Thứ Tư, 12 tháng 7, 2023

Bóc mẽ cái gọi là giải thưởng dành cho người âm ỉ chống phá Việt Nam

 

Chúng ta luôn trân trọng quá khứ, trân trọng những người góp phần làm nên giá trị Việt Nam, nhưng chúng ta cũng lên án việc làm sai trái của những ai đi ngược lại tương lai tốt đẹp của dân tộc. Người Việt rất ân nghĩa, ân tình: “Ăn quả nhớ người trồng cây”. Thế hệ đi trước đã “trồng” cây độc lập tự do, thế mà có những kẻ vô lương đi “chặt” cây ấy thì tất nhiên chúng ta phải lên án thì mới phần nào xứng đáng với tiền nhân. Còn nếu cứ dửng dưng, bàng quan thì lại là có lỗi, thậm chí đó cũng là một cách tiếp tay cho kẻ xấu và các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam.

1. Một “sự kiện” văn học vừa làm xôn xao văn đàn Việt: Viện Hàn lâm Pháp trao giải thưởng văn học Prix Mondial Cino Del Duca cho Dương Thu Hương, một nhà văn Việt Nam nhưng đã rời bỏ Tổ quốc sang sinh sống tại Pháp. “Sự kiện” tạo ra dư luận trái chiều không chỉ trong văn giới mà lan rộng ra xã hội, vì đây là “giải thưởng” của nước Pháp-một quốc gia có nhiều tác gia văn học lại nổi tiếng văn minh. Giá trị “giải thưởng” lại cao (200.000 euro), chỉ sau giải Nobel. Rất nhiều người băn khoăn: Liệu giải có mang màu sắc chính trị? Có kẻ cơ hội còn “tát nước theo mưa” rằng vì “trong nước không có tự do sáng tạo nên những nhà văn tài năng như Dương Thu Hương bị vùi dập”. Lại có người than thở “muốn mở mày mở mặt với thế giới thì nhà văn Việt Nam phải sang phương Tây”... Vậy bản chất của “giải thưởng” này là gì, việc trao giải có công tâm, khách quan, trung thực hay vì một lẽ gì khác?

Là người Việt Nam, chúng ta vui mừng trước những thành tựu của các văn nghệ sĩ Việt Nam trên khắp mọi miền đất nước, kể cả người Việt Nam ở nước ngoài. Đã là người Việt thì ở đâu cũng là đồng bào. Nghĩa “đồng bào” của Việt Nam rất được thế giới chú ý. Dù ở trong nước hay ở ngoài nước, đã là người Việt Nam thì đều coi nhau là người trong một nhà. Thế nên Việt Nam là nước duy nhất trên thế giới có ngày Giỗ Tổ. Do vậy, người mang dòng máu Việt thành công ở đâu cũng thật đáng quý, đáng tự hào. Dĩ nhiên “năm ngón tay cũng có ngón vắn ngón dài”, có người thế này có người thế khác, chắc chỉ có người nào nhạt nghĩa nguồn cội, thờ ơ với lịch sử dân tộc mới đem lòng đố kỵ với thành công của đồng bào mình.

Trên thế giới có rất nhiều giải thưởng văn học, mỗi nơi có một tiêu chí riêng nên tất yếu sẽ có dư luận đồng tình hay phản đối. Đó là chuyện bình thường. Giải thưởng mang tên Prix Mondial Cino Del Duca của Viện Hàn lâm Pháp không phải là một giải thưởng chuyên về văn học mà còn trao cho nhiều người ở nhiều ngành nghề khác nhau, mà theo họ là có “đóng góp”. Là công dân Việt Nam, chúng ta tôn trọng việc làm ấy của họ, theo tiêu chí, quan niệm của họ. Tất nhiên, chúng ta cũng tiếp nhận những thông tin về giải thưởng, chất lượng và đóng góp cho sự tiến bộ, văn minh chung của giải thưởng theo quan niệm của chúng ta. Đó cũng là lẽ thường tình. Bởi một trong những căn cứ để hội nhập, toàn cầu hóa mà triết học văn hóa đề ra là “tôn trọng sự khác biệt”.

Ban tổ chức trao giải cho Dương Thu Hương với căn cứ đó là “một nhà văn lớn mà tác phẩm và nhân cách độc đáo chứa đựng thông điệp của chủ nghĩa nhân văn hiện đại”. Chúng ta thấy ngay cách dùng các khái niệm là thiếu chính xác, dễ gây ngộ nhận, dễ đánh lừa người đọc. Dương Thu Hương là nhà văn có thể có năng khiếu viết văn nhưng chưa phải là “nhà văn lớn”. Thế nào là nhà văn lớn? Xin phép không định nghĩa ở đây mà chỉ xin nói những điều được thế giới khẳng định. Dương Thu Hương có thể có nhiều “tác phẩm” nhưng rõ ràng bà ta chưa tương xứng với những nhà văn cùng thời, như: Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Đỗ Chu...; càng chưa thể so sánh với Nam Cao, Vũ Trọng Phụng... Thế giới, và chính nước Pháp cũng khẳng định, những nhà văn lớn phải là những nhà tư tưởng, thì chỉ có là những Victor Hugo, Balzac... Nói Dương Thu Hương là “nhà văn lớn” thì vô hình trung lại hạ thấp những bậc đại văn hào ấy sao (?). Bà ta có thể có “cá tính” chứ chưa thể là “nhân cách độc đáo”.

Cũng không thể nói tác phẩm của Dương Thu Hương “chứa đựng thông điệp của chủ nghĩa nhân văn hiện đại”. Chủ nghĩa nhân văn nào thì cũng hướng con người tới chân-thiện-mỹ. Trong khi đó, một số “tác phẩm” đã công bố của Dương Thu Hương thì không như vậy. Thậm chí với thái độ bất mãn, hằn học, cực đoan, bà ta thể hiện rõ sự khinh bỉ, rẻ rúng, hạ thấp con người. Những cuốn sách (chứ không thể gọi là tác phẩm) như “Bên kia bờ ảo vọng”, “Những thiên đường mù”, "Đỉnh cao chói lọi", “Chốn vắng”... của bà ta chứng minh rất rõ điều đó. Nguy hiểm hơn, những cuốn sách này còn hàm chứa nội dung công kích, hạ bệ, phủ nhận thành tựu cách mạng, thể hiện ý đồ chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam rất tinh vi, nham hiểm.

Xin nói về trường hợp “Đỉnh cao chói lọi” của Dương Thu Hương. Là người có nghiên cứu về tiểu sử, cuộc đời và trước tác Chủ tịch Hồ Chí Minh, sau khi đọc cuốn này, chúng tôi khẳng định đây là cuốn sách xuyên tạc rất ác ý về Bác Hồ. Nhân đây xin cập nhật những đánh giá mới nhất của thế giới về Bác. Cuộc Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh gần đây nhất vào ngày 18-4-2023 tại thủ đô Roma (Italia) có tên “Quãng đời làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Italia”. Trước đó, ngày 14-5-2022 tại Ấn Độ có Hội thảo “Hồ Chí Minh và Ấn Độ” (Ho Chi Minh and India) tổ chức ở Kolkata. Trước nữa, tháng 10-2019, Hội thảo “Hồ Chí Minh toàn cầu” (Global Ho Chi Minh) được tổ chức tại thành phố New York (Mỹ). Các hội thảo đều khẳng định ở Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh là sự hội tụ tuyệt đẹp ba luồng văn hóa: Văn hóa yêu nước Việt Nam; văn hóa hòa bình, bình đẳng, bác ái của nhân loại tiến bộ và văn hóa giải phóng con người của Chủ nghĩa Mác. Các nhà nghiên cứu quốc tế đều khách quan nhấn mạnh Hồ Chí Minh không chỉ là anh hùng giải phóng dân tộc mà còn là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới và nhân cách của Người mang tầm ảnh hưởng toàn cầu. Điều này khẳng định sự tôn trọng của giới học giả thế giới đương đại với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tư tưởng và những giá trị văn hóa cao đẹp của Người đang được cả nhân loại đón nhận. Thế mà có một người Việt Nam đã đi ngược lại thế giới thì thử hỏi người đó có lương tâm Việt Nam không?

Nhân “sự kiện” về Dương Thu Hương, có người “kêu gọi” cần “cởi trói” cho “tự do sáng tạo” của văn nghệ sĩ. Xin được nói rõ cần hiểu khái niệm “tự do” trong mối quan hệ rộng rãi ở bất kỳ chế độ xã hội nào sẽ đều thấy không có một “tự do tuyệt đối” mà chỉ có tự do trong khuôn khổ pháp luật. Nhà văn cũng là một công dân. Dù nhà văn có tài năng đến đâu, khi sáng tạo tác phẩm cũng chịu sự quy chiếu quyền lợi chung của quốc gia, dân tộc, con người. Không thể có chuyện lấy “quyền” nhà văn đi công kích, phủ nhận, chối bỏ dân tộc mình, đất nước mình. Có người còn kêu gọi “tự do tư tưởng” cho văn nghệ sĩ (!). Mục đích của “tự do tư tưởng” chẳng phải là để tìm ra chân lý sao? Ngày hôm nay thế giới càng khẳng định chân lý chẳng phải là cái gì trừu tượng, xa xôi mà chính là lợi ích của quốc gia, dân tộc và nhân dân. Điều này Bác Hồ đã nói 67 năm trước (năm 1956): “Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải chân lý. Ra sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân-tức là phục tùng chân lý”. Hãy viết về nhân dân, vì nhân dân, vì đất nước, dân tộc. Đó là tự do của văn nghệ sĩ. Trên thực tế đã có ai cấm hay ngăn cản văn nghệ sĩ quyền tự do sáng tạo theo chân lý ấy đâu?

2. Hôm nay thế giới đã vượt qua quan niệm nhà văn là “thư ký của thời đại” vì cho rằng thư ký là ghi chép thôi nên nhà văn phải là người góp phần “kiến tạo hiện thực”, tức là phải tạo ra một mô hình thế giới riêng. Mô hình này luôn thoát thai từ đời sống nên là mô hình của đời sống chứ không phải bản thân đời sống. Do vậy, chất lượng tác phẩm phụ thuộc chủ yếu vào chủ thể sáng tạo nhà văn. Gọi tác phẩm là “con đẻ tinh thần” của nhà văn là vì thế. Nhà văn sống với đời sống thế nào thì có tác phẩm như vậy. Cho nên “tự do sáng tạo” là khái niệm chỉ mối quan hệ tác giả với đời sống. Chỉ có “tự do” ngụp lặn xuống tận đáy dòng chảy cuộc đời, phải lam lũ sống cùng đời sống nhân dân, vui cái vui, đau cùng nỗi đau của người lao động mới có “vật liệu” để xây dựng tác phẩm. Lịch sử văn chương thế giới cho thấy chưa có nhà văn lớn nào thành công mà thoát ly thực tế đời sống lao động của nhân dân, tách ra khỏi số phận của đất nước họ.

