Thứ Tư, 5 tháng 7, 2023

Những ai đang bị kẻ xấu xúi giục, lôi kéo cần sớm tỉnh ngộ

 Những ai đang bị kẻ xấu xúi giục, lôi kéo cần sớm tỉnh ngộ

Trong căn nhà đối diện với trụ sở UBND xã Ea Tiêu, huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk - nơi xảy ra vụ khủng bố vào rạng sáng 11/6, ông Y Luyện Niê Kđăm, nguyên Bí thư Tỉnh uỷ Đắk Lắk ngồi lặng im nhìn xa xăm, rưng rưng nước mắt. Ông đau xót vì chính những người gây ra tội ác vào cái đêm định mệnh ấy hầu hết là người đồng bào dân tộc của mình, vì nghe theo kẻ xấu mà hành động mất nhân tính.

Ông tâm sự, cách đây hơn 20 năm, tại Đắk Lắk cũng từng xảy vụ việc một bộ phận người đồng bào dân tộc thiểu số bị bọn phản động FULRO lưu vong và các thế lực thù địch xúi giục, lôi kéo tham gia gây rối, biểu tình, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự.

 “Khi đó, đang là Bí thư Tỉnh uỷ, chứng kiến bà con mình nghe theo lời kẻ xấu xúi giục, mình buồn lắm. Đảng, Nhà nước ta luôn chăm lo đời sống cho người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số nhưng một số ít người vì lợi ích cá nhân, nghe theo lời dụ dỗ của kẻ xấu mà làm điều trái với lương tâm, trái với chính truyền thống tốt đẹp của đồng bào mình” - ông Y Luyện Niê Kđăm lên án và cho rằng, nhiều người vì kém hiểu biết, nghe theo lời dụ dỗ rồi cửa mất nhà tan, vợ chồng, con cái ly tán, bản thân dính vào tù tội.

Những năm qua, cuộc sống của đồng bào ngày càng khá lên, rất nhiều người vươn lên làm giàu, cớ sao lại nghe theo những lời xúi giục rồi đi gây rối, giết người, làm những việc nhẫn tâm như vậy?  Ông Y Luyện Niê Kđăm cũng khuyên bà con hãy tập trung chăm lo làm ăn, phát triển kinh tế.

“Xuất phát từ truyền thống nhân ái của dân tộc Việt Nam, Đảng, Nhà nước ta có chính sách nhân đạo, khoan hồng với những người lầm đường, lạc lối. Do đó, những ai đang bị kẻ xấu xúi giục, lôi kéo cần sớm tỉnh ngộ, hối cải, kiên quyết không nghe theo, sớm dứt bỏ để trở thành người có ích cho xã hội” - nguyên Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk chia sẻ.

Trò chuyện với chúng tôi, nhiều bà con dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên cho biết, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm chăm lo phát triển kinh tế - xã hội cho vùng Tây Nguyên, nhờ đó cuộc sống người dân vùng cao ngày càng phát triển, no ấm.

“Chưa bao giờ quê hương lại giàu đẹp, khang trang, sạch sẽ như lúc này. Bà con đồng bào Kho mình bây giờ không còn gia đình nào phải chạy vạy từng bữa ăn. Cuộc sống ấm no, đầy đủ. Bây giờ chỉ lo lao động sản xuất cho giỏi mà làm giàu thôi” - ông Lơ Mu Ha Djô (sinh năm 1960, trú tại thôn 6, xã Đạ Sar, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng) tự hào khi nói về sự đổi thay mạnh mẽ của quê hương.

Ông kể rằng, thời kỳ mới giải phóng, đất nước vừa thống nhất, hầu hết bà con còn thiếu đói, mù chữ, bệnh tật không có thuốc chữa, không được chăm sóc y tế đầy đủ. Đã vậy, các thế lực thù địch còn thường xuyên kích động, xuyên tạc chính sách của Đảng, Nhà nước, dụ dỗ bà con đi theo chúng, làm những việc xấu, vi phạm pháp luật, gây tổn hại tới khối đại đoàn kết dân tộc. Ngày nay, đất nước, quê hương, buôn làng đã khởi sắc từng ngày, đời sống người dân nâng cao...

Để chứng minh cho sự đổi thay to lớn trên quê hương mình, ông Lơ Mu Ha Djô vẫy tay, ra hiệu cho tôi rời khỏi căn nhà khang trang của gia đình để bước ra con đường lớn. Ông chỉ về bên phải và nói: “Đó là hội trường văn hóa của thôn. Dưới nữa là nhà thờ Tin lành vừa được xây dựng. Trên kia có cái nhà thờ lớn nữa. Con đường này Nhà nước mới mở rộng gấp đôi, bà con hiến đất, Nhà nước bỏ vốn đầu tư. Con gái mình làm ở trạm y tế xã, con rể vừa lên rẫy chăm cây cà phê. Vợ chồng mình già rồi, ở nhà trông cháu, lo việc nhà”.

Sự thật không thể phủ nhận về tự do báo chí tại Việt Nam

 Sự thật về tự do báo chí tại Việt Nam

Việt Nam luôn là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, chúng ta tuân thủ luật pháp quốc tế, trong đó có Điều 19, Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và biểu đạt; bao gồm tự do giữ ý kiến mà không bị can thiệp, cũng như tự do tìm kiếm, thu nhận và truyền bá thông tin và tư tưởng bằng bất cứ phương tiện truyền thông nào và không giới hạn về biên giới”. Báo chí là diễn đàn của nhân dân, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, để nhân dân trình bày những tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của mình, thông qua đó báo chí thực hiện chức năng phản biện xã hội, đề xuất những ý kiến đối với Đảng, Nhà nước; định hướng dư luận trong quá trình xây dựng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng, trật tự và an toàn xã hội.

Điều đó càng được khẳng định rõ về quyền con người, quyền công dân trên lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí luôn được Nhà nước ta bảo đảm, phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước và thông lệ quốc tế. Quyền tự do ngôn luận và quyền tiếp cận thông tin là những quyền cơ bản của quyền con người, của mọi công dân. Nhà nước Việt Nam đã xây dựng khung pháp luật về quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin của công dân đầy đủ, đồng bộ, hoàn toàn tương thích với pháp luật quốc tế về quyền con người. Điều 25, Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin… Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.

Theo đó, khoản 1, Điều 3, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 cũng khẳng định: “Mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin”. Bên cạnh đó, Luật Báo chí năm 2016 và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 cũng quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí.

Tính đến năm 2022, cả nước có 127 cơ quan báo, 670 cơ quan tạp chí (có 327 tạp chí lý luận chính trị và khoa học, 72 tạp chí văn học nghệ thuật), 72 cơ quan đài phát thanh, truyền hình, 77 kênh phát thanh trong nước, 194 kênh truyền hình (7 kênh truyền hình thiết yếu quốc gia, 63 kênh truyền hình địa phương), 57 kênh nước ngoài. Nhân sự hoạt động trong lĩnh vực báo chí có khoảng 41.000 người, trong đó, khối phát thanh, truyền hình xấp xỉ 16.500 người. Bên cạnh đó, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực báo chí ngày càng phát triển theo hướng hợp tác đa quốc gia và đa lĩnh vực. Hiện nay đã có gần 40 hãng truyền thông quốc tế có mặt tại Việt Nam, trong đó có nhiều hãng lớn như CNN, Reuters, AP, AFP, Kyodo, Hãng thông tấn Asia (Hàn Quốc), Nhật báo kinh tế Aju (Hàn Quốc) và Hãng thông tấn Rossiya Segodnya (Nga)...

Các cơ quan truyền thông quốc tế như CNN, TV5, NHK, DW, Australia Network, KBS, Bloomberg và hầu hết kênh truyền thông lớn thế giới đều đến được với công chúng Việt Nam dễ dàng, thuận tiện mà không có bất kỳ rào cản công nghệ hay pháp lý nào. Các nhà báo quốc tế được Chính phủ Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi để tác nghiệp. Nhiều nhà báo Việt Nam được Nhà nước tạo điều kiện đi học tập, trao đổi kinh nghiệm chuyên môn, tác nghiệp báo chí tại nhiều quốc gia trên thế giới.

Đến nay, Việt Nam nằm trong top 20 nước có số người sử dụng Internet cao nhất thế giới với 68,7% người sử dụng, cao hơn mức trung bình của thế giới (51,4%). Có thể khẳng định rằng, ở Việt Nam, Internet đã trở thành công cụ rất quen thuộc, là “một phần tất yếu” trong cuộc sống của mọi tổ chức và cá nhân, nhất là trước sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; những tiện ích mang lại từ hệ thống Internet nhanh chóng được ứng dụng trong thực tiễn, nhằm bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của mọi tổ chức, cá nhân.

Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước thuộc hệ thống chính trị trong những năm gần đây đã được các cấp, các ngành đặc biệt quan tâm; trong đó, công tác xây dựng Chính phủ điện tử, Quốc hội điện tử đã có bước tiến mạnh mẽ, hướng tới Chính phủ số, xã hội số và nền kinh tế số là một trong những ưu tiên hàng đầu trong giai đoạn 2016 - 2020 để tạo ra nền tảng vững chắc cho việc chuyển đổi số toàn diện trong giai đoạn 2021 - 2030. Đánh giá của Liên hợp quốc về phát triển Chính phủ điện tử, liên tiếp từ năm 2014 đến nay, Việt Nam đều tăng hạng. Hiện, Việt Nam xếp thứ 86/193 quốc gia trên thế giới và đứng thứ 6 tại khu vực Đông Nam Á.

Cùng với đó, thông qua các trang mạng xã hội (Facebook, YouTube, Lotus, Viber, Zalo, Twitter, Instagram...), người dân Việt Nam có thể chia sẻ thông tin, hình ảnh, clip, bày tỏ quan điểm, ý kiến cá nhân của mình về mọi vấn đề của đời sống xã hội. Trong hệ thống chính trị, bộ máy hành chính từ Trung ương đến địa phương ở Việt Nam ngày càng có nhiều cơ quan, tổ chức sử dụng mạng xã hội để làm việc, giải quyết các thủ tục hành chính, giữ mối liên hệ với người dân, nắm bắt và giải quyết kịp thời tâm tư, nguyện vọng chính đáng của quần chúng nhân dân.

