Thứ Sáu, 7 tháng 7, 2023

 

Thủ đoạn tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh ra khỏi chủ nghĩa Mác - Lênin

 

Trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, đẩy mạnh công tác đấu tranh chống các quan điểm sai trái cũng là góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, vì thế trong điều kiện tình hình phức tạp hiện nay, nhất là thời điểm "nhạy cảm chính trị" khi chúng ta đang tiến hành Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội lần thứ XIII của Đảng, thì cuộc đấu tranh để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là cuộc đấu tranh quyết liệt và phức tạp, không chỉ đơn thuần về mặt nhận thức, mà còn mang tính chính trị sâu sắc.

Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng ta xác định: Chủ nghĩa Mác - Lênin, cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng, và, một trong năm bài học mà Đại hội XII Đảng ta xác định là: "trong quá trình đổi mới phải chủ động, không ngừng sáng tạo trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh".

Trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, đẩy mạnh công tác đấu tranh chống các quan điểm sai trái cũng là góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, vì thế trong điều kiện tình hình phức tạp hiện nay, nhất là thời điểm "nhạy cảm chính trị" khi chúng ta đang tiến hành Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội lần thứ XIII của Đảng, thì cuộc đấu tranh để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là cuộc đấu tranh quyết liệt và phức tạp, không chỉ đơn thuần về mặt nhận thức, mà còn mang tính chính trị  sâu sắc.

Đảng ta đã sớm xác định và chỉ đạo kịp thời cuộc đấu tranh này, làm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân thống nhất về tư tưởng và hành động, tiếp tục bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, bảo vệ thành quả cách mạng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cảnh giác với âm mưu phá hoại của kẻ thù, gần đây nhất ngày 22-10-2018 Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”.

Bên cạnh việc kiên định đường lối, bảo vệ nền tảng tư tưởng, chúng ta cần tăng cường đấu tranh trực diện với các quan điểm sai trái bằng nhiều con đường, phương thức khác nhau. Phải tiến hành đấu tranh chống các quan điểm sai trái ở từng cơ quan, từng ngành, coi đó là phương pháp tự bảo vệ mình, qua đó hình thành một mặt trận chung của nhiều ngành, nhiều cơ quan tham gia đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch. Các cơ quan thông tấn, báo chí cần tìm ra những hình thức tuyên truyền cho phù hợp, sát với từng đối tượng cụ thể, tăng cường công tác thông tin, nhất là thông tin đại chúng như mạng lưới báo chí, đài truyền hình, đài phát thanh, internet...

Gần đây trên các trang mạng xã hội, với chiêu trò “góp ý” cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, một số phần tử chống phá và những kẻ cơ hội núp bóng “góp ý” đã cho rằng: ở Việt Nam chỉ cần nói tư  tưởng Hồ Chí Minh là đủ, không cần nói chủ nghĩa Mác - Lênin.

Chúng ta cần chỉ ra những sai trái, mơ hồ và phi lý của luận điểm này. Trước hết, phải khẳng định lại quan điểm của Đảng ta rằng: "Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại. Đó là tư tưởng về giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân; về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về phát triển kinh tế và văn hoá, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; về đạo đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên vừa là lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống tư tưởng toàn diện về cách mạng Việt Nam được xây dựng dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, ngay bản thân Hồ Chí Minh luôn nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, chính xác khi đánh giá vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh viết: “Trước hết phải có đảng cách mệnh...Đảng có vững cách mệnh mới thành công... Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt... Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”

Tháng 7-1969 trong bài trả lời phỏng vấn phóng viên nước ngoài, Hồ Chí Minh nói: “chúng tôi giành được thắng lợi đó là do nhiều nhân tố, nhưng cần phải nhấn mạnh rằng... chúng tôi giành được thắng lợi đó trước hết là nhờ cái vũ khí không gì thay thế được là chủ nghĩa Mác - Lênin”

Đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã từ người yêu nước trở thành người cộng sản và tìm được con đường để cứu nước giải phóng dân tộc đó là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Người nói: “Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác - Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”

Nguồn gốc lý luận chủ yếu, quyết định sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác – Lênin. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện thực tiễn ở Việt Nam, có thể nói, về bản chất khoa học và cách mạng thì chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh “tuy hai mà một, tuy một mà hai”, cho nên ở Việt Nam không thể tách rời mối quan hệ hữu cơ giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin, không thể và không được lấy tư tưởng Hồ Chí Minh thay thế chủ nghĩa Mác - Lênin. 

Mưu toan của quan điểm trên muốn đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là muốn phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, và như vậy trước mắt “cái gốc” của tư tưởng Hồ Chí Minh đã bị phủ nhận, thì tương lai họ sẽ tiến đến tìm cách phủ nhận chính tư tưởng Hồ Chí Minh, sâu xa hơn là phủ nhận nền tảng tư tưởng và phương pháp luận của Đảng. 

Do vậy, phải luôn luôn quán triệt bài học kinh nghiệm mà Đảng ta nêu ra tại Đại hội XI rằng: “Trong bất kỳ điều kiện và tình huống nào, phải kiên trì thực hiện đường lối và mục tiêu đổi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”.  

Tóm lại, bản thân chủ nghĩa Mác - Lênin đã chứng minh trong thực tiễn là một khoa học biện chứng, hiện đại, khoa học của những quy luật khách quan về sự phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy, cẩm nang về cách mạng của quần chúng bị áp bức, bóc lột, về thắng lợi của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Mặt khác, chính bản thân Hồ Chí Minh đã nói lên nguyên nhân thắng lợi của cách mạng nước ta là nhờ nguồn gốc tư tưởng lý luận là chủ nghĩa Mác - Lênin, thứ ba, Đảng ta khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh là sự cụ thể chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện hoàn cảnh nước ta.

Chính sự chính xác về khoa học, toàn diện và hệ thống, tính biện chứng nhằm mục đích giải phóng nhân loại cần lao, giải phóng xã hội khỏi mọi ách áp bức, bóc lột, bất công, giải phóng mọi sự tha hoá, xây dựng một xã hội công bằng, bình đẳng, văn minh thực sự  mà chủ nghĩa Mác - Lênin và ở Việt Nam có thêm tư tưởng Hồ Chí Minh cho đến nay vẫn là đỉnh cao của trí tuệ loài người, do vậy ở nước ta không được mưu toan tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh ra khỏi chủ nghĩa Mác - Lênin. Nên, việc lên án, chỉ ra "chiêu trò" thâm độc này, đề cao cảnh giác và đấu tranh chống các quan điểm sai trái để bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng cộng sản Việt Nam là việc làm khẩn thiết.

 

Tỉnh táo trong tiếp nhận thông tin

 

Cần thấy rằng nhận thức, quan điểm về internet, MXH và tham gia MXH của một số người chưa đúng, chưa đầy đủ. Không ít người dùng nghĩ rằng tự do internet, tự do MXH là vô hạn, không thấy rõ sự gắn bó giữa quyền lợi với nghĩa vụ và trách nhiệm của mình khi tham gia MXH. Do cách nhìn thiên về mặt trái của MXH nên vẫn có người nhìn nhận MXH với thái độ thành kiến. Đi kèm với tốc độ phát triển mạnh mẽ của internet, MXH, Việt Nam cũng là quốc gia có nguy cơ xảy ra các hành vi phạm pháp từ MXH.

Đặc biệt, tình trạng tin giả, lừa đảo, xuyên tạc, bịa đặt qua MXH là một trong những vấn đề nhức nhối nổi lên thời gian qua. Nguyên nhân của tình trạng này do đâu? Phân tích chúng ta thấy dư luận phản ứng rất mạnh mẽ trước những vấn đề thuộc giá trị đạo đức truyền thống hoặc các vấn đề nóng, vấn đề có tính thời sự cao trong đời sống xã hội. Lợi dụng yếu tố tâm lý này, nhiều người đã tạo ra các tin giả, tin lừa đảo, tin bóp méo, xuyên tạc sự thật với động cơ và mục đích cá nhân. Vì mục đích kinh tế mà một bộ phận bán hàng online cố tình tạo ra tin giả và lan truyền tin giả nhằm thu hút sự chú ý của khách hàng vào trang MXH của mình.

