Chủ Nhật, 9 tháng 7, 2023

Cảnh giác với những tác phẩm “núp bóng nghệ thuật” để tẩy lão người đọc

 Lợi dụng các nền tảng mạng xã hội như Facebook, Zalo, YouTube và lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí, một số “văn tài tha hóa” đã cho ra đời những sản phẩm "núp bóng tác phẩm nghệ thuật", làm tha hóa tư tưởng con người và tác động tiêu cực đến đời sống tinh thần xã hội.

Văn nghệ sĩ tha hóa sẽ cho ra những đứa con tinh thần lạc lối, nguy hại

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”(1). Trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, những văn nghệ sĩ yêu nước đã sử dụng một loại vũ khí có sức mạnh “thanh cao mà đắc lực”-thứ vũ khí không được chế tác bằng kim loại, không gây sát thương, nhưng mang lại hiệu quả chiến đấu to lớn, góp phần làm nên những chiến thắng lẫy lừng của dân tộc Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc ở thế kỷ 21.

Nhà thơ Sóng Hồng(2) đã viết: “Dùng bút làm đòn xoay chế độ/ Mỗi vần thơ: Bom đạn phá cường quyền” ("Là thi sĩ"). Những vần thơ như thay cho lời khẳng định về giá trị, vị trí, vai trò của VHNT trong kháng chiến giải phóng dân tộc cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.

Trong sự nghiệp đổi mới, Đảng ta xác định, VHNT là lĩnh vực rất quan trọng để bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm, hoàn thiện nhân cách, đạo đức, trí tuệ, bản lĩnh của con người. Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa X) khẳng định: “VHNT là lĩnh vực rất quan trọng, đặc biệt tinh tế của văn hóa; là nhu cầu thiết yếu, thể hiện khát vọng chân, thiện, mỹ của con người; là một trong những động lực to lớn, trực tiếp góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội và sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam...

VHNT Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế phải phát triển toàn diện và mạnh mẽ, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ”(3).

Ngày nay, trong điều kiện đất nước phát triển, đặc biệt là sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tư duy sáng tạo văn học cũng như tâm lý học sáng tạo nghệ thuật của văn nghệ sĩ đã được đổi mới, mở rộng và phát triển mạnh mẽ, hội nhập cùng với xu hướng hiện đại của các nước tiên tiến trên thế giới. Cũng từ đó, VHNT ngày càng có cách nhìn phóng khoáng hơn, biên độ sáng tạo được mở rộng hơn, hệ thống tiếp nhận cũng được định hình theo sự phân tầng của tư duy nghệ sĩ; góp phần đổi mới, đa dạng hơn về đề tài, nội dung tư tưởng.

Lợi dụng các nền tảng mạng xã hội như Facebook, Zalo, YouTube, một số “văn tài tha hóa” đã cho ra đời những sản phẩm "núp bóng tác phẩm nghệ thuật". Ảnh minh họa 

Tuy nhiên, thời gian qua xuất hiện một số văn nghệ sĩ đã bị các thế lực thù địch lợi dụng, lôi kéo, mua chuộc; hay thậm chí chính họ bị tha hóa về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Những đối tượng này thành lập các hội, nhóm, “sáng tạo” ra một thứ nghệ thuật đồi trụy "núp bóng" văn hóa, văn chương; tạo ra những cái gọi là “tác phẩm nghệ thuật” thiếu chuẩn mực, thiếu đạo đức, chà đạp truyền thống lịch sử, làm ô uế thuần phong mỹ tục của dân tộc với những tư duy lệch lạc, những câu chuyện rẻ rúng, những thứ ngôn từ thô tục... để phủ nhận thành quả cách mạng mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã đổ biết bao xương máu mới giành được.

Thậm chí, “tác phẩm nghệ thuật” ấy được lồng ghép và tạo dựng những hình ảnh dung tục với một lối tư duy phi truyền thống, phi văn chương, phi nghệ thuật, phi chính trị... nhằm mục đích tuyên truyền, kích động, bôi nhọ lịch sử, bôi nhọ lãnh tụ, bôi nhọ anh hùng dân tộc, bôi nhọ nền tảng truyền thống văn hóa ngàn đời của dân tộc...

Ví như những cuốn sách: “Bên kia bờ ảo vọng”, “Một cơn gió bụi”, “Tây Hùng Vương”, “Mối chúa”, “Đất mồ côi”... làm cho người tiếp nhận, nhất là thế hệ trẻ bị hoang mang, dẫn đến nhận thức lệch lạc, đánh mất niềm tin vào cuộc sống, trật tự xã hội bị đảo lộn, tư duy con người bị xô lệch, mất phương hướng.

Xây dựng phòng tuyến văn hóa đủ sức ngăn ngừa những tác phẩm lệch lạc, xấu độc

Đảng, Nhà nước ta và các cơ quan quản lý không hạn chế, kìm hãm tư duy sáng tạo nghệ thuật của văn nghệ sĩ, nhưng định hướng, mong muốn, khuyến nghị các văn nghệ sĩ cần đặt những sản phẩm sáng tạo-những thành quả lao động nghệ thuật-vào đúng vị trí của nó và phù hợp với các giá trị chuẩn mực của cộng đồng, xã hội. 

Trong bối cảnh thông tin bùng nổ hiện nay, cần thực hiện nhiều giải pháp để xây dựng phòng tuyến văn hóa đủ sức ngăn ngừa hiệu quả những hệ lụy tiêu cực từ các tác phẩm VHNT có nội dung thấp kém, xấu độc. Giải pháp có ý nghĩa quan trọng hàng đầu là tiếp tục quán triệt sâu sắc, thực hiện hiệu quả những định hướng của Đảng về VHNT gắn với phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ mới.

Đặc biệt chú trọng quán triệt và thực hiện tốt nội dung Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa X) "Về tiếp tục xây dựng và phát triển VHNT trong thời kỳ mới" và những chương trình, kế hoạch về phát triển văn hóa, VHNT mà các ban, bộ, ngành, cơ quan Trung ương và chính quyền các địa phương đã xác định.

Coi trọng và phát huy vai trò, trách nhiệm của những người làm nhiệm vụ “gác cổng nghệ thuật”, những cơ quan trực tiếp làm công tác biên tập, xuất bản, phát hành, tránh để những sản phẩm phi nghệ thuật được xuất bản, phát tán, lưu hành trong đời sống xã hội. Các cơ quan quản lý, cơ quan biên tập, xuất bản phải thường xuyên bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ làm công tác biên tập; phối hợp chặt chẽ với cơ quan liên quan để phân tích, sàng lọc và nắm được tư tưởng văn nghệ sĩ thông qua sản phẩm sáng tạo.

Bên cạnh đó, những người làm công tác quản lý VHNT phải thực sự nhạy bén trong nhận định, đánh giá tác phẩm nghệ thuật, biết phân biệt rõ những tác phẩm nghệ thuật chân chính với những sản phẩm “núp bóng nghệ thuật” được tạo ra bởi tư duy thấp hèn, phục vụ những lợi ích cá nhân không lành mạnh và mang động cơ đen tối.

