Thứ Hai, 10 tháng 7, 2023

CẦN NHẬN THỨC ĐÚNG ĐẮN VÀ TÍCH CỰC THAM GIA BẢO VỆ LỊCH SỬ ĐẢNG

Đấu tranh phản bác luận điệu xuyên tạc lịch sử Đảng không những là bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, thành quả cách mạng mà còn là bảo vệ uy tín của Đảng đối với nhân dân và củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, chế độ.

Thời gian qua, trên mạng xã hội xuất hiện những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về lịch sử Đảng, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng; đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác-Lênin; kêu gọi từ bỏ lý tưởng cộng sản và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chúng còn xuyên tạc Cương lĩnh chính trị, chủ trương, đường lối của Đảng; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng; đòi đổi tên Đảng, kêu gọi “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”; phủ nhận thắng lợi, thành tựu cách mạng Việt Nam; thổi phồng sai lầm, khuyết điểm của Đảng; bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta;...

Chính vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là thanh niên, sinh viên cần nhận thức đúng đắn, đầy đủ về lịch sử Đảng để “tự miễn dịch” trong lập trường, quan điểm chính trị và tích cực tham gia đấu tranh phản bác luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Các tổ chức cơ sở Đảng, MTTQ, các đoàn thể, hội sinh viên cần tăng cường tổ chức hội thảo, tọa đàm; xây dựng chuyên đề lồng ghép vào sinh hoạt thường kỳ, câu lạc bộ, đội, nhóm; tổ chức các cuộc thi, diễn thuyết, kể chuyện về tấm gương cán bộ, đảng viên chiến đấu, hy sinh anh dũng, bị tù đày; tổ chức viết bài đấu tranh (chính danh và ẩn danh);... Đặc biệt, coi trọng đấu tranh trực diện trên không gian mạng với hình thức phong phú, đa dạng, hấp dẫn, hiệu quả; tranh thủ những người có ảnh hưởng lớn đối với cư dân mạng để thông qua họ đưa tin về cái tốt, lên án cái xấu.

Tri thức lịch sử, trong đó có lịch sử Đảng cung cấp cho chúng ta hiểu biết quá khứ để phục vụ cuộc sống hiện tại và đoán định tương lai. Bởi vậy, các nhà sử học Hy Lạp cổ đại từng kết luận: “Lịch sử là cô giáo cuộc sống, là bó đuốc soi đường đi tới tương lai”. C.Mác và Ph.Ănghen cho rằng: “Sử học là khoa học duy nhất vì mọi khoa học đều phải dựa vào sự kiện từ lịch sử”. Lênin cũng khẳng định: “Sử học là một bộ phận của khoa học xã hội kết hợp với giai cấp vô sản trở thành vũ khí mạnh mẽ”. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng làm nghiên cứu sinh chuyên ngành Lịch sử khi ở Liên Xô và Người đã căn dặn: “Dân ta phải biết sử ta. Sử ta dạy cho ta những chuyện vẻ vang của tổ tiên ta”.

Nhà văn Nga Trécnưsepki từng viết: “Có thể không biết, không cảm thấy say mê học tập môn Toán, tiếng Hy Lạp hoặc Latinh, môn Hóa học, có thể không biết hàng ngàn môn khoa học khác nhưng dù sao đã là người có giáo dục mà không yêu thích lịch sử thì chỉ có thể là một con người không phát triển đầy đủ về trí tuệ”.

"Ǎn quả phải nhớ người trồng cây. Trong cuộc tưng bừng vui vẻ hôm nay, chúng ta phải nhớ đến những anh hùng, liệt sĩ của Đảng ta, của dân ta... Máu đào của các liệt sĩ ấy đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập kết quả tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ và chúng ta phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sĩ để vượt tất cả mọi khó khǎn, gian khổ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sĩ đã chuyển lại cho chúng ta". Lời dạy đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh càng nhắc nhở chúng ta phải nâng cao trách nhiệm bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ, nhân dân; kiên quyết bảo vệ “pho lịch sử bằng vàng” của Đảng; vững tin vào thắng lợi con đường cách mạng do Đảng lãnh đạo, tiến lên chủ nghĩa xã hội vì một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

VTN_ST

NHẬN DIỆN THỦ ĐOẠN CHIẾN TRANH TÂM LÝ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG HIỆN NAY

 


 

Cùng với những lợi ích to lớn, các đe dọa từ không gian mạng đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia. Đó là những thách thức về tình báo mạng, gián điệp mạng, khủng bố mạng, nguy cơ về một cuộc chiến tranh mạng và hàng loạt nguy cơ khác. Nếu không gian mạng quốc gia không được bảo vệ, các bí mật nhà nước sẽ bị lộ, lọt; các hạ tầng quan trọng của quốc gia như hệ thống thông tin hàng không, điện lưới quốc gia, giao thông đường bộ, các cơ sở công nghiệp trọng yếu sẽ bị phá hủy.

“Bệnh xa dân” làm cán bộ dễ hư hỏng

 

Một thực tế đó là, mỗi khi có đồng chí cán bộ nào bị xử lý sai phạm thì xuất hiện tâm lý hả hê ở một bộ phận dư luận. Phần đa ý kiến không đồng tình với tâm lý hả hê đó, nhưng điều này cần được nhìn nhận thấu đáo để hiểu rõ vì sao? Một trong những nguyên nhân gây nên tâm lý đó chính là “bệnh xa dân” của cán bộ khiến dư luận đã có cái nhìn tiêu cực, thiếu cảm thông mỗi khi có vụ việc.

Việt Nam không “tự mình cô lập mình” trong thực hiện chính sách quốc phòng

 

Đến nay, Việt Nam đã 4 lần công bố Sách trắng quốc phòng, trong đó công khai chính sách quốc phòng hòa bình và tự vệ, nhằm mục tiêu tạo lập, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Tuy nhiên, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách để xuyên tạc, phủ nhận một cách vô căn cứ.

NGÀY 27 THÁNG 7 HÀNG NĂM LÀ NGÀY LỄ LÀ HOÀN TOÀN HỢP ĐẠO LÝ " UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN" CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM TA!

NHỮNG AI LÀ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI, LÀ CÁN BỘ MÀ KHÔNG ĐỒNG Ý LẤY NGÀY 27 THÁNG 7 HÀNG NĂM LÀ NGÀY LỄ THÌ HÃY TỪ CHỨC!

     Chúng tôi phản đối những cán bộ nói không đồng ý ngày 27/7 ngày thương binh liệt sĩ là ngày lễ lớn sợ bên kia kìa họ buồn những cán bộ phát biểu như vậy là loại hai mang là phản động . Hãy từ chức cho thôi việc .

Chúng tôi phản đối những cán bộ thắp nhang khấn vái cho Lê văn duyệt tên giặc đã giết nhân dân rước giặc vào đất nước mà nhân dân chúng tôi ngàn đời sau vẫn lưu truyền các ông từ chức đáng ra nhà nước cắt chức tổng các ông vào lò mới đúng tội .
 
Ủng hộ ý kiến của đại biểu Quốc hội Cầm Thị Mẫn đại biểu Thanh Hóa./.
Yêu nước ST.

TỔ CHỨC BPSOS LẠI TRẮNG TRỢN VU CÁO, XUYÊN TẠC SAU VỤ KHỦNG BỐ Ở ĐẮK LẮK

     Sau khi vụ khủng bố xảy ra ở Đắk Lắk vào ngày 11/6 vừa qua, tổ chức “Ủy ban cứu người vượt biển”, gọi tắt là BPSOS lại trắng trợn vu cáo, xuyên tạc chính quyền kích động nhân dân đàn áp người Thượng, tổ chức bắt bớ, đánh đập “vô cớ” nhằm mục đích chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc ở Tây Nguyên.
    Sự thật về cái gọi là "Ủy ban cứu người vượt biển"
    Theo tài liệu Cơ quan An ninh điều tra, “Ủy ban cứu người vượt biển” (BPSOS) do Phan Lạc Tiếp (SN 1933, nguyên sĩ quan hải quân Việt Nam Cộng hòa) và Nguyễn Hữu Xương (nguyên giáo sư Đại học San Diego) đứng ra thành lập năm 1980, có trụ sở tại Sandiego, Carlifornia (Mỹ) với mục đích giúp đỡ người Việt “tị nạn” tại Mỹ.
    Đến năm 1990, Phan Lạc Tiếp và Nguyễn Hữu Xương đã chuyển giao cho Nguyễn Đình Thắng (SN 1958, tại TP Hồ Chí Minh, quốc tịch Mỹ) tiếp tục điều hành BPSOS. Sau khi tiếp nhận, Nguyễn Đình Thắng đã dời trụ sở của BPSOS đến Falls, bang Viginia (Mỹ) và hướng lái các hoạt động chuyển sang việc lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” để chống phá Việt Nam.
    Với sự hậu thuẫn của một số chính khách thiếu thiện chí với Việt Nam, BPSOS đã trở thành một tổ chức phản động lưu vong với phương thức và thủ đoạn chống đối quyết liệt cả ở trong và ngoài nước, xâm phạm trực tiếp đến an ninh quốc gia của Việt Nam.​ Quá trình hoạt động, Nguyễn Đình Thắng đã triệt để lợi dụng danh nghĩa của một tổ chức hoạt động trên lĩnh vực “cứu trợ thuyền viên”, “người tị nạn”, “chống buôn người”... để ngửa tay xin kinh phí hoạt động.
    Mặc dù hoạt động với danh nghĩa “hỗ trợ tị nạn”, song thực chất BPSOS đã triệt để lợi dụng vấn đề này để tuyên truyền, chống phá Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế cũng như gây phức tạp tình hình ANTT tại một số địa phương trong nước. Các đối tượng lập văn phòng tại Bangkok và thành lập một số “tổ chức dân sự”, “ngoại vi chuyên hoạt động trong lĩnh vực cứu trợ người tị nạn” tại Thái Lan như ACF, PSPF... Sau đó chúng móc nối, liên kết với một số tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nhân quyền và tị nạn tại Thái Lan để tiếp tay cho số đối tượng người Việt Nam vượt biên trái phép đối phó với các biện pháp bắt giữ, điều tra, xét xử của chính quyền Thái Lan (và) tác động các tổ chức lên tiếng đòi trả tự do cho số đối tượng trên trong trường hợp bị bắt giữ.
    Sau khi vụ tấn công, khủng bố ở Đắk Lắk vào ngày 11/6 diễn ra, lực lượng chức năng cùng người dân tăng cường an ninh, truy bắt các đối tượng phạm tội thì một lần nữa tổ chức này lại vu cáo chính quyền kích động nhân dân đàn áp người Thượng, tổ chức bắt bớ đánh đập “vô cớ”... nhằm mục đích chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc ở Tây Nguyên, qua đó biện minh cho các tổ chức “Người thượng vì công lý”, “Hội thánh tin lành Đấng Christ Tây Nguyên” do một số đối tượng cầm đầu đang sống lưu vong ở Thái Lan.
    Ngày 22/6 vừa qua, tại Hội nghị cấp cao những người đứng đầu lực lượng chống khủng bố các nước do Liên hợp quốc tổ chức đang diễn ra tại New York (Mỹ), trong bài phát biểu, Thiếu tướng Phạm Ngọc Việt, Cục trưởng Cục An ninh Nội địa Bộ Công an Việt Nam khẳng định, hoạt động của nhóm tấn công trụ sở chính quyền và người dân tại tỉnh Đắk Lắk ngày 11/6 là hoạt động khủng bố có tổ chức.
    Việt Nam kiên quyết lên án, chống lại hành động khủng bố dưới mọi hình thức; ủng hộ các biện pháp chống khủng bố của các nước, các tổ chức quốc tế phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế... Nguyên nhân xảy ra vụ việc là do âm mưu của các thế lực thù địch, một số đối tượng Fulro lưu vong kích động một số người dân tộc thiểu số chia rẽ người Kinh với dân tộc thiểu số gây mất trật tự và gây tiếng vang ở nước ngoài. Hiện lực lượng Công an tỉnh Đắk Lắk đang củng cố tài liệu, chứng cứ để xử lý theo quy định của Pháp luật.
    Giờ đây, khi vụ việc có tính chất dã man, tàn bạo, vô nhân tính bị cộng đồng Quốc tế lên án như vào ngày 16/6, Thủ tướng Campuchia Hun Sen đã yêu cầu các lực lượng vũ trang của nước này ở khu vực ven biên giới Việt Nam - Campuchia “kiểm tra kỹ lưỡng các làng mạc”. Lệnh của nhà lãnh đạo Campuchia nhằm phát hiện, bắt giữ các đối tượng tình nghi liên quan đến vụ tấn công trụ sở 2 xã ở tỉnh Đắk Lắk của Việt Nam lẩn trốn sang Campuchia.
    Ngày 20/6, trong buổi tiếp Đoàn đại biểu Tổng cục Trại giam, Bộ Tư pháp Thái Lan do ngài Ayuth Sintoppant, Tổng Cục trưởng làm Trưởng đoàn, Thứ trưởng Bộ Công an Việt Nam Nguyễn Văn Long đề nghị hai bên duy trì cơ chế trao đổi đoàn thường niên để thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa các đơn vị của Bộ Công an Việt Nam và Bộ Tư pháp Thái Lan trong lĩnh vực quản lý trại giam, giáo dục cải tạo phạm nhân; thực hiện hiệu quả “Hiệp định về chuyển giao người bị kết án phạt tù và hợp tác thi hành án hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Thái Lan” đã ký kết năm 2010; tăng cường hơn nữa việc trao đổi kinh nghiệm, học tập thực tế, đặc biệt trong lĩnh vực tương trợ tư pháp về hình sự, trong đó có công tác chuyển giao người bị kết án phạt tù...
    Các đối tượng sợ rằng chính quyền các nước mà các đối tượng đang lưu vong sẽ thẳng tay bắt giữ, trục xuất... nên đã tổ chức vu cáo chính quyền Việt Nam mong hướng dư luận Quốc tế sang vấn đề khác mục đích hơn cả là chứa chấp các đối tượng muốn vượt biên và hơn hết là xin kinh phí, thể hiện ngay tính chất lợi dụng vụ việc để trục lợi chứ không có gì tốt đẹp cả.
    Từ lâu, Nguyễn Đình Thắng và BPSOS đã vượt qua vai trò của một tổ chức từ thiện, chúng tiến hành chống phá từ nhiều địa phương, lợi dụng vấn đề tự do tôn giáo, dân tộc nhất là khu vực Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, TP Đà Nẵng... Hoạt động của Nguyễn Ðình Thắng thực hiện trong những năm qua cho thấy, đối tượng đã thực hiện không phải vì “dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo” như rao giảng mà tất cả nhằm kích động chống phá Nhà nước Việt Nam dưới nhiều hình thức; vì quyền lợi cá nhân thông qua việc kêu gọi yểm trợ tài chính cho BPSOS. BPSOS cũng từng bị các thành viên kiện ra tòa án Mỹ về các hoạt động không minh bạch về tài chính, tranh giành việc đưa người tị nạn nhằm qua các nước vì mục đích vụ lợi.
    Có thể khẳng định rằng bản chất và phương thức, thủ đoạn hoạt động của Nguyễn Đình Thắng và đồng bọn là rất nguy hiểm, tinh vi và lợi dụng lòng tin của nhiều người trong nước để kích động, chống phá có hệ thống. Do vậy, mỗi người dân tuyệt đối không tin theo các luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc vô căn cứ của các đối tượng, không ủng hộ mọi hình thức đối với các buổi vận động, quyên góp tiền dưới chiêu bài “yểm trợ cho các hoạt động đấu tranh bảo vệ dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam” của BPSOS. Mọi hành vi hậu thuẫn, ủng hộ, tham gia BPSOS sẽ bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

