Thứ Sáu, 7 tháng 7, 2023

 

KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH BÁC BỎ NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH ĐỐI VỚI CÔNG TÁC CÁN BỘ 

CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC

Từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn có chiến lược đúng đắn, sáng tạo về công tác nhân sự đặc biệt là công tác cán bộ để phát hiện, bồi dưỡng, lựa chọn, đề bạt, sử dụng cán bộ, làm cho đội ngũ cán bộ trưởng thành, lớn mạnh đủ sức để đảm đương nhiệm vụ của Đảng, của cách mạng qua các thời kỳ. Quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh “cán bộ là gốc của công việc”, Đảng ta đã luôn nhận thức sâu sắc, đúng đắn về cán bộ và công tác cán bộ. Trước mỗi kỳ Đại hội, Đảng luôn chú trọng làm tốt việc phát hiện, bồi dưỡng và lựa chọn, bố trí đội ngũ cán bộ các cấp. Vì vậy, trải qua các giai đoạn cách mạng, Đảng đã lựa chọn được đội ngũ cán bộ có đủ tài, đức ngang tầm nhiệm vụ. Sự cống hiến sức lực, trí tuệ, hy sinh quên mình của đội ngũ cán bộ, đảng viên đã lãnh đạo nhân dân làm nên những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam, giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, xây dựng đất nước phồn vinh, thực hiện theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Sự nghiệp đổi mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đòi hỏi Đảng phải lựa chọn được đội ngũ cán bộ có đủ đức, có tài, uy tín để đảm nhiệm công tác lãnh đạo của Đảng, bảo đảm sự kế thừa, chuyển giao giữa các thế hệ cán bộ. Do đó, việc phát hiện, bồi dưỡng, lựa chọn hiền tài bổ sung vào đội ngũ cán bộ các cấp là tất yếu, khách quan, là vấn đề sống còn của Đảng của chế độ.

Lý luận và thực tiễn đã chứng minh, ở đâu, lúc nào làm tốt công tác bồi dưỡng, lựa chọn được đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất chính trị, đạo đức, có trình độ tri thức và năng lực lãnh đạo thì ở đó cấp ủy đảng, chính quyền đoàn thể kinh tế – xã hội vững mạnh, nhân dân đoàn kết, chính trị ổn định, kinh tế, văn hóa phát triển và ngược lại.

Biết rõ điều đó, từ trước đến nay các thế lực thù địch, phản động luôn tìm cách xuyên tạc, chống phá công tác nhân sự nhất là việc quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ của Đảng. Chúng sử dụng những thủ đoạn tuyên truyền, xuyên tạc làm nhiễu loạn thông tin về cán bộ, tạo dư luận xấu, hòng “mượn gió, bẻ măng” công kích, thóa mạ đội ngũ cán bộ đảng viên, gieo rắc hoài nghi trong quần chúng nhân dân về công tác nhân sự của Đảng, kích động lôi kéo những phần tử cơ hội chính trị gây chia rẽ nội bộ.

Chúng không từ một thủ đoạn nào từ bịa đặt tuyên truyền Đảng ta đang lâm vào khủng hoảng nhân sự nhất là nhân sự cao cấp; công tác nhân sự của Đảng chẳng qua chỉ dân chủ hình thức nâng đỡ con cha, cháu ông, đấu đã phe phái, chạy chức, chạy quyền để chống Đảng, Nhà nước. Đây là những hành vi, thủ đoạn không mới song lại rất thâm độc và nguy hiểm. Hậu quả của nó gây ra rất lớn, có tác động phá hoại sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, ảnh hưởng không nhỏ đến lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và đội ngũ cán bộ, lãnh đạo cao cấp của Đảng nhất là trước các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc.

Chúng còn giở trò so sánh Việt Nam với Mỹ, với Trung Quốc, với Nga, với Tây Âu.. nhằm vu cáo cho Đảng ta yếu kém trong lãnh đạo phát triển kinh tế – xã hội, cũng như sự khẳng định vị thế, con người Việt Nam, kích động tư tưởng dân chủ cực đoan và cố tình gây hiềm khích với các quốc gia, dân tộc khác nhằm mục tiêu là phá hoại công tác cán bộ của Đảng.

Trước thềm Đại hội XIII, cùng với các nhiệm vụ khác, công tác nhân sự được Đảng ta quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác chuẩn bị nhân sự cán bộ các cấp từ Trung ương đến cơ sở. Đây là việc hệ trọng, đòi hỏi các cấp, các ngành, các địa phương phải làm tốt để phát hiện, bồi dưỡng lựa chọn những người có tài, có đức đảm đương các chức vụ trong cơ quan đảng, bộ máy Nhà nước. Đồng thời, cần phải thường xuyên cảnh giác, tiến hành các biện pháp bảo vệ cán bộ; chủ động tích cực đấu tranh bác bỏ những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch lợi dụng công tác nhân sự để kích động, chống phá Đảng, Nhà nước, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc./.

 

 

KỶ LUẬT CÁN BỘ LÀ VIỆC LÀM THƯỜNG XUYÊN CỦA ĐẢNG

 

Việc Bộ Chính trị quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với đồng chí Nguyễn Văn Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư T.Ư Đảng, Trưởng Ban Kinh tế T.Ư, thêm một lần nữa khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng ta: Làm tốt thì biểu dương, khen thưởng; làm chưa tốt thì nhắc nhở, phê bình; vi phạm sẽ phải xử lý nghiêm minh, kết luận rõ đến đâu xử lý đến đó, không có 'vùng cấm', hoặc ngoại lệ. Đây là nguyên tắc, việc làm thường xuyên của Đảng và cũng là mong muốn của nhân dân, nhằm không ngừng làm trong sạch, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược.

Việc Bộ Chính trị quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với đồng chí Nguyễn Văn Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư T.Ư Đảng, Trưởng Ban Kinh tế T.Ư, thêm một lần nữa khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng ta: Làm tốt thì biểu dương, khen thưởng; làm chưa tốt thì nhắc nhở, phê bình; vi phạm sẽ phải xử lý nghiêm minh, kết luận rõ đến đâu xử lý đến đó, không có “vùng cấm”, hoặc ngoại lệ. Đây là nguyên tắc, việc làm thường xuyên của Đảng và cũng là mong muốn của nhân dân, nhằm không ngừng làm trong sạch, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược.

Theo kết luận của Ủy ban Kiểm tra T.Ư tại Kỳ họp thứ 49 cho thấy, khi là Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, đồng chí Nguyễn Văn Bình đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ và Quy chế làm việc; thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu kiểm tra, giám sát, để xảy ra nhiều vi phạm, khuyết điểm trong việc ban hành và tổ chức thực hiện một số nghị quyết, quy định, quyết định về hoạt động tín dụng ngân hàng, gây hậu quả rất nghiêm trọng, khó khắc phục. Nhiều cán bộ, đảng viên của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và lãnh đạo chủ chốt một số tổ chức tín dụng vi phạm pháp luật bị xử lý hình sự. Cụ thể là năm vi phạm, khuyết điểm được Bộ Chính trị nêu trong Quyết định thi hành kỷ luật cán bộ. Mắc những vi phạm, khuyết điểm như thế, dù là ai cũng phải chịu hình thức kỷ luật cảnh cáo.

Trong công tác cán bộ, Đảng ta luôn chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, tạo mọi điều kiện để người có tài năng, phẩm chất đạo đức tốt cống hiến cho đất nước, nhưng cũng kiên quyết xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm. Gần 35 năm đổi mới, Đảng ta ban hành và chỉ đạo tổ chức thực hiện đồng bộ nhiều nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định về công tác cán bộ. Bởi thế, chưa bao giờ chúng ta có đội ngũ cán bộ được đào tạo bài bản, có trình độ, năng lực và môi trường công tác thuận lợi như hiện nay. Song cũng thật đáng lo ngại vì tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước. Vì thế, Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành T.Ư Đảng khóa XII đã ban hành Nghị quyết về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Một trong những nhiệm vụ, giải pháp được thực hiện mạnh mẽ là: “Siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; cán bộ, đảng viên vi phạm phải có hình thức xử lý kịp thời, chính xác, bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng”. Với sự chỉ đạo của Ban Chấp hành T.Ư, Bộ Chính trị, Ban Bí thư mà trực tiếp là đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được thực hiện quyết liệt, kiên trì, bài bản, nghiêm minh và cũng rất nhân văn. Nhiều vụ việc tồn đọng, phức tạp kéo dài tưởng bị chìm trong im lặng, lần lượt được đưa ra ánh sáng và xử lý đúng người, đúng tội. Khi bị kỷ luật, hay xét xử, có những cán bộ cấp cao đã hối hận, xin lỗi nhân dân và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước vì đã làm những việc sai trái, ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng. Chưa bao giờ có số lượng lớn cán bộ bị xử lý kỷ luật như nhiệm kỳ này, trong đó hơn 100 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, bao gồm cả đương chức và nghỉ hưu, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên T.Ư Đảng, bộ trưởng, bí thư tỉnh ủy, thành ủy, tướng lĩnh trong các lực lượng vũ trang,... Phải kỷ luật chính đồng chí mình là điều không ai muốn, nhưng kỷ luật một vài người là để vừa giữ nghiêm kỷ cương phép nước, vừa cảnh tỉnh, cảnh báo, giáo dục, răn đe người khác tránh xa vết xe đổ của đồng chí mình.

Phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ 11, Ban Chấp hành T.Ư khóa XII, khi đề cập việc kỷ luật cán bộ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Thật đau xót, nhưng không thể không làm, không có cách nào khác! Tất cả là vì sự nghiệp chung của Đảng, của đất nước, của nhân dân. Đây là bài học sâu sắc, bài học đắt giá cho tất cả chúng ta. Đề nghị từng đồng chí Ủy viên T.Ư Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên, công chức cần thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, thường xuyên nêu gương, tự soi, tự sửa, tránh xa những cám dỗ vật chất, tham vọng để không đi vào vết xe đổ, gây ra những hậu quả, tổn thất khôn lường”. Điều đáng mừng là, những kết quả trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã củng cố vững chắc thêm niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, tạo khí thế mới, tinh thần mới trong quá trình tổ chức thực hiện đưa nghị quyết vào cuộc sống, để đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, uy tín và vị thế như ngày nay.

Hiện, toàn Đảng đang tích cực chuẩn bị mọi công việc để tổ chức thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII vào đầu năm 2021, trong đó có công tác nhân sự - một công việc vô cùng quan trọng nhưng cũng rất phức tạp, nặng nề,… Vì đây là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, phải có bản lĩnh thật vững vàng, có phẩm chất, trí tuệ và uy tín cao để giải quyết những công việc ở tầm chiến lược, xử lý kịp thời, đúng đắn, có hiệu quả những tình huống phức tạp có quan hệ đến sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước, sự sống còn của chế độ. Yêu cầu là không để sót những người có đức, có tài, nhưng kiên quyết không để lọt vào cấp ủy những cán bộ vi phạm, thoái hóa, biến chất.

Xử lý kỷ luật cán bộ vi phạm lâu nay luôn được Đảng ta thực hiện một cách thận trọng, nghiêm minh, công tâm, khách quan và chắc chắn rằng càng đến dịp đại hội càng phải làm thận trọng, nghiêm minh, công tâm, khách quan hơn nữa để góp phần lựa chọn nhân sự xứng đáng vào cấp ủy khóa mới. Đây là yêu cầu của nhiệm vụ mới, là đòi hỏi tất yếu không thể thiếu trước mỗi kỳ đại hội. Thế nhưng, kinh nghiệm từ trước đến nay, cho thấy quá trình chuẩn bị đại hội luôn là thời điểm các thế lực thù địch, phản động và những phần tử cơ hội, bất mãn chính trị triệt để lợi dụng để kích động, xuyên tạc, chống phá quyết liệt cả về đường lối, chính sách và nhất là về công tác nhân sự. Chúng lu loa cho rằng, “do bè phái, nội bộ đấu đá thanh trừng lẫn nhau”. Nếu lơ là mất cảnh giác, nhẹ dạ, cả tin sẽ dễ bề nghe theo những điều xuyên tạc quen thuộc nhưng rất nham hiểm ấy.