Với cơ sở chính trị, pháp lý đã khẳng định và thực tiễn đã chứng minh quyền tự do báo chí ở Việt Nam luôn được tôn trọng, bảo đảm. Thực tiễn đó bác bỏ, phủ nhận những luận điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch về bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận ở Việt Nam.

Nhận diện tổ chức RSF và bảng xếp hạng tự do báo chí

 Nhận diện tổ chức RSF và bảng xếp hạng tự do báo chí

Phóng viên không biên giới hay Ký giả không biên giới (Tiếng Pháp: Reporters sans frontiers - RSF) là một tổ chức phi chính phủ với phạm vi hoạt động trên toàn cầu. Mục đích của họ được cho là bảo vệ tự do báo chí trên toàn thế giới, chống kiểm duyệt và tạo áp lực giúp đỡ những nhà báo đang bị giam giữ. Tổ chức này lấy Điều 19 của Tuyên ngôn quốc tế Nhân quyền làm cơ sở để hành động. Phóng viên không biên giới được Robert Ménard, Rémy Loury, Jacques Molénat và Élmilien Jubineau sáng lập tại Montpellier, Pháp, năm 1985.

Hiện, tổ chức này có trụ sở tại quận 2, Paris; mở văn phòng tại Berlin, Brussels, Geneva, Madrid, Rome, Stockholm, Tunis, Vienna và Washington DC. Văn phòng đầu tiên của họ ở châu Á, đặt tại Đài Bắc, Đài Loan (Trung Quốc) vào tháng 7/2017. Ngoài ra, tổ chức này còn hoạt động chung với 150 thông tin viên, phóng viên trên khắp các châu lục cũng như với hàng chục tổ chức đảng phái độc lập với chính phủ. Nếu nhìn vào những thông tin trên thì nhiều người nghĩ RSF hoạt động “ngay hàng thẳng lối”, giúp thúc đẩy tự do và văn minh, thực sự vì sự phát triển con người.

Song thực tế lại hoàn toàn khác. Tuy viện dẫn Tuyên ngôn Nhân quyền của Liên hợp quốc về nhân quyền, tự do ngôn luận nhưng RSF lại “hát theo người cho bánh mỳ”, bôi nhọ các nước khác, trái ngược với chủ trương của Liên hợp quốc. Nhiều quốc gia trên thế giới cáo buộc tổ chức RSF đứng đằng sau những vụ việc phức tạp, gây rối, bất ổn, kích động bạo lực.

Thực chất, RSF tồn tại và hoạt động dựa vào một phần nguồn hỗ trợ kinh phí của một số chính giới phương Tây. Chính vì vậy, trong các bảng xếp hạng tự do báo chí hằng năm, RSF thường tuân theo sự sắp đặt một cách có chủ ý của các chính phủ quốc gia tài trợ cho tổ chức này hoạt động. Những yếu tố được tổ chức này sử dụng để đánh giá tự do của một nền báo chí thiếu tính bao trùm, không cân nhắc đến các yếu tố văn hóa, xã hội, nhận thức của từng quốc gia riêng biệt. Phần lớn những thông tin được đưa ra là không khách quan, không có hoạt động khảo sát, kiểm chứng thực chất mà đó là những đánh giá thiếu căn cứ hoặc được suy diễn, phóng đại.

Về bảng đánh giá tự do báo chí World Press Freedom Index hằng năm được RSF đưa ra, không khó để thấy căn cứ đánh giá, xếp hạng của RSF không thuyết phục. Riêng đối với Việt Nam, RSF không có một nghiên cứu chuyên sâu, cụ thể nào về tình hình báo chí. Đồng thời, tổ chức này cũng không sử dụng bất kì báo cáo nào của Chính phủ Việt Nam để đưa ra đánh giá. Trái lại, việc RSF xếp loại tự do báo chí ở Việt Nam lại thường dựa vào những thông tin do số tổ chức, cá nhân phản động, thù địch, cơ hội chính trị, có các hoạt động vi phạm pháp luật Việt Nam cung cấp, do đó thông tin không khách quan, sai thực tế về tình hình tự do báo chí ở Việt Nam. Thực tế, cách đánh giá của tổ chức này thông qua bảng xếp hạng tự do báo chí thường niên không trung thực và không thể hiện được bản chất vấn đề. Chính vì vậy, mức độ tin cậy trong bảng đánh giá tự do báo chí được RSF đưa ra hầu như không có.

Với động cơ, cách làm như vậy, năm nay RSF vẫn xếp Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia đứng gần cuối trong “Bảng xếp hạng chỉ số tự do báo chí thường niên năm 2023”. Cổ suý cho bảng xếp hạng là những luận điệu cũ rích được các trang BBC tiếng việt, RFA, RFI, VOA tiếng Việt… và một số tổ chức, cá nhân phản động triệt để sử dụng nhằm mục đích quy kết, vu khống Việt Nam không có tự do báo chí nên xếp hạng tự do báo chí Việt Nam luôn ở vị trí áp chót bảng. Bên cạnh đó, họ xuyên tạc Đảng, Nhà nước Việt Nam quản báo chí theo chế độ “đăng ký”, “bị kiểm duyệt”, “hà khắc”...

Từ việc xuyên tạc trên, nhiều tổ chức và trang mạng xã hội thù địch, phản động kêu gọi thay đổi thể chế chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi chính sách với những luận điệu xảo trá như: “Thể chế hiện nay không tạo môi trường để thay đổi báo chí được mà phải thay đổi thể chế sâu rộng”; “Nhà nước phải cho phép báo chí tư nhân hoạt động”. Không những vậy, một số cơ quan truyền thông phương Tây thiếu thiện chí với Việt Nam như BBC, RFI, RFA, VOA... và các hội nhóm, các cá nhân phản động trên YouTube, Facebook mỗi khi có sự kiện, vụ việc cụ thể liên quan đến báo chí lại la lối, suy diễn, xuyên tạc tình hình trong nước. Với sự giúp sức của các tổ chức thù địch, một số đối tượng phản động trong nước tự đứng ra thành lập các hội nhóm phi pháp nhằm cổ súy cho cái gọi là “tự do báo chí”, “xã hội dân sự” theo mưu đồ của chúng.

Những thông tin mà “Bảng xếp hạng thường niên về tự do báo chí” năm 2023 một lần nữa khẳng định sự thiếu khách quan, sai thực tế và quy chụp của RSF về tình hình tự do báo chí tại Việt Nam.

Vụ việc Hoàng Thị Minh Hồng bị tạm giữ

 Tại cuộc họp báo thường kỳ, trả lời câu hỏi của phóng viên về việc bà Hoàng Thị Minh Hồng, bị Công an TP HCM tạm giữ cùng chồng và hai nhân viên với cáo buộc trốn thuế, Phó Phát ngôn Nguyễn Đức Thắng cho biết, Việt Nam luôn khẳng định mạnh mẽ cam kết của mình trong bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, phát triển xanh và bền vững. Điều này đã được nêu rõ tại nhiều văn bản pháp luật, chủ trương, chính sách của Việt Nam.

Hiện nay, Chính phủ Việt Nam đang triển khai nhiều biện pháp tổng thể, toàn diện trong lĩnh vực chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, tuần hoàn. Tại Việt Nam có hàng trăm các tổ chức xã hội, các tổ chức phi chính phủ đang tăng cường đa dạng hóa hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.

"Tại Việt Nam, các cá nhân, hội, tổ chức nhân dân, tổ chức phi chính phủ được bảo đảm hoạt động bình thường theo đúng quy định, đồng thời tuân thủ và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hành động của mình. Như tại các quốc gia khác trên thế giới, những người vi phạm pháp luật sẽ phải xử lý theo đúng các quy định của pháp luật", Phó Phát ngôn Nguyễn Đức Thắng nêu rõ.

