Thứ Hai, 10 tháng 7, 2023

CHÍNH PHỦ NHẤT TRÍ VỀ SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT NHÀ GIÁO.

 

Chính phủ nhất trí thông qua đề xuất của Bộ GD&ĐT về sự cần thiết ban hành Luật Nhà giáo và 5 chính sách trong đề nghị xây dựng luật này.
Mới đây, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 95/NQ-CP Phiên họp chuyên đề về xây dựng pháp luật tháng 6/2023 (Nghị quyết số 95/NQ-CP).
Theo nội dung Nghị quyết trên, Chính phủ đánh giá cao Bộ GD&ĐT trong việc chủ trì, phối hợp với bộ, cơ quan liên quan hoàn thiện hồ sơ Đề nghị xây dựng luật theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Nội dung chính sách trong đề nghị xây dựng luật đã cơ bản thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về nhà giáo, nhất là quan điểm nhà giáo “giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục”. Qua đó nhằm tạo khuôn khổ pháp lý để nâng cao chất lượng nhà giáo, tạo điều kiện để nhà giáo tâm huyết với nghề.
Nghị quyết số 95/NQ-CP nêu rõ, Chính phủ nhất trí thông qua đề xuất của Bộ GD&ĐT về sự cần thiết ban hành luật và 5 chính sách trong đề nghị xây dựng Luật Nhà giáo gồm: Định danh nhà giáo; Tiêu chuẩn và chức danh nhà giáo; Tuyển dụng, sử dụng và chế độ làm việc của nhà giáo; Đào tạo, bồi dưỡng, đãi ngộ và tôn vinh nhà giáo; Quản lý nhà nước về nhà giáo.
Bộ GD&ĐT nghiên cứu thể chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về lĩnh vực nhà giáo; tổng kết, rà soát kỹ lưỡng pháp luật hiện hành để bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất.
Trong quá trình soạn thảo Luật, cần khắc phục các bất cập trong quản lý Nhà nước về nhà giáo hiện nay để thiết kế các chính sách theo hướng phân cấp, phân quyền mạnh mẽ cho địa phương, có tiêu chuẩn, tiêu chí phù hợp với vai trò, vị trí việc làm của nhà giáo và có chính sách ưu đãi, khen thưởng, tôn vinh phù hợp;
Chính phủ yêu cầu, Bộ GD&ĐT nghiên cứu thêm kinh nghiệm quốc tế, tổ chức hội thảo lấy ý kiến các chuyên gia, nhà khoa học, truyền thông chính sách để tăng tính thuyết phục khi thông qua chính sách, bảo đảm tính khả thi trong quá trình triển khai thực hiện khi luật được ban hành.
Chính phủ nhìn nhận, Luật Nhà giáo là xây dựng luật mới, khó, đối tượng rộng, tác động lớn, có nhiều chính sách quan trọng, liên quan đến nhiều luật, cần có chính sách ưu tiên về nguồn lực và tổ chức thực hiện.
Do thời gian dự kiến để trình Chính phủ, Quốc hội thông qua không nhiều nên Bộ GD&ĐT chủ động bố trí nguồn lực về tài chính, chuyên gia để soạn thảo luật, bảo đảm đúng tiến độ, nâng cao chất lượng của dự án Luật khi trình Chính phủ.
Chính phủ giao Bộ GD&ĐT chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ và các cơ quan liên quan tiếp thu ý kiến của các thành viên Chính phủ, hoàn thiện hồ sơ đề nghị xây dựng Luật theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Chính phủ giao Bộ trưởng Bộ Tư pháp thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị bổ sung dự án luật vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh 2024 để trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 7 (tháng 5/2024), thông qua tại Kỳ họp thứ 8 (tháng 10/2024) Quốc hội khóa XV./.
ST

CẦN NHẬN THỨC ĐÚNG ĐẮN VÀ TÍCH CỰC THAM GIA BẢO VỆ LỊCH SỬ ĐẢNG

 

Đấu tranh phản bác luận điệu xuyên tạc lịch sử Đảng không những là bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, thành quả cách mạng mà còn là bảo vệ uy tín của Đảng đối với nhân dân và củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, chế độ.
Thời gian qua, trên mạng xã hội xuất hiện những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về lịch sử Đảng, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng; đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác-Lênin; kêu gọi từ bỏ lý tưởng cộng sản và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chúng còn xuyên tạc Cương lĩnh chính trị, chủ trương, đường lối của Đảng; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng; đòi đổi tên Đảng, kêu gọi “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”; phủ nhận thắng lợi, thành tựu cách mạng Việt Nam; thổi phồng sai lầm, khuyết điểm của Đảng; bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta;...
Chính vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là thanh niên, sinh viên cần nhận thức đúng đắn, đầy đủ về lịch sử Đảng để “tự miễn dịch” trong lập trường, quan điểm chính trị và tích cực tham gia đấu tranh phản bác luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Các tổ chức cơ sở Đảng, MTTQ, các đoàn thể, hội sinh viên cần tăng cường tổ chức hội thảo, tọa đàm; xây dựng chuyên đề lồng ghép vào sinh hoạt thường kỳ, câu lạc bộ, đội, nhóm; tổ chức các cuộc thi, diễn thuyết, kể chuyện về tấm gương cán bộ, đảng viên chiến đấu, hy sinh anh dũng, bị tù đày; tổ chức viết bài đấu tranh (chính danh và ẩn danh);... Đặc biệt, coi trọng đấu tranh trực diện trên không gian mạng với hình thức phong phú, đa dạng, hấp dẫn, hiệu quả; tranh thủ những người có ảnh hưởng lớn đối với cư dân mạng để thông qua họ đưa tin về cái tốt, lên án cái xấu.
Tri thức lịch sử, trong đó có lịch sử Đảng cung cấp cho chúng ta hiểu biết quá khứ để phục vụ cuộc sống hiện tại và đoán định tương lai. Bởi vậy, các nhà sử học Hy Lạp cổ đại từng kết luận: “Lịch sử là cô giáo cuộc sống, là bó đuốc soi đường đi tới tương lai”. C.Mác và Ph.Ănghen cho rằng: “Sử học là khoa học duy nhất vì mọi khoa học đều phải dựa vào sự kiện từ lịch sử”. Lênin cũng khẳng định: “Sử học là một bộ phận của khoa học xã hội kết hợp với giai cấp vô sản trở thành vũ khí mạnh mẽ”. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng làm nghiên cứu sinh chuyên ngành Lịch sử khi ở Liên Xô và Người đã căn dặn: “Dân ta phải biết sử ta. Sử ta dạy cho ta những chuyện vẻ vang của tổ tiên ta”.
Nhà văn Nga Trécnưsepki từng viết: “Có thể không biết, không cảm thấy say mê học tập môn Toán, tiếng Hy Lạp hoặc Latinh, môn Hóa học, có thể không biết hàng ngàn môn khoa học khác nhưng dù sao đã là người có giáo dục mà không yêu thích lịch sử thì chỉ có thể là một con người không phát triển đầy đủ về trí tuệ”.
"Ǎn quả phải nhớ người trồng cây. Trong cuộc tưng bừng vui vẻ hôm nay, chúng ta phải nhớ đến những anh hùng, liệt sĩ của Đảng ta, của dân ta... Máu đào của các liệt sĩ ấy đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập kết quả tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ và chúng ta phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sĩ để vượt tất cả mọi khó khǎn, gian khổ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sĩ đã chuyển lại cho chúng ta". Lời dạy đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh càng nhắc nhở chúng ta phải nâng cao trách nhiệm bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ, nhân dân; kiên quyết bảo vệ “pho lịch sử bằng vàng” của Đảng; vững tin vào thắng lợi con đường cách mạng do Đảng lãnh đạo, tiến lên chủ nghĩa xã hội vì một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.
ST

HƠN CẢ MỘT TƯỢNG ĐÀI

 

Về quê hương địa đạo Củ Chi, ghé vào xã Phước Hiệp, thăm Nhà tưởng niệm Bà mẹ Việt Nam anh hùng - Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Thị Rành. Người dân quanh vùng thường gọi má bằng những cái tên thân thương: “Má Tám Rành”, “Bà mẹ Củ Chi”, “Bà mẹ Đất thép”, “Bà má Dũng sĩ”. Ngoài ra, do ghiền trầu từ thời trẻ, nên má còn được gọi là “Má Tám Trầu”.