Đối với đội ngũ văn nghệ sĩ và cán bộ, đảng viên, cần nhận thức đầy đủ về vai trò, tầm quan trọng của VHNT trong đời sống tinh thần của nhân dân. Lĩnh vực VHNT là một mặt trận mà những “chiến sĩ văn hóa” cần đem hết tài năng, trí tuệ và nhiệt huyết của mình để cống hiến, sáng tạo những tác phẩm VHNT có giá trị.

Cùng với đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên nêu cao tinh thần đấu tranh với những tác phẩm “núp bóng văn hóa”, những tác phẩm phi nghệ thuật và những cuốn sách có tư tưởng lệch lạc, ý đồ chống phá Đảng, Nhà nước, bôi nhọ lịch sử dân tộc, ảnh hưởng tiêu cực đến tư tưởng, nhận thức, tình cảm của nhân dân, nhất là thế hệ trẻ.

Chúng ta tôn trọng sự tự do sáng tạo nhưng phải quan tâm bồi dưỡng tư tưởng chính trị, quan điểm, lập trường cho văn nghệ sĩ. "Lá, cành" của "cây xanh" văn nghệ sĩ phải luôn "quang hợp" ánh sáng lý tưởng cách mạng, nếu không, "cây" sẽ bị héo và "quả" sẽ sài đẹn. Lịch sử nghệ thuật cho thấy, các nghệ sĩ lớn luôn tự do sáng tạo theo một xu hướng nhất định.

Sáng tạo VHNT theo những nguyên lý cơ bản của mỹ học Mác-xít là sáng tạo theo tinh thần nhân văn, tiến bộ, phù hợp với quy luật tư tưởng và tình cảm tâm lý tiếp nhận của con người. Sứ mệnh cao cả nhất của văn nghệ sĩ là tự do sáng tạo vì nước, vì dân, vì chủ nghĩa xã hội, vì những phẩm giá tốt đẹp của con người và giá trị chân, thiện, mỹ của xã hội. 

Trong xã hội hiện đại, để góp phần cho VHNT đi đúng hướng và có sức sống dồi dào, sức lan tỏa sâu rộng, các cơ quan chức năng và các hội chuyên ngành VHNT cần tiếp tục tổ chức các chuyến đi thực tế để văn nghệ sĩ có điều kiện tìm hiểu kỹ hơn về đời sống xã hội, từ đó có những cảm nhận vui buồn, cảm thông và chia sẻ với các tầng lớp nhân dân, nhất là người lao động.

Vốn sống của văn nghệ sĩ không chỉ loanh quanh trong một cơ quan, địa phương, ngành nghề mà phải vươn ra khắp mọi miền Tổ quốc. Sinh thời, nhà văn Nam Cao từng nhấn mạnh: “Sống đã rồi hãy viết”.

Vì lẽ đó, việc duy trì tổ chức những chuyến đi thực tế để các văn nghệ sĩ được sống, được hít thở, được đập cùng nhịp đập trái tim của nhân dân ở mọi lúc, mọi nơi trên đất nước Việt Nam sẽ góp phần giúp họ am hiểu cuộc đời, biết chắt lấy tinh hoa đời sống để xây dựng mô hình, chất liệu, sức sống cho tác phẩm VHNT.

SỰ NGÂY THƠ VỀ BỘ QUÂN PHỤC VÀ MỘT CHẾ ĐỘ ĐÃ LỤI TÀN

Dù đã gần 50 tuổi nhưng anh Hanh vẫn có niềm đam mê đặc biệt với mô tô phân khối lớn.

Cứ cuối tuần, anh cùng nhóm bạn lại tụ tập để bàn về xe cộ. Lần này, anh khá bất ngờ khi thấy Minh mặc trên mình một bộ đồ lạ, mang dáng dấp quân đội nước ngoài, đem theo thùng quần áo dã ngoại, nói là tặng anh em trong nhóm chơi xe:

- Mình đi xe phân khối lớn phải mặc đồ "chất lính" cho nó ngầu các anh ạ. Em được anh bạn “thửa” cho một bộ. Thấy hay, em mua thêm tặng các anh để mặc cho có “đồng đội”.

Nhìn bộ đồ trên người Minh có đính cờ nước ngoài trước ngực, lại gần giống bộ quần áo của ngụy quân xưa, anh Hanh chột dạ hỏi:

- Chú nói thật đi, chú kiếm bộ đồ này ở đâu? Ai xúi giục chú mặc nó?

- Sao anh nói nặng lời thế. Một người bạn chơi cùng em trên mạng xã hội, chuyên cung cấp đồ này đã tặng em. Nó bảo người đô con như em mặc rất hợp. Em mặc thấy ưng mắt thì mua thêm mấy bộ tặng anh em. Anh lại có ý nghi ngờ lòng tốt của em rồi!

- Chú có biết, bộ quần áo chú đang mặc trên người từ dáng dấp đến màu sắc giống với bộ quần áo của quân xâm lược, quân tay sai bán nước, gây bao đau thương cho nhân dân ta không? Bộ quần áo ấy gợi lại ký ức chiến tranh mà ông cha chúng ta đã mất bao máu xương và nước mắt mới có được hòa bình hôm nay. Điều đó chú hẳn phải biết chứ?

Ảnh minh họa / tuyengiao.vn  

- Ôi, anh suy nghĩ nặng nề quá rồi. Quần áo là tự do, có ai cấm đoán gì đâu. Em thấy hợp thì em mặc. Trên mạng xã hội có cả những nhóm chơi quân phục, quần áo bụi bặm. Họ biết em chơi mô tô nên có ý qua em, mời nhóm mình mặc trang phục này đi dã ngoại thành từng đoàn cho nó oách. Đơn giản thế thôi mà anh!

- Chú Minh ạ, chú và cả bạn chú đang bị các thế lực phản động lôi kéo, thực hiện những hành vi không tốt rồi. Nếu chú để ý kỹ, các nhóm mặc đồ này không chỉ dừng ở mặc quần áo mà còn kêu gọi tụ tập, diễu hành. Mục đích của chúng là khơi dậy quá khứ đau thương của dân tộc, muốn tuyên truyền hình ảnh của ngụy quân, ngụy quyền xưa. Xa hơn, qua các hoạt động đó, chúng còn tuyên truyền, nói xấu chế độ, nói xấu Đảng, Nhà nước ta... Anh không ngăn cản chú mặc trang phục yêu thích. Nhưng chú phải cân nhắc, lựa chọn sao cho phù hợp với văn hóa và không xúc phạm tới lịch sử dân tộc, với thế hệ ông cha, trong đó có cả ông của chú và bố mẹ của anh đấy!

Nghe anh Hanh phân tích, tất cả thành viên trong nhóm đều đồng tình "đúng đấy Minh ạ". Lúc này Minh mới chột dạ, cởi phăng chiếc áo ra và nói:

- Em nhận thức đơn giản, ngây thơ quá. Em xin lỗi anh Hanh và tất cả anh em. Em sẽ bỏ bộ đồ này ngay ạ!