Sự bùng phát của tin giả, tin xuyên tạc cũng một phần do chính những người tiếp cận thông tin, những người tham gia MXH. Do nhận thức hạn chế, thiếu kiến thức và kinh nghiệm cần thiết nên không ít người không biết thông tin mình tiếp cận là đúng hay sai, có cơ sở khoa học hay không, tác động, ảnh hưởng đến người khác, đến xã hội như thế nào nên đã đăng tải, chia sẻ, bình luận một cách tùy tiện, vô trách nhiệm... Lợi dụng điều này, các thế lực thù địch, phản động tạo ra rất nhiều thông tin giả, thông tin xấu độc nhằm tuyên truyền xuyên tạc, kích động, làm nhiễu loạn thông tin, gây hoang mang trong dư luận, tạo sự bất ổn về an ninh trật tự để chống phá Đảng, Nhà nước ta. Một số đối tượng mang danh “thực hiện quyền tự do ngôn luận” thông qua MXH để “bày tỏ quan điểm cá nhân” nhưng thực chất là tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam và đã bị xử lý trước pháp luật. Sau mỗi trường hợp bị xử lý, các thế lực thù địch, phản động lại lu loa rằng “Việt Nam vi phạm quyền tự do ngôn luận”, “vi phạm tự do internet”... Cần khẳng định rõ rằng giọng điệu ấy không nhằm mục đích gì khác là bao che, dung túng, tiếp tay cho những hành vi vi phạm pháp luật và sâu xa là chống phá Việt Nam. Tôn trọng và bảo vệ quyền tự do MXH là nhiệm vụ của mọi quốc gia trên thế giới. Nhưng cũng như các quyền cơ bản khác, quyền tự do MXH chỉ được bảo vệ khi nó được dùng vào mục đích đúng đắn và phục vụ lợi ích chung của cộng đồng. Mọi hành vi lợi dụng quyền này để vi phạm pháp luật thì không chỉ có Việt Nam mà ở hầu hết các quốc gia trên thế giới đều phải xử lý nghiêm minh.

Để đối phó với nạn tin giả, tin xấu độc trên không gian mạng, trước hết cần tuyên truyền, giáo dục để mọi người thấy rõ tính nguy hại của vấn đề; nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của người dân, nhất là người tham gia MXH cần tỉnh táo trong tiếp cận thông tin để tránh bị lợi dụng tiếp tay cho kẻ xấu, đồng thời tích cực đấu tranh với vấn nạn tin giả.

Tin giả lan truyền nhanh nhất ở bộ phận độc giả thiếu hiểu biết nhưng lại quá nhẹ dạ, cả tin… Do vậy, mỗi người cần đề cao trách nhiệm tự thân, nâng cao trách nhiệm đối với các nội dung được đăng tải, chia sẻ. Có thể ví MXH như cái chợ, ở đó người ta bán đủ thứ thông tin, hình ảnh mà không ai kiểm chứng, kiểm duyệt. Ở đó có cả hàng thật lẫn hàng giả, hàng nhái; lẫn cả hàng tươi ngon với hàng ôi thiu… Mỗi chúng ta hãy trở thành những người “tiêu dùng thông thái” khi tham gia vào chợ thông tin này. Hãy giữ cho mình tác phong thận trọng và luôn mang tâm thế của người hiểu biết, tỉnh táo. Chỉ có như vậy mới tạo ra cho mình một bộ lọc chuẩn trong thời đại "bão" thông tin này. 

 

Thành quả xây dựng pháp luật ở Việt Nam là điều không thể phủ nhận

 

Lập hiến và lập pháp là một trong những hoạt động quan trọng và đặc trưng nhất của Quốc hội Việt Nam. Chức năng này đã được thể hiện xuyên suốt qua các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và Hiến pháp năm 2013. Ngoài Hiến pháp năm 1946 quy định nguyên tắc chung “Nghị viện nhân dân đặt ra các pháp luật”, thì cả 4 bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 và 2013 đều khẳng định Quốc hội là cơ quan lập hiến và lập pháp. Qua mỗi bản Hiến pháp, cơ chế thực hiện chức năng lập pháp của Quốc hội được kế thừa, phát triển và ngày càng được làm rõ hơn. Hiến pháp năm 2013 (hiện hành) đã khẳng định, Quốc hội là cơ quan làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp, làm luật, sửa đổi luật; thực hiện quyền lập hiến, lập pháp. Trên thực tế, quy định này của Hiến pháp được thực hiện khá chặt chẽ, cụ thể theo trình tự như sau: Hàng năm, trên cơ sở đề nghị của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền trình dự án luật, pháp lệnh, UBTVQH lập và trình Quốc hội xem xét, quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh. Trên cơ sở đó, UBTVQH phân công, chỉ đạo, đôn đốc và giám sát các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện chương trình này. HĐDT, các ủy ban của Quốc hội, bên cạnh việc thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh, còn dành nhiều thời gian, công sức cho việc chỉnh lý, hoàn thiện các dự án luật trên cơ sở ý kiến của các vị ĐBQH, ý kiến của nhân dân, của các cơ quan, tổ chức hữu quan. Để phục vụ cho công tác này, HĐDT, các ủy ban của Quốc hội đã tham gia ngay từ đầu vào quá trình xây dựng dự án luật. UBTVQH với tư cách là cơ quan chuẩn bị và chủ trì kỳ họp Quốc hội, thường xuyên cho ý kiến đối với các dự án luật, pháp lệnh. Giữa hai kỳ họp, các đoàn ĐBQH đã tổ chức các hội nghị để trao đổi, thảo luận và lấy ý kiến của các đối tượng có liên quan. Ý kiến của ĐBQH là cơ sở quan trọng mang tính quyết định trong việc hoạch định chính sách, chỉnh lý và hoàn thiện từng nội dung của dự án luật. Theo trình tự này, Quốc hội đã nắm trọn quyền lập pháp, vì thế ý kiến một số người cho rằng Quốc hội chỉ là cơ quan thông qua luật là không có cơ sở lý luận và thực tiễn. Thực tế cho thấy, nếu so sánh giữa dự án luật trình Quốc hội với các dự án luật đã được các cơ quan của Quốc hội thẩm tra, chỉnh lý, hoàn thiện và Quốc hội thông qua thì chất lượng được nâng cao đáng kể, phù hợp với điều kiện thực tiễn, nhất là về các chính sách, cả về mặt nội dung cũng như hình thức văn bản. Quy trình xây dựng luật của Việt Nam cũng phù hợp với thông lệ quốc tế. Theo quy trình này, pháp luật đã ban hành giúp chúng ta đã thu được nhiều thành quả mà các thế lực thù địch dù có cố tình xuyên tạc nhưng cũng không thể phủ nhận.  

Tại Kỳ họp thứ chín mới đây, Quốc hội đã thông qua 10 luật, 21 nghị quyết, cho ý kiến về 6 dự án luật khác. Các dự án luật, nghị quyết trình Quốc hội xem xét, thông qua và cho ý kiến tại Kỳ họp thứ chín đã bám sát chủ trương, đường lối của Đảng, tiếp tục thể chế hóa Hiến pháp, góp phần bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường; tổ chức bộ máy; quan hệ lao động; bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, tăng cường công tác nội luật hóa các điều ước, cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, tiến trình hội nhập quốc tế.   

 

Hiểu cho đúng về một nền tư pháp dân chủ XHCN

Nền tư pháp của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (trước đây là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) hình thành sau khi nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng lên đánh đuổi đế quốc xâm lược, giành lại chính quyền, thiết lập một nhà nước Việt Nam tự do, độc lập. Năm 1946, thể theo nguyện vọng của toàn dân, Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra đời. Đây là văn bản luật đầu tiên của nước Việt Nam mới, thể hiện đầy đủ quyền tự do, dân chủ mà người dân Việt Nam xứng đáng được hưởng và được Nhà nước bảo hộ. Cũng từ văn bản luật gốc này, từ thực tiễn cuộc sống, nhu cầu xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, hòa bình, dân chủ và chủ nghĩa xã hội (CNXH), các văn bản luật khác dần được hình thành, ra đời.

Quá trình xây dựng các văn bản pháp luật (gọi chung là các luật) được tiến hành chặt chẽ, khoa học, được lấy ý kiến rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân và được tiếp thu, chỉnh sửa một cách hợp lý theo nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân trước khi trình Quốc hội thông qua. Điều đó thể hiện tính dân chủ rất cao trong quy trình xây dựng các luật. Trong số 230 bộ luật, luật đang có hiệu lực thi hành và sắp có hiệu lực thi hành thì có hai bộ luật quan trọng, liên quan trực tiếp đến việc khởi tố, xét xử các vụ án hình sự đối với các cá nhân, tổ chức có vi phạm, đó là Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự. Các điều, khoản trong hai bộ luật nêu trên vừa khái quát đầy đủ các lĩnh vực, vừa cụ thể hóa rõ ràng các hành vi, dấu hiệu vi phạm hình sự của mọi cá nhân, tổ chức trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Việc áp dụng các điều, khoản trong quá trình tố tụng và xét xử được các cơ quan tư pháp tiến hành độc lập, theo đúng chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, do đó về mặt nguyên tắc là rất chặt chẽ, không có chuyện vi phạm dân chủ như một số trang mạng cố tình đoán mò rồi dẫn lái dư luận. Trong điều kiện hiện nay, với sự hỗ trợ của khoa học công nghệ nên thông tin được truyền đi nhanh chóng và rộng rãi. Trong lĩnh vực điều tra, xét xử các vụ án cũng có quy trình rất minh bạch, công khai, thông tin đầy đủ, điều đó không cho phép các cá nhân tham gia vào quy trình xử lý các vụ án có thể cố tình làm sai lệch kết quả điều tra, xét xử.

