Thứ Hai, 5 tháng 6, 2023

Nhà tưởng niệm Bác Hồ ở Trường Sa

 Công trình Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đảo Trường Sa (huyện Trường Sa, Khánh Hòa) được xây dựng ở vị trí trung tâm của đảo, nằm gần đường băng, không gian thoáng đãng, trở thành địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ và các đoàn khách đến thăm đảo.

Mới đây, chúng tôi có dịp theo đoàn công tác số 8 của Quân chủng Hải quân và các địa phương dâng hương và tham quan Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đảo Trường Sa. Hòa vào dòng người về tưởng nhớ Bác, chị Phạm Thị Thúy Phương đến từ Hà Nội tâm sự: “Tôi thực sự rất may mắn khi được theo đoàn ra thăm đảo. Vượt hải trình hàng trăm hải lý, được đến dâng hương tưởng nhớ Bác ngay trên đảo Trường Sa xa xôi, ai cũng cảm thấy rất xúc động. Hình ảnh Bác Hồ thật gần gũi và ấm áp trong tim, nhắc nhở mình phải sống sao cho xứng đáng như những lời Người căn dặn”. 

Công trình Nhà tưởng niệm Bác Hồ do tỉnh Nghệ An đầu tư, xây dựng ở vị trí trung tâm đảo Trường Sa, thuộc thị trấn Trường Sa (huyện Trường Sa, Khánh Hòa). Công trình có diện tích khoảng 800m2, được khánh thành và đưa vào sử dụng năm 2010, đúng vào dịp kỷ niệm 120 năm Ngày sinh nhật Bác. 

Nhìn từ trên cao, Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh như một đóa sen nở giữa biển trời bao la, đầy nắng gió. Công trình gồm 5 hạng mục chính: Khu tưởng niệm, nhà bia, tháp chuông, gian trưng bày và khuôn viên ngập tràn cây xanh. Trong nhà tưởng niệm đặt bức tượng đồng nặng gần 1 tấn, tạo hình Bác ngồi trên ghế; phía trên là cờ Đảng, cờ Tổ quốc và dòng chữ “Không có gì quý hơn Độc lập - Tự do”.

Khu tưởng niệm còn có các linh vật bằng đồng, như: Hạc, rùa… Phía trước, hai bên gian thờ bố trí các tủ trưng bày hình ảnh về thân thế, cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh; những năm tháng hoạt động cách mạng của Bác qua các thời kỳ cách mạng; hình ảnh Bác với quê hương Nghệ An, với bộ đội Hải quân và các đồng chí lãnh đạo, các tầng lớp nhân dân…

Đặc biệt, hai bên gian thờ trưng bày đối xứng câu nói bất hủ của Bác Hồ trong cuộc gặp các cán bộ Đại đoàn 308 (Đại đoàn Quân Tiên Phong), tại Đền Giếng (thuộc Khu Di tích lịch sử Đền Hùng - Phú Thọ): “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”; nổi bật tại tủ trưng bày hình ảnh Bác Hồ với bộ đội Hải quân là lời Người căn dặn: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng, ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp. Ta phải biết giữ gìn lấy nó” - như lời nhắc nhở các thế hệ hôm nay phải ra sức xây dựng và bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Đã nhiều lần cùng đồng đội đến dâng hương Nhà tưởng niệm, Trung sĩ Tô Thái Dương, Khẩu đội trưởng (đảo Trường Sa), quê ở thành phố Vinh, Nghệ An bộc bạch: “Mỗi dịp lễ, Tết, đơn vị đều tổ chức đến dâng hương Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đến đây, chúng em cảm thấy rất gần gũi và ấm cúng. Được xem những tư liệu hình ảnh về cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác, chúng em hiểu thêm về Người, về sự quan tâm đặc biệt và tình cảm bao la của Bác dành cho nhân dân và bộ đội Hải quân. Thêm tự hào về Bác, về quê hương xứ Nghệ, từ đó quyết tâm học tập và làm theo Bác, phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ”.

Theo Thượng tá Nguyễn Công Chính, Chính trị viên đảo Trường Sa: Hằng năm, Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh đón khoảng gần 4.000 lượt khách đến tham quan. Công trình có ý nghĩa đặc biệt, là nơi tưởng nhớ công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh; đồng thời khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa; đây cũng là nơi sinh hoạt chính trị tư tưởng, địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống cho bộ đội và nhân dân trên đảo. Từ đó giúp mọi người nhận thức sâu sắc thêm trách nhiệm của mình, tự giác học tập, rèn luyện, theo gương Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Được biết, hằng năm, ngoài quân, dân trên đảo đến thắp hương tưởng nhớ Bác, Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đảo Trường Sa còn đón hàng chục đoàn khách Trung ương, địa phương, quân đội, các doanh nghiệp, đoàn khách trong nước và kiều bào nước ngoài ghé thăm. Đây cũng là điểm đến thân thuộc của ngư dân đánh bắt hải sản trong khu vực quần đảo Trường Sa mỗi lần đưa tàu vào tránh trú bão hay sử dụng dịch vụ hậu cần nghề cá trên đảo. Quân và dân mỗi lần đến đây đều khắc sâu lời Bác dạy, thêm vững niềm tin, quyết tâm bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. 

 

Bài học sâu sắc từ những lần sinh nhật Bác Hồ

 Sự từ chối những lễ nghi phiền phức, không muốn tốn kém thời giờ, tiền bạc của nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong dịp kỷ niệm ngày sinh của mình thể hiện đức tính khiêm tốn, giản dị, cần kiệm, liêm chính, những phẩm chất đáng quý của người công bộc, “đầy tớ” của nhân dân. Nhân cách ấy, sự cao thượng ấy càng làm cho hình ảnh Bác Hồ trở nên cao đẹp và sáng ngời trong lòng nhân dân Việt Nam và bè bạn quốc tế.

Hôm nay đồng bào cho tôi nhiều hoa bánh. Những thứ đó đáng giá cả. Nhưng xin đồng bào nghĩ đến các đồng bào nghèo khó, hơn là hao phí cho tôi"(1). Chỉ riêng những dòng cảm xúc chân tình, giản dị mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nói với đồng bào nhân dịp kỷ niệm ngày sinh nhật Người (ngày 19-5-1946) cũng đã để lại cho chúng ta bài học sâu sắc về sự khiêm tốn, tiết kiệm và tinh thần yêu nước thương dân của vị lãnh tụ kính yêu. Những năm sau đó, vì không muốn tốn kém thời giờ, tiền bạc của nhân dân trong lúc đời sống và cuộc chiến đấu của nhân dân còn khó khăn, gian khổ…, Bác thường dặn trước các địa phương, các cơ quan là không nên tổ chức chúc thọ linh đình. Những lẵng hoa tươi đẹp, những món quà các nơi gửi đến, Bác đều dặn chuyển tặng cho các đơn vị bộ đội, công an, thanh niên xung phong hay các cá nhân anh hùng, chiến sĩ thi đua... Vào những dịp kỷ niệm sinh nhật, Bác tranh thủ đi thăm các nơi, Bác muốn dành thời gian để lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của dân, để chia sẻ, cổ vũ các ngành, các đoàn thể, các địa phương và từng cá nhân hăng say lao động, lập thành tích thi đua trong chiến đấu, lao động, sản xuất… Đó không chỉ là tác phong sâu sát mà còn là thái độ “yêu dân, kính dân”, “gắn bó máu thịt với nhân dân”. Và chắt lọc từ những câu chuyện tưởng là nhỏ ấy, chúng ta thấy được bao nhiêu điều lớn lao để suy nghĩ, để học theo Bác và làm theo Bác.

Câu chuyện về ngày sinh nhật Bác 19-5-1948 ở chiến khu Việt Bắc mà đồng chí Vũ Kỳ, thư ký của Bác kể lại cũng chính là một câu chuyện nhỏ nhưng mang ý nghĩa lớn lao như thế. Trong bữa ăn ngày hôm đó, đồng chí Vũ Kỳ có tâm sự với Bác một số vấn đề về đoàn kết của bộ phận phục vụ và thưa với Bác rằng: “Cháu làm việc với Bác đã khá lâu, nhưng chưa một lần nào cháu thấy Bác nặng lời với cháu. Thế mà chỉ mấy anh em, thỉnh thoảng chúng cháu lại cứ cáu gắt nhau”. Bác vừa ăn vừa nghe đồng chí Vũ Kỳ nói, rồi ôn tồn bảo: “Chú làm việc với Bác lâu, thì Bác làm việc với chú cũng lâu chứ, thế mà Bác có thấy bao giờ chú cáu gắt với Bác đâu!”. Đồng chí Vũ Kỳ đang ngỡ ngàng với cách đặt vấn đề của Bác thì đã nghe Bác nói tiếp, vẫn với giọng hiền từ: “Hai Bác cháu ta có gì khó khăn thì bàn bạc với nhau, cùng giải quyết, việc gì phải nặng lời, việc gì mà phải cáu gắt. Đó chính là do Bác tôn trọng chú, chú tôn trọng Bác. Vì vậy, chú cứ tự nghĩ xem, trong quan hệ công tác, các chú đã thật sự tôn trọng nhau chưa? Theo Bác, sở dĩ các chú hay cáu gắt với nhau cái chính là do các chú chưa tôn trọng nhau đúng mức”. Những lời Bác nói thật giản dị, ân tình, nhắc nhở người cán bộ, đảng viên trước hết phải có tâm trong sáng, có văn hóa, bình tĩnh trong xử sự công việc, khoan dung, độ lượng trong ứng xử, giao tiếp với nhau. Đồng chí Vũ Kỳ càng ngẫm nghĩ càng thấy thấm thía. Nóng nảy, cáu gắt đâu phải là cá tính? Nếu là cá tính thì tại sao thường chỉ nóng với cấp dưới chứ không bao giờ dám nóng với cấp trên?

Câu chuyện vẫn chưa dừng lại ở đó. Bữa ăn có thêm món chuối tiêu tráng miệng do tự tay Bác trồng. Lúc ngồi vào bàn ăn, Bác đã thân mật dặn đồng chí Vũ Kỳ ăn cơm vừa phải còn để bụng mà ăn chuối tiêu. Vừa ăn chuối Bác vừa hỏi:

“Chú thấy bánh ga tô có ngon không?

Thưa Bác, ngon lắm ạ!

Thế Bác mời chú ăn cơm, không nói cho chú biết là sẽ có bánh ga tô tráng miệng, cứ để chú ăn no căng bụng, thì lúc ăn bánh ga tô còn ngon nữa không?

Thưa Bác lúc đó thì bớt ngon ạ!”.

Đồng chí Vũ Kỳ đang cố suy nghĩ xem Bác nói chuyện này để nhằm giáo dục vấn đề gì thì Bác lại tiếp tục hỏi:

“Bớt ngon mà Bác cứ bắt chú ăn, liệu chú có khó chịu không?

 Thưa Bác, khó chịu ạ!”

Bác cứ dẫn dắt như thế và Bác kết luận: “Bánh ga tô ngon nhưng ăn không đúng lúc cũng không ngon, ăn không đúng cách lại càng không ngon. Tự phê bình và phê bình cũng vậy. Phải đúng lúc và đúng cách. Và điều quan trọng là phải biết tôn trọng lẫn nhau”(2).