Tháng 7 - lời tri ân cho ngày Thương binh liệt sĩ

Trong những cuộc đấu tranh gian khổ giành quyền độc lập của dân tộc, để chiến thắng những kẻ thù rất hùng mạnh, vô số người con yêu thương của Việt Nam đã dũng cảm hiến dâng cuộc đời cho Tổ quốc, cho độc lập dân tộc. Họ đã hy sinh những phần thân thể của mình, sự sống của mình cho Tổ quốc; hy sinh nghĩa vụ gia đình, hạnh phúc bản thân cho độc lập dân tộc; để lại những người con, người vợ, người mẹ… không ai chăm sóc; để lại những giọt nước mắt, nỗi đau tột cùng cho những người thân. 

Đất nước đau mình đẫm lệ khóc vì các anh, điều mà những người còn sống có thể làm cho các anh đó là cố gắng sống sao cho xứng đáng với công ơn những người đã hy sinh vì nền độc lập dân tộc, và sẽ luôn quan tâm chăm sóc gia đình những người có công với đất nước, thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn, đền ơn đáp nghĩa.

Tháng Bảy là tháng tri ân, tưởng nhớ đến các anh hùng, liệt sĩ, các mẹ Việt Nam anh hùng, các thương, bệnh binh đã hi sinh xương máu của mình, tô thắm những trang sử vẻ vang của dân tộc. Ngày 27-7-1947 được Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn làm Ngày Thương binh toàn quốc (Và từ năm 1955, ngày 27/7 được đổi tên thành ngày Thương binh Liệt sĩ) để đồng bào cả nước "tỏ lòng hiếu nghĩa bác ái và tỏ lòng yêu mến thương binh".

Từ năm 1947, ngày Thương binh được tổ chức thường kỳ hàng năm. Khi còn sống, Hồ Chủ Tịch luôn rất quan tâm về các chính sách đối với những thương binh, liệt sĩ, người thường xuyên gửi thư thăm hỏi và gửi quà cho các anh chị em thương binh và các gia đình liệt sĩ. Đảng và Nhà nước ta đã và đang có rất nhiều chính sách ưu đãi về cả vật chất lẫn tinh thần đối với những người có công, cũng như gia đình, con em của họ. Cách đây gần 20 năm, ngày 29-8-1994, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sỹ và gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng. Pháp lệnh đã được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2000 và 2002. Để phù hợp với điều kiện thực tế của giai đoạn hiện nay, năm 2005, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng thay thế cho Pháp lệnh 1994 với nhiều quy định thiết thực ưu đãi người có công như: Liệt sĩ được Nhà nước cấp bằng Tổ quốc ghi công, Liệt sĩ được tổ chức báo tử, truy điệu, an táng. Lễ truy điệu được tổ chức trọng thể tại địa phương nơi cư trú của gia đình. Thân nhân liệt sĩ được trợ cấp tiền tuất một lần khi báo tử, con của liệt sĩ được ưu tiên trong tuyển sinh và tạo việc làm, ưu đãi trong giáo dục và đào tạo. Các mẹ Việt Nam anh hùng được hưởng các chế độ ưu đãi như chế độ của liệt sĩ. Ngoài ra, còn được hưởng phụ cấp hàng tháng, được Nhà nước và nhân dân tặng nhà tình nghĩa hoặc hỗ trợ cải thiện nhà ở và nhiều ưu đãi quan tâm khác.

Đó là sự tri ân của Đảng, Nhà nước và nhân dân đối với sự hy sinh to lớn của các anh hùng dân tộc, tuy không thể nào bù đắp trọn vẹn công lao ấy, nhưng những người con Việt Nam đang xây dựng đất nước hôm nay luôn cố gắng sống sao cho xứng đáng với thế hệ đi trước, cố gắng quan tâm, chăm sóc người thân của các anh hùng thương binh, liệt sĩ.

Tưởng nhớ và tri ân với những người thương binh, liệt sĩ và gia đình của họ không phải chỉ là công việc của ngày 27/7, mà đó là việc làm thường xuyên, xuyên suốt hằng ngày, hàng tháng, hàng năm, không phải chỉ là việc của một cá nhân, một tổ chức riêng lẽ mà nó là nghĩa vụ thiêng liêng của một đất nước, một dân tộc.

Do vậy,  hãy sống sao cho xứng đáng với công lao to lớn ấy, hãy thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn và hãy chung tay cùng Đảng và Nhà nước thực hiện tích cực những hoạt động tri ân, đền ơn đáp nghĩa đến những thương binh, liệt sĩ và người thân của họ./.

MỘT QUYẾT ĐỊNH SAI LẦM CÓ THỂ DẪN ĐẾN THẾ CHIẾN THỨ BA!

     Sáng nay đọc thông tin trên mạng, TT Mỹ chính thức quyết định cung cấp bom chùm cho Ucraina, xem xong tôi thực sự ghê tởm cho vị TT Zelenxki, ông ta cùng với Mỹ muốn hủy diệt dân tộc Ucraina bằng các loại vũ khí hủy diệt của Mỹ và Nato. Trước đây khi nghe truyền thông Nga đưa tin Mỹ xây dựng các Trung tâm nghiên cứu vũ khí sinh học ở Ucraina tôi lúc đầu cũng nữa tin, nữa ngờ, song nay thì tôi tin điều đó là sự thật. Bởi vì: 
Với các loại vũ khí như đạn pháo có chứa uranium nghèo và bom chùm, đây là những thứ vũ khí mà hầu hết các nước yêu chuộng hòa bình đều lên án và phản đối, LHQ cũng đã có nghị quyết cấm xử dụng, thế nhưng TT Zelen đã bất chấp đưa về xử dụng trên đất nước mình, bất chấp hậu quả thắng thua, bởi vì dù thắng hay thua người dân Ucraina đều lãnh đủ, chất phóng xạ sẽ ô nhiễm môi trường của Ucraina và để lại hậu quả cho nhiều thế hệ mai sau; với bom chùm cũng vậy, lượng bom nổ ngay rất thấp mà nổ chậm và chờ nổ đến hàng trăm năm sau thế hệ cháu con ở Ucraina sẽ là nạn nhân và điều nguy hại của nó chính là cướp đi khả năng lao động, để lại thương tật gây hậu quả khủng khiếp cả về tâm lý và vật chất. Một lãnh đạo của một quốc gia nếu vì dân, vì nước đáng lẽ ông ta phải bằng mọi cách tìm ra giải pháp chấm dứt chiến tranh, tận dụng sức mạnh của Nato buộc Nga đàm phán thương lượng lập lại hòa bình, bảo vệ nhân dân, giữ được chủ quyền lãnh thổ… đằng này ông ta chỉ có hô hào chiến tranh, không chấp nhận đàm phán, đòi hỏi Mỹ và Nato cung cấp các loại vũ khí, kể cả vũ khí hủy diệt dân tộc mình… càng ngày càng chứng minh Zelen là người Hiếu chiến và thực hiện ý tưởng của ông chủ một cách cuồng… nhất, không nhân tính nhất. Không hiểu các phan ủng hộ TT Zelen có hiểu sự thật rõ như ban ngày này không?
Còn tôi và chắc hầu hết người dân Việt Nam đều hiểu, chúng tôi hiểu cái giá của chiến tranh, mong hai bên giảm leo thang, không dùng những thứ vũ khí giết người độc ác, ngồi vào bàn đàm phán, tìm ra giải pháp phù hợp chấm dứt chiến sự, lập lại hòa bình có tính đến lợi ích của các bên. Đó mới là con đường duy nhất đúng đắn, mọi sự gia tăng chiến tranh, đẩy mạnh viện trợ vũ khí, nhất là vũ khí hủy diệt thì không chỉ thêm dầu mà đổ xăng vào lửa… và các vị nên biết rằng khi đổ xăng vào lửa coi chừng lửa cháy cả mình, chiến tranh lan rộng, nguy cơ thế chiến ba cập kè cả châu Âu…!