Tuy nhiên, trong thực tiễn, có những vụ án rất phức tạp, nhiều tình tiết, chứng cứ khó có thể làm rõ trong một thời hạn nhất định, chính vì thế mới xảy ra các lỗi trong quá trình điều tra, xét xử dẫn đến hiện tượng lọt người, sót tội ở một vài vụ án trong số hàng nghìn vụ án mà các cấp tòa phải xét xử hằng năm. Thế nên có thể khẳng định, việc sai sót trong điều tra các tình tiết cụ thể, có thể xảy ra, nhưng đó là do sai sót của từng khâu, thuộc về từng cá nhân tham gia vào quy trình điều tra, xét xử. Còn về mặt nguyên tắc tổng thể của quá trình điều tra, xét xử các vụ án hình sự là hoàn toàn chặt chẽ, minh bạch, thể hiện rõ sự nghiêm minh, ưu việt của pháp luật XHCN. Thế nên, không thể lấy một vài sai sót từ một số vụ án để quy chụp và xuyên tạc cả nền tư pháp của Việt Nam. Đó là tư duy và cách hiểu của những người cố tình phủ nhận sạch trơn hệ thống pháp luật của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, nhằm vào những mưu đồ và lợi ích cá nhân.

 

 

Lấy mạng xã hội làm tấm bình phong

 

Công nghệ viễn thông phát triển là cơ hội để truyền thông lan tỏa, đó là một trong những điều kiện để mở rộng dân chủ. Thế nhưng hiện nay, một số cá nhân đã lợi dụng vấn đề này để tung tin thất thiệt, bịa đặt các tình tiết về các vụ án hòng "câu view", "câu like", hướng lái dư luận và mục đích cụ thể, thực dụng hơn cả là kiếm tiền từ trên mạng. Chẳng hạn khi mở trang Youtube, gõ từ khóa “vụ án Hồ Duy Hải”, người dùng sẽ thấy xuất hiện hàng trăm clip liên quan đến vụ án. Trong số ấy có nhiều video clip với những thông tin kiểu dựng chuyện, bịa chuyện, trộn lẫn thật với giả khiến cho người xem như lạc vào mê cung, không thể phân biệt được đâu là thông tin đúng, đâu là thông tin sai. Cũng có những video clip lợi dụng các tình tiết của vụ án để bôi nhọ, nói xấu người này, chĩa mũi dùi vào người khác. Nghe các câu, từ bình luận trong clip, những người ít thông tin cứ ngỡ tác giả của video clip là những “nhà điều tra” tội phạm thực thụ, hoặc chí ít họ cũng có những “nguồn thông tin đáng tin cậy” như họ nói. Nhưng thực ra những người làm ra các video clip này hầu hết chỉ là những kẻ lừa bịp về truyền thông trên mạng xã hội. Tất cả thông tin mà họ đăng tải đều là do cóp nhặt trên mạng, kết hợp với sự bình luận bạt mạng, vô căn cứ, hoàn toàn theo ý chủ quan của bản thân người làm ra sản phẩm video clip. Hình ảnh trong các video clip này hầu hết là hình ảnh tĩnh mà họ nhặt nhạnh từ đâu đó, rồi gán ghép bằng những lời bình luận vô lối. Những trang mạng mang màu sắc phản động và có sự thù địch với Việt Nam, như: Việt Tân, BBC, RFA... thì có thêm các đoạn “phỏng vấn” truyền thanh một vài nhân vật đang có thiên hướng, hoặc đã từng thực hiện các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam, hòng làm ra vẻ sản phẩm của mình là “vô tư”, là “minh bạch”. Nhưng xâu chuỗi các video clip của họ lại thì thấy rõ, họ luôn hướng lái người nghe/xem đến mục tiêu chính trị, đó là xuyên tạc tính ưu việt của chế độ XHCN, xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội Việt Nam. Hầu hết nhân vật trong các video clip của các trang mạng nói trên đều cố “bày trò”, ra vẻ “vì sự dân chủ, công bằng”, nhưng cuối các đoạn phỏng vấn, bao giờ họ cũng lòi “cái đuôi cáo” về chính trị của mình ra.

Cũng trong môi trường mạng, hiện nay còn tồn tại một dạng thông tin thất thiệt, biến không thành có, dựng đứng nhiều chuyện. Thậm chí trong một số vụ án hình sự, họ còn sẵn sàng bịa thêm các chi tiết, nhân vật, hòng làm cho vụ án thêm ly kỳ, mục đích cuối cùng là để trang của mình có nhiều người quan tâm, theo dõi. Điều tai hại là sự bịa đặt này được phát đi phát lại, kiểu “mưa dầm thấm lâu”, khiến cho người nghe/xem chuyển từ phân vân đến nghi ngờ, rồi tin tưởng vào những điều không có thật. Đối với các vụ án quan trọng, có sự ảnh hưởng lớn, được dư luận quan tâm thì những thông tin giả này có thể sẽ làm cho xã hội nhìn nhận, đánh giá hoàn toàn sai lệch về quy trình điều tra, xét xử, khiến cho các tầng lớp nhân dân hiểu không đúng về bản chất vụ án, từ đó biểu hiện thái độ thiếu tin tưởng vào sự công minh của nền tư pháp XHCN. Đó là điều mà thế lực thù địch và những kẻ giả mạo thông tin mong muốn, bởi họ sẽ đạt được hai mục đích, tức là vừa thực hiện được âm mưu xuyên tạc nền tư pháp XHCN, đồng thời lại đạt được một yếu tố có tính cốt lõi, đó là lấy được tiền của nhà mạng nhờ vào những trang, những sản phẩm có nhiều người theo dõi. Đây cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến nhiều kẻ đã bất chấp đạo đức và luật pháp để bịa đặt thông tin hòng trục lợi, kiếm tiền từ sự tò mò, thiếu tỉnh táo của cộng đồng mạng.

 

 

Giải quyết nạn thông tin giả - cần sự quyết liệt

 

Sở dĩ thông tin bịa đặt, thông tin giả về các vụ án còn tồn tại trên không gian mạng và luôn phát triển với cấp số nhân là vì mấy vấn đề sau: Thứ nhất, còn nhiều người tin vào những sự “bịa như thật” trên mạng. Nói về vấn đề này, TS Cao Đức Thái, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quyền con người, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, từng nhận xét: Ở Việt Nam, tốc độ phát triển của internet khá nhanh và lượng người sử dụng rất cao (khoảng 64 triệu người), trong khi trình độ dân trí của một bộ phận người dân còn có những hạn chế nên khó phân biệt được tin thật với tin giả lan truyền trên mạng. Vì vậy, việc nâng cao dân trí thông qua tuyên truyền, phổ biến, giáo dục... là rất cần thiết, đây chính là cái gốc sâu xa nhằm giải quyết vấn đề dư luận sẽ đi theo chiều cạnh nào khi tiếp nhận biển cả thông tin mênh mông. Đối với các vấn đề quan trọng, có ảnh hưởng sâu sắc đến dư luận, tâm lý xã hội, nhất là các vụ án trọng điểm thì càng cần được định hướng, tuyên truyền sâu rộng để đông đảo các tầng lớp nhân dân được biết, được hiểu, từ đó tự xây dựng nhận thức đúng đắn khi tiếp nhận các thông tin trái chiều. Một quy luật tất yếu là nếu lúa tốt thì cỏ dại khó mọc và ngược lại.

Thứ hai, còn nhiều nhà mạng thiếu trách nhiệm với những thông tin mà mình cung cấp, điều nguy hại hơn là họ còn trả tiền cho cả những thông tin giả, thông tin bịa đặt. Với vai trò là cung cấp nền tảng hơn là vai trò của nhà xuất bản, các nhà mạng lớn trên thế giới hiện nay có vẻ không quan tâm đến độ chính xác của các thông tin, vì thế các thông tin thất thiệt hầu như không bị can thiệp, mặc sức hoành hành trên mạng. Thực tế hiện nay, mạng xã hội không khác gì "chợ truyền thông", trong đó lẫn lộn cả thông tin tốt lẫn thông tin xấu độc. Có lẽ đã đến lúc cần phải nghiên cứu xây dựng các đạo luật, hoặc các công ước có tính quốc tế nhằm quản lý tình trạng trên, không thể để tình trạng vì tiêu chí tự do ngôn luận mà xâm hại các quyền hợp pháp của tổ chức, cá nhân, thậm chí là quyền lợi chính đáng của một quốc gia. Mục tiêu của các nhà mạng là kiếm tiền từ thông tin thì dứt khoát phải chịu trách nhiệm về tính xác thực của các thông tin mà mình đóng vai trò hỗ trợ cung cấp. Trong một cái chợ thì ban quản lý chợ cũng phải chịu trách nhiệm về tình trạng trộm cắp, bất lương của cái chợ đó.