Đạo lý Việt Nam là “Uống nước nhớ nguồn”, “Chim có tổ người có tông”... Người Việt trân trọng những anh hùng liệt sĩ và bao người con ưu tú đã hy sinh cuộc sống vì hạnh phúc của nhân dân, tương lai của đất nước, nhưng cũng khinh bỉ những kẻ vô ơn bất nghĩa. Chúng ta ghi nhớ công ơn những người đã làm nên chiến thắng năm 1975. Họ đã hy sinh một phần tuổi trẻ, có người hy sinh một phần thân thể, có người mãi mãi ngã xuống để mang lại độc lập tự do cho Tổ quốc, mở ra tương lai rạng rỡ cho dân tộc. Nhưng với riêng Dương Thu Hương, trong một lần trả lời phỏng vấn về ngày Giải phóng miền Nam 30-4-1975, thì ngay cách nói của bà ta đã cho thấy bà sớm đi ngược lại dân tộc mình, nhân dân mình: “Mọi người trong đội quân chúng tôi đều hớn hở cười thì tôi lại khóc”. Như vậy bà ta đã nhận thức sai từ rất sớm, ngay sau ngày giải phóng miền Nam.

Chúng ta trân trọng quá khứ, trân trọng những người góp phần làm nên giá trị Việt Nam, nhưng chúng ta cũng lên án việc làm sai trái của những ai đi ngược lại tương lai tốt đẹp của dân tộc. Trong số đó có bà Dương Thu Hương. Tất nhiên, chúng ta không chấp nhận việc tung hô, cổ xúy những con người như bà Hương. Người Việt rất ân nghĩa, ân tình: “Ăn quả nhớ người trồng cây”. Thế hệ đi trước đã “trồng” cây độc lập tự do, thế mà có những kẻ vô lương đi “chặt” cây ấy thì tất nhiên chúng ta phải lên án thì mới phần nào xứng đáng với tiền nhân. Còn nếu cứ dửng dưng bàng quan thì lại là có lỗi, thậm chí đó cũng là một cách tiếp tay cho kẻ xấu và các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam.

3. Quay trở lại vấn đề trên thì giải thưởng nói chung ở bất kỳ đâu vì luôn đặt ra tiêu chí, mục đích riêng nên tự giới hạn không gian, thời gian. Do vậy có những giải thưởng không thể tồn tại ý nghĩa lâu dài. Chưa nói tới việc giải thưởng bị lạm dụng ý nghĩa. Ví như giải Nobel tầm quốc tế thế mà có thời điểm còn bị điều chỉnh để thiên về mục đích chính trị. Chúng ta nhớ lại Giải Nobel Hòa bình năm 1973 từng được Ủy ban Nobel trao cho đồng chí Lê Đức Thọ và cho cả ông Henry Kissinger, tức họ “đánh đồng” kẻ đi xâm lược và người bị xâm lược, để thế giới hiểu rằng người Mỹ “đem lại hòa bình cho Việt Nam” chứ không hề xâm lược. Sự phi lý này, đã qua nửa thế kỷ mà cho đến hôm nay vẫn còn dư luận bàn tán chế giễu, chê bai. Là bạn của nước Pháp, chúng ta tôn trọng họ, ủng hộ những việc làm của họ vì hòa bình, vì tương lai tốt đẹp của nhân loại. Chúng ta coi việc họ trao giải cho Dương Thu Hương là quyền của họ và họ chịu trách nhiệm trước việc làm ấy. Nhưng chúng ta không coi việc đó là có giá trị đối với dân tộc, đất nước Việt Nam chúng ta.

Việt Nam không “tự mình cô lập mình” trong thực hiện chính sách quốc phòng

 

Đến nay, Việt Nam đã 4 lần công bố Sách trắng quốc phòng, trong đó công khai chính sách quốc phòng hòa bình và tự vệ, nhằm mục tiêu tạo lập, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Tuy nhiên, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách để xuyên tạc, phủ nhận một cách vô căn cứ.

Vì vậy, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của chúng, bảo vệ chính sách quốc phòng đúng đắn của Việt Nam là nhiệm vụ quan trọng hiện nay.

Việt Nam là đất nước luôn phải đối mặt với nguy cơ bị xâm lược từ bên ngoài và đã phải trải qua rất nhiều cuộc chiến tranh để giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Chính vì vậy, khát khao được sống trong hòa bình, độc lập; giải quyết mọi bất đồng, tranh chấp bằng biện pháp hòa bình là mong muốn, thiện chí và quan điểm nhất quán trong chính sách quốc phòng của Việt Nam.

Tuy nhiên, thời gian qua, các thế lực phản động, phần tử bất mãn, cơ hội chính trị, nhóm người tự xưng là “người yêu nước”, “tâm huyết” với vận mệnh quốc gia-dân tộc đã gửi “thư ngỏ”, “kiến nghị”, viết bài tán phát với những giọng điệu xuyên tạc, bóp méo đường lối đối ngoại và chính sách quốc phòng của Việt Nam. Chúng cho rằng, trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, các quốc gia luôn có mối quan hệ ràng buộc, phụ thuộc chặt chẽ lẫn nhau, trong khi đó Việt Nam vẫn theo đuổi chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ và chính sách quốc phòng “4 không” (không liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế) là “bảo thủ, lỗi thời”, “tự mình cô lập mình”, “tự trói tay, chân mình”, tước đi cơ hội hợp tác với các nước lớn để tăng cường sức mạnh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.

Ngang nhiên, trắng trợn hơn, chúng còn vu khống, quy chụp việc Việt Nam tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh là khơi mào cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực, là để chống lại một nước thứ ba. Đặc biệt, các thế lực thù địch cho rằng, với chính sách quốc phòng hiện nay thì Việt Nam không thể giữ vững chủ quyền, quyền chủ quyền, sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Do đó, chỉ có liên minh quân sự với các cường quốc thì Việt Nam mới giữ vững được chủ quyền lãnh thổ, bảo vệ được lợi ích quốc gia-dân tộc.

Có thể thấy mục đích sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch là nhằm dẫn dắt, hướng lái Việt Nam tham gia các liên minh quân sự, dần đi sâu vào quỹ đạo lệ thuộc bên ngoài, đánh mất độc lập, tự chủ trong các hoạt động quân sự, quốc phòng, đối ngoại. Đồng thời, kích động, gieo rắc tâm lý hoài nghi trong xã hội vào khả năng bảo vệ đất nước của quốc phòng Việt Nam, tính đúng đắn của đường lối quân sự, quốc phòng, đối ngoại của Đảng; từ đó gây chia rẽ, mâu thuẫn nội bộ, làm giảm sút lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với lĩnh vực quân sự, quốc phòng, đối ngoại; cấp độ cao hơn là từ chối thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, hoặc tham gia vào các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

Soi rọi vào lý luận và thực tiễn đều cho thấy, những luận điệu trên của các thế lực thù địch là hoàn toàn vô căn cứ, xuyên tạc trắng trợn chính sách quốc phòng của nước ta:

Về lý luận: Quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh là luôn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, “dựa vào sức mình là chính”, “đem sức ta mà giải phóng cho ta”; kết hợp chặt chẽ sức mạnh nội lực của đất nước với sức mạnh quốc tế để củng cố, tăng cường sức mạnh quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần chỉ rõ vai trò, tầm quan trọng của sức mạnh nội lực, của mối quan hệ giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, Người nói: “Cố nhiên sự giúp đỡ của các nước bạn là quan trọng, nhưng không được ỷ lại, không được ngồi mong chờ người khác. Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”; “Phải trông ở thực lực. Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”. Đồng thời, Người căn dặn, phải luôn “biết mình, biết người”, “biết thời, biết thế” để “cương nhu kết hợp”; phải đặc biệt coi trọng xử lý khéo léo quan hệ với các nước, nhất là các nước láng giềng và các nước lớn, vì lợi ích tối cao của quốc gia-dân tộc. 

Thấm nhuần sâu sắc tư tưởng của Người, Đảng, Nhà nước ta luôn khẳng định nhất quán quan điểm: “Chúng ta bảo vệ Tổ quốc bằng sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại. Trong đó, sức mạnh bên trong của đất nước, của chế độ chính trị, nền kinh tế và tiềm lực quốc gia là nhân tố quyết định”. Đồng thời: Kiên trì chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, thêm bạn, bớt thù, vừa hợp tác, vừa đấu tranh. Tăng cường hợp tác, tạo thế đan xen lợi ích chiến lược giữa nước ta với các nước, nhất là các nước lớn, các đối tác chiến lược, các nước láng giềng và các nước trong khu vực; tránh xung đột, đối đầu, tránh bị cô lập, phụ thuộc.

Chiến lược quốc phòng Việt Nam năm 2018 xác định: Xây dựng, củng cố quan hệ, lòng tin chiến lược với các nước, nhất là các đối tác chiến lược, tạo thế để bảo vệ Tổ quốc; sẵn sàng đánh thắng mọi hình thái chiến tranh xâm lược nếu xảy ra; tham gia tích cực, trách nhiệm, hiệu quả vào các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc (LHQ) và những vấn đề liên quan của cộng đồng quốc tế, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới.

Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 chỉ rõ, cùng với chủ trương “4 không”, Việt Nam: “Tăng cường hợp tác quốc phòng với các nước để nâng cao khả năng bảo vệ đất nước và giải quyết các thách thức an ninh chung. Tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế”.

Đồng thời, Việt Nam chủ trương phát triển quan hệ hợp tác quốc phòng với tất cả các nước, nhất là các nước láng giềng, các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, xây dựng lòng tin, tạo sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế để ngăn ngừa nguy cơ và đối phó với chiến tranh xâm lược; sẵn sàng mở rộng quan hệ hợp tác quốc phòng trên cơ sở không phân biệt sự khác nhau về chế độ chính trị và trình độ phát triển. Việt Nam không chấp nhận quan hệ hợp tác quốc phòng dưới bất kỳ điều kiện áp đặt hoặc sức ép nào. Việt Nam tăng cường hợp tác quốc phòng đa phương nhằm góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Đại hội XIII của Đảng xác định rõ: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại...". Đồng thời: “Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng những biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc”. 

Về thực tiễn: Trong những năm qua, Việt Nam luôn nỗ lực thực thi đúng đường lối đối ngoại và chính sách quốc phòng đã đề ra, trở thành quốc gia thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới. Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 192 quốc gia (bao gồm 190/193 nước thành viên LHQ); đã thiết lập quan hệ hợp tác quốc phòng với hơn 100 nước trên thế giới, trong đó có đầy đủ 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an LHQ và tất cả các nước lớn trên nhiều lĩnh vực.