Bài: Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn - nguyên Cục trưởng Cục Tuyên huấn , Tổng cục Chính trị , QĐND Việt Nam.
Yêu nước ST 

CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG LUÔN ĐƯỢC QUAN TÂM NHẤT QUÁN, THƯỜNG XUYÊN

 


Chính sách ưu đãi người có công với cách mạng luôn chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống chính sách an sinh xã hội của nước ta. Đó là chính sách đặc biệt, thực hiện cho những đối tượng đặc biệt, thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với người có công với cách mạng, tiếp nối truyền thống tốt đẹp và đạo lý “Uống nước, nhớ nguồn” của dân tộc.

Phát huy truyền thống, đạo lý tốt đẹp “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” của dân tộc, 75 năm qua, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, chế độ chăm lo đời sống vật chất, tinh thần đối với thương binh, gia đình liệt sĩ và người có công với cách mạng. Khởi đầu từ Sắc lệnh số 20/SL, ngày 16/02/1947 của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “Quy định chế độ hưu bổng thương tật và tiền tuất tử sĩ”, với ba đối tượng và hai chính sách đầu tiên, đến nay hệ thống chính sách ưu đãi người có công từng bước được hoàn thiện, đối tượng ưu đãi được mở rộng lên 12 đối tượng, cơ bản đã bao phủ được hết các đối tượng người có công với cách mạng.

Ngày 29/8/1994, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa IX đã thông qua Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng (nay gọi là Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng). Từ đó đến nay, Pháp lệnh đã trải qua 07 lần sửa đổi vào các năm: 1998, 2000, 2002, 2005, 2007, 2012 và 2020. Đây là văn bản pháp lý quan trọng thể chế hóa chủ trương, đường lối chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về công tác người có công với cách mạng, là nền tảng pháp lý để các cấp chính quyền tổ chức triển khai chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho người có công và thân nhân người có công với cách mạng.

Gần đây nhất, Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng (sửa đổi) năm 2020 được thông qua ngày 09/12/2020, gồm 07 chương và 58 điều; trong đó, bổ sung 02 chương mới: “Công trình ghi công liệt sĩ, mộ liệt sĩ” và “Nguồn lực thực hiện”; bổ sung 10 điều mới và sửa đổi nội dung 41 điều trên cơ sở kế thừa các quy định đã thực hiện ổn định trong thực tiễn thời gian trước. Pháp lệnh mở rộng việc thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng và bổ sung đối tượng người có công và thân nhân, như: người bị địch bắt tù đày do trực tiếp hoạt động cách mạng, trực tiếp chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế sau năm 1975; mở rộng đối tượng người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc; bổ sung đối tượng hưởng ưu đãi là vợ hoặc chồng liệt sĩ lấy chồng hoặc vợ khác mà nuôi con liệt sĩ đến tuổi trưởng thành hoặc chăm sóc cha mẹ đẻ liệt sĩ khi còn sống hoặc vì hoạt động cách mạng mà không có điều kiện chăm sóc cha mẹ đẻ liệt sĩ khi còn sống.

Pháp lệnh cũng chuẩn hóa các điều kiện, tiêu chuẩn xem xét công nhận người có công với cách mạng theo đúng nguyên tắc chặt chẽ, thật sự xứng đáng, tôn vinh đúng đối tượng. Các điều kiện, tiêu chuẩn đối với 12 diện đối tượng người có công với cách mạng đã được rà soát kỹ từ thực tiễn. Chế độ ưu đãi đối với người có công và thân nhân được tập hợp để quy định một cách thống nhất, rõ ràng, cụ thể hơn. Quy định rõ nguyên tắc hưởng trợ cấp, phụ cấp ưu đãi người có công với cách mạng; chế độ trợ cấp mai táng; bổ sung chế độ bảo hiểm y tế và trợ cấp tuất hàng tháng đối với vợ hoặc chồng liệt sĩ tái giá và quy định mức trợ cấp hàng tháng với Bà mẹ Việt Nam anh hùng bằng 3 lần mức chuẩn, không phụ thuộc vào số con liệt sĩ.

Năm 2021, để hướng dẫn triển khai thực hiện Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng năm 2020, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị định số 131/2021/NĐ-CP, Quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng; trong đó, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về ưu đãi người có công được nghiên cứu xây dựng chặt chẽ, khoa học, ban hành tương đối toàn diện và đầy đủ, kịp thời, đảm bảo chất lượng thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước và là cơ sở pháp lý cho việc triển khai thực hiện đồng bộ các chính sách, chế độ ưu đãi đối với người có công và thân nhân của họ, cơ bản đáp ứng được yêu cầu đặt ra.

Cùng với bảo đảm chế độ trợ cấp ưu đãi thường xuyên, nhiều chính sách hỗ trợ khác cũng được ban hành và thực hiện, như: chính sách ưu đãi về nhà ở; chính sách ưu đãi trong giáo dục, đào tạo đối với con của người có công; chăm sóc sức khoẻ; ưu tiên vay vốn từ quỹ quốc gia giải quyết việc làm để phát triển sản xuất; hỗ trợ các cơ sở sản xuất kinh doanh của thương, bệnh binh và người có công,... tạo điều kiện cho con em họ có việc làm, tăng thu nhập, ổn định cuộc sống. Hệ thống cơ sở sự nghiệp phục vụ thương binh, thân nhân liệt sĩ và người có công bao gồm: các cơ sở nuôi dưỡng thương binh, bệnh binh nặng, điều dưỡng luân phiên, các trung tâm chỉnh hình đã có nhiều hoạt động hiệu quả. Các cấp, ngành, địa phương tích cực giải quyết những phát sinh và tồn đọng, như: xác nhận, công nhận người hưởng chính sách ưu đãi, tìm kiếm và quy tập hài cốt liệt sĩ, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin bằng phương pháp giám định ADN.

Những năm gần đây, được sự quan tâm của các cấp ủy đảng, sự hưởng ứng của các bộ, ngành, đoàn thể và nhân dân cả nước, các chương trình: Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”, “Nhà tình nghĩa”, “Vườn cây tình nghĩa”, “Sổ tiết kiệm tình nghĩa”, chăm sóc bố, mẹ liệt sĩ già yếu cô đơn, con liệt sĩ mồ côi, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng,... đã được lan tỏa sâu rộng, góp phần ổn định và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần đối với thương, bệnh binh, thân nhân liệt sĩ và người có công. Những việc làm đầy trách nhiệm và nghĩa tình đó đã thực sự trở thành phong trào quần chúng sâu rộng, một nét đẹp trong đời sống văn hóa, góp phần quan trọng vào việc củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, nâng cao tinh thần yêu nước, khơi dậy và bồi đắp những giá trị nhân văn sâu sắc của dân tộc Việt Nam

Năm nay, kỷ niệm trọng thể 76 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ, cũng là thời điểm cả nước phấn đấu hoàn thành các mục tiêu đặt ra trong Chỉ thị số 14-CT/TW, của Ban Bí thư về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người có công với cách mạng. Đây là nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước, đồng thời là trách nhiệm, là đạo lý của mỗi người dân Việt Nam, để tiếp tục thắp sáng ngọn lửa tri ân đối với người có công với cách mạng./.