Thứ ba, việc cung cấp thông tin chính thống có lúc chưa kịp thời, chưa đầy đủ. Về vấn đề này, có lần trao đổi với chúng tôi, nhà báo Hà Đăng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Trưởng ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương cho rằng: Cơ chế thông tin của Nhà nước ta là dân chủ và minh bạch, tuy nhiên đối với từng cơ quan cụ thể, có lúc chưa làm tốt vấn đề này, chính vì vậy mới tạo ra kẽ hở để một số tổ chức, cá nhân có dã tâm lợi dụng, hòng trục lợi và mưu đồ chống phá. Do đó, việc thông tin những vấn đề quan trọng có liên quan tới quyền lợi về chính trị, kinh tế, văn hóa... của các tầng lớp nhân dân cần phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, toàn diện và sâu kỹ. Khi có thông tin đích thực, chính thống, có nghĩa là dư luận đã được định hướng, không còn sự ngả nghiêng, nghi ngờ giữa cái thật và không thật. Báo chí chính thống, cách mạng phải giữ vững vai trò chủ đạo trong thông tin chân thực, tuyệt đối không để lợi ích cục bộ che lấp bản chất cách mạng của các nhà báo, cơ quan báo chí.

Giải quyết được 3 vấn đề trên có nghĩa là chúng ta đã thực hiện được những yếu tố cơ bản, góp phần làm trong sạch môi trường truyền thông, tạo điều kiện tốt nhất để dư luận tiếp cận các thông tin đúng, chân thực, loại bỏ các thông tin xấu độc, giả mạo để người dân hiểu đúng bản chất sự việc, sự thật.

 

 

Bản chất cơ hội chính trị, chống phá Đảng, Nhà nước của các đối tượng

 

Từ đầu năm 2020 đến nay, ảnh hưởng tình hình đại dịch COVID-19 khiến đời sống của người dân thêm muôn vàn khó khăn vì tác động xấu của sự suy thoái kinh tế toàn cầu. Khó khăn này chưa qua thì thiên tai lại ập đến với đồng bào miền Trung ruột thịt. Và trong những khó khăn này, chúng ta thật xúc động khi chứng kiến vô vàn những hành động, nghĩa cử cao đẹp cùng sự hy sinh quên mình của các chiến sỹ Công an, quân đội và sự giúp đỡ tận tình của đồng bào cả nước theo truyền thống cao đẹp của người Việt Nam “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách”.

Thế nhưng, trên thực tế, một nghịch lý đang tồn tại như một thứ ung nhọt của xã hội khi số đối tượng xấu nêu trên giở giọng đạo đức giả của kẻ “ngụy quân tử”. Bề ngoài thì tỏ ra thương xót, lo lắng cho đồng bào, nhưng bản chất là lợi dụng tình hình dịch bệnh, sự vất vả của đồng bào trước thiên tai lũ lụt không chỉ để vụ lợi mà còn cố tình “bẻ lái” nhằm chống phá Đảng, Nhà nước.

Theo dõi suốt quá trình vừa qua, có thể thấy từ khi dịch COVID-19 bắt đầu bùng phát và được đẩy lùi cho đến nay là tình trạng mưa lũ kéo dài nhưng không hề thấy một đối tượng nào nêu trên thể hiện hành động có ý nghĩa thiết thực dù nhỏ nhất để giúp đỡ, hỗ trợ đồng bào vượt qua hoạn nạn, khó khăn. Ngược lại là những lời ngụy tạo, nói xấu, bôi nhọ chính quyền các cấp cùng các lực lượng phòng chống thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn...

Không chỉ vậy, trước những hy sinh mất mát to lớn của các chiến sỹ Công an, quân đội trong khi làm nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn, những kẻ đạo đức giả nêu trên không một lời tiếc thương, không một sự chia sẻ, không một nén hương mà cố tình làm ngơ, chỉ xoáy vào những thiếu thốn, khó khăn của người dân, phủ nhận mọi nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trên cả nước đang chung tay góp sức cùng đồng bào miền Trung vượt qua đợt lũ lụt lịch sử. Thậm chí một số kẻ còn nhẫn tâm xúc phạm đến danh dự và sự hi sinh cao quý của những người lính đã ngã xuống để bảo vệ cuộc sống của nhân dân.

Và thật tiếc rằng, những luận điệu xuyên tạc, những thông tin sai trái đó khi chia sẻ trên các trang mạng xã hội, có những bài đạt tới hàng nghìn lượt like và bình luận bậy bạ khiến những người có lương tri và cán bộ, chiến sĩ Công an, quân đội rất bất bình. Chỉ những kẻ bất nhân mới đang tâm có những hành vi bịa đặt, bôi nhọ những người đã hy sinh cả tính mạng vì cuộc sống bình yên của cộng đồng, trong đó có cả bản thân họ.

 

Bản chất của những kẻ giả danh “dân chủ”, “nhân quyền”

 

Khi thiên tai, dịch bệnh xảy ra thì mỗi người đều lo lắng, cầu mong hoặc bằng hành động cụ thể góp phần đảm bảo cho sự an toàn của người thân trong gia đình của mình và những người lính, dù ở quốc gia hay chế độ nào cũng vậy. Nhưng vì nhiệm vụ, vì sự an toàn của nhân dân mà họ phải gác việc riêng của gia đình sang một bên, thậm chí sẵn sàng chấp nhận hi sinh bản thân mình để đảm bảo an toàn cho nhân dân. Với sự hi sinh đó, dù là ai, hay ở quốc gia, chế độ nào cũng đều đáng nhận được sự trân trọng và tôn vinh. Người xưa có câu “trong hoạn nạn mới biết ai là bạn, ai là thù”, trong khi cả nước đang hướng về miền Trung ruột thịt, nơi đang chịu thiệt hại nặng nề vì mưa lũ thì những người tự xưng “dân chủ”, “nhân quyền” lại không hề có bất cứ hành động nào hướng về miền Trung, về chính những đồng bào của mình, về những con người mà họ nói họ đại diện? Thay vào đó là những bài viết chỉ trích, lên án chính quyền, chỉ trích lực lượng Công an, Quân đội, những con người đang bất chấp nguy hiểm để bảo vệ nhân dân, các cấp ủy Đảng, chính quyền. Thậm chí có cả sự hả hê khi Việt Nam phải đối mặt với thiên tai, dịch bệnh khiến cho kinh tế bị ảnh hưởng, đời sống người dân bị khó khăn. Chỉ khi trải qua những khó khăn, thiên tai, dịch bệnh thì người dân mới có thể nhận ra đâu là người bất chấp nguy hiểm để bảo vệ mình, để giúp đỡ mình. Và hiểu rõ đâu là những kẻ giả dối, lưu manh chỉ lợi dụng hai chữ “nhân dân” để phục vụ cho những mục đích thấp hèn của bản thân. Hãy luôn là người Việt Nam chân chính, biết đâu là đúng, đâu là sai, đồng hành cùng các cấp ủy Đảng, chính quyền và lực lượng Công an, Quân đội giúp đỡ đồng bào miền Trung đang gặp khó khăn do mưa bão, lũ lụt, cũng như vạch trần bản chất xảo trá của những kẻ giả danh “dân chủ”, “nhân quyền”.

 

SỰ HỤT HƠI, BẤT LỰC CỦA BỌN PHẢN ĐỘNG, BẤT MÃN VỀ CHÍNH TRỊ

 

Đại hội lần thứ XIII của Đảng sắp diễn ra, đây sẽ là một dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển của Đảng ta, dân tộc ta, đất nước ta, có ý nghĩa định hướng tương lai, tiếp tục đẩy mạnh toàn diện và đồng bộ công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển đất nước, đem lại cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn cho nhân dân.

Thế nhưng, hiện nay các phần tử cơ hội, phản động, bất mãn về chính trị đang tăng cường chống phá, nhằm phá hoại sự chuẩn bị của Đại hội. Trong số đó có bài viết “Đại hội 13 và những cảnh không nhà” của phần tử Nguyễn Hùng đăng trên trang mạng xã hội. Nội dung bài viết mang tính bịa đặt thô thiển; không ăn nhập giữa tiêu đề với nội dung, cho thấy lối tư duy chắp vá, sự ngô nghê, ngờ nghệch đến thảm hại của Y với mục đích không có gì khác hơn là nhằm xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong mớ hỗn độn đó có nội dung Nguyễn Hùng cho rằng “Đảng cộng sản kiên quyết chỉ duy trì một ngôi nhà chính trị duy nhất, ngôi nhà của những người theo Marx và Lenin khiến cho hàng chục triệu người trở thành vô gia cư về chính trị. Họ chẳng tha thiết gì với chủ nghĩa cộng sản và các đồng chí trong đảng cộng sản. Nhưng họ còn con đường lựa chọn nào khác ở Việt Nam?”. Có thể thấy, đây là luận điệu xằng bậy, cũ rích hòng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà bất kể người dân Việt Nam nào đọc cũng có thể bác bỏ, nhưng vẫn được bọn phản động, bất mãn về chính trị sử dụng lải nhải, ra rả mãi không thôi.

