xử lý kịp thời nghiêm minh các hành vi tham nhũng, tiêu cực; đẩy mạnh cải cách hành chính tiền lương, nâng cao đời sống của cán bộ, công chức, viên chức; xây dựng văn hóa liêm chính, tiết kiệm để không cần, không muốn tham nhũng, tiêu cực”.

Đây chính là quá trình hoàn thiện cơ chế, chính sách, luật pháp để công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ngày càng đồng bộ, hiệu quả chứ không phải như những luận điệu xuyên tạc rằng Đảng và Tổng Bí thư chỉ hô hào chung chung về đạo đức. Những nội dung được người lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam gửi gắm trong cuốn sách này không chỉ là thông điệp tới cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân mà còn là thông điệp và cam kết mạnh mẽ trước cộng đồng quốc tế về quyết tâm phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước Việt Nam./.


 HỌP BÁO CHÍNH PHỦ: CƯƠNG QUYẾT THU HỒI NHÀ Ở XÃ HỘI MUA BÁN KHÔNG ĐÚNG ĐỐI TƯỢNG

Chiều ngày 3/6, tại Họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 5/2023, trả lời câu hỏi của báo giới về tình trạng nhiều đối tượng trung gian, cò mồi lợi dụng sự khan hiếm của nhà ở xã hội để bán kiếm tiền chênh lệch tại một số dự án nhà đang triển khai, dẫn tới sự gia tăng áp lực về chi phí với người lao động, người thu nhập thấp, làm giảm sút niềm tin của họ vào chính sách nhân văn về nhà ở xã hội, Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Văn Sinh đã thông tin về các giải pháp để chấn chỉnh tình trạng này việc tăng cơ hội sở hữu nhà ở xã hội cho người có thu nhập thấp.

Theo Thứ trưởng Nguyễn Văn Sinh, chính sách nhà ở xã hội được Đảng, Nhà nước quan tâm. Chính phủ và Thủ tướng có nhiều chỉ đạo, xác định đây là chính sách nhân văn, lo chỗ ở cho lượng lớn người lao động thu nhập thấp. Vừa qua, các quy định liên quan đến chính sách về nhà ở xã hội được quan tâm với nhiều chính sách ưu đãi, tạo điều kiện cho người thu nhập thấp tiếp cận nhà ở xã hội tốt hơn.

Bên cạnh việc ban hành các chính sách ưu đãi, Quốc hội, Chính phủ cũng đã ban hành văn bản quy định pháp luật xác định rõ đối tượng thụ hưởng và điều kiện, tiêu chí công khai, minh bạch, rõ ràng để người thu nhập thấp được hưởng ưu đãi của các chính sách này, tránh trục lợi chính sách.

Thông tin về đối tượng được mua nhà ở xã hội, Thứ trưởng Nguyễn Văn Sinh cũng cho biết, về điều kiện mua nhà ở xã hội, đó là phải đáp ứng đủ các điều kiện về nhà ở (chưa có nhà ở hoặc có nhà ở nhưng diện tích bình quân <10m2/người); về cư trú phải có đăng ký hộ khẩu thường trú hoặc xác nhận đăng ký tạm trú và giấy xác nhận đóng bảo hiểm xã hội từ 1 năm trở lên tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội; về thu nhập phải không thuộc diện nộp thuế thu nhập cá nhân tức là ≤ 11 triệu sau khi giảm trừ gia cảnh 4,4 triệu/người. Mỗi hộ gia đình, cá nhân chỉ được giải quyết hỗ trợ mua nhà ở xã hội một lần.


HOÀN THIỆN ĐỊNH HƯỚNG BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 TCCS - Hoàn thiện định hướng bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới là một trong những vấn đề lớn, hệ trọng, liên quan đến vận mệnh, tương lai của quốc gia - dân tộc. Trong tình hình mới, cần tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò, tầm quan trọng của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; tiếp tục bổ sung rõ hơn, rộng hơn, toàn diện hơn, nhất là những vấn đề mới về định hướng bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

1- Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là một thực thể hoàn chỉnh, thống nhất về mặt tự nhiên - lịch sử và chính trị - xã hội, bao gồm toàn bộ các yếu tố lãnh thổ, dân cư, các giá trị văn hóa, lịch sử, quyền dân tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa. Chính vì vậy, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là bảo vệ cả hai mặt tự nhiên - lịch sử và chính trị - xã hội trong một chỉnh thể thống nhất; bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa. Cương lĩnh (Bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng đã khẳng định: “mục tiêu, nhiệm vụ của quốc phòng, an ninh là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững hòa bình, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta”(1).