Thứ Ba, 4 tháng 7, 2023

"Trung với Đảng” - phẩm chất không thể xuyên tạc

Nhằm thực hiện mưu đồ “phi chính trị hóa” Quân đội, các thế lực thù địch với cách mạng Việt Nam ra sức xuyên tạc phẩm chất “Trung với Đảng” của Quân đội nhân dân Việt Nam. Nhưng thực tiễn 79 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta đã bác bỏ sự xuyên tạc đó. Để xuyên tạc phẩm chất “Trung với Đảng” của Quân đội nhân dân Việt Nam, các thế lực thù địch sử dụng những thủ đoạn rất tinh vi. Họ khẳng định rằng “quân đội không cần trung thành với Đảng có đủ cơ sở lý luận và thực tiễn lịch sử”. Ở góc độ lý luận, họ cắt xén nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lê-nin về nguồn gốc ra đời và bản chất giai cấp của quân đội, khi dẫn ra luận điểm “Quân đội chỉ xuất hiện khi có nhà nước, là một thành phần của nhà nước, do nhà nước nuôi dưỡng để bảo vệ Tổ quốc”. Từ đó, họ suy diễn ra: “quân đội chỉ phục tùng nhà nước, không phục tùng bất cứ đảng phái nào trong xã hội. Để tăng sức thuyết phục cho lập luận trên và minh chứng cho luận điểm “quân đội chỉ có nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc mà không có nghĩa vụ trung thành với bất cứ chính đảng nào”, họ viện dẫn các thể chế chính trị phương Tây, với chế độ đa đảng, quân đội ở đó không do đảng nào lãnh đạo. Những thủ đoạn nói trên thật là thâm hiểm, vì nghe thoáng qua có vẻ như đủ cả cơ sở lý luận và thực tiễn, nên đã mê hoặc được một bộ phận quần chúng nhân dân, trong đó có cả một số cán bộ, đảng viên. Không ít người cả tin, mất cảnh giác, dao động về lập trường, đã phụ họa với các thế lực thù địch, “tích cực” share (chia sẻ) những luận điệu sai trái đó trên mạng xã hội. Những người này không tỉnh táo để tự hỏi mình rằng: tại sao những luận điệu đó lại được các cơ quan truyền thông quốc tế vốn không có thiện cảm với Việt Nam, cùng những kẻ phản bội Tổ quốc, những người có thâm thù với cách mạng ở hải ngoại lại ra sức tung hô, cổ súy? Cần khẳng định ngay rằng, mục tiêu của các thủ đoạn đó chỉ nhằm loại bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam - nguyên tắc cơ bản về xây dựng quân đội cách mạng. Qua đó, làm cho Quân đội nhân dân Việt Nam mất phương hướng chính trị, xa rời mục tiêu, lý tưởng của Đảng, phai nhạt bản chất giai cấp công nhân; “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” sang lập trường chính trị tư sản; không giữ được bản chất cách mạng, là công cụ bạo lực sắc bén để “bảo vệ Nhân dân, Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa” như Điều 65 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 xác định. Những thủ đoạn đó không có cơ sở lý luận và thực tiễn đúng đắn, cần phải được vạch trần, bác bỏ. Trước hết, về lý luận, Quân đội nhân dân Việt Nam được xây dựng theo lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin về quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản. Theo đó, Quân đội phải được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Xa rời sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Quân đội sẽ mất phương hướng chính trị và mục tiêu chiến đấu, không còn là quân đội cách mạng chiến đấu vì nhân dân. Đúng là quân đội là một thành phần của nhà nước, nhưng nhà nước nào cũng mang bản chất giai cấp của lực lượng chính trị cầm quyền, chịu sự chi phối của chính đảng cầm quyền. Ngay trong thể chế chính trị tư sản, dưới chế độ đa đảng, đảng nào cầm quyền thì đảng đó vẫn chi phối sự hoạt động của quân đội; Bộ trưởng Quốc phòng thường là người của đảng cầm quyền, hoặc thân đảng cầm quyền. Đó là chưa kể thực chất chế độ đa đảng ở những quốc gia đó không làm thay đổi được tính chất tư sản của nhà nước. Ở đó vẫn là sự cầm quyền của các đảng tư sản và nhà nước pháp quyền ở đó là nhà nước tư sản, nên quân đội ở nơi đây là công cụ bảo vệ quyền lợi của giai cấp tư sản là chủ yếu. Ở khía cạnh thực tiễn, cần phải hiểu đúng bối cảnh lịch sử đặc biệt của sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh trao tặng Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn lá cờ “Trung với nước, hiếu với dân” để không mắc mưu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Đó là thời kỳ Đảng ta đã rút vào hoạt động bí mật từ tháng 11-1945, nên không thể công khai yêu cầu “trung với Đảng” trong bối cảnh bấy giờ. Tách rời bối cảnh lịch sử đặc biệt đó để cho rằng Hồ Chí Minh không yêu cầu Quân đội phải trung thành với Đảng là sự xuyên tạc tư tưởng nhất quán của Người về mối quan hệ giữa Quân đội nhân dân Việt Nam với Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự thật là nhiều lần Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta phải trung thành với Tổ quốc, với Đảng, với nhân dân; bởi theo Người: “Quân đội ta… là một quân đội nhân dân, do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”. Tại Hội nghị quân sự lần thứ năm, tháng 8-1948 (khi Việt quốc và Việt cách đã tan rã sau vụ Ôn Như Hầu tháng 7-1946), Bác Hồ đã giải thích từ Trung trong 6 nhiệm vụ (trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung) của người tướng trong Quân đội. Người nói: “Trung là trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với nhân dân, với cách mạng, với Đảng”. Tại lễ phong quân hàm cho cán bộ cao cấp Quân đội, ngày 22-12-1958, Bác nói: “Trải qua 14 năm phấn đấu, Quân đội ta đã hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và Chính phủ giao cho; đã có truyền thống vẻ vang là tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân”. Tại lễ kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22-12-1964, Người khẳng định: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh: Quân đội nhân dân Việt Nam “trung với nước, hiếu với dân” và “trung với Đảng, hiếu với dân” là thống nhất; là quan điểm xuyên suốt của Người về xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam và mối quan hệ mật thiết giữa Quân đội nhân dân với Tổ quốc và Đảng Cộng sản. Thực tiễn lịch sử 79 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam chứng minh rằng: Quân đội ta luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu hết mực trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều đó được thể hiện: ngay từ ngày đầu thành lập, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân - tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam đã được đặt dưới sự lãnh đạo của chi bộ Đảng. Bằng công tác tư tưởng, Quân đội ta lấy nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng của mình; lấy mục tiêu, lý tưởng của Đảng là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội làm mục tiêu chiến đấu của Quân đội. Bằng công tác tổ chức, hệ thống tổ chức Đảng từ Quân ủy Trung ương đến chi bộ trong Quân đội, cùng hệ thống cơ quan chính trị và các tổ chức quần chúng của Đảng cũng được thiết lập, đảm bảo cho sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội luôn được giữ vững. Thông qua công tác cán bộ, công tác đảng, công tác chính trị đã xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân; sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Cùng với đó, thông qua các mặt công tác: chính sách, dân vận, địch vận, bảo vệ,… công tác đảng, công tác chính trị đã đảm bảo cho Quân đội luôn thực hiện nghiêm túc mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng. Nhờ thế mà mọi hoạt động của Quân đội nhân dân Việt Nam luôn giữ đúng “con đường chính trị” của Đảng, nhiệm vụ quân sự luôn “phục tùng nhiệm vụ chính trị” của Đảng; đóng góp phần quan trọng vào thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, làm nghĩa vụ quốc tế trước đây, cũng như sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi nạn tin giả - vấn đề cấp thiết hiện nay