Vạch trần tội ác của những kẻ khủng bố

     Một trong những tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài tự khoác lên mình cái tên "Người Thượng vì công lý" (Montagnards Stand For Justice). Với khẩu hiệu đầy tính kích động: "Thúc đẩy hòa bình và bảo vệ quyền con người của những người bị áp bức tại Tây Nguyên", chúng đang tìm mọi cách thực thi các âm mưu chống phá sự bình yên của vùng đất đại ngàn tươi đẹp. Với những thủ đoạn nham hiểm, hành vi dã man, điên cuồng, chúng chính là kẻ thù của đồng bào các dân tộc anh em trên đại ngàn Tây Nguyên đang ngày đêm gắng sức dựng xây quê hương ngày một thịnh vượng, bình yên và hạnh phúc.
    Sáng sớm ngày 11/6/2023, cùng với hàng triệu người khắp mọi miền đất nước, từ khi thức giấc, tôi đã phải đón nhận những thông tin đau lòng từ hai xã Ea Tiêu và Ea Ktur thuộc huyện Cư Kuin (Ðắk Lắk) như phải chứng kiến một trận động rừng kinh hoàng. Là người đã có hơn ba thập niên gắn bó với những cánh rừng, buôn làng và đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, tôi thật sự căm giận những kẻ độc ác, xót xa với thảm cảnh và âm ỉ trong tâm hồn một cảm giác hụt hẫng, một nỗi buồn.
    Các cơ quan chức năng đã nhận diện đây là vụ khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, hành vi của các đối tượng rất man rợ, mất nhân tính thể hiện quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng.
    Ðịa chỉ mà chúng nhắm tới đốt phá là các cơ quan nhà nước, trụ sở công an xã.
    Ðối tượng mà chúng hung hãn ra tay hành động là cán bộ cấp ủy, chính quyền, là các chiến sĩ công an và cả những người dân vô tội. Ðó là đồng chí Bí thư Ðảng ủy, Chủ tịch xã Ea Ktur Nguyễn Văn Kiên và Chủ tịch xã Ea Tiêu Nguyễn Văn Dũng. Họ là những người suốt bao năm tháng qua đã dành trọn tâm sức và trí tuệ chăm lo cho sự phát triển quê hương, cho đời sống người dân các dân tộc anh em ngày càng ấm no, hạnh phúc. Là Thiếu tá Hoàng Trung, Ðại úy Nguyễn Ðăng Nhân - cán bộ công an xã Ea Ktur; Thiếu tá Trần Quốc Thắng, Ðại úy Hà Tuấn Anh - cán bộ công an xã Ea Tiêu. Họ là những cán bộ, chiến sĩ công an, những người ngày đêm bảo vệ trị an buôn làng, bảo vệ sự bình yên cho mỗi mái nhà, mỗi người dân, cho những nương rẫy, cánh rừng tốt tươi.
    Chúng còn cướp đi sinh mạng 3 người dân bình thường trong cơn say máu. Những người đồng bào bị chúng giết hại ấy là những người từng chung điệu chiêng, chung vòng xoang, chung cần rượu với chúng trong những ngày buôn làng vào hội.
    Ngoài giết hại 9 người, làm bị thương 2 người, chúng còn bắt cóc 3 công nhân làm con tin trên đường chạy trốn.
    Ðến nay chúng ta đã có thể dựng lên chân dung khá đầy đủ của những đối tượng khủng bố để vạch trần bộ mặt của chúng, kể cả những kẻ chủ mưu, những tổ chức phản động đã và đang từ xa kích động, giật dây, chống đối chế độ, phá hoại sự nghiệp dựng xây, kiến thiết quê hương và cuộc sống bình yên của nhân dân Tây Nguyên. Ðó là những kẻ chống đối, phản động trong nước tham gia các tổ chức chống phá Ðảng, Nhà nước. Có cả những kẻ từng suốt một quãng đời được hưởng thành quả cách mạng, được chăm lo cuộc sống, được học hành, vui cùng nương rẫy với bà con buôn làng nhưng đã biến chất trở thành những kẻ quá khích, man rợ, độc ác.
    Tiếp cận với nhiều nguồn tài liệu, với những lời khai của các đối tượng, chúng ta không khỏi đau lòng vì một số tên khủng bố là những nông dân có cuộc sống gia đình, người thân ngày càng khởi sắc, no ấm, chỉ vì rơi vào cạm bẫy của những thủ đoạn lôi kéo, mua chuộc, kích động của các thế lực thù địch, chúng đã biến mình thành công cụ của kẻ thù. Lực lượng công an đã có tài liệu, chứng cứ chứng minh vụ án xảy ra còn do có sự hậu thuẫn chỉ đạo từ một số tổ chức, cá nhân ở nước ngoài, thậm chí cử đối tượng từ nước ngoài xâm nhập trái phép về Việt Nam để dàn dựng, chỉ đạo tấn công khủng bố.
    Cho đến thời điểm này, cơ quan công an đã bắt giữ và ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can 90 đối tượng với các tội danh: "Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân", "Không tố giác tội phạm" và "Môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh vào Việt Nam trái phép". Nhiều người có liên quan đã bị triệu tập; công tác đấu tranh, truy nã các đối tượng bỏ trốn vẫn đang tiếp tục.
    Cho đến thời điểm này, cơ quan công an đã bắt giữ và ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can 90 đối tượng với các tội danh: "Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân", "Không tố giác tội phạm" và "Môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh vào Việt Nam trái phép". Nhiều người có liên quan đã bị triệu tập; công tác đấu tranh, truy nã các đối tượng bỏ trốn vẫn đang tiếp tục.
    Càng căm thù và lên án sâu sắc những kẻ giết người bao nhiêu, càng thấy thương những người Amí (mẹ), những người Mo (vợ), những đứa Anak (con) tội nghiệp của chúng bấy nhiêu. Rất nhiều người thân của những tên khủng bố đã khóc cạn nước mắt, đã đau khổ tận cùng. Chính họ cũng không hiểu vì sao, vì điều gì mà người con, người chồng, người cha của mình lại trở thành những tên giết người máu lạnh. Ðược chính quyền và cơ quan công an động viên, giải thích, họ dẫn những người thân vừa gây nên tội ác tày trời ra tự thú, nhận tội.
    Ðồng bào Tây Nguyên, nhất là cộng đồng người dân tộc thiểu số đã lên án mạnh mẽ những hành động tội ác và những kẻ gây nên tội ác. Họ đã hợp tác tích cực cùng chính quyền, các lực lượng công an, quân đội trong quá trình cung cấp thông tin, tham gia vây bắt những tên khủng bố. Chính vì vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, chúng ta đã vãn hồi tình hình, trả lại sự bình yên vốn có cho mảnh đất Tây Nguyên hùng vĩ.
    Trong bức tâm thư của người thanh niên dân tộc Ê Ðê, ca sĩ Y Vol Ênuôl (con trai của cố NSND Y Moan Ênuôl) gửi những người đồng tộc của mình viết: "Nhận thông tin vụ sát hại cán bộ, công an và nhân dân tại 2 xã thuộc huyện Cư Kuin, tôi rất căm phẫn và đau xót trước hành động man rợ của những kẻ sát nhân. Qua đây, tôi có đôi lời tâm tư với bà con dân tộc mình, đặc biệt là những người nhẹ dạ cả tin theo lời tuyên truyền, xúi giục của bọn phản động lưu vong (...). Kính mong các chú, các bác, anh em đồng bào hãy đoàn kết một lòng, đừng nghe theo lời dụ dỗ của kẻ xấu, chúng sẽ lợi dụng để chia rẽ chúng ta...".
    Cũng cần chỉ rõ những kẻ chủ mưu, chỉ đạo bạo loạn, khủng bố thực sự là ai? Câu hỏi này không khó trả lời. Ðó chính là những tổ chức phản động, những kẻ lạc loài lưu vong bên ngoài Tổ quốc nhưng không nguôi nuôi lòng thù hận với đất nước, với chế độ, với quê hương, với mảnh đất đại ngàn đã sinh ra và nuôi dưỡng chúng. Dù là tên gọi nào, hình thức nào thì bản chất chỉ có một.
    Ðơn cử như Fulro - dưới bàn tay giật dây của các thế lực thù địch với đất nước Việt Nam, là một tổ chức phản động cực kỳ nguy hiểm, độc ác, hoạt động kéo dài nhiều thời kỳ, nhiều năm tháng, có lúc tưởng chừng đã bị xóa sổ, nhưng tàn dư của nó vẫn tồn tại thông qua nhiều hình thức khác nhau.
    Sau Fulro 1, Fulro 2, giờ đây là Fulro thế hệ thứ 3 và các nhánh, nhóm phản động núp bóng tôn giáo, sắc tộc vẫn đang ngày đêm rình rập, tìm cơ hội tạo nên những bất ổn cho vùng đất đại ngàn. Chúng không từ bỏ âm mưu phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan, li khai, tự trị.
    Bằng chiêu bài sử dụng công cụ đội lốt tôn giáo như "Tin lành Ðêga", "Giáo hội Tin lành đấng Christ Việt Nam" rồi "Giáo hội Tin lành đấng Christ Tây Nguyên", chúng tập hợp lực lượng, tuyên truyền, huấn luyện các đối tượng nhằm lật đổ chính quyền nhân dân và thành lập nhà nước riêng - cái gọi là "Nhà nước Ðêga độc lập" hay "Nhà nước Tây Nguyên tự trị".
    Tại Hội nghị cấp cao những người đứng đầu lực lượng chống khủng bố các nước do Liên hợp quốc tổ chức tại New York (Mỹ) từ ngày 19 đến 22/6/2023, Thiếu tướng Phạm Ngọc Việt - Cục trưởng Cục An ninh nội địa (Bộ Công an Việt Nam), trong bài phát biểu của mình đã khẳng định vụ tấn công tại Ðắk Lắk ngày 11/6/2023 là hoạt động khủng bố có tổ chức với "hành vi manh động, liều lĩnh, man rợ, mất nhân tính". Ông đã phân tích, nhận diện đây là hoạt động do các tổ chức phản động lưu vong người Việt, các phần tử theo chủ nghĩa cực đoạn lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo trú chân tại một số quốc gia thiết lập cơ sở, chân rết, tổ chức huấn luyện cho các đối tượng trong nước và cử người xâm nhập vào Việt Nam chỉ đạo thực hiện hành động khủng bố. Trong các đối tượng tham gia vụ khủng bố, có một số đối tượng là thành viên một tổ chức có trụ sở tại Mỹ, nhận lệnh chỉ đạo từ tổ chức này xâm nhập về Việt Nam và dàn dựng vụ tấn công.
    Như đã nói, tưởng chừng Fulro chấm dứt hoạt động, nhưng không phải thế, cái bóng ma ấy vẫn núp từ bên ngoài Tổ quốc và len lỏi vào những cánh rừng, những buôn làng, mái nhà. Ðược các thế lực thù địch với Việt Nam "hà hơi tiếp sức", cung cấp nhân lực, vật lực, chúng tìm mọi cơ hội nhằm phá hoại sự bình yên của vùng đất Tây Nguyên bằng các hình thức tuyên truyền kích động, tổ chức bạo loạn, chống phá, khủng bố. Các cuộc bạo loạn năm 2001, 2004 và điểm nóng 2008 cùng với vụ khủng bố đẫm máu vừa qua là những minh chứng rõ nét về tội ác của tổ chức Fulro thế hệ mới.

