Thứ Ba, 11 tháng 7, 2023

Tiếp tục kiên định, kiên định, giữ vững nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong đảng

Có thể thấy thời gian qua, với việc tiếp tục thực hiện tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 các khóa XI, XII, XIII, nội dung Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, hoạt động tự phê bình và phê bình trong Đảng đã đạt nhiều kết quả quan trọng, tạo sự chuyển biến tích cực trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã gương mẫu, nghiêm túc thực hiện kiểm điểm tự phê bình và phê bình; đồng thời tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tăng cường kiểm tra, chú trọng gợi ý kiểm tra, chú trọng gợi ý kiểm điểm đối với những tập thể, cá nhân có biểu hiện vi phạm” (1). Đại bộ phận các cấp ủy, đảng viên đã gương mẫu, nghiêm túc thực hiện kiểm điểm tự phê bình và phê bình. “Các cấp ủy, tổ chức đảng đã dành thời gian thỏa đáng để kiểm điểm ở cấp mình, trực tiếp dự, chỉ đạo, gợi ý kiểm điểm đối với tập thể, cá nhân thuộc quyền quản lý, coi trọng theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc sửa chữa, khắc phục hạn chế, khuyết điểm sau tự phê bình và phê bình” (2). Nhờ đó, đã góp phần khắc phục các khuyết điểm tồn lại kéo dài, đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ, củng cố sự đoàn kết thống nhất trong Đảng.

Tuy nhiên, việc thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong Đảng hiện còn những hạn chế nhất định. Nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên về tự phê bình và phê bình chưa sâu sắc hoặc thiếu tự giác nhận khuyết điểm, trách nhiệm trong công việc; ở một số nơi nền nếp, chế độ tự phê bình và phê bình chưa được thực hiện nghiêm: “Tự phê bình và phê bình ở không ít nơi còn hình thức; tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm còn diễn ra ở nhiều nơi; một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tự giác nhận khuyết điểm và trách nhiệm của mình đối với nhiệm vụ được giao” (3). Việc thực hiện các nội dung, quy trình tự phê bình và phê bình ở một số tổ chức đảng chưa thật sự nghiêm túc, ảnh hưởng đến chất lượng tự phê bình và phê bình. Một số cấp ủy chưa coi trọng và thiếu kiên quyết trong chỉ đạo thực hiện tự phê bình và phê bình; chưa nhìn nhận đúng khuyết điểm và trách nhiệm của mình trước những hạn chế, khuyết điểm của tập thể. Có tình trạng, tổ chức đảng, người có nhiều ưu điểm chưa được động viên khen thưởng thỏa đáng; trái lại, người có khuyết điểm nhưng vẫn được đánh giá là hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được khen thưởng, đưa vào quy hoạch… Những điểm này ít nhiều đã làm hạn chế chất lượng, hiệu quả thực hiện tự phê bình và phê bình trong Đảng.

Hiện nay, yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và chỉnh đốn Đảng đang đòi hỏi từng tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn kiên định nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Đây cũng là cơ sở để ngăn chặn suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên, góp phần làm trong sạch Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng ngang tầm nhiệm vụ. Cấp ủy, tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở cần kiên quyết, kiên trì thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, khóa XII, khóa XIII) gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng các giải pháp mạnh mẽ, quyết liệt, đồng bộ “để ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình từ Trung ương đến chi bộ,…” (4).

Thấm nhuần bài học đắt giá của việc từ bỏ nguyên tắc tự phê bình và phê bình, nguyên nhân chủ yếu đưa đến sự tan rã Đảng Cộng sản Liên Xô gắn với yêu cầu công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, đòi hỏi toàn Đảng cần kiên định nguyên tắc tự phê bình và phê bình.

Để nâng cao hiệu quả tự phê bình và phê bình trong Đảng hiện nay, trước hết cần tăng cường công tác giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về tự phê bình và phê bình. Theo đó, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải đẩy mạnh giáo dục cho mọi cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc vị trí, ý nghĩa của tự phê bình và phê bình đối với công tác xây dựng Đảng; thường xuyên giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy trí tuệ sáng tạo của cán bộ, đảng viên tham gia xây dựng nghị quyết và lãnh đạo tổ chức thực hiện thắng lợi nghị quyết của đảng bộ, chi bộ và nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị. Mọi tổ chức đảng và đảng viên cần có thái độ đúng đắn, trách nhiệm trước khuyết điểm của mình và của người khác, nghiêm túc thực hiện tự phê bình và phê bình để không dẫn đến vi phạm những khuyết điểm lớn hơn.

Đồng thời, các tổ chức đảng cần duy trì nghiêm nền nếp, chế độ sinh hoạt tự phê bình và phê bình. Theo đó, cần “thực hiện nghiêm túc, hiệu quả tự phê bình và phê bình, đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên hàng năm” (5); “cấp ủy chủ động gợi ý nội dung để đảng viên kiểm điểm, tự phê bình và phê bình, thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình từ trung ương đến cơ sở” (6). Tổ chức đảng, mọi đảng viên cần thực hiện tự phê bình và phê bình một cách thực chất; các cấp ủy, tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở cần chủ động xây dựng kế hoạch, duy trì, thực hiện nghiêm nền nếp, chế độ tự phê bình và phê bình. Qua đó, ngăn ngừa, đẩy lùi biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, trong từng cán bộ, đảng viên hiện nay.

Bên cạnh đó, để phòng, chống các biểu hiện lệch lạc trong sinh hoạt Đảng, các cấp ủy, tổ chức đảng phải quán triệt rõ mục đích, ý nghĩa và nghiêm túc chỉ đạo, tổ chức thực hiện tự phê bình và phê bình theo đúng tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 các khóa XI, XII, XIII và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; đồng thời, từng cấp ủy viên phải coi trọng kiểm điểm ở cấp mình, trực tiếp dự, chỉ đạo, gợi ý kiểm điểm đối với tập thể, cá nhân thuộc quyền quản lý; coi trọng theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc sửa chữa, khắc phục hạn chế, khuyết điểm sau tự phê bình và phê bình; khuyến khích đấu tranh với những quan điểm và hành vi sai trái nhằm cảnh tỉnh, răn đe, từng bước ngăn chặn, đẩy lùi biểu hiện thoái hóa, biến chất.

Đặc biệt, cần thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức tự phê bình và phê bình; phát huy tính tích cực, chủ động tự phê bình và phê bình của cán bộ, đảng viên. Qua đó, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, trình độ, năng lực, phương pháp, tác phong công tác; khắc phục sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên hiện nay./.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của đảng trong không gian mạng xã hội - Phần 2

Các luận điệu của thế lực thù địch trên không gian mạng

Nhằm tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng, các thế lực thù địch thường tập trung vào một số vấn đề sau:

Một là, không ngừng rêu rao những luận điểm xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, lạc hậu, chỉ phù hợp với thế kỷ XX, chỉ phù hợp với các nước ở châu Âu; rằng, hầu hết các nước ngày nay đã từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, chỉ còn một vài nước “ngoan cố” như Trung Quốc, Việt Nam còn “tôn thờ”; rằng “tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là sự cộng lại giữa học thuyết của Mác và Nho giáo”, “con đường mà Hồ Chí Minh chọn là con đường dân tộc, không phải chủ nghĩa xã hội”; rằng, theo con đường đó sẽ là “sai lầm vô vọng, ảo tưởng”...

Hai là, tập trung công kích vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Họ “lập luận” rằng, sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là “không cần thiết, là trở ngại lớn của nền dân chủ, Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay can thiệp quá sâu, “lấn sân”, “làm thay” công việc của Quốc hội, Chính phủ...”; rằng, “Đảng chỉ cần thiết khi chưa giành được chính quyền, khi đã có chính quyền Đảng nên trao quyền lại cho Nhân dân, cho bộ máy nhà nước...”; rằng “kinh tế tư nhân không cần Đảng lãnh đạo”, “Đảng và dân tộc là hai thực thể đối lập nhau”... Thực chất những luận điệu này là nhằm hướng tới một thủ đoạn thâm độc, nham hiểm nhằm đối lập Đảng với Nhà nước và Nhân dân, dọn đường cho sự hình thành tư tưởng “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” với mục đích vô hiệu hoá vai trò lãnh đạo của Đảng.

Ba là, ráo riết công kích các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt của Đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ. Với luận thuyết “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, họ biện hộ rằng “sự lãnh đạo của một đảng duy nhất là mất dân chủ, là độc tài”, thích ứng với nền kinh tế thị trường “đa nguyên” thì không thể “nhất nguyên chính trị”; tình trạng khủng hoảng và đói nghèo, chậm phát triển ở Việt Nam “là hậu quả của chính sách cai trị độc tài của Đảng Cộng sản Việt Nam”... nên “phải xoá bỏ Điều 4 Hiến pháp về quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam”.