Hiện nay, tin giả đã trở thành vấn nạn, gây nhiễu loạn thông tin, tác động tiêu cực đến tư tưởng, tình cảm, lợi ích từng cá nhân, tổ chức và cả xã hội, sự phát triển của đất nước. Đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tin giả đã trở thành vấn đề cấp thiết của cả hệ thống chính trị và toàn dân. Tin giả còn được gọi là tin rác hoặc tin tức giả mạo, bao gồm các thông tin cố ý hoặc lừa bịp lan truyền qua phương tiện truyền thông tin tức truyền thống (in và phát sóng) hoặc phương tiện truyền thông xã hội trực tuyến. Những thông tin này thường sử dụng lối viết giật gân, không trung thực hoặc dùng các tiêu đề bịa đặt để câu view, tăng lượng độc giả. Thực chất, tin giả là tin tức sai sự thật. Tin giả ra đời từ rất lâu trong đời sống xã hội, do cá nhân hoặc tổ chức “sản xuất”, có hình thức tồn tại khác nhau, được truyền đi bằng những phương tiện thông tin phù hợp với sự phát triển của xã hội. Nội dung của tin giả thường chứa đựng những thông tin không có thật, hoặc đã bị thêm thắt, cắt xén, lai ghép. Nó được “nhà sản xuất” đưa vào xã hội dưới nhiều hình thức, như: “tin nóng”, “tờ rơi”, “thông báo”, phim, video clip,… sau đó được tung ra xã hội với nhiều cách thức thông qua: truyền khẩu, rỉ tai,… hoặc các báo, tạp chí viết, phát thanh,... không chính thống. Ngày nay, với sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, công nghệ thông tin, ứng dụng tiện ích internet bùng nổ, thì trang báo điện tử, blog, mạng xã hội, như: Facebook, Twitter, YouTube, Google, Yahoochat, Instagram, Zalo,… phát triển, liên kết tới hàng tỷ người sử dụng thì không gian mạng đã trở thành nơi, phương tiện chủ yếu để tin giả tồn tại và lan truyền. Mục đích của nó là hướng tới làm méo mó nhận thức, hành động của người đọc, bôi nhọ, hạ bệ hình ảnh, việc làm của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, chế độ xã hội, đất nước mà đối tượng sản xuất nhắm tới. Những tháng đầu năm 2020, cả thế giới, trong đó có Việt Nam đang căng mình để đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi, loại trừ đại dịch Covid-19, bảo đảm ổn định cuộc sống của người dân. Thế nhưng, các “anh hùng bàn phím” lại bất chấp đạo lý, tìm mọi cách tung tin bịa đặt về nguồn gốc, tiến triển, phương thức phòng, chống và chữa trị virus corona chủng mới. Theo thống kê của cơ quan chức năng Bộ Công an, từ khi xuất hiện dịch bệnh đến nay (18-3-2020), trên không gian mạng đã có gần 300.000 tin, bài; gần 600.000 video clip đăng trên mạng xã hội, trong đó có rất nhiều nội dung chưa được kiểm chứng, xuyên tạc, sai sự thật. Những tin giả này, có hệ lụy rất lớn, tác động tiêu cực đến tâm lý xã hội, làm cho người dân hoang mang, lo lắng, rối loạn; đình trệ hệ thống sản xuất, lưu thông hàng hóa, tạo điều kiện cho những kẻ “buôn gian, bán lận”, đầu cơ, tích trữ, kiếm lời bất chính. Đặc biệt, nhiều tổ chức, cá nhân phản động trong và ngoài nước đã liên kết, chi hàng chục ngàn USD để chạy quảng cáo trên Facebook với các nội dung xuyên tạc, đưa tin sai sự thật nhằm làm rối loạn thông tin tình hình dịch bệnh, công kích Chính phủ Việt Nam che dấu sự thật, chia rẽ tinh thần đoàn kết của Việt Nam với các nước trong phòng, chống, ngăn chặn, đẩy lùi dịch Covid-19. Bên cạnh việc xuyên tạc, bôi nhọ lịch sử, truyền thống dân tộc, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, thành quả của công cuộc đổi mới,… họ còn tập trung công kích tình hình đảm bảo quyền con người, quyền công dân, thành tựu kinh tế - xã hội đất nước, quan hệ đối ngoại, việc ký kết các hiệp định kinh tế giữa Việt Nam với các nước, các nền kinh kế và đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng, v.v. Mục đích của chúng vẫn là nhằm đẩy mạnh thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong xã hội và nội bộ, nhằm phá hoại hình ảnh “Đạo đức, văn minh” của Đảng, hình ảnh cán bộ, khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ; gây mất ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tiến tới thực hiện “cách mạng màu”, thiết lập chế độ dân chủ tư sản “đa nguyên, đa đảng” ở nước ta. Đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tin giả là nhiệm vụ cơ bản, thường xuyên của cả hệ thống chính trị, toàn dân, trước hết là của cơ quan chức năng và là vấn đề cấp thiết hiện nay. Vì vậy, Nhà nước cần có những giải pháp đồng bộ cả về tuyên truyền, giáo dục, cơ chế, chính sách, pháp luật, hạ tầng cơ sở kỹ thuật, phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi tổ chức, lực lượng, phương tiện và người dân; trong đó, tập trung thực hiện tốt mấy nội dung giải pháp cơ bản sau: Trước hết, cần nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, bồi dưỡng kiến thức, nhận thức, năng lực phân biệt, xử lý tin giả và tác hại của nó cho các đối tượng. Đây là vấn đề cơ bản, quan trọng hàng đầu trong đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tin giả. Thực tế cho thấy, tin giả thường không hề dễ phân biệt, lan truyền rộng trong xã hội, với đủ loại đối tượng, nên chỉ khi nào mọi người dân cùng chung sức đấu tranh ngăn chặn, thì việc loại trừ tin giả và tác hại của nó mới có hiệu quả. Vì thế, công tác này phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, có trọng tâm, trọng điểm, với những nội dung, hình thức, phương tiện phù hợp với từng đối tượng, địa bàn. Quá trình thực hiện, cần tập trung làm rõ nguồn gốc, khái niệm, bản chất, phương thức tồn tại, lan truyền, tác hại của tin giả. Đồng thời, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, cung cấp đầy đủ, kịp thời, chính xác cho người dân những thông tin chính thống về mọi mặt của đời sống xã hội, nhất là trước dịp diễn ra kỷ niệm lớn, sự kiện quan trọng của Đảng, Nhà nước, v.v. Đặc biệt, cần đi sâu, làm cho nhân dân thấy rõ âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; làm rõ những vấn đề phức tạp mà xã hội đang quan tâm,… không để người dân bị “đói”, bị “nhiễu” thông tin, tạo điều kiện cho tin giả lộng hành. Cơ quan chức năng cần hướng mạnh công tác tuyên truyền tới học sinh, sinh viên, thanh niên, người dân ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo, nơi đặc biệt khó khăn; thực hiện hiệu quả cơ chế cung cấp thông tin (người phát ngôn), v.v. Qua đó, làm cho nhân dân nhận rõ thật, giả, đúng, sai, kiên quyết không xem, không chia sẻ, không lan truyền tin giả, thông tin chưa được kiểm chứng; tích cực lên án, phối hợp cùng cơ quan chức năng đấu tranh, ngăn chặn, loại trừ tin giả, làm trong sạch môi trường thông tin trong xã hội. Thứ hai, phát huy vai trò cơ quan báo chí, truyền thông trong định hướng dư luận xã hội, đấu tranh loại bỏ tin giả. Việt Nam có hệ thống cơ quan báo chí, truyền thông với đội ngũ người làm báo hết sức hùng hậu, có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, kiến thức, trình độ, năng lực tốt; hoạt động hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam (khoản 1 Ðiều 14, Luật Báo chí). Họ là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, đóng góp quan trọng trong giữ vững “trận địa thông tin”, bảo vệ quyền tự do thông tin, làm trong sạch môi trường thông tin trong xã hội. Với nhiều phương pháp, hình thức chủ động, sáng tạo, cơ quan chức năng các cấp kịp thời cung cấp thông tin chính xác để báo chí, truyền thông chuyển tải nhanh, nhạy, đúng, trúng đến người dân, góp phần quan trọng ngăn chặn, phản bác, đầy lùi tin giả. Hiện nay, Việt Nam có 850 cơ quan báo chí, trong đó có 179 cơ quan báo, 648 tạp chí, 23 cơ quan báo chí điện tử độc lập; 72 cơ quan có giấy phép hoạt động phát thanh - truyền hình với 02 đài Quốc gia, 64 đài địa phương, 05 kênh truyền hình. Cả nước hiện có trên 41.000 người đang công tác tại các cơ quan báo chí (cả 4 loại hình), trong đó có 20.407 trường hợp đã được cấp thẻ nhà báo. Đây là lực lượng quan trọng, vũ khí sắc bén của Đảng, Nhà nước và nhân dân để đấu tranh, ngăn chăn, đẩy lùi tin giả. Thời gian tới, cùng với đẩy mạnh việc tinh, gọn, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động, cơ quan báo chí, truyền thông, đội ngũ người làm báo cần bám sát chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thực tiễn đất nước, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, tiếp tục phát huy tốt vai trò trong tuyên truyền, định hướng dư luận xã hội, kiên quyết đấu tranh loại bỏ thông tin “bẩn”, âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên, nhân dân của thế lực thù địch, v.v. Thứ ba, tiếp tục xây dựng, củng cố, nâng cao hơn nữa chất lượng của lực lượng nòng cốt, chuyên sâu. Đây là giải pháp có ý nghĩa trực tiếp quyết định đến hiệu quả đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tin giả. Lực lượng nòng cốt, chuyên sâu là lực lượng trực ban, tác chiến thường trực, được bố trí ở các cấp trong hệ thống chính trị, đòi hỏi phải có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ lý luận, nhiệt huyết, dũng khí; có trình độ, khả năng chuyên môn cao; sử dụng tốt các phương tiện kỹ thuật để khai thác, phản bác thông tin xấu độc. Vì thế, bên cạnh tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng lực lượng đáp ứng yêu cầu đề ra, các cấp cần chú trọng bồi dưỡng họ về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, kiến thức, phương pháp, kỹ năng đấu tranh, phản bác tin giả; có cơ chế, chính sách phù hợp khuyến khích, động viên họ tự học, tự rèn nâng cao kiến thức, trình độ, năng lực xử lý thông tin độc hại, nhất là ở những thời điểm phức tạp, những vấn đề dư luận quan tâm. Đồng thời, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật tiên tiến, hiện đại,… đảm bảo cho lực lượng này phát huy năng lực, đấu tranh, loại trừ tin giả một cách nhanh chóng, kịp thời, hiệu quả. Thứ tư, kịp thời điều tra, có chế tài xử lý nghiêm các đối tượng tung tin giả theo quy định của pháp luật. Thời gian qua, mặc dù cơ quan chức năng đã điều tra, xét xử nhiều cá nhân tung tin giả xâm phạm quyền, lợi ích của không ít cá nhân, tổ chức và đất nước (riêng quý I/2020, đã có 654 trường hợp bị phạt vì tung tin giả về dịch Covid -19, với số tiền gần 02 tỷ đồng được dư luận rất đồng tình, ủng hộ), nhưng nạn tin giả vẫn diễn biến rất phức tạp, gây hệ lụy khó lường. Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mọi tổ chức, cá nhân sinh sống, học tập, công tác ở Việt Nam đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật về thông tin; những tổ chức, cá nhân nào vi phạm nhất định phải bị điều tra, xét xử, với những chế tài cụ thể theo quy định, nhất là hành vi tung tin giả trong tình hình hiện nay. Vì vậy, các cấp cần nắm chắc các điều quy định trong Bộ luật Hình sự, Luật An ninh mạng,…. thực hiện nghiêm quy chế, quy định sử dụng thông tin; quản lý, nắm chắc địa bàn, nội bộ và các mối quan hệ xã hội của từng người; giữ nghiêm kỷ luật phát ngôn, kỷ luật thông tin, nhất là khi trao đổi, chia sẻ thông tin trong xã hội, trên các trang mạng xã hội, blog cá nhân, v.v. Trong thực hiện, cơ quan chức năng phải chỉ rõ nguồn gốc, lực lượng, nội dung, mục đích phát tán, xử lý đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật, kiên quyết không để tin giả lộng hành.

NGHỊ LỰC VƯỢT KHÓ VÀ NGHĨA TÌNH CỦA MỘT CỰU CHIẾN BINH


 Ảnh: Cựu chiến binh Đỗ Doanh hNhiểu bên vườn bưởi mang lại giá trị kinh tế cao cho gia đình.

Cựu chiến binh Đỗ Doanh Nhiểu, sinh năm 1962, ở tổ 6, ấp Bình Phú, xã An Phú, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước từ lâu được người dân trong vùng biết đến là một người sản xuất giỏi, làm nhiều việc nghĩa tình cho đồng đội và bà con chòm xóm. Không chỉ gương mẫu trong lao động sản xuất, ông còn đi đầu trong mọi phong trào do các đoàn thể địa phương phát động.

Gặp gỡ và trò chuyện cùng cựu chiến binh (CCB) Đỗ Doanh Nhiểu, chúng tôi cảm nhận được một CCB đầy nghị lực, dù rời quân ngũ đã lâu nhưng ở ông vẫn toát lên phẩm chất, bản lĩnh Bộ đội Cụ Hồ trong đời thường, trong lao động, sản xuất.