Với thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà đất nước giành được trong 35 năm đổi mới, nhất là trong nhiệm kỳ Đại hội XII, càng thấy rõ, mỗi việc làm của Đảng, trong đó có việc xử lý kỷ luật cán bộ luôn xuất phát từ tình hình thực tiễn, vì yêu cầu, mục đích chung của sự nghiệp cách mạng, để Đảng xứng đáng với niềm tin yêu của nhân dân, để mỗi cán bộ thật sự là công bộc của dân .

 

 

 

Học thuyết giá trị thặng dư vẫn còn nguyên giá trị trong điều kiện 

của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ

Từ nửa sau thế kỷ XX, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại phát triển với tốc độ nhanh, với trình độ ngày càng cao. Bước tiến phi thường của cuộc cách mạng này dẫn tới việc xây dựng nhiều ngành công nghệ cao, như công nghệ hạt nhân, công nghệ điện tử, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới và nhiên liệu mới, công nghệ vũ trụ, công nghệ thông tin,... đặc biệt là thúc đẩy sự phát triển công nghệ thông tin và sự ra đời của thời đại tin học. Trong thời đại “hậu công nghiệp” hay “xã hội thông tin” ngày nay, lý lẽ đưa ra để bác bỏ lý luận GTTD có vẻ “thuyết phục” hơn. Ở các nước tư bản phát triển, mức sống của đại đa số công nhân được nâng cao hơn trước rất nhiều, một số công nhân đã có cổ phiếu trong các xí nghiệp, công ty tư bản, xuất hiện tầng lớp trung lưu đông đảo. Vì thế, nảy sinh luận điệu không còn có sự “phân biệt tư bản và lao động”, “không ai bóc lột ai”, CNTB nếu còn bóc lột thì chỉ bóc lột “người máy”. Vì trong các xí nghiệp hiện đại, tự động hóa, quá trình sản xuất ra sản phẩm không cần hoặc cần rất ít lao động sống, nhưng giá trị do các xí nghiệp này tạo ra tăng gấp bội so với các xí nghiệp cổ điển dùng rất nhiều công nhân,...

Những luận điểm “mới mẻ” ấy quả thật cũng có sự hấp dẫn, nhưng chúng không bác bỏ được sự thật. Chủ nghĩa tư bản mặc dù có những bước phát triển mới, biến đổi về lượng và chất cục bộ, nhưng bản chất bóc lột không hề thay đổi.

Ngày nay, CNTB tuy có những điều chỉnh nhất định về hình thức sở hữu, quản lý và phân phối để thích nghi ở mức độ nào đó với điều kiện mới, nhưng sự thống trị của CNTB tư nhân vẫn tồn tại nguyên vẹn, bản chất bóc lột của nó vẫn không hề thay đổi. Nhà nước tư sản hiện nay tuy có tăng cường can thiệp vào đời sống kinh tế - xã hội, nhưng về cơ bản nó vẫn là bộ máy thống trị của giai cấp tư sản. Những khái niệm và luận điểm phản ánh, đề cập những sự kiện, quan hệ kinh tế - xã hội mới nhất bao giờ cũng hấp dẫn người ta. Nhưng chúng không bác bỏ được thực tế là: không phải lao động quá khứ như máy móc, thiết bị kỹ thuật làm ra giá trị mới, mà lao động sống mới làm ra giá trị mới, lao động sống mới tạo ra GTTD trong thời đại kinh tế công nghiệp trước đây đã như vậy, trong kinh tế tri thức hiện đại cũng vậy.

Tuy nhiên, do trình độ đạt được của văn minh nhân loại và do cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân, mà một bộ phận không nhỏ công nhân ở các nước tư bản phát triển có mức sống tương đối sung túc, nhưng về cơ bản, họ vẫn phải bán sức lao động và vẫn bị nhà tư bản bóc lột GTTD. Chỉ có điều khác biệt ở chỗ, quy luật GTTD ngày càng phát huy tác dụng mạnh mẽ trong điều kiện toàn cầu hóa và kinh tế tri thức, song, cơ chế tác động của quy luật này phức tạp hơn, hình thức bóc lột GTTD tinh vi hơn nhiều so với trước đây. Trong điều kiện hiện nay, sản xuất GTTD có những đặc điểm mới: 

Một là, do kỹ thuật và công nghệ hiện đại được áp dụng rộng rãi, nên khối lượng GTTD được tạo ra chủ yếu nhờ tăng năng suất lao động. Việc tăng năng suất lao động do áp dụng kỹ thuật và công nghệ hiện đại có đặc điểm là chi phí lao động sống cho một đơn vị sản phẩm giảm nhanh, vì máy móc hiện đại thay thế được nhiều lao động sống hơn. Hơn nữa, nhà tư bản thông qua sử dụng ồ ạt các thiết bị tự động hóa, đem khoa học  - kỹ thuật hiện đại ứng dụng với quy mô lớn vào sản xuất, đã nâng cao rất nhiều lần năng suất lao động. Vì thế, họ thuê ít công nhân hoặc không thuê công nhân điều khiển máy móc mà vẫn có thể giành được GTTD nhiều hơn. Sự thực đó cũng không thể phủ định lý luận giá trị lao động và nguyên lý cơ bản của lý luận GTTD, tức là giá trị và GTTD đều do lao động sống của người lao động sáng tạo ra, lao động sống là nguồn gốc duy nhất của giá trị và GTTD. Các yếu tố sản xuất khác (máy móc, thiết bị, kỹ thuật, công nghệ,... kể cả người máy) đều không tạo ra giá trị và GTTD.

Trong nền kinh tế công nghiệp trước đây đã như thế thì ngày nay, trong điều kiện kinh tế tri thức cũng như vậy. Ai cũng biết, khoa học - kỹ thuật và thiết bị tự động hóa, cùng yếu tố sản xuất khác đều là sản phẩm lao động và có giá trị, đều thuộc về TLSX và điều kiện vật chất không thể thiếu trong quá trình sản xuất TBCN. C. Mác chưa bao giờ phủ định “tác dụng quan trọng” của tư liệu lao động trong quá trình sản xuất. Khi trình bày sự hình thành giá trị và làm tăng thêm giá trị, C. Mác khẳng định tiền đề của nó là TLSX (nguyên liệu và tư liệu lao động) không thể thiếu của sản xuất GTTD.

Dù máy móc tự động hóa đã thay thế lao động trực tiếp và một bộ phận lao động trí óc của con người, nhưng không thay thế được địa vị lao động của con người, càng không thể thay đổi địa vị chủ thể của con người trong quá trình sản xuất.

Do đó, bất cứ lao động nào, dù là lao động giản đơn hay lao động trí tuệ mà không được trả công tương xứng với giá trị mà lao động đó sáng tạo ra (sau khi trừ các khoản chi phí cần thiết) trong TBCN đều bị bóc lột GTTD.

Hai là, cơ cấu lao động xã hội ở các nước tư bản phát triển hiện nay có sự biến đổi lớn. Hàm lượng chất xám (sự đầu tư trí tuệ của công nhân, trí thức, kỹ thuật lập trình, nhà khoa học phát minh, sáng chế, nhà quản trị và công nghệ hiện đại), nên lao động phức tạp, lao động trí tuệ tăng lên và thay thế lao động giản đơn, lao động cơ bắp, dẫn đến lao động trí tuệ, lao động có trình độ kỹ thuật cao ngày càng có vai trò quyết định trong việc sản xuất ra GTTD. Thu nhập chủ yếu của nhà tư bản trong điều kiện kinh tế tri thức cũng không phải công quản lý mà từ phần lao động thặng dư của người lao động làm thuê, chủ yếu là lao động trí tuệ, nhà tư bản chiếm lấy. Chính nhờ sử dụng lực lượng lao động này mà tỷ suất và khối lượng GTTD đã tăng lên rất nhiều. 

Sự điều chỉnh của CNTB độc quyền nhà nước và của CNTB độc quyền nhà nước quốc tế đã làm cho sự bóc lột GTTD mang tính hai mặt: vừa tăng cường, vừa hạn chế. Tăng cường vì có môi trường đầu tư thuận lợi: cung cấp TLSX, chỉ dẫn và định hướng quá trình sản xuất GTTD; điều chỉnh dòng chảy GTTD tư bản hóa,... Hạn chế vì sử dụng các luật lệ, chính sách để điều chỉnh khi sự bóc lột của các công ty tư bản “quá ngưỡng” có thể xảy ra nguy cơ xung đột về chính trị và xã hội. Ngày nay, sự điều tiết phân phối GTTD của các nhà tư bản qua thuế, quỹ phúc lợi xã hội, bảo hiểm xã hội, trợ cấp thất nghiệp,... cũng tạo nên một số thu nhập nào đó cho người lao động.

Sự xuất hiện chế độ sở hữu hỗn hợp với sự hiện diện của các công ty cổ phần, trong đó đại bộ phận là sở hữu tư nhân tư bản với một bộ phận nhỏ cổ phần của người lao động đã làm giảm đi một phần nào tính gay gắt của mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa cao của lực lượng sản xuất xã hội với chế độ sở hữu tư nhân TBCN về TLSX. Trong lĩnh vực quản lý và phân phối cũng có những điều chỉnh đáng kể. Việc cho người công nhân được mua cổ phiếu, tham dự hội nghị cổ đông, việc giảm thiểu thời gian lao động trong tuần,... dường như là chiếc van điều áp, giảm thiểu mâu thuẫn giữa tư bản và lao động.

Nhưng đó là cách nhìn phiến diện, không thấy đằng sau, phía trước sự phát triển ấy là gì. Trước hết phải thấy rằng, CNTB đã có nhiều thế kỷ phát triển, bánh xe vận hành của nó đã lăn đi trong máu và nước mắt của nhân dân lao động trên trái đất này. Lật lại các trang lịch sử của nó là sẽ thấy những gì mà chế độ tư bản đã đối xử với đồng loại của mình. Vì chế độ thực dân xâm lược mà cuối thế kỷ XIX, hàng chục triệu người Ấn Độ, các nước châu Phi, Trung Quốc, Bra-xin, Triều Tiên, Nga, Việt Nam và nhiều nước khác đã chết do đói, hạn hán, dịch bệnh. Và ngay trong lòng các nước tư bản giàu có hiện nay, ai dám chắc mọi người dân đều có cuộc sống tốt đẹp? Nếu khẳng định được thì tại sao ngay tại nước Mỹ hùng mạnh, phát triển, hiện đại, vẫn còn tồn tại các khu nhà ổ chuột của người da đen và người nhập cư?

Ba là, điểm cần lưu ý, xem xét quan hệ bóc lột của CNTB ngày nay không chỉ bó hẹp trong quan hệ giữa nhà tư bản và người lao động làm thuê ở các nước TBCN, mà phải xem xét cả quan hệ thống trị, bóc lột của các nước phát triển với các nước kém và đang phát triển, thể hiện ở sự phân hóa hai cực: giàu, nghèo của thế giới. Bởi vì, sự bóc lột GTTD của CNTB đã mang “tính quốc tế”.