Để chứng minh chế độ một Đảng lãnh đạo là “sai lầm”, họ cố tình thổi phồng những khuyết điểm, yếu kém trong Đảng, quy kết và coi đó là “cái phổ biến”, là bản chất của Đảng. Trong khi Đảng ta kiên quyết, kiên trì với cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thì họ lại xuyên tạc rằng “đó chỉ là những quân tốt thí để giữ thế cờ”; đồng thời tung tin thất thiệt, nói sai sự thật, vu cáo trắng trợn các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước nhằm tạo dư luận xấu, gây nghi ngờ, chia rẽ nội bộ Đảng và hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quần chúng Nhân dân.

Bốn là, phát tán những thông tin sai trái về nhân sự các cấp; đưa ra những “tài liệu”, bình luận gây hoang mang dư luận; tung ra những “chuyện giật gân” trong sinh hoạt của lãnh đạo, đề cao người này, hạ thấp người kia, kích động, chia rẽ lãnh đạo cấp cao của Đảng, gây nghi ngờ, chia rẽ Nhân dân với Đảng...

Năm là, lợi dụng một số hạn chế, yếu kém trong công tác quản lý, điều hành xã hội của chính quyền các cấp để tập trung bôi nhọ, công kích bằng thủ đoạn “đan xen, lồng ghép thật giả”, tạo dựng những “bằng chứng” cho thấy chính quyền “vô tích sự”, thờ ơ, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của người dân, không chăm lo an sinh xã hội...

Xây dựng, phát triển vững chắc “thế trận lòng dân” trên không gian mạng

Tấn công nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng không phải là cách làm mới - đến nay các thế lực thù địch, thành phần phản động mới tiến hành - mà chúng đã “đeo đuổi”, “kiên trì” thực hiện từ hàng chục năm nay, nhưng quyết liệt hơn trong bối cảnh hiện nay. Mưu toan, mục tiêu bao trùm của những đối tượng “ngụy dân chủ” vẫn là nhằm xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi mục tiêu và đường lối phát triển đất nước, phủ định định hướng XHCN ở nước ta...

Trong bối cảnh mới, mỗi công dân càng cần phải nâng cao ý thức “tự phản tỉnh” khi tham gia vào cộng đồng mạng. Cùng với tỉnh táo nhận diện mưu đồ thâm độc của các thế lực thù địch, cần phải phân biệt rõ các quan điểm sai trái với những ý kiến phản biện chính đáng, tâm huyết… Muốn vậy, hơn lúc nào hết, chúng ta phải xây dựng, củng cố và phát triển vững mạnh “thế trận lòng dân” bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng. Theo đó, cần quan tâm:

Thứ nhất, cảnh giác và kiên quyết vạch trần những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực, thành phần thù địch, phản động; không để bị động, bất ngờ, hoang mang, dao động trước sự tấn công trên mặt trận chính trị, tư tưởng; bình tĩnh xem xét, phân tích và nhận rõ những vấn đề trọng tâm, trọng điểm mà các thế lực thù địch đang ra sức chống phá. Chủ động có giải pháp đúng đắn để ngăn chặn và vô hiệu hoá mọi thủ đoạn tung tin xuyên tạc trên không gian mạng nhằm tạo ra khả năng “miễn dịch” cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là đối với thế hệ trẻ.      

Thứ hai, cần có một “tư lệnh” trong “cuộc chiến thông tin” này. Các cơ quan có trách nhiệm phải làm tốt vai trò phát ngôn, cung cấp thông tin chính thống, chính xác, kịp thời và liên tục. Cần phải có một cơ chế cung cấp thông tin nhanh và chính xác cho báo chí trong nước. Các phương tiện truyền thông trong nước phải đưa thông tin đúng, nhanh nhạy, hấp dẫn, bổ ích để đáp ứng nhu cầu bạn đọc, bởi, khi công chúng được đáp ứng đủ nhu cầu thông tin thì họ không cần phải tìm kiếm ở bên ngoài.

Thứ ba, cán bộ, đảng viên phải nghiêm túc, gương mẫu chấp hành 19 điều đảng viên không được làm, trong đó chú trọng các điều liên quan đến phát ngôn. Đây cũng là vấn đề thời gian qua còn một số cán bộ, đảng viên vi phạm; có những cán bộ, đảng viên chưa nhận thức đúng tính chất nguy hiểm của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; thậm chí có người còn “phụ họa”, vô tình “tiếp tay” cho những quan điểm sai trái, thù địch.

Thứ tư, quan tâm xây dựng, phát triển các hệ giá trị văn hóa Việt Nam thời kỳ mới và tích cực tuyên truyền trên không gian mạng; phải chỉ ra cái căn cốt, tinh hoa của văn hóa là gì. Đây sẽ là những “vũ khí tinh thần” quan trọng giúp “cư dân mạng” củng cố bản lĩnh, ý chí; xác định đúng định hướng, mục tiêu, phương thức và hành động khi chia sẻ, lan tỏa những giá trị tích cực trên Internet. Nhờ đó, sẽ giảm bớt các hiện tượng lệch chuẩn trên mạng xã hội và giúp cho các cá nhân trong xã hội sống tốt, hướng tới chân - thiện - mỹ.

Thứ năm, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục để mọi công dân nâng cao hiểu biết, có ý thức chia sẻ, cùng hành động, chủ động loại bỏ những thông tin sai trái, thù địch trên không gian mạng, góp phần củng cố “thế trận lòng dân”, tạo sự tin tưởng, đồng hành và sẻ chia với Đảng và Nhà nước trong quá trình đấu tranh loại bỏ thông tin xấu độc.

Mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên phải là “người lính xung kích” trong việc đưa trang mạng xã hội của cá nhân mình thành một kênh thông tin, tuyên truyền thường xuyên, chính thống về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chủ động phân tích, bình luận, chia sẻ các bài viết về những điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt, những mô hình mới, cách làm hay trong các phong trào thi đua yêu nước; tích cực tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng; giữ vững bản lĩnh chính trị, tính tiên phong, gương mẫu để “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”./.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của đảng trong không gian mạng xã hội - Phần 1

Lợi dụng các tiện ích của Internet, một số người chỉ vì “háo like, cuồng face”, muốn thỏa mãn “quyền lực ảo” trên mạng xã hội mà đã vô tình hoặc cố ý tiếp tay cho những thủ đoạn công kích, chống phá của các đối tượng xấu. Chính vì thế, xây dựng “thế trận lòng dân” bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng là việc làm hết sức cần thiết, vừa cấp bách, vừa lâu dài.

Nhận diện một số biểu hiện sai trái, lệch chuẩn trên mạng xã hội

Bên cạnh việc tiếp nhận thông tin tích cực từ các nền tảng mạng xã hội như Facebook, Tiktok, Youtube, Instargram…, qua quan sát thói quen sử dụng Internet của nhiều người, chúng ta không khó để nhận thấy không ít người đã và đang bị mạng xã hội “dẫn dắt” một cách thái quá, dẫn đến sự “tha hóa”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” - thường xuyên có cái nhìn tiêu cực và quy mọi vấn đề, sự kiện, hiện tượng xã hội thành “màu xám”.

Chẳng hạn, mới đây, vụ việc 4 nữ tiếp viên hàng không bị phát hiện và tạm giữ khi vô tình vận chuyển trái phép hơn 11kg ma túy tổng hợp. Sau khi cơ quan điều tra khởi tố vụ án, nhưng chưa khởi tố bị can - cho 4 nữ tiếp viên tại ngoại, ngay sau đó đã xuất hiện không ít những bình luận, “phán xét”, rằng một trong những cô tiếp viên hàng không “có gia thế khủng”, “có tài sản kếch xù”… Vì thế, họ mới được “miễn tội”!?

Thực tế thì sao? Thực tế, sau một tháng 4 nữ tiếp viên được tại ngoại, cơ quan điều tra đã tiến hành bóc gỡ đường dây vận chuyển, bắt 65 đối tượng có liên quan.

Từ ví dụ trên có thể thấy, bất cứ hiện tượng, sự việc nào từ thực tiễn đời sống đều có thể bị lợi dụng, xuyên tạc, bôi nhọ hoặc suy diễn - quy chụp trên không gian mạng.

Mạng xã hội cho phép người dùng được thoải mái bày tỏ chính kiến, quan điểm, thái độ; cùng với đó là tính “ẩn danh”, “bình đẳng” khi sử dụng nút “like”, “bình luận”... Vì không phải chịu trách nhiệm pháp lý hay kỹ thuật khi bày tỏ quan điểm yêu ghét cá nhân, nên nhiều người tha hồ nói - viết - chia sẻ lên mạng xã hội những gì mình thích, những gì mình cho là “hay”, là “đúng”, trong khi không đủ kỹ năng, trình độ để phân tích thông tin, thông điệp mà các thế lực thù địch, phần tử xấu cố tình tạo dựng, lan tỏa.

Do đó, người dùng mạng xã hội nếu không được trang bị kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng để tự xây dựng ý thức “đề kháng”, sẽ rất dễ rơi vào bẫy “tin giả”. Từ đó gây nên những hệ lụy khôn lường, vô hình trung tiếp tay cho các tin giả, tin tiêu cực, gây hoang mang dư luận xã hội.