Sau khi rời quân ngũ, năm 1995 là thời điểm bước ngoặt của gia đình CCB Đỗ Doanh Nhiểu khi đang sinh sống ở tỉnh Hà Tây (cũ), TP Hà Nội ngày nay. Vì hoàn cảnh quá khó khăn, ông Nhiểu quyết định đưa vợ con từ miền Bắc vào lập nghiệp tại tổ 6, ấp Bình Phú, xã An Phú, huyện Hớn Quản. Lúc đó khu vực này là vùng đất hoang hóa, rừng núi bạt ngàn, âm u, điện nước phục vụ sinh hoạt chưa có. Ông Nhiểu cùng vợ là bà Trần Thị Hiền khai hoang, dựng chòi tạm để ở, trồng trọt đủ loại cây trồng trên diện tích 3ha. Mùa nắng gay gắt thiếu nước tưới, mùa mưa ướt sũng lầy lội, điện nước phục vụ cho sinh hoạt phải tích trữ từ nước mưa hoặc phải sử dụng nhờ từ các hộ gia đình khác, sử dụng dè sẻn, tiết kiệm. Ông Nhiểu chia sẻ: "Khó khăn lúc đó bộn bề lắm. Trên diện tích đất hoang hóa, tôi phải mất nhiều năm để cải tạo, tính toán kỹ lưỡng các loại cây trồng để đảm bảo mưu sinh cho gia đình ở giai đoạn đầu. Lúc đầu tôi trồng các loại cây ngắn ngày để “lấy ngắn nuôi dài”, sau đó chuyển đổi sang các loại cây ăn trái dài ngày, có giá trị kinh tế cao như: Sầu riêng, bưởi, mít... Mỗi lần đưa vào một loại cây vào trồng, tôi đến nhiều nơi tìm hiểu loại cây giống, kỹ thuật chăm sóc, thu hoạch để đảm bảo năng suất và hiệu quả cao nhất. Nhờ đó giá trị hoa lợi trên diện tích đất ngày càng tăng, cuộc sống gia đình ngày càng ổn định".

Với sự nỗ lực, vượt khó không ngừng trên vùng đất mới, giờ đây, CCB Đỗ Doanh Nhiểu đã phát triển được 1,5ha sầu riêng, 1ha bưởi và các loại cây ăn trái khác. Được chăm sóc đúng quy trình kỹ thuật nên vườn cây ăn trái của gia đình ông Nhiểu luôn cho năng suất cao. Bên cạnh đó, ông Nhiểu còn chăn nuôi thêm 15 con bò và gia cầm, hằng năm xuất bán các loại từ 50 đến 70 triệu đồng. Ông Nhiểu cho biết, năm 2023, vườn sầu riêng 250 cây của gia đình cho năng suất cao, mỗi cây từ 40 đến 70 trái. Với mức giá 50.000 đồng/kg, bình quân mỗi cây cũng được từ 7-10 triệu đồng, dự kiến gia đình thu từ 1-1,5 tỷ đồng từ sầu riêng, chưa kể vườn bưởi sai trĩu, trái to, mọng nước sắp cho thu hoạch.

Với chất lính, giàu lòng nhân ái, giàu nghĩa tình đồng đội, khi thành công trên mặt trận sản xuất, CCB Đỗ Doanh Nhiểu đã tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội, giúp đỡ các CCB trong xã, trong huyện Hớn Quản làm giàu từ sản xuất nông nghiệp, vận động xây nhà tình thương, nhà tình nghĩa trên địa bàn. Nhiều năm liền được bầu giữ cương vị Chủ tịch Hội CCB xã An Phú, huyện Hớn Quản, ông Nhiểu đã vận động các mạnh thường quân và hội viên hội CCB ủng hộ giúp đỡ các hoàn cảnh khó khăn của địa phương vươn lên trong cuộc sống. Từ năm 2012 đến nay, ông Nhiểu đã đóng góp và vận động ủng hộ xây dựng được 8 căn nhà tình nghĩa cho 8 đối tượng gia đình cách mạng trên địa bàn xã An Phú. Căn mới nhất hoàn thành và bàn giao cho gia đình CCB Hoài Văn Lục tại tổ 5, ấp Bình Phú, xã An Phú, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước vào cuối năm 2022 với tổng trị giá 120 triệu đồng.

Cách giúp đỡ đồng đội của CCB Đỗ Doanh Nhiểu rất thiết thực và hiệu quả cao. Các hội viên CCB trong xã và các xã lân cận có hoàn cảnh khó khăn, có đất nhưng thiếu vốn sản xuất, có vốn nhưng lại thiếu kỹ thuật, mô hình hiệu quả..., ông Nhiểu đã chủ động, đi đầu trực tiếp hỗ trợ các hội viên về nguồn vốn, cây giống, con giống, đặc biệt để phát triển đàn bò của các hội viên trong Hội CCB xã An Phú, ông Nhiểu đã bán bò giống cho các hội viên với mức giá rẻ để hội viên chăm sóc, nuôi khi bán có lãi mới trả tiền bò giống. Mô hình trồng bưởi, sầu riêng và những kỹ thuật được CCB Đỗ Doanh Nhiểu chuyển giao cho các CCB, bà con nông dân trong xã, trong huyện đều mang lại hiệu quả, năng suất và giá trị kinh tế cao.

“CCB Đỗ Doanh Nhiểu là người có tâm sáng, sống hòa đồng, yêu thương và giúp đỡ mọi người, là người luôn có trách nhiệm trong công việc và sống hết mình vì đồng đội. Dù trở về đời thường sau mấy chục năm, nhưng ở ông luôn toát lên phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, là gương sáng, đầy nghĩa tình mà các hội viên noi theo, hưởng ứng các việc làm nghĩa tình do ông ấy phát động” - CCB Nguyễn Văn Tam, Phó chủ tịch Hội CCB xã An Phú, huyện Hớn Quản đầy tự hào khi nói về tấm gương sáng, đầy nghị lực và nghĩa tình của CCB Đỗ Doanh Nhiểu.


Bài, ảnh: NGUYỄN NHỊ - Báo QĐND


Hệ lụy của “lợi ích nhóm” cản trở sự phát triển nhanh và bền vững của nền kinh tế