Ngày nay, trong điều kiện toàn cầu hóa, CNTB độc quyền nhà nước quốc tế, thông qua các hình thức, như xuất khẩu tư bản, di chuyển lao động từ nước này sang nước khác, việc bành trướng của các công ty xuyên quốc gia, tình trạng bất bình đẳng trong các quan hệ thương mại quốc tế, sự xuất hiện cái gọi là chủ nghĩa thực dân kinh tế, sự áp đặt chính sách giữa Đông và Tây, giữa các nước giàu với các nước nghèo,... khiến cho việc sản xuất GTTD mang tính quốc tế, được tư bản hóa, được xuất khẩu để quốc tế hóa tư bản với sự đa dạng của các hình thức sản xuất ra nó.

Bốn là, những sự “điều chỉnh” để thích ứng của CNTB tuy có tác động tới sự phát triển, song đưa lại hệ quả xấu là khoét sâu thêm khoảng cách giữa giàu và nghèo, làm cho các nước nghèo ngày càng nghèo hơn, các nước giàu ngày càng giàu hơn. Tích tụ tư bản và bóc lột công nhân là hai quá trình thực tế không tách rời nhau. Điều đó được xác nhận qua sự thành lập các tập đoàn kinh tế khổng lồ trên cơ sở tăng cường bóc lột bằng những phương thức mới, qua nạn thất nghiệp phổ biến đang trở thành hiện tượng kinh niên. Mặt khác, điều đó cũng xác nhận cho học thuyết của C. Mác khi nói rằng đi kèm sự phát triển của CNTB là hiện tượng tăng tư bản bất biến (dùng để mua TLSX) và giảm tư bản khả biến (dùng để mua lao động). Vì thế “đội quân hậu bị” trở thành yếu tố thuộc về bản chất của CNTB. Sự phân cực trong vấn đề tài sản tự nó là biểu hiện của tình trạng bất bình đẳng xã hội ngày càng tăng ở mỗi nước và trên phạm vi thế giới. Cực tích tụ của cải và cực tích tụ đói nghèo là hai mặt của một đồng tiền tư bản ở từng nước và trên phạm vi thế giới.

Hiện nay, trong phạm vi quốc gia, CNTB hiện đại cố gắng xây dựng một hệ thống pháp luật đa dạng, phổ cập trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo điều kiện cho quá trình “điều chỉnh” của CNTB tư nhân đối với các quá trình kinh tế. Để điều hòa các mâu thuẫn hiện tại của nó, CNTB tập trung giải quyết các vấn đề kinh tế nhằm thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất. Động thái này được tiến hành trong sự kết hợp với việc nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm và hiệu quả sản xuất, giảm bớt chi phí xã hội, mở rộng môi trường cạnh tranh,... Vì thế, việc nhà nước tư sản ở các nước công nghiệp phát triển chiếm hữu và phân phối từ 30%  - 60% thu nhập quốc dân và sử dụng một phần từ siêu lợi nhuận thu được để trả công cho người lao động dễ tạo ra trong người lao động một “ảo giác” về tình trạng không bị bóc lột.

Những phân tích trên đây chưa thể nói lên tất cả những mâu thuẫn, xung đột ngày càng gay gắt trong lòng xã hội tư bản hiện nay, nhưng cũng đã phác họa được bức tranh khái quát về những hình thức biểu hiện mới của vấn đề bóc lột của tư bản đối với lao động trên toàn thế giới. Nhưng, dù những hình thức bóc lột có biến tướng, tinh vi đến mức nào chăng nữa thì bản chất bóc lột của tư bản đối với lao động vẫn là bóc lột GTTD - tức là bóc lột lao động sống của người lao động chứ không thể bóc lột lao động “chết” của máy móc được. Do vậy, nói một cách khác, học thuyết GTTD vẫn còn nguyên giá trị, CNTB vẫn giữ nguyên bản chất bóc lột của nó.

Luận điểm của C. Mác và Ph. Ăng-ghen về chế độ người bóc lột người trong xã hội tư bản vẫn giữ nguyên giá trị khoa học. Mặc dù đã có sự thay đổi và điều chỉnh, song có thể khẳng định: bản chất bóc lột của CNTB không thay đổi; khi nào những mâu thuẫn trong lòng xã hội tư bản còn tồn tại thì khi ấy, học thuyết GTTD vẫn sẽ mãi là ánh sáng chỉ đường cho sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân và loài người khỏi mọi hình thức nô dịch, áp bức, bóc lột của CNTB.

 

 

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN TẦM VÓC VĨ ĐẠI CỦA CỦA 

CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA

 

Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 là cuộc cách mạng vô sản đầu tiên thắng lợi trên một phần sáu diện tích trái đất, tạo nên một bước ngoặt lịch sử vĩ đại, mở ra một thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Cuộc cách mạng ấy đã phát huy được mọi khả năng sáng tạo to lớn của nhân dân Nga, từ đó khẳng định sức mạnh của con người, của giai cấp vô sản và nhân dân lao động trong cuộc đấu tranh tự giải phóng và mở đầu sự nghiệp kiến tạo xã hội mới chưa từng có trong lịch sử. Thắng lợi đó, không chỉ đánh dấu sự ra đời của nhà nước vô sản đầu tiên trên thế giới mà còn đặt nền móng cho sự ra đời một xã hội mới, nhân văn, thật sự vì con người. Dù trước đây và hiện nay, các thế lực thù địch tìm mọi luận điệu để xuyên tạc, phủ nhận tầm vóc vĩ đại của nó, song thực tiễn lịch sử đã và đang tiếp tục khẳng định giá trị vĩnh hằng, sức sống bền bỉ của lý tưởng cộng sản mà thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười đã vạch ra.

Thực tế là, ngày 7/11/1917, Cách mạng Tháng Mười Nga do V.I.Lênin và Đảng Bôn-sê-vích lãnh đạo đã giành thắng lợi, lập nên nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới. Từ chỗ chỉ là ước mơ cao đẹp của loài người, sau Cách mạng Tháng Mười Nga, chủ nghĩa xã hội (CNXH) đã trở thành hiện thực và có sức mạnh vô cùng to lớn, mở đường cho các dân tộc bị áp bức vùng lên đấu tranh giành độc lập, tự do. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga cùng với sự ra đời của nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới được xem là sự kiện lịch sử vĩ đại nhất của thế kỷ XX; trở thành biểu tượng của niềm tin và sự cổ vũ mãnh liệt đối với phong trào cách mạng của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.

Cách mạng Tháng Mười Nga nổ ra đã đáp ứng đầy đủ nhất những yêu cầu cấp thiết của lịch sử là xóa bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa để xây dựng một chế độ xã hội mới - chế độ xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là CNXH. Để có được thắng lợi vang dội đó, những người Bôn-sê-vích Nga dưới sự lãnh đạo của V.I.Lênin đã chuẩn bị về mọi mặt như chính trị, tư tưởng, tổ chức, quân sự... Dưới ánh sáng của “Luận cương tháng Tư” và sự chỉ đạo của V.I.Lênin, những người Bôn-sê-vích xác định nhiệm vụ cấp bách và quan trọng nhất cho toàn Đảng là phải lôi cuốn đông đảo giai cấp công nhân và nhân dân lao động về phía cách mạng; thành lập đội quân chính trị đông đảo đủ sức mạnh đánh bại lực lượng phản cách mạng; thành lập lực lượng vũ trang cách mạng làm chỗ dựa vững chắc cho cuộc đấu tranh chính trị và chủ động đối phó với sự thay đổi của tình hình.

Sau Cách mạng Tháng Mười, V.I.Lênin và Đảng Bôn-sê-vích Nga đã tập trung củng cố chính quyền Xô-viết, xây dựng chế độ xã hội mới, đem lại cuộc sống tốt đẹp cho quần chúng nhân dân. “Sắc lệnh hòa bình” và “Sắc lệnh ruộng đất” được ban hành ngay sau khi cách mạng thành công đáp ứng được ý nguyện của quần chúng nhân dân lao động Nga về một cuộc sống hòa bình, tự do và hạnh phúc. Sự thống nhất về mặt lợi ích của giai cấp vô sản với nhân dân lao động đã hình thành và phát triển một nguyên tắc đạo đức mới, đó là chủ nghĩa tập thể.

Trong hơn 70 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa đã đạt được sự phát triển mạnh mẽ về tiềm lực kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất của CNXH trên quy mô lớn với trình độ hiện đại, bảo đảm ngày càng tốt hơn đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Với sự lớn mạnh toàn diện, CNXH có ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống chính trị thế giới, đóng vai trò quan trọng đối với sự sụp đổ hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, mở ra kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc và thời đại quá độ lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới. Chính CNXH và cuộc đấu tranh rộng lớn, mạnh mẽ của nhân dân lao động đã là động lực to lớn buộc các thế lực thực dân, đế quốc phải thừa nhận quyền độc lập, tự do của các dân tộc thuộc địa; chính quyền các nước tư bản có những cải cách xã hội để cải thiện đời sống của người lao động… Từ sau Cách mạng Tháng Mười, Liên Xô đã giành được những thành tựu to lớn về nhiều mặt, nhất là đã huy động được lực lượng vật chất và tinh thần đánh thắng liên minh các thế lực đế quốc trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, các thế lực phát xít tàn bạo trong Chiến tranh thế giới thứ hai, hình thành hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Cách mạng Tháng Mười để lại nhiều bài học quý giá, trong đó quan trọng nhất là bài học về công tác xây dựng Đảng. Thực tế lịch sử cho thấy, V.I.Lênin và Đảng Bôn-sê-vích Nga đã chủ động chuẩn bị mọi mặt cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười. Trước sự biến động của tình hình cách mạng, cùng với việc đề ra chiến lược, sách lược cụ thể, Đảng Bôn-sê-vích Nga đã sáng suốt khi xác định rõ, cách mạng Nga phải chuyển từ cách mạng dân chủ tư sản sang cách mạng xã hội chủ nghĩa mà nhiệm vụ trọng tâm là lật đổ chính quyền lâm thời tư sản, bảo vệ các Xô viết đại diện. Đồng thời, công tác vận động, tập hợp quần chúng cũng được những người Bôn-sê-vích Nga chú trọng gắn với việc đấu tranh vạch trần bộ mặt cải lương, phản động của giai cấp tư sản và chính quyền lâm thời tư sản. Với hàng loạt khẩu hiệu cách mạng, nhất là khẩu hiệu “Chính quyền về tay các Xô viết”, Đảng Bôn-sê-vích Nga đã thành công trong việc tập hợp và phát huy sức mạnh của các lực lượng cách mạng như công nhân, nông dân, các dân tộc bị áp bức cùng kiên quyết đấu tranh lật đổ chính quyền lâm thời tư sản. 

Từ sau Cách mạng Tháng Mười, V.I.Lênin đã nhiều lần nhấn mạnh, để xứng đáng với tư cách là một đảng cách mạng chân chính, các đảng cộng sản phải luôn đề phòng và kiên quyết đấu tranh ngăn chặn mọi biểu hiện tiêu cực trong nội bộ đảng như: suy thoái về tư tưởng chính trị, đặc quyền, đặc lợi, xa dân, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, cơ hội chủ nghĩa; phải nghiêm túc thực hiện tự phê bình và phê bình; phải thường xuyên tự điều chỉnh sao cho phù hợp với tình hình thực tiễn. Đây là những chỉ dẫn hết sức quý báu của V.I.Lênin được rút ra từ thành công của Cách mạng Tháng Mười.

Về ý nghĩa của Cách mạng Tháng Mười đối với phong trào cách mạng trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, ngay từ những năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ rõ: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật không phải tự do, bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang ở bên An Nam..”. Vì vậy, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đặc biệt coi trọng việc vận dụng sáng tạo những bài học kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười, nhất là bài học về công tác xây dựng Đảng. Người cho rằng: “Cách mệnh Nga dạy chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất”; chỉ rõ việc cần kíp trước hết mà cách mạng đòi hỏi là “phải có Đảng cách mệnh”, “Đảng có vững thì cách mạng mới thành công… Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt”, “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là Chủ nghĩa Lênin”.