Đặc biệt, gần 10 năm qua, Việt Nam đã triển khai hơn 530 cán bộ, nhân viên tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình LHQ tại các phái bộ và trụ sở LHQ ở New York (Hoa Kỳ). Việc tham gia ngày càng tích cực, hiệu quả vào hoạt động gìn giữ hòa bình thế giới của Việt Nam đã được LHQ ghi nhận và đánh giá cao, để lại những ấn tượng tốt đẹp với chính quyền, người dân nước sở tại và bạn bè quốc tế. Hình ảnh chiến sĩ mũ nồi xanh Việt Nam, phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới được lan tỏa rộng rãi, ghi dấu ấn tích cực và đậm nét trong lòng nhân dân, kiều bào Việt Nam ở nước ngoài, được bạn bè quốc tế trân trọng, quý mến.

Mặt khác, trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn diễn ra ngày càng gay gắt, quyết liệt hiện nay, nếu dựa vào nước lớn này làm đồng minh, liên minh thì sẽ trở thành đối tượng chiến lược, đối đầu với nước lớn khác. Vì vậy, Việt Nam kiên định chính sách “4 không”, thêm bạn, bớt thù; tăng đối tác, giảm đối tượng, xử lý hài hòa quan hệ với các nước; thiết lập, củng cố quan hệ với tất cả các nước, nhất là các đối tác chiến lược, hội nhập quốc tế sâu rộng, gia tăng sự đan xen lợi ích chung với nhiều nước, tạo sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế; ngăn ngừa nguy cơ và đối phó thắng lợi với mọi hình thức chiến tranh xâm lược là lựa chọn đúng đắn, phù hợp nhất. Trong bất luận hoàn cảnh nào, Việt Nam cũng không chọn bên mà chọn lẽ phải, chính nghĩa.

Như vậy, cả lý luận và thực tiễn, rõ ràng là những minh chứng đầy đủ, khách quan, thuyết phục nhất, thể hiện rõ mong muốn, thiện chí: Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam mà không một thế lực nào có thể xuyên tạc, phủ nhận. Đồng thời cũng vạch trần âm mưu đen tối của các thế lực thù địch đối với chính sách quốc phòng Việt Nam.

Theo đó, để đấu tranh làm thất bại âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, cần phải tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, làm rõ tính đúng đắn của chính sách quốc phòng Việt Nam ở cả trong nước và quốc tế; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với quốc phòng, an ninh và đối ngoại; huy động tối đa các nguồn lực để tăng cường sức mạnh quốc phòng, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, phát huy vai trò “tiên phong” trong kiến tạo môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

“Gần dân, hiểu dân, trọng dân và vì dân” là cốt tử của mỗi người cán bộ, đảng viên hiện nay

Chuyện cán bộ mắc “bệnh xa dân” ngày nay thể hiện muôn hình vạn trạng, đó là cán bộ ít đến với dân, ít nghe tâm tư nguyện vọng của người dân; cán bộ tránh, trốn tiếp dân bằng nhiều lý do, nhất là khi có “tình huống điểm nóng”. Người dân không dễ gì gặp được họ dù ý kiến, nguyện vọng muốn trình bày với người có trách nhiệm giải quyết là chính đáng và cần thiết. Chính vì mắc “bệnh xa dân” nên có những cán bộ chỉ nắm được tình hình qua báo cáo. Mà chất lượng báo cáo thì không phải ở đâu, chỗ nào cũng đúng, cũng thực chất. Tình trạng “tô hồng” báo cáo là một “trọng bệnh” với đa số ưu điểm, thành tích mà lảng tránh khuyết điểm, yếu kém. Tìm hiểu những câu chuyện thực tế ở nhiều địa phương cho thấy, tình trạng cán bộ mắc “bệnh xa dân” khá phổ biến. Có những nơi đã hình thành khu ở của người giàu, của một số “quan chức”, hoặc vợ con họ sống xa xỉ, hưởng lạc. Đó là những khu phố luôn kín cổng cao tường, xa cách với nhân dân lao động. Ngay tại TP Lào Cai, ngày 24-5-2017, Báo Tuổi trẻ đã đăng tải bài điều tra “Đấu giá đất biệt thự “đắc địa” Lào Cai: Toàn quan chức trúng”. Theo bài báo, cả 6 lô biệt thự ở vị trí đắc địa bậc nhất Lào Cai sau đấu giá đều thuộc quyền sở hữu, sử dụng của gia đình quan chức tỉnh này, trong đó có ông Nguyễn Văn Vịnh, khi đó đang đương chức Bí thư Tỉnh ủy. Trở lại với nguyên lý gốc về người cán bộ và nhân dân thì mối quan hệ này như thế nào trong chế độ xã hội chủ nghĩa, hay cụ thể nhất là Nhà nước ta? Cán bộ thực chất là những thủ lĩnh của nhân dân trong mối quan hệ công nhân-nông dân-trí thức và đoàn kết mọi lực lượng yêu nước bền chặt. Nguyên nghĩa đó là những hạt nhân tinh túy trong phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và các giai tầng khác để giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, xây dựng chủ nghĩa xã hội tốt đẹp. Vì là những hạt nhân tinh túy nhất nên dĩ nhiên họ xuất phát từ chính những người dân, từ nhân dân mà ra, qua quá trình lăn lộn trong đấu tranh, lao động mà trưởng thành. Đắm mình trong thực tiễn, họ đã xuất sắc hơn so với đại đa số quần chúng, cả về tài năng, trí tuệ và đặc biệt là phẩm chất đạo đức tốt đẹp (đạo đức cách mạng). Họ trở thành thủ lĩnh để dẫn dắt, lãnh đạo quần chúng. Nhưng mục đích lớn nhất đó là dẫn dắt quần chúng làm cách mạng, phục vụ cách mạng chứ không phải là những người làm quan phát tài, ăn trên ngồi trốc. Cần thiết phải nói rõ ngọn nguồn như vậy để hiểu sâu sắc người cán bộ là ai, họ đứng ở vị trí nào và phải làm gì cho nhân dân. Soi điều đó vào thực tiễn, trong suốt sự nghiệp cách mạng của dân tộc đã có biết bao thế hệ cán bộ thực sự là của nhân dân, vì nhân dân, được nhân dân đùm bọc, che chở, nuôi dưỡng. Họ lớn lên trong cách mạng, vào sống ra chết vì cách mạng, vì sự ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Chính nhân dân đã rèn luyện, đào tạo cán bộ, từ phẩm chất, bản lĩnh đến ý chí, hành động. Trong suốt quá trình thực tiễn lịch sử đất nước càng thấm thía điều đó. Ai từng một lần đặt chân đến di tích Nhà tù Phú Quốc, Nhà tù Côn Đảo hay nhiều nhà tù khác mới hiểu hết tấm lòng kiên trung vì nước, vì dân của những chiến sĩ cách mạng trong sự nghiệp cao cả của dân tộc. Họ là những cán bộ, đảng viên của dân tộc, của nhân dân. Trong số hàng vạn chiến sĩ cách mạng ấy, đã có nhiều người sau này trở thành cán bộ chủ chốt, giữ các cương vị cấp cao của đất nước nhưng họ vẫn giữ mãi những phẩm chất cao quý, thanh liêm đó. Họ đã được dân tin, dân quý, dân chở che, bảo vệ. Ngày nay, trên thực tế, rất nhiều cán bộ, từ Trung ương đến cơ sở vẫn nỗ lực để lo cho người dân có cuộc sống tốt đẹp, nhất là lo cho người dân trong thiên tai, dịch bệnh, trong xóa đói, giảm nghèo, thực hiện an sinh xã hội. Hình ảnh những cán bộ luôn hết lòng vì dân, từ suy nghĩ đến việc làm rất đáng trân trọng. Những mô hình như “ngày cuối tuần cùng dân” khởi đầu từ huyện Mù Cang Chải (Yên Bái) qua thực tiễn 4 năm, giờ đã được nhiều địa phương hưởng ứng bởi tính hiệu quả gần dân của nó. Nhiều tấm gương người tốt, việc tốt kể về việc cán bộ gần dân, vì dân, giúp dân, dân giúp, xuất hiện thường xuyên trên mặt báo thật đáng quý.

Vô ơn, vô cảm, vô lễ - xuất phát từ chính sự nuông chiều thái quá của các bậc cha mẹ

Hiện nay, nhiều người vẫn đang tự hào về nuông chiều con và hiểu sai về quyền trẻ em. Quyền trẻ em sinh ra để bảo vệ trẻ khi bị bạo lực, còn vẫn khuyến khích dạy dỗ trẻ, cho việc nuông chiều con để thể hiện đẳng cấp. Nhiều đứa trẻ lớn lên với suy nghĩ "đáp ứng con cái là nghĩa vụ của cha mẹ". Vô ơn, vô cảm, vô lễ là những điều dễ nhận thấy ở nhiều trẻ. Lỗi đầu tiên thuộc về chúng ta - những bậc cha mẹ của chúng. Đừng đổ lỗi hay ngụy biện này nọ, hãy trung thực nhìn nhận, ta sẽ thấy con em mình chính là nạn nhân của chúng ta khi còn nhỏ và cả khi chúng trưởng thành về thể xác. Thoát ra khỏi đói khát, thiếu thốn, như một trào lưu, chúng ta đã lấy vật chất làm thước đo duy nhất giá trị con người. Hệ quả là chủ nghĩa thực dụng lên ngôi và những gì đang diễn ra như một tất yếu của một tiến trình nhân quả. Việc nuông chiều con cái là từ chủ quan với lòng yêu thương không điều kiện, nhưng cũng tác động bởi yếu tố khách quan. Tâm lý không để con mình thua thiệt con người ta làm cho bố mẹ nuông chiều con bằng cách mua đồ không cần thiết khi con đòi bằng bạn bằng bè. Nhiều người chỉ cần con ăn chơi, không phải làm vì con người ta trắng đẹp, con mình xấu thì xấu cả mặt mình. Cho con cái đầy đủ, thậm chí nuông chiều thái quá cũng là cách một số bậc cha mẹ coi như cách thể hiện đẳng cấp với người khác. Nhìn thấy vâỵ, nhiều người khác lại cũng đua theo... Các bậc cha mẹ so kè nhau qua đứa con của mình, từ đó hình thành một cuộc đua nuông chiều con. Con cái chưa làm cha mẹ, nên không hiểu chuyện, không coi trọng bố mẹ cũng là điều dễ hiểu. Thế mới có những đứa trẻ được sinh ra trong gia đình có cha mẹ dạy dỗ tốt nên rất ngoan và có trách nhiệm với cuộc sống của chúng nói riêng, cũng như xã hội nói chung. Lòng biết ơn của trẻ, không phải là cần con phải trả lại công ơn sinh dưỡng, mà phải dạy trẻ biết ơn khi được nhận bất cứ điều gì. Bởi vậy nên học tiểu học, môn Đạo Đức luôn nhắc nhở: lòng biết ơn, lòng trung thực...