Quan sát và theo dõi mạng xã hội trong thời gian qua, chúng tôi nhận thấy có những biểu hiện tiêu cực sau:

Một là, thời gian sử dụng mạng xã hội quá nhiều khiến người dùng trở nên mệt mỏi, trầm cảm, xa rời hiện thực đời sống, quên đi đời sống thực với biết bao điều phong phú; chỉ đắm chìm vào số lượng “like”, “comment” trong các bài viết, hình ảnh, video mình đã đưa lên.

Hai là, luôn có thái độ tranh luận, bình luận một cách quá khích, luôn thích bày tỏ chính kiến, quan điểm ở các diễn đàn, các nhóm, các trang cá nhân khác. Luôn cố tỏ ra mình đúng, giỏi, được người khác tán dương; ngộ nhận - tự tạo cho mình một “vị thế”, “quyền lực ảo” trên không gian mạng.

Thứ ba, có những biểu hiện lệch chuẩn văn hóa trên mạng xã hội. Thậm chí có những lĩnh vực không thuộc kiến thức chuyên môn của mình cũng “nhảy vào” bình luận, tranh luận - chủ yếu là những điều được sao chép, cóp nhặt qua Google. Những bình luận xuất phát từ nhận thức lệch chuẩn đã góp phần tạo hiệu ứng và “lèo lái” dư luận theo những định hướng tiêu cực của kẻ xấu. Nguy hiểm hơn, nhiều người còn tiếp tay bằng việc đăng tải các bài viết xuyên tạc, clip cắt ghép với tâm lý, thái độ cực đoan, công kích tôn giáo, văn hóa, đạo đức xã hội và cả hệ thống pháp luật. Xu thế “chửi bới”, hùa theo “bầy đàn”, tấn công, bóc phốt, “chửi lấy sao, lấy số” lấn át dòng thông tin chính thống, chủ lưu, tạo ra bức tranh tiêu cực về tình hình an ninh - kinh tế - xã hội của đất nước. Ở một cấp độ cao hơn, sau khi thể hiện bản thân ở các diễn đàn, trang cá nhân, một số người sử dụng mạng xã hội nổi tiếng còn quay ra tấn công các cơ quan chính quyền bằng nhiều hình thức.

Chính biểu hiện lệch chuẩn văn hóa này dẫn đến những tình trạng như: khi tham gia giao thông bị vi phạm, thay vì xuất trình giấy tờ hợp lệ cho cảnh sát giao thông, một số người ngang nhiên thách thức, quay video với thái độ kẻ cả, dọa nạt; hoặc khi sử dụng dịch vụ hành chính công, thay vì lấy số tích kê chờ đến lượt theo quy định, một số người lại cố tình quay clip để đăng tải lên mạng với những lời lẽ xuyên tạc, bóp méo, bất chấp hậu quả chỉ nhằm mục đích “câu view”.

Thứ tư, rất dễ trở thành người sống “hai mặt”. Ở ngoài đời biểu hiện và sinh hoạt chuẩn mực, nhưng khi lên mạng lập nick ẩn danh, tha hồ “hô mưa, gọi gió” tranh luận, bàn tán từ việc sửa vỉa hè cho đến chủ trương chính sách, đường lối của Đảng và Nhà nước. Việc cộng đồng mạng “tung hô”, “thả like”, “tích cực bình luận” khiến cho người dùng mạng xã hội ẩn danh cảm thấy bản thân “vẻ vang, sang trọng”, cảm thấy mình có “quyền lực”, dần dần khiến họ “tự chuyển biến”.

Thứ năm, từ việc sống không chân thành, một bộ phận sử dụng mạng xã hội là công chức, viên chức, nhà báo, bác sỹ, người của công chúng quên đi vị trí công việc chuyên môn và trách nhiệm nghề nghiệp. Khi thảo luận về chuyên môn hoặc sinh hoạt chi bộ không bày tỏ quan điểm, thái độ và chính kiến, nhưng khi lên mạng lại đánh giá, phán xét, viết những câu chuyện đi ngược với tôn chỉ, quy định, yêu cầu của ngành mình đang công tác.

Thứ sáu, một hiện tượng cá nhân sau khi “nổi danh, nổi tiếng” trên mạng, cũng như không ít diễn viên, người mẫu, ca sĩ đã tranh thủ kiếm tiền bằng việc quảng cáo - chủ yếu là “thổi phồng”, sai sự thật cho các nhãn hàng, sản phẩm. Một số khác lại “chuyên tâm” đăng tải các bài viết, thông tin nhằm mục đích “bóc phốt, “dìm hàng”, công kích, kẻ cả, chê bai các nhãn hàng, cơ sở du lịch, doanh nghiệp… Thực chất, đây là những biểu hiện “tống tiền” các cá nhân và công ty, doanh nghiệp khi thấy họ có “sự cố truyền thông”.

Thứ bảy, lợi dụng những tiện ích vượt trội của Internet, các thế lực thù địch đã xây dựng nhiều trang thông tin có nội dung xấu độc nhằm lôi kéo, kích động, xuyên tạc, bóp méo sự thật để chống phá Đảng, chế độ và Nhà nước ta. Các trang này được thiết kế sử dụng tiếng Việt với nhiều hình thức thông tin với tên bài “nhạy cảm” nhằm thu hút người dân trong nước truy cập, rồi sau đó xen lồng vào các thông tin phản động, chống đối. Thư điện tử (email) là một dạng dịch vụ phổ biến đối với người sử dụng Internet, có hàng tỷ email được truyền đi qua Internet mỗi ngày, vậy nên các đối tượng phản động triệt để lợi dụng danh sách thư điện tử gửi các tài liệu chống đối Đảng, Nhà nước.

Gần đây trên mạng Internet xuất hiện một số trang thông tin điện tử (website) tiếng việt như: website của một số cơ quan thông tin chính thức nước ngoài, website của nhóm người Việt phản động lưu vong ở nước ngoài, website của một số cơ sở dịch vụ công nghệ thông tin và bưu chính viễn thông nước ngoài… Những trang này thường “lập lờ đánh lận con đen” - kết hợp đưa những thông tin chính thức được cơ quan truyền thông công bố rồi “trộn lẫn” với nội dung, hình ảnh xuyên tạc, sai trái, phản động nhằm chống phá Đảng và chế độ. Không ít người sử dụng Internet, mạng xã hội bị “dẫn dụ” và “đánh lừa” bởi những thông tin “thật - giả lẫn lộn” này.

Thứ tám, một số ít người có học hàm, học vị, nhưng chỉ vì bất mãn hoặc có cái nhìn phiến diện nên thường xuyên đăng tải, phát tán trên các trang web cá nhân những lời lẽ gắn mác “trách nhiệm”, “tâm huyết” dưới dạng “thư ngỏ”, “góp ý”, nhưng thực chất là đi ngược lại chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng....

Doanh thu kinh tế của ngành công nghiệp quốc phòng chiếm hơn 60%

Sáng 11-7, Thượng tướng Phạm Hoài Nam, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng chủ trì Hội nghị sơ kết công tác Công nghiệp quốc phòng (CNQP) 6 tháng đầu năm 2023. Dự hội nghị có Trung tướng Hồ Quang Tuấn, Chủ nhiệm Tổng cục CNQP; Trung tướng Nguyễn Mạnh Hùng, Chính ủy Tổng cục CNQP; chỉ huy một số cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng.

Thượng tướng Phạm Hoài Nam phát biểu chỉ đạo tại hội nghị.

Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ CNQP 6 tháng đầu năm 2023 do Trung tướng Hồ Quang Tuấn trình bày khẳng định: Từ đầu năm đến nay, ngành CNQP tiếp tục được Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh triển khai thực hiện. Các cơ quan, đơn vị CNQP đã đoàn kết, thống nhất, chủ động khắc phục khó khăn, nỗ lực phấn đấu, hoàn thành tốt các nhiệm vụ, một số nhiệm vụ hoàn thành xuất sắc. Nhất là trong công tác tham mưu với Thủ tướng Chính phủ, Bộ Quốc phòng chỉ đạo, điều hành thực hiện công tác quản lý nhà nước về CNQP và hoàn thiện thể chế, xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù để phát triển CNQP.

Các đơn vị CNQP trong toàn quân đã thực hiện tốt công tác đầu tư, nghiên cứu khoa học công nghệ, phát triển nhiều loại vũ khí, khí tài hiện đại; hoàn thành tốt nhiệm vụ sản xuất, sửa chữa, cải tiến, hiện đại hóa vũ khí trang bị kỹ thuật đáp ứng nhu cầu phục vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu cho Quân đội; chất lượng các sản phẩm do CNQP sản xuất, sửa chữa ngày càng được nâng cao, tạo niềm tin cho bộ đội. 

Các doanh nghiệp CNQP đã tích cực tham gia sản xuất, phát triển các ngành sản xuất kinh tế phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu, tỷ trọng doanh thu kinh tế chiếm hơn 60% tổng doanh thu; qua đó, thực hiện tốt chủ trương kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, góp phần tăng thêm thu nhập và nâng cao đời sống cho người lao động.

Toàn cảnh hội nghị.

Trung tướng Hồ Quang Tuấn, Chủ nhiệm Tổng cục Công nghiệp quốc phòng báo cáo kết quả công tác 6 tháng đầu năm 2023.

Tại hội nghị, các đại biểu nêu rõ những kết quả nổi bật và đi sâu phân tích những khó khăn, vướng mắc, tồn tại, hạn chế, nguyên nhân và phương hướng thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm tháng 6 cuối năm 2023. Tập trung vào các đề án, nhiệm vụ triển khai kế hoạch của Bộ Quốc phòng thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 26-1-2022 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh phát triển CNQP đến năm 2030 và những năm tiếp theo.

Thay mặt Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Thượng tướng Phạm Hoài Nam biểu dương những kết quả nổi bật của ngành CNQP trong thời gian qua, đặc biệt nhấn mạnh phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Quân ủy Trung ương lần thứ 6, nhiệm kỳ 2020-2025 vừa qua, khi đánh giá Bộ Quốc phòng nói chung và các đơn vị CNQP nói riêng đã triển khai quyết liệt Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị, bước đầu đạt được kết quả về cải tiến, sản xuất vũ khí, trang bị hiện đại, nâng cao sức mạnh phòng thủ của đất nước, góp phần tạo nền tảng xây dựng Quân đội hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. 

Phân tích, làm rõ đặc điểm tình hình thế giới, trong nước liên quan đến thực thi nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, xây dựng và phát triển CNQP trong thời gian tới, Thượng tướng Phạm Hoài Nam yêu cầu các cơ quan, đơn vị tiếp tục phát huy, khắc phục những hạn chế, khuyết điểm, ứng dụng các thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4, đẩy mạnh phát triển CNQP theo hướng chủ động, tự lực, tự cường, hiện đại, lưỡng dụng, hoàn thành thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ được xác định trong Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị, góp phần tích cực hiện đại hóa Quân đội, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. 

Nguồn: Báo QĐND

Đại tướng Phan Văn Giang: Đẩy nhanh tiến độ các dự án thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước chi thường xuyên cho quốc phòng

Sáng 11-7, tại Hà Nội, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có buổi làm việc với các cơ quan chức năng Bộ Quốc phòng về việc đẩy nhanh thủ tục đầu tư và giải ngân các dự án thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước chi thường xuyên cho quốc phòng.

    Tham dự buổi làm việc có: Thượng tướng Vũ Hải Sản, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Thượng tướng Phùng Sĩ Tấn, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam; Trung tướng Trần Duy Giang, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần; Trung tướng Trần Minh Đức, Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật; đại biểu chỉ huy các cơ quan chức năng Bộ Quốc phòng.

 Đại tướng Phan Văn Giang phát biểu chỉ đạo tại buổi làm việc.

Tại buổi làm việc, Thiếu tướng Lưu Sỹ Quý, Cục trưởng Cục Tài chính, Bộ Quốc phòng báo cáo tình hình thực hiện và đề xuất các giải pháp để đẩy nhanh thực hiện thủ tục đầu tư, giải ngân vốn đối với các dự án đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước chi thường xuyên cho quốc phòng năm 2023. Qua báo cáo cho thấy, từ đầu năm 2023 đến nay, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, thủ trưởng Bộ Quốc phòng đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo; Bộ Quốc phòng đã tổ chức hội nghị toàn quân để rút kinh nghiệm thực hiện kế hoạch đầu tư trung hạn 5 năm giai đoạn 2021-2025 và thành lập nhiều đoàn kiểm tra để đôn đốc đơn vị đẩy nhanh tiến độ thực hiện thủ tục đầu tư, giải ngân vốn đầu tư các dự án.

Nhờ sự quyết liệt của các cấp, sự cố gắng của đơn vị, 6 tháng đầu năm 2023, toàn quân đã có nhiều dự án được cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư, làm cơ sở để Bộ Quốc phòng giao dự toán chi xây dựng cơ bản năm 2023. Đặc biệt, đối với các dự án thuộc kế hoạch đầu tư công trung hạn nguồn vốn ngân sách nhà nước năm 2021-2025, đến hết tháng 6-2023, toàn quân giải ngân đạt tỷ lệ cao hơn tỷ lệ giải ngân trung bình toàn quốc.

Ngoài ra, thủ trưởng Bộ Quốc phòng đã cho phép triển khai thực hiện thủ tục đầu tư đối với các dự án công trình phổ thông còn lại trong kế hoạch đầu tư trung hạn nguồn vốn ngân sách nhà nước chi thường xuyên cho quốc phòng năm 2021-2025 có đủ điều kiện, như dự án không thuộc đối tượng điều chỉnh tổ chức lực lượng, đã có quy hoạch được duyệt… để triển khai sớm.

Bên cạnh các kết quả trên, báo cáo của Cục Tài chính đã nêu lên những khó khăn, vướng mắc; đề xuất, kiến nghị các giải pháp để đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện thủ tục đầu tư đối với các dự án xây dựng cơ bản và giải ngân bảo đảm đúng tiến độ, kế hoạch đề ra, tuân thủ nghiêm các quy định.

Qua nghe báo cáo trung tâm và ý kiến thảo luận, giải trình của đại diện các cơ quan, đơn vị, phát biểu kết luận buổi làm việc, Đại tướng Phan Văn Giang ghi nhận những kết quả đạt được trong công tác đầu tư xây dựng cơ bản và giải ngân các dự án thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước chi thường xuyên cho quốc phòng 6 tháng đầu năm 2023. Cùng với chia sẻ những khó khăn ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ triển khai thực hiện thủ tục đầu tư xây dựng và giải ngân các dự án, Đại tướng Phan Văn Giang cũng chỉ ra những tồn tại, hạn chế, yêu cầu các cơ quan chức năng, đơn vị liên quan nghiêm túc rút kinh nghiệm, đề ra các biện pháp khắc phục, chấn chỉnh, quyết liệt thực hiện để đẩy nhanh tiến độ, chất lượng các nội dung công tác này trong thời gian tới.

Đồng chí Bộ trưởng Bộ Quốc phòng giao các cơ quan chức năng sau buổi làm việc phối hợp tổng hợp nội dung chỉ đạo, ra văn bản thông báo tới toàn quân, trong đó biểu dương những đơn vị làm tốt, chỉ rõ những tồn tại, hạn chế, các đơn vị chậm trễ trong triển khai thực hiện; nghiên cứu tổ chức tập huấn về công tác đầu tư xây dựng cơ bản, giải ngân, qua đó thống nhất nội dung, hướng dẫn cụ thể biện pháp khắc phục, chấn chỉnh nhằm đẩy nhanh tiến độ công tác này trong toàn quân thời gian tới. Đồng thời, rà soát các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công tác đầu tư, xây dựng, từ đó báo cáo, đề nghị cấp có thẩm quyền ban hành, sửa đổi theo hướng giảm thủ tục hành chính, tối ưu hóa các văn bản, tăng phân cấp ủy quyền cho đơn vị để rút ngắn thời gian thực hiện nhưng vẫn tuân thủ đúng quy định.

 Thiếu tướng Lưu Sỹ Quý, Cục trưởng Cục Tài chính báo cáo kết quả, kiến nghị, đề xuất các nội dung liên quan        tại buổi làm việc.

Cùng với đó, nâng cao chất lượng công tác tham mưu giúp thủ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành văn bản chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện thủ tục đầu tư, kịp thời điều chỉnh kế hoạch vốn ngân sách nhà nước giữa các dự án; rà soát các dự án trong kế hoạch 2021-2025 không có khả năng triển khai, đề xuất điều chỉnh cho các dự án cấp thiết khác để sử dụng hiệu quả nguồn vốn.

Bên cạnh các nội dung trên, Đại tướng Phan Văn Giang yêu cầu cấp ủy, chỉ huy các đơn vị phải quyết liệt hơn nữa trong lãnh đạo, chỉ đạo; thường xuyên đôn đốc các cơ quan rà soát nội dung còn vướng mắc gây chậm trễ; quá trình triển khai thực hiện cần tuân thủ nghiêm quy định của Nhà nước và Bộ Quốc phòng. Chỉ đạo các chủ đầu tư, ban quản lý dự án khẩn trương rà soát kết quả và khả năng thực hiện vốn đầu tư của dự án được giao; tổng hợp, đề xuất điều chỉnh giảm kế hoạch vốn đối với các dự án không có khả năng thực hiện và giải ngân, thanh toán để điều chỉnh cho các dự án khác có tiến độ giải ngân tốt hơn.

Quang cảnh buổi làm việc.

Đối với các cơ quan theo chức năng quản lý ngành, cần tăng cường kiểm tra, đánh giá các dự án chậm triển khai thực hiện thủ tục đầu tư, thực hiện thi công, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư thấp, đề xuất các biện pháp để triển khai thực hiện bảo đảm đúng tiến độ và giải ngân hết kế hoạch vốn được giao năm 2023. Tích cực quan tâm, hướng dẫn, giúp đơn vị tháo gỡ, xử lý những khó khăn, vướng mắc liên quan; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát quy trình thực hiện nhằm rút ngắn thời gian nhưng vẫn bảo đảm đúng quy định của Nhà nước, Bộ Quốc phòng về đầu tư xây dựng và giải ngân nguồn vốn.

Nguồn: Báo QĐND


Thứ Hai, 10 tháng 7, 2023

HỌC BÁC VỀ TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN “ THƯƠNG YÊU CÁN BỘ”

 

Thương yêu cán bộ, trước hết phải dạy cán bộ (đào tạo cán bộ). Điều không kém phần quan trọng là dùng cán bộ. Hồ Chí Minh đã lý giải rất biện chứng việc dùng cán bộ. Muốn dùng cán bộ, trước hết người lãnh đạo phải biết tu dưỡng mình, phải hiểu biết cán bộ. Hiểu biết cán bộ là việc khó...

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận rõ vai trò quan trọng của cán bộ và công tác cán bộ đối với nhiệm vụ của cách mạng. Trên cương vị là người đứng đầu Đảng, Nhà nước, Người luôn quan tâm và đặt lên hàng đầu “Vấn đề cán bộ”, trong đó, tư tưởng “thương yêu cán bộ” được Người đặc biệt coi trọng. Tư tưởng nhân văn này của Người đến nay vẫn nóng hổi tính thời sự, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn cho Đảng, Nhà nước ta trong giáo dục, đào tạo, cất nhắc, trọng dụng, giữ gìn,… cán bộ.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, phê bình là một biện pháp tu dưỡng, rèn luyện và đấu tranh thường xuyên, có hiệu quả của cán bộ, đảng viên. Vì vậy, “Trong công tác, trong tranh đấu, trong huấn luyện, các đảng viên, các cán bộ, cần phải luôn luôn tự hỏi mình, tự kiểm điểm mình và đồng chí mình”[1]. Người yêu cầu: “các cơ quan, các cán bộ, các đảng viên, mỗi người, mỗi ngày phải thiết thực tự kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình. Hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết tự sửa chữa và giúp đồng chí mình sửa chữa”[2]. Về mục đích của phê bình, Người viết: “cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ”; trong phê bình, “phê bình mình cũng như phê bình người, phải ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt. Phải vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm… Phê bình việc làm chứ không phê bình người”. Về cách phê bình, Người chỉ ra phải “luôn luôn dùng và khéo dùng cách phê bình và tự phê bình”, “phê bình không phải để công kích, để nói xấu, để chửi bới”. “Đồng thời chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc”.
Như vậy, quan điểm của Bác, phê bình và tự phê bình gắn liền với sửa chữa là nhằm làm cho cán bộ phấn đấu có nhiều ưu điểm và phát huy ưu điểm; đồng thời làm cho cán bộ tránh được khuyết điểm, nếu có khuyết điểm thì kịp thời sửa chữa; mục đích đều là vì sự tiến bộ của cán bộ. Với cách phê bình để sửa chữa theo Bác thì cán bộ có ưu điểm được động viên, cổ vũ; cán bộ có khuyết điểm cũng không sợ sệt, dám tự phê bình để quyết tâm sửa chữa.
Bác khẳng định “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”, vì họ là những người đem chính sách của Đảng và Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và tổ chức, chỉ dẫn họ thi hành. Đồng thời, họ lại nắm và báo cáo tình hình dân chúng cho Đảng và Chính phủ biết rõ để đề ra đường lối, chính sách cho đúng. Vì vậy, vấn đề cán bộ là một vấn đề rất trọng yếu, rất cần kíp. Theo Hồ Chí Minh, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng. “Đảng phải nuôi dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta”[3]. Người nêu lên và phân tích một cách cụ thể những khuyết điểm của công tác huấn luyện cán bộ lúc đó và chỉ ra phương hướng và nội dung huấn luyện cán bộ về lý luận, chính trị, văn hóa, nghiệp vụ, kinh nghiệm, đạo đức, tác phong, …
Hồ Chí Minh luôn đặt yêu cầu cả đức và tài đối với cán bộ, trong đó, đức là gốc. Người đã chọn lọc những nội dung tốt đẹp của đạo đức truyền thống dân tộc kết hợp với đạo đức mới để xây dựng đạo đức cách mạng nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; “Vô luận lúc nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích của cá nhân lại sau. Đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng”[4]. Theo Người, cán bộ mà không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được Nhân dân. Người cán bộ không có đạo đức cách mạng sẽ mắc phải chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân sẽ sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm, đó là bệnh tham lam, bệnh kiêu ngạo, bệnh hiếu danh, thiếu kỷ luật, óc hẹp hòi, óc địa phương, óc lãnh tụ và những bệnh khác…
Thương yêu cán bộ, trước hết phải dạy cán bộ (đào tạo cán bộ). Điều không kém phần quan trọng là dùng cán bộ. Hồ Chí Minh đã lý giải rất biện chứng việc dùng cán bộ. Muốn dùng cán bộ, trước hết người lãnh đạo phải biết tu dưỡng mình, phải hiểu biết cán bộ. Hiểu biết cán bộ là việc khó. Mà cái khó bắt đầu từ những người làm công tác cán bộ, người đứng đầu thường mắc những bệnh như thích nhiều tiền, ưa người ta nịnh mình, do lòng yêu ghét của mình mà đối với người; đem một cái khuôn khổ nhất định, chật hẹp mà lắp vào tất cả mọi người khác nhau. Từ đó dẫn đến khi dùng cán bộ, ham dùng người “lót tay”; ham dùng kẻ khéo nịnh hót mình, mà chán ghét những người chính trực; ham dùng những người tính tình hợp với mình, tránh những người tính tình không hợp với mình. Như thế, hỏng cả công việc của Đảng, hỏng cả danh giá của người lãnh đạo.
Theo Bác, xem xét cán bộ, không chỉ xem ngoài mặt mà phải xem tính chất của họ. Không chỉ xem một việc, một lúc mà phải xem toàn cả lịch sử, toàn cả công việc của họ. Về cất nhắc cán bộ, Người chỉ rõ: “cất nhắc cán bộ là một công tác cần kíp”, nhưng “Phải cất nhắc cán bộ một cách cho đúng”, “Phải khéo dùng cán bộ - không có ai cái gì cũng tốt, cái gì cũng hay. Vì vậy, chúng ta phải khéo dùng người”, “Phải tùy tài mà dùng người”, “Phải dùng người đúng chỗ, đúng việc”, “Biết rõ ràng cán bộ, mới có thể cất nhắc cán bộ một cách đúng mực”.
Điều quan trọng hơn hết của người cán bộ là cách nhìn nhận và thái độ đối xử của lãnh đạo, của tổ chức trước các ưu điểm, khuyết điểm của họ. Hồ Chí Minh căn dặn những người làm công tác cán bộ và những người lãnh đạo về cách nhìn nhận đối với cán bộ: “Đảng viên và cán bộ cũng là người. Ai cũng có tính tốt và tính xấu”. Chính vì vậy, Bác căn dặn, Đảng phải hết lòng thương yêu cán bộ, phải thường xuyên chăm lo bồi dưỡng cán bộ. Song, theo Bác: “Thương yêu không phải là vỗ về, nuông chiều, thả mặc”[5]. Bởi, nếu “nuông chiều”, thì cán bộ dễ chủ quan, tự kiêu, tự phụ, dễ hư hỏng về phẩm chất đạo đức. Còn nếu “thả mặc” thì cán bộ dễ tự do vô kỷ luật, tùy tiện, vi phạm nguyên tắc, chế độ; thậm chí dễ “làm liều” gây tổn hại khôn lường cho sự nghiệp cách mạng. Chính vì thế, thương yêu cán bộ là phải quản lý chặt chẽ, duy trì kỷ luật nghiêm minh đối với họ, nhất là đối với cán bộ cao cấp. Thương yêu là giúp họ học tập thêm, tiến bộ thêm; là giúp họ giải quyết những vấn đề khó khăn sinh hoạt, khi đau ốm được chăm nom, gia đình khỏi khốn quẫn; là luôn luôn chú ý đến công tác của họ.
Với cán bộ tốt có thành tích, Người nhắc nhở phải kịp thời khen ngợi động viên. Lúc khen ngợi, phải cho họ hiểu rằng năng lực của mỗi người đều có giới hạn, tuy có thành công cũng chớ kiêu ngạo. Kiêu ngạo là bước đầu của thất bại.
Với cán bộ mắc sai lầm, khuyết điểm, Người dạy phải quan niệm “người đời ai cũng có khuyết điểm. Có làm việc thì có sai lầm. Chúng ta không sợ có sai lầm, khuyết điểm, chỉ sợ không chịu cố gắng sửa chữa, và càng sợ những người lãnh đạo không biết tìm cách đúng để giúp đỡ cán bộ sửa chữa sai lầm, khuyết điểm. Không phải cứ ai phạm sai lầm, khuyết điểm dù không phải là lớn mà “đã cảnh cáo”, đã “tạm khai trừ”. Theo Người, sửa chữa sai lầm một phần là trách nhiệm của người phạm sai lầm, một phần cũng là trách nhiệm của người lãnh đạo. Vì vậy, người lãnh đạo phải giúp đỡ người phạm sai lầm một cách chí tình, giúp họ thấy được nguyên nhân và tác hại của nó, để có biện pháp sửa chữa tích cực, có hiệu quả.
Bác dạy: “Sửa chữa sai lầm, cố nhiên cần dùng cách giải thích thuyết phục, cảm hoá, dạy bảo. Song không phải tuyệt nhiên không dùng xử phạt”. “Lầm lỗi có việc to, việc nhỏ. Nếu nhất luật không xử phạt thì sẽ mất cả kỷ luật, thì sẽ mở đường cho bọn cố ý phá hoại. Vì vậy, hoàn toàn không dùng xử phạt là không đúng. Mà chút gì cũng dùng đến xử phạt cũng không đúng”. Điều cần thiết là phải phân tích đánh giá mức độ sai lầm nặng hay nhẹ mà dùng hình thức xử phạt cho đúng, xử phạt nhưng không ghét bỏ, vẫn thương yêu, mở ra con đường sửa chữa để tiến bộ.
Những điều dạy bảo của Người là đầy lòng nhân ái, thấu lý, đạt tình, cao cả và nhân văn. Cán bộ lãnh đạo, cán bộ làm công tác tổ chức cán bộ được giáo dục quan điểm, tư tưởng, nghiệp vụ công tác, phương pháp làm việc, đặc biệt là tư tưởng nhân văn trong công tác cán bộ. Cán bộ tốt hay cán bộ có sai lầm, khuyết điểm đều nhận được sự rất mực thương yêu của Người.
Tư tưởng nhân văn của Hồ Chí Minh về “thương yêu cán bộ” là một trong những di sản quý báu Người để lại cho Đảng, Nhà nước, cán bộ, đảng viên và Nhân dân ta. Đến nay, tư tưởng đó của Người vẫn có ý nghĩa thời sự sâu sắc. Không hiểu điều này, là phụ lòng thương yêu của Người.
Ngày nay, nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng nước Việt Nam hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đứng trước nhiều thời cơ, vận hội và những thách thức, nguy cơ lớn. Đảng ta chỉ rõ: “Công tác cán bộ phải thực sự là “then chốt của then chốt” tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược và người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực và uy tín ngang tầm nhiệm vụ”[6]. Việc học tập và làm theo tư tưởng nhân văn của Bác về “thương yêu cán bộ” đòi hỏi chúng ta phải học tập quán triệt sâu sắc và vận dụng phù hợp trong công tác cán bộ từ Trung ương đến các cấp, các ngành, các địa phương.
Thời gian qua, Đảng ta đã rất chú trọng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ công chức bằng đường lối, chủ trương, xây dựng tiêu chí, tiêu chuẩn, cơ chế, chính sách về cán bộ, công chức; quy định rõ trách nhiệm, thẩm quyền của mỗi tổ chức, mỗi cấp trong xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, để cán bộ, công chức có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, có trình độ, năng lực chuyên môn phù hợp, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới. Đồng thời, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, quan liêu, hách dịch, cửa quyền, thực hành tiết kiệm trong các cơ quan nhà nước và trong đội ngũ cán bộ, công chức.
Tuy nhiên, công tác cán bộ của Đảng nhiều mặt còn hạn chế: “Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới của đất nước… tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp… Việc đổi mới công tác cán bộ còn chậm, thiếu cơ chế, chính sách cụ thể…”[7]. Bên cạnh đó là: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá””[8]. Và trên thực tế, có thể thấy rằng, về công tác cán bộ, vẫn còn tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm trong tự phê bình và phê bình. Trên một số vấn đề, qua kiểm điểm của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp từ Trung ương đến cơ sở vẫn chưa làm rõ thực chất, mức độ nghiêm trọng của tình hình, một số địa phương, đơn vị còn buông lỏng khâu kiểm tra, giám sát việc thực hiện và khắc phục, sửa chữa khuyết điểm.
Bệnh nặng trong công tác cán bộ như vậy dẫn đến nhiều năm qua cán bộ đứng đầu ở nhiều tỉnh, thành, bộ không những không trở thành tấm gương sáng, đầu tàu mà còn “chẳng chính ngôi”, “bất chính”, “chân lấm bê bê” như cách nói của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Cán bộ lãnh đạo cốt cán, “rường cột” mà như vậy, trách sao được ở dưới “hỗn hào”, “tắc loạn”?
Trước tình hình phức tạp trên, Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII (tháng 10 năm 2021) đã tiếp tục ra Nghị quyết về “Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””. Nghị quyết đã nêu cụ thể hơn mức độ những hiện tượng tiêu cực trong đội ngũ cán bộ: “tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" còn diễn biến phức tạp”[9].
Xem lại những điều Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy, đối chiếu với tình hình đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ hiện nay, có thể nhận thấy rất rõ rằng những sai lầm và khuyết điểm là bệnh của cán bộ, những khuyết điểm là chứng bệnh của người lãnh đạo, người làm công tác cán bộ được Người chỉ ra cách đây gần 80 năm, đến nay vẫn còn nguyên và còn nặng hơn, nguy hiểm hơn gấp bội lần. Hiện trạng suy thoái của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, tập trung ở số cán bộ có chức vụ trong bộ máy nhà nước gây bức xúc trong đa số đảng viên và quần chúng Nhân dân, làm giảm sút uy tín và vai trò lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước, làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự sống còn của Đảng và chế độ.
Nghiêm khắc kiểm điểm trách nhiệm của hiện trạng trên, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy, một phần là trách nhiệm của cán bộ, một phần khác là trách nhiệm của lãnh đạo, của người làm công tác cán bộ, đặc biệt là người đứng đầu cấp uỷ các cấp.
Học tập và làm theo tư tưởng nhân văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “thương yêu cán bộ” trong tình hình phức tạp hiện nay, điều cốt yếu như lời dạy của Người, là phải thật sự nghiêm khắc chống chủ nghĩa cá nhân, một căn bệnh gốc sinh ra bao nhiêu thứ bệnh nguy hiểm khác, không chỉ với mình mà với cả đồng chí, đồng đội của mình. Chỉ có chống chủ nghĩa cá nhân thành công mới bồi bổ được đạo đức cách mạng cho cán bộ, mới xây dựng Đảng vững mạnh, mới đưa đất nước tiến lên phồn vinh, văn minh, hạnh phúc./.
ST

THÁNG BẢY TRI ÂN

 Tháng 7 về bất chợt mưa ngâu

Như nỗi nhớ ở hai đầu gặp lại
Tiếng vọng xưa đồng đội ơi gọi mãi
Giữa đại ngàn bom đạn ở Trường Sơn.
Tháng 7 về xin thắp nén hương thơm
Phút tưởng niệm những anh hùng Liệt sĩ
Đã một thời lên đường đi đánh Mỹ
Hiến tuổi xuân cho đất nước thanh bình.
Tháng 7 về vang khúc hát Thương binh
Đời để lại "dấu chân tròn trên cát"
Dáng liêu xiêu nghiêng khoảng trời nắng nhạt
Lối đi về khập khiễng bước đường quê.
Tháng 7 về còn nhớ kỷ niệm xưa
Dòng Thạch Hãn nước hòa trong máu đỏ
Bao đồng đội nằm lại nơi Thành Cổ
Cầu Hiền Lương chia nỗi nhớ hai đầu.
Tháng 7 về bạn đang ở nơi đâu?
Tây Nguyên xanh hay Trường Sơn hùng vĩ
Tôi đứng lặng trước tượng đài Liệt sĩ
Nghe nhạc chiêu hồn lệ thấm ướt bờ mi.
Tháng 7 về ai có nhớ Người đi
Khi đất nước chao nghiêng miền Đông hải
Nửa vầng trăng một khoảng trời còn mãi
Đồng đội ơi? Chung nhịp bước quân hành.
Tháng 7 về biết không có bóng anh
Trong đội ngũ điệp trùng hoa chiến thắng
Ngôi sao sáng giữa bầu trời tỏa nắng
Lời tri ân xin thắp nén hương lòng.
Tháng 7 về triệu triệu ngọn nến hồng
Thắp sáng nghĩa trang trải dài theo đất nước
Viếng các Anh linh thiêng hồn Tổ Quốc
Đất Tiên rồng vững bước mãi ngàn năm.
ST