Chỉ qua một câu chuyện nhỏ về kỷ niệm sinh nhật Bác nhưng đọng lại cho chúng ta bài học sâu sắc: bài học về tình thương yêu con người và sự chân thành. Đó bài học của mọi bài học trong việc thu phục nhân tâm của Bác Hồ. Con người Bác Hồ, trước hết và sâu sắc nhất là con người của lòng nhân hậu, nhân ái. Nhân hậu từ mục tiêu suốt đời mà Người theo đuổi đến một việc làm bé nhỏ hàng ngày. Nhân hậu với mọi người và với cả những người lầm lỗi, mắc khuyết điểm.

 

Bác Hồ không chỉ yêu cái đẹp

 Nhiều người gọi Bác Hồ là nhà cách mạng, nhà tư tưởng, nhà quân sự, nhà giáo dục... Tuy vậy, như Bác tự nhận và gọi là “nhà cách mạng chuyên nghiệp” là đúng nhất vì ở Người có sự kết hợp rất đẹp giữa con người nghệ sĩ và con người chiến sĩ.

Là nhà nghệ thuật lớn nhưng Bác dùng nghệ thuật để hoạt động cách mạng, phục vụ cách mạng. Thế nên cuộc đời cách mạng của Bác hình thành những nguyên tắc độc đáo, đặc sắc: Cuộc sống hóa nghệ thuật và nghệ thuật hóa cuộc sống. Hai nguyên tắc này luôn song hành, tương ứng trong mối quan hệ biện chứng thống nhất đã góp phần tạo nên một tâm hồn nghệ sĩ Hồ Chí Minh vừa khác lạ vừa thân quen; vừa bình thường vừa phi thường; vừa phương Đông lại rất phương Tây; truyền thống, cổ điển mà hiện đại, mới mẻ.

Mỗi nghệ sĩ lớn thường có một quan niệm mỹ học riêng. Bác Hồ cũng vậy. Có lần, một nhạc sĩ băn khoăn hỏi thế nào là tác phẩm có tính dân tộc mà vẫn hiện đại, Bác nói luôn, đó là những sáng tác được nhân dân yêu thích. Một câu nói tuyệt vời, ngắn gọn, đúng và trúng vào vấn đề bản chất của nghệ thuật: Không chỉ là chủ thể sáng tạo, nhân dân cũng là chủ thể tiếp nhận nghệ thuật trí tuệ, tinh tế nhất. Còn toát lên một quan niệm biện chứng nghệ thuật bắt nguồn từ cuộc sống, thuộc về và phục vụ cuộc sống. Hệ mỹ học này hoàn toàn nhất quán với tư tưởng chung của Bác “trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân”.

Hẳn nhiên Bác rất yêu cái đẹp. Dân ta có câu “Người ta là hoa đất”. Xét đến cùng có gì đẹp hơn con người đâu, nên ở Bác có một tình yêu thương con người sâu nặng là hoàn toàn đúng với quy luật của mỹ học. Trong kháng chiến chống Pháp, giữa bộn bề việc quân việc nước, nhưng Bác vẫn ung dung tự tại như hòa vào thiên nhiên, sống cùng thiên nhiên đất trời Việt Bắc. Trên đường đi công tác, gặp cảnh đẹp, dù bận đến mấy Bác cũng cố dừng lại giây lát để thưởng thức. Bác ở và làm việc trong ngôi nhà 4 mái lợp bằng cỏ tranh giản dị, xinh xắn ở giữa khu rừng có núi vờn mây, có đồi tre trúc, có suối nước trong vắt róc rách 4 mùa. Lại có một khoảnh đất rộng để tăng gia, chơi bóng, ai vào cũng có cảm giác Phủ Chủ tịch là vùng đồng bằng thơ mộng. Không chỉ yêu quý cái đẹp, Bác còn là người sáng tạo ra cái đẹp. Tự tay Bác sửa sang chỗ ở, đào đất thành cái hồ nhỏ, lấy nhũ đá xếp thành non bộ cũng có hang, khe, đỉnh, có vách đá cheo leo. Một cái cầu bắc bằng cây lau từ bờ hồ ra chân núi. Xung quanh hồ trồng cây, cỏ trông như bức tranh sơn thủy hữu tình. Một con cò lửa được Bác tự đẽo bằng đá gan gà vươn cổ nhìn xuống hồ như đang rình bắt tép. Một chiếc thuyền gỗ nhỏ bồng bềnh trôi...

Bác đặc biệt thích hoa, thích nhất là hoa hồng và hoa huệ. Sau này về Thủ đô, nơi ở của Bác trồng rất nhiều hoa, trên bàn làm việc lúc nào cũng có hoa tươi. Tiễn khách quốc tế, Bác thường tặng một bông hồng. Những ngày cuối cùng trên giường bệnh, Bác nhắc thư ký tặng hoa cho các nữ y tá. Hoa là biểu trưng cho cái đẹp đã đi vào đời sống của Bác một cách tự nhiên nhất. Đó cũng là quy luật cái đẹp tìm đến với cái đẹp vậy. Điều đặc biệt là Bác tự tay trồng, chăm bón, yêu hoa đến mức nhớ rõ trong vườn có bao nhiêu bông hoa mà Bác nói vui là “hoa đoàn kết” các màu tím, đỏ, vàng, trắng...

Từng làm nghề thợ ảnh, vẽ truyền thần..., Bác còn là họa sĩ đích thực, là tác giả của nhiều bức tranh chống thực dân đế quốc in trên các báo Pháp như Nhân đạo, Người cùng khổ... được chính danh họa Picasso-bạn của Bác khen ngợi. Bác còn là một điêu khắc gia. Hồi ở Pác Bó, tự tay Bác tạc bức tượng Các Mác. Bác là nhà văn, tác giả của nhiều truyện ngắn và kịch viết bằng tiếng Pháp được nhiều học giả Pháp khẳng định đó là lối văn rất Pháp, tinh tế, hóm hỉnh. Thơ Bác đẹp, cái đẹp kết tinh từ nhiều mạch nguồn văn hóa, cái đẹp vượt qua đỉnh cao nghệ thuật để trở về với cái giản dị nhưng là sự giản dị của một “thần bút”. "Nhật ký trong tù" là bảo vật quốc gia của Việt Nam cũng là tài sản văn hóa của nhân loại, được dịch ra hàng chục thứ tiếng.

Chân dung, cuộc đời và sự nghiệp đậm chất huyền thoại của Bác lại hài hòa, thống nhất một cách tự nhiên, tất yếu trở thành đối tượng của nghệ thuật. Đã có bao tác phẩm văn, thơ, nhạc, họa, điêu khắc... với nhiều cách thể hiện nhưng chưa thể khai thác hết tầm cao, chiều sâu của một tâm hồn, một trí tuệ Việt Nam mang tầm thời đại. Ngay ở phương diện ngoại hình rất đẹp với vẻ tinh anh mà rất mực hiền từ của đôi mắt; giọng nói ấm và vang; chòm râu phất phơ; đôi dép lốp lạ lùng... đã hấp dẫn, mời gọi bao nghệ sĩ. Đến nay có thể khẳng định, mỗi chuyên ngành nghệ thuật đều có một thư viện riêng về Bác Hồ kính yêu!

 

Bác Hồ trong trái tim tôi

 Mỗi mùa sen thơm ngát đến với đất trời Thủ đô Hà Nội, tôi lại chọn những bông sen tươi còn lóng lánh sương mai thành kính dâng lên Bác Hồ. Người là ngọn đuốc soi đường cho dân tộc nói chung và cho chính bản thân tôi nói riêng.

Thuở ấu thơ, khi còn là học sinh lớp 4 ở khu phố Hai Bà Trưng (Hà Nội), tôi vinh dự được chọn là một trong những thành viên của đoàn thiếu niên, nhi đồng Thủ đô tham dự buổi liên hoan văn nghệ do Đoàn Ca múa Tân Cương (Trung Quốc) biểu diễn tại Hội trường Ba Đình vào chiều 17-3-1964. Kết thúc buổi biểu diễn, Bác Hồ lên sân khấu bắt tay, tặng hoa các diễn viên đoàn bạn và Bác nói chuyện: Các cô, các chú từ Tân Cương xa xôi đến đây, mang cho Bác cháu ta lời ca, điệu múa để Bác cháu ta hiểu thêm đất nước và nhân dân Trung Hoa anh em, thắt chặt hơn tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước, thiếu nhi hai nước.

Người căn dặn: Bác được biết các cháu đã cố gắng học tập tốt, lao động tốt, đoàn kết tốt. Bác mong các cháu sẽ cố gắng học tập, lao động và đoàn kết tốt hơn nữa để xứng đáng là thiếu nhi Thủ đô nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Cuối cùng, Bác bắt nhịp cho cả hội trường hát bài “Kết đoàn”.

Kỷ niệm về lần gặp Bác luôn là niềm tự hào trong câu chuyện tôi thường kể cho các bạn nghe. Chính vì vậy, khi được vinh dự đại diện tuổi trẻ Thủ đô Hà Nội đến viếng, dự Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh vào ngày 9-9-1969 tại Quảng trường Ba Đình, trái tim tôi như nghẹn lại, tôi òa khóc cùng các cô, các chú, các anh chị vì sự đau thương, mất mát của dân tộc và trong chính lòng mình... Tôi nguyện sẽ quyết tâm học tập và dấn thân theo con đường của Bác.

Gần một năm sau (năm 1970), tôi viết đơn tình nguyện và nhập ngũ vào Tiểu đoàn 38, Bộ tư lệnh Thủ đô. Sau một thời gian ngắn huấn luyện bộ binh, khi vào đến chiến trường, tôi được huấn luyện thêm và biên chế về Tiểu đoàn 84, Sư đoàn 968, Bộ tư lệnh Trường Sơn. Trong cuộc đời quân ngũ, tôi luôn khắc ghi lời Bác dạy và cùng đơn vị lập được nhiều chiến công trên tuyến vận tải chiến lược Tây Trường Sơn. Sau khi miền Nam được giải phóng, tôi theo đội hình Đại đội 21, Trung đoàn 39, Đoàn 565 Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam hỗ trợ các LLVT của nước bạn Lào phát động quần chúng nổi dậy giành chính quyền ở các tỉnh Nam Lào.

Năm 1973, gia đình tôi được Thủ tướng Chính phủ khen tặng “Bảng vàng danh dự” do gia đình có 3 con trai tham gia Quân đội nhân dân Việt Nam chống Mỹ, cứu nước và đều được kết nạp Đảng trong quân ngũ. Đó là các cựu chiến binh: Lê Võ Định Tường, sinh năm 1945, nhập ngũ năm 1968; Lê Võ Tiên Hưng, sinh năm 1949, nhập ngũ năm 1966 và Lê An Khánh, sinh năm 1953, nhập ngũ năm 1970.

Gần 60 năm đã trôi qua kể từ ngày được gặp Bác, nhưng những hình ảnh hiền từ, tình cảm ấm áp và những lời dạy bảo ân cần của Bác luôn là hành trang, động lực để bản thân tôi thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện và từng bước trưởng thành trên con đường trọn lòng với Đảng, với Bác.