VẠCH TRẦN NHỮNG MƯU ĐỒ ĐỘC ÁC: NHẬN DIỆN TỘI ÁC

 VẠCH TRẦN NHỮNG MƯU ĐỒ ĐỘC ÁC: NHẬN DIỆN TỘI ÁC

Một trong những tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài tự khoác lên mình cái tên "Người Thượng vì công lý" (Montagnards Stand For Justice). Với khẩu hiệu đầy tính kích động: "Thúc đẩy hòa bình và bảo vệ quyền con người của những người bị áp bức tại Tây Nguyên", chúng đang tìm mọi cách thực thi các âm mưu chống phá sự bình yên của vùng đất đại ngàn tươi đẹp. Với những thủ đoạn nham hiểm, hành vi dã man, điên cuồng, chúng chính là kẻ thù của đồng bào các dân tộc anh em trên đại ngàn Tây Nguyên đang ngày đêm gắng sức dựng xây quê hương ngày một thịnh vượng, bình yên và hạnh phúc.
Những ngày qua, hàng loạt câu hỏi cứ luôn trở đi trở lại trong tâm trí tôi: Vì sao mà máu của đồng chí, đồng bào lại phải đổ xuống mảnh đất buôn làng giữa những năm tháng thanh bình này? Ai là những kẻ gây nên tội ác? Lý do nào đã khiến những người cùng sống chung giữa không gian quê hương, nương rẫy, buôn làng, cùng uống chung nguồn nước mẹ đại ngàn lại trở thành những con thú khát máu hủy hoại sự sống của đồng bào mình?...
Sáng sớm ngày 11/6/2023, cùng với hàng triệu người khắp mọi miền đất nước, từ khi thức giấc, tôi đã phải đón nhận những thông tin đau lòng từ hai xã Ea Tiêu và Ea Ktur thuộc huyện Cư Kuin (Ðắk Lắk) như phải chứng kiến một trận động rừng kinh hoàng. Là người đã có hơn ba thập niên gắn bó với những cánh rừng, buôn làng và đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, tôi thật sự căm giận những kẻ độc ác, xót xa với thảm cảnh và âm ỉ trong tâm hồn một cảm giác hụt hẫng, một nỗi buồn.
Các cơ quan chức năng đã nhận diện đây là vụ khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, hành vi của các đối tượng rất man rợ, mất nhân tính thể hiện quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng.
Ðịa chỉ mà chúng nhắm tới đốt phá là các cơ quan nhà nước, trụ sở công an xã.
Ðối tượng mà chúng hung hãn ra tay hành động là cán bộ cấp ủy, chính quyền, là các chiến sĩ công an và cả những người dân vô tội. Ðó là đồng chí Bí thư Ðảng ủy, Chủ tịch xã Ea Ktur Nguyễn Văn Kiên và Chủ tịch xã Ea Tiêu Nguyễn Văn Dũng. Họ là những người suốt bao năm tháng qua đã dành trọn tâm sức và trí tuệ chăm lo cho sự phát triển quê hương, cho đời sống người dân các dân tộc anh em ngày càng ấm no, hạnh phúc. Là Thiếu tá Hoàng Trung, Ðại úy Nguyễn Ðăng Nhân - cán bộ công an xã Ea Ktur; Thiếu tá Trần Quốc Thắng, Ðại úy Hà Tuấn Anh - cán bộ công an xã Ea Tiêu. Họ là những cán bộ, chiến sĩ công an, những người ngày đêm bảo vệ trị an buôn làng, bảo vệ sự bình yên cho mỗi mái nhà, mỗi người dân, cho những nương rẫy, cánh rừng tốt tươi.
Chúng còn cướp đi sinh mạng 3 người dân bình thường trong cơn say máu. Những người đồng bào bị chúng giết hại ấy là những người từng chung điệu chiêng, chung vòng xoang, chung cần rượu với chúng trong những ngày buôn làng vào hội.
Ngoài giết hại 9 người, làm bị thương 2 người, chúng còn bắt cóc 3 công nhân làm con tin trên đường chạy trốn.
Ðến nay chúng ta đã có thể dựng lên chân dung khá đầy đủ của những đối tượng khủng bố để vạch trần bộ mặt của chúng.
Ðến nay chúng ta đã có thể dựng lên chân dung khá đầy đủ của những đối tượng khủng bố để vạch trần bộ mặt của chúng, kể cả những kẻ chủ mưu, những tổ chức phản động đã và đang từ xa kích động, giật dây, chống đối chế độ, phá hoại sự nghiệp dựng xây, kiến thiết quê hương và cuộc sống bình yên của nhân dân Tây Nguyên. Ðó là những kẻ chống đối, phản động trong nước tham gia các tổ chức chống phá Ðảng, Nhà nước. Có cả những kẻ từng suốt một quãng đời được hưởng thành quả cách mạng, được chăm lo cuộc sống, được học hành, vui cùng nương rẫy với bà con buôn làng nhưng đã biến chất trở thành những kẻ quá khích, man rợ, độc ác.
Tiếp cận với nhiều nguồn tài liệu, với những lời khai của các đối tượng, chúng tôi không khỏi đau lòng vì một số tên khủng bố là những nông dân có cuộc sống gia đình, người thân ngày càng khởi sắc, no ấm, chỉ vì rơi vào cạm bẫy của những thủ đoạn lôi kéo, mua chuộc, kích động của các thế lực thù địch, chúng đã biến mình thành công cụ của kẻ thù. Lực lượng công an đã có tài liệu, chứng cứ chứng minh vụ án xảy ra còn do có sự hậu thuẫn chỉ đạo từ một số tổ chức, cá nhân ở nước ngoài, thậm chí cử đối tượng từ nước ngoài xâm nhập trái phép về Việt Nam để dàn dựng, chỉ đạo tấn công khủng bố.
Cho đến thời điểm này, cơ quan công an đã bắt giữ và ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can 90 đối tượng với các tội danh: "Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân", "Không tố giác tội phạm" và "Môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh vào Việt Nam trái phép". Nhiều người có liên quan đã bị triệu tập; công tác đấu tranh, truy nã các đối tượng bỏ trốn vẫn đang tiếp tục.
Cho đến thời điểm này, cơ quan công an đã bắt giữ và ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can 90 đối tượng với các tội danh: "Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân", "Không tố giác tội phạm" và "Môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh vào Việt Nam trái phép". Nhiều người có liên quan đã bị triệu tập; công tác đấu tranh, truy nã các đối tượng bỏ trốn vẫn đang tiếp tục.
Càng căm thù và lên án sâu sắc những kẻ giết người bao nhiêu, trong những ngày qua, tự tâm can, tôi càng thấy thương những người Amí (mẹ), những người Mo (vợ), những đứa Anak (con) tội nghiệp của chúng bấy nhiêu. Rất nhiều người thân của những tên khủng bố đã khóc cạn nước mắt, đã đau khổ tận cùng. Chính họ cũng không hiểu vì sao, vì điều gì mà người con, người chồng, người cha của mình lại trở thành những tên giết người máu lạnh. Ðược chính quyền và cơ quan công an động viên, giải thích, họ dẫn những người thân vừa gây nên tội ác tày trời ra tự thú, nhận tội.
Ðồng bào Tây Nguyên, nhất là cộng đồng người dân tộc thiểu số đã lên án mạnh mẽ những hành động tội ác và những kẻ gây nên tội ác. Họ đã hợp tác tích cực cùng chính quyền, các lực lượng công an, quân đội trong quá trình cung cấp thông tin, tham gia vây bắt những tên khủng bố. Chính vì vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, chúng ta đã vãn hồi tình hình, trả lại sự bình yên vốn có cho mảnh đất Tây Nguyên hùng vĩ.
Chúng tôi cũng hết sức đồng tình với nội dung bức tâm thư của người thanh niên dân tộc Ê Ðê, ca sĩ Y Vol Ênuôl (con trai của cố NSND Y Moan Ênuôl) gửi những người đồng tộc của mình. Y Vol viết: "Nhận thông tin vụ sát hại cán bộ, công an và nhân dân tại 2 xã thuộc huyện Cư Kuin, tôi rất căm phẫn và đau xót trước hành động man rợ của những kẻ sát nhân. Qua đây, tôi có đôi lời tâm tư với bà con dân tộc mình, đặc biệt là những người nhẹ dạ cả tin theo lời tuyên truyền, xúi giục của bọn phản động lưu vong (...). Kính mong các chú, các bác, anh em đồng bào hãy đoàn kết một lòng, đừng nghe theo lời dụ dỗ của kẻ xấu, chúng sẽ lợi dụng để chia rẽ chúng ta...".
Cũng cần chỉ rõ những kẻ chủ mưu, chỉ đạo bạo loạn, khủng bố thực sự là ai? Câu hỏi này không khó trả lời. Ðó chính là những tổ chức phản động, những kẻ lạc loài lưu vong bên ngoài Tổ quốc nhưng không nguôi nuôi lòng thù hận với đất nước, với chế độ, với quê hương, với mảnh đất đại ngàn đã sinh ra và nuôi dưỡng chúng. Dù là tên gọi nào, hình thức nào thì bản chất chỉ có một.
Ðơn cử như Fulro - dưới bàn tay giật dây của các thế lực thù địch với đất nước Việt Nam, là một tổ chức phản động cực kỳ nguy hiểm, độc ác, hoạt động kéo dài nhiều thời kỳ, nhiều năm tháng, có lúc tưởng chừng đã bị xóa sổ, nhưng tàn dư của nó vẫn tồn tại thông qua nhiều hình thức khác nhau.
Sau Fulro 1, Fulro 2, giờ đây là Fulro thế hệ thứ 3 và các nhánh, nhóm phản động núp bóng tôn giáo, sắc tộc vẫn đang ngày đêm rình rập, tìm cơ hội tạo nên những bất ổn cho vùng đất đại ngàn.
Sau Fulro 1, Fulro 2, giờ đây là Fulro thế hệ thứ 3 và các nhánh, nhóm phản động núp bóng tôn giáo, sắc tộc vẫn đang ngày đêm rình rập, tìm cơ hội tạo nên những bất ổn cho vùng đất đại ngàn. Chúng không từ bỏ âm mưu phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan, li khai, tự trị.
Bằng chiêu bài sử dụng công cụ đội lốt tôn giáo như "Tin lành Ðêga", "Giáo hội Tin lành đấng Christ Việt Nam" rồi "Giáo hội Tin lành đấng Christ Tây Nguyên", chúng tập hợp lực lượng, tuyên truyền, huấn luyện các đối tượng nhằm lật đổ chính quyền nhân dân và thành lập nhà nước riêng - cái gọi là "Nhà nước Ðêga độc lập" hay "Nhà nước Tây Nguyên tự trị".
Tại Hội nghị cấp cao những người đứng đầu lực lượng chống khủng bố các nước do Liên hợp quốc tổ chức tại New York (Mỹ) từ ngày 19 đến 22/6/2023, Thiếu tướng Phạm Ngọc Việt - Cục trưởng Cục An ninh nội địa (Bộ Công an Việt Nam), trong bài phát biểu của mình đã khẳng định vụ tấn công tại Ðắk Lắk ngày 11/6/2023 là hoạt động khủng bố có tổ chức với "hành vi manh động, liều lĩnh, man rợ, mất nhân tính".
Ông đã phân tích, nhận diện đây là hoạt động do các tổ chức phản động lưu vong người Việt, các phần tử theo chủ nghĩa cực đoạn lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo trú chân tại một số quốc gia thiết lập cơ sở, chân rết, tổ chức huấn luyện cho các đối tượng trong nước và cử người xâm nhập vào Việt Nam chỉ đạo thực hiện hành động khủng bố. Trong các đối tượng tham gia vụ khủng bố, có một số đối tượng là thành viên một tổ chức có trụ sở tại Mỹ, nhận lệnh chỉ đạo từ tổ chức này xâm nhập về Việt Nam và dàn dựng vụ tấn công.
Như đã nói, tưởng chừng Fulro chấm dứt hoạt động, nhưng không phải thế, cái bóng ma ấy vẫn núp từ bên ngoài Tổ quốc và len lỏi vào những cánh rừng, những buôn làng, mái nhà. Ðược các thế lực thù địch với Việt Nam "hà hơi tiếp sức", cung cấp nhân lực, vật lực, chúng tìm mọi cơ hội nhằm phá hoại sự bình yên của vùng đất Tây Nguyên bằng các hình thức tuyên truyền kích động, tổ chức bạo loạn, chống phá, khủng bố. Các cuộc bạo loạn năm 2001, 2004 và điểm nóng 2008 cùng với vụ khủng bố đẫm máu vừa qua là những minh chứng rõ nét về tội ác của tổ chức Fulro thế hệ mới.

NGÀY THƯƠNG BINH-LIỆT SĨ 27/7 RA ĐỜI NHƯ THẾ NÀO?

 NGÀY THƯƠNG BINH-LIỆT SĨ 27/7 RA ĐỜI NHƯ THẾ NÀO?

Ngày 16/2/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chính thức ký Sắc lệnh số 20/SL "Quy định chế độ hưu bổng, thương tật và tiền tuất tử sĩ". Đây là văn bản pháp quy đầu tiên khẳng định vị trí quan trọng của công tác thương binh, liệt sĩ và sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đến thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ.
Hoàn cảnh ra đời Ngày Thương binh-Liệt sĩ
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) ra đời chưa được bao lâu thì thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta một lần nữa. Với tinh thần quật cường, kiên quyết bảo vệ thành quả cách mạng, giữ vững nền độc lập cho Tổ quốc, quân và dân ta đã anh dũng chiến đấu chống lại quân xâm lược.
Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến quyết liệt chống thực dân Pháp, nhiều đồng bào, chiến sĩ đã hy sinh, cống hiến xương máu, sức lực trên các chiến trường. Thấm nhuần đạo lý truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” của dân tộc và thấu hiểu sâu sắc giá trị của sự hy sinh, cống hiến to lớn của các anh hùng liệt sĩ, thương binh đối với đất nước, Đảng, Chính phủ, Bác Hồ và nhân dân ta đã dành tất cả tình thương yêu cho các chiến sĩ và đồng bào đã vì độc lập, tự do của Tổ quốc mà bị thương hoặc hy sinh.
Đầu năm 1946, Hội giúp binh sĩ bị nạn ra đời ở Thuận Hóa (Bình Trị Thiên), rồi đến Hà Nội và một số địa phương khác, sau đó ít lâu được đổi thành Hội giúp binh sĩ bị thương. Ở Trung ương có Tổng Hội và Chủ tịch Hồ Chí Minh được bầu là Chủ tịch danh dự của Hội.
Chiều ngày 28/5/1946, tại Nhà hát Lớn Hà Nội, Tổng Hội giúp binh sĩ bị nạn tổ chức một cuộc nói chuyện quan trọng để kêu gọi đồng bào gia nhập Hội và hăng hái giúp đỡ các chiến sĩ bị thương tùy theo điều kiện của gia đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến dự.
Sau đó, nhiều chương trình quyên góp, ủng hộ bộ đội được phát động, đáng chú ý nhất là cuộc vận động "Mùa đông binh sĩ". Theo sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ủy ban vận động đã họp phát động phong trào may áo trấn thủ cho chiến sĩ.
Chiều ngày 17/11/1946, tại Nhà hát Lớn Hà Nội, Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam đã tổ chức lễ xung phong “Mùa đông binh sĩ”, mở đầu cuộc vận động “Mùa đông binh sĩ” trong cả nước để giúp chiến sĩ trong mùa đông giá rét với sự có mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên Chính phủ. Ngay tại buổi lễ, Người đã cởi chiếc áo len đang mặc để tặng lại các binh sĩ.
Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ngày 19/12/1946, theo Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước đã nhất tề đứng dậy kháng chiến với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Số người bị thương và hy sinh trong chiến đấu tăng lên, đời sống của chiến sĩ, nhất là những chiến sĩ bị thương gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn. Trước tình hình trên, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra những chính sách quan trọng về công tác thương binh, liệt sĩ, góp phần ổn định đời sống vật chất và tinh thần cho thương binh, gia đình liệt sĩ.
Ngày 16/2/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chính thức ký Sắc lệnh số 20/SL "Quy định chế độ hưu bổng, thương tật và tiền tuất tử sĩ". Đây là văn bản pháp quy đầu tiên khẳng định vị trí quan trọng của công tác thương binh, liệt sĩ và sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đến thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ.
Tháng 6/1947, đại biểu của Tổng bộ Việt Minh, Trung ương Hội phụ nữ Cứu quốc, Trung ương Đoàn thanh niên Cứu quốc, Cục Chính trị quân đội quốc gia Việt Nam, Nha Thông tin Tuyên truyền và một số địa phương đã họp tại Đại Từ (Bắc Thái) để bàn về công tác thương binh, liệt sĩ và thực hiện Chỉ thị Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn một ngày làm Ngày Thương binh-Liệt sĩ.
Tại cuộc họp này các đại biểu đã nhất trí chọn ngày 27 tháng 7 là ngày “Thương binh toàn quốc”. Từ đó, hằng năm cứ vào dịp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều gửi thư, quà thăm hỏi, động viên, nhắc nhở mọi người phải biết ơn và hết lòng giúp đỡ thương binh, gia đình liệt sĩ. Đặc biệt, từ sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh càng quan tâm hơn đến công tác thương binh, liệt sĩ.
Từ tháng 7/1955, Đảng và Nhà nước ta quyết định đổi “Ngày Thương binh toàn quốc” thành “Ngày Thương binh-Liệt sĩ” để ghi nhận những hy sinh lớn lao của đồng bào, chiến sĩ cả nước cho chiến thắng vẻ vang của toàn dân tộc.
Sau ngày giải phóng miền nam, thống nhất đất nước, theo Chỉ thị 223/CT-TW ngày 8/7/1975 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, từ năm 1975, ngày 27/7 hằng năm chính thức trở thành “Ngày Thương binh-Liệt sĩ” của cả nước.
Ý nghĩa của Ngày Thương binh-Liệt sĩ
Ngày Thương binh-Liệt sĩ có ý nghĩa lịch sử, chính trị, xã hội sâu sắc. Đó là:
Thể hiện sự tiếp nối truyền thống “hiếu nghĩa bác ái”, "uống nước nhớ nguồn", "ăn quả nhớ người trồng cây" của dân tộc; thể hiện sự biết ơn, trân trọng của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đối với những người đã hy sinh, cống hiến vì độc lập, tự do và thống nhất của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.
Khẳng định việc chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công là vinh dự, là trách nhiệm của các cấp, các ngành, tổ chức chính trị-xã hội và của mọi người, của thế hệ hôm nay và mai sau đối với sự cống hiến, hy sinh của các anh hùng, liệt sĩ, thương binh cho độc lập, tự do của dân tộc, cho hạnh phúc của Nhân dân.
Góp phần giáo dục truyền thống cách mạng, qua đó phát huy tinh thần yêu nước, củng cố và bồi đắp niềm tin vào sự nghiệp cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.
Địa điểm công bố Ngày Thương binh-Liệt sĩ
Cây đa, xóm Bàn Cờ, xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ, Bắc Thái (ngày nay là Tổ dân phố Bàn Cờ, thị trấn Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên) là nơi được chọn là địa điểm công bố Ngày Thương binh-Liệt sĩ 27/7.
Ngày 27/7/1997, nhân dịp kỷ niệm 50 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ, tại xóm Bàn Cờ, xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, nơi chứng kiến sự ra đời của Ngày Thương binh toàn quốc, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội cùng UBND tỉnh Thái Nguyên đã khánh thành Khu di tích 27/7 và dựng bia kỷ niệm với nội dung được khắc trên bia: "Nơi đây, ngày 27/7/1947, 300 cán bộ, bộ đội và đại diện các tầng lớp nhân dân địa phương họp mặt nghe công bố bức thư của Bác Hồ, ghi nhận sự ra đời của Ngày Thương binh, liệt sĩ ở nước ta".

“VÀO ĐẢNG, VÀO ĐOÀN KHÔNG PHẢI ĐỂ LÀM “QUAN” CÁCH MẠNG, HAY LÀ ĐỂ NÓI CHÍNH TRỊ SUÔNG. TẤT CẢ ĐẢNG VIÊN VÀ ĐOÀN VIÊN PHẢI RA SỨC TĂNG GIA SẢN XUẤT, THỰC HÀNH CÁC CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ CHÍNH PHỦ”

 “VÀO ĐẢNG, VÀO ĐOÀN KHÔNG PHẢI ĐỂ LÀM “QUAN” CÁCH MẠNG, HAY LÀ ĐỂ NÓI CHÍNH TRỊ SUÔNG. TẤT CẢ ĐẢNG VIÊN VÀ ĐOÀN VIÊN PHẢI RA SỨC TĂNG GIA SẢN XUẤT, THỰC HÀNH CÁC CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ CHÍNH PHỦ”

Là lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài: “Nói chuyện tại hội nghị sản xuất tỉnh Sơn Tây” (nay thuộc thành phố Hà Nội), ngày 08/7/1958. Đây là thời kỳ đầu sau khi miền Bắc tiến hành cải cách ruộng đất, xây dựng hợp tác xã, khôi phục sản xuất và khắc phục hậu quả chiến tranh. Người muốn nhắc nhở đội ngũ cán bộ, đảng viên, đoàn viên tỉnh Sơn Tây nói riêng, cả nước nói chung về trách nhiệm và quyết tâm trong lãnh đạo phát triển sản xuất; cần phải gương mẫu, tích cực, chủ động, sáng tạo, nói đi đôi với làm, triệt để tham gia vào tổ đổi công, bằng những việc làm cụ thể để “làm đầu tàu lôi cuốn quần chúng tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm” nhằm khắc phục những yếu kém trong sản xuất ở vụ trước để vụ sau giành kết quả cao hơn. Cán bộ, đảng viên, đoàn viên phải thực sự là những người tiền phong, gương mẫu trong thực hành các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, có phong cách làm việc cụ thể, tỉ mỉ, sâu sát quần chúng, biết làm gương và hướng quần chúng vào thực hiện tốt những nhiệm vụ trọng tâm trong từng thời kỳ nhất định.
Lời dạy của Người đã động viên, khích lệ cán bộ, đảng viên, đoàn viên trong cả nước đề cao trách nhiệm chính trị, tích cực hăng hái tham gia vào các tổ chức ở địa phương, đơn vị, thực sự là nòng cốt thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, nhiệm vụ của địa phương và cơ quan, đơn vị. Dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và sự làm gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, đoàn viên, đến năm 1960 đời sống của nhân dân miền Bắc đã từng bước ổn định, ý thức chính trị được nâng cao, kinh tế được khôi phục, văn hóa, giáo dục, y tế ngày càng phát triển.
Quán triệt, thực hiện lời dạy của Bác, mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên phụ nữ trong quân đội hiện nay phải luôn gương mẫu đi đầu trong chấp hành nghiêm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật quân đội; đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới”, các cuộc vận động của các cấp, các ngành. Kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; những biểu hiện quan liêu, xa dân, vi phạm dân chủ, nói không đi đôi với làm. Cán bộ, đảng viên, nhất là các đồng chí cán bộ chủ trì các cơ quan, đơn vị phải nêu cao tính tiền phong gương mẫu, thực hiện miệng nói tay làm, làm tốt, làm có hiệu quả cao, gương mẫu trong học tập, công tác và trong sinh hoạt, xông pha trong mọi nhiệm vụ nhất là những nhiệm vụ khó khăn, gian khổ để làm gương cho bộ đội noi theo.

BỆNH VIỆN DÃ CHIẾN CẤP 2 SỐ 4 HOÀN THÀNH XUẤT SẮC NHIỆM VỤ TẠI PHÁI BỘ GÌN GIỮ HÒA BÌNH LIÊN HỢP QUỐC NAM XU-ĐĂNG

 BỆNH VIỆN DÃ CHIẾN CẤP 2 SỐ 4 HOÀN THÀNH XUẤT SẮC NHIỆM VỤ TẠI PHÁI BỘ GÌN GIỮ HÒA BÌNH LIÊN HỢP QUỐC NAM XU-ĐĂNG

Đêm ngày 09/7, tại Cảng hàng không Quốc tế Nội Bài, Cục Gìn giữ hòa bình Việt Nam phối hợp với Học viện Quân y và các đơn vị liên quan tổ chức Lễ đón Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 4 (BVDC2.4) hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tại Phái bộ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc Nam Xu-đăng về nước an toàn.
Tham dự Lễ đón có các đồng chí: Đại tá Phạm Mạnh Thắng, Cục trưởng Cục Gìn giữ hòa bình Việt Nam; Đại tá, PGS. TS Nguyễn Văn Nam, Phó Chính ủy Học viện Quân y; Thiếu tướng, GS, TS Trần Viết Tiến, Giám đốc Bệnh viện Quân y 103; Tùy viên Quốc phòng Australia tại Việt Nam; đại biểu Cục Quân y, Tổng cục Hậu cần; Ban Phụ nữ Quân đội, Tổng cục Chính trị; đại diện chỉ huy các đơn vị liên quan, các đại biểu quốc tế, cùng thân nhân, gia đình cán bộ, nhân viên BVDC 2.4.
Trong nhiệm kỳ công tác, 100% cán bộ, nhân viên BVDC2.4 có tư tưởng vững vàng, có khát khao cống hiến và phấn đấu vượt mọi khó khăn để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Bệnh viện đã thu dung điều trị cho 1468 lượt bệnh nhân đảm bảo đúng quy trình, an toàn, trong đó đã xử lý thành công nhiều ca cấp cứu y tế phức tạp, yêu cầu đòi hỏi trình độ chuyên môn cao; khám chữa bệnh ngoại trú: 1431 lượt bệnh nhân; nội trú: 37 bệnh nhân, phẫu thuật lớn: 08 bệnh nhân; phẫu thuật vừa và nhỏ: 10 bệnh nhân; vận chuyển cấp cứu đường không: 09 bệnh nhân; điều trị y học cổ truyền và vật lý trị liệu 150 bệnh nhân tương ứng với khoảng 1300 liệu trình điều trị. Cấp cứu và xử trí thành công nhiều ca bệnh nội khoa nặng như: sốc phản vệ, viêm tụy cấp, suy thận cấp, sốt rét ác tính, các tổn thương vết thương do tai nạn phức tạp cho các quân nhân của các nước cử quân công tác tại Phái bộ; điều trị cho hơn 20 bệnh nhân nhiễm Covid-19, 32 bệnh nhân mắc sốt rét, 08 bệnh nhân mắc thương hàn... Đặc biệt bệnh viện mổ thành công 01 ca sản khoa thai 38 tuần. Các ca bệnh đều đảm bảo an toàn, bệnh nhân hài lòng, luôn có ấn tượng tốt đẹp và giành nhiều lời khen tặng về tinh thần trách nhiệm, thái độ tận tình chu đáo và năng lực chuyên môn, tính chuyên nghiệp của cán bộ, nhân viên y tế của BVDC2.4 Việt Nam; hỗ trợ Bệnh viện đa khoa thị trấn Bentiu khám chữa bệnh cho người dân địa phương, hỗ trợ các vật tư trang thiết bị y tế, thuốc và thực phẩm chức năng bổ trợ, huấn luyện chuyên môn cho Bệnh viện địa phương và các đơn vị bạn trong Phái bộ; dạy các em nhỏ chơi trò chơi dân gian, tìm hiểu văn hóa Việt Nam, các ngày lễ, dạy các em làm đồ chơi truyền thống Việt Nam; trồng hàng trăm cây xanh (cây Bàng, Phượng vĩ) cho các trường học, bệnh viện, làng bản và xung quanh khu vực đóng quân tạo môi trường xanh, nhiều bóng mát tại Bentiu. Tặng quà gồm nhiều sách vở, giấy viết, bút, mực, đồ chơi, quần áo và dầy dép cho học sinh người địa phương khu vực Bentiu...; nhiều lần được đón đoàn kiểm tra của Phái bộ và Liên hợp quốc thăm và đánh giá toàn diện các mặt hoạt động của Bệnh viện bao gồm: Chuyên môn y tế, Quân sự, Hậu cần Kỹ thuật, sẵn sàng chiến đấu,... Qua các lần kiểm tra BVDC2.4 Việt Nam đều đạt kết quả tốt và xuất sắc.
Bệnh viện cũng thường xuyên tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa, thể dục thể thao, nhân dịp các ngày Lễ Tết của dân tộc như Quốc khánh 02/9, Ngày thành lập QĐND Việt Nam 22/12, Tết cổ truyền Việt Nam…, các ngày lễ và sự kiện của phái bộ và phân khu nhằm quảng bá hình ảnh đất nước, con người, văn hóa Việt Nam đến bạn bè Quốc tế, qua đó góp phần tuyên truyền về văn hóa, truyền thống dân tộc Việt Nam, QĐND Việt Nam, phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ; làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, nâng cao cảnh giác cách mạng, giữ gìn bí mật quân sự, bí mật quốc gia; xây dựng đơn vị an toàn tuyệt đối.
Đại tá Phạm Mạnh Thắng, Cục trưởng Cục Gìn giữ hòa bình Việt Nam khẳng định: Trong nhiệm kỳ công tác tại Phái bộ Liên hợp quốc Cộng hòa Nam Xu- đăng vừa qua, BVDC2.4 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Liên hợp quốc và Bộ Quốc phòng giao phó. Những đóng góp của cán bộ, nhân viên BVDC2.4 đã góp phần gìn giữ nền Hòa bình tại Nam Xu-đăng đồng thời nâng cao uy tín và hình ảnh Việt Nam, hình ảnh con người Việt Nam và Quân đội Nhân dân Việt Nam trên trường Quốc tế.
Với những thành tích đạt được trong nhiệm kỳ vừa qua, 100% cán bộ, nhân viên BVDC2.4 Việt Nam đã được Liên hợp quốc tặng Huy chương vì sự nghiệp gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc; Tư lệnh lực lượng (Force Commander) phái bộ UNMISS tặng Bằng khen cho tập thể Bệnh viện và 05 cá nhân đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ./.

XUYÊN TẠC CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG - THỦ ĐOẠN BỈ ỔI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 XUYÊN TẠC CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG - THỦ ĐOẠN

BỈ ỔI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH
Cách đây 76 năm, ngày 27-7-1947, “Ngày Thương binh toàn quốc” đầu tiên đã được tổ chức ở nước ta. Mở đầu bằng cuộc mít tinh lớn được tổ chức tại xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ (Thái Nguyên). Tại cuộc mít tinh, các đại biểu đã nghe đại diện Chính trị Cục Quân đội Quốc gia Việt Nam đọc thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Ban Thường trực của Ban Tổ chức ngày thương binh toàn quốc. Trong thư Bác viết: “… Thương binh là những người đã hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào, vì lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào mà các đồng chí đó bị ốm yếu…”, “… Vì vậy, Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy…”. Ngày Thương binh toàn quốc sau đó đã được sửa đổi thành “Ngày Thương binh, liệt sĩ”.
Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, mặc dù đất nước còn gặp nhiều khó khăn, nhưng Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo công tác thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng. Từ năm 1947 đến nay, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng đã được xây dựng, ban hành tương đối toàn diện, đầy đủ và kịp thời, được ghi trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và được chế định thành các văn bản quy phạm pháp luật cùng nhiều chính sách ưu đãi khác; đã thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước thành cơ sở pháp lý cho việc triển khai thực hiện đồng bộ các chính sách, chế độ ưu đãi đối với người có công và thân nhân.
Ngày Thương binh, liệt sĩ 27-7 có ý nghĩa quan trọng với toàn dân Việt Nam, đó là ngày thể hiện truyền thống “hiếu nghĩa bác ái”, lòng quý trọng và biết ơn của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đối với những chiến sĩ đã hy sinh vì nền độc lập, tự do và thống nhất của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Ngày 27-7 cũng là ngày phát huy tinh thần yêu nước, củng cố và bồi đắp niềm tin vào sự nghiệp cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.
Thế nhưng, thay vì đồng lòng, ủng hộ các hoạt động thể hiện đạo lý truyền thống tốt đẹp của dân tộc, những năm gần đây, vào dịp kỷ niệm Ngày Thương binh, liệt sĩ vẫn có tiếng nói lạc lõng, xuyên tạc về chính sách Thương binh, liệt sĩ và người có công. Thâm độc hơn, chúng còn đánh đồng người hy sinh, cống hiến vì cách mạng với người ngã xuống trong chiến tranh mà không tham gia, cống hiến gì, thậm chí là kẻ cam tâm làm tay sai cho thực dân đế quốc, phản bội Tổ quốc; đồng thời, gây ra những hành động cụ thể để hạ thấp, phủ nhận sự hy sinh, cống hiến của người có công; cho rằng, đất nước được giải phóng là do công sức của toàn dân tộc chứ không riêng gì thương binh, liệt sĩ.
Từ đầu năm 2023 đến nay, lợi dụng những khó khăn do tình hình thế giới diễn biến phức tạp, một số địa phương tăng trưởng kinh tế chậm lại, người lao động thiếu việc làm, các thế lực thù địch đã viết bài, đưa thông tin, hình ảnh… trên mạng xã hội trắng trợn xuyên tạc, cố ý lập lờ, đánh tráo giá trị, “đổi trắng, thay đen” nhằm gây xáo trộn tư tưởng, tạo hoài nghi về chính sách an sinh xã hội, ưu đãi đối với người có công, Chúng “phân tích” rằng, kinh kế Việt Nam chậm phát triển là do gánh nặng của chính sách xã hội, trong đó có chi nhiều cho thương binh, liệt sĩ, người có công. Mục đích kích động chống phá Đảng, Nhà nước, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Bất chấp đạo lý, các thế lực thù địch, phần tử bất mãn, cơ hội chính trị, phản động luôn tìm mọi âm mưu, thủ đoạn để xuyên tạc, chống phá. Họ hạ thấp sự hy sinh của các anh hùng liệt sĩ, thương binh trong quá trình giải phóng dân tộc, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với người có công nhằm kích động, chống phá chế độ, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ Đảng với nhân dân.
Những thủ đoạn trên tuy không phải chiêu trò mới mà các thế lực thù địch thực hiện trong chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, xuyên tạc, phủ nhận, hạ thấp sự hy sinh to lớn của các anh hùng liệt sĩ, thương binh, người có công là thủ đoạn thể hiện sự tột cùng của bản chất bất nhân, vô ơn, bạc nghĩa để phục vụ mục tiêu chống phá, tạo ra nhận thức lệch lạc, làm suy giảm lòng tin của một bộ phận quần chúng nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đó là tội ác mới cần phải được vạch trần và lên án.
76 năm qua, vào dịp 27-7, nhiều hoạt động tri ân và tôn vinh các anh hùng liệt sĩ, những người có công với cách mạng đã diễn ra trên khắp mọi miền Tổ quốc. Việc chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công là sự vinh dự, là trách nhiệm của các cấp, các ngành, tổ chức chính trị - xã hội và của mọi người, của thế hệ hôm nay và cả mai sau.
Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn trân trọng những cống hiến, hy sinh to lớn của đồng bào, chiến sĩ đối với Tổ quốc. Không thể xuyên tạc được chính sách đối với người có công hợp lý, hợp tình, hợp pháp và hợp lòng dân của chúng ta./.