 

Ngày Thương binh Liệt sĩ và những con số biết nói

     Hàng năm, cứ đến Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, chúng ta đều dành một khoảng lặng để tưởng nhớ những người anh hùng đã ngã xuống để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ. Có những người lính ra đi, nhưng các con số sẽ mãi mãi trường tồn, để nhắc nhở chúng ta không bao giờ quên công lao của những người con dũng cảm của Tổ quốc.
    Theo thống kê sơ bộ, cả nước có tổng cộng 1.146.250 liệt sĩ, trong đó 191.605 người hy sinh trong kháng chiến chống Pháp, 849.018 người hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ, và 105.627 người nằm xuống trong các chiến dịch khác bảo vệ Tổ quốc (như chiến tranh biên giới Tây Nam, chiến tranh biên giới phía Bắc, cuộc chiến bảo vệ chủ quyền biển đảo). Ngoài ra, tính đến hiện nay:
    - Hơn 200.000 hài cốt các liệt sĩ vẫn chưa được tìm thấy trên các chiến trường Việt Nam, Lào, Campuchia...
    - Cả nước có gần 800.000 thương binh và người được hưởng chính sách thương binh.
    - Hơn 300.000 hài cốt liệt sĩ chưa xác định được danh tính, tên tuổi, quê quán, đơn vị.
    - Hơn 300.000 người hoạt động kháng chiến và có con đẻ bị nhiểm chất độc da cam dioxin.
    - Gần 111.000 người hoạt động cách mạng và tham gia kháng chiến bị địch bắt giam, tra tấn trong các nhà tù nổi tiếng (Nhà tù Hỏa Lò, Sơn La, Lao Bảo, Côn Đảo, Phú Quốc).
    - Gần 800.000 thương bình và người hưởng chính sách thương binh trên cả nước.
    - Có trên 127.000 Bà mẹ Việt Nam anh hùng có chồng, con hi sinh trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.
    - Quảng Nam là tỉnh có nhiều liệt sĩ nhất với 65.000 người hi sinh trong chiến tranh, cũng là tỉnh có nhiều Bà mẹ Việt Nam anh hùng nhất với 11.658 mẹ.
    - Một số Bà mẹ Việt Nam anh hùng tiêu biểu:
     + Mẹ Nguyễn Thị Thứ ở Quảng Nam có chồng, 9 con ruột, 1 con dâu, 1 cháu nội là liệt sĩ.
     + Mẹ Lê Thị Tự ở Quảng Nam có 9 người con ruột là liệt sĩ.
    + Mẹ Phạm Thị Ngư ở Bình Thuận và mẹ Nguyễn Thị Rành ở huyện Củ Chi đều có 8 người con ruột là liệt sĩ.
    Những con số trên để chúng ta thấy được cái giá của hòa bình là không hề rẻ. Chúng ta nguyện đời đời ghi nhớ, tri ân công ơn của các anh hùng liệt sĩ, những Mẹ VNAH cũng như những gia đình đã cống hiến cho Tổ quốc.