 

Giới thiệu cuốn sách quý của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng xuất bản bằng 7 ngoại ngữ

 Chiều 19-5, tại Hà Nội, Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với Ban Chỉ đạo Công tác thông tin đối ngoại Trung ương và Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật tổ chức Lễ công bố, giới thiệu sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng xuất bản bằng 7 ngoại ngữ.

Đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Trưởng Ban Chỉ đạo Công tác thông tin đối ngoại dự và chủ trì buổi lễ.

Cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” (phiên bản tiếng Việt) ra mắt bạn đọc nhân kỷ niệm 92 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930 / 3-2-2022), là một trong những ấn phẩm có sức ảnh hưởng mạnh mẽ, sâu rộng của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Cuốn sách lựa chọn 29 bài viết, bài phát biểu tiêu biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, tập trung vào các nội dung trọng tâm: Từng bước hiện thực hóa con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; nhất quán chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, theo tinh thần “Tiền hô hậu ủng”, “Nhất hô bá ứng”, “Trên dưới đồng lòng”, “Dọc ngang thông suốt”; đề cao phẩm giá, danh dự mới là điều thiêng liêng, cao quý nhất; khẳng định trường phái đối ngoại, ngoại giao đặc sắc “cây tre Việt Nam”, gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển; nhấn mạnh văn hóa là hồn cốt của dân tộc, văn hóa còn thì dân tộc còn.

Nội dung cuốn sách trở thành định hướng quan trọng giúp cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu rõ hơn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, tạo nên sự thống nhất về tư tưởng trong toàn xã hội, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để thực hiện những mục tiêu chiến lược mà Ðảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn.

Thành quả nửa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng: “Tiếng trống lệnh” và sức mạnh hiệu triệu

 Trong cuộc chiến phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (PCTNTC), người đứng đầu có vai trò đặc biệt quan trọng suốt quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện và nêu gương sáng để khởi phát, dẫn dắt cao trào cách mạng. Thực tế đó được minh chứng rõ nét, thuyết phục từ quá trình vận hành đánh “giặc nội xâm” ở Việt Nam thời gian qua.

Mệnh lệnh con tim - mệnh lệnh niềm tin!

Trước năm 2011, tham nhũng vẫn là thách thức lớn trong toàn Đảng, toàn hệ thống chính trị và xã hội. Lúc bấy giờ, dù Trung ương đã ban hành Nghị quyết Trung ương 3, khóa X về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác PCTN, lãng phí”; Quốc hội ban hành Luật PCTN số 55/2005/QH11 được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 01/2007/QH12... nhưng tham nhũng, lãng phí vẫn xảy ra nghiêm trọng ở nhiều lĩnh vực, gây bức xúc xã hội; là thách thức lớn đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước.

Trước thực tế đó, Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI được Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết nghị, ban hành. Thế nhưng, quá trình triển khai ở giai đoạn đầu, dù các cấp đã nỗ lực, quyết liệt vào cuộc nhưng xem ra kết quả chưa đạt như mong muốn, khiến một số người hoài nghi; là cái cớ để lực lượng thù địch lợi dụng, chống phá... Với tinh thần thẳng thắn, trách nhiệm, vào tháng 10-2012, khi phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 6, khóa XI, thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhận lỗi trước toàn Đảng, toàn dân về “một số khuyết điểm lớn” cả hiện tại và cả của các nhiệm kỳ trước. Bấy giờ, giọng của Tổng Bí thư trở nên nghẹn ngào và giọt nước mắt của người đứng đầu Đảng bỗng trào ra!

Sau này, khi kết quả PCTNTC có nhiều chuyển biến rõ nét, thực chất, nhiều chính trị gia, các nhà quan sát, bình luận chính trị đã thừa nhận và so ví hình ảnh ấy là “giọt nước mắt rơi vào lịch sử”. Đồng thời thừa nhận, nỗi đau ấy của người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam đã chạm đến lương tri, trách nhiệm của phần lớn cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng; giúp khởi tạo và lan tỏa sâu rộng một cao trào đánh “giặc nội xâm” ở mọi cấp, mọi ngành, mọi lĩnh vực.

Với trọng trách được giao, quá trình công tác, đặc biệt là trong nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng luôn thể hiện rõ quan điểm, quyết tâm, đặt ra những yêu cầu cao, trao gửi nhiều thông điệp và đã gióng lên những “tiếng trống lệnh” tuyên chiến với “giặc nội xâm”. Thực tế cho thấy, “tiếng trống lệnh” của Tổng Bí thư, cùng với quyết tâm chính trị rất cao của tập thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã thúc giục toàn Đảng, hệ thống chính trị và toàn xã hội tuyên chiến, đẩy lùi và tiến lên từng bước quét sạch vấn nạn tham nhũng, tiêu cực. Quyết tâm của đồng chí Tổng Bí thư được thể hiện rõ trong nhiều bài viết, nhiều bài phát biểu tại các hội nghị và trước cử tri; được xuất bản thành những cuốn sách giá trị-là cẩm nang chỉ đạo công tác PCTNTC có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Là người đứng đầu Đảng, Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN và chủ trì hầu hết phiên họp của Ban Chỉ đạo từ khi thành lập đến nay, đồng chí Tổng Bí thư thường xuyên chỉ đạo quyết liệt các cơ quan chức năng cần làm tốt hơn nữa việc phát hiện và xử lý tham nhũng, tiêu cực.

Đặc biệt, trong từng vụ việc cụ thể, đồng chí luôn có những chỉ đạo, định hướng quan trọng; yêu cầu cơ quan chức năng theo dõi sát sao, chỉ đạo điều tra làm rõ đến cùng, với tinh thần không có vùng cấm, không có ngoại lệ, “không chịu bất kỳ một sức ép nào của bất cứ tổ chức, cá nhân nào”. Trong bất kỳ cuộc họp nào, lĩnh vực gì, tiếp xúc cử tri, trò chuyện với dân... đồng chí đều khẳng định đanh thép nỗ lực quyết tâm PCTNTC. Đó là cách giúp Đảng ta mạnh hơn, dẫn dắt công cuộc đổi mới đi đến thành công.

Theo dõi, nghiên cứu những cuốn sách, bài viết, bài phát biểu và các bài nói chuyện của đồng chí Tổng Bí thư với cử tri trong thời gian qua, có thể thấy rõ hệ thống quan điểm, tư tưởng và hành động về đấu tranh PCTNTC hết sức chặt chẽ, nhất quán; có sự phát triển theo từng bước, từng giai đoạn PCTNTC; bảo đảm công tác PCTNTC được làm đến đâu, chắc đến đó. Đồng chí khẳng định chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước là kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, hư hỏng trong nội bộ, tuy nhiên xử lý trước mắt phải nghĩ đến lâu dài, giữ cho được ổn định để đất nước phát triển. "Phải bình tĩnh tỉnh táo, rất khôn ngoan, có con mắt chiến lược. Bác Hồ dạy rồi, cha ông ta dạy rồi, đánh con chuột đừng để vỡ bình, làm sao diệt được chuột mà bảo vệ được bình hoa. Tức là phải giữ cho được cái ổn định", Tổng Bí thư khẳng định.

Sức mạnh nêu gương của người đứng đầu

Qua các nhiệm kỳ Đại hội XI, XII và nửa nhiệm kỳ Đại hội XIII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã cùng với Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, vạch đường, dẫn lối cho công tác PCTNTC của toàn Đảng đạt nhiều thành quả có dấu ấn lịch sử. Những thành quả này được cộng hưởng và có thêm sức mạnh kêu gọi, hiệu triệu toàn Đảng, toàn dân và toàn quân từ tấm gương liêm khiết, thanh sạch về đạo đức, lối sống của đồng chí Tổng Bí thư.

Ngay các phiên họp của Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTNTC, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng luôn bày tỏ mong muốn, mỗi thành viên, mỗi cán bộ làm việc trong lĩnh vực này phải hết sức gương mẫu, liêm, dũng, chính, trực, tức là phải trong sạch, dũng cảm, ngay thẳng, công tâm, trung thực. Bản thân mỗi đồng chí và cả gia đình, vợ, con phải giữ gìn sự trong sạch, rồi mới chống tham nhũng được, nếu không nói chẳng ai nghe, tay đã nhúng chàm thì không thể làm gì khác được. “Chúng ta phải cam kết với nhau, mỗi thành viên Ban Chỉ đạo phải là một tấm gương về liêm sáng, trung thực, công tâm, khách quan, nếu không dân không tin”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ quan điểm.

Ít người biết rằng, vào ngày 14-4 hằng năm (sinh nhật của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng), đồng chí thường chủ động có kế hoạch đi công tác cơ sở, đến với vùng sâu, vùng xa, trực tiếp gặp gỡ, trò chuyện cùng cán bộ, chiến sĩ, đồng bào. Những cán bộ được tiếp cận, làm việc thường xuyên với Tổng Bí thư đều thấu hiểu và cảm nhận chủ ý đi công tác vào dịp ấy của đồng chí.

Là người lãnh đạo cấp cao, nhưng Tổng Bí thư vẫn thường đơn sơ trong bộ vest cũ hay những chiếc áo bạc màu đã được sử dụng hàng chục năm; vẫn sống trong căn nhà công vụ, làm việc trong căn phòng bình dị; thường đi lại bằng chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Crown sản xuất những năm 90 của thế kỷ 20... Đó là cách sống và sự lựa chọn của một nhà lãnh đạo giản dị và cũng là tâm nguyện mà Tổng Bí thư từng chia sẻ với đội ngũ cán bộ: Danh thơm còn mãi, chức tước, tiền tài chỉ là phù vân!

Chỉ đạo rất quyết liệt, trực tiếp điều hành Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTNTC, cùng Bộ Chính trị đôn đốc, chỉ đạo các vụ đại án lớn; không nề hà tình cảm, không nhân nhượng bao che để kỷ luật Đảng, không có vùng cấm, nhưng mỗi khi có cán bộ bị xử lý, Tổng Bí thư chính là người trăn trở, lo nghĩ nhiều nhất. Đồng chí từng nhiều lần trăn trở: Việc xử lý nghiêm nhiều cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao sai phạm là điều không ai mong muốn, thậm chí rất đau xót, rất đau lòng, nhưng vì sự nghiệp chung, vì sự nghiêm minh kỷ luật của Đảng, thượng tôn pháp luật của Nhà nước, sự trong sạch, vững mạnh và uy tín của Đảng, Nhà nước và ý nguyện của nhân dân, chúng ta phải làm và kiên quyết làm. Kỷ luật một vài người để cứu muôn người và sẽ còn phải tiếp tục làm quyết liệt, mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới.