Những năm gần đây, vấn đề “lợi ích nhóm” được đề cập nhiều trong các văn kiện của Đảng và là vấn đề được dư luận xã hội quan tâm, lên án. Đây là loại lợi ích mang hàm nghĩa không thuận, họ lợi dụng quyền lực, quan hệ để móc nối, kiếm lợi bất chính cho nhóm mình. “Lợi ích nhóm” - bản chất là hành vi tham nhũng và luôn có mối quan hệ chặt chẽ với tham nhũng. Mối quan hệ này được hình thành bởi sự cấu kết giữa những người có quyền lực trong hệ thống chính trị với những cá nhân, doanh nghiệp hay một nhóm người bên ngoài, nhằm tạo ra các quyết định hoặc tìm cách tác động vào chính sách để đạt được lợi ích riêng của nhóm họ. Nó làm cho một số chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, Nhà nước bị méo mó, sai lệch ngay từ khi phôi thai xây dựng và hoạch định, thậm chí nó có thể làm thay đổi các quy định của pháp luật để phục vụ cho lợi ích của nhóm người đó. Nhóm lợi ích luôn tìm cách tác động đến việc quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Bằng những thủ đoạn hết sức tinh vi, nhân danh lợi ích tập thể, lợi ích quốc gia, họ tìm mọi cách “lách luật” để các nhà lãnh đạo, quản lý đưa ra các quyết định mà lợi ích của nó chỉ đem lại cho nhóm của họ, chứ không phải đại diện cho lợi ích của quốc gia, dân tộc. Đảng ta chỉ rõ: “Công tác quản lý nhà nước còn nhiều bất cập, phân cấp đầu tư chưa phù hợp; có nơi, có lúc còn bị chi phối bởi tư tưởng cục bộ, lợi ích nhóm”. Thực tiễn những năm qua, ở một số địa phương, một số ngành đã diễn ra thực trạng đầu tư, phát triển tràn lan trong nhiều lĩnh vực mà không có quy hoạch, dẫn đến tình trạng ế thừa hoặc nơi thừa, nơi thiếu; thậm chí vì “lợi ích nhóm” mà người ta có thể bất chấp, bỏ qua các vấn đề luật định, như môi trường, dân sinh,… để lại hậu quả rất nghiêm trọng mà Nhà nước và người dân phải gánh chịu, làm lãng phí các nguồn lực của đất nước, thiệt hại lớn về kinh tế, gây bức xúc trong xã hội. Đồng thời, nó làm cho năng suất lao động giảm sút, giá thành sản phẩm tăng cao, tạo thế độc quyền, phá vỡ môi trường cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng cho tất cả các thành phần kinh tế; hạn chế nguồn lực đầu tư trực tiếp nước ngoài, cản trở sự phát triển nhanh và bền vững của nền kinh tế, v.v. Đây là một trong những nguyên nhân cản trở sự phát triển kinh tế và làm chậm quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Bằng các thủ đoạn khác nhau nhóm lợi ích tìm cách mua chuộc, lôi kéo những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước tham gia hoạt động trái với chủ trương, đường lối của Đảng, vì “lợi ích nhóm”, dẫn đến tình trạng mất đoàn kết, bè phái trong các tổ chức đảng. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Do thói xấu tự tư, tự lợi mà nội bộ mất đoàn kết, cán bộ kéo bè, kéo cánh chèn ép lẫn nhau, đả kích lẫn nhau, tranh nhau quyền lợi và địa vị...”. Khi tổ chức đảng bị “lợi ích nhóm” thao túng, sẽ mất đi vai trò hạt nhân lãnh đạo và trở nên tê liệt; hạ thấp, xa rời các nguyên tắc của Đảng; làm vô hiệu hóa hoặc chấp hành không nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, lấy tự phê bình và phê bình trở thành bình phong cho những kẻ tham nhũng, “lợi ích nhóm”; làm cho nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật trở thành khẩu hiệu sáo rỗng, v.v. Tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”, “trên cương quyết, dưới nhu nhược”,… ở một số tổ chức đảng, địa phương trong thời gian qua là những biểu hiện của sự chi phối bởi yếu tố “lợi ích nhóm”. Trong công tác xây dựng Đảng, công tác cán bộ là nội dung quan trọng, khâu then chốt; tuy nhiên, hiện nay, ở một số tổ chức đảng, “lợi ích nhóm” đã tác động vào tất cả các khâu, các bước trong quy trình hoạt động của công tác này. Đã có tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, địa phương ban hành các chủ trương, chính sách về công tác cán bộ trái với quy định chung của Đảng, Nhà nước, như: nới lỏng hơn các tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm, đề bạt, nâng lương, chuyển ngạch, điều kiện tiếp nhận, luân chuyển, bố trí công tác, hoặc đi đào tạo ở nước ngoài,… để người thân hoặc những người trong “lợi ích nhóm” đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện đó, nhằm mục đích trục lợi cho cá nhân, người thân. Vì “lợi ích nhóm” mà họ đã đưa những cán bộ, đảng viên không đủ tiêu chí vào các vị trí lãnh đạo; bố trí cán bộ không vì năng lực, vì công việc mà vì thân quen, cánh hẩu; khi bị phát hiện, hoặc gây hậu quả nghiêm trọng thì biện minh rằng: đó là trách nhiệm của tập thể cấp ủy và được tiến hành một cách “dân chủ”, “đúng quy trình”, “đúng nguyên tắc”, v.v. Thực chất đó là sự lợi dụng danh nghĩa tập thể, lợi dụng kẽ hở trong quy trình và nguyên tắc của công tác cán bộ để áp đặt ý kiến cá nhân. Điều này đã được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: tại sao có hiện tượng đề bạt, cất nhắc người nhà, người thân quen mặc dù không đủ tiêu chuẩn? Vì sao cứ nói bổ nhiệm đúng quy trình, nhưng kết quả thực tế bố trí cán bộ lại sai? “Lợi ích nhóm” tấn công vào đội ngũ cán bộ, đảng viên thông qua các hành động hối lộ, quà biếu, quà tặng,… làm cho một bộ phận cán bộ, đảng viên mất vai trò tiên phong gương mẫu, giảm sút ý chí chiến đấu, trở thành kẻ đồng lõa làm trái với nguyên tắc, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Từ đó, dẫn đến thoái hóa, biến chất, suy thoái về tư tưởng chính trị, sống thiếu lý tưởng, thờ ơ trước đời sống chính trị và vô cảm trước những khó khăn, thiếu thốn của nhân dân. Khi đã sa vào tham nhũng, “lợi ích nhóm”, những cán bộ, đảng viên này dễ dàng chuyển hóa về tư tưởng, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng. “Lợi ích nhóm” hoạt động càng mạnh, càng làm gia tăng và đẩy nhanh sự suy thoái tư tưởng chính trị - nguyên nhân chính của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Làm cho lối sống cơ hội, thực dụng, giả dối, chạy theo đồng tiền gia tăng; biến các hiện tượng tiêu cực ăn sâu vào trong tiềm thức và trở thành việc làm bình thường, quen thuộc trong cán bộ, đảng viên; biến cán bộ, đảng viên trở thành trung gian, cầu nối cho các tệ nạn chạy chức, chạy quyền hoặc thực hiện các hành vi mờ ám, vi phạm pháp luật. Sự suy thoái về đạo đức, lối sống dưới sự tác động của “lợi ích nhóm” nếu không được ngăn chặn kịp thời sẽ dẫn đến sự suy thoái của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tác hại của nó sẽ vô cùng nguy hiểm. Nếu như trước kia, sự suy thoái, tham ô, tham nhũng của mỗi đảng viên là sự hư hỏng của một con người, chỉ là thiểu số, diễn ra đơn lẻ; thì hiện nay, khi cá nhân đảng viên sa vào “lợi ích nhóm” sẽ kéo theo sự suy thoái của một nhóm người, tập thể người, sức tàn phá của nó sẽ rất lớn. Trong thời bao cấp, các vụ án tham nhũng chỉ có cá nhân phạm tội hay một số ít người phạm tội; thì ngày nay, cả một tập thể người, nhóm người phạm tội. “Lợi ích nhóm” đã chuyển thành nhóm phạm pháp, là nơi dung dưỡng, bảo kê cho tham nhũng hoành hành; từ đó, “làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”. Công bằng xã hội là mục tiêu cao cả và tiêu chí quan trọng nhất phản ánh bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta hướng tới. Tuy nhiên, hiện nay “lợi ích nhóm” đang gây ra hiện tượng bất công, bất bình đẳng, mất dân chủ nghiêm trọng trong đời sống xã hội, làm cho việc phân phối sản phẩm xã hội không còn công bằng, tạo ra sự phân hóa giàu nghèo một cách bất hợp lý và không chính đáng. Sự phân hóa đó không xuất phát từ tài năng, đóng góp chính đáng, mà do tham nhũng, do sự cấu kết của một nhóm người với nhau để hưởng lợi một cách bất hợp pháp từ những chủ trương chung của Đảng và Nhà nước. Sự bất công xã hội do “lợi ích nhóm” gây nên là rất nguy hiểm, tạo ra sự phẫn lộ, bất bình trong quần chúng nhân dân. Sự tồn tại của nhóm lợi ích hay “lợi ích nhóm” là khách quan, song vấn đề cần phải nghiên cứu, ứng xử như thế nào với các hành vi của “nhóm lợi ích” để làm cho hành vi đó không vì lợi ích của nhóm mà ảnh hưởng đến lợi ích chính đáng của người khác, nhóm xã hội khác hay đi ngược với lợi ích của đất nước, của nhân dân. Đấu tranh phòng, chống “lợi ích nhóm” là công việc khó khăn, phức tạp và là vấn đề hệ trọng của xã hội, vì không rõ “chiến tuyến”, thường ở trong trạng thái trắng đen lẫn lộn, trong “nó” có “ta” và trong “ta” có “nó”, vừa là “ta” lại vừa là “nó”. Vì vậy, để đấu tranh phòng, chống “lợi ích nhóm” hiện nay có hiệu quả, cần phải có dũng khí và bản lĩnh chính trị, dám bảo vệ cái đúng, kiên quyết đấu tranh, ngăn ngừa cái sai và phải đặt nó trong tổng thể chủ trương, giải pháp phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước, với sự tham gia tích cực của cả hệ thống chính trị và toàn dân. Chúng ta tin tưởng dưới sự lãnh đạo của Đảng, sẽ hạn chế, tiến tới loại bỏ các tác động tiêu cực, rào cản của “lợi ích nhóm” ra khỏi đời sống xã hội, làm trong sạch, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước, thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới và xây dựng thành công chế độ xã hội chủ nghĩa trên đất nước ta.

Giữ cái tâm của người cán bộ theo đúng “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”

Trong Truyện Kiều của Đại văn hào Nguyễn Du và được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhắc lại khi nói về lựa chọn nhân sự cho đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội XIII của Đảng. Chữ tâm có nhiều nghĩa, nhưng chung quy lại có thể thấy ý nghĩa chủ đạo của nó phản ánh đạo đức, nhận thức, suy nghĩ, tình cảm của con người (lương tâm, tâm trí, tâm hồn, tâm trạng, tâm can, tâm địa,…). Trong Phật giáo cũng luôn coi chữ “tâm” là phạm trù quan trọng, cơ bản, chủ đạo của con người “tâm dẫn đầu các pháp”. Một người vừa có đức, vừa có tài thì được gọi là “có tâm, có tầm”. Trong quá trình tập trung sức người, sức của để phòng, chống đại dịch Covid-19, với tinh thần “chống dịch như chống giặc”, đội ngũ bác sĩ, y sĩ ngành Y tế và cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang đã không quản ngại hy sinh, khó khăn, gian khổ có mặt nơi tuyến đầu “chống giặc” Covid-19. Nhiều doanh nghiệp ủng hộ hàng trăm, hàng chục tỷ đồng; nhiều người dân ủng hộ tiền; có cụ bà chống gậy mang theo mớ rau, chục trứng đến các chốt ủng hộ cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ kiểm soát dịch, v.v. Người ta gọi những người đó là có “tâm”. Trong dịp kỷ niệm 95 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam, cánh nhà báo chúng tôi nhận được nhiều lời chúc “tâm sáng, bút sắc”, hàm ý chúc những người làm báo khi tác nghiệp phải có tâm, có đức, công tâm, khách quan và viết cho hay, cho sắc sảo, v.v. Vừa qua, tôi về thăm quê đúng dịp Đại hội Đảng bộ huyện vừa kết thúc. Sau Đại hội, nhân dân trong huyện đều phấn khởi, vui mừng vì nghe tin Đại hội thành công tốt đẹp; các chủ trương, chỉ tiêu, phương hướng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh,… được thảo luận kỹ, thống nhất cao. Song, vấn đề mà mọi người bàn tán sôi nổi hơn lại ở chỗ khác. Đó là chuyện về anh Đ bạn tôi - Một cán bộ chủ trì của huyện. Công tâm mà nói anh là cán bộ có năng lực “nói có người nghe, đe có người sợ”, nhưng cái tâm của anh không được sáng. Để chuẩn bị cho Đại hội Đảng bộ huyện, anh đã tranh thủ bổ nhiệm cấp tốc con, cháu vào các vị trí cao hơn để kịp tính chuyện tham gia nhân sự Ban Chấp hành khóa tới. Vì thế, tuy anh không còn đủ tuổi tham gia, nhưng anh có 03 người nhà được đưa vào dự bầu Ban Chấp hành (con trai, con rể và đứa cháu của anh). Nhưng mọi tính toán của anh đã bị đổ bể khi 02 người con của anh bị trượt. Nhiều người cho rằng bởi anh tham quá, cái “tâm” của anh không sáng. Thiết nghĩ, “tâm, đức” của con người không phải là có sẵn, bất biến, mà phần lớn do tu dưỡng, rèn luyện mà nên. Như Bác Hồ từng nói: cán bộ phải rèn luyện đạo đức cũng như “Ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhắc nhở khi đánh giá cán bộ phải thực tâm, “có con mắt tinh tường”: “đừng nhìn gà hoá cuốc”, “đừng thấy đỏ tưởng là chín”, đừng chỉ thấy “cái mã bên ngoài, nó che đậy cái sơ sài bên trong”. Khi mà cái “tâm” không sáng thì hành động ắt sẽ không thiện, thậm chí là “tối”. Thực tế có không ít trường hợp đầu nhiệm kỳ, khi mới nhận chức là người có tinh thần trách nhiệm cao, công tâm, gương mẫu, tâm huyết, tận tụy với công việc,... nhưng cuối nhiệm kỳ, nhất là khi chuẩn bị “hạ cánh”, lại “tự chuyển hóa”, nảy sinh những tính toán lợi dụng chức quyền để trục lợi, vun vén bổng lộc cho gia đình, như trường hợp anh Đ. Việc làm đó không những làm giảm uy tín của anh - một cán bộ lãnh đạo chủ chốt của huyện, mà còn làm tổn hại đến uy tín của Đảng, niềm tin của nhân dân.