Nhân đây, một lần nữa nói cho Nguyễn Hùng và những kẻ còn cay cú, hậm hực ôm thù hận cá nhân, hay còn nuối tiếc chế độ cũ, cùng những ai đang bị các thế lực hắc ám nào đó lừa phỉnh biết: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội Việt Nam là hợp hiến, hợp pháp; đó là sự lựa chọn đúng đắn của lịch sử Việt Nam và của nhân dân Việt Nam. Thực tiễn đã chứng minh Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ phẩm chất, năng lực lãnh đạo công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhà nước và xã hội đã được Hiến định tại Điều 4 Hiến pháp năm 2013 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời nó cũng thể hiện ý chí, nguyện vọng của tuyệt đại đa số người dân Việt Nam.

Nhân dân Việt Nam đã lựa chọn Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo duy nhất đối với Nhà nước và xã hội vì thực tế lịch sử cách mạng Việt Nam đã phủ nhận đa nguyên, đa đảng, xác định vị trí độc tôn lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bằng chứng là, trước năm 1945, ở Việt Nam đã tồn tại nhiều đảng phái chính trị, ngoài Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam), còn có một số tổ chức, đảng phái chính trị khác theo đường lối cách mạng tư sản, song chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành thắng lợi cách mạng tháng Tám năm 1945. Sau năm 1945 bên cạnh Đảng Cộng sản tồn tại các đảng, như: Đảng Dân chủ Việt Nam (1944 - 1988) và Đảng Xã hội Việt Nam (1946 - 1988), nhưng các đảng ấy đều không được đa số nhân dân giao cho sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng. Các đảng ấy, đều tuân thủ đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được nhân dân giao phó, ủy thác. Do vậy, luận điệu cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam tự cho mình cái quyền lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện, duy nhất là hoàn toàn sai lầm.

Những thành tựu trong công cuộc giành độc lập, giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đã minh chứng rõ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đất nước và xã hội. Đặc biệt, qua hơn 30 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn. Việt Nam từ một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới trở thành quốc gia thu nhập trung bình thấp; từ 2002 đến 2018, GDP đầu người tăng 2,7 lần, với hơn 45 triệu người thoát nghèo; tỉ lệ nghèo giảm mạnh từ hơn 70% xuống còn dưới 6%. Chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng - an ninh được tăng cường. Văn hóa xã hội có bước phát triển, an sinh xã hội được cải thiện. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng. Sức mạnh mọi mặt của đất nước được nâng lên. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu, có hiệu quả. Vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao.

Như vậy, luận điệu phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với nhà nước và xã hội là hoàn toàn sai trái, phản động. Qua đó chứng tỏ Nguyễn Hùng và bọn phản động, bất mãn về chính trị đang hụt hơi, bất lực, trước thực tiễn và chân lý sáng ngời của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam./.

 

 

Phản động nhân danh lòng yêu nước

Thời gian gần đây, các thế lực thù địch sử dụng nhiều luận điệu khác nhau để kích động chống Ðảng, chống Nhà nước ta, kêu gọi lật đổ chính quyền. Dù nấp dưới danh nghĩa nào, vẫn có thể nhận ra các luận điệu nhằm mục đích chống phá của chúng. Mới đây, một số website và blog truyền bá bài viết của Phạm Lê Vương Các - người tự giới thiệu là "sinh viên đại học năm thứ ba"(!?), cũng nằm trong  các thủ đoạn mà các thế lực thù địch đang triển khai.

Sau khi viện dẫn "triết gia Socrate bị kết án tử hình vì tội đầu độc tư tưởng cho giới trẻ và chống lại nhà nước dân chủ chủ nô", Bruno "phải lên máy chém vì ủng hộ thuyết "nhật tâm", Phạm Lê Vương Các nhắc tới một số nhân vật lịch sử như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học... và gọi họ là "những người tiên phong trong việc chống nhà nước phong kiến nửa thuộc địa đương thời để xóa bỏ sự nô dịch, lạc hậu, và bất công". Từ những cứ liệu đó, tác giả này kết luận "không thể xem chống nhà nước là hành vi hoàn toàn tiêu cực được". Khi làm công việc này, Phạm Lê Vương Các đã bỏ qua một nội dung có tính chất nền tảng là bối cảnh lịch sử của mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn lịch sử, và tính tất yếu của quá trình nhận thức cùng hành vi của con người trong bối cảnh lịch sử ấy. Phải chăng, tác giả do thiếu hiểu biết hay cố tình bỏ qua nội dung nền tảng này, đánh đồng nhà nước chủ nô, nhà nước phong kiến nửa thuộc địa với nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân hiện nay? Trên thực tế, bản chất các loại hình nhà nước mà những nhân vật lịch sử do Phạm Lê Vương Các viện dẫn đã từng sống lại hoàn toàn khác nhau, mục đích đấu tranh của mỗi người cũng rất khác nhau. Từ sự mập mờ này, Phạm Lê Vương Các nhận định "tuy cùng một  hành vi chống nhà nước, nhưng đã làm cho Việt Nam sản sinh ra những con người "phản động" theo tinh thần lý luận đấu tranh giai cấp nhưng lại mang bản chất "yêu nước" theo tinh thần ý thức trách nhiệm của một công dân đấu tranh cho dân chủ tiến bộ, tùy theo cách hiểu khác nhau của mỗi người". Sao lại đánh đồng "phản động" với "yêu nước"? Nếu là người hiểu biết, không thể nhầm lẫn giữa hai phạm trù đối nghịch nhau như thế. Phản động hay yêu nước đều phải dựa trên các tiêu chí xét đoán rõ ràng, được cả cộng đồng thừa nhận, không phải muốn là có thể nói vống lên. Trong cuộc sống, suy nghĩ và hành vi của con người có ý thức đều hướng tới mục tiêu cụ thể, mà tựu trung trước hết là vì nhu cầu của bản thân mình và vì nhu cầu của cộng đồng mà mình là thành viên. Thử hỏi ba blogger mà Phạm Lê Vương Các đứng ra bao biện cho họ đã đóng góp gì cho đất nước, cho cộng đồng nơi họ sống, mà có thể gán cho tên gọi "người yêu nước"? Việc họ viết năm, bảy cái entry chứa đựng thông tin mơ hồ, thật - giả và tốt - xấu lẫn lộn... để vu cáo chính quyền lẽ nào lại là biểu hiện của lòng "yêu nước"? Và không biết vì ấu trĩ không hiểu mối quan hệ giữa hiến pháp và pháp luật với nhà nước hay tôn thờ chủ nghĩa vô chính phủ mà Phạm Lê Vương Các còn viết một cách rất tùy tiện rằng: "Không thể lấy hiến pháp và pháp luật để bảo vệ Nhà nước"! Thử hỏi, nếu Nhà nước không có hiến pháp và pháp luật sẽ ra sao, ai sẽ bảo vệ quyền lợi của người dân?! Xã hội sẽ ra sao nếu mỗi công dân lại tự đề ra một luật riêng cho bản thân để muốn làm gì thì làm?

Nguy hiểm hơn, theo Phạm Lê Vương Các: "Một khi nhà nước không còn là của dân, do dân, và vì dân trên thực tế thì chống lại nhà nước đó là hành vi tất yếu". Cần vạch rõ sự dối trá này vì nó chỉ đúng khi "dân" ở đây là đại đa số nhân dân, chứ không phải là một vài cá nhân chưa làm được bất cứ điều gì cho dân nhưng vẫn xưng xưng tự nhận là "đại diện của nhân dân". Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhà nước thuộc địa nửa phong kiến  ở Việt Nam chỉ phục vụ bộ máy cai trị thực dân, thẳng tay đàn áp bóc lột nhân dân. Còn Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam được Hiến pháp khẳng định là Nhà nước "của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân". Chúng ta xây dựng Nhà nước pháp quyền chính là xây dựng một nhà nước dân chủ ngày càng hoàn thiện, nơi nhân dân đứng ra tự tổ chức, tự quản lý, tự điều hành xã hội của mình. Tính thống nhất bao trùm lên mọi hoạt động tổ chức và thực hiện quyền lực của nhân dân, chứ không phải mâu thuẫn hay đối kháng. Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam do nhân dân lập ra thông qua bầu cử, ý chí của đại đa số nhân dân thể hiện qua hoạt động của Nhà nước một cách công khai, minh bạch, và hành động của Nhà nước thể hiện ý chí, tư tưởng, nguyện vọng của nhân dân. Nhân dân lập ra Nhà nước để bảo vệ cho các quyền và lợi ích của chính mình, nếu Nhà nước không có Hiến pháp và pháp luật bảo vệ thì sẽ không bảo vệ được nhân dân. Ðiều 6 Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (năm 1992) quy định "Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân"; Ðiều 53 khẳng định công dân "có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương". Trong trường hợp công dân không đồng tình với Nhà nước, hoặc muốn đưa ra ý kiến riêng thì có thể "kiến nghị với cơ quan Nhà nước", Ðiều 74 nêu cụ thể "Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào". Quy định của pháp luật nước ta cũng nêu rõ, công dân có quyền phản đối cơ quan Nhà nước, công dân có thể kiện cơ quan Nhà nước ra tòa án. Ðó là quyền của công dân, bởi không phải lúc nào các cơ quan nhà nước cũng đúng, và ở nước ta đã có một số trường hợp công dân thắng kiện cơ quan nhà nước.