Tuổi thơ nhọc nhằn
bé Rành chào đời năm 1900 trong một gia đình nông dân nghèo, sẵn có truyền thống yêu nước ở ấp Trại Đèn, xã Phước Hiệp, huyện Hóc Môn, tỉnh Gia Định (nay thuộc huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh). Bấy giờ, ở Nam kỳ, hội kín phát triển mạnh, đặc biệt là phong trào “Thiên Địa hội” của Phan Xích Long nổ ra tại Sài Gòn đã có tác động mạnh mẽ đến các tầng lớp nhân dân. Năm 1913, người cha của Rành bị thực dân Pháp bắt vì tội “làm quốc sự”, bị đày ra Côn Đảo và biệt tích. Nhà chỉ có hai anh em, quá nghèo và cực khổ, nên người anh của Rành đi ở trừ nợ từ trước. Ngày ngày, Rành đi mò tôm, xúc cá, mang ra chợ kiếm cái đắp đổi qua ngày. Nỗi đau mất cha còn chưa kịp nguôi ngoai, thì người mẹ đột ngột qua đời. Với món nợ truyền kiếp, nhưng “gia sản” chỉ có căn lều rách te tua như lều vịt, nên dù mới 14 tuổi, Rành bị tay xã trưởng cho người lôi về nhà hắn. Quãng đời đi ở đợ làm công, đói rách, cơ cực không sao kể xiết. Nhưng cô bé Rành cứ thế vụt lớn lên thành một thiếu nữ biết tự trọng, giàu tình cảm và cứng cỏi.
Mười tám tuổi, Rành gặp anh hương sư Nguyễn Văn Cầm (Tám Cầm), quê ở ấp Bàu Công, xã Tân Mỹ, huyện Đức Hòa, Long An, về dạy học trong vùng. Rồi họ nên vợ, nên chồng. Hai năm sau, tại ấp Trại Đèn, đứa con trai đầu lòng chào đời. Rồi anh Tám được cử về miền Tây trông coi một ngôi trường vừa mới mở. Tại đây, Tám Cầm gặp được những người cùng chung chí hướng, yêu nước, ghét Tây.
Dâng hiến cho cách mạng và kháng chiến
Trong vòng 22 năm (1920-1942), má Nguyễn Thị Rành sinh hạ 10 người con, 8 trai, 2 gái. Năm 1941, thầy giáo Cầm quyết định nghỉ dạy để có điều kiện hoạt động cách mạng, tham gia Việt Minh. Vợ chồng má luôn giáo dưỡng con cái biết sống tử tế, giàu tình thương và có nghĩa khí; anh chị làm gương cho em út. Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, thực dân Pháp trở lại gấy hấn, đánh chiếm Sài Gòn, rồi mở rộng ra toàn xứ Nam bộ. Nguyễn Văn Dúng, người con lớn đã giấu cha mẹ gia nhập bộ đội, anh được phân công làm Xã đội trưởng xã Phước Hiệp. Má nói với đàn con: Đứa nào lớ quớ theo giặc, tao chém! Năm 1947, má Tám Rành tham gia Hội Phụ nữ Cứu quốc xã. Trong lúc chỉ huy anh em đánh bọc hậu một đơn vị địch, anh Hai Dúng hy sinh, để lại người vợ trẻ và đứa con trai. Thương con đứt ruột, má xót xa cho con dâu còn quá trẻ và đứa cháu đích tôn thơ dại. Nhưng không gì cản được các con của má lần lượt nối tiếp nhau cầm súng đánh giặc. Năm 1954, má Nguyễn Thị Rành làm Hội trưởng Hội Mẹ chiến sĩ và là Chính trị viên Xã đội Phước Hiệp. Những ngày cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Pháp, vợ chồng má nhận thêm một tin xé ruột: người con thứ 2 là Nguyễn Văn Sóc, tiểu đội trưởng đặc công hy sinh tại Long An.
Trong thời kỳ đen tối của cách mạng miền Nam, Củ Chi là một trong những nơi bị địch đàn áp khốc liệt, nhất là sau khi có đạo luật phát xít 10/59, Ngô Đình Diệm lê máy chém đi khắp miền Nam. Ngoài việc tham gia “đội quân tóc dài”, đấu tranh trực diện với địch, má Tám còn đào hầm nuôi giấu cán bộ, tiếp tế cho du kích… Địch bắt nhốt má nửa tháng trời tại đồn quận lỵ Củ Chi, để hòng dụ Nguyễn Văn Vé người con thứ 4 ra hồi chánh. Và thêm một khúc ruột của má bị cắt lìa, chiến sĩ du kích Năm Vé anh dũng hy sinh. Nuốt nước mắt vào trong, vợ chồng má kêu cả đàn con đến trước thi hài của Năm Vé và nói như dao chém đá: “Mấy đứa bây coi gương của anh Hai, anh Ba, thằng Năm. Coi đó mà trả thù cho tụi nó!”. Cuối năm 1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, gần giáp Tết, má Tám Rành cùng một số người trong Hội Mẹ chiến sĩ được mời dự hội nghị do Huyện ủy Củ Chi tổ chức bên bờ sông Vàm Cỏ Đông. Ngắm lá cờ nửa đỏ nửa xanh, lòng má bừng lên một tinh thần mới!
Năm 1965, Mỹ đổ quân vào miền Nam Việt Nam. Cùng với việc xây dựng căn cứ Đồng Dù, địch tăng cường chà xát, biến Củ Chi thành vùng trắng, bình địa. Sau khi bẻ gãy 2 trận càn với quy mô cực lớn là Crimp (Cái bẫy) và Cedar Falls “bóc vỏ trái đất”, tại Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua toàn Miền lần thứ 2 (tháng 9/1967), Củ Chi được tặng danh hiệu “Đất thép Thành đồng”. Cùng trong năm này, má Rành ba lần nhận tin dữ. Chiến sĩ Nguyễn Văn Hè, người con thứ 5 bị địch khui hầm, trúng đạn chỉ cách nhà mẹ chừng vài trăm thước. Tiếp đến, đứa cháu nội Nguyễn Văn Rưng (con anh Hai Dúng), tiểu đội phó đặc công, hy sinh. Người con thứ 8, Nguyễn Văn Nâng, Xã đội trưởng Phước Hiệp bị pháo địch dập trúng. Là chính trị viên xã đội, má nuốt nước mắt, cắn chặt môi, nén lòng để giữ vững tinh thần cho các chiến sĩ du kích tiếp tục chiến đấu.
Tết Mậu Thân 1968, ông giáo Tám đau yếu phải về quê nội dưỡng bệnh. Một mình má Tám sửa soạn ban thờ cúng gia tiên. Trước 5 bát nhang, má lầm rầm khấn: Các con sống làm chiến sĩ, chết anh hùng vì dân vì nước, ráng phù hộ cho anh em đánh giặc. Rồi má lấy chéo khăn rằn chấm nước mắt… Ra giêng, má Tám Rành đứt đoạn thêm hai khúc ruột nữa. Chiến sĩ Nguyễn Văn Sướng, con thứ 7, vừa ngã xuống; tiếp đến Nguyễn Văn Huội, con thứ 6 hy sinh trong trận nhổ đồn địch ở An Nhơn Tây. Nhận tin dữ, má ôm con dâu và đứa cháu nội (con Bảy Huội) vào lòng, ngỡ mình không sống nổi. Bọn ác ôn đưa má Tám về đồn, giở trò dọa dẫm đủ đường, suốt tuần lễ, má không ăn, chỉ nhai trầu, uống nước cầm hơi. Cuối cùng chúng đành chào thua và thả bà Tám Trầu “cứng cổ”. Huyện ủy, Huyện đội Củ Chi lo cho sự an nguy của má Tám, nhưng má không chịu. Má nói với anh em, tụi bây báo với cấp trên, Tám Rành này còn giọt máu cuối cùng vẫn một lòng một dạ với cách mạng!
Đầu năm 1969, trong một trận đột nhập căn cứ địch, quân ta diệt nhiều tên. Khi đơn vị lui quân, chiến sĩ Nguyễn Văn Luông, người trai út của má Rành ở lại cản hậu và trúng đạn. Trước tột cùng nỗi đau, cả 8 người con trai cùng đứa cháu đích tôn hy sinh, năm sau, ông giáo Tám Cầm về với ông bà tổ tiên. Năm 1970, thêm đứa cháu ngoại là chiến sĩ Huỳnh Văn Cường, con chị Nguyễn Thị Săng (con thứ 3 của má), hy sinh tại Mộc Hóa, Long An.
Dường như má Rành đã khô kiệt nước mắt. Con người má quánh đặc nỗi đau. Nhưng không chỉ lao vào hoạt động, má như cây cột trụ làm chỗ dựa vững chắc cho con dâu, con gái kiên cường sống. Ngày 29/4/1975, từ sáng sớm má Tám đã xuống đường. Má treo cờ đỏ sao vàng lên ngọn cây điệp ở đầu ấp Phước Hòa, xã Phước Hiệp, mở màn cho cuộc nổi dậy giành chính quyền của nhân dân xã nhà.
Tượng đài bất tử
Ngày 6/11/1978, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký quyết định tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho đồng chí Nguyễn Thị Rành, vì đã “làm được nhiều thành tích đặc biệt xuất sắc về chiến đấu và phục vụ chiến đấu, góp phần cùng toàn dân đưa sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn”. Ngày 26/1/1979, má Tám Rành qua đời. Năm 1983, vợ chồng má được truy tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất. Đến năm 1994, má Rành được Nhà nước truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng, vì có 8 người con và 2 cháu nội, ngoại hy sinh cho Tổ quốc. Để ghi nhớ công ơn của “Bà mẹ Đất thép”, Ủy ban nhân dân Thành phố quyết định chọn con đường đẹp nhất Củ Chi mang tên Nguyễn Thị Rành. Đường dài gần 20km, từ ngã rẽ quốc lộ 22 thuộc ấp Bàu Đưng, xã Tân An Hội, kéo qua Trung Lập Hạ, Nhuận Đức, An Nhơn Tây và kết thúc tại điểm đầu tỉnh lộ 8, xã Phú Mỹ Hưng. Trên con đường này, có một trạm y tế mang tên má Tám.
Đại hội đại biểu Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ IX (2011-2016) ra nghị quyết chọn công trình Nhà tưởng niệm Bà mẹ Việt Nam anh hùng - Anh hùng LLVTND Nguyễn Thị Rành là 1 trong 6 công trình trọng điểm của nhiệm kỳ 2011-2016. Công trình được khởi công từ tháng 7/2012 và khánh thành cuối tháng 1/2013 trên nền nhà cũ của má. Giai đoạn 2 mở rộng được hoàn thành vào tháng 10/2016, với tổng diện tích 5.609 m2. Kinh phí xây dựng do cán bộ, hội viên Hội Liên hiệp Phụ nữ 24 quận, huyện, các đơn vị và Mạnh thường quân đóng góp. Bên trong nhà có phù điêu chân dung má Tám Rành. Phía trên bàn thờ là ảnh Bác Hồ với câu nói của Người: “Nhân dân ta rất biết ơn các bà mẹ hai miền Nam - Bắc đã sinh đẻ và nuôi dạy những thế hệ anh hùng của nước ta”. Tiếp đến là bài vị thờ chồng má, cùng 8 con trai, 2 cháu liệt sĩ. Phía trước trang thờ, trên hai cột được chạm khắc cặp câu đối: “Trước sau một dạ anh hùng, quê nghèo đất thép; Con cháu mười người Liệt sĩ, tay trắng lòng son”. Gia tài của “Bà mẹ Củ Chi” được lồng trong tủ kính là 5 cái chén đĩa, 1 cây đèn bão, 1 cái cối giã trầu bằng đồng bé tẹo và một xấp dày giấy báo tử… Chỉ vậy thôi, nhưng dân tộc này, đất nước này sẽ trường tồn mãi mãi bởi những người mẹ như má Nguyễn Thị Rành. Mất con nhưng còn nước! Đức hy sinh của má Tám Rành không gì sánh nổi, vâng, có lẽ nó còn hơn cả một tượng đài!
Kính Mẹ!
ST

NHẬN ĐIỆN VÀ ĐẤU TRANH KIÊN QUYẾT VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG


Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của công tác đối ngoại, ngay từ những ngày đầu giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ”; đồng thời Người luôn nhất quán quan điểm đối ngoại dựa trên 3 trụ cột chính: (1) Độc lập, tự chủ, tự cường trong quan hệ với các nước; (2) Hoà bình và hợp tác hữu nghị với các nước trên thế giới; (3) Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân. 