ĐỜI ĐỜI NHỚ ƠN CÁC ANH HÙNG LIỆT SĨ

 


Nhân dân ta đời đời nhớ ơn các anh hùng liệt sĩ, thương binh, bệnh binh đã cống hiến máu xương hoặc một phần cơ thể của mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc giành và giữ vững độc lập, tự do cho Tổ quốc....

Để có được một đất nước Việt Nam tươi đẹp, hòa bình, ổn định, phát triển và thịnh vượng về mọi mặt như ngày nay, nhân dân ta đời đời nhớ ơn các anh hùng liệt sĩ, thương binh, bệnh binh đã cống hiến máu xương hoặc một phần cơ thể của mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc thoát khỏi ách ngoại xâm, giành và giữ vững độc lập, tự do cho Tổ quốc, đưa cả nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của độc lập, thống nhất và cùng nhau xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

76 năm qua, nhất là trong hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác thương binh, liệt sỹ, người có công với cách mạng và tổ chức vận động toàn dân tích cực tham gia các phong trào “Đền ơn đáp nghĩa,” “Toàn dân chăm sóc các gia đình thương binh, liệt sỹ và người có công với cách mạng”.

Nhiều chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về ưu đãi đối với người có công đã được ban hành; đối tượng hưởng chính sách ưu đãi được mở rộng, các chế độ ưu đãi từng bước được bổ sung, hoàn thiện, thể hiện sự trân trọng, biết ơn, chăm lo của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

Các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể các cấp, các cơ quan, các đơn vị và cá nhân nhà hảo tâm đã tích cực tham gia các phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, “Toàn dân chăm sóc các gia đình thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng” với nhiều hoạt động cụ thể, thiết thực bằng những việc làm đầy trách nhiệm và nghĩa tình.

 Các phong trào đó đã nhận được sự hưởng ứng và tham gia nhiệt tình của toàn xã hội, trở thành nét đẹp trong đời sống văn hóa, góp phần quan trọng vào việc củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nâng cao tinh thần yêu nước, trách nhiệm xã hội, khơi dậy và bồi đắp những giá trị nhân ái của mỗi người Việt Nam.

Bên cạnh đó, với ý chí tự lực, tự cường, nhiều thương binh, bệnh binh, thân nhân liệt sĩ và gia đình người có công đã vượt lên thương tật, khó khăn, hòa mình vào cuộc sống, tiếp tục cống hiến sức lực, trí tuệ trong lao động, sản xuất, công tác, chiến đấu, học tập..., góp phần bảo vệ và xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp, xứng đáng là những “Công dân kiểu mẫu”, là tấm gương sáng cho cộng đồng và xã hội noi theo.

Để phát huy những kết quả, thành tích đạt được trong hơn 76 năm qua, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh công tác chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng, trong thời gian tới, các cấp, các ngành cần quán triệt sâu sắc, tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về ưu đãi người có công, trọng tâm là Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng; Chỉ thị số 14-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng (Khóa XII) về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người có công với cách mạng.

Cao đẹp thay những hành động chan chứa tình người, tình đồng chí của dân tộc chúng ta! Xin được tỏ lòng thành kính và biết ơn sâu sắc tới các Bà mẹ Việt Nam anh hùng; các chị, các mẹ, các anh thương binh, bệnh binh; các gia đình liệt sĩ, có công với nước, nhân dân ta đã và đang tô đẹp thêm  truyền thống và lý tưởng cách mạng cao đẹp để cho chúng ta có cuộc sống ấm no, hạnh phúc như ngày hôm nay./.

Kỷ niệm 73 năm Ngày truyền thống lực lượng Thanh niên xung phong Việt Nam (15/7/1950-15/7/2023)

 


Với tầm nhìn chiến lược về vai trò của thanh niên trong sự nghiệp cách mạng, cách đây 73 năm, ngày 15-7-1950, Bác Hồ đã chỉ đạo Đảng đoàn Ban Thanh vận Trung ương và Ban Thường vụ Trung ương Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam tổ chức đội thanh niên tập trung dài ngày để phục vụ kháng chiến và kiến quốc, khi kháng chiến thành công, lấy tên là: “Đội Thanh niên xung phong công tác”.

Quyết định lịch sử ấy đã khai sinh ra Đội Thanh niên xung phong công tác trung ương đầu tiên tại Núi Hồng, xã Yên Lãng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, gồm 3 liên phân đội với 225 cán bộ, đội viên.

Đầu tháng 8-1950, Đội Thanh niên xung phong công tác trung ương xuất quân phục vụ Chiến dịch Biên giới, đã lập công xuất sắc, được Bác Hồ gửi thư khen, được Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp tuyên dương: “Đội Thanh niên xung phong công tác đã nêu cao tinh thần tích cực xung phong, triệt để tuân theo kỷ luật chiến trường, tổ chức chặt chẽ, gương mẫu trong mọi nhiệm vụ…”.

Từ khi thành lập tới nay, 4 câu thơ của Bác tặng Thanh niên xung phong: “Không có việc gì khó/Chỉ sợ lòng không bền/Đào núi và lấp biển/Quyết chí ắt làm nên” đã trở thành lời giáo huấn, là phương hướng tư tưởng, hành động cho lực lượng Thanh niên xung phong nói riêng cũng như thế hệ trẻ Việt Nam nói chung, góp phần viết nên những trang sử xanh nối tiếp bề dày truyền thống đóng góp cho Tổ quốc của tuổi trẻ.

Đại thắng mùa Xuân năm 1975 mở ra một trang sử mới. Tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang trong kháng chiến, lực lượng Thanh niên xung phong thi đua thực hiện các phong trào như: “Ba xung kích làm chủ tập thể”, “Thanh niên lập nghiệp, tuổi trẻ giữ nước”, “5 xung kích, 4 đồng hành”, “Thanh niên tình nguyện, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, “Tuổi trẻ sáng tạo”, “Tuổi trẻ xung kích bảo vệ Tổ quốc” của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.

Với lực lượng trên 20 vạn người, Thanh niên xung phong các tỉnh, thành phố miền Nam, Đông Nam bộ, miền Trung, Tây Nguyên và miền Bắc đã lên đường có mặt trên những tuyến đầu gian khó nhất, những nơi bị chiến tranh tàn phá, vùng đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, để thực hiện các nhiệm vụ khắc phục hậu quả sau chiến tranh, rà phá bom mìn, làm sạch môi trường, khai hoang, phục hóa, xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, phát triển giao thông, sắp xếp ổn định dân cư gắn với việc giáo dục, dạy nghề, giải quyết việc làm cho thanh niên và các đối tượng khác; làm nhiệm vụ công ích, giải quyết những vấn đề cấp bách khó khăn góp phần thực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ an ninh quốc phòng xây dựng đất nước.