Bên cạnh đó, Phạm Lê Vương Các còn cho rằng, có sự khác nhau trong quan niệm "chống nhà nước" giữa "các nước dân chủ" với các nước XHCN. Xét từ chính trị học, tất cả các mô hình nhà nước đều có những mặt tốt và mặt hạn chế, con người luôn cố gắng tiệm cận với một mô hình nhà nước hoàn hảo như tiệm cận với chân lý. Nhà nước còn có tính lịch sử, văn hóa sâu sắc, không thể đem mô hình nhà nước của quốc gia này áp dụng cho quốc gia khác mà hy vọng sẽ có kết quả. Tuy nhiên, Phạm Lê Vương Các lại đưa ra quan niệm lệch lạc: "chống lại nhà nước XHCN ở đây luôn được nhà cầm quyền xem là mối đe dọa lực lượng thống trị, an ninh quốc gia, phá vỡ khối đại đoàn kết thống nhất, và lý tưởng của toàn dân".  Xét từ nguồn gốc và bản chất của nhà nước, điều này thật ngây thơ, người viết hoàn toàn không hiểu biết. Ðể bảo vệ nhà nước, mọi quốc gia đều phải áp dụng các biện pháp bảo đảm an ninh, một số quốc gia phương Tây còn theo dõi tường tận đến từng cá nhân, thậm chí phát động tấn công các quốc gia khác với lý do... để bảo đảm an ninh! Ở nước ta, quyền lực nhà nước là thống nhất, dù là hành pháp, lập pháp hay tư pháp đều phải làm đúng, làm hết trách nhiệm của mình. Nhà nước khuyến khích hoạt động phản biện xã hội thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể. Khi công dân có vấn đề cần giải quyết, họ đều có quyền yêu cầu các tổ chức đoàn thể, hệ thống thông tin đại chúng... giúp đỡ. Song không vì thế, công dân lại làm dư luận hoang mang, gây mất ổn định xã hội bằng đưa tin bịa đặt trên internet, nói xấu lãnh đạo, nói xấu người khác mà không đưa ra bằng chứng, rồi kích động bạo loạn, kêu gọi lật đổ chính quyền... Các Ðiều 87, Ðiều 88, Ðiều 92 của Bộ luật Hình sự quy định rõ các tội danh liên quan đến hành vi chống chính quyền nhân dân, chỉ có ai cố tình không hiểu mới phát ngôn tùy tiện như vậy. Xét trên mọi phương diện, hành vi "làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu có nội dung chống nhà nước" đều rất nguy hiểm đối với xã hội và không thể gọi đó là hành vi yêu nước. Vì thế, các nước phương Tây đã đối xử rất cứng rắn với Julian Assange khi trang mạng Wikileaks tải lên những thông tin "nhạy cảm".

Nhà nước của chúng ta đang có bước chuyển quan trọng để tự hoàn thiện, từ đó tiếp tục tổ chức, lãnh đạo sự nghiệp phát triển đất nước, củng cố niềm tin của mọi tầng lớp nhân dân. Và khi trong bộ máy Nhà nước còn những "con sâu làm rầu nồi canh", chúng ta cần đấu tranh làm trong sạch theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI). Hệ thống pháp luật của nước ta được xây dựng nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, nhưng một số cán bộ, công chức chưa thực hiện đúng nhiệm vụ, chức trách được giao, vẫn còn tình trạng cơ hội, trục lợi cá nhân, gây bất bình trong nhân dân. Những cán bộ trong bộ máy nhà nước, doanh nghiệp vi phạm pháp luật bị khởi tố trong thời gian qua là minh chứng cho quyết tâm lập lại kỷ cương xã hội của Nhà nước. Do đó, mỗi công dân cần có cái nhìn toàn diện hơn về vai trò của Nhà nước, cũng như cần đóng góp thiết thực để xây dựng Nhà nước. Từ lâu, những ý kiến đóng góp tâm huyết của người yêu nước chân chính luôn luôn được ghi nhận, nghiên cứu, xem xét một cách nghiêm túc.

ANH KHÔI

 

 

 

Mười ngày rung chuyển thế giới’ – cuộc Cách mạng Tháng Mười qua

góc nhìn một người Mỹ

“Tôi mong muốn cuốn sách được phát hành hàng triệu bản và dịch ra đủ mọi thứ tiếng vì nó rất sinh động khi diễn tả về những sự kiện cực kỳ quan trọng, giúp hiểu thế nào là cách mạng vô sản, thế nào là chuyên chính vô sản”, đó là những lời bình của Vladimir Ilyich Lenin – lãnh tụ thiên tài của cách mạng tháng Mười Nga về ấn phẩm “Mười ngày rung chuyển thế giới”. Và người đã đến nước Nga, đến Cung điện mùa Đông để viết nên tác phẩm xuất sắc về cuộc cách mạng vĩ đại ấy là John Reed – một nhà báo Mỹ.

Nhà báo Mỹ mang tâm hồn người Cộng sản

Nhà báo John Reed sinh ngày 22/10/1887 trong một gia đình khá giả ở thành phố Portland, thuộc bang Oregon của Mỹ. Ngay từ khi còn nhỏ, John Reed luôn được gia đình cho học tại các ngôi trường danh tiếng nhất. Năm 1910, sau khi tốt nghiệp đại học Harvard, John Reed đã có dịp chu du tới nhiều miền đất lạ, gặp gỡ những con người xa lạ và tiếp cận với nhiều nền văn hoá, dòng tư tưởng mới. Sức hút của những chuyến đi xa, sự thôi thúc của một tâm hồn phóng khoáng, ưa giãi bày quan điểm, thích bùng nổ đã khiến ông quyết định chọn nghề báo.

Và trong những tháng ngày tác nghiệp, đặc biệt là trong những chuyến đi xa, như tới Mexico năm 1913 để viết về các cuộc cách mạng nước này cho tờ Metropolitan Magazine, tới quảng trường Madison Square Garden để viết về cuộc đình công của công nhân, hay tới Colorado để viết về cuộc thảm sát Ludlow… đã khiến cho John Reed dần có những suy nghĩ về giai cấp, về bóc lột, giàu nghèo… những tư tưởng của một người cộng sản mà bản thân ông có lẽ cũng không tự ý thức được. Và con đường dẫn ông tới nước Nga, đến với cách mạng tháng Mười cũng bắt đầu mở ra từ đấy.

Sự ra đời của “Mười ngày rung chuyển thế giới”

John Reed đến Nga vào mùa hè năm 1917. Tại đây, ông đã được chứng kiến bước chuyển mình của xã hội Nga, báo trước một cơn bão cách mạng đang tràn đến. Bên cạnh chính quyền của chính phủ lâm thời giai cấp tư sản, có một chính quyền khác tồn tại song song của giai cấp công nhân, nông dân và binh lính nước Nga với các Xô viết đại biểu.

Khi Cách mạng Tháng Mười Nga nổ ra vào ngày 7/11/1917, John Reed đã thấy được sức mạnh của quần chúng công nông binh dưới sự dẫn dắt và lãnh đạo của những người Bolshevik. Ông đã có mặt ở các địa điểm nóng bỏng nhất, từ Cung điện Mùa đông ở thành Petrograd đến điện Smol’nyi trong những ngày khởi nghĩa giành chính quyền và cả ở bên các chiến lũy trên đường phố Moskva sục sôi cách mạng.

Có thể nói, những ngày sát cánh bên các chiến sĩ Bolshevik, lần diện kiến Lênin, hay những lần bị chính quyền Mỹ bắt giam… đã khiến những tư tưởng cộng sản, tư tưởng về cách mạng tháng Mười, về cái lý của những người cộng sản, của giai cấp công nhân đứng lên giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp thấm đẫm trong tâm hồn nhà báo – chiến sĩ John Reed. Và, “Mười ngày rung chuyển thế giới” đã ra đời trong hoàn cảnh ấy.

Xuất bản năm 1919 tại New York, cuốn sách gồm 12 chương, diễn giải nguyên nhân dẫn đến cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại và quá trình diễn ra sự kiện lịch sử này. Mặc dù John Reed giới thiệu với người đọc về cuộc cách mạng qua góc nhìn của một người ngoại quốc nhưng ông đã đem đến cho độc giả một cảm nhận hết sức chân thực và toàn cảnh về cuộc cách mạng vĩ đại ở nước Nga. Có thể nói, trong “Mười ngày rung chuyển thế giới”, John Reed đã làm được đúng như những gì chính ông từng kì vọng, đó là: “Kể lại lịch sử những ngày vĩ đại ấy bằng con mắt của một người ghi chép có lương tâm, cố gắng ghi lại sự thật”.

Ngay sau khi xuất bản, “Mười ngày rung chuyển thế giới” đã thu hút được sự chú ý đặc biệt của dư luận. Và cho tới nhiều thập kỷ sau, tác phẩm này vẫn được tạp chí New York Times xếp vào danh sách “100 ấn phẩm báo chí xuất sắc nhất mọi thời đại”.