Kế thừa, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn đất nước qua các thời kỳ, Đảng ta đã đề ra chủ trương, quan điểm đối ngoại đúng đắn, góp phần hiện thực hóa quan điểm của Người. Tại Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục nhất quán khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại…, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”. Nhờ có đường lối đối ngoại đúng đắn, chúng ta không chỉ bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; mà còn có điều kiện để xây dựng, phát triển đất nước, đưa đất nước sánh vai cùng bạn bè quốc tế.

Tuy nhiên, với âm mưu chống phá hết sức thâm độc, bằng nhiều thủ đoạn khác nhau nhằm phá hoại đường lối đối ngoại của Đảng ta, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước ta. Gần đây, lợi dụng các chuyến thăm và giao lưu theo kế hoạch hợp tác về quốc phòng của lực lượng Hải quân của Nhật bản, Ấn độ với Hải quân Việt Nam, ngày 30/6/2023 trên trang Blog VOA Tiếng Việt đã phát tán bài “Ngoại giao Hải quân dồn dập góp gì cho Việt Nam trên Biển Đông”, nội dung tạp trung chỉ trích chính sách quốc phòng 4 không của Việt Nam, cho rằng trong bối cảnh khủng hoảng giữa Nga và Ucraina, cũng như căng thẳng giữa Trung Quốc và Mỹ hiện nay, Việt Nam nên từ bỏ chính sách quốc phòng 4 không, mở rộng quan hệ và “liên minh quân sự” với các cường quốc khác; bởi vì, chỉ có sự tham gia của Mỹ, Châu Âu và các cường quốc hải quân khác trên Biển Đông mới có thể giúp Việt Nam đảm bảo chủ quyền trên biển theo luật pháp quốc tế.

Cùng với đó, ngày 03/7/2023, trên trang facebook Chân Trời Mới Media, đối tượng Timothy Trinh phát tán bài “Các bên tranh chấp ASEAN nên giải quyết vấn đề Biển Đông trước khi đối đầu với Trung Quốc”. Nội dung tập trung xuyên tạc vấn đề chủ quyền của các quốc gia trong khu vực ASEAN cùng có tuyên bố chủ quyền trên Biển Đông. Trong đó cho rằng “chính sách của Hoa Kỳ đã củng cố niềm tin của khu vực vào quyết tâm của Hoa Kỳ, và nó đã trao quyền cho các bên yêu sách Biển Đông lên tiếng công khai để bảo vệ quyền và lợi ích của chính họ”. Từ đó kêu gọi các nước ASEAN cần tập trung giải quyết cái gọi là: “tranh chấp” hay “những khác biệt” của họ với nhau về các yêu sách chồng chéo của họ đối với các phần của Biển Đông, để họ có “tiếng nói chung” mạnh mẽ trong các cuộc đàm phán với Trung Quốc.

Có thể thấy, những luận điệu trên là hết sức nguy hiểm, đi ngược lại với chính sách đối ngoại nói chung và chính sách quốc phòng nói riêng, vi phạm nghiêm trọng đến vấn đề độc lập, chủ quyền của Việt Nam.

Thứ nhất, có thể khẳng định, việc thăm và giao lưu giữa hải quân các nước Nhật, Ấn Độ và Mỹ với hải quân Việt Nam, đó là các hoạt động thường niên, nằm trong kế hoạch hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam với các nước, nhằm nâng cao hiểu biết và trao đổi những kinh nghiệm về đảm bảo an ninh, an toàn hàng hải. Điều này hoàn toàn không phải là hoạt động nhằm thiết lập liên minh quân sự.

Thứ hai, trong quan hệ đối ngoại, Việt Nam luôn nhất quán quan điểm đối ngoại độc lập tự chủ, tự lực tự cường, tôn trọng độc lập chủ quyền của các nước trên thế giới theo luật pháp quốc tế. Mục tiêu cao nhất là giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, phát huy sức mạnh tổng hợp để phát triển đất nước, điều đó đã được khẳng định trong đường lối đối ngoại và chính sách quốc phòng 4 không: Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác và không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. 

Thứ ba, vấn đề chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông cần khẳng định: Việt Nam có đầy đủ căn cứ pháp lý và thực tiễn để chứng minh chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Việc hiện tại các quốc gia chiếm đóng bất hợp pháp tại các đảo, các thực thể tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là hành vi vi phạm nghiêm trọng vào độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, vi phạm luật pháp quốc tế và công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển. Chính vì vậy, không có cái gọi là “giải quyết tranh chấp” hay “giải quyết bất đồng” về vấn đề Biển Đông.

Vì vậy, cần nhận diện đúng đắn và kiên quyết đấu tranh, bác bỏ những luận điệu xuyên tạc đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước, cũng như vấn đề ảnh hưởng đến độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

-----




"XƯƠNG TA GÃY ĐỂ NỐI LIỀN NAM BẮC MÁU TA RƠI CHO BỘ ĐỘI TRƯỞNG THÀNH"

 Đó là 2 câu thơ do Nữ Anh hùng - Đại tá Phan Thị Ngọc Tươi đã dùng máu của mình viết lên tường xà lim của nhà tù

Phan Thị Ngọc Tươi sinh năm 1956 bên dòng sông Hàm Luông trong một gia đình có truyền thống cách mạng. Cha và anh trai là liệt sỹ, mẹ cũng thoát ly đi kháng chiến. Vì vậy khi mới hơn 13 tuổi (1969), bà đã xin các chú, các anh cho vào cứ tham gia chiến đấu để trả thù nhà. Không ít các anh, các chị trong cứ nhìn bà với con mắt e ngại trước vóc dáng của một cô bé tóc còn đang buộc túm đuôi gà. Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn huấn luyện cấp tốc, với tinh thần miệt mài học tập không kể ngày đêm, bà không chỉ nắm vững các kỹ thuật về sử dụng vũ khí, bom mìn… mà tư thế tác phong cũng chững chạc hẳn lên. Bà chính thức trở thành chiến sỹ của đơn vị T30 An ninh tỉnh Bến Tre có nhiệm vụ tìm diệt những tên ác ôn, những đồn bốt địch gây nhiều nợ máu với nhân dân, tạo điều kiện cho cách mạng phát triển.
Trận đánh đầu tiên của bà là trận dùng lựu đạn tiêu diệt 5 tên an ninh quân đội ngụy (trong đó có 1 tên Đại úy) khi chúng đang tụ tập ăn uống tại thị trấn Mỏ Cày. Một tháng sau bà dùng mìn hẹn giờ diệt 3 tên cố vấn Mỹ tại sân bay Tân Thành trước khi chúng chuẩn bị đi gây tội ác. Tiếp, một tuần sau đó lúc 18 giờ ngày 4/4/1969, bà lại mang mìn vào tận sân bay diệt tiếp 7 tên giặc lái.
Đặc biệt tháng 4/1969, bà nhận lệnh phải tiêu diệt bằng được tên Đại úy Mười ác ôn đã gây nhiều nợ máu với nhân dân và cách mạng. Suốt một tháng tiếp cận tên Đại úy trong vai một nữ sinh xinh đẹp đài các, con nhà quyền quý. Qua vài lần “từ chối”, bà nhận lời đi chơi cùng tên ác ôn hám gái. Ngày 5/5/1969, bà “nhận lời” bước lên xe của tên ác ôn cùng với giỏ quà, bên trong đựng trái mìn hẹn giờ và một khẩu súng ngắn.
Theo kế hoạch, bà sẽ cho nổ quả mìn hẹn giờ tại thị xã Mỹ Tho; nhưng để làm oai với người đẹp, tên ác ôn không dừng ở Mỹ Tho mà cho xe chạy thẳng về Sài Gòn, một nơi bà chưa hề đặt chân tới. Tuy đơn thương độc mã giữa TP Sài Gòn nhưng với lòng dũng cảm, mưu trí và ý chí quyết tâm diệt ác, bà đã cho nổ quả mìn hẹn giờ trên xe Jeep tiêu diệt tên Đại uý ác ôn và an toàn trở về với đồng đội. Không kịp nghỉ ngơi, ngay sáng hôm sau tại đồn Bến Lở bên sông Hàm Luông, bà lại dùng một quả mìn định hướng tiêu diệt 17 tên lính nguỵ trong lúc chúng đang tập trung chuẩn bị đi càn gây nợ máu.
Chiến công nối tiếp chiến công đã làm cho cô bé Tươi tuy chỉ mới 15 tuổi nhưng đã là một chiến sĩ quả cảm, đầy mưu trí. Liên tiếp những năm 1970-1971, sau Mậu Thân 1968, Mỹ nguỵ điên cuồng đánh phá, gây cho ta nhiều tổn thất, nhất là vùng đồng bằng sông Cửu Long. Không để cho bọn địch tác oai tác quái, đơn vị T30 nhận lệnh phải điều nghiên đánh vào lực lượng giang thuyền và trung tâm chiến tranh tâm lý của địch. Ngày 12/11/1970, bà chỉ huy một tổ đánh sập chốt cảnh sát trên bộ và 4 ngày sau dùng mìn hẹn giờ diệt 5 tên lính giang thuyền. Một ngày cuối năm cũng dùng mìn hẹn giờ, bà đánh sập một góc trụ sở ty thông tin chiêu hồi, tiêu diệt 3 tên và làm 2 tên khác bị thương…
Cuối năm 1971, bà được bố trí ra Hà Nội dự Đại hội anh hùng Chiến sỹ thi đua toàn quốc. Nhưng vì không thể bỏ đồng đội lúc chiến trận nên bà kiên quyết xin ở lại tham gia chiến đấu.
Năm 1972, phối hợp với các chiến trường, đơn vị T30 được lệnh tấn công tiêu diệt Trung tâm thẩm vấn Kiến Hòa, nơi thi hành các đòn tra tấn dã man của bọn cảnh sát nguỵ, bà được giao nhiệm vụ chỉ huy trận đánh kiêm chỉ huy (8 chiến sỹ chia làm 3 mũi tấn công). Trận chiến đấu dù được chuẩn bị chu đáo, nhưng do lực lượng của ta ít (8 đồng chí nhưng chia làm 3 tiểu đội, mỗi tiểu đội từ 2 tới 3 đồng chí) nên khi bị địch huy động lực lượng bao vây, với cương vị chỉ huy, bà đã quyết định ở lại chặn địch để đồng đội rút lui, vượt khỏi vòng vây an toàn. Riêng bà bị bắt tại chỗ khi quả lựu đạn cuối cùng trên tay rơi xuống nhưng không nổ, lúc này bà mới vừa tròn 16 tuổi.
Bị bắt, kẻ thù dùng nhiều thủ đoạn tra tấn dã man hòng làm nhụt ý chí của cô bé Tươi, nhưng chúng phải bó tay trước ý chí kiên trung bất khuất của người chiến sỹ cách mạng nhỏ tuổi. Một lần, khi giặc hùng hổ bẻ tay bà trước mặt đồng đội (trước mặt giặc, đồng đội coi như người xa lạ), bà thốt lên hai câu thơ, sau đó bà lấy máu mình viết lên tường xà lim của nhà tù:
“Xương ta gãy để nối liền Nam Bắc/ Máu ta rơi cho bộ đội trưởng thành” đã cổ vũ anh em giữ vững chí khí cách mạng.
Năm 1972, địch thành lập Trung tâm cải huấn thiếu nhi Đà Lạt, thực chất là nơi giam giữ các chiến sĩ cách mạng nhỏ tuổi ở khắp miền Nam, hòng tra tấn, giam cầm và làm nhụt ý chí của những chiến sỹ đang ở tuổi vị thành niên. Phan Thị Ngọc Tươi là một trong hơn 600 tù nhân của trung tâm này.
Tại đây, để làm nhụt ý chí của những chiến sỹ nhỏ tuổi, bọn quản giáo, cai ngục không từ một hành động dã man nào như đánh đập, trói buộc, bắt nhịn ăn, dội nước lạnh vào người trong cái rét căm căm của Đà Lạt… Nhưng những tù nhân nhỏ đã đoàn kết chống chào cờ, chống khủng bố, có những chiến sĩ đã tự mổ bụng phản đối chế độ hà khắc của bọn cai ngục; tổ chức đánh cảnh cáo những tên cai ngục ác ôn và tiến hành vượt ngục để trở về tiếp tục chiến đấu. Phan Thị Ngọc Tươi là một trong những chiến sĩ kiên trung ấy. Nhà tù thiếu niên Đà Lạt đã được công nhận là di tích lịch sử cách mạng và tập thể được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT.
Hiệp định Pari được ký kết, buộc địch phải trả tự do cho bà nhưng chúng đưa về quê để quản thúc, mặc dù khắp người bà còn đầy thương tích. Nhận được tin, đơn vị đã tổ chức giải thoát cho bà và đưa ra vùng giải phóng. Sống giữa tình yêu thương chăm sóc của đồng đội, sức khoẻ của bà dần hồi phục.
Đất nước giải phóng, trên trận tuyến mới, cô bé Tươi năm nào chỉ mới lớp 3 trường làng nên phải lao vào học tập văn hóa để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới. Và chỉ sau 8 năm miệt mài đèn sách, bà đã tốt nghiệp Đại học An ninh (năm 1983), rồi Đại học báo chí (năm 2000). Trước khi nghỉ hưu, bà là Phó ban Hành chính của Báo Công An TP.HCM.
Với những chiến công xuất sắc trong chiến đấu, với ý chí kiên cường, kiên trung luôn giữ vững khí tiết của người chiến sỹ trong tù ngục, năm 2010 Đại tá Phan Thị Ngọc Tươi vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND - phần thưởng cao quý, ghi nhận công lao đóng góp xứng đáng của bà trong công cuộc đấu tranh giải phóng đất nước của nhân dân ta.

VIỆT NAM KHÔNG "TỰ MÌNH CÔ LẬP MÌNH" TRONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUỐC PHÒNG

 Đến nay, Việt Nam đã 4 lần công bố Sách trắng quốc phòng, trong đó công khai chính sách quốc phòng hòa bình và tự vệ, nhằm mục tiêu tạo lập, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Tuy nhiên, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách để xuyên tạc, phủ nhận một cách vô căn cứ.

Vì vậy, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của chúng, bảo vệ chính sách quốc phòng đúng đắn của Việt Nam là nhiệm vụ quan trọng hiện nay.
Việt Nam là đất nước luôn phải đối mặt với nguy cơ bị xâm lược từ bên ngoài và đã phải trải qua rất nhiều cuộc chiến tranh để giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Chính vì vậy, khát khao được sống trong hòa bình, độc lập; giải quyết mọi bất đồng, tranh chấp bằng biện pháp hòa bình là mong muốn, thiện chí và quan điểm nhất quán trong chính sách quốc phòng của Việt Nam.
Tuy nhiên, thời gian qua, các thế lực phản động, phần tử bất mãn, cơ hội chính trị, nhóm người tự xưng là “người yêu nước”, “tâm huyết” với vận mệnh quốc gia-dân tộc đã gửi “thư ngỏ”, “kiến nghị”, viết bài tán phát với những giọng điệu xuyên tạc, bóp méo đường lối đối ngoại và chính sách quốc phòng của Việt Nam. Chúng cho rằng, trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, các quốc gia luôn có mối quan hệ ràng buộc, phụ thuộc chặt chẽ lẫn nhau, trong khi đó Việt Nam vẫn theo đuổi chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ và chính sách quốc phòng “4 không” (không liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế) là “bảo thủ, lỗi thời”, “tự mình cô lập mình”, “tự trói tay, chân mình”, tước đi cơ hội hợp tác với các nước lớn để tăng cường sức mạnh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.
Ngang nhiên, trắng trợn hơn, chúng còn vu khống, quy chụp việc Việt Nam tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh là khơi mào cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực, là để chống lại một nước thứ ba. Đặc biệt, các thế lực thù địch cho rằng, với chính sách quốc phòng hiện nay thì Việt Nam không thể giữ vững chủ quyền, quyền chủ quyền, sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Do đó, chỉ có liên minh quân sự với các cường quốc thì Việt Nam mới giữ vững được chủ quyền lãnh thổ, bảo vệ được lợi ích quốc gia-dân tộc.
Có thể thấy mục đích sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch là nhằm dẫn dắt, hướng lái Việt Nam tham gia các liên minh quân sự, dần đi sâu vào quỹ đạo lệ thuộc bên ngoài, đánh mất độc lập, tự chủ trong các hoạt động quân sự, quốc phòng, đối ngoại. Đồng thời, kích động, gieo rắc tâm lý hoài nghi trong xã hội vào khả năng bảo vệ đất nước của quốc phòng Việt Nam, tính đúng đắn của đường lối quân sự, quốc phòng, đối ngoại của Đảng; từ đó gây chia rẽ, mâu thuẫn nội bộ, làm giảm sút lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với lĩnh vực quân sự, quốc phòng, đối ngoại; cấp độ cao hơn là từ chối thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, hoặc tham gia vào các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.
Soi rọi vào lý luận và thực tiễn đều cho thấy, những luận điệu trên của các thế lực thù địch là hoàn toàn vô căn cứ, xuyên tạc trắng trợn chính sách quốc phòng của nước ta:
Về lý luận: Quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh là luôn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, “dựa vào sức mình là chính”, “đem sức ta mà giải phóng cho ta”; kết hợp chặt chẽ sức mạnh nội lực của đất nước với sức mạnh quốc tế để củng cố, tăng cường sức mạnh quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần chỉ rõ vai trò, tầm quan trọng của sức mạnh nội lực, của mối quan hệ giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, Người nói: “Cố nhiên sự giúp đỡ của các nước bạn là quan trọng, nhưng không được ỷ lại, không được ngồi mong chờ người khác. Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”; “Phải trông ở thực lực. Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”. Đồng thời, Người căn dặn, phải luôn “biết mình, biết người”, “biết thời, biết thế” để “cương nhu kết hợp”; phải đặc biệt coi trọng xử lý khéo léo quan hệ với các nước, nhất là các nước láng giềng và các nước lớn, vì lợi ích tối cao của quốc gia-dân tộc.
Thấm nhuần sâu sắc tư tưởng của Người, Đảng, Nhà nước ta luôn khẳng định nhất quán quan điểm: “Chúng ta bảo vệ Tổ quốc bằng sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại. Trong đó, sức mạnh bên trong của đất nước, của chế độ chính trị, nền kinh tế và tiềm lực quốc gia là nhân tố quyết định”. Đồng thời: Kiên trì chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, thêm bạn, bớt thù, vừa hợp tác, vừa đấu tranh. Tăng cường hợp tác, tạo thế đan xen lợi ích chiến lược giữa nước ta với các nước, nhất là các nước lớn, các đối tác chiến lược, các nước láng giềng và các nước trong khu vực; tránh xung đột, đối đầu, tránh bị cô lập, phụ thuộc.
Chiến lược quốc phòng Việt Nam năm 2018 xác định: Xây dựng, củng cố quan hệ, lòng tin chiến lược với các nước, nhất là các đối tác chiến lược, tạo thế để bảo vệ Tổ quốc; sẵn sàng đánh thắng mọi hình thái chiến tranh xâm lược nếu xảy ra; tham gia tích cực, trách nhiệm, hiệu quả vào các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc (LHQ) và những vấn đề liên quan của cộng đồng quốc tế, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 chỉ rõ, cùng với chủ trương “4 không”, Việt Nam: “Tăng cường hợp tác quốc phòng với các nước để nâng cao khả năng bảo vệ đất nước và giải quyết các thách thức an ninh chung. Tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế”.
Đồng thời, Việt Nam chủ trương phát triển quan hệ hợp tác quốc phòng với tất cả các nước, nhất là các nước láng giềng, các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, xây dựng lòng tin, tạo sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế để ngăn ngừa nguy cơ và đối phó với chiến tranh xâm lược; sẵn sàng mở rộng quan hệ hợp tác quốc phòng trên cơ sở không phân biệt sự khác nhau về chế độ chính trị và trình độ phát triển. Việt Nam không chấp nhận quan hệ hợp tác quốc phòng dưới bất kỳ điều kiện áp đặt hoặc sức ép nào. Việt Nam tăng cường hợp tác quốc phòng đa phương nhằm góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền quốc gia.
Đại hội XIII của Đảng xác định rõ: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại…”. Đồng thời: “Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng những biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc”.
Về thực tiễn: Trong những năm qua, Việt Nam luôn nỗ lực thực thi đúng đường lối đối ngoại và chính sách quốc phòng đã đề ra, trở thành quốc gia thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới. Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 192 quốc gia (bao gồm 190/193 nước thành viên LHQ); đã thiết lập quan hệ hợp tác quốc phòng với hơn 100 nước trên thế giới, trong đó có đầy đủ 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an LHQ và tất cả các nước lớn trên nhiều lĩnh vực.
Đặc biệt, gần 10 năm qua, Việt Nam đã triển khai hơn 530 cán bộ, nhân viên tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình LHQ tại các phái bộ và trụ sở LHQ ở New York (Hoa Kỳ). Việc tham gia ngày càng tích cực, hiệu quả vào hoạt động gìn giữ hòa bình thế giới của Việt Nam đã được LHQ ghi nhận và đánh giá cao, để lại những ấn tượng tốt đẹp với chính quyền, người dân nước sở tại và bạn bè quốc tế. Hình ảnh chiến sĩ mũ nồi xanh Việt Nam, phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới được lan tỏa rộng rãi, ghi dấu ấn tích cực và đậm nét trong lòng nhân dân, kiều bào Việt Nam ở nước ngoài, được bạn bè quốc tế trân trọng, quý mến.
Mặt khác, trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn diễn ra ngày càng gay gắt, quyết liệt hiện nay, nếu dựa vào nước lớn này làm đồng minh, liên minh thì sẽ trở thành đối tượng chiến lược, đối đầu với nước lớn khác. Vì vậy, Việt Nam kiên định chính sách “4 không”, thêm bạn, bớt thù; tăng đối tác, giảm đối tượng, xử lý hài hòa quan hệ với các nước; thiết lập, củng cố quan hệ với tất cả các nước, nhất là các đối tác chiến lược, hội nhập quốc tế sâu rộng, gia tăng sự đan xen lợi ích chung với nhiều nước, tạo sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế; ngăn ngừa nguy cơ và đối phó thắng lợi với mọi hình thức chiến tranh xâm lược là lựa chọn đúng đắn, phù hợp nhất. Trong bất luận hoàn cảnh nào, Việt Nam cũng không chọn bên mà chọn lẽ phải, chính nghĩa.
Như vậy, cả lý luận và thực tiễn, rõ ràng là những minh chứng đầy đủ, khách quan, thuyết phục nhất, thể hiện rõ mong muốn, thiện chí: Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam mà không một thế lực nào có thể xuyên tạc, phủ nhận. Đồng thời cũng vạch trần âm mưu đen tối của các thế lực thù địch đối với chính sách quốc phòng Việt Nam.
Theo đó, để đấu tranh làm thất bại âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, cần phải tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, làm rõ tính đúng đắn của chính sách quốc phòng Việt Nam ở cả trong nước và quốc tế; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với quốc phòng, an ninh và đối ngoại; huy động tối đa các nguồn lực để tăng cường sức mạnh quốc phòng, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, phát huy vai trò “tiên phong” trong kiến tạo môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

VỎ BỌC NÀO CHE ĐẬY ĐƯỢC BẢN CHẤT?

 

Việt Tân là tổ chức KHỦNG BỐ nhằm phá hoại đất nước Việt Nam, chúng được thành lập theo “Chính sách và chiến lược hậu chiến tranh Việt Nam” của Mỹ, chúng là tập hợp những thành phần cực đoan và cơ hội ở khắp nơi trên thế giới, song đại bộ phận chúng là tàn dư của chế độ Ngụy Sài Gòn, hiện nay lực lượng này dung nạp thêm những kẻ cơ hội chính trị và đối nghịch, chống phá trong nước.

Chúng núp dưới mọi vỏ bọc cùng hình thức phá hoại ngày càng tinh vi và khó nhận diện, song dù chúng dùng bất kể ngôn từ hoa mỹ nào để ngụy biện nhằm che đậy bản chất của mình thì đối với Nhà nước CHXHCN Việt Nam chúng vẫn là một tổ chức KHỦNG BỐ và được Nhà nước ta công bố tại LHQ cùng nhiều diễn đàn quốc tế khác.

Với mục đích phá hoại thành quả CÁCH MẠNG của dân tộc ta, chống phá Đảng và Nhà nước CHXHCN Việt Nam, dã tâm lật đổ Nhà nước của ta nhằm thay đổi thể chế chính trị, thay đổi chính quyền Nhà nước để phục vụ cho các âm mưu đen tối, biến dân tộc ta, đất nước ta thành công cụ cho chúng chống lại các nước, các thế lực mà chúng cho là thù địch trên thế giới và khu vực nên chúng không ngừng sử dụng các chiêu trò ngày càng tin vi hòng tranh thủ lòng tin của nhân dân ta và tiếp thêm động lực cho những kẻ cơ hội chính trị cùng những kẻ có tư tưởng đối nghịch chống phá trong nước để đạt được mục đích.

Song với bản chất của kẻ phản quốc, của kẻ luôn có tư tưởng lệ thuộc, của kẻ có dã tâm phá hoại, dù chúng có sử dụng bất kỳ vỏ bọc nào, chiêu trò tinh vi gì nhằm dụ dỗ và lôi kéo người tham gia chống lại Tổ quốc ta thì chúng cũng không thể che giấu được sự bỉ ổi với âm mưu cùng dã tâm muốn biến dân tộc Việt Nam thành nô lệ đến cùng.

Minh chứng soi tỏ nhất cho khẳng định này là: Nếu chúng là một tổ chức vì Dân tộc chúng ta thì chúng phải tin tưởng vào con đường mà Dân tộc chúng ta đang mạnh mẽ vươn lên dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước hiện nay để hỗ trợ và tiếp sức chứ không phải luôn tìm cách phá hoại, không những thế, bỉ ổi hơn khi chúng luôn tìm cách lừa bịp, vùi dập và hãm hại đồng bào của ta ở khắp mọi nơi trên thế giới bằng các thủ đoạn Mafia.

Trong thời đại công nghệ thông tin bùng nổ hiện nay, bất cứ cá nhân hay tổ chức nào cũng có thể trở thành nguồn truyền tải thông tin, bên cạnh mặt tích cực mang lại cho chúng ta tri thức của nhân loại thì nó cũng tiềm ẩn những hệ lụy và tiêu cực khôn lường, nếu chúng ta không đủ nhận thức và nhãn quan đánh giá sự việc hiện tượng thì nguy cơ chúng ta gặp tai hoạ rất lớn, vì thế, ngoài việc tiếp nhận và xử lí thông tin, chúng ta phải kiểm chứng chúng thông qua các nguồn ý kiến và thông tin có đủ sức thuyết phục, tuân thủ mọi chính sách và pháp luật của Nhà nước.

Và không ngừng nâng cao cảnh giác, sẵn sàng đáp trả mọi thủ đoạn phá hoại cùng các nguy cơ làm mất an ninh trật tự xã hội, an ninh quốc gia để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cũng chính là bảo vệ sự bình yên và hạnh phúc của mỗi chúng ta.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỐNG SỰ CHIA RẼ KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

 

Nhằm chống phá cách mạng nước ta, các thế lực thù địch không từ bỏ mưu đồ đen tối nào; trong đó, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc là thủ đoạn rất nguy hiểm. Bởi thế, chúng ta cần nhận diện đúng âm mưu phá hoại của chúng để cảnh giác, có giải pháp đấu tranh hiệu quả.

Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, đại đoàn kết đã trở thành di sản vô giá, truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta. Không ai có thể phủ nhận được sự chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng và Nhà nước ta. Những thành quả về thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam đã góp phần làm thay đổi nhận thức, cách nhìn về bức tranh tổng thể khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh, hội nhập quốc tế ngày nay. Đó là những chướng ngại lớn trên con đường chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch. Bởi lẽ, họ đã thấy được sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nên để chống phá Đảng, cách mạng Việt Nam thì phải phá vỡ sức mạnh này.

Trên cơ sở quán triệt quan điểm của Đảng, để phòng chống chia rẽ, bảo vệ và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình hiện nay, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp cơ bản sau:

Một là, tiếp tục thấu triệt quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta về đại đoàn kết toàn dân tộc. Đẩy mạnh đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng, tuyên truyền, tăng cường đồng thuận của các tầng lớp nhân dân với đường lối lãnh đạo của Đảng. Thường xuyên nắm chắc, dự báo đúng, xử lý chính xác các vấn đề về tư tưởng, mâu thuẫn, bức xúc xã hội hiện nay. Tích cực, chủ động thông tin, tuyên truyền đối ngoại, làm sáng tỏ chủ trương, chính sách, thành tựu đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng ta. Coi trọng tuyên truyền, giáo dục, bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc làm nền tảng tinh thần vững chắc của khối đại đoàn kết trong giai đoạn mới.

Hai là, đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng; đặc biệt coi trọng chăm lo, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng và hệ thống chính trị. Thường xuyên củng cố, thắt chặt mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân.

Ba là, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Quán triệt, thực hiện đúng phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, thực hiện dân chủ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Trong đó, tăng cường vai trò nòng cốt chính trị, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tập hợp, vận động nhân dân đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước.

Bốn là, nâng cao ý thức cảnh giác, thường xuyên nhận diện, đấu tranh hiệu quả với các âm mưu, thủ đoạn chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc của các thế lực thù địch, phản động. Có các giải pháp, biện pháp mạnh, nâng cao hiệu quả đấu tranh, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trên không gian mạng-mặt trận nóng bỏng hiện nay. Chủ động, nhạy bén, sắc sảo phát hiện, vạch trần bản chất phản động, mưu đồ đen tối của các thế lực thù địch, phản động; giành giữ, bồi đắp tình cảm cách mạng, niềm tin của toàn thể nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng đất nước.

Năm là, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, không ngừng hoàn thiện đường lối, chính sách, pháp luật về xây dựng, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Bám sát thực tiễn phát triển của đất nước, kịp thời giải đáp một cách thuyết phục những vấn đề mới về lý luận, thực tiễn đã và đang đặt ra; cung cấp luận cứ, luận chứng khoa học bảo vệ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình mới.

Đảng ta là linh hồn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, để phòng chống sự chia rẽ, bảo vệ và phát huy sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết, phải phát huy sức mạnh của các tầng lớp nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

 BỔ SUNG QUY ĐỊNH VỀ CHÍNH SÁCH ĐẤT ĐAI CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ

Trong số hơn 12 triệu lượt ý kiến góp ý đối với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), có khá nhiều ý kiến liên quan đến vấn đề đất ở cho đồng bào dân tộc thiểu số. Nhiều ý kiến nhất trí cho rằng, dự thảo mới đã bổ sung các quy định để tạo điều kiện thực hiện hiệu quả chính sách đất đai, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Góp ý về chính sách đất đai cho đồng bào dân tộc thiểu số, Tiến sĩ Phạm S, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng cho rằng, Điều 17 đã quy định trách nhiệm của Nhà nước về đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số; đã giao Chính phủ quy định khung chính sách về hỗ trợ đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo điều kiện thực tế của địa phương cụ thể hóa chính sách về đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn.

Tiến sĩ Phạm S cũng đề nghị bổ sung quy định về hộ gia đình, cá nhân người đồng bào dân tộc thiểu số được miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất ở. Ngoài ra, cần có quy định về hạn mức giao đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số nhằm khuyến khích các hộ dân là người dân tộc thiểu số ổn định đời sống, sản xuất. Cần có điều luật về quản lý, bảo vệ rừng, hạn chế được tình trạng lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép do thiếu đất sản xuất.

Về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất trong cộng đồng dân tộc thiểu số quy định tại Điều 42, theo ông Nguyễn Tiến Thanh, Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn dân chủ và Pháp luật (Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Lào Cai), dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) lần này nên quy định cho phép cộng đồng dân cư sử dụng đất được góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, cần quy định rõ có sự tham gia trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý và Hội Nông dân thẩm định phương án góp vốn để tránh tình trạng lợi dụng sự thiếu hiểu biết của người dân để chiếm dụng quyền sử dụng đất.

Theo ông Lê Trọng Yên, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông, dự thảo Luật đã quy định theo hướng ưu tiên giải quyết đất ở cho đồng bào dân tộc thiểu số. Thực tế, có trường hợp đồng bào dân tộc thiểu số được Nhà nước giao đất ở để làm nhà nhưng không có tiền để nộp. Do đó, cần bổ sung quy định đối với việc ghi nợ tiền sử dụng đất đối với trường hợp này.

Đối với việc công nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất, ông Yên đề nghị sửa điểm a khoản 2 Điều 137, "thửa đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp không thuộc trường hợp lấn chiếm tranh chấp đất đai", thành "thửa đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp có nguồn gốc từ lấn chiếm đất của các nông, lâm trường sử dụng ổn định không tranh chấp đất đai".

Về việc thu hồi diện tích đất đang cho thuê, cho mượn trái pháp luật bị lấn chiếm, liên doanh, liên kết hợp tác đầu tư không đúng quy định, ông Nguyễn Ngọc Sâm, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum cho biết: Thực hiện Nghị định 118/2014/NĐ-CP, tỉnh Kon Tum đã hoạch định lại diện tích đất bị lấn chiếm, diện tích đất của các đơn vị không sử dụng được giao về cho địa phương quản lý.

Hiện nay, việc giải quyết đối với diện tích đất này rất khó khăn, vì đa số người dân sử dụng dưới nhiều hình thức khác nhau. Sau khi Luật Đất đai (sửa đổi) ban hành, cần có chính sách, quy định cụ thể để giải quyết theo hướng: đối tượng nào được tiếp tục sử dụng đất, đối tượng nào không được sử dụng; hạn mức cho thuê, hoặc cấp quyền sử dụng ra sao...

Ông Nguyễn Ngọc Sâm kiến nghị, diện tích đất bàn giao về địa phương quản lý phải tiến hành đo đạc, lập bản đồ địa chính; cần bổ sung thêm quy hoạch về quy định hạn mức giao đất sản xuất nông nghiệp trên đất lâm nghiệp cho các hộ dân tộc thiểu số, nhằm khuyến khích các hộ dân là người dân tộc thiểu số ổn định đời sống, sản xuất, cho phép người dân nhận giao khoán quản lý bảo vệ rừng để hạn chế tình trạng lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép.

Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn dân chủ và Pháp luật (Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Bắc Kạn) Đinh Thị Chuyên San đề xuất dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) cần có quy định cụ thể về thời gian được quyền chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất đối với vấn đề đất đai liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số.

Báo cáo mới nhất về kết quả điều tra thực trạng kinh tế-xã hội 53 dân tộc thiểu số của Ủy ban Dân tộc thực hiện năm 2019 cho thấy, cả nước có 24.532 hộ đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất ở; 210.400 hộ dân tộc thiểu số có nhu cầu hỗ trợ đất sản xuất... Nguyên nhân bởi việc giải quyết đất ở, đất sản xuất chưa tốt; thiếu quy định phù hợp phong tục, tập quán của một số dân tộc thiểu số trong sử dụng đất.

Thực tế tại nhiều địa phương cũng cho thấy tình trạng thiếu đất sản xuất đối với đồng bào dân tộc thiểu số còn diễn ra trong khi việc bố trí đất ở, đất sản xuất cho đồng bào di cư tự phát, mua-bán đất chưa được giải quyết thấu đáo. Theo ý kiến của các nhà khoa học, dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) được kỳ vọng sẽ góp phần tạo điều kiện thực hiện hiệu quả chính sách đất đai, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số./.


Việt Nam không “tự mình cô lập mình” trong thực hiện chính sách quốc phòng

Đến nay, Việt Nam đã 4 lần công bố Sách trắng quốc phòng, trong đó công khai chính sách quốc phòng hòa bình và tự vệ, nhằm mục tiêu tạo lập, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Tuy nhiên, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách để xuyên tạc, phủ nhận một cách vô căn cứ. Vì vậy, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của chúng, bảo vệ chính sách quốc phòng đúng đắn của Việt Nam là nhiệm vụ quan trọng hiện nay. Việt Nam là đất nước luôn phải đối mặt với nguy cơ bị xâm lược từ bên ngoài và đã phải trải qua rất nhiều cuộc chiến tranh để giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Chính vì vậy, khát khao được sống trong hòa bình, độc lập; giải quyết mọi bất đồng, tranh chấp bằng biện pháp hòa bình là mong muốn, thiện chí và quan điểm nhất quán trong chính sách quốc phòng của Việt Nam. Tuy nhiên, thời gian qua, các thế lực phản động, phần tử bất mãn, cơ hội chính trị, nhóm người tự xưng là “người yêu nước”, “tâm huyết” với vận mệnh quốc gia-dân tộc đã gửi “thư ngỏ”, “kiến nghị”, viết bài tán phát với những giọng điệu xuyên tạc, bóp méo đường lối đối ngoại và chính sách quốc phòng của Việt Nam. Chúng cho rằng, trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, các quốc gia luôn có mối quan hệ ràng buộc, phụ thuộc chặt chẽ lẫn nhau, trong khi đó Việt Nam vẫn theo đuổi chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ và chính sách quốc phòng “4 không” (không liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế) là “bảo thủ, lỗi thời”, “tự mình cô lập mình”, “tự trói tay, chân mình”, tước đi cơ hội hợp tác với các nước lớn để tăng cường sức mạnh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Ngang nhiên, trắng trợn hơn, chúng còn vu khống, quy chụp việc Việt Nam tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh là khơi mào cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực, là để chống lại một nước thứ ba. Đặc biệt, các thế lực thù địch cho rằng, với chính sách quốc phòng hiện nay thì Việt Nam không thể giữ vững chủ quyền, quyền chủ quyền, sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Do đó, chỉ có liên minh quân sự với các cường quốc thì Việt Nam mới giữ vững được chủ quyền lãnh thổ, bảo vệ được lợi ích quốc gia-dân tộc. Có thể thấy mục đích sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch là nhằm dẫn dắt, hướng lái Việt Nam tham gia các liên minh quân sự, dần đi sâu vào quỹ đạo lệ thuộc bên ngoài, đánh mất độc lập, tự chủ trong các hoạt động quân sự, quốc phòng, đối ngoại. Đồng thời, kích động, gieo rắc tâm lý hoài nghi trong xã hội vào khả năng bảo vệ đất nước của quốc phòng Việt Nam, tính đúng đắn của đường lối quân sự, quốc phòng, đối ngoại của Đảng; từ đó gây chia rẽ, mâu thuẫn nội bộ, làm giảm sút lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với lĩnh vực quân sự, quốc phòng, đối ngoại; cấp độ cao hơn là từ chối thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, hoặc tham gia vào các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Soi rọi vào lý luận và thực tiễn đều cho thấy, những luận điệu trên của các thế lực thù địch là hoàn toàn vô căn cứ, xuyên tạc trắng trợn chính sách quốc phòng của nước ta: Về lý luận: Quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh là luôn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, “dựa vào sức mình là chính”, “đem sức ta mà giải phóng cho ta”; kết hợp chặt chẽ sức mạnh nội lực của đất nước với sức mạnh quốc tế để củng cố, tăng cường sức mạnh quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần chỉ rõ vai trò, tầm quan trọng của sức mạnh nội lực, của mối quan hệ giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, Người nói: “Cố nhiên sự giúp đỡ của các nước bạn là quan trọng, nhưng không được ỷ lại, không được ngồi mong chờ người khác. Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”; “Phải trông ở thực lực. Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”. Đồng thời, Người căn dặn, phải luôn “biết mình, biết người”, “biết thời, biết thế” để “cương nhu kết hợp”; phải đặc biệt coi trọng xử lý khéo léo quan hệ với các nước, nhất là các nước láng giềng và các nước lớn, vì lợi ích tối cao của quốc gia-dân tộc. Thấm nhuần sâu sắc tư tưởng của Người, Đảng, Nhà nước ta luôn khẳng định nhất quán quan điểm: “Chúng ta bảo vệ Tổ quốc bằng sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại. Trong đó, sức mạnh bên trong của đất nước, của chế độ chính trị, nền kinh tế và tiềm lực quốc gia là nhân tố quyết định”. Đồng thời: Kiên trì chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, thêm bạn, bớt thù, vừa hợp tác, vừa đấu tranh. Tăng cường hợp tác, tạo thế đan xen lợi ích chiến lược giữa nước ta với các nước, nhất là các nước lớn, các đối tác chiến lược, các nước láng giềng và các nước trong khu vực; tránh xung đột, đối đầu, tránh bị cô lập, phụ thuộc. Chiến lược quốc phòng Việt Nam năm 2018 xác định: Xây dựng, củng cố quan hệ, lòng tin chiến lược với các nước, nhất là các đối tác chiến lược, tạo thế để bảo vệ Tổ quốc; sẵn sàng đánh thắng mọi hình thái chiến tranh xâm lược nếu xảy ra; tham gia tích cực, trách nhiệm, hiệu quả vào các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc (LHQ) và những vấn đề liên quan của cộng đồng quốc tế, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 chỉ rõ, cùng với chủ trương “4 không”, Việt Nam: “Tăng cường hợp tác quốc phòng với các nước để nâng cao khả năng bảo vệ đất nước và giải quyết các thách thức an ninh chung. Tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế”. Đồng thời, Việt Nam chủ trương phát triển quan hệ hợp tác quốc phòng với tất cả các nước, nhất là các nước láng giềng, các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, xây dựng lòng tin, tạo sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế để ngăn ngừa nguy cơ và đối phó với chiến tranh xâm lược; sẵn sàng mở rộng quan hệ hợp tác quốc phòng trên cơ sở không phân biệt sự khác nhau về chế độ chính trị và trình độ phát triển. Việt Nam không chấp nhận quan hệ hợp tác quốc phòng dưới bất kỳ điều kiện áp đặt hoặc sức ép nào. Việt Nam tăng cường hợp tác quốc phòng đa phương nhằm góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền quốc gia. Đại hội XIII của Đảng xác định rõ: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại...". Đồng thời: “Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng những biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc”. Về thực tiễn: Trong những năm qua, Việt Nam luôn nỗ lực thực thi đúng đường lối đối ngoại và chính sách quốc phòng đã đề ra, trở thành quốc gia thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới. Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 192 quốc gia (bao gồm 190/193 nước thành viên LHQ); đã thiết lập quan hệ hợp tác quốc phòng với hơn 100 nước trên thế giới, trong đó có đầy đủ 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an LHQ và tất cả các nước lớn trên nhiều lĩnh vực. Đặc biệt, gần 10 năm qua, Việt Nam đã triển khai hơn 530 cán bộ, nhân viên tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình LHQ tại các phái bộ và trụ sở LHQ ở New York (Hoa Kỳ). Việc tham gia ngày càng tích cực, hiệu quả vào hoạt động gìn giữ hòa bình thế giới của Việt Nam đã được LHQ ghi nhận và đánh giá cao, để lại những ấn tượng tốt đẹp với chính quyền, người dân nước sở tại và bạn bè quốc tế. Hình ảnh chiến sĩ mũ nồi xanh Việt Nam, phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới được lan tỏa rộng rãi, ghi dấu ấn tích cực và đậm nét trong lòng nhân dân, kiều bào Việt Nam ở nước ngoài, được bạn bè quốc tế trân trọng, quý mến. Mặt khác, trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn diễn ra ngày càng gay gắt, quyết liệt hiện nay, nếu dựa vào nước lớn này làm đồng minh, liên minh thì sẽ trở thành đối tượng chiến lược, đối đầu với nước lớn khác. Vì vậy, Việt Nam kiên định chính sách “4 không”, thêm bạn, bớt thù; tăng đối tác, giảm đối tượng, xử lý hài hòa quan hệ với các nước; thiết lập, củng cố quan hệ với tất cả các nước, nhất là các đối tác chiến lược, hội nhập quốc tế sâu rộng, gia tăng sự đan xen lợi ích chung với nhiều nước, tạo sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế; ngăn ngừa nguy cơ và đối phó thắng lợi với mọi hình thức chiến tranh xâm lược là lựa chọn đúng đắn, phù hợp nhất. Trong bất luận hoàn cảnh nào, Việt Nam cũng không chọn bên mà chọn lẽ phải, chính nghĩa. Như vậy, cả lý luận và thực tiễn, rõ ràng là những minh chứng đầy đủ, khách quan, thuyết phục nhất, thể hiện rõ mong muốn, thiện chí: Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam mà không một thế lực nào có thể xuyên tạc, phủ nhận. Đồng thời cũng vạch trần âm mưu đen tối của các thế lực thù địch đối với chính sách quốc phòng Việt Nam. Theo đó, để đấu tranh làm thất bại âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, cần phải tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, làm rõ tính đúng đắn của chính sách quốc phòng Việt Nam ở cả trong nước và quốc tế; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với quốc phòng, an ninh và đối ngoại; huy động tối đa các nguồn lực để tăng cường sức mạnh quốc phòng, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, phát huy vai trò “tiên phong” trong kiến tạo môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

 VIỆT NAM KHÔNG CHẤP NHẬN NHỮNG PHIM ẢNH CÓ NỘI DUNG KHÔNG RÕ RÀNG VỀ CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ 

Việt Nam không chấp nhận những phim có nội dung nhập nhằng trong quan điểm về chủ quyền lãnh thổ

Theo Chủ tịch Hội đồng Duyệt phim Quốc gia: Quan điểm của Việt Nam đã được làm rõ, Việt Nam không chấp nhận những phim có nội dung nhập nhằng trong quan điểm về chủ quyền lãnh thổ!"

Sau khi Cục Điện ảnh ra quyết định phim Barbie bị cấm chiếu tại Việt Nam, dư luận trong nước đồng loạt ủng hộ.

Khán giả Việt Nam bắt đầu tìm kiếm những hình ảnh khả nghi và phát hiện một hình vẽ có tên "World map" (bản đồ thế giới) trong trailer phim. Hình ảnh này không ngừng được lan truyền và gây tranh luận về việc nó thực sự có đường lưỡi bò hay không.

Trước thực tế đó, phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus đã liên hệ Tiến sỹ Trần Thanh Hiệp - Chủ tịch Hội đồng Thẩm định và Phân loại phim Quốc gia (sau đây gọi là Hội đồng Duyệt phim Quốc gia) để làm rõ. Ông Hiệp khẳng định hai nội dung:

Thứ nhất, "hình ảnh bản đồ này xuất hiện nhiều lần trong phim, trong nhiều cảnh khác nhau chứ không riêng cảnh đang được lan truyền." Thứ hai là "bản đồ không rõ ràng, khi soi ra dễ gây suy diễn và vi phạm này là rất rõ ràng rồi."

Sau khi cơ quan quản lý Việt Nam công bố về quyết định cấm phim sáng ngày 3/7, báo chí nước ngoài như The Guardian, Variety, CNN, BBC... đã đồng loạt đưa tin. Đến tối ngày 6/7 theo giờ Mỹ, rạng sáng 7/7 theo giờ Việt Nam, trang Variety dẫn phản hồi của nhà sản xuất Warner Bros.

Theo đó, người đại diện hãng phủ nhận: "Bản đồ trong Barbie land (bối cảnh phim-PV) chỉ giống như hình vẽ của trẻ con. Bức vẽ này mô tả 'thế giới ảo' của Barbie trước khi bước vào 'thế giới thật.' Nó không thể hiện một tuyên bố nào cả."

Tuy nhiên, quan điểm của Việt Nam đã được làm rõ. "Trung Quốc có hơn 1 tỷ dân và nhà sản xuất rất cần thị trường này. Cũng có người cho rằng có 'đường lưỡi bò' thì cắt đi nhưng khi phim đã tồn tại, cho chiếu cũng là chấp nhận phim. Việt Nam không chấp nhận những phim nhập nhằng trong quan điểm về chủ quyền lãnh thổ," chủ tịch hội đồng duyệt khẳng định./.

Ảnh: Hình ảnh được lan truyền nhiều ngày qua trên mạng xã hội, có nhiều đường đứt đoạn khiến khán giả Việt đặt câu hỏi.

Không mơ hồ, lẫn lộn giữa tự do ngôn luận, tự do báo chí với ngôn luận tự do, báo chí tự do

Một trong những luận điệu thiếu thiện chí của một số tổ chức, cá nhân đối với Việt Nam là xuyên tạc ở đất nước Việt Nam không có tự do ngôn luận, tự do báo chí. Tuy nhiên, lập luận của họ đa phần có sự đánh tráo khái niệm giữa tự do ngôn luận, tự do báo chí với ngôn luận tự do, báo chí tự do. Ý nghĩa chân chính của tự do ngôn luận, tự do báo chí Vốn dĩ tự do là quyền cơ bản của con người, nhưng cùng với đó là nhận thức và hành xử phù hợp với cộng đồng, quốc gia, dân tộc, để tôn trọng quyền tự do của người khác và tuân thủ pháp luật. Điều 29 trong “Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền” năm 1948 của Liên hợp quốc nêu rõ: “Mỗi người đều có nghĩa vụ đối với cộng đồng, trong khi hưởng thụ các quyền về tự do cá nhân, phải chịu những hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận và tôn trọng đối với các quyền tự do của người khác và phù hợp với những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”. Tự do ngôn luận và tự do báo chí là hai khái niệm trong cùng lĩnh vực, chỉ khác nhau về cấp độ. Báo chí là diễn đàn trong một xã hội phát triển, để mọi công dân, mọi tầng lớp, mọi độ tuổi, giới tính, ngành nghề khác nhau được quyền phát ngôn, bày tỏ tư tưởng, ý kiến, thể hiện hành động và báo chí trở thành nơi mà tự do ngôn luận thể hiện tập trung, mạnh mẽ và được lan tỏa nhiều nhất. Cũng chính vì thế, tự do báo chí trở thành mối quan tâm đặc biệt ở mọi nơi, mọi quốc gia, mọi thể chế chính trị-xã hội. Dù ở nền báo chí tư bản hay báo chí xã hội chủ nghĩa, thì báo chí đều có những chức năng chung như: Thông tin, phản ánh, hình thành và định hướng dư luận xã hội, giáo dục, giải trí... Những chức năng cơ bản này tạo ra cho báo chí một trách nhiệm xã hội, vì sự tiến bộ và phát triển chung của xã hội, hướng tới những giá trị hạnh phúc phổ quát của con người. Vì vậy, khi thực hiện quyền tự do báo chí cũng phải gắn với các chức năng đó, không đi ngược lại các giá trị chân lý, đạo đức, văn hóa, không chống lại an ninh chung của cộng đồng, không trái với xu thế tiến bộ của nhân loại. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có lời giải thích rất rành mạch về tự do ngôn luận, tự do báo chí như sau: “Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý... Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải chân lý”. Như vậy, có thể thấy, tự do báo chí chân chính phải đặt trên nền tảng một xã hội dân chủ, tốt đẹp, nhân văn, mọi hoạt động báo chí đều phục vụ lợi ích của đông đảo nhân dân. Không có tự do báo chí thuần túy, tuyệt đối, đứng bên ngoài xã hội, cộng đồng, thể chế chính trị và bị bóp nghẹt trong chế độ độc tài, khi nhà cầm quyền đã trở thành vật cản bước tiến xã hội. Không có quyền nào vượt lên ở mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển xã hội do chế độ kinh tế đó quy định. Chỉ có tự do báo chí trong xã hội dân chủ, khi giai cấp cầm quyền có vai trò tiến bộ dẫn dắt xã hội. Trong thực tiễn, hầu hết mọi thể chế chính trị khác nhau đều coi việc chống lại nhà cầm quyền là vi phạm pháp luật và không có nơi nào có văn bản coi tự do ngôn luận, tự do báo chí là quyền tuyệt đối. Khi là Tổng thư ký Liên hợp quốc, ông Ban Ki-moon từng nói: “Tự do ngôn luận được bảo vệ khi nó được sử dụng vào mục đích công lý và cộng đồng... Khi một số người sử dụng quyền tự do này để khiêu khích hoặc sỉ nhục các giá trị niềm tin của người khác thì hành động đó sẽ không được bảo vệ”. Cảnh giác mưu đồ cổ xúy “ngôn luận tự do, báo chí tự do” Trong các luận điệu chỉ trích Việt Nam không có tự do ngôn luận, tự do báo chí, có thể thấy các lập luận đã cố tình tập trung vào vế đầu của “Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền” năm 1948, khẳng định tự do tư tưởng, tự do xuất bản là quyền cơ bản của con người, mà bỏ đi vế sau là quyền tự do đó nằm trong khuôn khổ pháp luật và thể chế mỗi quốc gia. Thay vì xem xét các mối quan hệ giữa Hiến pháp, pháp luật và hoạt động báo chí thực tiễn, các thế lực thù địch, thiếu thiện chí chỉ tập trung vào các vụ việc và cá nhân cụ thể để xuyên tạc về tự do ngôn luận, tự do báo chí của Việt Nam. Khái niệm mà họ sử dụng chính là "ngôn luận tự do", "báo chí tự do", gần với khái niệm tự do tuyệt đối, không có giới hạn. Tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF) nhiều năm gần đây xếp Việt Nam ở vị trí gần cuối bảng xếp hạng về tự do báo chí của 180 quốc gia, với những lý do chủ yếu là “đàn áp các blogger”, “bắt giam các nhà báo”, nhưng trong những vụ việc này, các đối tượng bị bắt giữ đều có hành vi lợi dụng các quyền tự do dân chủ để đưa tin sai sự thật, tuyên truyền chống phá Đảng và Nhà nước, xuyên tạc tình hình kinh tế-xã hội ở Việt Nam. Trên một kênh truyền thông ở hải ngoại thiếu thiện chí, khi bình luận về Việt Nam gần đây, có một bài viết về bảng xếp hạng của RSF. Nhưng tổ chức RSF lại không đưa ra được khái niệm hay cách hiểu nào về tự do báo chí. Nếu họ cho rằng không thể bắt giữ các nhà báo và cho rằng không ai đáng bị bắt vì lý do tham gia ngôn luận, thì có lẽ họ đã bỏ qua hoàn toàn việc hoạt động báo chí phải nằm trong khuôn khổ pháp luật. Với cách lập luận như vậy, họ đang cổ xúy cho ngôn luận tự do, báo chí tự do mà không chịu bất cứ trách nhiệm xã hội nào. Trong vụ việc bắt giữ một nữ nhà báo gần đây, có thể thấy rõ trong thời gian dài, nhà báo này đã công khai chỉ trích nhiều cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức trên trang cá nhân của mình, như Công ty Cổ phần Đại Nam, Quỹ Sống Foundation, Mạng lưới Tự kỷ Việt Nam... với lời lẽ nặng nề nhưng không có căn cứ xác đáng. Núp dưới chiêu bài “nêu nghi vấn”, “đặt dấu hỏi”, “phân tích giả định”, “đấu tranh chống tiêu cực”, nhà báo này đã tùy tiện đưa ra những thông tin có nhiều dấu hiệu quy chụp, phán xét không khách quan, sai sự thật, bất chấp luật pháp và đạo lý. Ngôn luận tự do dựa theo những phán đoán, suy diễn chủ quan, ác ý đã dẫn một người từng là nhà báo kiêm luật sư phải chịu trách nhiệm trước pháp luật vì lợi dụng quyền tự do dân chủ để xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và tổ chức khác. Một số nhà báo, luật sư, người dùng mạng xã hội khác bị bắt cũng có chung vi phạm pháp luật như vậy. Khi phê phán, chỉ trích Việt Nam không có tự do ngôn luận và tự do báo chí, các thế lực thù địch cũng không chỉ ra được điều luật nào, quy định nào ngăn cản tự do của nhà báo, mà có xu hướng áp đặt hình mẫu phương Tây cho Việt Nam. Đó là một cách tiếp cận không có cơ sở khoa học. Nội hàm của tự do ở mỗi quốc gia, mỗi thời điểm có thể giống nhau về phổ quát, còn lại sẽ mang đặc điểm của mỗi thể chế chính trị-xã hội. Thực chất, không có nơi nào có tự do tuyệt đối, đây chỉ là một khái niệm mang tính tương đối và có sự phát triển trong các nền tảng xã hội khác nhau. Như vậy, ngôn luận tự do, báo chí tự do theo cách mà các thế lực thù địch tuyên truyền là đề cao tư tưởng của các cá nhân, không đi kèm trách nhiệm và các khuôn khổ luật pháp, đạo đức xã hội, không quan tâm hoặc xem nhẹ những hệ quả gây ra cho xã hội, cộng đồng. Điều đó khác rất xa với tự do ngôn luận, tự do báo chí chân chính có trách nhiệm với sự phát triển tiến bộ của xã hội và nhân loại. Việt Nam luôn bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận Ở Việt Nam, ngay từ trong cuộc đấu tranh giành độc lập, Mặt trận Việt Minh do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đứng đầu đã giương cao ngọn cờ đòi quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức, tín ngưỡng, đi lại, bác bỏ áp bức bất công của chính quyền thực dân. Khi giành được chính quyền, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 đã hiến định quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản và các quyền tự do khác của công dân. Trải qua các lần sửa đổi, bổ sung, Hiến pháp các năm 1959, 1980, 1992 và gần đây là Hiến pháp năm 2013 luôn nhất quán khẳng định quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân. Cùng với Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác, Luật Báo chí cũng đặt ra các nền móng cơ bản và thống nhất cho tự do ngôn luận, tự do báo chí. Điều 10 Luật Báo chí năm 2016 quy định: “Công dân có quyền: 1. Sáng tạo tác phẩm báo chí; 2. Cung cấp thông tin cho báo chí; 3. Phản hồi thông tin trên báo chí; 4. Tiếp cận thông tin báo chí; 5. Liên kết với cơ quan báo chí thực hiện sản phẩm báo chí; 6. In, phát hành báo in”. Như vậy, dù Việt Nam không có báo chí tư nhân nhưng luật pháp quy định mọi công dân đều có quyền tham gia vào hoạt động báo chí. Các thế lực chống phá thường vin vào việc Việt Nam không có mô hình báo chí tư nhân mà cố tình lờ đi rằng, mọi công dân đều được quyền tham gia sáng tạo và xuất bản báo chí, mọi tầng lớp, tổ chức trong xã hội đều có cơ quan báo chí đại diện của mình. Điều 11 Luật Báo chí năm 2016 nêu rõ: Công dân có quyền phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị-xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp và các tổ chức, cá nhân khác. Điều 13 ghi rõ: “Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng”. Không chỉ về phương diện pháp lý mà trong thực tiễn, tự do báo chí ở Việt Nam cũng được biểu hiện sinh động. Nền báo chí Việt Nam phát triển mạnh mẽ cả về số lượng, loại hình, quy mô, công nghệ làm báo. Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, tính đến tháng 5-2023, cả nước có 808 cơ quan báo chí (trong đó: 138 báo, 670 tạp chí) và 42.400 người hoạt động trong lĩnh vực báo chí, gấp khoảng 6 lần so với thập niên 2000. Ngoài ra, không thể không kể đến mạng xã hội đã tham gia mạnh mẽ vào môi trường truyền thông trong khoảng 10 năm trở lại đây. Ở Việt Nam, công dân không bị ngăn cấm tham gia mạng xã hội. Quyền phát ngôn, tham gia ý kiến, thảo luận về mọi vấn đề xã hội đã được mở rộng rất nhiều trên các phương tiện truyền thông mới này. Báo chí cùng với mạng xã hội đã trở thành một diễn đàn lớn, nơi mà mọi người dân đều có tiếng nói, mọi vấn đề quốc kế dân sinh được trao đổi, thảo luận, đó là những biểu hiện rất rõ ràng của tự do báo chí, tự do ngôn luận. Báo chí hiện đại trong những năm gần đây, cùng sự hỗ trợ của công nghệ truyền thông số, đã tăng cường tính tương tác với công chúng. Trên các báo điện tử đều mở phần bình luận cho người đọc. Các kênh phát thanh, truyền hình đều có những chương trình phát sóng trực tiếp, có số điện thoại đường dây nóng để người nghe, người xem gọi điện tương tác ngay khi chương trình đang diễn ra. Với những thiết bị hiện đại, nhà đài có thể di chuyển đến phỏng vấn và phát sóng trực tiếp ngay tại nhà của các công dân. Mặt khác, các cơ quan báo chí đều thiết lập những chương trình thu thập chất liệu phản ánh từ các “nhà báo công dân”. Đó là minh chứng rất rõ ràng về việc báo chí có thể xuất bản ngay mà không qua kiểm duyệt. Như vậy, cả trên phương diện pháp lý và hoạt động thực tiễn, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam đều được thể hiện rõ ràng, luôn gắn với quy định pháp luật, luôn hướng tới mục đích phụng sự nhân dân, góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội. Tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam không phải là ngôn luận tự do, báo chí tự do theo ý chí cá nhân, mà là tự do xây dựng vì những mục tiêu tốt đẹp, vì trách nhiệm chân chính với cộng đồng, vì một thể chế chính trị-xã hội của dân, do dân, vì dân. Các thế lực thù địch dù có tấn công, chỉ trích, chống phá như thế nào cũng không thể thay đổi bản chất tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam. Thực ra đó chỉ là những tiếng nói tiêu cực, lạc lõng của những người cố tình đi ngược chiều với sự phát triển bền vững của đất nước ta, nhân dân ta và của nền báo chí cách mạng đáng tự hào của chúng ta.