Dù đã hơn một thế kỷ trôi qua với muôn vàn biến động và những thay đổi liên quan đến “địa- chính trị” thế giới, nhưng không ai có thể phủ nhận được ý nghĩa to lớn của Cách mạng Tháng Mười Nga đối với phong trào cách mạng thế giới lúc bấy giờ. Đối với Việt Nam, Cách mạng Tháng Mười chính là ánh sáng soi đường cho nhân dân ta đi đến một cuộc cách mạng vĩ đại trong lịch sử dân tộc - cách mạng vô sản do giai cấp công nhân và nhân dân lao động khởi xướng để xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Cho đến nay, trải qua chặng đường hơn 90 năm, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn luôn kiên trì, kiên định con đường này và luôn quán triệt, vận dụng bài học thành công từ Cách mạng Tháng Mười đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

 

 

 

 

CÁI CẦN LÊN! - Ứ LÊN.

Chồng nằm bên vợ trẻ 

Nói nhỏ nhẹ thế này :

Báo Đời sống hôm nay 

Đăng nhiều tin nóng hổi 


Chính sách đang thay đổi 

Giá điện nước tăng lên 

Vợ trẻ nằm cạnh bên 

Ngoảnh mặt đi không nói


Nghĩ vợ giận mới hỏi  :

- Em sợ nó lên à..?

Xăng dầu, nước, Điện.. gas

Đồng loạt lên em ạ ! 


- Tin ấy đâu có lạ

Ông bảo nhiều thứ lên.. 

Sao cái ở cạnh bên.. 

Đã không lên...! Còn xuống..? 


Rượu sâm rồi gà nướng.. 

Ăn uống xong ngủ quên 

Cái cần lên- Ứ lên ! 

Sao gọi là Đời sống..? 


Giá cả luôn biến động 

Nên mới gọi thị trường 

Còn.. Cái ở trên giường 

Sao không lên theo giá..? 


Đồ dùng.. Rau, thịt cá 

Giá vẫn lên hàng ngày 

Riêng cái đồ cầm tay

Không lên.. Ai chả tức ! 


Nghĩ mà thấy ấm ức 

Nhưng vẫn chúc mọi người 

Cuộc sống cần tiếng cười 

Lên hay không... Tùy nó .

(Thơ  Sưu tầm)


HÀNH TRÌNH THEO CHÂN BÁC HỒ

 

Ngày 06 tháng 7


“Lênin là hiện thân của tình anh em bốn bể”.


Cách đây 112 năm, ngày 6-7-1911, Nguyễn Tất Thành, với cái tên thủy thủ Văn Ba trên con tàu “Đô đốc Latouche Tréville” của Hãng Vận tải Hợp Nhất, đã cập bến cảng Marseille và đặt chân lên mảnh đất đầu tiên của nước Pháp. Trong những ngày ở đây, chứng kiến những người lao động Pháp cũng sống trong cảnh bần cùng, người thanh niên yêu nước Việt Nam tự hỏi: “Thế ra ở nước Pháp cũng có người nghèo à!? Tại sao người Pháp không “khai hóa” cho đồng bào của họ trước khi “khai hóa” chúng ta?”.


Tháng 7-1919, bài báo “Tâm địa thực dân” ký tên Nguyễn Ái Quốc, phản bác lại một bài viết đăng trên tờ “Courrier Colonial” (Thông tin Thuộc địa) nhằm công kích “Bản Yêu sách 8 điểm của Nhân dân An Nam” gửi cho Hòa hội Versailles (tháng 6-1919). Bằng giọng văn châm biếm nhưng đanh thép, Nguyễn Ái Quốc vạch trần tâm địa của tác giả bài báo sặc mùi thực dân. Đây cũng là tác phẩm đầu tiên được công bố trong bộ sách “Hồ Chí Minh toàn tập”.


Tháng 7-1922, Nguyễn Ái Quốc gặp Bùi Lâm, một thủy thủ trên tàu biển chạy tuyến Sài Gòn - Marseilles. Hồi ức của Bùi Lâm nhắc lại lời căn dặn của Nguyễn Ái Quốc: “Cần luôn luôn nhớ làm nhiệm vụ của người dân mất nước. Anh em nên thương yêu nhau, vui vẻ, đoàn kết với nhau. Đoàn kết cả với công nhân Pháp, nhân dân Pháp và các nước thuộc địa. Chúng ta đều là người nghèo khổ, bị á.p b.ức, b.óc l.ột như nhau”.


Ngày 6-7-1924, Nguyễn Ái Quốc tham dự cuộc mít tinh vì hòa bình, tổ chức tại Mátxcơva, đứng trên lễ đài bên cạnh các nhà lãnh đạo Xô Viết nổi tiếng đương thời như Vorosilov, Kalinin, Zinoviev, Frunze... Cũng trong thời gian này, tờ “Le Paria” (Người cùng khổ) đăng bài “Lênin và các dân tộc phương Đông”, trong đó Nguyễn Ái Quốc viết: “Không phải chỉ thiên tài của Người mà chính là tính coi khinh sự xa hoa, tinh thần yêu lao động, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị, tóm lại là đạo đức vĩ đại và cao đẹp của người thầy, đã ảnh hưởng lớn lao tới các dân tộc châu Á và khiến cho trái tim của họ hướng về Người, không gì ngăn cản nổi... Lênin là hiện thân của tình anh em bốn bể”.


Ngày 6-7-1946 là ngày Hội nghị Fontainebleau khai mạc, bàn về tương lai quan hệ Việt - Pháp. Là thượng khách của Chính phủ Pháp, nhưng Bác không tham dự mà dành thời gian tiếp một số chức phẩm Thiên Chúa giáo người Việt ở Pháp và gửi lời chào tới một lễ hội kỷ niệm cố đạo Grégoire, một nhà hoạt động thời Cách mạng Pháp đấu tranh cho sự bình đẳng giữa các dân tộc, màu da.


Ngày 6-7-1948, Bác chủ trì phiên họp của Hội đồng Chính phủ, bàn về việc thành lập Hội đồng Quốc phòng Tối cao và được cử giữ chức Chủ tịch Hội đồng này, đồng thời hợp nhất Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng chỉ huy do đồng chí Võ Nguyên Giáp đảm nhận chức vụ Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.


Ngày 6-7-1954, trả lời Thông tấn xã Việt Nam về những vấn đề liên quan đến Hội nghị Genève đang diễn ra, Bác khẳng định: “Lập trường của ta từ trước đến nay, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ tiếp tục đấu tranh cho hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ của Tổ quốc”.


Ngày 6-7-1967, Bác ký lệnh truy tặng Huân chương Quân công hạng nhất cho Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, một học trò gần gũi và nhiều năng lực vừa mới từ trần./.

ST

BẢN SẮC 'NGOẠI GIAO CÂY TRE': THỰC HIỆN MỤC TIÊU BẢO VỆ LỢI ÍCH QUỐC GIA, DÂN TỘC

 

“Ngoại giao cây tre” hay đúng hơn là “trường phái ngoại giao cây tre Việt Nam” là để phục vụ mục tiêu bảo đảm lợi ích quốc gia-dân tộc trong mọi hoàn cảnh và mọi thời điểm.


Việc thúc đẩy “ngoại giao cây tre” thể hiện sự tự tin trong hoạt động đối ngoại của Việt Nam, đồng thời đây cũng là triết lý ngoại giao của Việt Nam, luôn là kim chỉ nam hành động của người làm đối ngoại và ngoại giao bởi lợi ích quốc gia-dân tộc là bất biến, phương pháp để đạt và bảo vệ lợi ích đó là vạn biến. Đây là nhận định của Tiến sĩ Nguyễn Hồng Hải – nghiên cứu viên Trung tâm Tương lai chính sách, Đại học Queensland (Australia) trong cuộc trao đổi với phóng viên TTXVN tại Sydney về nội hàm và ý nghĩa của "ngoại giao cây tre Việt Nam".


Theo Tiến sĩ Nguyễn Hồng Hải, để dẫn dắt và đặt tên cho “trường phái ngoại giao” Việt Nam hiện đại, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đi sâu phân tích những đặc trưng và đặc tính của “cây tre Việt Nam”. Cụ thể, đặc trưng đầu tiên là truyền thống, văn hóa và “trường phái ngoại giao” của người Việt Nam từ khi “Nam Quốc Sơn Hà Nam Đế cư; Tiệt nhiên định phận tại thiên thư”. “Trường phái ngoại giao” đó chính là “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn; Lấy trí nhân để thay cường bạo”, luôn lấy tinh thần khoan dung, hòa hiếu, nhân nghĩa trong ứng xử; mềm dẻo, uyển chuyển, linh hoạt, cương nhu, biết người, biết mình, biết thời, biết thế trong sách lược, “trong xưng đế, ngoài xưng vương” để trên hết là “Đất nước an toàn là thượng sách, cốt sao cho dân được an ninh”.


Thứ hai là truyền thống quật cường của dân tộc trong việc giữ vững nền độc lập và chống ngoại xâm. Mặc dù khoan dung và luôn muốn hòa hiếu, nhưng Việt Nam vẫn kiên định và kiên quyết về nguyên tắc đấu tranh chống giặc ngoại xâm với tinh thần “Thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô nệ”.


Thứ ba là tư tưởng và phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh trong tổng thể hệ tư tưởng của Người. Tư tưởng và phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh chính là sự kết tinh giữa truyền thống và văn hóa của dân tộc, tinh hoa của nhân loại, và thực tiễn hoạt động phong phú của Người. Điều quan trọng và cốt lõi nhất trong Tư tưởng Hồ Chí Minh và được Người thể hiện bằng việc làm của mình trong suốt toàn bộ cuộc đời “vì nước, vì dân” của mình chính là “việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm” và “bao nhiêu lợi ích đều vì dân”. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Dân”, “Tổ quốc”, và “Dân tộc” là một. Trong hoạt động đối ngoại, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt và yêu cầu “lợi ích dân tộc” là trên hết, “muốn làm gì cũng vì lợi ích của dân tộc mà làm”. Và để “làm” được như Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy, cần “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Mặc dù đề cao “lợi ích dân tộc” là trên hết, nhưng Người không cực đoan theo đuổi chủ nghĩa dân tộc vị kỷ, mà Người cho rằng cách mạng Việt Nam gắn liền với cách mạng thế giới, “tinh thần yêu nước và tinh thần quốc tế liên hệ khăng khít với nhau. Vì lẽ đó, ta vừa ra sức kháng chiến, vừa tham gia phong trào ủng hộ hòa bình thế giới”.


Thứ tư là thành quả phát triển và vị thế quốc tế thực tế của Việt Nam từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành công cuộc Đổi Mới cho đến nay, trong đó có đóng góp rất lớn của công tác đối ngoại. Công cuộc Đổi Mới của Việt Nam đã đưa công tác đối ngoại của đất nước như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng hình tượng hóa là một bên cánh của con chim, không thể thiếu cho sự phát triển của Việt Nam. Chính sách hội nhập và hội nhập quốc tế sâu rộng của Việt Nam gắn sự nghiệp phát triển của đất nước với sự phát triển và biến động của khu vực và trên thế giới. Con thuyền phát triển của Việt Nam phụ thuộc vào “sóng yên biển lặng” của thế giới, vào bản lĩnh vững vàng, sự kiên định về mục tiêu và hướng đi của người cầm lái con thuyền.