VẠCH TRẦN NHỮNG MƯU ĐỒ ĐỘC ÁC: CẢNH GIÁC VÀ CHỦ ĐỘNG TRƯỚC ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ

 VẠCH TRẦN NHỮNG MƯU ĐỒ ĐỘC ÁC: CẢNH GIÁC VÀ CHỦ ĐỘNG TRƯỚC ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ

Tìm cơ hội để bóp méo, xuyên tạc sự thật, kích động chia rẽ; dùng các chiêu bài tuyên truyền tư tưởng ly khai, tự trị bằng những luận điệu nham hiểm, dối trá - đó là những thủ đoạn không có gì mới của các tổ chức phản động lưu vong và những kẻ xấu đang hiện hữu trong các buôn làng. Bằng các biện pháp nghiệp vụ của lực lượng chức năng, bằng sự đấu tranh kiên quyết của nhân dân, nhiều tổ chức của chúng đã bị phá vỡ, nhiều đối tượng đã chịu sự trừng phạt của pháp luật.
Lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo và dựng lên các tổ chức đội lốt để thực hiện mưu đồ là phương thức mà bọn phản động Fulro lưu vong đã và đang sử dụng và chúng coi đây là các chiêu bài hữu hiệu, đắc lợi. Thời kỳ trước, chúng dùng “Tin lành Ðêga” hay “Quỹ người Thượng” để tập hợp lực lượng, kích động tâm lý ly khai, xúi giục, lôi kéo đồng bào dân tộc thiểu số nhẹ dạ gây nên các cuộc bạo loạn và điểm nóng chính trị. Gần đây, vẫn tiếp tục âm mưu thành lập “nhà nước Tây Nguyên tự trị”, chúng lập mới các tổ chức phản động đội lốt tôn giáo mang tên “Giáo hội Tin lành đấng Christ Việt Nam” rồi “Giáo hội Tin lành đấng Christ Tây Nguyên”.
Theo tài liệu do cơ quan công an công bố: Cái gọi là “Tin lành đấng Christ” là một tổ chức do cựu đại tá-Bộ trưởng Ngoại giao Fulro 3 Y Hin Niê đang lưu vong tại Mỹ lập ra. Tổ chức này có trụ sở chính tại bang North Carolina (Mỹ) và chi nhánh ở vài quốc gia khác. Tên trùm Fulro này thông qua tổ chức đội lốt tôn giáo để tập hợp lực lượng, kích động đồng bào tư tưởng ly khai, tự trị nhằm hướng đến mục đích thành lập “nhà nước riêng” và “tôn giáo riêng”.
Vô cùng nguy hiểm là từ nước ngoài, chúng thò nọc độc về Việt Nam và dựng nên các chân rết trong vùng đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên và một số tỉnh, thành phố khác ở trong nước. Với tinh thần cảnh giác cao độ, đấu tranh tích cực, từ năm 2017 đến nay, chúng ta đã bóc gỡ và xử lý theo pháp luật hàng chục đối tượng cốt cán của tổ chức phản động này. Tuy nhiên, mầm độc của chúng vẫn gieo rắc khắp nơi.
Dù hình thức, tên gọi khác nhau, nhưng bản chất của các tổ chức phản động lưu vong đều giống nhau. Nhóm “Người Thượng vì công lý” cũng là một thí dụ. Tổ chức này do tên Y Phíc Hdok (lưu vong tại Mỹ), Y Quynh Bdăp (lưu vong tại Thái Lan) cùng 15 đối tượng phản động, lưu vong khác nhóm lại. Tại nước ngoài, chúng câu kết với các tổ chức Fulro lưu vong (MHRO, MRO…) và “Ủy ban cứu trợ người vượt biển”-BPSOS.
Thông qua mạng xã hội, các đối tượng tìm cách liên lạc, kích động những người trong nước thiếu hiểu biết, thu thập thông tin sai sự thật nhằm mục đích xuyên tạc, vu cáo chính quyền phân biệt đối xử, đàn áp đồng bào. Chúng đã dùng những thông tin dối trá ấy làm các bản “báo cáo nhân quyền”, “nạn nhân tôn giáo bị đàn áp”,… nhằm phục vụ những âm mưu đen tối.
Dù luận điệu, hành vi của các phần tử chống phá chế độ, chống phá cuộc sống bình yên của miền đất đại ngàn có xảo trá đến đâu thì cũng không thể che đậy được bộ mặt của chúng, bộ mặt của những kẻ phản bội Tổ quốc, phản bội buôn làng và đồng bào ruột thịt. Rất đáng tiếc, một số tổ chức và cơ quan truyền thông quốc tế thiếu thiện chí với Việt Nam lại tích cực “cổ vũ”, “đồng hành” và bênh vực cho cái xấu, kẻ ác.
Ví như, trong khi nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế đang cực lực lên án vụ tấn công khủng bố tại huyện Cư Kuin (Ðắk Lắk) thì một tờ báo tiếng Việt ở hải ngoại ngày 23/5/2023 đăng bài “Câu chuyện Tây Nguyên và người dân sắc tộc núi rừng trong lòng tôi”. Nội dung bài viết này cố tình đưa ra những luận điểm xuyên tạc sự thật, như “người Kinh đang đối xử với các sắc tộc Tây Nguyên hơn cả thực dân”; hay “có quá nhiều người sắc tộc ở Tây Nguyên nói họ không được phép thực hành niềm tin tôn giáo họ chọn”.
Hoặc đưa ra góc bình luận bóp méo, đầy tính thù địch rằng: “Ðảng Cộng sản Việt Nam luôn đi ngược lại chính sách đại đoàn kết dân tộc và giờ đây lại còn đổ vấy trách nhiệm về biến cố xả súng ở huyện Cư Kuin”. Tác giả bài viết này còn kích động sự chia rẽ cộng đồng các dân tộc bằng sự xảo ngôn, đánh lái nguy hiểm: Người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên “không chịu được sự áp đảo hiện nay bởi sự thống trị của người Việt đến từ đồng bằng”. Hay ở một bài viết khác thì cố tình đưa ra nhận định xuyên tạc rằng: “người Thượng tấn công chính quyền vì tức nước vỡ bờ”…
Với những cách truyền thông sai lệch, bóp méo trên, các bài viết nhằm hướng dư luận của cộng đồng quốc tế về phía bất lợi cho Việt Nam; cố tình khoét sâu mâu thuẫn, tạo sự bất ổn và kêu gọi các quốc gia, các tổ chức quốc tế can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam…
Có thể thấy các thế lực phản động, thù địch luôn rêu rao rằng, đồng bào Tây Nguyên bị kỳ thị, bị phân biệt đối xử, bị đàn áp và bị xóa nhòa bản sắc văn hóa! Thực tế lại trái ngược hoàn toàn. Hiện thực Tây Nguyên hôm nay với những thành tựu to lớn về kinh tế-xã hội, về sự tiến bộ trong vấn đề bảo đảm nhân quyền, sự khởi sắc vượt bậc trong đời sống vật chất và tinh thần của hàng triệu đồng bào là minh chứng rõ ràng và thuyết phục về những đổi thay kỳ diệu trên xứ sở đại ngàn.
Ngày xưa, dù sống giữa vùng đất Tây Nguyên với kho tàng tiềm năng giàu có nhưng đồng bào các dân tộc thiểu số trên miền thượng du này mãi đắm chìm trong đói nghèo, lạc hậu. Hai cuộc xâm lăng, giày xéo của kẻ thù lên đất nước ta, người Tây Nguyên cũng cùng chung thân phận nô lệ như các dân tộc anh em trên mọi miền Tổ quốc. Ðánh Pháp, đuổi Mỹ thành công, nước nhà thống nhất, đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên thực sự được giải phóng; được làm công dân của một nước độc lập; được phát triển bình đẳng giữa cộng đồng các dân tộc anh em.
Từ ngày hết chiến tranh, Ðảng và Nhà nước đã triển khai nhiều nghị quyết, tổ chức nhiều chương trình và đầu tư những nguồn lực lớn để phát triển Tây Nguyên. Nhất là từ khi có Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị khóa IX về “Phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm an ninh-quốc phòng vùng Tây Nguyên”, nguồn lực tập trung đầu tư ngày càng cao, từng bước khơi dậy tiềm năng, thế mạnh của địa bàn chiến lược này.
Gần đây, để đẩy nhanh hơn nữa tốc độ phát triển vùng Tây Nguyên, ngày 6/10/2022, Bộ Chính trị khóa XIII đã ban hành Nghị quyết về “Phương hướng phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Nghị quyết xác định mục tiêu đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2045, Tây Nguyên sẽ trở thành vùng phát triển bền vững, có nền kinh tế xanh, tuần hoàn…
Ðường lối nhất quán của Ðảng ta là bảo đảm quyền tộc người, quyền bảo vệ văn hóa tộc người. Cũng như các dân tộc anh em, các dân tộc thiểu số Tây Nguyên có quyền tự do quyết định vị thế xuất thân, quyền sử dụng ngôn ngữ, khẳng định sự bình đẳng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Thành tựu về bảo tồn, phát huy di sản văn hóa các dân tộc Tây Nguyên trong nhiều năm qua rất đáng ghi nhận. Ở Tây Nguyên không có sự kỳ thị sắc tộc mà chỉ có sự tôn trọng các giá trị đặc thù. Bản sắc văn hóa cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên được bảo tồn, phát huy và lan tỏa các hệ giá trị.
Các đối tượng chống phá rêu rao rằng, chính quyền Việt Nam đàn áp tôn giáo. Chúng luôn cáo buộc Nhà nước ta không bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng trong cộng đồng các dân tộc thiểu số Tây Nguyên. Lập luận của chúng đã cố tình phớt lờ thực tế, xuyên tạc sự thật; dùng xảo ngôn để che đậy những hành vi lợi dụng, đội lốt tôn giáo thực hiện chống phá. Thực tế, Tây Nguyên là một không gian sinh hoạt lý tưởng của các cộng đồng tôn giáo khác nhau.
Theo thống kê, vùng Tây Nguyên là một địa bàn có nhiều tổ chức tôn giáo, trong đó chủ yếu là Công giáo, Phật giáo, Tin lành và Cao đài với tổng số 2,3 triệu tín đồ, gần 4.000 chức sắc, 10.000 chức việc và trên 1.300 cơ sở thờ tự. Trong đó, Công giáo có trên 1,1 triệu tín đồ, khoảng 1.000 chức sắc, trên 2.500 chức việc và 500 cơ sở thờ tự; Phật giáo có 670.000 tín đồ, khoảng 1.900 chức sắc, 2.800 chức việc và khoảng 570 cơ sở thờ tự. Ðạo Tin lành có khoảng 580.000 tín đồ thuộc 33 tổ chức, hệ phái, nhóm đang sinh hoạt tại 311 chi hội, 183 nhà thờ, hơn 1.700 điểm nhóm được chính quyền địa phương cấp đăng ký sinh hoạt…
Các cấp ủy và chính quyền ở Tây Nguyên luôn phát huy vai trò, thế mạnh, những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và nguồn lực của các tôn giáo vào sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội, đặc biệt là các lĩnh vực an sinh xã hội, bảo vệ môi trường; khuyến khích và tạo điều kiện cho tôn giáo góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống. Cổ vũ mặt tích cực nhưng chúng ta cũng không dung thứ việc lợi dụng các hoạt động tôn giáo gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Những kẻ giả hiệu tôn giáo để chống phá cuộc sống bình yên của buôn làng chắc chắn sẽ bị pháp luật trừng trị.
Tây Nguyên là địa bàn chiến lược quốc gia. Không ai muốn nhớ lại những câu chuyện buồn từng xảy ra và vừa mới xảy ra trên vùng đất tươi đẹp này. Nhưng vì sự phát triển thịnh vượng vùng đại ngàn phía tây Tổ quốc, chúng ta cần phải lưu tâm sâu sắc các sự kiện này như một phần ký ức đáng phải suy nghĩ, những bài học thấm thía và đau lòng. Muốn giữ gìn sự bình yên, Tây Nguyên phải xây dựng cho mình sức mạnh nội sinh, tạo nên nguồn kháng thể mạnh mẽ trước mọi khó khăn, biến động.
Bên cạnh tập trung nguồn lực đầu tư, cấp ủy và chính quyền các tỉnh trong khu vực cần phát huy trí tuệ trong hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo; có những điều chỉnh phù hợp, khắc phục những bất cập, hạn chế trong việc thực hiện các chính sách, nhất là chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Cùng với phấn đấu không mệt mỏi vì sự nghiệp phát triển quê hương và nâng cao đời sống nhân dân, chúng ta cần đề cao cảnh giác trước mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch.