Trong thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến nay, tổ chức Thanh niên xung phong tiếp tục được củng cố, chuyển đổi mô hình hoạt động phù hợp với giai đoạn mới nhằm phát huy tinh thần xung phong tình nguyện của thanh niên tham gia xây dựng phát triển kinh tế - xã hội gắn với an ninh quốc phòng ở khu vực miền núi, biên giới hải đảo, vùng sâu vùng xa có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn; giữ gìn trật tự và hạn chế các tệ nạn xã hội ở đô thị.

Với những đóng góp to lớn đó, lực lượng Thanh niên xung phong Việt Nam xứng đáng với danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và những phần thưởng cao quý: Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Thành đồng Tổ quốc của Đảng, Nhà nước trao tặng. Truyền thống cách mạng, phẩm chất của Thanh niên xung phong trong kháng chiến được phát huy, nuôi dưỡng đến hôm nay và là hình mẫu để thế hệ trẻ học hỏi, tiếp bước cha anh, cùng chung sức thực hiện công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

 

Đòi đa nguyên, đa đảng ở Việt Nam - luận điệu sai lầm, lạc lõng - Không có lực lượng nào đủ sức thay thế sứ mệnh lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

Trong bối cảnh mới hiện nay, nếu Đảng Cộng sản Việt Nam từ bỏ vai trò duy nhất lãnh đạo, thực hiện đa nguyên, đa đảng, tất yếu đất nước sẽ rơi vào tình trạng hỗn loạn, phân tán, mất ổn định do sự đấu đá, tranh giành quyền lực giữa các đảng phái, nhóm lợi ích.

Sự kiểm chứng đúng đắn từ lý luận đến thực tiễn

Xuất phát từ luận điểm khách quan, khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò lãnh đạo của chính đảng vô sản trong tiến trình cách mạng ở các quốc gia. C.Mác và Ph.Ăngghen trong học thuyết cách mạng và khoa học của mình, đã chỉ ra rằng, giai cấp công nhân là giai cấp hiện đại, cách mạng nhất, tiên tiến nhất trong xã hội, nhưng giai cấp công nhân chỉ có thể thực hiện được sứ mệnh lịch sử của mình khi thành lập ra được chính đảng đảm đương vai trò lãnh đạo, dẫn dắt giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân tiến hành cách mạng thoát khỏi ách áp bức, bóc lột, xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xây dựng chế độ cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu của nó là chủ nghĩa xã hội. V.I.Lênin cũng nhấn mạnh rằng, Đảng Cộng sản phải giữ vai trò duy nhất lãnh đạo nhà nước, xã hội, là người định hướng sự phát triển trên tất cả lĩnh vực đời sống xã hội.

Thấm nhuần những nguyên lý của Chủ nghĩa Mác-Lênin, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã xác định rằng, cách mạng giải phóng dân tộc, cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam muốn thắng lợi trước hết phải có Đảng Cộng sản lãnh đạo. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trước hết phải có Đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”.

Thực tế lịch sử ở Việt Nam và trên thế giới đã chứng minh tính tất yếu khách quan vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong các giai đoạn của tiến trình cách mạng Việt Nam. Không có một tổ chức chính trị nào có thể thay thế được vai trò này của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mọi luận điểm nhằm hạ thấp hoặc muốn xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam đều trái với điều kiện thực tế của nước ta.

Sự cần thiết phải có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam không phải tự nhiên mà có, nó là tất yếu của lịch sử.

Trong thời kỳ giải phóng dân tộc ở Việt Nam trước đây, ngoài phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và dẫn dắt, đã có những phong trào cứu nước, giải phóng dân tộc của một số hội, đoàn thể, đảng phái khác như: Duy Tân hội, Việt Nam Quang Phục hội, Việt Nam Quốc dân đảng... Tuy nhiên, những tổ chức, đảng phái này do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó nguyên nhân chủ yếu là do đường lối, mục tiêu của các tổ chức, đảng phái đó không phù hợp với xu thế phát triển của dân tộc, thời đại, không quy tụ, tập hợp được quần chúng nhân dân... nên đã không thể lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam và dần tan rã, thất bại.

Đúc rút từ sự sụp đổ của Liên Xô và chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu vào những năm cuối của thập niên 1980, 1990 cũng cho thấy, một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn tới sự sụp đổ chế độ chính trị ở các nước này là đã từ bỏ, buông lỏng, phủ nhận vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản, để cho các lực lượng thù địch, phản động lợi dụng, vô hiệu hóa, cướp chính quyền, đưa đất nước đi theo con đường khác khi có những biến cố về chính trị.

 Ảnh minh họa: TTXVN 
 

Đảng luôn đặt lợi ích của giai cấp, nhân dân và dân tộc lên trên hết

Bản chất, mục tiêu, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam là vì lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân và dân tộc, Đảng không có lợi ích nào khác

Các quốc gia trên thế giới đều có đảng cầm quyền lãnh đạo và nắm giữ nhà nước để tổ chức và quản lý đất nước, triển khai chủ trương, đường lối chính trị của đảng cầm quyền, thực hiện lợi ích của giai cấp thống trị. Để đánh giá vai trò, khả năng lãnh đạo đất nước của một chính đảng cầm quyền cần phải dựa vào và xem xét bản chất, mục tiêu, đường lối lãnh đạo của đảng cầm quyền, đó là tiêu chí cốt lõi để đánh giá vai trò, khả năng lãnh đạo đất nước của chính đảng cầm quyền.

Về bản chất, Đảng Cộng sản Việt Nam là tổ chức ưu tú nhất của giai cấp công nhân, của nhân dân và cả dân tộc. Mục tiêu, lý tưởng, lợi ích của Đảng luôn thống nhất với mục tiêu, lý tưởng, lợi ích của giai cấp công nhân, của dân tộc và toàn thể nhân dân Việt Nam. Đảng một lòng một dạ phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, phụng sự dân tộc, được nhân dân, dân tộc thừa nhận là đội tiên phong của mình. Mục đích hoạt động, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam là xây dựng xã hội Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” và thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm, việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”.

Đảng hội tụ đủ bản lĩnh, tài năng, uy tín để lãnh đạo đất nước và xã hội

 Trong bối cảnh mới hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam là chính Đảng duy nhất hội tụ đầy đủ phẩm chất, năng lực, tiêu chí để lãnh đạo đất nước, dân tộc Việt Nam phát triển.