Thứ năm là truyền thống đoàn kết của người Việt Nam, tạo nên sức mạnh của dân tộc trong chống ngoại xâm, xây dựng và phát triển đất nước. Truyền thống này bắt nguồn từ đặc điểm và vị trí của đất nước, tạo thành cốt cách của con người Việt Nam. Truyền thống đoàn kết này của người Việt Nam được phát huy ở trong nước và được mở rộng trong quan hệ quốc tế. Đoàn kết để tạo thành sức mạnh tập thể, muôn người như một, vì lợi ích quốc gia, dân tộc, đồng thời góp phần vào sự nghiệp chung của nhân dân thế giới là kiến tạo và bảo vệ hòa bình vì sự phát triển và tiến bộ của nhân loại.


Tiến sĩ Nguyễn Hồng Hải nêu rõ có thể thấy, ngoại giao Việt Nam từ trong lịch sử đến hiện đại và trong thực tiễn hiện nay đều thoát lên những đặc trưng này. Nói cách khác, “trường phái ngoại giao” Việt Nam hiện đại hiện thân cho những đặc trưng và đặc tính của “cây tre Việt Nam”.


Tiến sĩ Nguyễn Hồng Hải cho biết thành tựu gần đây nhất của ngoại giao Việt Nam “theo trường phái ngoại giao cây tre Việt Nam” được phản ánh rõ nét qua kết quả đạt được từ “ngoại giao vaccine” trong cuộc chống đại dịch COVID-19 vừa qua, hay trong những ứng xử giữa những bất ổn và cạnh tranh gay gắt giữa các cường quốc trong khu vực và trên thế giới. Thành tựu của “trường phái ngoại giao cây tre Việt Nam” cho đến nay chính là góp phần giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, tạo môi trường hòa bình và thuận lợi để phục vụ phát triển đất nước; đồng thời có đóng góp tích cực và trách nhiệm vào đảm bảo an ninh, hòa bình, và phát triển trong khu vực và trên thế giới, góp phần tạo cho đất nước ta “có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.


Để “ngoại giao cây tre” trở thành trường phái đối ngoại riêng của Việt Nam trong thời gian tới và phát huy tối đa hiệu quả, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Hải cho rằng triết lý “trường phái ngoại giao cây tre Việt Nam” phải được quán triệt trong nhận thức và hành động của từng cán bộ làm công tác đối ngoại và ngoại giao Việt Nam. Trước hết là nắm rõ đường lối, chủ trương và chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước, từ đó linh hoạt và uyển chuyển trong thực hiện. “Ngoại giao cây tre Việt Nam” là lấy lợi ích quốc gia-dân tộc làm gốc, phương châm “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong hành động; độc lập và tự chủ trong tư duy và hành động, kiên định trong mục tiêu. Ông nhấn mạnh: "Điều quan trọng hơn hết mà ngành ngoại giao luôn nhớ là đằng sau mình là cả một đất nước và dân tộc luôn hỗ trợ và tạo điều kiện để ngành hoàn thành sứ mệnh của mình. Ngành ngoại giao chính là ngành của dân tộc, do dân tộc và vì dân tộc"./.

ST


THẤY SAI MÀ KHÔNG DÁM NÓI CŨNG LÀ “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA”


Phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết liên tịch số 403 của Ủy ban TVQH khóa 14 năm 2017, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Đỗ Văn Chiến cho biết: “Thấy sai mà không dám nói cũng là “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””.


Sáng 6/7, tại Hà Nội, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam Đỗ Văn Chiến chủ trì Hội nghị Sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết liên tịch số 403 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (TVQH) khóa 14 năm 2017 quy định chi tiết các hình thức giám sát, phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam.


Trong 05 năm, Ủy ban MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp đã tổ chức hơn 87 nghìn đoàn giám sát tập trung vào giám sát công tác xây dựng đảng, chính quyền, quản lý tài nguyên đất đai, quản lý hành chính, thực hiện trách nhiệm công vụ, lĩnh vực đầu tư xây dựng hạ tầng, thực hiện chính sách an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, an toàn thực phẩm... Ban Thanh tra nhân dân xã, phường, thị trấn đã tổ chức được hơn 144 nghìn cuộc giám sát thực hiện công tác chăm lo người nghèo, gia đình chính sách, giám sát việc thu, chi các loại quỹ vận động, các nguồn thu trong dân, giám sát công tác cải cách hành chính, trật tự xây dựng... Hoạt động của Ban giám sát đầu tư của cộng đồng đã phát huy được hiệu quả, nhất là đối với các công trình do nhà nước và nhân dân cùng làm; được nhân nhân tín nhiệm, tin tưởng.


Tại hội nghị, các đại biểu chỉ rõ, hoạt động giám sát, phản biện, ở một số địa phương lãnh đạo MTTQ Việt Nam chưa thể hiện được bản lĩnh dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Vẫn còn hiện tượng nể nang, né tránh, ngại va chạm trong quá trình giám sát, phản biện xã hội.


Về nội dung này, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Đỗ Văn Chiến đề nghị: “Tăng cường công tác bồi dưỡng, tập huấn, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, bản lĩnh chính trị, dám nói, dám làm nhưng mà phải nói đúng, làm đúng vì lợi ích của Đảng, của Nhà nước và nhân dân. Thấy sai mà không dám nói cũng là tự diễn biến, tự chuyển hóa là biểu hiện tiêu cực. Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và bản lĩnh chính trị là điều kiện tiên quyết để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức thành viên”.


Để phát huy vai trò của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội trong công tác giám sát, phản biện xã hội, góp phần xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền đạt kết quả cao trong thời gian tới, các đại biểu đề nghị tiếp tục giám sát đặc biệt đối với lĩnh vực đất đai, quy hoạch, đền bù giải tỏa mặt bằng. Tập trung giám sát phát hiện, góp phần ngăn chặn tình trạng nhũng nhiễu của cán bộ, công chức trực tiếp giải quyết công việc với người dân; Quan tâm giám sát các lĩnh vực văn hóa - giáo dục - y tế - bảo vệ môi trường nhằm góp phần cùng các ngành chức năng chăm lo ngày càng tốt hơn cuộc sống của Nhân dân.


Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh Trần Thị Kim Yến kiến nghị: “Nếu như hoat động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận, đoàn thể, nhân dân mà đưa thành Luật, thành một văn bản quy phạm pháp luật thì tạo thuận lợi hơn cho triển khai và tổ chức thực hiện”./.

ST


TRI ÂN 34 CỰU THANH NIÊN XUNG PHONG TRUÔNG BỒN, NGHỆ AN


Sáng 6-7, tại Nghệ An, Báo Quân đội nhân dân phối hợp cùng Quỹ Vì tầm vóc Việt - Ngân hàng TMCP Bắc Á, Công ty cổ phần Tập đoàn Y Dược Việt và Bộ CHQS tỉnh Nghệ An tổ chức chương trình tri ân 34 cựu thanh niên xung phong Truông Bồn, xã Mỹ Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.


Dự chương trình có các đồng chí: Đại tá Nguyễn Hồng Hải, Phó tổng biên tập Báo Quân đội nhân dân; Chủ tịch HĐND xã Mỹ Sơn, ông Đặng Văn Tú; bà Vũ Thu Hằng, Giám đốc Truyền thông, đại diện Quỹ Vì tầm vóc Việt - Ngân hàng TMCP Bắc Á; bà Đồng Thị Thanh Hà, thành viên Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Tập đoàn Y Dược Việt; đại diện Bộ CHQS tỉnh Nghệ An cùng các cựu thanh niên xung phong đang sinh sống trên địa bàn xã Mỹ Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.


Truông Bồn là mảnh đất huyền thoại khi chứng kiến một thời khói lửa mà hào hùng của dân tộc. Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Truông Bồn là huyết mạch giao thông quan trọng để vận chuyển nhân lực, vật lực chi viện cho chiến trường miền Nam. Từ năm 1964 đến năm 1968, quân đội Mỹ đã trút xuống nơi đây gần 20.000 quả bom các loại, hàng chục ngàn quả tên lửa; vì vậy, Truông Bồn còn được ví như “hố bom” của miền Bắc.


Tại Đền thờ Anh hùng liệt sĩ thờ 1.240 cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh trên "tọa độ lửa" Truông Bồn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và Khu mộ chung của 13 liệt sĩ thanh niên xung phong "Tiểu đội thép", thuộc Đại đội 317-N65-Tổng đội Thanh niên xung phong Nghệ An hy sinh khi đang làm nhiệm vụ vào rạng sáng 31-10-1968, đoàn công tác đã thành kính dâng hoa, dâng hương tưởng niệm, kính cẩn nghiêng mình, bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đối với công lao to lớn của các Anh hùng liệt sĩ.


Phát biểu tại buổi lễ, Đại tá Nguyễn Hồng Hải, Phó tổng biên tập Báo Quân đội nhân dân bày tỏ xúc động khi đến thăm Khu di tích lịch sử quốc gia Truông Bồn - nơi một thời là tuyến lửa ác liệt trong kháng chiến chống Mỹ và được gặp các cựu thanh niên xung phong tại xã Mỹ Sơn.


Thay mặt cho đoàn công tác, Đại tá Nguyễn Hồng Hải bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến những Anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống vì nền độc lập, tự do của dân tộc.


Đại tá Nguyễn Hồng Hải cho rằng, về với Mỹ Sơn hôm nay, về với một thế hệ một thời “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, mà lòng phơi phới dậy tương lai” cũng là để thế hệ đi sau được tiếp sức mạnh tinh thần để tiếp tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Bà Vũ Thu Hằng, Giám đốc truyền thông, đại diện Quỹ Vì tầm vóc Việt - Ngân hàng TMCP Bắc Á cũng không giấu được xúc động khi về với Truông Bồn, với 1.240 Anh hùng liệt sĩ hy sinh trên cung đường Truông Bồn huyền thoại và tận tay trao những phần quà đến các cựu thanh niên xung phong. Bà nhấn mạnh, những món quà trao tặng các cựu thanh niên xung phong hôm nay là những món quà nhỏ nhưng ý nghĩa lớn, thể hiện truyền thống "Uống nước nhớ nguồn" của dân tộc đối với các thế hệ cha anh của dân tộc.


Nhân dịp này, Quỹ Vì tầm vóc Việt - Ngân hàng TMCP Bắc Á trao tặng 34 suất quà tới các thanh niên xung phong (mỗi suất quà gồm 2 triệu đồng tiền mặt, 1 thùng sữa TH Truemilk).


Công ty cổ phần Tập đoàn Y Dược Việt trao 34 suất quà tặng các cựu thanh niên xung phong; trao 2 phần quà tiền mặt (3 triệu đồng/suất) tặng 2 gia đình cựu thanh niên xung phong có hoàn cảnh khó khăn./.

ST


 "LẤY DÂN LÀM GỐC"


Theo Đại Việt sử ký, khi Hưng Đạo Đại Vương ốm, vua Trần Anh Tông ngự tới thăm hỏi: "Nếu có điều chẳng may, mà giặc phương Bắc lại sang xâm lược thì kế sách như thế nào?"


Trần Quốc Tuấn đã dặn vua lấy dân làm gốc, anh em hòa thuận... để trị quốc, dẹp giặc:


"... Đời nhà Đinh, nhà Tiền Lê dùng người tài giỏi, đất phương nam mới mạnh mà phương bắc thì mệt mỏi suy yếu, trên dưới một dạ, lòng dân không lìa, xây thành Bình Lỗ mà phá được quân Tống. Đó lại là một thời. Vua nhà Lý mở nền, nhà Tống xâm phạm địa giới, dùng Lý Thường Kiệt đánh Khâm, Liêm, đến tận Mai Lĩnh là vì có thế. 