Tinh thần quyết tâm, quyết liệt chống tham nhũng của người đứng đầu Đảng; sự chỉ đạo sát sao, hiệu quả của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTNTC đã khởi tạo nên cao trào cách mạng rộng khắp, huy động sự vào cuộc của cả xã hội cùng chung sức, đồng lòng đẩy lùi quốc nạn tham nhũng. Trong toàn Đảng và toàn hệ thống chính trị từ Chính phủ đến Quốc hội, từ Trung ương về cơ sở, công tác PCTNTC được tiến hành thường xuyên, liên tục, kiên quyết, kiên trì; từ đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ trì, chủ chốt các cấp đến quần chúng đều dành tâm huyết, trí tuệ, công sức và cả dũng khí, bản lĩnh tham gia hiệu quả vào công cuộc PCTNTC theo chức trách, nhiệm vụ và bổn phận công dân Việt Nam. Người dân từ khi nhận thấy quyết tâm chính trị rất cao của người đứng đầu, của tập thể Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTNTC nên đã có thái độ tích cực hơn trong việc tham gia đóng góp, hiến kế PCTNTC. Nói cách khác, những “hồi trống lệnh” được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khởi xướng đã đáp ứng mong mỏi của đảng viên và nhân dân cả nước. Nhờ đó mà tinh thần quyết tâm, kiên quyết, kiên trì tuyên chiến với giặc nội xâm từ trong Đảng và toàn hệ thống chính trị đã lan tỏa mạnh mẽ ra toàn xã hội, được nhân dân đồng lòng ủng hộ. Sự giám sát của các cơ quan dân cử, vai trò của Mặt trận Tổ quốc, nhân dân và báo chí, truyền thông trong PCTNTC được phát huy tốt hơn. Khắp nơi nơi, bầu không khí chính trị trong chiến sĩ, đồng bào cả nước đều rất phấn khởi, vui mừng trước thành quả từ công cuộc PCTNTC do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo.

 

Đưa quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Australia lên tầm cao mới

 Thủ tướng Australia Anthony Albanese đang có chuyến thăm chính thức Việt Nam theo lời mời của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính. Đây là chuyến thăm chính thức đầu tiên của Thủ tướng Anthony Albanese tới Việt Nam kể từ khi nhậm chức. Diễn ra trong bối cảnh Việt Nam và Australia kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (1973-2023), 5 năm quan hệ đối tác chiến lược (2018-2023), chuyến thăm được kỳ vọng góp phần củng cố sự tin cậy chính trị, làm sâu sắc hơn nữa quan hệ hợp tác nhiều mặt Việt Nam-Australia.

Ngược dòng thời gian, vào năm 1973, Australia là một trong số những quốc gia đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam ngay sau khi Hiệp định Paris được ký kết. Trải qua chặng đường dài nửa thế kỷ, mối quan hệ Việt Nam-Australia đã từng bước phát triển bền vững, đạt nhiều thành tựu ấn tượng, hướng tới mục tiêu nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược toàn diện.

Trong những năm qua, lãnh đạo cấp cao hai nước duy trì thường xuyên nhiều chuyến thăm và tiếp xúc tại các diễn đàn quốc tế và khu vực. Gần đây nhất, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng đã gặp Toàn quyền và Thủ tướng Australia tại Lễ nhậm chức Nhà Vua Anh (tháng 5-2023). Thủ tướng Phạm Minh Chính và Thủ tướng Anthony Albanese cũng gặp nhau bên lề Hội nghị Cấp cao ASEAN 41 (Campuchia, tháng 11-2022) và tại Hội nghị thượng đỉnh G7 mở rộng (Nhật Bản, tháng 5-2023). Thông qua các chuyến thăm và tiếp xúc của lãnh đạo cấp cao, sự tin cậy chính trị giữa hai nước được tăng cường, tạo đà cho những lĩnh vực hợp tác khác phát triển mạnh mẽ, nổi bật là hợp tác về kinh tế, thương mại và đầu tư. Năm 2022, kim ngạch thương mại hai chiều đạt gần 15,7 tỷ USD, tăng 26,7% so với năm 2021, đưa Australia trở thành đối tác thương mại lớn thứ 7 của Việt Nam và Việt Nam trở thành đối tác thương mại lớn thứ 10 của Australia. Tính đến hết tháng 2-2023, Australia có 590 dự án đầu tư tại Việt Nam với tổng số vốn đạt khoảng 2 tỷ USD. Trong khi đó, Việt Nam đầu tư sang Australia 88 dự án với tổng vốn đầu tư là 592,3 triệu USD.

Đáng chú ý, Australia là một trong những đối tác song phương cung cấp ODA không hoàn lại lớn nhất cho Việt Nam. Dù chịu nhiều ảnh hưởng từ đại dịch Covid-19, Australia vẫn duy trì viện trợ ODA cho Việt Nam, trung bình là 78,9 triệu AUD/năm trong giai đoạn 2020-2022. 50 năm qua, Australia đã hỗ trợ ODA tổng cộng 3 tỷ AUD (khoảng 47 nghìn tỷ đồng), đóng góp hiệu quả cho phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam.

Nhìn vào tổng thể mối quan hệ Việt Nam-Australia sẽ thấy, hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh là một điểm sáng. Hai bên duy trì thường xuyên trao đổi đoàn, hợp tác phòng, chống tội phạm, quản lý xuất, nhập cảnh, chống di cư bất hợp pháp, trao đổi thông tin, kinh nghiệm, đào tạo tiếng Anh... Đặc biệt, Việt Nam và Australia có nhiều hoạt động hợp tác thiết thực trong lĩnh vực gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc. Với bề dày kinh nghiệm về đào tạo, huấn luyện, triển khai lực lượng tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, Australia luôn dành sự quan tâm đặc biệt, ủng hộ và hỗ trợ tích cực, hiệu quả cho Việt Nam trong quá trình tham gia hoạt động này. Hai bên đã ký biên bản ghi nhớ về hợp tác đào tạo gìn giữ hòa bình và rà phá bom mìn vào năm 2016. Không quân Hoàng gia Australia nhiều lần hỗ trợ vận chuyển bệnh viện dã chiến của Việt Nam tới Phái bộ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại Nam Sudan. Hiện tại, hai bên đang trao đổi, chuẩn bị ký Thỏa thuận đối tác Gìn giữ hòa bình.

Nhằm tiếp tục thúc đẩy đà phát triển quan hệ hiện nay, hai bên quan tâm mở rộng sang một số lĩnh vực hợp tác mới như: Ứng phó biến đổi khí hậu, chuyển đổi số, chuyển đổi năng lượng. Ngoài ra, giáo dục-đào tạo, lao động, nông nghiệp, du lịch và giao lưu nhân dân... cũng là những lĩnh vực hợp tác phát triển tốt đẹp và còn nhiều tiềm năng.

Không dừng lại ở cấp độ song phương, hai bên còn hợp tác chặt chẽ, hiệu quả và ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn đa phương cũng như trong các vấn đề quốc tế, khu vực cùng quan tâm. Với Australia, Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy. Vai trò và vị thế của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế đã tạo động lực để hai nước phối hợp chặt chẽ hơn nữa tại các cơ chế hợp tác đa phương.

Với mối quan hệ hợp tác lâu dài và sâu rộng trên tất cả lĩnh vực, chuyến thăm của Thủ tướng Anthony Albanese tới Việt Nam mang nhiều kỳ vọng về việc đưa quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam-Australia lên tầm cao mới.

Chuyến thăm diễn ra chỉ hai tháng sau chuyến thăm cấp nhà nước của Toàn quyền Australia, thể hiện sự coi trọng của Australia trong quan hệ với Việt Nam. Trong bối cảnh hai nước đang đứng trước ngưỡng cửa mới của sự hợp tác và nâng cấp quan hệ song phương, chuyến thăm sẽ góp phần củng cố tin cậy chính trị, tạo xung lực mới giúp quan hệ hợp tác Việt Nam-Australia vươn xa hơn trên tất cả lĩnh vực.

 

“Lá chắn thép” bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, bảo vệ bản chất tốt đẹp của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

 Trong điều kiện xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ

nghĩa Việt Nam tới năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, việc Luật Thực hiện dân

chủ ở cơ sở được ban hành và thực hiện trên thực tế là rất thiết thực, thể chế hóa

quan điểm của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ xã hội chủ nghĩa ở

nước ta, hiện thực hóa ý nguyện, tâm tư của người dân về quyền làm chủ của

nhân dân. Với mục tiêu, quan điểm và những quy định mới trong thực hiện dân

chủ ở cơ sở, chúng ta không cho phép bất cứ thế lực nào phủ nhận, xuyên tạc, hạ

thấp giá trị của Luật này.

Thực tế những gì đang diễn ra tại Việt Nam đang khẳng định bầu không

khí dân chủ trong Đảng, trong xã hội mở rộng hơn. Dân chủ trực tiếp ở cơ sở

được mở rộng, nhân dân được bàn và quyết định những công việc quan trọng,


thiết thực, gắn liền với lợi ích của mình; quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân

được bảo vệ.

Tuy nhiên, dân chủ ở cơ sở vẫn còn tồn tại những hạn chế, yếu kém như:

“Có nơi vẫn còn tình trạng dân chủ hình thức, ý kiến của nhân dân chưa thực sự

được lắng nghe; quyền làm chủ của nhân dân còn bị vi phạm. Vẫn còn tình trạng

lợi dụng dân chủ, gây mất an ninh, trật tự, gây mất đoàn kết, chia rẽ nội bộ. Tệ

quan liêu, tham nhũng, sách nhiễu, gây phiền hà cho dân nhiều nơi chưa được

ngăn chặn, đẩy lùi. Việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở chưa đồng đều ở các

khu vực, loại hình cơ sở”, như Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII

đã chỉ rõ.

Vậy chúng ta cần phải làm gì để tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng,

hiệu quả thực hiện dân chủ ở cơ sở ở nước ta hiện nay?

Trước hết, các cơ quan chức năng cần sớm ban hành ngay văn bản hướng

dẫn thi hành Luật Thực hành dân chủ cơ sở năm 2022 để Luật nhanh chóng

được triển khai trong thực tiễn, bảo đảm cho nhân dân thực hiện các quyền dân

chủ ở cơ sở. Ngày 01-7-2023, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022 bắt đầu

có hiệu lực, do đó, việc các cơ quan chức năng cần sớm ban hành ngay văn bản

hướng dẫn thực hiện Luật là giải pháp “tối ưu” trước nhất để Luật sớm được

thực thi trong thực tiễn, theo đúng tinh thần pháp luật vì con người, bảo đảm đầy

đủ các quyền và lợi ích hợp pháp của con người, công dân trong đó có các quyền

thực hiện dân chủ ở cơ sở.

Tiếp đó, thực hiện đồng độ các biện pháp phát huy dân chủ ở cơ sở gắn

liền với tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội. Nắm vững và xử lý tốt

mối quan hệ lớn trong đó có “mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng

cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội” là nội dung quan trọng được Ðại hội

XIII của Đảng khẳng định trong định hướng phát triển đất nước đến năm 2030;

theo đó, dân chủ phải gắn liền với tăng cường pháp chế và đi đôi với bảo đảm kỷ

cương xã hội, chống vi phạm pháp luật; ngăn chặn những hành vi gây rối, phá

hoại cuộc sống bình yên của nhân dân,...


Mỗi cán bộ, công chức, viên chức nhà nước; lực lượng vũ trang và toàn

thể nhân dân cần nhận thức đúng về các quyền dân chủ và khi thực thi các quyền

dân chủ cần phải hiểu rằng: dân chủ luôn đi đôi với kỷ cương, kỷ luật, chống vi

phạm pháp luật; dân chủ luôn gắn với pháp chế, trật tự xã hội, tuân phủ pháp

luật; có như vậy, các quy định của Luật thực hiện dân chủ ở cơ sở mới thực sự 

là “lá chắn thép” để bảo vệ các quyền dân chủ cho nhân dân, bảo vệ quyền làm

chủ của nhân dân, đồng thời bảo đảm cho nhân dân được thực hiện đầy đủ các

quyền dân chủ của mình, ngăn chặn các hành vi vi phạm dân chủ từ bất kỳ lực

lượng nào, tổ chức nào, cá nhân nào.

Đối với các cơ quan, đơn vị, cần nâng cao hiệu quả hoạt động của chế độ

thực hành dân chủ nhằm phát huy quyền làm chủ của cán bộ, công chức, viên

chức và nâng cao vai trò của người đứng đầu cơ quan, đơn vị; bồi dưỡng và

nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở, trực tiếp là cấp xã,

phường, thị trấn để họ thực sự là “công bộc của nhân dân”, làm việc vì lợi ích

của nhân dân, góp phần tạo dựng niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước.

Tăng cường công tác kiểm tra, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân

chủ và quy chế làm việc ở cơ quan; tăng cường công tác giáo dục rèn luyện,

nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạnh của cán bộ, đảng viên; thực hiện

nghiêm Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn

Đảng. Mỗi cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan, đơn vị phải luôn nhận

thức rằng việc thực hiện dân chủ ở cơ sở là một nội dung công tác thường

xuyên, có ý nghĩa quan trọng trong việc phát huy quyền làm chủ của mình; góp

phần đẩy lùi tình trạng quan liêu, cửa quyền trong bộ máy quản lý của cơ quan,

đơn vị nhằm xây dựng cơ sở Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh và thực

hiện tốt cải cách hành chính.

 Đồng thời, tiếp tục tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục

sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân không ngừng nâng cao nhận thức về dân

chủ và thực hành dân chủ ở cơ sở; chủ động trong đấu tranh phản bác các quan

điểm sai trái, thù địch chống phá nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ


của nhân dân. Làm cho người dân thấy rõ rằng, chỉ khi nào người dân biết sử

dụng và phát huy các quyền dân chủ thì lợi ích của Nhà nước, cộng đồng, quyền

và lợi ích hợp pháp của người dân mới được bảo đảm.

Thực hiện dân chủ ở cơ sở không còn là khẩu hiệu chung chung

 Dân chủ là một phạm trù chính trị - xã hội xuất hiện khá sớm trong nền

văn minh nhân loại, gắn liền với tiến bộ xã hội và sự phát triển của lịch sử qua

các thời đại, các chế độ xã hội khác nhau với nội dung cơ bản dân chủ là quyền

lực thuộc về nhân dân. Theo Karl Marx và Friedrich Engels, dân chủ là một

phương tiện tất yếu để con người đạt tới tự do, giải phóng toàn diện những năng

lực vốn có của mỗi cá nhân, tức quyền con người được bảo đảm và thực hiện

đầy đủ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức rất rõ vai trò của dân chủ, coi dân chủ là

nhân tố động lực của sự phát triển; thực hành dân chủ là chìa khóa vạn năng để

giải quyết mọi khó khăn. Người khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị

cao nhất là dân, vì dân là chủ. Trong bộ máy cách mạng, từ người quét nhà, nấu

ăn cho đến Chủ tịch một nước đều là phân công làm đày tớ cho dân”. Phát huy

dân chủ là phát huy tài dân, muốn vậy, thì phải trọng dân, gần dân, hiểu dân, học

dân và có trách nhiệm với dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn: Phải ra sức

thực hành dân chủ, thật sự tôn trọng quyền làm chủ của quần chúng, dân chủ về

kinh tế, dân chủ về chính trị.

Dân chủ cơ sở là một bước tiến mới trong nhận thức lý luận dân chủ và

dân chủ hóa ở nước ta. Trong quá trình thực thi quyền lực bao gồm quyền lực

chính trị của Đảng và quyền lực nhà nước, cấp cơ sở có vai trò quan trọng bởi

đây là nơi trực tiếp làm việc với Nhân dân, trực tiếp đón nhận và trực tiếp thực


hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và

cấp trên tại cơ sở. Do đó có thể khẳng định, cấp cơ sở có vị trí đặc biệt quan

trọng không chỉ trong cơ cấu tổ chức quyền lực nhà nước mà còn là yếu tố chi

phối mạnh mẽ đến đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của cộng đồng dân

cư cùng toàn thể địa bàn; dân chủ ở cơ sở được ví như “chiếc cầu nối” giữa dân

với Đảng; giữa trung ương với chính quyền địa phương. Từ quá trình triển khai

trong thực tiễn, quần chúng phát hiện ra những hạn chế, bất cập trong chủ

trương, đường lối, chính sách và pháp luật của Đảng, Nhà nước, nhân dân sẽ

phản ánh, kiến nghị đến cấp ủy và chính quyền cơ sở đề xuất, kiến nghị đến

Đảng, Nhà nước và cấp trên thực hiện điều chỉnh kịp thời.

Thực hiện dân chủ ở cơ sở là phương thức phát huy quyền làm chủ của

Nhân dân, để công dân, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động được

thông tin, thể hiện ý chí, nguyện vọng, chính kiến của mình thông qua việc thảo

luận, tham gia ý kiến, quyết định và kiểm tra, giám sát các vấn đề ở cơ sở theo

quy định của Hiến pháp và pháp luật.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, quan điểm xuyên suốt của Đảng ta

là: Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là

động lực của sự phát triển đất nước”. Đại hội VI của Đảng mở đầu công cuộc

đổi mới đã đề ra phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” và

đúc kết bài học kinh nghiệm: Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải

quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của

nhân dân lao động. Tinh thần đó xuyên suốt các kì Đại hội tiếp theo của Đảng

ta.

Đại hội XIII của Đảng tiếp tục kế thừa phương châm “Dân biết, dân bàn,

dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát” song nhấn mạnh và bổ sung thêm yếu tố

“dân thụ hưởng” - nghĩa là dân làm thì dân phải được thụ hưởng, nếu làm mà

không được thụ hưởng thì không tạo động lực để dân làm. Động lực chính là lợi

ích; lợi ích phải hài hòa giữa lợi ích của người dân, doanh nghiệp và Nhà nước


với phương châm tổng quát và tạo thành một “vòng tròn khép kín”, đó là: “dân

biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Ngày 18-2-1998, Bộ Chính trị (khóa VIII) ban hành Chỉ thị số 30-

CT/TW, “Về xây dựng và thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở” - coi đây là một

khâu quan trọng và cấp bách để phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở -

nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nơi

thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân một cách trực tiếp và rộng rãi nhất. Đặc

biệt, ngày 10-11-2022, tại Kỳ họp thứ 4, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ

nghĩa Việt Nam khóa XV đã thông qua Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở. Với 6

chương, 91 điều, Luật đã thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng, cụ thể hóa

quy định của Hiến pháp năm 2013 vào cuộc sống, khẳng định trên thực tế quyền

con người, quyền công dân, chủ quyền của nhân dân theo nguyên tắc hiến định:

“Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân”.

Đây là đạo luật cụ thể hóa phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân

kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng. Cụ thể là, những nội dung công khai để

dân biết (đó là các quy định liên quan đến nội dung và hình thức công khai

thông tin để dân biết ở tất cả các loại hình cơ sở theo hướng cập nhật, bổ sung

các quy định tương ứng trong các luật chuyên ngành có liên quan); những nội

dung dân bàn và quyết định (tại thôn, tổ dân phố; tại cơ quan, đơn vị và tại tổ

chức có sử dụng lao động); những nội dung dân tham gia ý kiến (các quy định

liên quan đến nội dung và hình thức nhân dân tham gia ý kiến ở tất cả các loại

hình cơ sở phù hợp với các luật chuyên ngành có liên quan); những nội dung

dân kiểm tra, giám sát (để phát huy được sự tham gia và vai trò của từng người

dân trong việc kiểm tra, giám sát đối với cán bộ, công chức và cơ quan công

quyền, phát hiện, đấu tranh với các hành vi tham nhũng, tiêu cực, phát huy dân

chủ, tăng tính phản biện và sức sáng tạo của nhân dân trong việc thực hiện dân

chủ ở cơ sở) và những nội dung dân thụ hưởng (người dân được nhà nước và

pháp luật công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm thực hiện quyền con người,

quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội, các quyền về thực


hiện dân chủ ở cơ sở theo quy định của Luật và quy định khác của pháp luật có

liên quan; được thông tin đầy đủ về các quyền và lợi ích hợp pháp, chính sách

an sinh xã hội, phúc lợi xã hội theo quy định của pháp luật và của chính quyền

địa phương mà mình được hưởng; được thụ hưởng thành quả đổi mới, phát triển

kinh tế - xã hội, chế độ an sinh xã hội và sự an toàn, ổn định của đất nước, của

địa phương và ở cộng đồng dân cư nơi sinh sống; thành quả đổi mới, phát triển

của cơ quan, đơn vị, tổ chức có sử dụng lao động nơi làm việc; được tạo điều

kiện để tham gia học tập, công tác, lao động, sản xuất, kinh doanh, cải thiện và

nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của bản thân, gia đình và cộng đồng).

Với đạo luật này, thực hiện dân chủ ở cơ sở không còn là khẩu hiệu chung

chung mà đã trở thành quy phạm pháp luật quy định cụ thể về quyền của người

dân, nhân dân đã có công cụ pháp lý vững chắc để thực hiện quyền làm chủ của

mình. Người dân được biết, được bàn, được giải phóng sức sản xuất và sáng tạo,

được kiểm tra, giám sát, tài chính công khai, minh bạch hơn, từ đó nhân dân có

điều kiện thực tế để thụ hưởng những thành tựu mà dân chủ mang lại.

Nhận diện những luận điệu phủ nhận, hạ thấp giá trị và xuyên tạc Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022

 Kỳ họp thứ tư Quốc hội khóa XV nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam đã biểu quyết thông qua Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở với tỷ lệ tán thành

rất cao (443 đại biểu tán thành (88,96% tổng số đại biểu). Đạo luật là cơ sở pháp

lý rất quan trọng để thể chế hóa quan điểm của Đảng ta và tư tưởng Hồ Chí

Minh về dân chủ; dân chủ xã hội chủ nghĩa; thực hiện dân chủ ở cơ sở… trong

tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt

Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân.

Tuy nhiên, ngay sau khi Luật thực hiện dân chủ ở cơ sở được Quốc hội

Việt Nam thông qua, như thường lệ, các thế lực thù địch, phần tử phản động, cơ

hội chính trị liền “bổn cũ soạn lại”, tìm cách phủ nhận, hạ thấp giá trị và xuyên

tạc. Chúng ra sức xuyên tạc, hạ thấp giá trị của Luật bằng những lập luận mang

tính áp đặt, ngụy biện, thậm chí là “bới móc”, “mổ xẻ”, “thêm mắm dặm muối”

và “sáng tạo” ra những dẫn chứng để dẫn dụ người đọc vào một “ma trận thông

tin” với mục đích duy nhất mà chúng mong muốn đạt được là nhằm phủ nhận

quan điểm đúng đắn của Đảng, chính sách tốt đẹp của Nhà nước ta trong bảo

đảm các quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, nền dân chủ

nghĩa xã hội.

Nhiều trang báo, trang thông tin từ nước ngoài như BBC Tiếng Việt,

RFA…dẫn một số bài viết “lập lờ đánh lận con đen”; “đánh tráo khái niệm”; để

nhằm “thao túng tâm lý” người đọc và nhằm làm cho mọi người tin rằng Luật

Thực hiện dân chủ ở cơ sở của Việt Nam chỉ là “bình mới, rượu cũ” và chỉ mang

tính chỉnh sửa về hình thức; cho rằng các quy định trên của Luật Thực hiện dân

chủ ở cơ sở không đi theo hướng bảo vệ quyền tiếp cận thông tin của người dân,


“không đúng bản chất của dân chủ”… Mục đích chung của các thế lực thù địch

là làm cho người dân hoang mang nghi ngờ; cổ vũ cho chế độ đa nguyên chính

trị, đa đảng đối lập tại Việt Nam; kích động người dân Việt Nam phải “yêu cầu”,

“đòi hỏi” Đảng và Chính phủ chấp nhận trong nền chính trị Việt Nam phải tồn

tại các nhóm chính trị, các chính đảng khác nhau để đa dạng hóa đường lối cho

nhân dân lựa chọn thông qua bầu cử tự do thì mới đảm bảo cho một nền dân

chủ.

Chính vì điều đó chúng ta cần nhận thức rõ để thực hiện cho đúng!

Kiên trì, kiên quyết thực hiện đường lối đối ngoại tiến bộ, nhân văn

 Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam

luôn nhất quán tư duy độc lập, tự cường và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-

dân tộc. Đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ hoạt động đối ngoại, tạo dựng nên

truyền thống và bản sắc riêng, rất độc đáo của nền ngoại giao và đường lối đối

ngoại Việt Nam “đầy hào khí, giàu tính nhân văn, hòa hiếu, trọng lẽ phải, công

lý và chính nghĩa” như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định. Trong

thời đại Hồ Chí Minh, truyền thống và bản sắc ngoại giao đó càng được bồi đắp,

phát huy, tỏa sáng.

Từ khi đổi mới đến nay, Đảng ta không ngừng bổ sung, hoàn thiện quan

điểm, phương châm của đường lối đối ngoại, đó là: “Việt Nam muốn là bạn với

tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát

triển” (Đại hội VII); “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước

trong cộng đồng quốc tế” (Đại hội IX); “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và

thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” (Đại hội XI, Đại hội XII).


Đại hội XIII tiếp tục khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối

ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa

phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc trên

cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc

tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời

đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn,

là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc

tế”.

Những năm qua, trước các diễn biến phức tạp của thời cuộc, quan hệ

ngoại giao của Việt Nam đã góp phần tích cực vào những thành tựu chung của

đất nước. Quan hệ ngoại giao của Việt Nam với một số nước lớn tuy có lúc trải

qua thăng trầm nhưng hợp tác hữu nghị vẫn là dòng chảy chính. Đảng, Nhà

nước, nhân dân Việt Nam luôn coi trọng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng

cùng có lợi với các nước láng giềng, trong đó có Trung Quốc, coi đây là một

trong những ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Việt

Nam kiên quyết sử dụng mọi biện pháp phù hợp với luật pháp của Việt Nam và

luật pháp quốc tế để bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo của Tổ

quốc; đồng thời quyết tâm, kiên trì, kiên quyết giữ vững môi trường hòa bình,

ổn định để phát triển đất nước. Điều này luôn được cộng đồng quốc tế ủng hộ

mạnh mẽ.

Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa của

Đảng, Nhà nước ta nói chung, trong đó có chính sách đối ngoại quốc phòng “4

không” nói riêng là kết tinh trí tuệ, ý chí, nguyện vọng, quyết tâm của toàn

Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Đường lối đó có cơ sở lý luận, khoa học, thực tiễn,

cơ sở pháp lý vững chắc, có sự tham khảo ý kiến của các tầng lớp nhân dân một

cách dân chủ, công khai.

Thực tế cho thấy, trong quan hệ quốc tế đương đại, các nước, đặc biệt là

các nước lớn luôn có xu hướng vừa hợp tác vừa cạnh tranh với nhau như: Mỹ,

Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Ấn Độ... Do đó, những luận điệu cho rằng việc “đi


theo”, “liên minh” với nước này để chống nước khác nhằm bảo vệ chủ quyền

lãnh thổ, biển, đảo không những phản động, sai lầm mà còn thể hiện tư tưởng

yếu hèn, trái với phương châm đối ngoại thêm bạn, bớt thù của Đảng ta.

Để giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho đất nước, trước hết cần

bảo đảm tuyệt đối vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với công

tác ngoại giao. Đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta là mở rộng quan

hệ đối ngoại với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị-

xã hội, được thể hiện sâu sắc trong các văn kiện đại hội của Đảng thời kỳ đổi

mới. Thực tiễn đã minh chứng, đường lối, chính sách đối ngoại đa dạng hóa, đa

phương hóa giúp Việt Nam tạo dựng một mạng lưới quan hệ rộng khắp, tranh

thủ được nhiều yếu tố thuận lợi cho công cuộc phát triển đất nước, bảo vệ chủ

quyền quốc gia, nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. 

Trong tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, cần tăng

cường hiệu quả công tác nghiên cứu, dự báo tình hình, phát huy vai trò của đội

ngũ chuyên gia đối ngoại trong nghiên cứu, tham mưu, đóng góp vào việc xây

dựng chính sách và triển khai đường lối đối ngoại của Đảng. Tích cực đổi mới

nội dung, phương thức thông tin đối ngoại, ứng dụng hiệu quả thành tựu công

nghệ thông tin, truyền thông để tăng cường thông tin, quảng bá về đất nước, con

người, thành tựu của Việt Nam và đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta.

Cùng với những giải pháp căn cơ trên, trong thời đại bùng nổ thông tin

hiện nay, cần chủ động phát hiện, xử lý kịp thời và nghiêm minh theo pháp luật

đối với các hoạt động chống phá đường lối đối ngoại của Đảng. Kiên quyết

không để các thế lực thù địch, cơ hội tập hợp lực lượng, gây rối chính trị, làm

mất an ninh trật tự, gây rối loạn lòng dân, ảnh hưởng tới lợi ích đất nước.

Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý các hoạt động báo chí, xuất bản,

phát thanh, truyền hình, internet, mạng xã hội (Facebook, Zalo, Twitter,

Telegram...), các cuộc hội thảo, hợp tác nghiên cứu khoa học xã hội về những

vấn đề tôn giáo, dân tộc, dân chủ, nhân quyền, đối ngoại...


Tuyệt đối không để xảy ra sơ hở khiến kẻ thù có thể lợi dụng xâm nhập,

thu thập bí mật, phủ nhận, truyền bá quan điểm tư tưởng thù địch, kích động,

xuyên tạc phá hoại đường lối đối ngoại đúng đắn, tiến bộ của Đảng và Nhà nước

ta.

Những ý kiến xuyên tạc lạc lõng, ác ý

 Những năm gần đây, bối cảnh quốc tế có nhiều biến động, diễn biến phức

tạp như cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng quyết liệt hơn; chủ

nghĩa dân tộc, chủ nghĩa đơn phương, chủ nghĩa bảo hộ trỗi dậy. Đại dịch

Covid-19 tác động nghiêm trọng và để lại hậu quả nặng nề trên mọi mặt của đời

sống xã hội ở hầu hết quốc gia hơn hai năm qua.

Sự kiện Nga thực hiện chiến dịch quân sự đặc biệt ở Ukraine cũng tác

động nhiều mặt đến đời sống chính trị và an ninh quốc tế. Khu vực châu Á-Thái

Bình Dương có vị trí chiến lược ngày càng quan trọng. Môi trường an ninh,

tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông của một số quốc gia Đông Nam Á tiếp tục

diễn biến phức tạp.

Lợi dụng bối cảnh đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ráo

riết tung ra những luận điệu xuyên tạc nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh

đạo của Đảng, Nhà nước Việt Nam; trong đó, đường lối đối ngoại là một mặt

trận mà họ quyết liệt chống phá nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với

ngành ngoại giao Việt Nam.

Thời gian qua, trên một số trang mạng xã hội, nổi cộm như: “Chân trời

mới media”, “Hội anh em dân chủ”... đã xuất hiện những quan điểm, ý kiến của

cái gọi là “luật sư độc lập”, “nhà báo tự do”, “nhà dân chủ”, “nhà nghiên cứu”,


“người Việt yêu nước”... dưới các hình thức “thư góp ý”, “lời kêu gọi”, “tư vấn

cho Nhà nước Việt Nam”, “phản biện”, “kiến nghị”... nhằm phê phán, xuyên tạc,

phủ nhận đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta.

Một số hãng truyền thông nước ngoài có phiên bản tiếng Việt như: RFA,

VOA, RFI, BBC... còn bịa đặt rằng “đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước

Việt Nam hiện nay là “đu dây”, “tự sát”, bị lệ thuộc, chi phối bởi các cường

quốc. Rồi họ đưa ra "lời khuyên" Việt Nam nên bỏ chính sách quốc phòng “4

không” để nghiêng về phương Tây, gắn với thực hiện “dân chủ hóa Việt Nam”...

Sự nguy hại của những luận điệu phản động nêu trên dễ gây ra sự hoang

mang, dao động, chia rẽ từ bên trong, ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ đối ngoại

của Việt Nam với các nước, khiến dư luận trong và ngoài nước hiểu sai lệch về

Việt Nam.

Việt Nam - đất nước của sự thân thiện, mến khách và bình yên

 Hình ảnh nguyên thủ quốc gia hay chính khách các nước bình dị đi dạo,

ăn uống những món bình dân trên những con đường, tuyến phố ở Việt Nam


không còn xa lạ. Ngày 3/6/2023 Thủ tướng Australia Anthony Albanese cùng

các bạn trẻ thưởng thức bia hơi Hà Nội tại một quán ăn ở khu phố cổ Hà Nội.

Trước đó, chiều 22/10/2022, sau khi kết thúc các chương trình làm việc, Tổng

thư ký Liên Hiệp quốc António Guterres đã đi dạo, gặp gỡ người dân tại Hồ

Gươm và tham quan đền Ngọc Sơn.

Hay tối 13/11/2022, nhân chuyến thăm chính thức Việt Nam, Thủ tướng

Đức Olaf Scholz và Thủ tướng Phạm Minh Chính đã đến thăm đền Ngọc Sơn, đi

dạo trên phố đi bộ xung quanh Hồ Gươm, Hà Nội. Sáng 10/11/2017, trước khi

bắt đầu một ngày làm việc bận rộn với các cuộc họp của Tuần lễ các nhà lãnh

đạo Kinh tế APEC, Thủ tướng Úc - ngài Malcolm Turnbull đã cùng đầu bếp nổi

tiếng người Úc gốc Việt Luke Nguyen ăn sáng với món bánh mì tại một cửa

hàng vỉa hè Đà Nẵng.