Trong 30 năm thực hiện Cương lĩnh 1991 và đặc biệt là hơn 10 năm thực hiện Cương lĩnh (Bổ sung, phát triển năm 2011), đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên nhiều lĩnh vực. Tình hình đất nước cơ bản ổn định, nhưng vẫn còn không ít khó khăn, thử thách đan xen. Đại hội XIII của Đảng nhận định “tình hình thế giới và khu vực tiếp tục có nhiều thay đổi rất nhanh, phức tạp, khó lường. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song cũng đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn, thách thức. Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển, nhưng cũng đang bị đe dọa bởi sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, cạnh tranh chiến lược, cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại diễn ra gay gắt. Do tác động của đại dịch COVID-19, thế giới rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng nhiều mặt. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, mang đến cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia. Các nước điều chỉnh chiến lược và phương thức phát triển nhằm thích ứng với tình hình mới. Khu vực châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục có vị trí chiến lược ngày càng quan trọng. Tại Đông Nam Á, môi trường an ninh, tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông còn diễn biến phức tạp. Biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh và các vấn đề an ninh phi truyền thống khác, nhất là an ninh mạng, ngày càng tác động mạnh mẽ, nhiều mặt, đe dọa nghiêm trọng đến sự phát triển ổn định, bền vững của thế giới, khu vực và đất nước ta”(2).
Bên cạnh đó, sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức; sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch với các âm mưu, thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc, như “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, can thiệp từ bên ngoài kết hợp gây mất ổn định từ bên trong, lợi dụng, kích động vấn đề dân tộc, nhân quyền, tôn giáo hòng chống phá ta trên các lĩnh vực, tạo dựng lực lượng chống đối nhằm thủ tiêu chế độ, hạ thấp vai trò lãnh đạo, uy tín của Đảng,... Đứng trước những khó khăn, thách thức nêu trên, việc bổ sung rõ hơn, rộng hơn, toàn diện hơn về định hướng bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới là vấn đề hệ trọng và cấp thiết.
2- Để hoàn thiện định hướng bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, các cấp ủy, chính quyền, hệ thống chính trị và toàn Đảng, toàn dân và toàn quân cần nhận thức và thực hiện một số giải pháp cơ bản, trọng yếu sau:
Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, kiên quyết, kiên trì thực hiện đường lối, quan điểm, tư duy mới của Đảng về bảo vệ Tổ quốc, lấy đó làm kim chỉ nam cho việc hoàn thiện định hướng bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Đây là vấn đề quan trọng bậc nhất, có ý nghĩa quyết định đến thành bại của việc thực thi định hướng bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Trong quá trình thực hiện Cương lĩnh chính trị, trên cơ sở đánh giá đúng tình hình thế giới, khu vực và trong nước, với tầm nhìn chiến lược và tư duy khoa học, nhạy bén, Đảng ta đã đề ra đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(3). Như vậy, mục tiêu, yêu cầu và nhiệm vụ của quốc phòng, an ninh tiếp tục được Đảng ta khẳng định nhất quán, xuyên suốt, nhưng có sự bổ sung rõ hơn, toàn diện hơn cả về nội hàm và phạm vi bảo vệ. Điểm nhấn ở đây được Văn kiện lần này chỉ rõ: Mục tiêu bảo vệ Tổ quốc không đơn thuần là để ứng phó với chiến tranh; mà vấn đề quan trọng và thiết yếu hơn là, tạo ra sức mạnh để giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình, nhằm xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa(4); phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, có thu nhập cao. Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng, là sự vận dụng nhuần nhuyễn lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; bảo vệ phải gắn với xây dựng Tổ quốc, xây dựng phải đi đôi với bảo vệ Tổ quốc. Mục tiêu của bảo vệ Tổ quốc là để giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho xây dựng và phát triển đất nước; xây dựng, phát triển đất nước sẽ tác động trở lại tạo cơ sở, tiền đề bảo vệ vững chắc Tổ quốc; giải quyết mối quan hệ biện chứng sâu sắc giữa việc bảo vệ Tổ quốc về mặt tự nhiên - lịch sử với việc bảo vệ Tổ quốc về mặt chính trị - xã hội trong tính chỉnh thể thống nhất; chỉ rõ hướng đích phát triển đất nước là theo định hướng xã hội chủ nghĩa; vì vậy, phải gắn chặt việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ với bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; phải gắn chặt việc giữ vững ổn định chính trị - xã hội với bảo vệ môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Mục tiêu nêu trên đã khẳng định rõ lập trường và ý chí của toàn dân tộc quyết tâm, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Nhờ đó, tạo ra sức mạnh tổng hợp to lớn trên cơ sở phát huy cao độ sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế, phát huy nội lực với tranh thủ ngoại lực, chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hòa bình, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội để xây dựng và phát triển đất nước.
Hai là, bổ sung nhận thức mới về phương châm bảo vệ Tổ quốc.
Phương châm chỉ đạo việc thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh bảo vệ vững chắc Tổ quốc là vấn đề rất quan trọng, là cơ sở để xác định đúng mục tiêu, phương thức, cách thức để bảo vệ sự bất khả xâm phạm của quốc gia, bảo vệ lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Một số nội dung trọng yếu cần được bổ sung là: nắm chắc tình hình và giải quyết đồng bộ các vấn đề do thực tiễn đặt ra; dự báo đúng tình hình thế giới, khu vực, tình hình trong nước và từng địa bàn cụ thể; chủ động nhận diện những thách thức quốc phòng, an ninh, các tình huống xảy ra; đưa ra các định hướng hành động chính xác, kịp thời, linh hoạt để đối phó hiệu quả với mọi tình huống, không để bị động, bất ngờ. Mục tiêu tối ưu của việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc chính là ngăn ngừa, đẩy lùi và đập tan các nguy cơ xung đột, bất ổn, sẵn sàng ứng phó và ứng phó thành công trong mọi tình huống.
Đảng ta xác định, ““chủ động phòng ngừa” là chính. Ứng phó kịp thời, hiệu quả với các đe dọa an ninh phi truyền thống, nhất là nhiệm vụ cứu nạn, cứu hộ, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh. Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế”(5). Đây là sự kế thừa, vận dụng sáng tạo bài học kinh nghiệm “giữ nước từ lúc chưa nguy”, phát triển tư tưởng bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa” để xác định rõ phương thức, giải pháp “chủ động phòng ngừa” là chính. Điều đó thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược của Đảng về quốc phòng, an ninh trong tình hình mới, nhằm chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi, giải tỏa các “điểm nóng”, các nguy cơ dẫn đến xung đột vũ trang; nhất là việc chủ động ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống đang ngày càng gia tăng và đe dọa trực tiếp đối với an ninh quốc gia và toàn cầu hiện nay. Đồng thời, nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện nội dung, hình thức, biện pháp kết hợp đấu tranh quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Chủ động phát hiện, kiên quyết đấu tranh với những tư tưởng, hành động sai trái, thù địch, xuyên tạc, mưu toan hạ thấp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với việc giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Tích cực, chủ động hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực trên tinh thần Việt Nam “là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”(6). Vấn đề đặt ra là, Việt Nam cần chú trọng hợp tác song phương với các đối tác, đưa khuôn khổ quan hệ đã xác lập vào thực chất, đạt hiệu quả thiết thực. Tiếp tục xây dựng lòng tin với các nước, ưu tiên quan hệ, hợp tác quốc phòng với các nước láng giềng, liền kề, các nước lớn, các nước trong khu vực ASEAN và các nước bạn bè truyền thống; đồng thời, mở rộng quan hệ hợp tác với các nước có tiềm năng, thúc đẩy quan hệ với các đối tác lớn, đối tác quan trọng... Chủ động, tích cực tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh mà nước ta là thành viên, trước hết là cơ chế trong khuôn khổ ASEAN và do ASEAN giữ vai trò chủ đạo. Mục đích cao nhất trong quan hệ đối ngoại là phục vụ lợi ích quốc gia - dân tộc, theo đó, trong quan hệ đối ngoại với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực, tuyệt đối không để Việt Nam rơi vào thế bị bao vây, cô lập, bị động, bất ngờ, đặc biệt là rơi vào trạng thái đối đầu có thể dẫn đến xung đột. Giải quyết quan hệ hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế, khu vực trên tinh thần “hợp tác vì hòa bình và phát triển bền vững, cùng nhau giải quyết các vấn đề chung của khu vực và toàn cầu, các xung đột, tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi”(7). Tiếp tục nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trong việc giải quyết những vấn đề chung, xây dựng lòng tin chiến lược, hướng đến hòa bình và ổn định trong khu vực và trên thế giới.