Vừa rồi Toa Đô, Ô Mã Nhi bốn mặt bao vây. Vì vua tôi đồng tâm, anh em hòa mục, cả nước góp sức, giặc phải bị bắt... Đại khái, nó cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh. Dùng đoản chế trường là sự thường của binh pháp. Nếu chỉ thấy quân nó kéo đến như lửa, như gió thì dễ chế ngự. Nếu nó tiến chậm như các tằm ăn, không cầu thắng chóng, thì phải chọn dùng tướng giỏi, xem xét quyền biến, như đánh cờ vậy, tùy thời tạo thế, có được đội quân một lòng như cha con thì mới dùng được. Vả lại, khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước".


Mùa thu, tháng 8 âm lịch năm 1300 Trần Quốc Tuấn mất ở phủ đệ Vạn Kiếp, được phong Thái sư thượng phụ thượng quốc công Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương. 


Với vai trò chỉ huy quân đội Đại Việt 2 lần đánh tan quân Nguyên Mông xâm lược, phụng sự hết lòng 4 đời vua Trần là Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông và Anh Tông, Trần Quốc Tuấn được người đời tôn vinh là anh hùng dân tộc kiệt xuất, nhà chính trị, danh tướng Việt Nam./.

ST 


CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN PHẢI CÓ DŨNG KHÍ BẢO VỆ LẼ PHẢI 

 

Đức tính thanh liêm, chính trực và danh dự của người đảng viên là nền tảng để họ có dũng khí đấu tranh với những hiện tượng tiêu cực, tham ô, lãng phí…


Trong cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng (PCTN), tiêu cực (TC), không ít người phải chịu cảnh bất công khi bị cô lập, trù dập, thậm chí bị cấp trên kỷ luật vì lý do “không biết điều”, “không biết mình là ai”... Nhưng nhiều người đã dũng cảm đứng lên đấu tranh chống tiêu cực, bảo vệ lẽ phải với tinh thần “chỉ biết còn Đảng là còn mình”. Trường hợp của cựu chiến binh Đàm Tiến Chiêm (Phó Ban liên lạc Cựu chiến binh Đặc công tỉnh Ninh Bình) là một ví dụ.


Năm 1999, khi giữ cương vị làm Phó Chủ nhiệm Hợp tác xã nông nghiệp xã Ninh Tiến (TP Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình), ông Chiêm phát hiện nhiều cán bộ lạm dụng chức quyền chiếm đoạt 5% đất của xã làm của riêng. Khi ông và các xã viên đấu tranh chống tiêu cực, có nhiều đối tượng đã đến gặp ông dụ dỗ, không được thì đe dọa. Nhưng với “tinh thần thép” của người chiến sĩ, ông không cho phép mình chùn bước. Vì việc làm này, ông Chiêm trở thành “vật cản” trong mắt một số cán bộ thoái hóa, biến chất ở địa phương.


Năm 2015, chi ủy đặt vấn đề với ông không tham gia ứng cử vào vị trí Phó Giám đốc Hợp tác xã với lý do ông đã cao tuổi. Tuy nhiên, khi ra Đại hội, ông vẫn được các xã viên tín nhiệm và được bầu vào vị trí này. Lấy lý do ông không chấp hành nghị quyết của chi bộ, chi ủy đã ra quyết định kỷ luật ông. Sau đó, cấp ủy lại đề xuất khai trừ ông ra khỏi Đảng. Điều đáng buồn là tổ chức đảng các cấp cũng thống nhất theo đề xuất này, dẫn đến việc Ban Thường vụ Thành ủy Ninh Bình ra quyết định xóa tên đảng viên Đàm Tiến Chiêm.


Với danh dự của người lính Cụ Hồ, ông Chiêm luôn vững lòng tin với Đảng và quyết tâm tranh đấu với tiêu cực đến cùng. Và niềm tin của ông đã được đền đáp khi Thường vụ Thành ủy Ninh Bình sau đó ban hành các quyết định khôi phục quyền đảng viên đối với ông. Năm 2018, trong lễ khôi phục quyền đảng viên, Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình lúc đó là bà Nguyễn Thị Thanh (nay là Trưởng Ban công tác đại biểu - Ủy ban Thường vụ Quốc hội) đã bày tỏ sự nể trọng đối với ông, bởi vì lòng tự trọng và danh dự của đảng viên, ông đã đấu tranh tìm lại sự trong sạch cho chính mình và cũng là góp phần củng cố niềm tin trong Đảng.


Trường hợp của ông Chiêm là một trong những điển hình của hàng triệu đảng viên “không bị cám dỗ bởi bất cứ lợi ích nào và cũng không ngại bất cứ lực cản không trong sáng nào, dám nói, dám làm, kiên quyết làm vì lợi ích chung” như lời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.


Thực tế cho thấy, trong đấu tranh PCTN,TC, hầu hết đối tượng bị tố cáo đều là những người có chức vụ, quyền hạn, còn người tố cáo thường là cấp dưới hoặc yếu thế hơn. Điều này dẫn đến việc có rất nhiều cá nhân biết về hành vi tham nhũng, tiêu cực nhưng lại e ngại và không dám tố cáo do sợ bị “sứt đầu, mẻ trán”. Không ít cán bộ, đảng viên thực sự chính trực đã phải ngậm ngùi rời khỏi cơ quan, tổ chức, vì họ không thể chấp nhận sống chung với tiêu cực. Một số người khác thì chấp nhận sống trong im lặng, an phận thủ thường bởi suy nghĩ “đấu tranh thì tránh đâu”. Tuy nhiên, nhiều người đã vượt qua được nỗi sợ hãi này. Họ đã đấu tranh với chính mình, với cái lợi bất chính, cái tâm vô cảm.


Rất nhiều cán bộ, đảng viên đã được khen thưởng vì dũng cảm tố cáo hành vi tham nhũng, tiêu cực. Đây chính là niềm động viên, khích lệ, lan tỏa tinh thần đấu tranh PCTN,TC mà Đảng, Nhà nước ta đang đẩy mạnh. Minh chứng là ngày 16/9/2022, Thanh tra Chính phủ đã có Quyết định 331/QĐ-TTCP khen thưởng cho 4 cá nhân có thành tích xuất sắc trong việc tố cáo hành vi tham nhũng tại tỉnh Hà Giang. Đó là ông Phạm Ngọc Chuyển và ông Phạm Văn Phú - công chức thuộc Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Hà Giang, mỗi người 20 tháng lương cơ sở, tương đương 29,8 triệu đồng; khen thưởng ông Khuất Duy Mỹ và ông Nguyễn Ngọc Đức, hai cán bộ thuộc Công ty TNHH Một thành viên Xổ số kiến thiết Hà Giang mỗi người 30 tháng lương cơ sở, tương đương 44,7 triệu đồng.


Có thể khẳng định, những người dám đứng ra tố cáo hành vi tham nhũng, tiêu cực hoàn toàn không phải vì mục đích để được khen thưởng, được vinh danh, mà đó là bổn phận, trách nhiệm và danh dự của người đảng viên buộc họ phải lên tiếng để bảo vệ niềm tin yêu của nhân dân với Đảng và chế độ.


Trong cuộc họp báo sau khi kết thúc Đại hội XIII của Đảng (ngày 01/02/2021), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng chia sẻ: “Có người hối lộ, xách vali tiền đến Ủy ban Kiểm tra Trung ương định biếu xén, lấp liếm. Cán bộ kiểm tra bảo mở ra xem nó là gì, mở vali ra thấy toàn là tiền đô-la. Cán bộ liền bảo khóa lại, lập biên bản, ký vào đây rồi xách va li đó về”. Kể lại câu chuyện này, Tổng bí thư, Chủ tịch nước nêu rõ: đấu tranh chống tham nhũng là phức tạp, khó khăn, nếu không có bản lĩnh, dũng khí, tình cảm chân chính thì không làm được./.

ST

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA

 

Ngày 07 tháng 7


“Anh hùng, chiến sĩ thi đua đã là những người tiên phong trong sản xuất, mà cũng là gương mẫu về đạo đức cách mạng. Họ đặt lợi ích chung của dân tộc trên lợi ích riêng của cá nhân”.


Kết luận nêu trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài: “Lời chào mừng Đại hội anh hùng và chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ II”, đọc ngày 07 tháng 7 năm 1958. Đây là thời kỳ miền Bắc bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội, thực hiện kế hoạch 3 năm cải tạo và phát triển kinh tế - văn hóa (1958 - 1960). Nhiệm vụ trọng tâm lúc này là phát triển sản xuất, khôi phục kinh tế và xây dựng chế độ mới trên tất cả các lĩnh vực.


Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ghi nhận, biểu dương, khích lệ thành tích của các anh hùng, chiến sĩ thi đua đã đạt được trong những năm đầu đất nước hoà bình, khôi phục kinh tế ở miền Bắc. Lời dạy của Người đã cổ vũ, động viên, kêu gọi mọi người hăng hái phấn đấu học tập và làm theo tấm gương của các anh hùng, chiến sĩ thi đua trong Đại hội. Mặt khác, đã chỉ ra cách thức rèn luyện, phấn đấu cho mỗi cán bộ, đảng viên, phải luôn đặt lợi ích chung của dân tộc, của đất nước lên trên lợi ích riêng của cá nhân, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân, không sợ gian nguy, ra sức vượt mọi khó khăn, gian khổ để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, mẫu mực về đạo đức, lối sống, không tự kiêu, tự mãn, tự tư, tự lợi về lợi ích và hưởng thụ, luôn giúp đỡ mọi người cùng tiến bộ. Đồng thời, Bác chỉ rõ tầm quan trọng của đạo đức cách mạng và vai trò của thi đua yêu nước đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội - một chế độ xã hội mà con người được đặt ở vị trí trung tâm, được bảo đảm về mọi quyền lợi chính đáng, được phát triển toàn diện bản thân.


Thực hiện lời Bác dạy, cán bộ, chiến sĩ toàn quân đẩy mạnh phong trào thi đua Quyết thắng và các cuộc vận động của các cấp, các ngành, tập trung đột phá, khắc phục khâu yếu, mặt yếu, khơi dậy ý thức tự lực, tự cường, vượt qua khó khăn, thách thức, phát huy truyền thống “quyết chiến, quyết thắng” của Quân đội nhân dân Việt Nam Anh hùng và phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới, biển, đảo của Tổ quốc. Toàn quân xuất hiện ngày càng nhiều tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến, gương “người tốt, việc tốt” trên các lĩnh vực công tác, trực tiếp góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tổ chức đảng trong sạch vững mạnh; cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, các tổ chức quần chúng vững mạnh xuất sắc; không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và Nhân dân./.

ST


CHƯƠNG TRÌNH NGHỆ THUẬT ĐẶC BIỆT TƯỞNG NHỚ TỔNG BÍ THƯ LÊ DUẨN


Chương trình nghệ thuật đặc biệt tưởng nhớ Tổng Bí thư Lê Duẩn sẽ được tổ chức tối 9/7 tại Nhà hát Thành phố Hồ Chí Minh nhân dịp kỷ niệm 37 năm Ngày mất của đồng chí (10/7/1986-10/7/2023). Chương trình quy tụ các nghệ sĩ nổi tiếng với nhiều tiết mục ca múa nhạc đặc sắc, tái hiện cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của đồng chí Lê Duẩn cùng tình cảm của đông đảo nhân dân và các thế hệ cán bộ, đảng viên.


Tổng Bí thư Lê Duẩn, người chiến sĩ cộng sản kiên cường, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà lãnh đạo kiệt xuất của Ðảng và nhân dân ta, trong suốt cuộc đời mình đã luôn phấn đấu hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của dân tộc và sự thống nhất, toàn vẹn non sông. 60 năm hoạt động cách mạng, 26 năm liên tục trên cương vị Bí thư Thứ nhất và Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Ðảng, đồng chí Lê Duẩn đã cống hiến trọn đời cho Ðảng, cho dân tộc, vì lý tưởng cao đẹp: Tổ quốc Việt Nam độc lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội, nhân dân Việt Nam có cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc. Tên tuổi và sự nghiệp của Tổng Bí thư Lê Duẩn mãi được ghi vào lịch sử vẻ vang của Ðảng, của dân tộc với những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam.