BỔ SUNG NGUỒN NHÂN LỰC TRẺ, TRÍ THỨC CHO ĐẢNG

 BỔ SUNG NGUỒN NHÂN LỰC TRẺ, TRÍ THỨC CHO ĐẢNG

Phát triển đảng viên là học sinh trường trung học phổ thông đã và đang được cấp ủy nhiều tỉnh, thành phố quan tâm. Đây là chủ trương mang ý nghĩa sâu sắc, cần được đẩy mạnh thực hiện tốt hơn trong thời gian tới.
1. Thực tế thời gian qua có nhiều cách làm, kinh nghiệm về phát triển đảng viên trong học sinh của các địa phương, tổ chức Đảng, trường học. Song, một số ý kiến còn băn khoăn về độ tuổi, nêu khó khăn chưa có văn bản quy định, hướng dẫn cụ thể.
Để làm rõ vấn đề này, trước hết cần thống nhất nhận thức, đội ngũ đảng viên là nhân tố quyết định năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng hơn 93 năm qua, Đảng ta luôn quan tâm phát triển đảng viên, chú trọng phát hiện, bồi dưỡng kết nạp vào Đảng những quần chúng ưu tú nhằm tăng cường xây dựng đội ngũ đảng viên cả về số lượng và chất lượng, bảo đảm sự kế thừa và phát triển liên tục của Đảng.
Tới Đại hội XIII của Đảng, công tác phát triển đảng viên tiếp tục được quan tâm. Nghị quyết số 21-NQ/TƯ, ngày 16-6-2022, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về “Tăng cường củng cố xây dựng tổ chức cơ sở Đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới” đã đề ra nhiệm vụ, giải pháp đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác kết nạp đảng viên; trong đó xác định phải quan tâm phát triển đảng viên trong công nhân, cán bộ quản lý trong doanh nghiệp, khu vực ngoài nhà nước, nông dân, trí thức, thanh niên, sinh viên.
Chủ trương kết nạp đảng viên là học sinh đang được đẩy mạnh. Đối tượng kết nạp chủ yếu là học sinh lớp 12 ở độ tuổi 18 trẻ trung và đầy nhiệt huyết. Các em đều phải có học lực từ khá trở lên; tích cực tham gia các hoạt động đoàn thanh niên; có phẩm chất chính trị vững vàng; có lý tưởng sống cao đẹp; được bồi dưỡng nhận thức về Đảng Cộng sản Việt Nam… Báo cáo của Ban Tổ chức Trung ương cho thấy, tổng số đảng viên được kết nạp là học sinh từ năm 2020 đến năm 2022 trên phạm vi toàn quốc là 5.042 đảng viên. Số lượng, cơ cấu đảng viên được kết nạp là học sinh có chuyển biến theo hướng tích cực.
Kết nạp đảng viên là học sinh là thực hiện đúng chủ trương đổi mới, nâng cao chất lượng đảng viên của Đảng trong giai đoạn mới. Đồng thời, việc sớm nhìn nhận, đánh giá và công nhận nỗ lực của các em sẽ tiếp thêm động lực cho thế hệ trẻ phấn đấu. Thanh niên là tương lai của nước nhà; cũng là độ tuổi sung sức nhất về thể chất, phát triển trí tuệ, nên càng cần được quan tâm và tạo điều kiện rèn luyện để trưởng thành. Trong lịch sử của Đảng ta, thế hệ cán bộ lãnh đạo cách mạng hầu hết đều sớm giác ngộ và được kết nạp vào Đảng khi ở độ tuổi “mười tám, đôi mươi”. Nhờ được đưa vào tổ chức từ sớm để rèn luyện, phấn đấu, nhiều đồng chí đã nhanh chóng trưởng thành, được giao đảm đương những vị trí lãnh đạo quan trọng; tiêu biểu như các đồng chí Trần Phú, Nguyễn Văn Cừ được phân công làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam khi còn trẻ.
Điều này càng cho thấy, việc quan tâm bồi dưỡng, kết nạp sớm những thanh niên ưu tú ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường trung học phổ thông là rất cần thiết, phải được quan tâm tổ chức bài bản, khoa học và rộng khắp.
2. Để làm tốt nhiệm vụ này, cần xác định đây là nhiệm vụ khó, phải huy động sự quan tâm và sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, trước hết là nêu cao tinh thần trách nhiệm, quyết tâm của cấp ủy Đảng. Người đứng đầu cấp ủy cấp huyện, tổ chức Đảng trong nhà trường trung học phổ thông cần nhận thức sâu sắc, đầy đủ ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác phát triển đảng viên trong học sinh; cụ thể hóa các nghị quyết, kế hoạch, chỉ thị; đưa ra chỉ tiêu, giao trách nhiệm cụ thể và có kiểm tra, đôn đốc thực hiện một cách tâm huyết, trách nhiệm.
Đảng bộ, chi bộ các nhà trường thường xuyên chăm lo công tác xây dựng Đảng, xây dựng Đoàn; thực hiện tốt phương châm “Xây dựng nhà trường văn hóa; nhà giáo mẫu mực; học sinh thanh lịch”; tiếp tục làm tốt chức năng “Dạy chữ, rèn người”. Cần phải tuyên truyền để tạo sự thống nhất, đồng thuận cao giữa nhà trường, gia đình và xã hội để có sự phối hợp chặt chẽ trong bồi dưỡng, hỗ trợ, tạo điều kiện cho các học sinh ưu tú xác định rõ mục tiêu, lý tưởng, phấn đấu, rèn luyện đáp ứng các tiêu chuẩn của người đảng viên. Đặc biệt là phải tổ chức tốt hoạt động Đoàn và phong trào thanh niên trong nhà trường, qua đó tạo môi trường để bồi dưỡng nhận thức chính trị, đồng thời phát hiện những nhân tố mới để kịp thời theo dõi, bồi dưỡng, rèn luyện. Vừa qua, một số nhà trường ở Hà Nội thực hiện tốt công tác phát triển đảng viên trong học sinh đều có các mô hình tuyên truyền, giáo dục truyền thống sáng tạo được tổ chức bài bản như mô hình Câu lạc bộ “Em yêu lịch sử” của Trường Trung học phổ thông chuyên Hà Nội - Amsterdam là ví dụ.
Để bảo đảm thực hiện công tác phát triển đảng viên trong học sinh một cách bài bản, chất lượng, hiệu quả cao, cấp ủy cấp tỉnh cần có hướng dẫn cụ thể, thống nhất về tiêu chí, lựa chọn giới thiệu; thống nhất trong tổ chức thẩm tra, xác minh hồ sơ kết nạp đảng viên phù hợp với điều kiện ưu tiên về việc dạy và học trong nhà trường.
Điều quan trọng hơn là sau khi kết nạp, tổ chức Đảng phải tiếp tục rèn giũa cho các em để thực sự xứng đáng là người đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, góp phần bổ sung nguồn nhân lực trẻ, trí thức cho Đảng.