ĐỂ THỰC HIỆN TỐT QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ

Sau 25 năm thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 18/02/1998 của Bộ Chính trị (khóa VIII) về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ (QCDC) ở cơ sở, cấp ủy, chính quyền các cấp đã triển khai thực hiện một cách nghiêm túc, bài bản, sáng tạo nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tạo sự đồng thuận và phát huy được sức mạnh toàn dân trong xây dựng và phát triển đất nước, là động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển, đổi mới trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Chủ trương của Đảng về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói về dân chủ theo cách rất dễ hiểu: Dân chủ nghĩa là dân là chủ và dân làm chủ. Người còn nhấn mạnh: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”1. Trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng, Điều 3, Hiến pháp năm 2013 đã quy định: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”2.
Trong tiến trình đổi mới, việc vi phạm dân chủ ở nông thôn khi nhân dân tham gia đóng góp xây dựng hạ tầng đường, trường, trạm... đã không được bàn bạc, mức đóng góp quá sức dân, gây bức xúc trong nhân dân, làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, gây nên tình trạng mất an ninh và trật tự xã hội ở một số địa phương. Trước tình hình đó, ngày 18-2-1998, Bộ Chính trị (khóa VIII) đã ban hành Chỉ thị số 30-CT/TW “Về xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở”. Chỉ thị nhấn mạnh: “Khâu quan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở, là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, là nơi cần thực hiện quyền dân chủ của nhân dân một cách trực tiếp và rộng rãi nhất”3, nhằm cụ thể hóa phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đảm bảo dân chủ cơ sở, phát huy quyền làm chủ thực sự của nhân dân. Trên cơ sở đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành các Nghị quyết số 45/1998, Nghị quyết số 55/1998, Nghị quyết số 60/1998, Pháp lệnh số 34/2007 và Chính phủ ban hành các Nghị định số: 29/1998, 71/1998, 07/1999, 79/2003, 87/2007 về ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, cơ quan hành chính, doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn đã tạo ra cơ chế cụ thể về quyền làm chủ của nhân dân.
Trong từng thời kỳ cách mạng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư kế thừa, bổ sung và phát triển nhận thức về thực hiện QCDC ở cơ sở cho phù hợp với tình hình thực tiễn, nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở; là khâu quan trọng, then chốt trong xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân. Ngày 22-6-2000, Bộ Chính trị ban hành Thông báo số 304-TB/TW “Về tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW Về xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở”. Tiếp sau đó, ngày 4, 5-3-2002, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) tổ chức Hội nghị toàn quốc sơ kết việc thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị giai đoạn 1998-2001. Đến ngày 28-3-2002, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) ban hành Chỉ thị số 10-CT/TW “Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở”. Ngày 28, 29-9-2004, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) đã tổ chức Hội nghị toàn quốc tổng kết 6 năm thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW của Bộ Chính trị và ra Thông báo số 159-TB/TW “Kết quả 6 năm thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa VIII) và tiếp tục chỉ đạo xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở”. Đến ngày 4-3-2010, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa X) đã ban hành Kết luận số 65-KL/TW “Về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa VIII). Nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở trong thời kỳ mới. Ngày 7-1-2016, Bộ Chính trị (khóa XI) đã ban hành Kết luận số 120-KL/TW “Về tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở”.
Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định “Nhân dân làm chủ”, “Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước của dân, do dân, vì dân” và tập trung làm rõ tình hình, phương hướng, nhiệm vụ tiếp tục phát huy dân chủ XHCN, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Đồng thời, khẳng định: “Dân chủ phải được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Bảo đảm để nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa ra những quyết định liên quan đến lợi ích, cuộc sống của nhân dân, từ nêu sáng kiến, tham gia thảo luận, tranh luận đến giám sát quá trình thực hiện”4.
Đại hội XIII, kế thừa và phát triển tư tưởng “trọng dân” trong truyền thống lịch sử của dân tộc, bài học “dân là gốc” tiếp tục được phát triển bổ sung nội dung “dân giám sát” và “dân thụ hưởng” vào phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” để tạo thuận lợi, có cơ sở chính trị, pháp lý tổ chức thực hiện, mở rộng, tăng cường, phát huy dân chủ, vai trò chủ thể của nhân dân.
“Dân giám sát” là nhân dân theo dõi, xem xét, đánh giá quá trình thực hiện, kết quả thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án, công việc thực hiện. Nhân dân theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình có đúng, có tuân thủ đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật không. Giám sát bằng hình thức, phương pháp cụ thể, thường xuyên, theo nội dung công việc, trực tiếp, hoặc gián tiếp.
“Dân thụ hưởng” là nhân dân được nhận, thụ hưởng thành quả, kết quả của quá trình phát triển về đời sống vật chất, tinh thần mà các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật mang lại sau quá trình tổ chức, thực hiện. Nhân dân thụ hưởng lợi ích, giá trị dẫn tới xã hội có trật tự, kỷ cương, cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc; đồng thời nhân dân thấy được mục đích, động lực thực sự, cuối cùng của chủ trương, chính sách, pháp luật mà Đảng, Nhà nước đề ra và tổ chức thực hiện đều vì con người, vì nhân dân, lan tỏa giá trị tiến bộ, nhân văn, phẩm giá con người, bản chất của chế độ xã hội. Đó là động lực, là lợi ích, lợi ích phải hài hòa tổng thể lợi ích của người dân, doanh nghiệp và Nhà nước.
Bài học “dân là gốc”, phải thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ đó tạo thuận lợi, có cơ sở chính trị, pháp lý tổ chức thực hiện, mở rộng, tăng cường, phát huy dân chủ, vai trò chủ thể của nhân dân. Sự phát triển, hoàn thiện đó có ý nghĩa thiết thực, quan trọng trong xây dựng và phát triển đất nước như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”5.
Nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm
Nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng về thực hiện QCDC ở cơ sở, bảo đảm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, tạo lập cơ sở pháp lý cho việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân và của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, tạo sự chuyển biến tích cực trong đời sống chính trị - xã hội, tại Kỳ họp thứ tư, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (Luật số 10/2022/QH15). Luật gồm 6 chương, 91 điều; trong đó quy định việc thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức sử dụng lao động.
Luật nêu rõ quyền của công dân trong thực hiện dân chủ ở cơ sở như sau:
- Được công khai thông tin và yêu cầu cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời theo quy định của pháp luật.
- Đề xuất sáng kiến, tham gia ý kiến, bàn và quyết định đối với các nội dung thực hiện dân chủ ở cơ sở theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
- Kiểm tra, giám sát, kiến nghị, phản ánh, khiếu nại, tố cáo, khởi kiện đối với các quyết định, hành vi vi phạm pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở theo quy định của pháp luật.
- Được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp trong thực hiện dân chủ ở cơ sở theo quy định của pháp luật.
Thực hiện dân chủ ở cơ sở là phương thức phát huy quyền làm chủ của nhân dân, để công dân, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động được thông tin, thể hiện ý chí, nguyện vọng, chính kiến của mình thông qua việc thảo luận, tham gia ý kiến, quyết định và kiểm tra, giám sát các vấn đề ở cơ sở theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Do vậy, cần tập trung một số nhiệm vụ sau:
Một là, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền đẩy mạnh thực hiện QCDC ở cơ sở
Chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền việc đẩy mạnh thực hiện QCDC trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân phải cụ thể: Xây dựng cơ chế thông tin đa chiều, thực hiện minh bạch, công khai thông tin, đáp ứng quyền được thông tin của cán bộ, đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân. Đa dạng hóa phương pháp, hình thức tuyên truyền theo hướng tăng cường đối thoại, trao đổi, tương tác phù hợp với đặc điểm của từng đối tượng. Hiện đại hóa và sử dụng các phương tiện tuyên truyền hiện đại, nhiều chức năng, dịch vụ, tiện ích nhằm góp phần hữu ích, thiết thực trong việc tương tác, chia sẻ. Do vậy, cấp ủy và người đứng đầu cấp ủy các cấp phải thực sự gương mẫu trong việc chấp hành các nguyên tắc tập trung dân chủ, trong thực hiện nhiệm vụ đảng viên, trong sinh hoạt, lối sống… Đồng thời, kịp thời phê phán những biểu hiện cực đoan, lợi dụng dân chủ để xuyên tạc, kích động, lôi kéo quần chúng phục vụ cho “lợi ích nhóm”, lợi ích cá nhân, đồng thời cần khắc phục, chấm dứt những việc làm mang tính dân chủ hình thức trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Hai là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước trong đẩy mạnh thực hiện QCDC ở cơ sở.
Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý Nhà nước để bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của nhân dân. Nâng cao năng lực lãnh đạo của cấp ủy các cấp trong phát huy quyền làm chủ của nhân dân; đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với việc thực hành dân chủ; phát huy hiệu lực, hiệu quả vai trò các cơ quan, tổ chức trong thực hành dân chủ; tổ chức bộ máy gọn nhẹ, trong sạch, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đồng thời, thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào dân để xây dựng Đảng. Cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong bộ máy nhà nước phải được lựa chọn theo những tiêu chí cụ thể và công khai, có uy tín trong nhân dân, có năng lực, bảo đảm liêm, chính.
Ba là, phát huy hiệu quả vai trò giám sát, phản biện xã hội của mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong thực hiện QCDC ở cơ sở.
Sự nghiệp đổi mới đất nước đặt ra yêu cầu phải phát huy đầy đủ quyền làm chủ, tiềm năng sáng tạo của các tầng lớp nhân dân và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Do vậy, không ngừng đổi mới phương thức hoạt động và cơ chế để phát huy vai trò của nhân dân và dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị của mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Đồng thời, làm tốt vai trò giám sát, phản biện xã hội đối với cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức, góp phần xây dựng Đảng và bộ máy chính quyền các cấp thật sự trong sạch, vững mạnh. Thường xuyên kiện toàn tổ chức, bộ máy theo hướng tinh gọn, phù hợp với các chức năng, vai trò và nhiệm vụ; nâng cao chất lượng hoạt động theo hướng hiệu quả, thiết thực, khắc phục triệt để tình trạng phô trương, hình thức; đổi mới phương thức hoạt động, bảo đảm đúng tôn chỉ, mục đích, hướng về cơ sở, tập trung cho cơ sở; bảo đảm lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN. Tăng cường giám sát việc lãnh đạo và thực hiện QCDC ở cơ sở, việc tổ chức tiếp công dân, đối thoại với công dân và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân của chính quyền các cấp nhằm giải đáp nguyện vọng, kiến nghị chính đáng, hợp pháp của nhân dân.
Bốn là, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất, đạo đức cách mạng trong sáng, chí công vô tư trong thực hiện QCDC ở cơ sở.
Để thực hành dân chủ, công tác cán bộ là một trong những khâu quan trọng và mang tính quyết định nhất. Do đó, cần: Nâng cao nhận thức cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân về vai trò của việc giáo dục và rèn luyện đạo đức cách mạng; nhất là trong xu thế hội nhập quốc tế diễn ra ngày càng mạnh mẽ như hiện nay. Kết hợp thực hiện các biện pháp cụ thể về tổ chức quản lý, hành chính, pháp luật và đề cao sức mạnh của dư luận xã hội. Kiên quyết đấu tranh, xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân lợi dụng dân chủ, gây rối loạn nội bộ, làm mất ổn định chính trị - xã hội hoặc vi phạm dân chủ, làm phương hại đến quyền làm chủ của nhân dân. Mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu phải quán triệt sâu sắc, có nhận thức đầy đủ các quan điểm, đường lối của Đảng về công tác cán bộ, về thực hiện dân chủ trong Đảng. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, đi đôi với phát huy quyền và trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị về công tác cán bộ. Mỗi cán bộ đủ điều kiện, tiêu chuẩn, đã được quy hoạch đều có cơ hội và điều kiện như nhau để có thể phát huy tốt những phẩm chất, năng lực của mình trong tuyển dụng, tuyển chọn vào các chức danh lãnh đạo, quản lý./.
ST