Chương trình nghệ thuật đặc biệt kỷ niệm 37 năm Ngày Tổng Bí thư Lê Duẩn đi xa là dịp để các thế hệ hôm nay tưởng nhớ và tri ân một nhà lãnh đạo Ðảng kiệt xuất, giúp chúng ta thêm hiểu về cuộc đời, sự nghiệp cách mạng của đồng chí Lê Duẩn, nhất là tình cảm của nhân dân miền nam, của quê hương Quảng Trị với đồng chí. Chương trình bao gồm 14 tiết mục ca múa nhạc, hài hòa giữa phong cách hiện đại và dân tộc, do các nghệ sĩ nổi tiếng trên cả nước cùng các nghệ sĩ, diễn viên của hai đơn vị nghệ thuật là Ðoàn Văn công Quân khu 7 và Ðoàn nghệ thuật ca múa nhạc dân tộc Bông Sen trình diễn.


Âm nhạc và thơ ca giúp tái hiện phần nào cuộc đời và sự nghiệp vô cùng sôi động của Tổng Bí thư Lê Duẩn. Ðó là những năm tháng hoạt động cách mạng gian khổ, bị thực dân Pháp bắt tù đày và sau này trở về lãnh đạo quân dân Nam Bộ trên cương vị Bí thư Xứ ủy Nam Bộ trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược cho đến sau này trở thành người lãnh đạo cao nhất của Ðảng, lãnh đạo quân và dân ta trong chiến tranh chống Mỹ cứu nước đi đến ngày toàn thắng, giải phóng hoàn toàn miền nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.


Hình ảnh người chiến sĩ cộng sản kiên cường, nhà lãnh đạo Ðảng kiệt xuất luôn đi sâu, đi sát với thực tế, gắn bó với đời sống chiến đấu, lao động của quân và dân ta hiện lên vô cùng cao đẹp và thiêng liêng. Bên cạnh đó là những tình cảm thương yêu của nhân dân Nam Bộ và nhân dân cả nước với đồng chí Lê Duẩn qua những tác phẩm thơ ca và âm nhạc của các tác giả: Lê Ðức Thọ, Tố Hữu, Nguyễn Bính, Nguyễn Khôi, Lê Khánh Hưng, Châu La Việt...; và các nhạc sĩ: Nguyễn Hữu Trí, Nguyễn Văn Tý, Hoàng Hà, Ngọc Khuê, Trần Hữu Bích, Võ Thế Hùng, Quỳnh Hợp, Ðức Tân...


Chương trình nghệ thuật được dẫn dắt từ những hồi ức của Ðại tá Lê Hãn - con trai trưởng của Tổng Bí thư Lê Duẩn - kể về người cha thân yêu của mình ra đi hoạt động cách mạng từ những ngày đất nước còn rên xiết dưới ách cai trị của thực dân Pháp. Những hồi ức, kỷ niệm trong ông là những đêm đen giá buốt khi người cha thoát lao tù thực dân trở về ôm con trong vòng tay, dạy cho con bài học đầu tiên về lòng yêu nước, dạy cho con bài ca của những người cộng sản "vùng lên hỡi các nô lệ ở thế gian"...


Bài hát ấy đã thúc giục ông Lê Hãn nối tiếp con đường của người cha để sau này trở thành một chiến sĩ suốt đời đi theo con đường cách mạng và lý tưởng cộng sản cao đẹp như ca từ trong bài hát "Người chiến binh mang tên dòng Thạch Hãn" do Nghệ sĩ Nhân dân Quốc Hưng thể hiện: Cha dạy con tình thương, lẽ phải/ Cha cho con phía trước con đường/ Con mang trái tim cha ra trận/ Và ánh sáng của một vầng dương... (thơ Châu La Việt, nhạc sĩ Ngọc Khuê phổ nhạc).


Ðặc biệt xúc động trong chương trình là ca khúc "Ba Ðình một sớm thu xa" (thơ Lê Khánh Hưng, nhạc sĩ Quỳnh Hợp phổ nhạc), gợi nhớ những ngày tháng 9 năm 1969 khi Bác Hồ mất. Còn đó, ngân vang lời thề của Bí thư Thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Ðảng Lao động Việt Nam (nay là Ðảng Cộng sản Việt Nam) Lê Duẩn và quân dân cả nước nguyện mãi mãi đi theo con đường của Người, quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền nam, thống nhất đất nước: Giơ tay thề chúng ta cùng tiếp bước/ Anh Ba khóc, triệu trái tim cùng khóc/ Triệu trái tim chung nhịp đập tim Anh…


Cũng trong chương trình, qua giọng ca của Nghệ sĩ Ưu tú Hương Giang, người xem sẽ được sống lại không khí của mùa Xuân đại thắng năm 1975. Trong khí thế hào hùng cùng các cánh quân tiến về giải phóng miền nam, đồng chí Lê Ðức Thọ đã có bài thơ "Lời Anh dặn" tặng đồng chí Lê Duẩn như lời ước hẹn, động viên quân và dân cả nước bước vào chiến dịch cuối cùng, thực hiện trọn vẹn lời thề thống nhất non sông trước anh linh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại: Ngày vui toàn thắng đón Anh vào/ Ðất nước tưng bừng hết khổ đau/ Anh gặp đồng bào, thăm chốn cũ/ Tình dân, nghĩa nước vẹn ơn sâu... Bài thơ sau đó được nhạc sĩ Trần Hữu Bích phổ nhạc, truyền qua sóng phát thanh và được đông đảo các tầng lớp nhân dân, cán bộ, chiến sĩ yêu thích đón nhận.


Với sự đầu tư kỹ càng và tâm huyết của các nghệ sĩ, chương trình nghệ thuật đặc biệt tưởng nhớ Tổng Bí thư Lê Duẩn phần nào đáp ứng tình cảm sâu đậm của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta. Hình ảnh và những ký ức về một nhà lãnh đạo gần dân, thương dân, sâu đậm nghĩa tình luôn rạng ngời, thân thương, không thể phai mờ theo năm tháng./.

ST


QUẢNG BÁ SẢN PHẨM CÓ "ĐƯỜNG 9 ĐOẠN" TẠI VIỆT NAM LÀ VI PHẠM PHÁP LUẬT


Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng nêu rõ việc quảng bá sử dụng các ấn phẩm, sản phẩm có 'đường 9 đoạn' tại Việt Nam là vi phạm pháp luật và không được chấp nhận tại Việt Nam.


Chiều 6/7, tại họp báo thường kỳ Bộ Ngoại giao, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao đã trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam liên quan đến việc bộ phim "Barbie" bị cấm chiếu ở Việt Nam vì có hình ảnh "đường 9 đoạn."


Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng nêu rõ: “Quan điểm về 'đường 9 đoạn' đã được Việt Nam nêu rõ ràng, nhất quán và được nhắc lại nhiều lần.

Việc quảng bá sử dụng các ấn phẩm, sản phẩm có 'đường 9 đoạn' tại Việt Nam là vi phạm pháp luật và không được chấp nhận tại Việt Nam.


Trước đó, Cục Điện ảnh (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xác nhận bộ phim điện ảnh "Barbie" sẽ không được công chiếu tại Việt Nam do chứa hình ảnh về bản đồ "đường 9 đoạn."


Quyết định này được đưa ra sau khi Hội đồng thẩm định và phân loại phim Quốc gia đánh giá sau buổi duyệt phim.


Cũng tại buổi họp báo, trả lời câu hỏi của báo chí về thông tin Ban Tổ chức đêm nhạc của BlackPink tại Hà Nội đăng bản đồ "đường 9 đoạn", Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng cho biết quan điểm của Việt Nam về yêu sách "đường 9 đoạn" đã được làm rõ nhiều lần.


Với các thông tin liên quan đến show diễn của BlackPink, cơ quan chức năng của Việt Nam đang tiến hành xác minh./.

 ST


VẠCH TRẦN NHỮNG MƯU ĐỒ ĐỘC ÁC: NHẬN DIỆN TỘI ÁC

 

Một trong những tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài tự khoác lên mình cái tên "Người Thượng vì công lý" (Montagnards Stand For Justice). Với khẩu hiệu đầy tính kích động: "Thúc đẩy hòa bình và bảo vệ quyền con người của những người bị áp bức tại Tây Nguyên", chúng đang tìm mọi cách thực thi các âm mưu chống phá sự bình yên của vùng đất đại ngàn tươi đẹp. Với những thủ đoạn nham hiểm, hành vi dã man, điên cuồng, chúng chính là kẻ thù của đồng bào các dân tộc anh em trên đại ngàn Tây Nguyên đang ngày đêm gắng sức dựng xây quê hương ngày một thịnh vượng, bình yên và hạnh phúc.


Những ngày qua, hàng loạt câu hỏi cứ luôn trở đi trở lại trong tâm trí tôi: Vì sao mà máu của đồng chí, đồng bào lại phải đổ xuống mảnh đất buôn làng giữa những năm tháng thanh bình này? Ai là những kẻ gây nên tội ác? Lý do nào đã khiến những người cùng sống chung giữa không gian quê hương, nương rẫy, buôn làng, cùng uống chung nguồn nước mẹ đại ngàn lại trở thành những con thú khát máu hủy hoại sự sống của đồng bào mình?...


Sáng sớm ngày 11/6/2023, cùng với hàng triệu người khắp mọi miền đất nước, từ khi thức giấc, tôi đã phải đón nhận những thông tin đau lòng từ hai xã Ea Tiêu và Ea Ktur thuộc huyện Cư Kuin (Ðắk Lắk) như phải chứng kiến một trận động rừng kinh hoàng. Là người đã có hơn ba thập niên gắn bó với những cánh rừng, buôn làng và đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, tôi thật sự căm giận những kẻ độc ác, xót xa với thảm cảnh và âm ỉ trong tâm hồn một cảm giác hụt hẫng, một nỗi buồn.


Các cơ quan chức năng đã nhận diện đây là vụ khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, hành vi của các đối tượng rất man rợ, mất nhân tính thể hiện quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng.


Ðịa chỉ mà chúng nhắm tới đốt phá là các cơ quan nhà nước, trụ sở công an xã.


Ðối tượng mà chúng hung hãn ra tay hành động là cán bộ cấp ủy, chính quyền, là các chiến sĩ công an và cả những người dân vô tội. Ðó là đồng chí Bí thư Ðảng ủy, Chủ tịch xã Ea Ktur Nguyễn Văn Kiên và Chủ tịch xã Ea Tiêu Nguyễn Văn Dũng. Họ là những người suốt bao năm tháng qua đã dành trọn tâm sức và trí tuệ chăm lo cho sự phát triển quê hương, cho đời sống người dân các dân tộc anh em ngày càng ấm no, hạnh phúc. Là Thiếu tá Hoàng Trung, Ðại úy Nguyễn Ðăng Nhân - cán bộ công an xã Ea Ktur; Thiếu tá Trần Quốc Thắng, Ðại úy Hà Tuấn Anh - cán bộ công an xã Ea Tiêu. Họ là những cán bộ, chiến sĩ công an, những người ngày đêm bảo vệ trị an buôn làng, bảo vệ sự bình yên cho mỗi mái nhà, mỗi người dân, cho những nương rẫy, cánh rừng tốt tươi.


Chúng còn cướp đi sinh mạng 3 người dân bình thường trong cơn say máu. Những người đồng bào bị chúng giết hại ấy là những người từng chung điệu chiêng, chung vòng xoang, chung cần rượu với chúng trong những ngày buôn làng vào hội.