Lênin đã đánh giá rất cao cuốn sách “Mười ngày rung chuyển thế giới”. Có thể nói, sự trân trọng của Lenin đối với cuốn sách này cũng chính là sự trân trọng mà lãnh tụ Bolshevik dành cho tác giả John Reed, một nhà báo Mỹ đã sống tại Nga trong những ngày sục sôi của Cách mạng Tháng Mười để có những trang viết rất chân thực, sâu sắc và xúc động về sự kiện này. Chính vì điều đó, sau khi qua đời vào ngày 17/10/1920, thi hài ông được vinh dự mai táng gần chân tường điện Kremlin của Mos

 

Quan điểm Marxist vẫn ‘vững như bàn thạch’ trong thế kỷ 21

Có nhiều cách giải thích về tư tưởng của Marx. Nhiều trong số đó dựa trên phân tích khách quan. Nhưng cũng có người tìm cách bác bỏ Marx bằng cách viện dẫn những luận điệu chống Cộng sản theo kiểu hoang dã.

Tất nhiên, không phải lúc nào những nhận định của Marx cũng chính xác, nhưng ông vẫn là một gương mặt đáng được coi trọng vì những quan điểm vẫn còn nguyên giá trị trong thế kỷ 21.

1. Marx không chỉ đơn giản gạt bỏ chủ nghĩa tư bản. Ông ấy đã rất ấn tượng về nó. Ông cho rằng đây là hệ thống sản xuất có năng suất cao nhất mà thế giới từng đạt được.

“Giai cấp tư sản, trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại. Sự chinh phục những lực lượng thiên nhiên, sự sản xuất bằng máy móc, việc áp dụng hoá học vào công nghiệp và nông nghiệp, việc dùng tàu chạy bằng hơi nước, đường sắt, máy điện báo, việc khai phá từng lục địa nguyên vẹn, việc khai thông các dòng sông cho tầu bè đi lại được, hàng khối dân cư tựa hồ như từ dưới đất trôi lên, có thế kỷ nào trước đây lại ngờ được rằng có những lực lượng sản xuất như thế vẫn nằm tiềm tàng trong lòng lao động xã hội?”.

– Tuyên ngôn Cộng sản.

2. Marx đã dự đoán chính xác rằng chủ nghĩa tư bản sẽ thúc đẩy cái mà ngày nay gọi là toàn cầu hóa. Ông nhìn thấy chủ nghĩa tư bản tạo ra một thị trường thế giới, trong đó các quốc gia sẽ ngày càng phụ thuộc lẫn nhau.

“Do bóp nặn thị trường thế giới, giai cấp tư sản đã làm cho sản xuất và tiêu dùng trong tất cả các nước mang tính chất thế giới. Mặc cho bọn phản động đau buồn, nó đã làm cho công nghiệp mất cơ sở dân tộc. Những ngành công nghiệp dân tộc đã bị tiêu diệt và đang ngày càng bị tiêu diệt… Thay cho những nhu cầu cũ được thoả mãn bằng những sản phẩm trong nước, thì nảy sinh ra những nhu cầu mới, đòi hỏi được thoả mãn bằng những sản phẩm đưa từ những miền và xứ xa xôi nhất về. Thay cho tình trạng cô lập trước kia của các địa phương và các dân tộc vẫn tự cung tự cấp, ta thấy phát triển những quan hệ phổ biến, sự phụ thuộc phổ biến giữa các dân tộc”.

– Tuyên ngôn Cộng sản.

3. Không giống như các xã hội trước đây, có xu hướng bảo tồn cách thức sản xuất truyền thống, chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh nhờ việc phát minh ra các phương thức sản xuất mới và ảnh hưởng mạnh đến lối sống của con người.

Công nghệ đã thay đổi cuộc sống của chúng ta với tốc độ nhanh hơn bao giờ hết. Sản phẩm cũ liên tục phải nhường chỗ cho những sản phẩm mới (và tương tự với những người tạo ra chúng). Điều này có thể gây lo lắng sâu sắc, ngay cả khi những thay đổi mang tính tích cực. Nó có thể khiến nhiều người cảm thấy bị bỏ lại phía sau vì các giá trị và cách sống của họ không còn chỗ đứng trên thế giới.

Ngoài ra, việc sử dụng các công nghệ và phương pháp sản xuất mới để theo đuổi lợi nhuận cho số ít có thể dẫn đến những hậu quả không lường trước được. (Nếu sống trong thời đại của chúng ta, chắc chắn Marx sẽ tuyên bố rằng biến đổi khí hậu là hậu quả của một thứ chủ nghĩa tư bản không được kiểm soát.)

“Giai cấp tư sản không thể tồn tại, nếu không luôn luôn cách mạng hoá công cụ sản xuất, do đó cách mạng hoá những quan hệ sản xuất, nghĩa là cách mạng hoá toàn bộ những quan hệ trong xã hội. Trái lại đối với tất cả các giai cấp công nghiệp trước kia thì việc duy trì nguyên vẹn phương thức sản xuất cũ là điều kiện kiên quyết cho sự tôn tại của họ. Sự đảo lộn liên tiếp của sản xuất, sự rung chuyển không ngừng trong tất cả những quan hệ xã hội, sự luôn luôn hoài nghi và sự vận động làm cho thời đại tư sản khác với tất cả các thời đại trước. Tất cả những quan hệ xã hội cứng đờ và hoen rỉ, với cả tràng những quan niệm và tư tưởng vốn được tôn sùng từ nghìn năm đi kèm những quan hệ ấy, đều đang tiêu tan; những quan hệ xã hội thay thế những quan hệ đó chưa kịp cứng lại thì đã già cỗi ngay. Tất cả những gì mang tính đẳng cấp và trí tuệ đều tiêu tan như mây khói; tất cả những gì là thiêng liêng đều bị ô uế, và rốt cuộc, mỗi người đều buộc phải nhìn những điều kiện sinh hoạt của họ và những quan hệ giữa họ với nhau bằng con mắt tỉnh táo”.

– Tuyên ngôn Cộng sản.

4. Các công ty hùng mạnh, sự tập trung của cải và các phương pháp sản xuất mới khiến các chuyên gia độc lập và thương gia trung lưu ngày càng khó duy trì vị thế, khi kỹ năng của họ không còn được trọng dụng. Nói cách khác, Marx đã tiên liệu về sự tiến bộ của các xã hội tư bản.

“Những nhà tiểu công nghiệp, tiểu thương nghiệp và người thực lợi nhỏ, thợ thủ công và nông dân là những tầng lớp dưới của tầng lớp trung đẳng xa kia, đều bị rơi xuống hàng ngũ giai cấp vô sản, một phần vì số vốn ít ỏi của họ không đủ cho phép họ quản lý những xí nghiệp, nên họ bị sự cạnh tranh của bọn tư bản hơn đánh bại, một phần vì sự khéo léo nhà nghề của họ bị những phương pháp sản xuất mới làm giảm giá trị đi. Thành thử giai cấp vô sản được tuyển mộ trong tất cả các giai cấp của dân cư”.

– Tuyên ngôn Cộng sản.

5. Marx không tìm cách xóa bỏ sở hữu tài sản. Ông không muốn đại đa số mọi người có ít của cải vật chất hơn. Ông không phải là người theo chủ nghĩa duy vật không tưởng.

Điều mà ông phản đối là một lượng lớn tài sản và của cải của xã hội lại thuộc sở hữu của một số ít các nhà tư bản trong giai cấp tư sản. Trên thực tế, ở phần cuối của trích dẫn dưới đây, Marx và F. Engels buộc tội chủ nghĩa tư bản tước đoạt tài sản mà người lao động xứng đáng được hưởng:

“Đặc điểm nổi bật của chủ nghĩa cộng sản không phải là xóa bỏ tài sản nói chung, mà là xóa bỏ tài sản tư sản. Nhưng chế độ tư hữu tư sản hiện thời, lại là biểu hiện cuối cùng và đầy đủ nhất của phương thức sản xuất và chiếm hữu sản phẩm dựa trên những đối kháng giai cấp, trên cơ sở những người này bóc lột những người kia.

Theo ý nghĩa đó, những người Cộng sản có thể tóm tắt lý luận của mình thành một luận điểm duy nhất này là: xoá bỏ chế độ tư hữu.

Người ta trách những người cộng sản chúng tôi là muốn xoá bỏ sở hữu do cá nhân mỗi người làm ra, kết quả lao động của cá nhân, sở hữu mà người ta bảo là cơ sở của mọi tự do, mọi hoạt động và mọi sự độc lập của cá nhân.

Cái sở hữu làm ra, kiếm được một cách lương thiện và do lao động của bản thân tạo ra! Phải chăng người ta muốn nói đến cái hình thức sở hữu có trước sở hữu tư sản, tức là sở hữu của người tiểu tư sản, của người tiểu nông? Chúng tôi có cần gì phải xoá bỏ cái đó, sự phát triển của công nghiệp đã xoá bỏ và hàng ngày vẫn tiếp tục xoá bỏ cái đó rồi”.

– Tuyên ngôn Cộng sản.