NÂNG NIU ĐIỀU BÌNH THƯỜNG

 Một lần, tôi vào khoa thận ở bệnh viện thăm người thân. Ở cùng phòng, có người phụ nữ trông rất nhanh nhẹn, hoạt bát. Chị luôn miệng hỏi thăm người này, giúp đỡ người kia vài việc lặt vặt. Thêm vài lần nữa vào thăm người thân, tôi vẫn bắt gặp hình ảnh đầy năng lượng đó của chị. Cảm giác căn phòng này mà thiếu chị chắc sẽ trầm lắng lắm.

Có lần tôi buột miệng hỏi chị đi chăm người nhà hay sao? Tôi hỏi vậy vì thấy chị lăng xăng khắp phòng nên không biết người thân chị ở giường nào. Chị cười rạng rỡ, trả lời: “Đâu có, chị là bệnh nhân mà!”. Cả phòng cùng cười vui vẻ, hình như không phải tôi là người đầu tiên hỏi chị câu này.
Chị thoăn thoắt gỡ bao gối để mang đi giặt, vừa làm vừa nói: “Vui hay buồn cũng sống hết cuộc đời, thôi thì mình chọn vui vẻ cho đời nó nhẹ nhàng. Với lại, cần hy vọng chứ em. Tin mình khỏe mạnh là cơ thể sẽ khỏe hơn liền à!”.
Tôi cũng tin như vậy. Tôi đọc qua một số cuốn sách về sức mạnh của niềm tin, luật hấp dẫn… cũng nhấn mạnh rất nhiều điều này. Và ở một khía cạnh khác thuộc lĩnh vực tâm lý học cũng cùng quan điểm đó. Rằng bộ não là thứ rất dễ “đánh lừa”, chỉ cần mình cười tươi, thay đổi thần thái trên khuôn mặt bằng ánh mắt tinh anh thay cho buồn rầu, ủ rũ thì ngay lập tức bộ não nhận diện rằng mình đang hạnh phúc, hứng khởi và nó tiết ra những loại hormone gia tăng cảm xúc ấy.
Câu cửa miệng của chị nói với những bệnh nhân khác là: “Ráng khỏe đi, đặng được dzìa nhà!” - giọng miền Tây đặc sệt ấy nghe thân thương gì đâu.
“Được về nhà” là điều đáng mong đợi nhất của những bệnh nhân ở căn phòng này. Có những bệnh nhân dù đã được bác sĩ cho xuất viện nhưng vẫn không về nhà mà thuê căn phòng trọ ọp ẹp cạnh bệnh viện để tiện cho việc chạy thận 3 lần mỗi tuần. Vì về nhà vừa xa, vừa tốn kém thêm tiền di chuyển, chưa kể có những người phải cần thân nhân đi cùng… Nên chọn ở cạnh bệnh viện luôn. Thuê chỗ khang trang thì chẳng tiền nào chịu được, thành ra chỉ cần có nơi ngả lưng là tốt lắm rồi. Vì vậy mà với họ, bao nhiêu khát khao mãnh liệt trước đó chỉ gom lại thành điều tưởng chừng bé mọn nhưng đáng mong chờ nhất, đó là được về nhà.
“Được về nhà”, câu nói ấy cứ vang lên trong đầu tôi. Điều đơn giản vậy thôi mà đã thành khát khao cháy bỏng của những bệnh nhân ở nơi này. Trong khi, biết bao nhiêu người đang ở nhà mà không hề nhận ra điều đó là diễm phúc như thế nào.
Mỗi sáng, tôi thường ngồi cà phê chuyện trò cùng người chú đồng nghiệp. Chú than, thanh niên bây giờ lạ lắm, hình như cứ phải ra khỏi nhà mới là đang sống. Ở nhà chỉ biết nhốt mình trong phòng, cả ngày ủ rũ chẳng mở miệng nói tiếng nào. Vậy mà ra đường, gặp bạn bè lại nói luyên thuyên. Vậy nên cứ phải đi ra ngoài. Sinh nhật ra ngoài. Tất niên ra ngoài. Lễ tốt nghiệp ra ngoài… Và chúng chỉ trở về khi thèm một giấc ngủ trong căn phòng riêng của mình. Chú hỏi tôi câu khó, phải làm sao để con cái chọn ở nhà chứ không phải quán xá bên ngoài?
Tôi thấy câu hỏi khó, bởi vì xã hội ngày nay đa phần giới trẻ đều để tâm trí hướng ra ngoài thay vì quay vào bên trong. Ở một quãng đời nào đó, họ chỉ muốn bám víu những niềm vui ngắn hạn ở bên ngoài. Nhưng rồi theo thời gian, những trải nghiệm, bài học từ cuộc sống sẽ mang lại sự đổi thay tự nhiên nhất với mỗi người.
Như tôi, chính những bệnh nhân ở khoa thận đã mang đến cho tôi bài học về sự trân trọng khoảnh khắc bình thường nhưng giá trị nhất mà tôi đang có: được ở trong ngôi nhà mình.
Và tôi tin, đến một lúc nào đó, bất cứ ai cũng tự biết cách dưỡng nuôi tâm hồn mình, bằng cách sống với khoảnh khắc hiện tại, lắng lòng lại để nhận ra niềm hạnh phúc chẳng phải tìm kiếm đâu xa, bởi nó có ngay trong khoảnh khắc ta sống với hiện tại. Đó là một buổi sáng thức dậy ngắm ban mai trong trẻo, thưởng thức tách cà phê, trà thơm bên khu vườn tự tay chăm sóc…
Niềm hạnh phúc cũng sẽ đến từ những điều bé mọn ấy. Và bình yên sẽ ở lại trong mỗi người chúng ta./.
ST

QUYỀN LAO ĐỘNG CỦA BÁC

 

… Ở khu an toàn, trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, mặc dầu xa địch, nhưng mỗi lần chuyển địa điểm, ngoài việc làm lán trại, Bác cháu còn phải đào hầm, hố. Bác thường giúp đỡ các chiến sĩ bảo vệ vẽ mẫu hầm, cách cầm xẻng, phá đất đá, nện “choòng” …
Ngay trong mỗi nhà, mỗi lán Bác đều cho đào công sự đề phòng máy bay tập kích bất ngờ, cây rừng đổ xuống. Cứ mỗi ngày Bác đào một ít, sau giờ làm việc vài ba buổi là xong. Ai muốn đến giúp, Bác ngăn lại, không đồng ý và nói:
- Đây là quyền lao động của Bác./.
ST