Thúc đẩy phong trào "Nói và Làm" trong giai đoạn mới

Không chỉ có giá trị trong những ngày đầu tiên của sự nghiệp Đổi mới, "Những việc cần làm ngay” của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh còn mang sức sống thời đại, góp phần định hướng và động viên cán bộ, đảng viên, quân dân cả nước trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước, cũng như trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Chiều 24/4, cùng việc khai trương Trang thông tin đặc biệt, Báo Nhân Dân đã tổ chức Tọa đàm Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và Những việc cần làm ngay. Dự tọa đàm có các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Lê Quốc Minh, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam; Đỗ Tiến Sỹ, Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam; Nguyễn Đình Khang, Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; Nguyễn Hữu Nghĩa, Bí thư Tỉnh ủy Hưng Yên. Cùng dự có các đồng chí lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương và địa phương; các đồng chí lãnh đạo Báo Nhân Dân; các nhà báo lão thành, các nhà khoa học… Tọa đàm đã phân tích, đánh giá tinh thần đổi mới sáng tạo của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh; làm rõ thêm tính chiến đấu của những bài viết về tư tưởng đổi mới, kiên quyết chống tiêu cực của đồng chí đăng trên Báo Nhân Dân; tính thời sự, giá trị thời đại của "Những việc cần làm ngay” trong quá trình đổi mới xây dựng và bảo vệ đất nước, xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Đồng chí Nguyễn Văn Linh - Tổng Bí thư đổi mới Đánh giá cao Báo Nhân Dân khai trương Trang thông tin đặc biệt về Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và Những việc cần làm ngay, PGS,TS Trần Minh Trưởng - nguyên Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh nhấn mạnh, Đổi mới là mốc son tiêu biểu, đánh dấu những bước ngoặt quan trọng của cách mạng Việt Nam, đồng thời ghi nhận tài năng trí tuệ và sự năng động, sáng tạo, hiệu quả của nhà lãnh đạo Nguyễn Văn Linh. PGS,TS Trần Minh Trưởng phát biểu tại tọa đàm. (Ảnh: THỦY NGUYÊN) Trên trọng trách là Tổng Bí thư đầu tiên của thời kỳ đổi mới, đồng chí Nguyễn Văn Linh đã thể hiện bản lĩnh vững vàng, lập trường kiên định, cùng Bộ Chính trị, lãnh đạo Đảng và Nhà nước đề ra những quyết sách đúng đắn, huy động được toàn thể các tầng lớp nhân dân tham gia tiến hành sự nghiệp đổi mới. Đồng chí Nguyễn Văn Linh quán triệt: "Đổi mới là cách mạng”, muốn thắng lợi, phải quyết tâm, phải có phương pháp đúng, phù hợp, đồng thời có sự đột phá. Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Đại hội VI về đổi mới, "Đổi mới toàn diện” trên nguyên tắc "đổi mới nhưng phải giữ được ổn định chính trị”, trên cương vị Tổng Bí thư, đồng chí cùng Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Khóa VI triển khai đường lối đổi mới trên nguyên tắc: Đổi mới là để đạt đến mục tiêu chủ nghĩa xã hội bằng con đường, phương pháp, bước đi phù hợp quy luật khách quan. Đổi mới phải giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Đồng chí Tổng Bí thư chỉ đạo từng bước đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, kiên quyết không chấp nhận "đa nguyên, đa đảng”; tăng cường phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhưng không cho phép mất ổn định chính trị. Về công tác xây dựng Đảng, theo quan điểm của đồng chí, vấn đề quan trọng bậc nhất có tính chất sống còn của Đảng, là tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm cán bộ của đảng viên, của người đứng đầu trong việc thực hiện mục tiêu nhiệm vụ của Đảng, tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ trước nhân dân. Đồng chí Nguyễn Văn Linh đã kêu gọi các đồng chí lãnh đạo ở các cấp cần nêu gương tốt, giữ mình trong sạch, không quan liêu, không bè phái để có đủ uy tín và sự nghiêm minh trong công việc và củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng. Đồng chí nhấn mạnh, trong bất cứ kỳ hoàn cảnh nào, nguyên tắc Đảng phải gắn bó mật thiết với nhân dân, bởi: "căn cứ an toàn nhất là lòng dân”. Đồng chí nói: "Quan hệ Đảng với dân là quan hệ sống còn, dân lúc nào cũng cần Đảng, Đảng lúc nào cũng ở trong dân, sống chết vì nhân dân. Sự gắn bó giữa Đảng với dân là máu thịt…, đó là bài học quý báu của Đảng ta. Mỗi cán bộ, đảng viên dù ở cương vị công tác nào, trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng cần phải học, đã học rồi thì cần phải nhớ và làm theo”. Tại tọa đàm, đồng chí Đỗ Ngọc An, Phó Trưởng Ban Kinh tế Trung ương khẳng định, không phải ngẫu nhiên mà tên tuổi đồng chí Nguyễn Văn Linh được gắn liền với hai chữ "đổi mới”. Đồng chí được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội lần thứ VI. Đây cũng là Đại hội mở đầu cho thời kỳ đổi mới. Phó Trưởng Ban Kinh tế Trung ương Đỗ Ngọc An chia sẻ tại tọa đàm. (Ảnh: THỦY NGUYÊN) Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, một mặt khẳng định kiên trì định hướng xã hội chủ nghĩa, đề ra những nguyên tắc chỉ đạo công cuộc đổi mới; mặt khác chủ động phát huy trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân, tìm tòi những cơ chế, chính sách, biện pháp tích cực giải quyết những đòi hỏi cấp bách của đời sống xã hội, nhằm giữ vững sự ổn định chính trị, trật tự xã hội. Đồng chí Nguyễn Văn Linh đã cùng Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương kiên trì chấp hành đường lối Đại hội VI, cụ thể hóa vào các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự và các lĩnh vực khác, đối nội và đối ngoại. Nhờ đó, tình hình đất nước qua từng năm được cải thiện dần, lương thực từ chỗ không đủ ăn đã tiến tới xuất khẩu được, hàng tiêu dùng trong nước bớt khan hiếm hơn, giá cả phi mã được kiềm chế... Theo Phó Trưởng Ban Kinh tế Trung ương, kết quả lớn nhất đạt được vào thời điểm này là sản xuất, lưu thông hàng hóa được cởi trói, hoạt động theo cơ chế kinh tế thị trường với vai trò quản lý của Nhà nước; quyền tự chủ kinh doanh của cơ sở từng bước được xác lập. "Đồng chí Nguyễn Văn Linh khẳng định: Việc đổi mới phải bắt đầu từ lĩnh vực tư duy, trước hết là tư duy kinh tế, đổi mới tổ chức và cán bộ, phong cách lãnh đạo và công tác”, đồng chí Đỗ Ngọc An nhấn mạnh. Dựa trên cơ sở này, Đảng ta đã tiến hành ba nhiệm vụ quan trọng bao gồm: Bố trí lại cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư, tập trung sức người, sức của và việc thực hiện ba chương trình kinh tế lớn: Sản xuất lương thực-thực phẩm; sản xuất hàng tiêu dùng; sản xuất hàng xuất khẩu. Thứ hai, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nhằm giải phóng, xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chuyển sang cơ chế hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa đề thúc đẩy sản xuất phát triển. Thứ ba, tháo gỡ những ràng buộc bất hợp lý làm cho các thành phần kinh tế ở trong nước đều phát triển, kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo nhưng đồng thời khuyến khích các thành phần kinh tế tư nhân, cá thể đầu tư phát triển sản xuất. Phó Trưởng Ban Kinh tế Trung ương khẳng định, đồng chí Nguyễn Văn Linh đã xác định rõ: Muốn bảo đảm thực hiện được công cuộc đổi mới kinh tế có kết quả, chúng ta phải coi trọng hàng đầu việc mở rộng dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện khẩu hiệu: "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" để huy động được sức mạnh của toàn dân. Tham luận tại tọa đàm, đồng chí Nguyễn Đình Khang, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam nhấn mạnh, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh là nhà lãnh đạo tài năng, tư duy sáng tạo, trí tuệ lớn của cách mạng Việt Nam. Đặc biệt, đồng chí còn là nhà lãnh đạo phong trào công nhân, người đặt nền móng cho đổi mới nội dung và phương thức hoạt động công đoàn, đã dành nhiều trí tuệ, tâm huyết để xây dựng và phát triển phong trào công nhân, công đoàn, cả khi làm Chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam (nay là Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam) và khi giữ cương vị cao nhất - Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Nguyễn Đình Khang trình bày tham luận tại tọa đàm. (Ảnh: THỦY NGUYÊN) Trên cương vị Chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam, đồng chí Nguyễn Văn Linh luôn thể hiện quan điểm cần nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật, đánh giá đúng thực trạng, đề ra nhiệm vụ, giải pháp thiết thực, cụ thể xây dựng, chăm lo và phát huy vai trò của giai cấp công nhân, tổ chức Công đoàn trong xây dựng đất nước. Với cương vị là người đứng đầu của tổ chức Công đoàn Việt Nam, đồng chí đã lãnh đạo, chỉ đạo các cấp công đoàn tập hợp, vận động công nhân, lao động hăng hái thi đua lao động sản xuất, hoàn thành kế hoạch; đẩy mạnh phong trào công nhân viên chức thi đua phục vụ nông nghiệp; ra sức xây dựng và bảo vệ đất nước, củng cố quốc phòng; tổ chức và từng bước cải thiện đời sống, phát triển phúc lợi, bảo vệ lợi ích chính đáng của công nhân viên chức; vận động cán bộ viên chức tích cực tham gia cải tiến quản lý xí nghiệp, quản lý kinh tế, quản lý nhà nước; đẩy mạnh giáo dục chính trị, văn hóa, kỹ thuật và nghiệp vụ cho công nhân; tích cực góp phần tăng cường đoàn kết lao động và phong trào công đoàn thế giới đấu tranh vì quyền lợi của những người lao động, vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội; cải tiến phương pháp công tác, xây dựng công đoàn vững mạnh. Trước yêu cầu của tình hình mới, đồng chí luôn chỉ đạo, yêu cầu tổ chức Công đoàn phải đổi mới nội dung, phương thức hoạt động để phát huy được vai trò to lớn đối với giai cấp công nhân và toàn xã hội, thu hút ngày càng đông đảo công nhân, viên chức tham gia, để công đoàn thực sự trở thành động lực mạnh mẽ, khơi dậy mọi tiềm năng, trí tuệ của công nhân, viên chức trong lao động, sản xuất; trong việc tham gia quản lý đơn vị của mình và trong toàn xã hội. Với nhận thức quan trọng nhất của đổi mới là đổi mới tư duy, đồng chí Nguyễn Văn Linh đã chỉ đạo tổ chức công đoàn phải bắt đầu từ đổi mới tư duy. Theo đồng chí, chỉ có trên cơ sở nhận thức đúng đắn, đầy đủ, toàn diện và khách quan vị trí, vai trò, chức năng của công đoàn trong giai đoạn mới, thì mới có cơ sở để đổi mới tổ chức hoạt động công đoàn đúng đắn, hoàn thiện hơn. Đại hội VI của Đảng - Đại hội mở đầu cho đường lối đổi mới đất nước - đã bầu đồng chí Nguyễn Văn Linh làm Tổng Bí thư của Đảng. Trên cương vị Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng chí tiếp tục quan tâm chăm lo việc làm, đời sống công nhân lao động, xây dựng giai cấp công nhân và chỉ đạo hoạt động công đoàn. Tác phong "Nói và Làm”, tinh thần của loạt bài "Những việc cần làm ngay” trên Báo Nhân Dân thể hiện rõ trong các chỉ đạo của đồng chí đối với tổ chức Công đoàn. Đặc biệt, theo đồng chí Nguyễn Văn Linh, hoạt động công đoàn phải "tùy theo đặc điểm của từng loại hình kinh tế để có hình thức thích hợp”, phải phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của từng giai đoạn cách mạng và điều kiện cụ thể của công nhân, lao động. Từ tư duy đúng đắn đó, đồng chí Nguyễn Văn Linh cho rằng việc đổi mới phương thức hoạt động công đoàn phải bắt đầu ngay từ cơ sở, là nơi chức năng của công đoàn được thực hiện đầy đủ và sinh động, nơi tác động hằng ngày đến người lao động. Để đổi mới hoạt động công đoàn, đồng chí lưu ý trước hết người cán bộ công đoàn phải đổi mới tư duy và phong cách, gắn chặt giữa lý luận và thực tiễn. Cán bộ công đoàn phải bám sát cơ sở, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của người lao động, bảo vệ quyền lợi hợp pháp chính đáng của họ. "Đã hơn 35 năm qua, những tư tưởng, quan điểm của đồng chí Nguyễn Văn Linh về đổi mới phương thức hoạt động công đoàn vẫn có ý nghĩa hết sức sâu sắc trong nghiên cứu lý luận cũng như chỉ đạo hoạt động thực tiễn của công đoàn nước ta. Vấn đề đặt ra cho các cấp công đoàn là cần vận dụng sáng tạo các quan điểm, nội dung, phương thức xây dựng giai cấp công nhân và hoạt động công đoàn phù hợp với điều kiện mới”, đồng chí Nguyễn Đình Khang nhấn mạnh. "Đã hơn 35 năm qua, những tư tưởng, quan điểm của đồng chí Nguyễn Văn Linh về đổi mới phương thức hoạt động công đoàn vẫn có ý nghĩa hết sức sâu sắc trong nghiên cứu lý luận cũng như chỉ đạo hoạt động thực tiễn của công đoàn nước ta - Đồng chí Nguyễn Đình Khang". Đồng chí Nguyễn Văn Linh với "Những việc cần làm ngay” Trong suốt quá trình xây dựng và phát triển, lãnh đạo cách mạng Đảng ta luôn luôn khẳng định báo chí là lĩnh vực đặc biệt quan trọng trong toàn bộ công tác tư tưởng của Đảng, nhất là trong những giai đoạn có ý nghĩa bước ngoặt của cách mạng. Khi sớm thấy bệnh tham nhũng, lãng phí, quan liêu có thể trở thành quốc nạn, lực cản sự nghiệp đổi mới đất nước, đồng chí Nguyễn Văn Linh đã công khai trước công luận về "Những việc cần làm ngay” với hàng loạt bài báo trên Báo Nhân Dân, từ số đầu tiên 25/5/1987 đến số cuối cùng 28/9/1990. Từng trực tiếp chỉ đạo xuất bản 31 số báo về "Những việc cần làm ngay” khi còn là Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, nhà báo lão thành Hà Đăng khẳng định những người làm Báo Nhân Dân không bao giờ quên hình ảnh lão đồng chí Nguyễn Văn Linh đã đích thân mang bài báo đầu tiên dưới bút danh N.V.L đến tòa soạn, mở ra chuyên mục "Những việc cần làm ngay”, nghiêm khắc phê phán những việc làm tiêu cực trong xã hội, từng gây chấn động trong dư luận thời kỳ đầu đổi mới. Nhà báo lão thành Hà Đăng phát biểu tại tọa đàm. (Ảnh: THỦY NGUYÊN) Về sau, đồng chí Nguyễn Văn Linh nói lại với các nhà văn, nhà báo: "Tôi không phải là nhà văn nghệ, nhà báo nhưng 'ngứa ngáy' quá vừa rồi mới viết Những việc cần làm ngay. Nhiều người hoan nghênh, hưởng ứng nhưng không phải không có những người cho rằng "bôi đen chế độ”. Trả lời một nhà báo nước ngoài hỏi tại sao có lúc N.V.L không thấy có bài trên báo, đồng chí nói: "Vì những bài báo của N.V.L chẳng qua cũng như mở máy và nhấn ga cho ô-tô chạy và cái ô-tô đó phải là các nhà báo, là quần chúng… Rồi ra lần lần cũng sẽ có một số bài khác của N.V.L, lần lần cũng phải nhấn ga để cho ô-tô chạy với tốc độ nhanh hơn”. Theo nhà báo Hà Đăng, cái mà "Những việc cần làm ngay” đạt được đã vượt ra ngoài kích cỡ những bài báo. "Nó thực tế nêu lên một phong cách làm việc - phong cách nói đi đôi với làm, đã nói là làm. Và không phải ngẫu nhiên mà người ta gọi N.V.L là ông Nói và Làm”. Bản thân đồng chí Nguyễn Văn Linh đã nhiều lần đến thăm Báo Nhân Dân. Đồng chí "mong muốn đội ngũ những người làm Báo Nhân Dân kiên trì học tập tư tưởng và phong cách làm báo của Bác Hồ”, "mong rằng Báo Nhân Dân cố gắng vượt bậc, khắc phục mọi khó khăn, vững vàng trong mọi tình thế, tiếp tục đổi mới, làm cho tờ báo của Trung ương Đảng tiếp tục xứng đáng là vũ khí tư tưởng sắc bén của Đảng và là người bạn gần gũi, đáng tin cậy của nhân dân”. Ôn lại những kỷ niệm về Tổng Bí thư với Báo Nhân Dân, nhà báo lão thành Hồng Vinh, nguyên Tổng Biên tập Báo Nhân Dân cho biết, sau khi đăng những bài đầu tiên trong chuyên mục "Những việc cần làm ngay”, giới báo chí cả nước rất phấn chấn, bởi trong các bài viết có rất nhiều tư liệu đồng chí Nguyễn Văn Linh dẫn ra từ các báo. Nhà báo lão thành Hồng Vinh ôn lại những kỷ niệm về Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh với Báo Nhân Dân. (Ảnh: THỦY NGUYÊN) Với những thông tin trên, đồng chí đề nghị các cơ quan có trách nhiệm kiểm tra, và qua kiểm tra, các cơ quan báo cáo đều là đúng, và tiến hành xử lý bước đầu. "Có thể nói, chuyên mục "Những việc cần làm ngay” đã nâng vị thế của báo chí. Những bài viết ký tên N.V.L đã đem lại sức sống mới cho những người làm báo”, nhà báo Hồng Vinh nhấn mạnh. "Có thể nói, chuyên mục "Những việc cần làm ngay” đã nâng vị thế của báo chí. Những bài viết ký tên N.V.L đã đem lại sức sống mới cho những người làm báo - Nhà báo Hồng Vinh". Cũng theo nhà báo Hồng Vinh, đồng chí Nguyễn Văn Linh là người rất cầu thị, biết lắng nghe, đồng thời cũng rất kiên định về lập trường, nguyên tắc. Cụ thể, đồng chí rất tôn trọng đội ngũ giúp việc của mình. Với mỗi bài báo, dù lớn hay nhỏ, đồng chí đều gửi lại từng người trong nhóm xem và góp ý kiến. Đặc biệt, với các bài viết cho chuyên mục "Những việc cần làm ngay”, đồng chí dặn dò nhóm giúp việc cần theo dõi dư luận xã hội, mạnh dạn phát biểu về những gì chưa đúng, thậm chí có thể đề xuất sửa để đồng chí tiếp thu. Đồng chí từng khẳng định sẽ luôn đồng hành cùng những người có chung quan điểm thấy rằng "Những việc cần làm ngay” là cần thiết, cấp bách, đồng hành cũng những ai có tư tưởng chống tham nhũng, tiêu cực. Nhà báo Hồng Vinh cho rằng, với việc ôn lại những câu chuyện và bài học quý về Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, sự kiện hôm nay là lời nhắc nhở chúng ta phải kiên định thực hiện đường lối của Đảng, kiên định bảo vệ Đảng, kiên định bảo vệ cái đúng, đấu tranh, ngăn chặn những cái sai. Những việc cần làm ngay của tác giả N.V.L là "cú hích” tạo đà cho chuyển biến mạnh mẽ trong xã hội theo hướng dân chủ hóa, khuyến khích báo chí tham gia ngày càng tích cực và mạnh mẽ trên mặt trận chống tiêu cực, tạo những hiệu ứng xã hội to lớn, tạo được phong trào sôi nổi trong đông đảo nhân dân. Tham gia ý kiến tại tọa đàm, đồng chí Nguyễn Minh Đức, Tổng Biên tập Báo Hà Nội mới cho biết, qua 31 bài báo của tác giả N.V.L, đã tạo ra một không khí chính trị đổi mới, rất thẳng thắn, lan tỏa trên phạm vi cả nước. Không khí chính trị ấy là tinh thần cơ bản trong thành công của quá trình đổi mới, giúp người trẻ vững tin hơn vào Đảng để vượt qua những thời điểm rất khó khăn của đất nước. Đồng chí Nguyễn Minh Đức, Tổng Biên tập Báo Hà Nội mới. (Ảnh: THỦY NGUYÊN) Đồng chí Nguyễn Minh Đức nhấn mạnh, những người làm báo hôm nay phải soi vào, học tập những bài báo của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh để rèn luyện bản lĩnh người làm báo. Nói về giới báo chí, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh từng có quan điểm rất rõ ràng: Nhà báo phải bản lĩnh, dám nói thẳng, nói thật, phong cách phải gọn gàng, dễ hiểu. Báo chí phải là diễn đàn của mọi tầng lớp, nhân dân, phải có chuyên mục phản ánh được ý của dân, đề đạt nguyện vọng của dân. Cùng với đó, tấm lòng của nhà báo phải trong trắng, tha thiết và hăng say, đồng thời phải cương trực, yêu người làm đúng, ghét bọn làm xấu, làm sai. Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh với quê hương Hưng Yên Là người con của quê hương Hưng Yên, đồng chí Nguyễn Văn Linh đã nhiều lần về thăm, làm việc tại Hưng Yên, căn dặn cán bộ, đảng viên, nhân dân tỉnh phải phấn đấu xây dựng tỉnh thành địa phương giàu mạnh. Thực hiện chủ trương, quan điểm tư tưởng của Đảng, của Bác Hồ, của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, Hưng Yên từ tỉnh nông nghiệp, xuất phát điểm thấp, đã và đang vận dụng, sáng tạo đường lối đổi mới của Đảng, xây dựng tỉnh vững mạnh. Tại tọa đàm, đồng chí Nguyễn Hữu Nghĩa, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Hưng Yên khẳng định, địa phương này luôn xác định vận dụng tinh thần kiên định, sáng tạo của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh để quyết tâm xây dựng Hưng Yên thành tỉnh vững mạnh của cả nước. Bí thư Tỉnh ủy Hưng Yên Nguyễn Hữu Nghĩa phát biểu tại tọa đàm. (Ảnh: THỦY NGUYÊN) Theo đồng chí, thực hiện mong muốn của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, những năm qua, Đảng bộ và nhân dân Hưng Yên đã vận dụng hiệu quả tinh thần kiên định, sáng tạo của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh trong việc đề ra và thực hiện các khâu đột phá chiến lược xây dựng tỉnh vững mạnh. "Thực hiện mong muốn của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, những năm qua, Đảng bộ và nhân dân Hưng Yên đã vận dụng hiệu quả tinh thần kiên định, sáng tạo của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh trong việc đề ra và thực hiện các khâu đột phá chiến lược xây dựng tỉnh vững mạnh - Bí thư Tỉnh ủy Hưng Yên Nguyễn Hữu Nghĩa". Với tầm nhìn và quyết tâm này, từ điểm xuất phát thấp, năm 1997, GDP bình quân là 180 USD/người, kết cấu hạ tầng chưa phát triển, hệ thống giao thông vận tải khó khăn, qua hơn 26 năm tái lập, đến nay Hưng Yên đã xây dựng được một nền tảng kinh tế-xã hội tương đối đồng bộ, vững chắc. Cụ thể, theo đồng chí, năm 2022, tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh đạt 12,84% và là năm đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất trong khoảng 15 năm trở lại đây; đứng thứ nhất vùng đồng bằng sông Hồng và đứng thứ 5 cả nước. Các cân đối kinh tế lớn được củng cố vững chắc hơn; cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp, dịch vụ. Tổng quy mô nền kinh tế (GRDP) đạt 132 nghìn tỷ đồng đứng thứ 16 cả nước, GRDP bình quân đầu người đạt 101,8 triệu đồng; năng suất lao động đạt 196,3 triệu đồng/lao động, cao hơn mức bình quân của cả nước. Thu ngân sách Nhà nước của tỉnh đạt mức cao nhất từ trước đến nay, với 51.400 tỷ đồng, Hưng Yên đã đứng trong Top 10 tỉnh, thành phố có số thu cao nhất cả nước, trong đó thu nội địa đạt gần 47 nghìn tỷ đồng, đứng đầu khu vực Bắc Bộ (không kể thành phố Hà Nội)… Bên cạnh đó, công tác đầu tư xây dựng hạ tầng khu, cụm công nghiệp và thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp được quan tâm. Hạ tầng kinh tế-xã hội, nhất là hạ tầng giao thông của tỉnh được đẩy mạnh với nhiều công trình, dự án quy mô lớn, mang tính kết nối vùng, địa phương được triển khai. Nhiệm vụ phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới đạt kết quả tích cực. Trong năm đã chuyển đổi hàng trăm héc-ta đất lúa sang trồng các loại cây có giá trị kinh tế cao như hoa, cây cảnh, cây ăn quả, cây dược liệu đem lại giá trị cao trên đất canh tác. Công tác xây dựng và phát triển đô thị được quan tâm, năm 2022 có một loạt khu đô thị mới được đầu tư xây dựng, đưa tỷ lệ đô thị hóa tăng lên 43,5%, thu hút hàng vạn người dân về sinh sống. Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị của tỉnh được Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy và các cấp ủy đảng trong tỉnh xác định là nhiệm vụ quan trọng, then chốt. Đảng bộ, chính quyền Hưng Yên đang tiếp tục đẩy mạnh lãnh đạo triển khai, cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX nhiệm kỳ 2020-2025. Chia sẻ những kỷ niệm với gia đình Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, đồng chí Nguyễn Văn Đoan, Bí thư Huyện ủy Yên Mỹ khẳng định, thời gian qua, cấp ủy, chính quyền huyện Yên Mỹ đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo huy động mọi nguồn lực, tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức, phát huy tiềm năng lợi thế của huyện; vận dụng đổi mới sáng tạo các chủ trương đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước để đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng Đảng, chính quyền, đoàn thể trong sạch, vững mạnh. Đồng chí Nguyễn Văn Đoan, Bí thư Huyện ủy Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên chia sẻ những kỷ niệm với gia đình Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh. Ảnh: THỦY NGUYÊN Đồng chí cho biết thêm, Đại hội Đảng bộ huyện Yên Mỹ nhiệm kỳ 2020-2025 đã xác định "Đổi mới, nâng cao chất lượng xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh, tập trung phát triển kinh tế-xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh, xây dựng huyện Yên Mỹ thành huyện công nghiệp”. Để thực hiện mục tiêu này, Yên Mỹ đã đề ra một loạt các nhóm giải pháp quyết liệt như nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tập trung phát triển kinh tế-xã hội, đẩy mạnh phát triển văn hóa, giáo dục. Các đại biểu tham dự buổi tọa đàm. Ảnh: THỦY NGUYÊN "Phát huy truyền thống tốt đẹp của quê hương Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Yên Mỹ quyết tâm phát huy nội lực kết hợp tổng lực để tiếp tục thực hiện năng động sáng tạo, hoàn thành các mục tiêu đã đề ra, quyết tâm xây dựng Yên Mỹ thành huyện công nghiệp của tỉnh”, đồng chí Nguyễn Văn Đoan nhấn mạnh.

Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới

Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là quy luật, bài học quý giá của cách mạng Việt Nam. Hiện nay, trước những diễn biến phức tạp, khó lường của tình hình thế giới, nhất là những thách thức an ninh phi truyền thống, việc nghiên cứu, vận dụng linh hoạt, sáng tạo quy luật kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại có ý nghĩa cấp thiết, nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong bảo vệ Tổ quốc ở Việt Nam là gắn kết chặt chẽ toàn bộ sức mạnh quốc gia - dân tộc với sức mạnh của xu thế, mục tiêu quốc tế là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, tiến bộ xã hội và sự phát triển bền vững của văn minh nhân loại, nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp để thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng với lãnh đạo Bộ Quốc phòng dự Lễ Tuyên dương gương mặt trẻ tiêu biểu toàn quân năm 2023_Ảnh: TTXVN Trong thời đại cách mạng vô sản, chủ nghĩa Mác - Lê-nin cho rằng, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình, giai cấp vô sản ở mỗi nước phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp giành thắng lợi cho cách mạng. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản năm 1848, C. Mác và Ph. Ăng-ghen kêu gọi: "Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại!”(1). Trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, V.I. Lê-nin đã bổ sung khẩu hiệu đó và đưa ra khẩu hiệu: "Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại!”(2). Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh nhận thức rõ tầm quan trọng đặc biệt của nhân tố thời đại đối với cách mạng nước nhà. Ngay từ những ngày đầu của hành trình tìm đường cứu nước, Người khẳng định: "Cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới. Ai làm cách mệnh trong thế giới đều là đồng chí của dân An Nam cả”(3). Theo đó, phải giáo dục chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế vô sản cho nhân dân lao động nước mình, làm cho tinh thần yêu nước trở thành một bộ phận của tinh thần quốc tế vô sản. Người kêu gọi: "Vì nền hòa bình thế giới, vì tự do và ấm no, những người bị bóc lột thuộc mọi chủng tộc cần đoàn kết lại và chống bọn áp bức”(4). Trong mối quan hệ giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, sức mạnh dân tộc là nguồn lực nội sinh, giữ vai trò quyết định; sức mạnh thời đại là nguồn lực bên ngoài chỉ có thể phát huy tác dụng thông qua nhân tố bên trong là sức mạnh dân tộc, và khi nó được phát huy thì sẽ làm cho sức mạnh dân tộc tăng lên. Người chỉ rõ: "phải tự lực cánh sinh. Trông vào sức mình”(5); "muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã”(6). "Cố nhiên sự giúp đỡ của các nước bạn là quan trọng, nhưng không được ỷ lại, không được ngồi mong chờ người khác. Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”(7). Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người luôn yêu cầu phải kết hợp chặt chẽ mục tiêu đấu tranh cho độc lập dân tộc với các mục tiêu của thời đại là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trở thành bài học kinh nghiệm xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đặc biệt, qua hơn 36 năm đổi mới đất nước, việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại đã để lại dấu ấn đặc sắc qua các kết quả, thành tựu to lớn, có tính bước ngoặt. Từ chỗ bị bao vây, cấm vận ngặt nghèo, đến nay, nước ta đã vào nhóm nước có thu nhập trung bình, là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; uy tín, vị thế quốc gia trên trường quốc tế ngày càng được khẳng định và nâng lên. Tuy nhiên, chúng ta cũng đang đối diện với những thách thức lớn: rơi vào bẫy thu nhập trung bình; tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên; các nhân tố của an ninh phi truyền thống và sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch đối với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội… Trước yêu cầu của nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới, việc vận dụng quy luật kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là đòi hỏi mang tính tất yếu khách quan. Theo đó, cần chú ý thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau: Một là, nhận thức đúng về sức mạnh quốc gia - dân tộc, tình hình thế giới và việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Sức mạnh quốc gia - dân tộc được tạo nên bởi nhiều yếu tố, như quy mô và chất lượng của dân số cả nước; nguồn tài nguyên thiên nhiên; vị trí địa - chính trị và địa - kinh tế; truyền thống văn hóa; sự ổn định chính trị - xã hội; đường lối đúng đắn của Đảng và sự đồng tình, ủng hộ của các tầng lớp nhân dân; sức mạnh tổng hợp quốc gia và vị thế quốc gia trên trường quốc tế... Hiện nay, tình hình thế giới đang có những biến chuyển hết sức nhanh chóng, phức tạp và khó lường. Toàn cầu hóa đã trở thành một hiện thực khách quan được hầu hết quốc gia chấp nhận. Toàn cầu hóa diễn ra không chỉ trong lĩnh vực kinh tế, mà còn trong các lĩnh vực văn hóa, xã hội, chính trị, quốc phòng, an ninh. Theo đó, mỗi quốc gia không thể tách rời mà luôn là một bộ phận cấu thành của môi trường quốc tế, chịu sự tác động đa dạng, nhiều chiều của môi trường quốc tế. Quan niệm chung về vai trò, ý nghĩa của các quốc gia - dân tộc và mối quan hệ giữa các quốc gia - dân tộc trong hệ thống quốc tế cũng đang có sự phát triển mới. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang đến nhiều thành tựu đột phá, như trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ thông minh (Smart technology), công nghệ in 3D và internet kết nối vạn vật (IoT). Cùng với quá trình toàn cầu hóa, khoa học và công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, theo đó, người lao động có trình độ chuyên môn cao ngày càng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Trong bối cảnh, tình hình mới, chúng ta càng phải xác định rõ, cách mạng Việt Nam vẫn luôn luôn là một bộ phận không thể tách rời của cách mạng thế giới, vì vậy cần tiếp tục đoàn kết, ủng hộ các phong trào, trào lưu tiến bộ trên thế giới vì mục tiêu hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Đồng thời, tận dụng tối đa sức mạnh thời đại, vượt qua nguy cơ, thách thức, không ngừng gia tăng nguồn lực để nâng cao sức mạnh tổng hợp của đất nước, bảo vệ Tổ quốc "từ sớm, từ xa”. Hai là, biết cách ứng xử và điều chỉnh linh hoạt để phù hợp với các xu thế, chuẩn mực chung của quốc tế và khu vực, nhất là các chuẩn mực đã được quốc tế thừa nhận và áp dụng rộng rãi. Trong môi trường toàn cầu hóa, các thông lệ, chuẩn mực quốc tế trong nhiều trường hợp trở thành tiêu chí quan trọng, chi phối sự hợp tác và đấu tranh giữa các quốc gia. Do vậy, chúng ta cần nhạy bén và có cách ứng xử để vừa bảo đảm lợi ích quốc gia, vừa phù hợp với các chuẩn mực của khu vực và quốc tế. Theo đó, cần bám sát, theo dõi chặt chẽ, nhận định kịp thời, chính xác tình hình thế giới và khu vực, dự đoán xu thế phát triển của nó để xác định thời cơ và thách thức đối với việc kết hợp các nhân tố bên trong với các nhân tố bên ngoài. Trong quan hệ quốc tế, cần quán triệt và thực hiện tốt đường lối đối ngoại của Đảng trong tình hình mới. "Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi... Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”(8). Bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước đối với các hoạt động đối ngoại. Xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân. Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại. Cán bộ, chiến sĩ lực lượng gìn giữ hòa bình Việt Nam tại Nam Sudan_Nguồn: toquoc.vn Chủ động tham gia và đóng góp tích cực trong xây dựng các "luật chơi” chung trong môi trường quốc tế, qua đó, tăng cường uy tín, vị thế quốc gia và gia tăng sức mạnh tổng hợp trong bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Ba là, chú trọng xây dựng và tăng cường đồng thuận xã hội, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong bảo vệ Tổ quốc. Đây là nội dung, biện pháp quan trọng và cần thiết để tăng cường sức mạnh tự cường bên trong, là sự vận dụng bài học quý báu về "dựa vào sức mình là chính” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Đồng thuận xã hội là sự đồng thuận giữa Nhà nước và nhân dân, các tầng lớp nhân dân, các thành phần kinh tế, giữa các vùng, miền, các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam nói chung; là sự chia sẻ, phối hợp hài hòa lợi ích tổng thể của quốc gia - dân tộc trong mỗi mục tiêu, chính sách. Điều này còn được thể hiện qua việc không ngừng xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, để Nhà nước ta thực sự là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Có đồng thuận xã hội, sức mạnh dân tộc sẽ được nhân lên bội phần, từ đó dễ dàng và thuận lợi hơn trong việc huy động các nguồn lực từ bên ngoài. Để xây dựng sự đồng thuận xã hội, cần coi trọng phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; đồng thời, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, với tư cách là hạt nhân của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Theo đó, Đảng cần không ngừng tự đổi mới, chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu để thực sự là đội tiên phong của giai cấp công nhân và của cả dân tộc trong lãnh đạo sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang, bảo đảm lực lượng vũ trang luôn đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng. Nêu cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc trong tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân; tuyên truyền, động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ, tích cực tham gia thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; tập hợp ý kiến đóng góp của nhân dân đối với chủ trương, chính sách bảo vệ Tổ quốc để phản ánh, kiến nghị với Đảng và Nhà nước.../.