Ngoài giết hại 9 người, làm bị thương 2 người, chúng còn bắt cóc 3 công nhân làm con tin trên đường chạy trốn.


Ðến nay chúng ta đã có thể dựng lên chân dung khá đầy đủ của những đối tượng khủng bố để vạch trần bộ mặt của chúng, kể cả những kẻ chủ mưu, những tổ chức phản động đã và đang từ xa kích động, giật dây, chống đối chế độ, phá hoại sự nghiệp dựng xây, kiến thiết quê hương và cuộc sống bình yên của nhân dân Tây Nguyên. Ðó là những kẻ chống đối, phản động trong nước tham gia các tổ chức chống phá Ðảng, Nhà nước. Có cả những kẻ từng suốt một quãng đời được hưởng thành quả cách mạng, được chăm lo cuộc sống, được học hành, vui cùng nương rẫy với bà con buôn làng nhưng đã biến chất trở thành những kẻ quá khích, man rợ, độc ác.


Tiếp cận với nhiều nguồn tài liệu, với những lời khai của các đối tượng, chúng tôi không khỏi đau lòng vì một số tên khủng bố là những nông dân có cuộc sống gia đình, người thân ngày càng khởi sắc, no ấm, chỉ vì rơi vào cạm bẫy của những thủ đoạn lôi kéo, mua chuộc, kích động của các thế lực thù địch, chúng đã biến mình thành công cụ của kẻ thù. Lực lượng công an đã có tài liệu, chứng cứ chứng minh vụ án xảy ra còn do có sự hậu thuẫn chỉ đạo từ một số tổ chức, cá nhân ở nước ngoài, thậm chí cử đối tượng từ nước ngoài xâm nhập trái phép về Việt Nam để dàn dựng, chỉ đạo tấn công khủng bố.


Cho đến thời điểm này, cơ quan công an đã bắt giữ và ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can 90 đối tượng với các tội danh: "Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân", "Không tố giác tội phạm" và "Môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh vào Việt Nam trái phép". Nhiều người có liên quan đã bị triệu tập; công tác đấu tranh, truy nã các đối tượng bỏ trốn vẫn đang tiếp tục.


Càng căm thù và lên án sâu sắc những kẻ giết người bao nhiêu, trong những ngày qua, tự tâm can, tôi càng thấy thương những người Amí (mẹ), những người Mo (vợ), những đứa Anak (con) tội nghiệp của chúng bấy nhiêu. Rất nhiều người thân của những tên khủng bố đã khóc cạn nước mắt, đã đau khổ tận cùng. Chính họ cũng không hiểu vì sao, vì điều gì mà người con, người chồng, người cha của mình lại trở thành những tên giết người máu lạnh. Ðược chính quyền và cơ quan công an động viên, giải thích, họ dẫn những người thân vừa gây nên tội ác tày trời ra tự thú, nhận tội.


Ðồng bào Tây Nguyên, nhất là cộng đồng người dân tộc thiểu số đã lên án mạnh mẽ những hành động tội ác và những kẻ gây nên tội ác. Họ đã hợp tác tích cực cùng chính quyền, các lực lượng công an, quân đội trong quá trình cung cấp thông tin, tham gia vây bắt những tên khủng bố. Chính vì vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, chúng ta đã vãn hồi tình hình, trả lại sự bình yên vốn có cho mảnh đất Tây Nguyên hùng vĩ./.

ST


"CHỈ SỢ LÒNG DÂN KHÔNG YÊN"

 

Trong di sản Hồ Chí Minh có những từ “sợ”, “lòng dạ”, “lòng dân”, “lương tâm”, “chính tâm”, “niềm tin”. Đáng  chú ý nhất khi Người nói “chỉ sợ lòng dân không yên”.


 Có mấy trường hợp điển hình Bác nói đến những cụm từ trên. Thứ nhất, chuyện kể rằng sau Cách mạng Tháng Tám thành công, có cán bộ cao cấp hỏi Bác: “Thưa Bác, cách mạng thành công rồi, chính quyền về tay nhân dân, Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền, Bác có điều gì sợ không ạ?” Bác trầm ngâm suy nghĩ một lát rồi trả lời: “Bác vẫn còn một điều sợ, đó là sợ các chú làm bậy, ảnh hưởng đến uy tín của Chính phủ, dẫn đến mất lòng tin của nhân dân”.


Đối chiếu câu chuyện ở trên với những bài viết, bài nói của Bác ngay sau Cách mạng Tháng thành công nhận thấy rất logic, rất hợp lý. Đúng nửa tháng sau Tuyên ngôn độc lập, trong “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà”, Người đã nói đến việc đề phòng hủ hóa, cán bộ lên mặt làm quan cách mạng, độc hành độc đoán, hoặc dĩ công dinh tư (lấy của chung làm của riêng), v.v.. Những khuyết điểm trên, nhỏ thì làm cho dân chúng hoang mang, lớn thì làm cho nền đoàn kết lung lay. Trong bài “Sao cho được lòng dân” Người viết: “Muốn cho dân yêu, muốn được lòng dân, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh. Phải yêu dân, phải đặt quyền lợi của dân trên hết thảy, phải có một tinh thần chí công vô tư”. Ngày 17-10-1945, trong bài “Gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng” đăng báo Cứu quốc, sau khi nêu thành tích nhiều người làm theo đúng chương trình của Chính phủ và rất được lòng dân, Bác chỉ ra sáu lầm lỗi rất nặng nề như: Trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo. Những người mắc lỗi lầm đó tưởng mình là thần thánh, coi khinh dân gian, huênh hoang, khoác lác, kiêu ngạo, cử chỉ vác mặt “quan cách mạng”, làm mất lòng tin cậy của dân, hại đến uy tín của Chính phủ.

 

Thứ hai, tháng 6-1949, trong tác phẩm Cần Kiệm Liêm Chính, khi bàn về chữ Liêm, Bác viết “cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”. Thứ ba, tháng 9-1950, trên đường đi chiến dịch Biên giới, ghé thăm một đơn vị thanh niên xung phong, Bác làm bài thơ có 4 câu: “Không có việc gì khó/Chỉ sợ lòng không bền/Đào núi và lấp biển/Quyết chí ắt làm nên”. Thứ tư, tại kỳ họp Hội đồng Chính phủ cuối năm 1966, Bác nói: “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng/ Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên”. Thứ năm, tháng 6-1968, khi nêu ý kiến về làm và xuất bản loại sách “Người tốt việc tốt”, Bác nói: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

 

Một lần duy nhất khi trả lời một nhà báo nước ngoài của báo Frères D’armes, khi được hỏi: “Chủ tịch sợ gì nhất?”, Bác trả lời: “Chẳng sợ gì cả. Một người yêu nước không sợ gì hết và nhất thiết không được sợ gì”. Như vậy theo Bác, một người yêu nước, người cách mạng thì không sợ gì cả, chỉ sợ lòng dân không yên, vì lòng dân không yên, mất lòng dân là mất tất cả.

 

Xâu chuỗi những bài viết, bài nói của Bác liên quan tới những cụm từ trên cần nhận thức thấu đáo rằng Bác cho ta thấy sức mạnh của nhân dân gồm hệ thống một nguồn lực như tài dân, sức dân, của dân, quyền hành, lực lượng; khôn khéo, trí tuệ, thông minh, sáng tạo, hăng hái, anh hùng, dũng cảm, cần cù. Đó là sức mạnh chúng ta có thể nhìn thấy. Còn một nguồn “sức mạnh mềm” tiềm ẩn bên trong có ý nghĩa nền tảng, động lực, tiền đề của những sức mạnh trên, đó là lòng tốt, lòng trung thành của nhân dân. Lòng dân là sức mạnh vô biên, vô địch, có ý nghĩa quyết định thành bại của cách mạng. Bác viết “dân rất tốt”. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng. Cán bộ, đảng viên phải ghi tạc vào đầu cái chân lý ấy. Nếu cán bộ, đảng viên có tâm trong sáng, chính trực, biết nuôi dưỡng, vun bồi, khơi dậy lòng tốt của dân - tuyệt đối không được lạm dụng, lợi dụng lòng tốt đó - thì dân sẽ ủng hộ, giúp đỡ ta. Nói với Công an nhân dân, Bác chỉ rõ ta được lòng dân thì không sợ gì cả. Nếu không được lòng dân thì không thể làm tốt công tác. Nói về Chính phủ lo phấn đấu cho lợi ích của nhân dân nên nhân dân hăng hái, hoàn toàn tin tưởng và nhiệt liệt ủng hộ Chính phủ, Bác kết luận: “Được lòng dân, thì việc gì cũng làm được; trái ý dân thì chạy ngược chạy xuôi”.

 

Khi Bác nói “nước lấy dân làm gốc”, “dân là gốc” cần được hiểu lõi cốt của gốc là lòng dân. Việc gì đúng với nguyện vọng và hợp lòng dân thì được quần chúng ủng hộ và hăng hái đấu tranh. Khi nhân dân giúp đỡ ta nhiều thì thành công nhiều, giúp đỡ ta ít thì thành công ít, giúp đỡ ta hoàn toàn thì thành công hoàn toàn.

 

2. Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, ngay khi bước vào sự nghiệp đổi mới, Đảng ta đã rút ra bài học kinh nghiệm đầu tiên là trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2021), nghị quyết các Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII, XIII nhấn mạnh sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, quan liêu, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe doạ sự tồn vong của Đảng và chế độ.

 

Trong thời gian gần đây, Tổng Bí thư Đảng ta trăn trở nhiều về hai chữ “lòng dân” bởi nó liên quan tới vận mệnh của Đảng, của Tổ quốc, dân tộc và chế độ. Ông viết: “Cần khẳng định, ta làm hợp lòng dân thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Ngược lại, nếu làm cái gì trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả” (Nguyễn Phú Trọng: Quyết tâm ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2019, tr.80). Từ đó, ông nhấn mạnh: “Phải biết dựa vào dân, lắng nghe dân, cái gì mà quần chúng nhân dân hoan nghênh, ủng hộ thì chúng ta phải quyết tâm làm và làm cho bằng được; ngược lại, cái gì nhân dân không đồng tình, thậm chí căm ghét, phản đối thì chúng ta phải cương quyết ngăn ngừa, uốn nắn và xử lý nghiêm các sai phạm” (Nguyễn Phú Trọng: Quyết tâm ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng, Sđd, tr.116-117). Gần đây, khi bàn về một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, người đứng đầu Đảng ta suy nghĩ nhiều về các giải pháp thúc đẩy công cuộc đổi mới. Cùng với việc chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ quốc tế, ông nhấn mạnh hai nhân tố có ý nghĩa quyết định. Đó là cùng với việc xác định chủ trương, đường lối đúng, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, phải phát huy mạnh mẽ vai trò sáng tạo, sự ủng hộ và tham gia tích cực của nhân dân. Sức mạnh nhân dân là cội nguồn sâu xa của thắng lợi, của phát triển.

 

Từ thực tiễn công cuộc đổi mới, Đại hội XIII rút ra một số bài học kinh nghiệm quý báu, trong đó bài học thứ hai có tinh thần, nội dung cốt lõi là lòng dân, sức dân, niềm tin của nhân dân. Đảng ta khẳng định: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn luôn quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”.

 

Trở lại với tư tưởng Hồ Chí Minh khi Người viết Di chúc được coi như cương lĩnh xây dựng đất nước sau chiến tranh theo tinh thần đổi mới (quốc bảo). Theo Bác, xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn là một nhiệm vụ hết sức to lớn, nặng nề và phức tạp, mà cũng là rất vẻ vang. Đây là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi. Để giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ này, cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân.

 

Tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn cho thấy chỉ có dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân, làm hợp lòng dân thì mới đi tới thắng lợi hoàn toàn./.