Năm 2016, Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama cũng có những trải

nghiệm thú vị nhân chuyến thăm chính thức Việt Nam. Ông Obama đã đi ăn bún

chả cùng đầu bếp nổi tiếng Anthony Bourdain tại quán Hương Liên, một quán

ăn bình dân gia truyền trên phố Lê Văn Hưu (Hà Nội). Mọi người sẽ hơi ngạc

nhiên khi ông Obama đã chọn bún chả thay vì phở (món ẩm thực Việt được

quốc tế biết đến rộng rãi nhất). Và chắc hẳn món bún chả rất hợp khẩu vị của

người đứng đầu Nhà Trắng khi ông ăn liền 2 suất.

Việc Tổng thống Hoa Kỳ đi ăn món ăn bình dân ở Việt Nam không phải

là hiếm bởi vào năm 2000, cả gia đình Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã có chuyến

thăm Việt Nam và trải nghiệm ẩm thực tại TP Hồ Chí Minh. Quán mà gia đình

ông Clinton chọn không phải một nhà hàng sang chảnh hay đẳng cấp 5 sao mà

lại là quán phở bình dân nằm ngay sát chợ Bến Thành. Đó là tiệm Phở 2000. Sau

chuyến thăm lịch sử tới Việt Nam năm 2000, hình ảnh một Việt Nam hòa bình

và thân thiện tiếp đón Tổng thống Mỹ được cả thế giới biết tới, giúp quan hệ

Việt - Mỹ xích lại gần nhau hơn sau quá khứ đau buồn của chiến tranh. Hình ảnh

ông Bill Clinton dạo quanh Bờ Hồ, bắt tay, vẫy chào người dân Hà Nội trong


chuyến thăm Việt Nam năm 2006 với tư cách nhà quản lý của Tổ chức Sáng

kiến chống AIDS toàn cầu cũng để lại rất nhiều ấn tượng tốt đẹp…

Nếu một quốc gia mất tự do, dân chủ, nhân quyền, an ninh bất ổn thì

nguyên thủ, chính khách quốc tế có được tự do đi lại, tận hưởng sự thanh bình

bên cốc trà đá hay ly cà phê, bình dị với món phở hay bún chả trên phố? Một đất

nước mất nhân quyền thì nguyên thủ các quốc gia trên thế giới có thể tự do đi lại

tham quan danh lam, thắng cảnh, trải nghiệm ẩm thực trong sự mến khách của

người dân mà không phải lo về hành động mất an toàn có thể diễn ra?

Góc nhìn về một Việt Nam tự do, dân chủ, mến khách

 Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em mang những

đặc điểm văn hóa đa dạng bản sắc, trong đó dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ lớn nhất,

cư trú phân tán và xen kẽ nhau. Bảo vệ và thúc đẩy phát triển bình đẳng dân tộc,

phát triển quyền con người là chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt

Nam. Việt Nam luôn xem con người là trung tâm, là động lực của quá trình đổi

mới và công cuộc phát triển đất nước, nỗ lực vì mục tiêu nâng cao đời sống,

quyền thụ hưởng của người dân, không để ai bị bỏ lại phía sau. Các quyền cơ

bản của con người được ghi nhận trong Hiến pháp Việt Nam, được bảo vệ, thúc


đẩy bởi các văn bản pháp luật cụ thể và được triển khai trong thực tiễn. Tất cả

mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và có nghĩa vụ tuân thủ các quy định

của pháp luật. Bất cứ ai vi phạm pháp luật đều phải bị chế tài tương ứng. Nhà

nước nỗ lực để bảo đảm sự thụ hưởng đầy đủ các quyền của mỗi người dân

trong một xã hội an toàn, trật tự và công bằng. Không ai bị bắt giữ, xét xử vì

thực hiện các quyền con người một cách chính đáng.

Vấn đề dân chủ, nhân quyền được Đảng và Nhà nước Việt Nam quan tâm

lãnh đạo, chỉ đạo với nhiều chủ trương, chính sách và giải pháp đúng đắn, phù

hợp và đạt được nhiều kết quả thiết thực, không thể phủ nhận. Tôn trọng, thực

thi, bảo vệ nhân quyền là một chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt

Nam. Tuy Ngày Nhân quyền thế giới bắt đầu có từ 10/12/1948 nhưng quyền con

người, quyền công dân của người dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã

được hiến định tại Hiến pháp 1946 và tiếp tục được bổ sung rõ ràng hơn, đầy đủ

hơn tại các Hiến pháp 1959, 1980, 1992 và nhất là tại Hiến pháp 2013. Tính đến

năm 2021, Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước cơ bản của Liên hợp

quốc về quyền con người; phê chuẩn, gia nhập 25 công ước của Tổ chức Lao

động quốc tế (ILO), trong đó có 7/8 công ước cơ bản liên quan đến các lĩnh vực

thương lượng tập thể, phòng, chống phân biệt đối xử, lao động trẻ em và lao

động cưỡng bức…

Việc Việt Nam trúng cử làm thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ

thứ 2 (2023- 2025) và với những đóng góp trực tiếp vào công tác bảo vệ, thúc

đẩy quyền con người trên toàn thế giới là minh chứng về vị thế, uy tín của Việt

Nam, phản bác những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Những đóng

góp cho nhân quyền thế giới của Việt Nam đã và đang được quốc tế có những

đánh giá cao, là những thành tựu không thể phủ nhận, góp phần khẳng định

tiếng nói về quyền con người của Việt Nam với thế giới. Những kết quả, thành

tựu to lớn trên lĩnh vực thúc đẩy, bảo vệ, bảo đảm quyền con người mà Việt

Nam đã đạt được là minh chứng sinh động cho thấy quan điểm, chủ trương,


đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam là đúng đắn,

là vì quyền con người.

Những thành tựu Việt Nam đạt được thể hiện rõ trên các lĩnh vực như

trong xây dựng hệ thống pháp luật, triển khai thực thi quyền con người; tham gia

ký các công ước quốc tế, điều ước quốc tế về quyền con người và cam kết thực

hiện, coi đó là trách nhiệm chính trị, pháp lý của Nhà nước. Việt Nam hoàn

thành trước hầu hết các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDG) và đang tích

cực triển khai thực hiện các Mục tiêu phát triển bền vững (SDG), nhất là đóng

góp của Việt Nam tại Hội đồng Nhân quyền (với chu kỳ III, Việt Nam đã thực

hiện nghiêm túc, trách nhiệm 82,6% các khuyến nghị đã chấp thuận). Cùng với

đó, việc khởi động tiến trình Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV là thêm

một minh chứng cho thấy không phải Việt Nam “sợ nhân quyền”, “không thực

thi nhân quyền” như các luận điệu xuyên tạc mà là luôn chú trọng đảm bảo nhân

quyền, quyền công dân cho người dân. Ngày 3/4/2023 (giờ địa phương), tại trụ

sở Văn phòng Liên Hiệp quốc tại Geneva (Thụy Sỹ), Hội đồng Nhân quyền Liên

Hiệp quốc đã đồng thuận thông qua Nghị quyết kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn

quốc tế về nhân quyền (UDHR) và 30 năm Tuyên bố cùng Chương trình hành

động Viên (VDPA) do Việt Nam đề xuất và soạn thảo.

Chuyến thăm tốt đẹp của Ngoại trưởng Hoa Kỳ Anthony Blinken đã một

lần nữa khẳng định về một Việt Nam yên bình, thân thiện và mến khách. Những

giá trị và truyền thống tốt đẹp, sự hiếu khách cùng những trải nghiệm thanh

bình, ấm cúng đã để lại ấn tượng tốt đẹp trong cảm nhận của Ngoại trưởng Hoa

Kỳ cũng như các chính khách từng đến Việt Nam. Điều đó đã và đang giúp Việt

Nam trở thành điểm đến thân thiện trong mắt bạn bè quốc tế, đồng thời bác bỏ

những luận điệu của các thế lực xấu vu cáo Việt Nam không có tự do, dân chủ,

nhân quyền…

Thực tiễn sinh động phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về “Báo chí” của Việt Nam

 Tại Việt Nam, báo chí là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống

xã hội; là cơ quan ngôn luận của cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính

trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội

- nghề nghiệp; là diễn đàn của nhân dân. Đảng, Nhà nước ta luôn tạo mọi điều

kiện thuận lợi để quyền tự do báo chí được thực hiện theo đúng quy định của

pháp luật. Tuy nhiên, các đối tượng xấu lại luôn lợi dụng chống phá, đưa ra

những thông tin sai trái, vu khống Việt Nam không có tự do báo chí, tự do ngôn

luận.

Quan điểm xuyên suốt và nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam là tôn

trọng và bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân. Điều 25,

Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí,

tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do

pháp luật quy định”.

Để thúc đẩy sự phát triển của báo chí và bảo đảm quyền tự do ngôn luận

của người dân, Đại hội XIII của Đảng đề ra chủ trương “xây dựng nền báo chí,

truyền thông chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại”. Hiện nay, các cơ quan chức

năng đang tích cực thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về Quy

hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025 và Chiến lược

chuyển đổi số báo chí đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Việc đào tạo,

bồi dưỡng nhân lực cho lĩnh vực báo chí được quan tâm đầu tư.

Đồng thời, Nhà nước đã có chính sách đặt hàng báo chí phục vụ nhiệm vụ

chính trị, an ninh, quốc phòng, thông tin đối ngoại, phục vụ thiếu niên, nhi đồng,

người khiếm thính, khiếm thị, đồng bào vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện

kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới, hải

đảo và các nhiệm vụ trọng yếu khác.

Số liệu thống kê đến cuối năm 2022 cho thấy, nước ta có 127 cơ quan

báo, 670 cơ quan tạp chí (trong đó có 327 tạp chí lý luận chính trị, khoa học và

72 tạp chí văn học nghệ thuật); 72 cơ quan đài phát thanh, truyền hình. Số người


đang làm việc trong lĩnh vực báo chí là 41.000 người, với 19.356 cán bộ đã

được cấp thẻ nhà báo.

Cùng với các cơ quan báo chí trong nước, nhiều hãng truyền thông, thông

tấn quốc tế đã có mặt tại Việt Nam như CNN, Reuters, AP, AFP, Kyodo, Hãng

thông tấn Asia (Hàn Quốc), Nhật báo kinh tế Aju (Hàn Quốc) và Rossiya

Segodnya (Nga)... Với lực lượng làm báo hùng hậu như trên, đời sống báo chí ở

Việt Nam đã diễn ra hết sức nhộn nhịp, phản ánh mọi mặt của đời sống xã hội.

Đây là nền tảng quan trọng để bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí cho

mỗi người dân.

Theo quy định của pháp luật nước ta, công dân có quyền sáng tạo tác

phẩm báo chí; cung cấp thông tin cho báo chí; phản hồi thông tin trên báo chí;

tiếp cận thông tin báo chí; liên kết với cơ quan báo chí thực hiện sản phẩm báo

chí; phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng

và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà

nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các

tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị

xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các tổ

chức, cá nhân khác…

Với những quy định này, mọi người dân đều dễ dàng tham gia vào hoạt

động báo chí, trở thành một nhà báo tự do tìm kiếm, phát hiện đề tài và đưa ra

sản phẩm báo chí, đảm bảo quyền tự do hoạt động theo quy định của Luật Báo

chí và các luật liên quan. Trong thời gian qua, báo chí đã có những đóng góp vô

cùng quan trọng trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là trong công tác

phòng chống tham nhũng, nhiều vụ việc tiêu cực, vi phạm đã được báo chí phản

ánh và đưa ra ánh sáng, góp phần làm trong sạch bộ máy.