Nền tảng vững chắc cho sự phát triển của đất nước

Ngay từ những ngày thành lập, Đảng ta đã xác định chính sách dân tộc có vai trò và vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam, là một yếu tố mang tính quyết định góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Người dân bản Bộng, xã Thành Sơn (huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An) học nghề dệt thổ cẩm truyền thống. Người dân bản Bộng, xã Thành Sơn (huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An) học nghề dệt thổ cẩm truyền thống. Trong mỗi giai đoạn lịch sử, chính sách dân tộc không ngừng được Đảng, Nhà nước ta quan tâm bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện để phù hợp tình hình thực tiễn và đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Đặc biệt trong những năm gần đây các nguyên tắc, vấn đề cơ bản về vấn đề dân tộc tiếp tục được khẳng định và bổ sung nhằm phát huy mọi nguồn lực để phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Vừa qua, lợi dụng sự việc một nhóm đối tượng gây mất an ninh trật tự ở Đắk Lắk, các tổ chức, cá nhân chống phá, thù địch, thiếu thiện chí với Việt Nam lập tức khai thác triệt để nhằm vu cáo chính quyền, xuyên tạc các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Đáng chú ý, chiêu bài vu cáo "Nhà nước Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền” tiếp tục được các đối tượng chống phá triệt để sử dụng như cho rằng nguyên nhân của vụ việc là do "người dân tộc không khuất phục, không quy thuận người Kinh”, "do căng thẳng sắc tộc, tôn giáo”. Có thể thấy, đây là một trong những chiêu trò quen thuộc của chúng nhằm cố tình xuyên tạc bản chất của vụ việc, hướng lái dư luận theo những ý đồ đen tối. Trong khi đó, dựa trên những kết quả điều tra thực tế, cơ quan chức năng đã đánh giá đây là vụ khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, hành vi của các đối tượng rất man rợ, mất nhân tính, thể hiện quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng. Lực lượng công an đã có tài liệu, chứng cứ chứng minh vụ án xảy ra còn do có sự hậu thuẫn, chỉ đạo từ một số tổ chức, cá nhân ở nước ngoài, thậm chí cử đối tượng từ nước ngoài xâm nhập trái phép về Việt Nam dàn dựng, chỉ đạo tấn công khủng bố. Hiện nay các cơ quan chức năng đang tiếp tục điều tra làm rõ để xử lý nghiêm minh theo đúng quy định của pháp luật. Thông tin về vụ việc đã được công bố kịp thời trên các phương tiện truyền thông đại chúng để người dân chủ động nắm bắt, hiểu rõ bản chất vấn đề, tuyệt đối không tin, nghe theo những luận điệu xuyên tạc của các đối tượng xấu. Vụ việc nêu trên một lần nữa cho thấy các thế lực thù địch, phản động luôn dùng mọi âm mưu, thủ đoạn hòng chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, xuyên tạc chính sách dân tộc ở Việt Nam. Thực tế, nhiều năm qua, mỗi khi xảy ra vấn đề nào có liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số thì các đối tượng này đều tìm cách triệt để lợi dụng với mục đích kích động mâu thuẫn, xung đột, làm căng thẳng tình hình, từ đó tìm cách mua chuộc, lôi kéo những người thiếu hiểu biết, bất mãn thực hiện các hành vi chống phá, gây rối theo sự điều hành, dẫn dắt của chúng. Bằng cách này chúng âm mưu tạo ra những mầm mống ly khai, chia rẽ nội bộ từ bên trong, gây bất ổn về chính trị, làm suy yếu chính quyền địa phương. Thí dụ việc một số đồng bào dân tộc thiểu số do chưa nắm rõ thông tin nên chưa đồng tình với một vài chính sách ở các địa phương, đã được các đối tượng phản động lập tức xuyên tạc thành "chính quyền đàn áp người dân tộc thiểu số, vi phạm quyền tự do tôn giáo, nhân quyền của đồng bào du canh du cư”, nhằm kích động người dân bất hợp tác, chống đối cơ quan chức năng, hủy hoại tài sản của Nhà nước, gây mất an ninh trật tự trên địa bàn. Bên cạnh đó các đối tượng chống phá thường xuyên khai thác sự chênh lệch về mức hưởng thụ đời sống văn hóa, tinh thần giữa các vùng miền để khoét sâu những khó khăn, thiếu thốn của đồng bào các dân tộc thiểu số, nhất là khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, những nơi xảy ra thiên tai, dịch bệnh từ đó xuyên tạc rằng "Đảng, Nhà nước ta thiếu quan tâm”, "đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Nam bị ngược đãi, phân biệt đối xử”... Chưa kể, lợi dụng một số yếu kém, sai phạm trong công tác quản lý, điều hành ở một số địa phương, các đối tượng chống phá lập tức lu loa, biến thành vấn đề chính sách dân tộc của Việt Nam là thiếu bình đẳng, không công bằng. Mưu đồ sâu xa là từ việc gây ra những "đốm lửa nhỏ” như vậy các đối tượng chống phá hy vọng sẽ thổi bùng lên thành những "đám cháy” lớn để kích động lôi kéo, tập hợp lực lượng chống phá Đảng, Nhà nước, kêu gọi sự can thiệp của các tổ chức quốc tế nhằm "quốc tế hóa” các vấn đề nội bộ, từ đó lật đổ chế độ, cản trở sự phát triển của Việt Nam. Cần khẳng định rằng, Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán về chủ trương, chính sách dân tộc, theo nguyên tắc đã được xác định trong Hiến pháp 2013 đó là: nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam; các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc; ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình; Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước (Điều 5). Bên cạnh đó, Đảng, Nhà nước ta còn thường xuyên có những chủ trương, chính sách, văn bản chỉ đạo, định hướng đối với công tác dân tộc nhằm hoàn thiện các cơ chế, chính sách, bảo đảm các dân tộc đều bình đẳng, được tôn trọng như nhau, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển, đóng góp cho sự phát triển của đất nước. Tiêu biểu có thể kể đến Nghị quyết số 22/NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 27/11/1989 về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế-xã hội miền núi. Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, Đảng ta đã ban hành nghị quyết riêng về công tác dân tộc (Nghị quyết số 24/NQ-TW ngày 12/3/2003). Quốc hội đã ban hành các luật khung và luật chuyên ngành nhằm góp phần hoàn thiện khung pháp lý cho việc bảo đảm và thúc đẩy các quyền cũng như chính sách hỗ trợ phát triển cho đồng bào dân tộc thiểu số. Thống kê sơ bộ cho thấy từ năm 2010 đến 2022 Chính phủ đã xây dựng, ban hành 118 văn bản chính sách; 54 đề án, chính sách dân tộc trực tiếp hỗ trợ phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Trong đó có các nhóm chính sách: về giảm nghèo bền vững; giáo dục, đào tạo; y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân; bồi dưỡng, đào tạo cán bộ là người dân tộc thiểu số, miền núi và nhóm chính sách, cơ chế đặc thù về truyền thông và tuyên truyền vận động, phổ biến giáo dục pháp luật,... Đáng chú ý, ngày 28/1/2022 Chính phủ ban hành Nghị quyết số 10/NQ-CP về chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045, trong đó tiếp tục nhấn mạnh quan điểm kiên trì và nhất quán thực hiện các quan điểm của Đảng về công tác dân tộc. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp nhau cùng phát triển; phát huy tối đa sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, ý chí tự lực, tự cường, lòng tự hào dân tộc trong cộng đồng các dân tộc thiểu số, hướng tới mục tiêu vì một Việt Nam thịnh vượng. Từ những chủ trương, chính sách đúng đắn, cùng với sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, sát sao của Đảng, Nhà nước, những chính sách dân tộc đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Kết luận số 65-KL/TW của Bộ Chính trị ngày 30/10/2019 về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24/NQ-TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới ghi nhận: công tác dân tộc có nhiều chuyển biến tích cực, đạt được nhiều thành tựu toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; phát huy sức mạnh đoàn kết các dân tộc, đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, củng cố lòng tin của đồng bào dân tộc thiểu số đối với Đảng, Nhà nước. Các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể các cấp đã cụ thể hóa thực hiện Nghị quyết phù hợp với điều kiện của địa phương, đơn vị. Nhà nước đã ban hành chính sách, pháp luật, bố trí nguồn lực để phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tăng cường vận động, tuyên truyền, động viên đồng bào dân tộc thiểu số tích cực tham gia các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước, phát huy nội lực để phát triển kinh tế, cải thiện và nâng cao cuộc sống, đóng góp vào sự nghiệp phát triển đất nước. Kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội được quan tâm đầu tư, góp phần tạo diện mạo mới cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số được cải thiện rõ nét. Sự nghiệp giáo dục-đào tạo và chăm sóc sức khỏe nhân dân có nhiều tiến bộ; các giá trị văn hóa dân tộc truyền thống được bảo tồn và phát huy. Quyền bình đẳng giữa các dân tộc cơ bản được bảo đảm; đoàn kết giữa các dân tộc tiếp tục được củng cố. Hệ thống chính trị cơ sở ở vùng dân tộc, miền núi được tăng cường, đội ngũ cán bộ được kiện toàn, đáp ứng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ. Quốc phòng, an ninh, chính trị được giữ vững, ổn định. Tại Đại hội lần thứ XIII của Đảng, Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2016-2020 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2021-2025, Đảng ta khẳng định: Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 được triển khai mạnh mẽ, chuyển từ cách tiếp cận đơn chiều sang đa chiều, tập trung vào nhóm, hộ nghèo nhất. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều của cả nước đã giảm từ 9,88% cuối năm 2015 xuống dưới 3% vào năm 2020, bình quân giai đoạn 2016-2020 giảm hơn 1,4%/năm. Kết cấu hạ tầng thiết yếu ở các huyện nghèo, xã nghèo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số được tăng cường. Đời sống người dân không ngừng được cải thiện; tạo sinh kế và nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, sách lược của cách mạng Việt Nam. Trong suốt các chặng đường phát triển của đất nước, Đảng ta luôn đưa ra nhiều chủ trương, quyết sách và biện pháp quan trọng để tiếp tục củng cố, mở rộng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường đồng thuận xã hội, chú trọng chăm lo đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số, động viên nhân dân phát huy tinh thần năng động, sáng tạo xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền. Tuy vậy trong quá trình thực hiện có lúc, có nơi vẫn còn một số hạn chế, bất cập, một vài chính sách dân tộc chưa thật sự phát huy hiệu quả, vẫn còn những mâu thuẫn, vướng mắc chưa được giải quyết dứt điểm. Từ đây đòi hỏi hệ thống chính quyền cơ sở, các cơ quan, ban, ngành liên quan tiếp tục nâng cao trách nhiệm, kịp thời khắc phục những yếu kém, khuyết điểm. Không phủ nhận những hạn chế, nhưng chúng ta cũng kiên quyết phản bác những luận điệu xuyên tạc thành tựu của Việt Nam đã đạt được trong thực hiện chính sách dân tộc. Sự phát triển của đất nước về mọi mặt, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn được cải thiện và nâng cao, niềm tin của người dân đối với sự lãnh đạo của Đảng được củng cố... là minh chứng thuyết phục về sự đúng đắn trong những chủ trương chính sách của Đảng ta về công tác dân tộc, tạo nền tảng quan trọng để đất nước tiếp tục vững bước tiến về phía trước.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 10 THÁNG 7 NĂM 1960!

         “Phải lấy việc làm, thực tế mà hướng dẫn nhân dân ta xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”!
     Lời dạy trên đây của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài: “Quốc hội ta vĩ đại thật”, đăng trên Báo Nhân dân, số 2304, ngày 10 tháng 7 năm 1960. Bài viết đã nêu lên ý nghĩa và những quyết định lịch sử của Quốc hội khóa I; đồng thời, khẳng định thắng lợi của cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa II trong bối cảnh nhân dân ta đang đẩy mạnh xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.
     Đây là sự kỳ vọng, cũng là lời căn dặn và giao nhiệm vụ của Chủ tịch Hồ Chí Minh để các đại biểu Quốc hội khóa II thực sự là nơi gửi gắm quyền lực chính trị của nhân dân. Quốc hội phải tuyệt đối trung thành với mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Để đạt được mục tiêu đó, mỗi đại biểu Quốc hội phải luôn sâu sát thực tế, bám nắm thực tiễn, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của nhân dân và bằng những hành động cụ thể, mẫu mực để làm gương và hướng dẫn nhân dân.
     Lời dạy của Người, không chỉ là phương châm hành động, mục tiêu phấn đấu của đại biểu Quốc hội, đại biểu dân cử ở các cấp, các ngành, các tổ chức, đoàn thể chính trị - xã hội, mà còn là cơ sở, tiêu chí để nhân dân, quần chúng lựa chọn người đại diện cho mình và giám sát việc thực hiện của các đại biểu Quốc hội. Thực hiện lời dạy của Bác, nhân dân ta đã luôn đề cao trách nhiệm, lựa chọn được những người tiêu biểu về phẩm chất, năng lực, tiền phong, gương mẫu về lời nói và hành động để bầu vào Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.
     Học tập và làm theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, những đại biểu quân đội được cử tri tín nhiệm bầu vào Quốc hội luôn là những tấm gương mẫu mực về đạo đức cách mạng, về phương pháp, tác phong và phong cách công tác, nói đi đôi với làm, sâu sát quần chúng và làm gương cho cán bộ, chiến sĩ, nhân dân noi theo. Trong tình hình hiện nay, trước xu thế dân chủ hóa và yêu cầu phát huy nhân tố con người trong xây dựng quân đội, đòi hỏi cần phải quán triệt sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh và thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở. Mỗi quân nhân cần nhận rõ quyền và nghĩa vụ của mình trong việc lựa chọn bầu ra những đại biểu đại diện cho tiếng nói, tâm tư, nguyện vọng của quân nhân trong đơn vị. Mặt khác, những người được lựa chọn làm đại diện cho quyền lợi chính trị, quân sự, kinh tế của quân nhân phải luôn nắm chắc chủ trương, đường lối của Đảng, nhiệm vụ của quân đội, của đơn vị, không ngừng phấn đấu, rèn luyện, xứng đáng là tấm gương mẫu mực để quần chúng noi theo./.
Môi trường ST.