Cảnh giác, nhận diện, vạch trần với những thủ đoạn tuyên truyền chống phá thế hệ trẻ hiện nay

Các thế lực thù địch luôn xem thanh niên là đối tượng đặc biệt để thực hiện thủ đoạn “diễn biến hòa bình”. Vì thế, nêu cao cảnh giác, kịp thời nhận diện, vạch trần các thủ đoạn của chúng là nhiện vụ cấp thiết, thường xuyên và lâu dài của cả hệ thống chính trị hiện nay. Trong bất cứ giai đọan nào của lịch sử, thanh niên luôn là lực lượng đi đầu, chủ yếu trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhất là, trong điều kiện kinh tế - xã hội phát triển và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay, tuổi trẻ có nhiều điều kiện, cơ hội để phát huy truyền thống anh hùng cách mạng của các thế hệ đi trước, vươn lên khẳng định mình trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy nhiên, trong điều kiện mới cũng đặt ra cho thế hệ trẻ không ít những thách thức, nhất là những tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường, khi sự trải nghiệm cuộc sống của họ chưa đủ để có thể sàng lọc, miễn dịch trước những tiêu cực xã hội đa chiều, phức tạp. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch lợi dụng những đặc điểm của tâm lý tuổi trẻ là dễ tiếp cận cái mới, thích tự do, khẳng định mình, nhưng nhận thức các vấn đề chính trị - xã hội còn chưa đủ độ chín nên tìm mọi cách tuyên truyền, kích động, mua chuộc, tha hóa nhằm băng hoại lực lượng dự bị hùng hậu này của cách mạng. Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 làm thay đổi mạnh mẽ phương thức giao tiếp của con người. Đây chính là thời cơ để các thế lực thù địch lợi dụng công nghệ truyền thông và mạng xã hội để tác động lên tâm lý hòng lôi kéo thế hệ trẻ. Chúng đăng tải nhiều tài liệu có nội dung phản động, thông tin lập lờ, suy diễn, không đúng bản chất, với dụng ý xấu, như: phủ nhận những thành quả của đất nước, dân tộc cả trong quá khứ, hiện tại cũng như vị thế uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, tạo ra các diễn đàn trên mạng để nhiều người trẻ truy cập và định hướng bình luận theo hướng tiêu cực, nhằm gieo rắc sự hoài nghi, chán nản, dẫn tới mất phương hướng chính trị. Phát tán các ấn phẩm đồi trụy, bạo lực, cổ súy cho lối sống thực dụng làm tha hóa con người, khơi dậy ham muốn bản năng, chạy theo hưởng lạc, không chịu học tập, làm việc và cống hiến. Căn bệnh “nhạt Đảng, khô Đoàn, chán chính trị” đang là hiện trạng có thật của một số ít người trẻ tuổi. Khi sự ham muốn bản năng trở thành mục đích duy nhất thì tất yếu dẫn đến sao nhãng quá trình học tập và rèn luyện; sự bồng bột, thiếu thực tế, dễ dao động, dễ bị lôi kéo, ảnh hưởng của lối sống đua đòi, dẫn đến một bộ phận giới trẻ coi trọng lối sống vật chất, xem nhẹ giá trị tinh thần. Họ bàng quang, vô cảm, không đấu tranh chống cái sai và cũng không ủng hộ, bảo vệ cái đúng; không ít thanh niên chưa thực sự vững tin vào tương lai phát triển của đất nước, giảm sút ý chí phấn đấu vươn lên, ngại khó khăn, gian khổ, lệch lạc trong suy nghĩ và hành động. Bên cạnh đó, họ đưa lên các thông tin hạ thấp, bôi nhọ danh dự cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước; khoét sâu vào những vụ việc tham nhũng, tiêu cực trong xã hội để hướng luồng dư luận và kích động lớp trẻ tỏ thái độ bất mãn với cái mà chúng gọi là “thảm kịch của đất nước”. Đặc biệt ở những địa bàn nhạy cảm, trước các sự kiện chính trị, xã hội lớn, như: các ngày kỷ niệm, trước thềm đại hội Đảng các cấp,... các thế lực thù địch tăng cường tuyên truyền, xúi giục thanh niên chống đối chính trị, hoặc tham gia các hoạt động gây rối, làm mất an ninh trật tự. Đáng tiếc, thời gian gần đây đã xuất hiện một số trí thức trẻ, học sinh, sinh viên cũng bị ảnh hưởng bởi những chiêu trò ấy. Họ bị kích động và đăng lên các bình luận, hùa theo tư tưởng phản động, nói xấu chế độ, đề cao cái gọi là “xã hội dân sự”, “tự do ngôn luận”,... mà không biết đã mắc bẫy các thế lực thù địch. Hậu quả là, vì một phút nông nổi, kém hiểu biết mà một số bạn trẻ vô tình “nối giáo cho giặc” và đã bị xử lý theo quy định của pháp luật. Đối với sinh viên và đội ngũ trí thức, các thế lực thù địch tăng cường móc nối, lôi kéo một số du học sinh, nghiên cứu sinh đang học tập, công tác ở nước ngoài để tuyên truyền phản động; tập hợp, bồi dưỡng một số thanh niên có xu hướng phủ định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời, đẩy mạnh tăng học bổng, hỗ trợ kinh phí từ các NGO, liên kết đào tạo, thẩm thấu những “giá trị” xã hội tư bản một cách tự nhiên, nhưng rất thâm độc, nhằm nuôi dưỡng đội ngũ này với âm mưu làm thay đổi chế độ ở Việt Nam trong tương lai. Họ gieo rắc vào giới trẻ khái niệm “cấp tiến”, “tự do”, “dân chủ” vô tổ chức, bất chấp luật pháp, tung hô những ý kiến “phản biện” ảo tưởng, xa rời thực tiễn. Hậu quả là một số bạn trẻ đã “sập bẫy”, hoài nghi, phủ nhận quan điểm, đường lối của Đảng và thành quả cách mạng; tự đề cao cái tôi cá nhân, lối sống vị kỷ, cá biệt có trường hợp tha hóa về nhân cách, trở thành công cụ đắc lực cho các thế lực thù địch. Với những thay đổi tinh vi cả về thủ đoạn và sách lược của các thế lực thù địch nhằm “tẩy não” làm chuyển hóa tư tưởng, dẫn tới quá trình “tự diễn biến” ở lớp người đang là rường cột, tương lai của đất nước, nếu thanh niên không được trang bị lý luận, nhận thức đúng để đủ sức “đề kháng” sẽ gây hậu quả khó lường. Để giúp cho thế hệ trẻ nhận diện được bản chất âm mưu của các thế lực thù địch, tỉnh táo, bản lĩnh, không để chúng lôi kéo, kích động, cần tập trung một số giải pháp chính như sau: Trước hết, nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí của thanh niên và công tác thanh niên. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần do các thanh niên”. Khi đề cập về thanh niên và công tác thanh niên, Đảng ta đã nêu rõ: “Thanh niên là rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Theo đó, cấp ủy, chính quyền các cấp đẩy mạnh quán triệt các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật Nhà nước về thanh niên và công tác thanh niên, tạo sự thống nhất nhận thức và hành động: công tác thanh niên là nội dung quan trọng trong chiến lược bồi dưỡng, phát huy nguồn lực con người. Chăm lo, phát triển thanh niên vừa là mục tiêu, vừa là động lực đảm bảo cho sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước; là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, lâu dài của toàn dân và cả hệ thống chính trị. Trên cơ sở đó, cụ thể hóa các nội dung bằng nghị quyết lãnh đạo, kế hoạch tổ chức thực hiện với những chỉ tiêu, biện pháp thiết thực. Trong đó, đặc biệt quan tâm đến quyền lợi thanh niên, nhất là quyền được học tập, lao động, tự do ngôn luận, v.v.

 Tháng 7 Chi ân


Chưa nơi đâu trên thế gian này như Việt Nam đã trải qua hơn 30 năm chiến tranh gian khổ và khóc liệt, hàng triệu triệu người đã ngã xuống đánh đổi tính mạng, tuổi thanh xuân của mình cho đất nước được trường sinh bất tử, một dân tộc chiến thắng bao giờ cũng phải trả bằng cái giá mồ hôi xương máu của biết bao thế hệ.
Đảng ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta không bao giờ quên máu xương của những người anh hùng đã hiến dâng tuổi thanh xuân của mình cho một lý tưởng cao cả, cho một Việt Nam hoàn toàn thống nhất, sự hy sinh đến tột cùng của những người đã ngã xuống mãi mãi là ngọn đuốc thiêng cháy sáng rực trong tim mỗi người Việt Nam chúng ta.
Tháng 7 là tháng tri ân, thế hệ trẻ chúng ta thì lại càng không được quên anh linh của hàng vạn vạn chiến sỹ đã mãi mãi nằm xuống trong công cuộc nhất thống giang sơn vĩ đại, và các thế hệ lãnh đạo hiện nay phải biết rằng thành quả cách mạng họ đang được hưởng bởi chính máu xương của thế hệ cha anh thì phải lãnh đạo đất nước sao đó cho xứng đáng với những hy sinh đó cũng như ngày hôm nay để cho thế hệ trẻ nhìn vào đó để sống sao đó cho xứng đáng với thế hệ người đi trước.
(ST)

Những tác động đến sự phát triển của Việt Nam hiện nay

 