Tự do ngôn luận, tự do báo chí chân chính chỉ có thể tồn tại trong một

quốc gia có chủ quyền, không bị lệ thuộc vào bất kỳ thế lực nào. Bởi vậy, đi liền

với việc thực hiện các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, mỗi người dân cũng


phải chấp hành nghiêm các quy định về nghĩa vụ của công dân để bảo đảm lợi

ích của quốc gia, dân tộc.

Mọi hành vi lạm dụng, lợi dụng quyền tự do báo chí, tự do ngôn để xâm

phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân

đều bị nghiêm cấm và có chế tài nghiêm khắc. Không chỉ riêng tại Việt Nam, ở

tất cả các quốc gia khác trên thế giới đều quy định tương tự.

Đơn cử, Tuyên ngôn về Nhân quyền và Dân quyền Pháp năm 1789 ghi

nhận: “Bất kỳ công dân nào cũng có thể nói, viết và công bố tự do; tuy nhiên, họ

sẽ phải chịu trách nhiệm nếu lạm dụng quyền tự do này theo quy định của pháp

luật”. Hay như Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (1966) cũng

quy định mọi người có quyền tự do ngôn luận nhưng việc thực hiện quyền này

phải kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt để tôn trọng các quyền

hoặc uy tín của người khác; bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức

khoẻ hoặc đạo đức của xã hội.

Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam luôn được tôn trọng và

bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật. Việc đưa ra bảng xếp hạng từ những

con số, dữ liệu sai lệch rồi cho rằng Việt Nam không có tự do ngôn luận, tự do

báo chí là những luận điệu xuyên tạc, đi ngược lại lợi ích của Việt Nam và cách

làm sai trái đó khiến bức tranh tự do báo chí trên thế giới nói chung bị bóp méo,

biến dạng.

Một trong những mưu đồ chống phá của các thế lực thù địch hiện nay

 Khi bàn về đấu tranh tư tưởng, nguyên Tổng thống Mỹ Richard Nixon đã

tuyên bố: “Mặt trận tư tưởng là mặt trận quyết định nhất”, “toàn bộ vũ khí của

Mỹ, các hoạt động mậu dịch, viện trợ, quan hệ kinh tế sẽ không đi đến đâu nếu

chúng ta thất bại trên mặt trận tư tưởng”.


Một số nhà tư tưởng của các nước phương Tây cũng nhận định: “Một đài

phát thanh cũng có thể bình định xong một đất nước”, “một đô la chi cho tuyên

truyền có tác dụng ngang với 5 đô la chi cho quốc phòng”… Chính bởi vậy, các

thế lực thù địch đã tìm cách lợi dụng vỏ bọc “dân chủ”, “nhân quyền” để tạo cớ

tấn công, chống phá mặt trận tư tưởng của ta. Hiện nay, ngoài các cơ quan báo,

đài đang duy trì hoạt động, các tổ chức, cá nhân thù địch còn lập ra hàng ngàn

trang web để lan truyền những thông tin sai trái, độc hại.

Thông qua vỏ bọc tự do ngôn luận, tự do báo chí, các thế lực xấu đang

triệt để sử dụng chiêu trò “nội công, ngoại kích”. Một mặt, chúng tuyển lựa, đào

tạo, hỗ trợ các “con buôn dân chủ” trong nước tiến hành những hoạt động công

kích Đảng, Nhà nước, các cơ quan chính quyền dưới vỏ bọc “nhà báo tự do”,

“phóng viên tự do”.

Mặt khác, các thế lực bên ngoài thường xuyên rêu rao về tính tuyệt đối

của quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, kích động các giá trị dân chủ quá đà

“nhân quyền cao hơn chủ quyền” và đồng thời gây sức ép, đưa ra các bản báo

cáo, phúc trình, xếp hạng có nội dung sai sự thật về tình hình tự do báo chí tại

Việt Nam; vu khống Đảng, Nhà nước Việt Nam “đàn áp” báo chí, cho rằng Việt

Nam không có tự do báo chí, không có tự do ngôn luận!

Việc xuyên tạc tình hình dân chủ, nhân quyền của Việt Nam nói chung và

việc thực hiện quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận nói riêng không phải là mới.

Đây là kịch bản cũ thường xuyên được các cá nhân, tổ chức chống đối thực hiện.

Thông qua việc vu cáo Việt Nam không có tự do ngôn luận, tự do báo chí, các

thế lực thù địch đã tìm cách hòng thò tay can thiệp vào công việc nội bộ của

Việt Nam. Thực chất, đây là một thủ đoạn trong cuộc chiến trên mặt trận tư

tưởng mà các thế lực thù địch triệt để lợi dụng, nhất là trong bối cảnh bùng nổ

thông tin như hiện nay.

Nhận diện hoạt động các tà đạo, tạp đạo gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự

 Hiện nay, những loại hình tín ngưỡng, tôn giáo có yếu tố mê tín dị đoan

đang có diễn biến phức tạp, khó kiểm soát, quản lý khi vẫn còn một bộ phận

quần chúng nhân dân tin theo và gây ra nhiều hệ lụy đến đời sống xã hội. 

Dưới góc độ tư tưởng, mê tín dị đoan khiến cho họ xa rời với khoa học

hiện đại, phủ nhận những tiến bộ xã hội, mất niềm tin với đời sống xã hội khi

dành niềm tin tuyệt đối, mù quáng vào một thế giới siêu nhiên, vào sự quyết

định và chi phối của thần linh, ma quỷ. Trong đời sống sinh hoạt xã hội hàng

ngày, mê tín dị đoan gây nên những lãng phí, bất ổn, đau thương, mất mát, tiêu

hao của cải, vật chất của con người. Ở mức độ nguy hiểm hơn, đã có không ít

trường hợp từng có nhiều người bị mắc bệnh nhưng lại tin vào sự mê tín rằng


chỉ làm lễ để cúng bái thì có thể “đuổi con ma”, chữa khỏi bệnh, từ đó dẫn đến

mất mạng hoặc mang thương tật, tàn phế. 

Những hệ lụy của mê tín dị đoan rõ ràng đang ảnh hưởng không nhỏ đến

nhận thức, đời sống của người dân. Đặc biệt, có một thực tế nguy hại khi trong

số những người tin theo thần linh, đi theo tà đạo, tạp đạo ngoài bộ phận quần

chúng có đời sống khó khăn, nhận thức hạn chế thì có cả người có học thức, có

hiểu biết nhưng vẫn tin và làm theo những chỉ dẫn hoang đường, tin theo lời nói

của những người tự nhận mình có “khả năng tâm linh”! Thực tế đó không thể

phù hợp trong một xã hội mà chúng ta đang xây dựng - xã hội công bằng, dân

chủ, văn minh. 

Trong khi những loại hình tín ngưỡng, tôn giáo có yếu tố mê tín dị đoan

đã và đang gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế, xã hội thì những hiện

tượng tín ngưỡng tôn giáo có yếu tố tà đạo, tạp đạo do một số tổ chức, cá nhân

có ý đồ xấu về chính trị thành lập, nuôi dưỡng đang có những hoạt động gây ảnh

hưởng đến an ninh, trật tự. Có đối tượng còn trở thành tay sai, quân cờ của các

thế lực thù địch để tuyên truyền các luận điệu xuyên tạc về tình hình tự do tôn

giáo ở Việt Nam; kích động, lôi kéo tín đồ cực đoan, quá khích chống lại chủ

trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, lợi dụng vấn đề tôn giáo,

tín ngưỡng để gây rối, phá hoại chính sách đại đoàn kết dân tộc, gây bất ổn trong

nội bộ nhân dân. Một số đối tượng cầm đầu trong các tổ chức như “Tin Lành

Chrish”, “tà đạo Hà Mòn”, “Tin Lành Đề Ga”, “đạo Bà Cô Dợ”, “tà đạo Dương

Văn Mình”… còn lợi dụng vấn đề tôn giáo để lừa bịp, kích động bà con đồng

bào dân tộc thiểu số tham gia các hoạt động ly khai tự trị, chống đối chính

quyền. Hành động này không chỉ xâm phạm đến trật tự trị an tại địa phương mà

còn  gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, chủ quyền lãnh thổ…

Ngoài ra, các cá nhân này còn lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo,

lợi dụng niềm tin của tín đồ để kích động và tiến hành các hoạt động chống

chính quyền, chống chế độ dưới chiêu bài đấu tranh cho tự do tôn giáo, dân chủ,

nhân quyền… Số này biến mình thành những quân cờ dưới sự hà hơi tiếp sức


của các tổ chức chống phá ở nước ngoài, điển hình là Human Rights Watch, Ủy

ban Tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ (USCIRF)… Đổi lại, các tổ chức thiếu thiện

chí với Việt Nam nêu trên sẽ có thông tin sai lệch từ các đối tượng chống đối

trong nước cung cấp. Đây là cơ sở để họ cho “ra lò” các báo cáo thường niên về

nhân quyền, về tự do tôn giáo toàn cầu với nội dung chứa đựng những luận điệu

phiến diện, thiếu khách quan về tình hình nhân quyền và tự do tôn giáo ở Việt

Nam, vu cáo Việt Nam “đàn áp tôn giáo”! Đây chính là cái cớ để họ gây sức ép

về mặt chính trị, ngoại giao,  tìm cách can thiệp vào công việc nội bộ của Việt

Nam.

Chính vì vậy, việc nhận diện đúng đắn những loại hình tín ngưỡng, tôn

giáo có yếu tố mê tín dị đoan, các tà đạo, tạp đạo nêu trên sẽ góp phần nâng cao

nhận thức của mỗi người dân. Qua đó giúp chúng ta hiểu rõ đâu là chính đạo,

đâu là tà đạo, nắm được tác hại của các tà đạo, tạp đạo đối với đời sống vật chất,

tinh thần của người dân và những ảnh hưởng xấu đến an ninh, an toàn xã hội. Từ

đó hình thành tính tự giác trong công tác phòng ngừa, tham gia đấu tranh ngăn

ngừa hoạt động của các tà đạo. Đây cũng là cơ sở quan trọng để các cơ quan

chức năng nhận được sự đồng tình, ủng hộ từ nhân dân, tạo thế trận lòng dân

trong việc tẩy chay các hiện tượng tà đạo, tạp đạo; xử lý nghiêm số đối tượng

cầm đầu, cốt cán lợi dụng vấn đề tự do tôn giáo, tín ngưỡng vi phạm pháp luật,

xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Tranh thủ sự đồng tình, ủng

hộ của quần chúng nhân dân ngay tại cơ sở, tuyên truyền vận động người dân

tuân thủ theo pháp luật, đảm bảo đời sống tín ngưỡng, tôn giáo đúng đắn, lành

mạnh.