Hiện nay, bên cạnh những cơ hội vẫn tồn tại nhiều thách thức ảnh hưởng tới sự phát triển của Việt Nam: Hợp tác, cạnh tranh, đấu tranh giữa các nước, nhất là các nước lớn diễn biến ngày càng phức tạp, có nguy cơ gây mất ổn định trên quy mô toàn cầu; chiến tranh sắc tộc, chiến tranh khu vực, xung đột tôn giáo và khủng bố quốc tế vẫn có khả năng bùng phát dưới những hình thức mới; tình hình Biển Đông có thể diễn biến phức tạp; kinh tế thế giới phát triển chậm lại, nguy cơ rơi vào khủng hoảng, suy thoái; chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa dân túy ngày càng nổi lên... Điều đó đòi hỏi chính đảng lãnh đạo quốc gia là đoàn kết, tập hợp được quần chúng nhân dân; có tính tiên phong, cách mạng; có sức mạnh và kỷ luật tập thể; toàn tâm, toàn ý vì lợi ích chung của nhân dân, dân tộc. Ở Việt Nam hiện nay, để có được những điều kiện, nhân tố nêu trên chỉ có duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thứ nhất, chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới có đủ phẩm chất chính trị và năng lực, xứng đáng là người lãnh đạo đất nước trong bối cảnh mới.

Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong giác ngộ, có tổ chức chặt chẽ nhất, Đảng hình thành nên những sức mạnh, phẩm chất nổi trội và nhờ đó lãnh đạo, dẫn dắt nhân dân ta, đất nước ta vượt qua các khó khăn, thử thách trên con đường phát triển, đó là:

Sức mạnh của sự đoàn kết, thống nhất thành một khối vững chắc cả về chính trị, tư tưởng và hành động trong Đảng, bảo đảm sự tập trung trong lãnh đạo của Đảng. Sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng dựa trên cơ sở mục đích, lý tưởng của Đảng, trên cơ sở lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc, trên cơ sở phát huy dân chủ, tôn trọng ý kiến cá nhân. Sự thống nhất về tổ chức và phương thức hành động tạo ra sức mạnh lớn lao cho Đảng vượt qua được các khó khăn, thử thách.

Có tinh thần triệt để cách mạng, sức chiến đấu mạnh mẽ, được tôi luyện và ý thức kỷ luật cao, được tổ chức và hoạt động chặt chẽ, nghiêm ngặt theo tư tưởng, nguyên tắc của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Sự sẵn sàng hy sinh, chấp nhận những khó khăn, gian khổ, khả năng vươn lên không ngừng của Đảng vì lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc Việt Nam.

Thứ hai, chỉ có duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam mới gắn bó mật thiết với nhân dân, tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân tin và đi theo Đảng.

Vai trò lãnh đạo của Đảng chính là trách nhiệm, nhiệm vụ cao cả mà nhân dân Việt Nam tin tưởng giao phó cho Đảng Cộng sản Việt Nam. Sức mạnh của Đảng bắt nguồn từ mối liên hệ mật thiết với nhân dân, từ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân đối với Đảng. Mục tiêu lãnh đạo của Đảng là để nhân dân thực sự là người chủ đất nước, để toàn bộ quyền lực “đều ở nơi dân”. Đảng luôn có trách nhiệm với dân và tăng cường mối quan hệ máu thịt với dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Đảng được nhân dân tin yêu, giúp đỡ, thừa nhận là đội tiên phong lãnh đạo của mình, là Đảng của chính mình. Nhân dân thấy rằng lợi ích căn bản của mình gắn liền với sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo; mục đích, lý tưởng của Đảng cũng chính là ước mơ, nguyện vọng lâu đời của nhân dân, của dân tộc.

Đảng luôn cầu thị, không ngừng đổi mới để tự hoàn thiện

Đảng Cộng sản Việt Nam không hề bảo thủ mà luôn đổi mới, cập nhật, nhằm làm cho Đảng mạnh lên, có đường lối đúng đắn, giúp Đảng hoàn thành sứ mệnh, nhiệm vụ đặt ra, đưa Việt Nam vượt qua các khó khăn, thách thức, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác trong bối cảnh mới hiện nay.

Thực tiễn đất nước và thế giới không ngừng vận động, biến đổi, rất nhiều vấn đề mới, yếu tố mới xuất hiện đòi hỏi phải được giải quyết, Đảng ta luôn tìm tòi, học hỏi, tổng kết thực tiễn để đề ra đường lối, quyết sách đúng đắn, phù hợp, Đảng luôn quan tâm đến đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng để Đảng hoàn thành mọi trách nhiệm, nhiệm vụ trong các giai đoạn cách mạng, nhất là những trách nhiệm, nhiệm vụ mới nảy sinh từ thực tiễn hiện nay, để Đảng luôn giữ được bản chất cách mạng, khoa học, vì lợi ích của quần chúng nhân dân, trước sau giữ mối liên hệ mật thiết với quần chúng nhân dân.

Đảng Cộng sản Việt Nam xác định chất lượng, năng lực của đội ngũ đảng viên có tính chất quyết định đối với chất lượng, năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, do vậy, Đảng chú trọng kết nạp những người ưu tú vào Đảng và luôn luôn làm trong sạch Đảng, loại bỏ những phần tử biến chất, xét lại, cơ hội chủ nghĩa ra khỏi Đảng.

Đảng luôn siết chặt kỷ luật Đảng để chống suy thoái, tiêu cực và tham nhũng của một bộ phận cán bộ, đảng viên, làm cho Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh. Đảng ta ý thức rõ rằng, một đảng duy nhất cầm quyền, bên cạnh mặt thuận lợi là cơ bản cũng chứa đựng không ít nguy cơ, mà một trong số đó là dễ quan liêu, xa rời quần chúng, dễ chủ quan... Để tránh nguy cơ đó, Đảng luôn kiên định mục tiêu đã lựa chọn, thường xuyên tự đổi mới, nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức mạnh về mọi mặt, giữ vững phẩm chất đạo đức cách mạng, phong cách công tác gần gũi với nhân dân.

Như vậy, lịch sử đã chứng minh và khẳng định vai trò, sứ mệnh của Đảng Cộng sản Việt Nam là chính đảng duy nhất lãnh đạo, dẫn dắt dân tộc và nhân dân Việt Nam tiếp tục phát triển, bắt kịp xu hướng của thời đại.

Do vậy, những luận điểm sai lầm, suy diễn về vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam, cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ khả năng để lãnh đạo đất nước là quan điểm phản động, sai trái, không có cơ sở cả về lý luận và thực tiễn. Về lý luận, luận điểm này đã dựa trên những phân tích, nhận xét phi khoa học, không logic, không hệ thống và không toàn diện. Về thực tiễn, quan điểm này cũng hết sức phiến diện, quy chụp, phi thực tế khi không thấy rõ hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam trong đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, không thừa nhận những thành quả phát triển đất nước Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong suốt hơn 93 năm qua.

 Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì Hội nghị Quân ủy Trung ương lần thứ 6, nhiệm kỳ 2020-2025

Sáng 3-7, tại Hà Nội, Quân ủy Trung ương tổ chức Hội nghị lần thứ 6, nhiệm kỳ 2020-2025. Đồng chí Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư, Bí thư Quân ủy Trung ương chủ trì hội nghị.

Dự hội nghị có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương; Thủ tướng Phạm Minh Chính, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương; Trương Thị Mai, Thường trực Ban Bí thư, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương; Đại tướng Phan Văn Giang, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Đại tướng Lương Cường, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; Trần Cẩm Tú, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

Tham dự hội nghị có các đồng chí: Bùi Thị Minh Hoài, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Dân vận Trung ương; Lê Minh Hưng, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng; Thượng tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Thượng tướng Võ Minh Lương, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

 
 
Dự hội nghị có các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, lãnh đạo các ban Đảng; các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; lãnh đạo Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam; đại biểu lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng.