ĐẤU TRANH BẢO VỆ NỀN VĂN HÓA MỚI

     Ngày nay, thực hiện âm mưu chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách xuyên tạc đường lối, chủ trương phát triển nền văn hóa mới của Đảng, Nhà nước ta, nhất là những thành tựu về văn hóa mà nhân dân ta đã đạt được… Vì vậy, đấu tranh bảo vệ nền văn hóa mới là một nhiệm vụ có tầm quan trọng đặc biệt trong giai đoạn hiện nay.
    Văn hóa là tổng thể các hoạt động sáng tạo của con người trong quá khứ và hiện tại, hình thành nên những giá trị, truyền thống, chuẩn mực để vươn tới chân - thiện - mỹ. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”.
    Nền văn hóa mà nhân dân ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Ngay từ rất sớm, trong “Đề cương về văn hóa Việt Nam” (năm 1943), Đảng ta đã chủ trương xây dựng một nền văn hóa mới Việt Nam độc lập, “có tính chất dân tộc về hình thức và tân dân chủ về nội dung”, được xây dựng trên ba nguyên tắc: “Dân tộc hóa”, “Đại chúng hóa” và “Khoa học hóa”; trong đó nhấn mạnh yêu cầu chống mọi ảnh hưởng của văn hóa nô dịch, thuộc địa, xa rời quần chúng, thần bí, lai căng… Những nguyên tắc, nội dung xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam được khởi xướng từ “Đề cương về văn hóa Việt Nam” ngày càng được bổ sung, hoàn thiện. Đến Hội nghị Trung ương 5 (khóa VIII), Đảng ta đã khái quát rõ mục tiêu “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Tại Đại hội XI của Đảng, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục hoàn chỉnh: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển”. Theo đó, nền văn hóa mới Việt Nam là nền văn hóa phát huy cao độ lòng yêu nước và truyền thống đại đoàn kết, ý thức độc lập tự chủ, tự lực tự cường của dân tộc suốt mấy nghìn năm lịch sử vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó là nền văn hóa mà nội dung cốt lõi là chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thấm nhuần sâu sắc những giá trị cao đẹp, tiến bộ của dân tộc và thời đại, với mục tiêu là độc lập dân tộc và CNXH; tất cả vì con người, vì hạnh phúc và sự phát triển phong phú, tự do, toàn diện của con người Việt Nam trong mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân và cộng đồng, tự nhiên và xã hội. Nền văn hóa mới tạo ra trên đất nước ta một đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí ngày càng cao, luôn ý thức rõ về độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ phát triển, bảo đảm cho đất nước thực hiện thắng lợi sự nghiệp đẩy mạnh CNH,HĐH và hội nhập quốc tế… Đường lối xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một chủ trương đúng đắn, thể hiện tính khoa học, cách mạng trong tư duy chiến lược của Đảng, hoàn toàn phù hợp với nguyện vọng của nhân dân ta, được mọi tầng lớp nhân dân đồng tình ủng hộ và tích cực thực hiện.
    Đi ngược với xu thế chung của đất nước, nhằm chống phá công cuộc đổi mới, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách xuyên tạc, đả kích, phủ nhận nền văn hóa mới. Cùng với công kích chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ra sức xuyên tạc chủ nghĩa yêu nước Việt Nam; phủ nhận giá trị các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược của dân tộc; đánh đồng chính nghĩa và phi nghĩa, làm lẫn lộn vai trò của những chiến sĩ cách mạng chân chính với những kẻ cướp nước và bè lũ bán nước. Chúng tuyên truyền cho các giá trị văn hóa phương Tây; cố tình hạ thấp giá trị các sáng tác văn học, nghệ thuật ca ngợi cuộc sống lao động, chiến đấu của quần chúng công - nông; tán dương các tác phẩm có khuynh hướng bôi nhọ lịch sử, phủ nhận chủ nghĩa anh hùng cách mạng, phẩm chất cao đẹp của cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang… Một số kẻ còn lợi dụng tự do sáng tác để đả kích, nói xấu chế độ; kích động những người bất mãn viết hồi ký, tiểu thuyết, truyện ngắn để xuyên tạc, vu khống Đảng, Nhà nước và chế độ...
    Thực tiễn đất nước trong những năm đổi mới đã chứng minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp xây dựng nền văn hóa mới của nhân dân ta đã giành được nhiều thành tựu quan trọng có ý nghĩa lịch sử. Quán triệt Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) và các nghị quyết của Đảng, chúng ta đã tạo dựng được nền móng vững chắc của nền văn hóa mới theo đúng định hướng của Đảng. Trong đó, chủ nghĩa yêu nước XHCN được hun đúc, nâng cao; chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh ngày càng thấm sâu vào nhận thức, tư tưởng, hành động của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng xây dựng nhân cách của con người Việt Nam về lý tưởng, đạo đức, lối sống, thể chất; bồi dưỡng lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, trách nhiệm xã hội, ý thức pháp luật… Các cộng đồng dân cư, đoàn thể chính trị - xã hội luôn coi trọng phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp; tổ chức thực hiện tốt các phong trào: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, “Xây dựng gia đình tiến bộ, hạnh phúc”; bảo đảm tự do tín ngưỡng; thực hiện bình đẳng giới; chăm lo bảo vệ quyền của phụ nữ và trẻ em. Nhằm tạo ra nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao, đáp ứng nhu cầu văn hóa của đông đảo quần chúng, Đảng và Nhà nước luôn khuyến khích tự do sáng tác. Nhờ vậy, những năm qua, đội ngũ văn - nghệ sĩ đã sáng tạo được nhiều tác phẩm có chất lượng tốt, phản ánh chân thực công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta. Chất lượng hệ thống thông tin, báo chí, xuất bản… không ngừng được nâng cao, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu cũng như quyền được thông tin và cơ hội được tiếp cận thông tin của nhân dân. Công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống được các cấp, các ngành, cơ quan chức năng đặc biệt chú ý. Nhiều di sản vật thể và phi vật thể, như: Hoàng thành Thăng Long, Cao nguyên đá Đồng Văn, Địa đạo Củ Chi, Nhà tù Côn Đảo, Tín ngưỡng thờ cúng vua Hùng, Lễ hội cồng chiêng Tây Nguyên, Quan họ Bắc Ninh, Hát xoan Phú Thọ, Lễ hội sách và văn hóa đọc sách,… được bảo vệ và phát huy giá trị, trong đó có nhiều di sản được vinh danh là di sản thế giới. Trong các nội dung của nền văn hóa mới, nổi bật là trên các lĩnh vực văn học - nghệ thuật đã xuất hiện nhiều tác phẩm có chất lượng cao, khắc họa sâu sắc đời sống lao động, chiến đấu của nhân dân và các lực lượng vũ trang. Nhiều tiểu thuyết, truyện ngắn; một số tác phẩm nhiếp ảnh, hội họa, điêu khắc, sân khấu; các chương trình của Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam… được công chúng hồ hởi đón nhận. Các dòng nhạc truyền thống và trữ tình, với đội ngũ sáng tác và biểu diễn trẻ trung, tài năng đã chiếm được lòng ái mộ của đông đảo công chúng, thực sự là “món ăn” tinh thần của các tầng lớp nhân dân, trong điều kiện đất nước mở cửa, hội nhập quốc tế… Thực tế trên là những minh chứng hùng hồn bác bỏ sự xuyên tạc, bịa đặt của các thế lực thù địch đối với đường lối xây dựng nền văn hóa mới của Đảng cũng như những thành tựu về văn hóa mà đất nước ta đã đạt được trong sự nghiệp đổi mới.
    Một thực tế khác cũng không thể phủ nhận; đó là, nền văn hóa mới đã góp phần tạo ra những phẩm chất, đạo đức, tâm hồn, lối sống mới, làm cơ sở hình thành bản lĩnh của con người Việt Nam trước yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới. Trước mọi khó khăn, thách thức của tình hình quốc tế và trong nước, sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch cũng như sức ép của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, bằng bản lĩnh, trí tuệ và tầm cao văn hóa, dân tộc Việt Nam đã đoàn kết phấn đấu đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nước kém phát triển; giữ vững sự ổn định chính trị - xã hội. Trong phát triển kinh tế, Đảng và Nhà nước ta luôn chú ý giải quyết tốt mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa; coi phát triển kinh tế là vì con người, văn hóa là nhân tố nội sinh của quá trình phát triển kinh tế. Chúng ta luôn nhận thức rõ, đất nước tiến hành CNH,HĐH và hội nhập quốc tế, việc phát huy nội lực đất nước phụ thuộc chủ yếu vào phát huy nhân tố con người (đội ngũ lãnh đạo có bản lĩnh, trình độ và kinh nghiệm; đội ngũ những người lao động có chuyên môn, gắn bó với nghề nghiệp, thiết tha với chế độ) và kết quả đổi mới giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, tức là phát huy vai trò của văn hóa. Nhờ đó, sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế luôn đi đôi với việc chăm lo thực hiện chính sách xã hội.
    Trong giai đoạn hiện nay không thể không khẳng định nền văn hóa mới với những nét độc đáo về truyền thống của dân tộc kết hợp với những tinh hoa của thời đại, đã trở thành nét đặc sắc của văn hóa Việt Nam hôm nay. Điều đó góp phần làm nên sức mạnh và sự vững vàng từ trong chiều sâu của truyền thống dân tộc để đất nước chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu, vượt qua bao vây, cấm vận và mọi mưu mô rình rập của các thế lực thù địch. Trước xu thế toàn cầu hóa và lối áp đặt văn hóa được truyền bá bởi sức mạnh vật chất và phương tiện kỹ thuật hiện đại, văn hóa Việt Nam càng khẳng định được nét độc đáo của mình mà không trở thành cái bóng của dân tộc khác. Trong một thế giới đầy biến động ngày nay, có nhiều tổ chức, nhà đầu tư, du khách quốc tế tìm đến Việt Nam vì sự ổn định về chính trị và cũng vì một Việt Nam lôi cuốn, hấp dẫn bởi nét văn hóa đặc sắc, độc đáo đó. Như vậy, chính bản sắc văn hóa dân tộc đã góp phần quan trọng làm nên một Việt Nam được thế giới quý trọng, không chỉ trong chống giặc ngoại xâm trước đây, mà còn trong hòa bình xây dựng ngày nay.
    Nhưng các thế lực thù địch với CNXH không muốn đất nước ta phát triển theo đường lối độc lập, tự chủ. Cái họ muốn là một đất nước Việt Nam từ bỏ quá khứ, từ bỏ bản sắc của mình để “hòa nhập” và “phát triển” theo ý đồ của họ; thực chất là “hòa tan” vào văn hóa phương Tây. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, để đặt ách đô hộ đối với Việt Nam, các thế lực xâm lược luôn tìm mọi cách để đồng hóa dân tộc ta, trước hết về văn hóa. Song, lịch sử cũng chứng minh rằng, không có một thế lực nào thực hiện được dã tâm đó, bởi nền văn hóa đặc sắc đã được hình thành, thử thách, tôi luyện trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước đã trở thành cốt cách, nền tảng của dân tộc ta. Đó chính là yếu tố bảo đảm cho đất nước trường tồn và phát triển...
    Ngày nay, trong tiến trình phát triển của dân tộc, việc đấu tranh bảo vệ nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc chẳng những là nhiệm vụ quan trọng của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mà còn là yêu cầu nội tại của nền văn hóa Việt Nam. Cuộc đấu tranh đó phải hướng vào bác bỏ các luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc hiểm độc đối với nền văn hóa của dân tộc; đồng thời, góp phần tích cực vào xây dựng nền văn hóa mới “bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước”, “lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý;…” làm nền tảng tinh thần của xã hội, như trong các Nghị quyết Đại hội của Đảng đã đề ra.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ, TRÁCH NHIỆM CỦA ĐẢNG VIÊN TRONG ĐẤU TRANH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 

Lợi dung sự phát triển của Internet, mạng xã hội, hàng ngày, các tin, bài chống phá được các thế lực thù địch tung lên không gian mạng, gây nhiễu loạn thông tin, hướng công chúng hiểu sai lệch, kích động những tư tưởng bất mãn, phản kháng, chống đối với Ðảng, Nhà nước ta. Các thông tin xấu, độc trên không gian mạng với những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch tấn công trực diện vào những vấn đề lý luận cốt lõi thuộc nền tảng tư tưởng của Ðảng ta là đặc biệt nguy hiểm. Nếu chủ quan, lơ là, mất cảnh giác hoặc thiếu những giải pháp đấu tranh cứng rắn, hữu hiệu sẽ gây nên hệ luỵ khôn lường. Do đó, công tác đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch trên không gian mạng có vai trò đặc biệt quan trọng, góp phần giữ vững trận địa tư tưởng của Ðảng, là trách nhiệm của cán bộ, đảng viên. Theo đó, phải thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, tổ chức tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên về nhiệm vụ đấu tranh, phòng, chống các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng. Tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức “tính hai mặt” của không gian mạng, “nhận diện” rõ âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù trong việc sử dụng không gian mạng để chống phá cách mạng nước ta.

Hai là, tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp trong đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt các quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp đã được xác định trong Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”.

Ba là, phát huy vai trò và sức mạnh của các tổ chức, các lực lượng trong đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng. Ðặc biệt, hiện nay trong thời đại công nghệ 4.0, mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi người dân đều được tiếp cận trình độ khoa học công nghệ hiện đại, đều có thể truy cập vào các trang mạng, tự mình thiết lập, sử dụng các tài khoản, trang thông tin cá nhân, Facebook, Zalo, Tiktok... để viết tin, bài đấu tranh, phản bác chống quan điểm sai trái, thù địch.

Bốn là, thường xuyên học tập, rèn luyện để có bản lĩnh chính trị vững vàng, nhận thức đúng đắn, đầy đủ, sâu sắc về nền tảng tư tưởng của Đảng; rèn luyện kỹ năng nhận diện, chủ động, tích cực đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; kiên quyết bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, thành quả cách mạng; thực hiện đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sá ch, pháp luật của Nhà nước, tỉnh táo không bị các thế lực phản động, thù địch lợi dụng, lôi kéo dụ dỗ tham gia các tổ chức phản động./.