Bên cạnh đó, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng cũng xác định: “xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân. Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại”(😎. Quan điểm trên thể hiện sự nhất quán với các quan điểm trước đó của Đảng, nhưng có sự nhấn mạnh rõ hơn, đó là phát huy mạnh mẽ và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân; coi đó là một trong những phương thức hữu hiệu để bảo vệ Tổ quốc. Ở đây, nét mới trong phương thức, giải pháp bảo vệ Tổ quốc là Đảng ta đã đặt các thành tố kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh trong một chỉnh thể gắn kết, thống nhất. Đây cũng là bước phát triển, bổ sung mới về phương thức bảo vệ Tổ quốc, làm tăng khả năng phát huy nội lực, tiềm năng, bản sắc và truyền thống của dân tộc Việt Nam trong bảo vệ Tổ quốc cũng như trong xây dựng đất nước hiện nay; phát huy và làm sâu sắc thêm tính chất toàn dân, toàn diện của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Xét trong tính tổng thể, các phương thức đấu tranh bảo vệ Tổ quốc được sử dụng một cách tổng hợp, linh hoạt, mềm dẻo, đặt trong mối quan hệ và sự tương tác lẫn nhau để huy động sức mạnh tổng hợp và vai trò của mọi lĩnh vực, mọi lực lượng để bảo vệ Tổ quốc.
Ba là, cùng với việc bảo đảm ổn định chính trị, đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh, đối ngoại, cần tăng cường công tác tư tưởng trong toàn Đảng và trong xã hội.
Thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho toàn dân về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; nhận thức rõ và vạch trần những âm mưu, thủ đoạn chống phá, hoạt động nguy hại của các thế lực thù địch. Tăng cường bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho đội ngũ cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang và cho toàn dân. Lựa chọn nội dung và đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, giáo dục, phổ biến chính sách, pháp luật phù hợp với từng đối tượng, từng địa bàn. Chủ động trong cuộc đấu tranh tư tưởng làm thất bại âm mưu chống phá của các thế lực thù địch và hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc để chống phá, lôi kéo người dân tham gia.
Bốn là, bổ sung định hướng về phương thức tác chiến để bảo vệ Tổ quốc, sẵn sàng đối phó kịp thời với chiến tranh kiểu mới, chiến tranh công nghệ cao.
Thường xuyên theo dõi, nghiên cứu, nắm chắc sự phát triển của các hình thức chiến tranh công nghệ cao, chiến tranh kiểu mới. Nghiên cứu, giải quyết đồng bộ các vấn đề chiến lược, từ quan điểm, nguyên tắc, phương thức và nội dung, cách thức tác chiến. Trên cơ sở đó, tập trung tổ chức xây dựng lực lượng, vũ khí, trang bị, xây dựng, phát triển công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh hiện đại và ứng dụng công nghệ cao, nghiên cứu sản xuất các trang bị, vũ khí hiện đại.
Trong điều kiện mới, chiến tranh nhân dân là phương thức hữu hiệu để đối phó với chiến tranh công nghệ cao, chiến tranh kiểu mới; trang bị, vũ khí hiện đại là quan trọng, không thể thiếu, nhưng vấn đề trọng yếu và cốt tử vẫn là nhân tố con người. Cần bồi dưỡng, đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang có bản lĩnh chính trị, trình độ nắm bắt, khai thác, làm chủ khoa học, công nghệ, vũ khí, trang bị hiện đại. Chú trọng hiện đại hóa, trí tuệ hóa nguồn nhân lực của lực lượng vũ trang. Phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam trong điều kiện mới trên cơ sở tiếp thu, ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ và có những giải pháp hữu hiệu trong phòng, chống chiến tranh công nghệ cao, chiến tranh kiểu mới.
Năm là, xác định rõ thêm về đối tác, đối tượng.
Để xác định rõ thêm về đối tác, đối tượng, đồng minh, trước hết phải tuân thủ nghiêm các nguyên tắc: Tuân thủ sự lãnh đạo của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước, phục vụ lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc; nâng cao cảnh giác, bảo đảm bí mật quốc gia. Việc xác định đối tượng không nêu rõ đích danh mà thông qua mô tả nội dung, hành động để nhận thức cho đúng. Các đối tượng cơ bản gồm: 1- Thế lực hiếu chiến, đồng minh và tay sai là đối tượng cơ bản, lâu dài; 2- Thế lực nước ngoài có tham vọng, hành động xâm phạm chủ quyền lãnh thổ, lợi ích quốc gia của Việt Nam là đối tượng trực tiếp, nguy hiểm, lâu dài; 3- Tổ chức phản động trong và ngoài nước, lực lượng cơ hội, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống sẵn sàng câu kết, tiếp tay cho thế lực bên ngoài, là đối tượng nguy hiểm. Trên cơ sở như vậy, phải vừa xác định một cách khách quan, toàn diện về đối tượng bên ngoài trong từng tình huống, vừa chỉ rõ sự nguy hiểm của đối tượng bên trong. Phải cảnh giác, nắm rõ tình hình, kịp thời phát hiện âm mưu, hành động của đối tượng; vừa hợp tác, vừa đấu tranh, tranh thủ mặt đồng thuận, hạn chế mặt đối lập, thêm bạn, bớt thù, tránh bị cô lập, kịp thời ngăn chặn và phá vỡ những liên minh gây chiến tranh xâm lược đất nước.
Về vấn đề đồng minh, liên minh cần xác định rõ trong sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, nếu dựa vào nước lớn này làm đồng minh, liên minh thì sẽ trở thành đối tượng chiến lược, đối đầu với nước lớn khác. Vì vậy, một mặt, chúng ta kiên định chính sách “bốn không”, thêm bạn, bớt thù; hài hòa quan hệ với các nước lớn, thiết lập, củng cố quan hệ với tất cả các nước, nhất là các đối tác chiến lược, hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, gia tăng sự đan xen lợi ích chung với nhiều nước, tạo sự ủng hộ giúp đỡ quốc tế; ngăn ngừa nguy cơ và đối phó thắng lợi với các hình thái chiến tranh xâm lược(9); mặt khác, “đẩy mạnh đối ngoại song phương và nâng tầm đối ngoại đa phương. Chủ động tham gia và phát huy vai trò của Việt Nam tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là ASEAN, Liên hợp quốc, APEC, hợp tác tiểu vùng Mê Công và các khuôn khổ hợp tác khu vực và quốc tế”(10), tạo thế đan xen lợi ích và tăng độ tin cậy. “Chủ động, tích cực tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh theo tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc”(11). Đây là biện pháp ngoại giao thiết thực để bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc chân chính theo mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Sáu là, bổ sung về định hướng bảo vệ chủ quyền biển, đảo.
Đại hội XIII của Đảng xác định: “kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển”(12). Do đó, cần xác định, nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp và mọi mặt của Đảng, thường xuyên, trực tiếp là của Bộ Chính trị, Ban Bí thư; sự quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước; sự tham gia của toàn dân, trong đó lực lượng vũ trang đóng vai trò nòng cốt.
Để bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc, cần đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tạo sự đồng thuận, thống nhất cao về tư tưởng, hành động của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và của cả hệ thống chính trị trong việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Thực hiện tốt nội dung này, các đơn vị hải quân, cảnh sát biển, biên phòng đóng quân ở địa phương ven biển và các đảo cần kết hợp chặt chẽ với địa phương và cơ quan tuyên giáo xây dựng kế hoạch, tổ chức bồi dưỡng báo cáo viên, biên soạn, phát hành tài liệu tuyên truyền sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân, nhất là cư dân sinh sống ở ven biển, trên đảo, ngư dân làm ăn trên biển, kiều bào ta ở nước ngoài. Đặc biệt, cần thông tin kịp thời, minh bạch, chính xác để mọi người dân trong nước, người Việt Nam ở nước ngoài và nhân dân thế giới hiểu cơ sở pháp lý, chứng cứ lịch sử và sự chiếm hữu thực tế của Việt Nam trên các vùng biển, đảo ở Biển Đông; hiểu rõ quan điểm, lập trường của Đảng, Nhà nước ta về giải quyết vấn đề chủ quyền trên Biển Đông; từ đó, xây dựng niềm tin, ý chí quyết tâm, đồng thuận của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của nhân dân thế giới để bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo và các hoạt động kinh tế biển.
Xây dựng lực lượng bảo vệ chủ quyền, thực thi pháp luật trên biển vững mạnh, chủ động bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia, lợi ích quốc gia, dân tộc trên biển từ sớm, từ xa. Tận dụng thời cơ, phát huy, khai thác lợi thế của các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao, khoa học - công nghệ; phát huy tinh thần yêu nước, đại đoàn kết dân tộc, huy động cao nhất các nguồn lực, sức sáng tạo của các tầng lớp nhân dân xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân vững mạnh, tiềm lực, lực lượng, thế trận quốc phòng, an ninh trên biển vững chắc, sẵn sàng bảo vệ chủ quyền biển, đảo từ sớm, từ xa. Xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, sớm đưa nước ta trở thành quốc gia trong khu vực mạnh về kinh tế biển, gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và hợp tác quốc tế theo Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 22-10-2018, “Về chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”.
Xây dựng lực lượng quản lý, bảo vệ biển, đảo vững mạnh về mọi mặt. Việc tập trung nỗ lực xây dựng lực lượng quản lý biển, đảo và các hoạt động kinh tế biển, nhất là lực lượng hải quân, cảnh sát biển, biên phòng, dân quân tự vệ biển và lực lượng kiểm ngư vững mạnh, đủ sức hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao là yêu cầu bức thiết hiện nay. Trong đó, hải quân nhân dân Việt Nam là lực lượng chuyên trách hoạt động trên biển, giữ vai trò quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ các vùng biển, đảo của Tổ quốc, cần được ưu tiên đầu tư xây dựng theo hướng hiện đại hóa và có chính sách đãi ngộ thỏa đáng, đặc biệt là lực lượng thường xuyên tuần tra trên biển và chốt giữ các đảo xa bờ. Cảnh sát biển Việt Nam là lực lượng chuyên trách quản lý, duy trì thực thi pháp luật trên biển, cần được tiếp tục củng cố, hoàn thiện về tổ chức, biên chế, tăng cường trang bị hiện đại, bảo đảm đủ sức hoàn thành nhiệm vụ trước mắt và lâu dài. Bộ đội Biên phòng cần được đầu tư đủ trang thiết bị kỹ thuật, phương tiện cơ động, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ giữ gìn an ninh, trật tự, cứu hộ, cứu nạn, chống buôn lậu và các tệ nạn xã hội trên các vùng biển. Dân quân tự vệ biển được xây dựng theo phương châm vững mạnh, rộng khắp, ở đâu có tàu, thuyền, ngư dân hoạt động và dân cư sinh sống trên đảo thì ở đó có dân quân tự vệ biển; tổ chức biên chế phù hợp với đặc điểm của từng địa phương, bảo đảm thành ba tuyến: ven bờ, lộng, khơi; coi trọng lực lượng hoạt động trên biển. Kiểm ngư là lực lượng được tổ chức chặt chẽ, hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ, nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý các vi phạm của tàu thuyền nước ngoài; hỗ trợ ngư dân, bảo đảm an ninh, trật tự và có vai trò quan trọng trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền trên các vùng biển của Tổ quốc.
Kiên quyết, kiên trì giải quyết tranh chấp trên biển, đảo bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Là thành viên của Liên hợp quốc, của Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 cũng như tuyên bố của các bên về cách ứng xử trên Biển Đông (DOC), Việt Nam luôn tuân thủ các quy định của luật pháp quốc tế; kiên trì con đường giải quyết các vấn đề nảy sinh bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau; thông qua đàm phán, thương lượng, nhằm tìm kiếm giải pháp cơ bản, lâu dài, đáp ứng lợi ích chính đáng của tất cả các bên liên quan vì độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, vì hòa bình, ổn định khu vực và quốc tế.
Theo tinh thần đó, những vấn đề còn đang bất đồng, tranh chấp song phương thì giải quyết song phương; những vấn đề tranh chấp liên quan đến nhiều bên thì giải quyết đa phương và phải công khai, minh bạch giữa các bên có liên quan. Trong khi nỗ lực xử lý các vấn đề nảy sinh ở Biển Đông bằng biện pháp hòa bình, cần kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ những lợi ích chính đáng của nước ta trên biển với quyết tâm “Việt Nam quyết không để một tấc đất, tấc biển nào bị xâm phạm”; kiên trì tìm kiếm một giải pháp lâu dài và yêu cầu các bên liên quan kiềm chế, không có hoạt động làm phức tạp thêm tình hình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, tuân thủ cam kết giải quyết bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 và 5 nguyên tắc chung sống hòa bình, tăng cường nỗ lực xây dựng lòng tin, hợp tác đa phương về an ninh biển, nghiên cứu khoa học, chống tội phạm; cùng nhau thực hiện nghiêm chỉnh DOC, hướng tới xây dựng Bộ quy tắc ứng xử giữa các bên trên Biển Đông (COC), để Biển Đông thực sự là vùng biển hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác và phát triển./.
ST