 
 
Tại hội nghị, thừa ủy quyền của Bộ Chính trị, Đại tướng Phan Văn Giang công bố quyết định của Bộ Chính trị chỉ định đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tham gia Quân ủy Trung ương và Ban Thường vụ Quân ủy Trung ương nhiệm kỳ 2020-2025.

 
Tiếp đó, hội nghị đã nghe báo cáo trung tâm và các ý kiến thảo luận tập trung đánh giá kết quả lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và xây dựng Đảng bộ Quân đội 6 tháng đầu năm 2023. Các báo cáo và ý kiến thảo luận đều thống nhất đánh giá, 6 tháng đầu năm 2023, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và cấp ủy, chỉ huy các cấp đã lãnh đạo, chỉ đạo toàn quân đoàn kết, thống nhất, chủ động khắc phục khó khăn, hoàn thành toàn diện các nhiệm vụ, nhiều nhiệm vụ hoàn thành tốt.

Nổi bật là, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng chủ động nghiên cứu, đánh giá đúng tình hình, tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước xử lý hiệu quả các tình huống, không để bị động, bất ngờ, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc; điều chỉnh nội dung, phương pháp huấn luyện, giáo dục - đào tạo, phương án tác chiến và xây dựng nhân tố chính trị, tinh thần trong Quân đội. Tham mưu chỉ đạo, hướng dẫn các ban, bộ, ngành và các tỉnh, thành ủy trực thuộc Trung ương tổ chức tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; đề xuất xây dựng, triển khai các nghị quyết, chiến lược, đề án, dự án, luật về quân sự, quốc phòng. Toàn quân hoàn thành tốt chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất.

Cùng với đó, Quân đội tiếp tục khẳng định vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, là lực lượng chủ yếu trong phòng thủ dân sự, phòng chống, khắc phục sự cố, thiên tai, thảm họa và tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn. Chất lượng công tác giáo dục quốc phòng an ninh, hoạt động của lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên được duy trì nghiêm túc, hiệu quả; công tác tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ bảo đảm đủ chỉ tiêu, đúng quy định, chất lượng tốt. Các cơ quan, đơn vị Quân đội phối hợp chặt chẽ với các lực lượng giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo đảm an toàn sự kiện chính trị quan trọng của đất nước.

Đặc biệt, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đồng bộ, quyết liệt “Năm điều chỉnh tổ chức lực lượng”; triển khai thực hiện nghiêm túc các nghị quyết của Quân ủy Trung ương về huấn luyện, giáo dục và đào tạo. Công tác duy trì nền nếp chính quy, rèn luyện kỷ luật, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “Mẫu mực tiêu biểu” có nhiều chuyển biến tiến bộ. Công tác cải cách hành chính, xây dựng Chính phủ điện tử và chuyển đổi số trong Bộ Quốc phòng bước đầu đạt kết quả tích cực.

 

Bên cạnh các nhiệm vụ trên, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã lãnh đạo, chỉ đạo bảo đảm tốt hậu cần, kỹ thuật cho các nhiệm vụ cả thường xuyên và đột xuất, đời sống của bộ đội giữ ổn định và có bước cải thiện. Hoạt động thanh tra, kiểm tra, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và phòng chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí trong Quân đội được đẩy mạnh. Công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đạt nhiều kết quả tích cực. Quân đội đã cử lực lượng tham gia có trách nhiệm, hiệu quả hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa động đất tại Thổ Nhĩ Kỳ, được bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giáo cao.

Trong công tác xây dựng Đảng bộ Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã đề ra nhiều chủ trương, giải pháp hiệu quả, thiết thực. Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng được tăng cường. Các cấp ủy Đảng trong Quân đội tổ chức tốt việc nghiên cứu, quán triệt, học tập, triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định của Đảng, tổ chức đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn quân học tập tác phẩm: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh” của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng…

Về phương hướng nhiệm vụ lãnh đạo 6 tháng cuối năm, Hội nghị thống nhất xác định sẽ thường xuyên nắm chắc, dự báo, đánh giá đúng tình, kịp thời tham mưu với Đảng, Nhà nước xử lý thắng lợi các tình huống. Tiếp tục xây dựng, triển khai thực hiện hiệu quả các nghị quyết, kết luận, chiến lược, đề án, dự án, luật về quân sự, quốc phòng. Tham mưu hoàn thành tổng kết thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; sơ kết 5 năm thực hiện các nghị quyết, kết luận của Bộ Chính trị về chiến lược quân sự, quốc phòng. Lãnh đạo, chỉ đạo toàn quân thực hiện nghiêm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu; chủ động phối hợp nắm chắc tình hình, địa bàn, chuẩn bị các phương án, kế hoạch, lực lượng, vũ khí trang bị, phương tiện, xử trí có hiệu quả tình huống tác chiến và ứng phó hiệu quả các thách thức an ninh phi truyền thống.

Tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân; thực hiện có hiệu quả chủ trương kết hợp quốc phòng với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, nhất là đối với các vùng, địa bàn chiến lược. Tập trung nâng cao chất lượng huấn luyện, giáo dục và đào tạo; tổ chức tốt các cuộc diễn tập, luyện tập hội thi, hội thao; nâng cao chất lượng xây dựng chính quy, chấp hành pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “Mẫu mực tiêu biểu”; đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng Chính phủ điện tử và chuyển đổi số trong Bộ Quốc phòng.

Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các kế hoạch, chương trình, mục tiêu, đề án, dự án về hậu cần kỹ thuật và công nghiệp quốc phòng; bảo đảm tốt hậu cần, kỹ thuật cho các nhiệm vụ cả thường xuyên và đột xuất; thực hiện tốt công tác tư pháp, thanh tra, pháp chế, kiểm tra, kiểm toán; xây dựng văn bản quy pháp luật bảo đảm tiến độ, chất lượng; chủ động hội nhập, tăng cường hợp tác với các nước về quân sự, quốc phòng và tham gia hiệu quả hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc.

Cùng với các nội dung trên, lãnh đạo, chỉ đạo toàn quân tập trung nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng, tuyệt đối tin tưởng đường lối, chủ trương của Đảng, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Tích cực đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; kiên quyết, kiên trì đấu tranh với những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Đồng thời, đẩy mạnh công tác thi đua, khen thưởng và các hoạt động tuyên truyền, chuẩn bị hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, 35 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân và 70 năm chiến thắng Điện Biên Phủ. Thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo đảm an ninh, an toàn các hoạt động của toàn quân; nâng cao hiệu quả công tác dân vận, tuyên truyền đặc biệt; thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở và chính sách hậu phương quân đội cũng như các hoạt động đền ơn đáp nghĩa.

Theo kế hoạch hội nghị, trong thời gian một ngày, các đại biểu tập trung đánh giá kết quả lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và xây dựng Đảng bộ Quân đội 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2023 và thảo luận, thông qua một số nội dung quan trọng khác.