Trên thế giới, trong những năm tới tình hình sẽ còn nhiều diễn biến rất phức tạp, nhưng hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn. Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục được đẩy mạnh. Hợp tác, cạnh tranh, đấu tranh và sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước, nhất là giữa các nước lớn ngày càng tăng. Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin tiếp tục phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy sự phát triển nhảy vọt trên nhiều lĩnh vực, tạo ra cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia…

Tình hình chính trị - an ninh thế giới thay đổi nhanh chóng, diễn biến rất phức tạp, khó lường; tình trạng xâm phạm chủ quyền quốc gia, tranh chấp lãnh thổ và tài nguyên, xung đột sắc tộc, tôn giáo, can thiệp lật đổ, khủng bố, chiến tranh cục bộ, chiến tranh mạng,... tiếp tục diễn ra gay gắt ở nhiều khu vực. Biến động của giá cả thế giới, sự bất ổn về tài chính, tiền tệ và vấn đề nợ công tiếp tục gây ra những hiệu ứng bất lợi đối với nền kinh tế thế giới. Tương quan sức mạnh kinh tế giữa các quốc gia, khu vực đang có nhiều thay đổi. Hầu hết các nước trên thế giới đều điều chỉnh chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới thể chế kinh tế, ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ để phát triển. Cạnh tranh kinh tế, thương mại, tranh giành các nguồn tài nguyên, thị trường, công nghệ, nhân lực chất lượng cao giữa các nước ngày càng gay gắt. Xuất hiện nhiều hình thức liên kết kinh tế mới, các định chế tài chính quốc tế, khu vực, các hiệp định kinh tế song phương, đa phương thế hệ mới.

Tình hình đất nước hiện nay đang có nhng thuận lợi lớn.Thế và lực, sức mạnh tổng hợp của đất nước tăng lên, uy tín quốc tế của đất nước ngày càng được nâng cao, tạo ra những tiền đề quan trọng để thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ năm 2017 đến sau năm 2020 là thời kỳ Việt Nam thực hiện đầy đủ các cam kết trong Cộng đồng ASEAN và WTO, tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, hội nhập quốc tế với tầm mức sâu rộng hơn nhiều so với giai đoạn trước. Bối cảnh này đòi hỏi Đảng, Nhà nước và nhân dân phải nỗ lực rất cao để tận dụng thời cơ, vượt qua những thách thức lớn trong quá trình hội nhập.

Văn hóa, con người là động lực, là sức mạnh nội sinh đảm bảo sự phát triển bền vững đất nước

 

Trong những thế kỷ trước, để phát triển kinh tế người ta thường nhấn mạnh đến việc khai thác các yếu tố lao động và đất đai, và nếu biết kết hợp lao động và đất đai thì của cải sẽ sinh sôi, nảy nở. Ngày nay, trong điều kiện của các cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, đặc biệt là cách mạng công nghiệp 4.0, 5.0 và kỷ nguyên kinh tế số, yếu tố quyết định cho sự phát triển chính là trí tuệ, tri thức, thông tin, là sáng tạo và đổi mới không ngừng nhằm tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần ngày càng cao, đáp ứng nhu cầu đa dạng của các cá nhân và cộng đồng.

Trong thời đại ngày nay, nguồn gốc của sự giàu có không chỉ là tài nguyên thiên nhiên, vốn, kỹ thuật mà yếu tố ngày càng có ý nghĩa quan trọng và quyết định là nguồn lực con người, là tiềm năng sáng tạo của con người. Tiềm lực sáng tạo này nằm trong văn hóa, trong trí tuệ, đạo đức, tâm hồn, nhân cách, lối sống, thị hiếu thẩm mỹ, ý chí, nghị lực và sự thành thạo, tài năng của mỗi cá nhân và cả cộng đồng.

Trên thế giới, không ít quốc gia có nguồn tài nguyên thiên nhiên hạn hẹp nhưng lại có kinh tế rất phát triển, xã hội văn minh chính là nhờ coi trọng việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, nhân tài, thực sự đề cao vai trò động lực văn hóa trong phát triển. Đảng ta coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, chính là coi trọng nguồn lực văn hóa, động lực văn hóa của sự phát triển đất nước. Hệ thống di sản văn hóa, các giá trị văn hóa là nguồn vốn văn hóa to lớn của sự phát triển kinh tế - xã hội. Đánh giá vai trò đặc biệt quan trọng của văn hóa trong phát triển đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã nhấn mạnh: Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam để “văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững”1 của đất nước. Trong Văn kiện này, Đảng ta khẳng định tầm quan trọng ngang nhau của văn hóa, kinh tế, chính trị và xã hội trong quá trình phát triển đất nước. Nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc chính là nền văn hóa thống nhất trong đa dạng với các đặc trưng tiêu biểu là dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Trong xây dựng văn hóa phải lấy việc chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp làm cốt lõi, trọng tâm với các đặc tính cơ bản là: trung thực, trí tuệ, nhân văn, tự chủ, sáng tạo. Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, đội ngũ trí thức có vai trò quan trọng. Đây là sự nghiệp cách mạng lâu dài cần được tiến hành tích cực, sáng tạo, kiên trì thận trọng.

Khi mọi giá trị văn hóa (các giá trị chân, thiện, mỹ) thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, thẩm thấu vào tất cả các lĩnh vực và hoạt động sáng tạo của con người như: văn hóa trong sản xuất và kinh doanh, văn hóa trong quản lý, văn hóa trong giao tiếp, văn hóa trong lối sống, văn hóa trong sinh hoạt gia đình, văn hóa trong đời sống cá nhân và trong đời sống xã hội, văn hóa trong giao lưu và hợp tác quốc tế... thì văn hóa sẽ thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển. Khi hàm lượng trí tuệ, hàm lượng tri thức, hàm lượng cảm xúc chân chính trong các lĩnh vực hoạt động của đời sống con người và xã hội càng tăng cao bao nhiêu thì sự phát triển kinh tế - xã hội càng nhanh chóng trở thành hiện thực tốt đẹp bấy nhiêu.

Thực tiễn cuộc sống phong phú nước ta thời kỳ đổi mới vừa qua đã minh chứng rõ ràng, văn hóa và con người là sức mạnh nội sinh của phát triển; văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển bền vững với sự tăng trưởng cao về kinh tế, về cơ sở vật chất và công nghệ gắn với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội hướng tới phát triển văn hóa và phát triển toàn diện con người.

 Khi thực hiện mục tiêu tất cả vì sự phát triển toàn diện và bền vững, vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi chúng ta phải đặc biệt quan tâm đến văn hóa phát triển. Cần phải nâng cao nhận thức đúng đắn cho cộng đồng về vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng của văn hóa, con người đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

 Nhà nước cần đầu tư thỏa đáng cho các lĩnh vực văn hóa cần thiết như: giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn học, nghệ thuật, các lĩnh vực truyền thông đại chúng (đặc biệt là phát thanh, truyền hình, Internet, báo in, báo điện tử, xuất bản sách), đẩy mạnh hoạt động giao lưu văn hóa trong và ngoài nước, tiếp tục hoàn thiện các thiết chế văn hóa hướng tới sự phát triển. Phải coi đầu tư cho văn hóa, con người chính là đầu tư cho sự phát triển, đầu tư cho tương lai tươi sáng, bền vững của dân tộc.

 



1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Văn phòng Trung ương Đảng, H.2014, tr.47.

Văn hóa là mục tiêu của sự phát triển

 


 Bản chất của văn hóa là sáng tạo vươn lên các giá trị chân, thiện, mỹ cao đẹp, tạo nên tinh thần nhân văn cho con người, đem hạnh phúc đến cho mỗi con người và toàn nhân loại. Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là nhằm giải phóng con người khỏi áp bức bóc lột, đem hạnh phúc đến cho con người. Cho nên, một nền văn hóa đạt trình độ cao (chân, thiện, mỹ) chính là mục tiêu của sự phát triển kinh tế - xã hội, là điều mà quá trình phát triển của nhân loại hướng tới.

Trong nhiều thập niên của thế kỷ XX, trên thế giới, không ít lý thuyết đã quan niệm tăng trưởng kinh tế là mục tiêu duy nhất của phát triển. Đó là một quan niệm phiến diện. Cần thay đổi một cách cơ bản quan niệm về mục tiêu phát triển. Xét đến cùng mục tiêu đó phải là văn hóa, là nâng cao chất lượng cuộc sống của con người, với bảo đảm sao cho kết hợp hài hòa giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần, giữa mức sống cao và lối sống đẹp, không chỉ cho một số ít người mà cho đại đa số, không chỉ cho thế hệ hiện nay mà còn cho các thế hệ mai sau. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển”1. Phát triển con người được nhận thức “là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể của phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân”2.

Khi coi văn hóa là mục tiêu của sự phát triển kinh tế - xã hội cũng có nghĩa là toàn bộ sự phát triển kinh tế - xã hội phải hướng tới phát triển con người, phát triển xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của xã hội theo tiêu chí phát triển mới HDI (mức sống, tuổi thọ bình quân và trình độ học vấn). Phải đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển (kết hợp sử dụng nguồn nhân lực với sử dụng mọi nguồn lực khác…). Là mục tiêu của phát triển, văn hóa thể hiện “trình độ được vun trồng” ngày càng đầy đủ, ngày càng toàn diện của con người về thể lực, trí lực và nhân cách để mỗi người (và cộng đồng xã hội) được hưởng một cuộc sống ngày càng tiến bộ, dân chủ, văn minh hơn. Và như vậy, mục tiêu của phát triển phải được nhìn nhận như là một tiến trình giải phóng con người, phát huy nguồn lực con người. Quan niệm về mục tiêu phát triển như vậy phù hợp với khát vọng lâu đời của nhân loại tiến bộ. Đó cũng là lý tưởng, là mục đích phấn đấu của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Mục tiêu phấn đấu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” là định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời cũng chính là mục tiêu của văn hóa, nếu hiểu theo nghĩa rộng nhất của khái niệm này.

 



1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, tr.75-76.

2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, tr.76.