6. Marx nghĩ rằng con người có khuynh hướng tự nhiên là cảm thấy được kết nối với các đối tượng mà họ đã làm hoặc tạo ra.

Ông gọi đây là sự “đối tượng hóa” của lao động, theo đó ý ông muốn nói rằng chúng ta đặt một cái gì đó của bản thân vào công việc của mình. Khi một người không thể kết nối với công trình sáng tạo của chính mình, khi một người cảm thấy mình “ở bên ngoài” với nó, thì kết quả là sẽ bị tha hóa. Giống như thể bạn đang tạc một bức tượng, sau đó ai đó đã lấy nó khỏi bạn và bạn không bao giờ được phép nhìn thấy hoặc chạm vào nó nữa. Marx cho rằng công nhân ở vị trí tương đương như vỵ trong các nhà máy tư bản thế kỷ 19.

Vậy thì điều gì tạo nên sự tha hóa lao động?

“Đầu tiên, lao động trở thành mặt bên ngoài của người lao động, tức là nó không thuộc về bản chất bên trong của người đó. Vì vậy, trong công việc của mình, người lao động phủ nhận chính mình. Anh ta không hạnh phúc, không được phát triển tự do năng lực thể chất và tinh thần. Thậm chí, lạo động trở thành sự hành hạ thể xác và hủy hoại tâm trí. Người lao động thỉ cảm thấy mình là chính mình khi không làm việc, và khi làm việc thì thì anh ta không còn là mình nữa. Anh ta cảm thấy như ở nhà khi anh ta không làm việc, và khi anh ta làm việc anh ta không cảm thấy như ở nhà. Do đó, lao động của anh ta không phải là tự nguyện, mà là ép buộc. Đó là lao động cưỡng bức”.

– Bản thảo kinh tế – triết học năm 1844.

7. Marx muốn chúng ta có thể thoát khỏi sự chuyên chế của sự phân công lao động và những ngày làm việc kéo dài, thứ ngăn cản các cá nhân phát triển năng lực và tài năng tiềm ẩn.

Trong xã hội tư bản, chúng ta trở thành người phục vụ cho một loại hoạt động chuyên biệt, và các khía cạnh khác của nhân cách chúng ta không được phát triển. Trong một đoạn văn đầy khát vọng, mà Marx viết khi còn trẻ, ông đã định hình tầm nhìn của mình như sau:

“Vì ngay khi sự phân phối sức lao động ra đời, mỗi người có một lĩnh vực hoạt động cụ thể, riêng biệt, bị ép buộc, và từ đó anh ta không thể thoát ra. Anh ta là một thợ săn, một người đánh cá, một người chăn gia súc, hay một nhà phê bình nghiêm khắc, và phải duy trì như vậy nếu anh ta không muốn mất phương tiện mưu sinh của mình. Trong khi đó xã hội Cộng sản là nơi không ai bị bắt buộc tham gia một lĩnh vực hoạt động chuyên biệt nào, mà mỗi người đều có thể làm bất kỳ việc gì mình muốn trong xã hội điều tiết sản xuất chung, và do đó, hôm nay tôi có thể làm việc này, rồi ngày mai chuyển sang một việc khác, đi săn vào buổi sáng, câu cá vào buổi chiều, chăn gia súc vào buổi tối, chỉ trích sau bữa ăn tối, chỉ vì tôi có trí tuệ, mà không bao giờ trở thành thợ săn, người đánh cá, người chăn gia súc hay nhà phê bình”.

– Hệ tư tưởng Đức.

8. Marx không phải là một người theo chủ nghĩa quyết định kinh tế thô thiển. Cách mọi người suy nghĩ và hành động để áp dụng quan điểm của ông mới là vấn đề.

Trong một bức thư Engels viết sau khi Marx qua đời, ông nhấn mạnh tầm quan trọng của kinh tế học, nhưng ông cũng cố gắng làm rõ rằng Marx và ông đã bị hiểu sai, và đó là một phần lỗi của chính họ (hãy chú ý đến sự phê phán những người được gọi là “nhà Marxist” ở phần cuối của đoạn trinh dẫn):

“Bản thân tôi và Marx cũng phải chịu một phần trách nhiệm về việc những người trẻ tuổi đôi khi nhấn mạnh vào mặt kinh tế một cách quá mức. Chúng tôi phải nhấn mạnh vào các nguyên tắc chính khi tranh luận với đối thủ, những người đã phủ nhận nó, và không phải lúc nào chúng tôi cũng có thời gian, địa điểm hoặc cơ hội để diễn giải cho họ về các yếu tố khác có tương tác. Nhưng nói đến việc trình bày một phần của lịch sử, tức là để tạo vận dụng vào thực tiễn, thì lại là một vấn đề khác và không có sai sót nào được cho phép. Tuy nhiên, thật không may, điều đó xảy ra quá thường xuyên khi mọi người nghĩ rằng họ đã hiểu đầy đủ một lý thuyết mới và có thể áp dụng nó… Và tôi không thể miễn cho nhiều ‘Người theo chủ nghĩa Marx’ gần đây khỏi sự sỉ nhục này, cho thứ rác rưởi tuyệt vời nhất đã được họ tạo ra…”.

– Thư Engels gửi J. Bloch ở Königsberg

Nguồn: Eight Marxist Claims That May Surprise You; Mitchell

Nguyễn Trọng Luật (NCS2018)

 

 

Một số chiêu bài bôi nhọ lãnh đạo Việt Nam của các thế lực thù địch trên không gian mạng

 

Chuẩn bị bước vào Đại hội XIII Đảng Cộng sản Việt Nam, trong thời gian qua, với âm mưu thực hiện “diễn biến hòa bình”, một số đối tượng đã ra sức kích động, xuyên tạc những luận điệu sai lệch sự thật, với âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Chúng lợi dụng truyền thông, tận dụng sự phát triển của các trang mạng xã hội để chia sẻ, lan truyền thông tin xấu với động cơ lợi ích cá nhân.

 

Thời gian gần đây, một số đối tượng còn xuyên tạc, bôi nhọ, hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước và một số địa phương. Thủ đoạn của chúng là tạo hàng loạt bài viết, video, hình ảnh xuyên tạc để đăng tải trên tất cả các mạng xã hội. Tần suất các bài viết được tải lên mạng hàng ngày, hàng giờ. Điều này khiến cho các công cụ tìm kiếm thông tin (chủ yếu là google) hiển thị các bài viết đó ở những vị trí đầu tiên khi được người dùng tìm kiếm. Với phương thức “mưa dầm thấm lâu”, một sự kiện xuyên tạc nhiều lần cùng một nội dung, chúng khiến cho người đọc từ bàng quan đến nghi ngại, và từ nghi ngại đến suy giảm niềm tin. Đây là thủ đoạn rất nguy hiểm của các thế lực thù địch, bởi hệ thống máy chủ đặt ở nước ngoài, việc kiểm soát rất khó khăn.

 

Điều nực cười hơn nữa là khi các đối tượng bị xử lý về hành vi Tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước, những kẻ cơ hội khác lại kích động, lấy chiêu bài dân chủ, nhân quyền “để đấu tranh”. Chúng đòi hỏi thực hiện pháp luật trong khi chính các đối tượng trên lại là những người không tôn trọng pháp luật. Được sự hậu thuẫn của tổ chức phản động ở nước ngoài, chúng xuyên tạc cái gọi là “đàn áp nhân quyền, thiếu tự do dân chủ”, kích động chống phá, gây phức tạp tình hình ANTT. Chúng đưa ra những viễn cảnh về tự do, dân chủ nhưng không chịu tìm hiểu rằng ở những “miền đất hứa” của chúng, hành vi tương tự cũng là vi phạm pháp luật nghiêm trọng.

 

Không ai là hoàn hảo. Dù là vĩ nhân, lãnh đạo, họ cũng có những khoảng trời, cuộc sống thường nhật riêng. Những thế hệ lãnh đạo đất nước vẫn đang kiên trì, tiếp nối nhau trong thực hiện mục tiêu xây dựng đất nước phồn vinh, giàu mạnh, tập trung chăm lo đời sống cho người dân. Dĩ nhiên, trước một chủ trương, một vấn đề, mỗi người đều có cách nhìn nhận riêng, quan điểm khác biệt. Tuy nhiên, không thể vì mưu cầu lợi ích cá nhân mà có hành vi xúc phạm, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, dù trong bất cứ trong hoàn cảnh nào.

 

Ai cũng có quyền tiếp nhận thông tin, quyền thể hiện, chia sẻ những quan điểm, chính kiến của bản thân trước nhiều vấn đề, sự kiện chính trị. Vậy làm thế nào để giữ cho mình sự chủ động, để không bị lung lay, tiêm nhiễm những thông tin vu cáo, bịa đặt trên mạng xã hội? Giữa mớ hỗn độn thông tin, mỗi người cần tỉnh táo để không bị lôi kéo, biến mình thành con rối của kẻ xấu, tiếp tay cho những mưu đồ thấp hèn. Điều này vừa gây nguy hại đến an ninh quốc gia, vừa vi phạm pháp luật, trái với đạo lý, thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam.