Thứ Tư, 12 tháng 7, 2023

Những nhận định sai lệch của USCIRF về tôn giáo ở Việt Nam

 (TG) - Gần đây, Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Mỹ (USCIRF) đã đưa ra các nhận định thiếu khách quan, sai lệch về tình hình tôn giáo Việt Nam, tiếp tục khuyến nghị Bộ Ngoại giao Mỹ đưa Việt Nam vào danh sách “Các nước cần quan tâm đặc biệt - CPC”. Lợi dụng việc này, các trang mạng phản động đã đăng tải nhiều bài viết xuyên tạc về tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.

Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm quyền lợi tự do tín ngưỡng tôn giáo của người dân

Với cách nhìn phiến diện, thiếu thiện chí, USCIRF cho rằng chính quyền Việt Nam đã “tăng cường kiểm soát và đàn áp”, “đàn áp tôn giáo một cách nghiêm trọng”, “sách nhiễu, bức hại”, “ép buộc”, “tước đoạt tài sản”... Theo đó, những cái gọi là tổ chức/hội/nhóm “tôn giáo độc lập” đã được USCIRF “xướng tên” để “làm ví dụ” như “Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất”, “Hội đồng Liên tôn Việt Nam”, “Cao Đài Chơn truyền”, “Phật giáo Hòa Hảo độc lập”, “Đạo Dương Văn Mình”, “Pháp Luân Công”, “Đạo Hà Mòn”, “Hội thánh Đức Chúa Trời”... Thực chất, đây là những tổ chức khoác áo tôn giáo, hoạt động trái pháp luật, không được Nhà nước công nhận và không được cấp đăng ký hoạt động tôn giáo; trong đó có nhiều hội/nhóm tà đạo, giả danh, đội lốt tín ngưỡng, tôn giáo để trục lợi, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam.

Đối với những cá nhân mà USCIRF cho là “tù nhân tôn giáo”. Họ là ai? Đây là một số người Thượng và người Mông theo đạo Tin Lành (Tin Lành Đềga) và một số chức sắc trong các tôn giáo có những hoạt động sai trái, vi phạm cả việc Đạo và Đời, bị xử lý theo pháp luật hiện hành của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những cá nhân này cũng đã bị các tổ chức tôn giáo kỷ luật, tín đồ lên án, tẩy chay... 

Theo giọng điệu của các trang mạng phản động, những “nhận định” của USCIRF được “Giới hoạt động cho tự do tôn giáo Việt Nam bày tỏ sự đồng tình”. Tuy nhiên, cái gọi là “Giới hoạt động cho tự do tôn giáo...” lại chỉ là những kẻ lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam. 

Chúng ta kiên quyết phản đối những nội dung thiếu khách quan, không chính xác về tình hình tôn giáo ở Việt Nam của USCIRF; đồng thời kiên quyết đấu tranh bác bỏ những luận điệu phản động, chống phá, “a dua, a tòng”, thiếu thiện chí. Bởi những lý do sau:

Bác bỏ những luận điệu phản động về Tây Nguyên và người Thượng

       Những suy diễn, nhận định không khách quan, không đúng bản chất vấn đề về Tây Nguyên và người Thượng của các thế lực thù địch là nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc và chống phá Đảng, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm, tặng quà gia đình thương binh tỉnh Gia Lai.

Nhân sự kiện 2 nhóm đối tượng sử dụng vũ khí tấn công trụ sở công an xã Ea Tiêu và Ea Ktur trên địa bàn huyện Cư Kuin ngày 11/6/2023, mạng xã hội xuất hiện không ít những bài viết nhân danh tôn giáo, nhân quyền để xuyên tạc tình hình chính trị, kinh tế, xã hội ở Tây Nguyên là “bị ngăn cách với thế giới”, “bị cô lập”, bị “chính quyền áp đặt văn hóa và mị dân”. Đồng thời, bôi đen sự thật khi cho rằng người Thượng bị “o ép”, bị “ngăn cản” cấm không được ra nước ngoài, bị “cấm không được theo đạo Tin Lành”, bị “người Kinh cướp đất” nên bức xúc “tấn công chính quyền vì tức nước vỡ bờ”’… Song sự thật thì “đây là vụ khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, nằm trong âm mưu, hoạt động của số phản động Fulro lưu vong nhằm thành lập “Nhà nước Đề ga”, gây ra bất ổn đối với Đắk Lắk nói riêng và Tây Nguyên nói chung” như đồng chí Trương Thị Mai, Thường trực Ban Bí thư đã nhấn mạnh tại Hội nghị đánh giá công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện chủ trương đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến địa bàn Tây Nguyên, tổ chức ngày 7/7/2023 vừa qua.

Giải quyết mối quan hệ giữa ban cán sự đảng với tổ chức đảng trong các bộ, ngành để nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng

 TCCS - Thời gian qua, hoạt động của ban cán sự đảng và đảng ủy cơ quan bộ, ngành nói chung đã được thực hiện theo đúng quy định của Điều lệ Đảng và các quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, hoạt động của ban cán sự đảng và đảng ủy cơ quan nảy sinh một số vấn đề, cần có những giải pháp giải quyết kịp thời, góp phần nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng.

Khái quát về ban cán sự đảng và đảng ủy cơ quan trong các bộ, ngành

Ban cán sự đảng của các bộ, ngành ở Trung ương là tổ chức đảng do Ban Bí thư thành lập, chịu sự lãnh đạo trực tiếp và thường xuyên của Ban Bí thư, thực hiện chức năng lãnh đạo, chỉ đạo đối với các bộ, ngành do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ theo quy định của Điều lệ Đảng và các quy định, hướng dẫn của Trung ương.

Ngày 14-12-1992, Bộ Chính trị khóa VII đã ban hành Quyết định số 48-QĐ/TW, “Về việc lập ban cán sự đảng ở các bộ và cơ quan ngang bộ”. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam từ Đại hội VIII đến Đại hội XI đều quy định về lập ban cán sự đảng trong cơ quan hành pháp, tư pháp cấp trung ương và cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Ngày 7-3-2013, Bộ Chính trị khóa XII ban hành Quy định số 172-QĐ/TW, “Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức, mối quan hệ công tác của đảng đoàn, ban cán sự đảng ở Trung ương”. Tiếp đó, ngày 7-2-2023, Bộ Chính trị ban hành Quy định số 97-QĐ/TW, về “Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức, mối quan hệ công tác của đảng đoàn, ban cán sự đảng ở Trung ương” chỉ rõ nhiệm vụ của ban cán sự đảng ở các bộ, ngành trung ương:

1- Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chủ trương, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phương hướng, nhiệm vụ chính trị của cơ quan, ngành, lĩnh vực được phân công; tổ chức bộ máy, cán bộ theo thẩm quyền, phân cấp; lãnh đạo công tác kiểm tra việc chấp hành chủ trương, quy định của Đảng; phối hợp với các cấp ủy đảng thực hiện công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong đảng bộ.

2- Ban cán sự đảng thảo luận tập thể, biểu quyết và quyết nghị các vấn đề sau:

- Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của ngành, lĩnh vực được phân công. Cụ thể hóa chủ trương, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước thành các chương trình, kế hoạch thực hiện của cơ quan, ngành, lĩnh vực.

- Lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, đề án quan trọng mà ban cán sự đảng, cơ quan có trách nhiệm soạn thảo.

- Triển khai thí điểm một số chủ trương mới theo quyết định của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

- Lãnh đạo, chịu trách nhiệm toàn diện về tổ chức, bộ máy và biên chế, công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ theo phân cấp.

- Lãnh đạo công tác kiểm tra việc chấp hành chủ trương, quy định của Đảng trong lĩnh vực được phân công. Cho chủ trương, quan điểm xử lý kỷ luật đảng viên là cán bộ, công chức, viên chức thuộc thẩm quyền theo phân cấp quản lý.

3- Phối hợp với các ban, cơ quan trung ương của Đảng, các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương và đảng ủy cơ quan để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao, xây dựng đảng bộ cơ quan trong sạch, vững mạnh.

Theo Quy định số 97-QĐ/TW, thành viên ban cán sự đảng các bộ, ngành gồm: bộ trưởng (hoặc người đứng đầu ngành), các thứ trưởng (hoặc các cấp phó của người đứng đầu ngành), vụ trưởng vụ tổ chức - cán bộ; thành viên khác (nếu có, một số nơi là chủ tịch công đoàn ngành) do ban cán sự đảng đề nghị, Ban Bí thư quyết định. Đồng chí bộ trưởng làm bí thư ban cán sự đảng, một đồng chí thứ trưởng làm phó bí thư ban cán sự đảng.

Quy định số 97-QĐ/TW quy định cụ thể về mối quan hệ giữa ban cán sự đảng với Bộ Chính trị, Ban Bí thư; với các ban, cơ quan trung ương của Đảng; với các đảng ủy khối trung ương; với đảng ủy cơ quan; với thủ trưởng (người đứng đầu) và tập thể lãnh đạo cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị - xã hội; giữa các đảng đoàn, ban cán sự đảng ở Trung ương, Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương, Ban Bí thư Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; quan hệ với tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương.

Ban chấp hành đảng bộ cơ quan bộ, ngành (đảng ủy) do đại hội đảng bộ cơ quan bầu ra và là cơ quan lãnh đạo của đảng bộ giữa hai kỳ đại hội. Theo Quy định số 215-QĐ/TW, ngày 5-12-2013, của Ban Bí thư, “Về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của đảng ủy cấp trên trực tiếp tổ chức cơ sở đảng thuộc Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương”, đảng ủy cơ quan có 5 nhiệm vụ: lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, lãnh đạo công tác chính trị, tư tưởng, tham gia công tác tổ chức, cán bộ, xây dựng tổ chức đảng, lãnh đạo các đoàn thể quần chúng.

Như vậy, trong mỗi bộ, ngành, ban cán sự đảng là tổ chức đảng lãnh đạo hoạt động của toàn ngành, nhưng không phải là tổ chức đảng lãnh đạo toàn diện. Đảng ủy cơ quan lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, lãnh đạo công tác chính trị, tư tưởng, tham gia công tác tổ chức, cán bộ, xây dựng tổ chức đảng và lãnh đạo các tổ chính trị - xã hội trong cơ quan. Theo Quy định số 97-QĐ/TW, thủ trưởng (người đứng đầu) và tập thể lãnh đạo cơ quan căn cứ nghị quyết, kết luận của ban cán sự đảng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm được giao theo quy định của pháp luật, điều lệ mỗi tổ chức. Tuy nhiên, ban cán sự đảng không phải là tổ chức đảng cấp trên của đảng ủy cơ quan. Quy định số 97-QĐ/TW chỉ rõ: Ban cán sự đảng có trách nhiệm phối hợp với đảng ủy cơ quan trong việc tổ chức học tập, quán triệt chủ trương, quy định của Đảng; lãnh đạo thực hiện các nghị quyết, quyết định của ban cán sự đảng liên quan đến nhiệm vụ chính trị; lãnh đạo công tác kiểm tra và trao đổi ý kiến bằng văn bản đối với những nội dung về công tác cán bộ theo quy định về phân cấp quản lý; xây dựng đảng bộ cơ quan trong sạch, vững mạnh. Ban cán sự đảng kịp thời thông báo với đảng ủy cơ quan những chủ trương, nghị quyết của ban cán sự đảng liên quan đến nhiệm vụ của cơ quan để đảng ủy cơ quan góp ý kiến, phối hợp lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện. Tuy ban cán sự đảng không phải là cấp trên của đảng ủy cơ quan, nhưng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị, ban cán sự đảng là cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo đối với thủ trưởng cơ quan bộ, ngành và phối hợp với đảng ủy cơ quan trong việc triển khai các nhiệm vụ, nội dung công tác.

Đồng chí Lê Minh Khái, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ, Trưởng đoàn kiểm tra 544 chủ trì Hội nghị triển khai quyết định kiểm tra của Ban Bí thư đối với Ban Cán sự đảng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam_Ảnh: TTXVN

Thực trạng hoạt động, mối quan hệ giữa ban cán sự đảng với đảng ủy cơ quan trong các bộ, ngành

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, theo quy định của Bộ Chính trị, ban cán sự đảng các bộ, ngành chủ động chỉ đạo xây dựng kế hoạch, tổ chức các hội nghị phổ biến, tuyên truyền, quán triệt; tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ chính trị của bộ, ngành; chủ trì triển khai cụ thể hóa đường lối, chủ trương, nghị quyết của Trung ương, Quốc hội, Chính phủ về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, xây dựng thành chương trình, kế hoạch công tác của bộ, ngành. Trong quá trình triển khai, ban cán sự đảng mời đảng ủy cơ quan tham gia phối hợp, tham gia ý kiến, phối hợp lãnh đạo, chỉ đạo để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác.

Ban cán sự đảng phối hợp với đảng ủy cơ quan thực hiện đúng quy trình, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác cán bộ; khi xem xét và quyết định kiện toàn tổ chức bộ máy cơ quan, triển khai các khâu trong công tác cán bộ theo phân cấp quản lý cán bộ, đã chú trọng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ của bộ, ngành. Ban cán sự đảng chủ trì thực hiện các quy trình của công tác cán bộ, đặc biệt là trong thực hiện quy hoạch cán bộ các cấp, giới thiệu cán bộ ứng cử vào các vị trí công tác theo yêu cầu; thực hiện quy trình bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển cán bộ…, ban cán sự đảng đã tổ chức đầy đủ việc tham gia ý kiến của ban thường vụ đảng ủy và đảng ủy cơ quan. Do chỉ có văn phòng kiêm nhiệm, gồm chủ yếu các cán bộ kiêm nhiệm giúp việc, nên ban cán sự đảng bộ, ngành gặp không ít khó khăn trong hoạt động, trong đó có việc thẩm tra, xác minh cán bộ có vấn đề cần xem xét về chính trị nội bộ; tuy nhiên, công tác bảo vệ chính trị nội bộ vẫn được thực hiện bảo đảm các quy định của Đảng, Nhà nước. Trong xem xét, thi hành kỷ luật cán bộ, công chức, ban cán sự đảng đã thực hiện đúng nguyên tắc, phối hợp chặt chẽ với đảng ủy cơ quan, nên nhiều vụ, việc phức tạp ở một số nơi đã được giải quyết.

Trong công tác kiểm tra, giám sát, ban cán sự đảng các bộ, ngành đã quán triệt và chỉ đạo tổ chức thực hiện nghiêm túc các chủ trương của Trung ương về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng trong đảng bộ. Ban cán sự đảng đã chỉ đạo thanh tra bộ, ngành phối hợp với ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ quan trong kiểm tra, giải quyết một số vụ, việc ở cơ quan bộ, ngành. Các ban cán sự đảng bộ, ngành đã phối hợp với Ủy ban kiểm tra Trung ương xây dựng, trình Ban Bí thư ban hành Quy chế phối hợp giữa Ủy ban Kiểm tra Trung ương với ban cán sự đảng bộ, ngành. Một số ban cán sự đảng bộ, ngành đã phối hợp với đảng ủy cơ quan xây dựng quy định, quy trình về kiểm tra, giám sát, giải quyết tố cáo,… đối với đảng viên là cán bộ thuộc diện ban cán sự đảng quản lý.

Nhìn tổng thể, hoạt động của ban cán sự đảng và đảng ủy cơ quan bộ, ngành nói chung đã thực hiện theo đúng quy định của Điều lệ Đảng và các quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Tuy nhiên, thực tế hoạt động của ban cán sự đảng và đảng ủy cơ quan các bộ, ngành thời gian qua vẫn bộc lộ một số hạn chế sau:

Một là, có sự chồng chéo trong hoạt động của đảng ủy cơ quan với ban cán sự đảng ở các bộ, ngành. Đơn cử, hoạt động phổ biến, quán triệt chủ trương, nghị quyết của Đảng, của đảng ủy bộ, ngành triển khai theo kế hoạch “ngành dọc” của Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương, nhưng do yêu cầu, nhiệm vụ công tác của bộ, ngành, nên vẫn văn bản đó, lại phải tiếp tục triển khai với nội dung có chiều sâu hơn theo kế hoạch của ban cán sự đảng bộ, ngành… Hiện nay, ở cấp bộ, ngành, có 4 chủ thể có mối quan hệ đan xen là: ban cán sự đảng, đảng ủy, tập thể lãnh đạo bộ, ngành, Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương. Đảng ủy Khối vừa có quan hệ cấp trên với đảng ủy bộ, ngành, vừa có quan hệ phối hợp công tác với ban cán sự đảng, tập thể lãnh đạo bộ, ngành. Do đó, nếu không xử lý tốt sẽ dẫn đến sự chồng chéo trong mối quan hệ đan xen phức tạp của 4 chủ thể trên, nhất là giữa ban cán sự đảng và đảng ủy bộ, ngành.

Hội nghị Ban Thường vụ Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương làm việc với Ban Cán sự đảng và Ban Thường vụ Đảng ủy cơ quan Bộ Kế hoạch và Đầu tư_Nguồn: mpi.gov.vn

Hai là, ở một số nơi, trong thực hiện các quy trình của công tác cán bộ đã nảy sinh sự thiếu thống nhất giữa ban cán sự đảng bộ, ngành với đảng ủy cơ quan bộ, ngành và gây ra nhiều hệ lụy. Trong chỉ đạo công tác quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý thuộc thẩm quyền của bộ, ban cán sự đảng bộ, ngành cho ý kiến chỉ đạo về nhân sự; còn đảng ủy cơ quan trực tiếp lãnh đạo và chỉ đạo thực hiện quy trình các bước, bỏ phiếu, lấy phiếu đánh giá, tín nhiệm... Trên cơ sở kết quả bỏ phiếu, lấy phiếu tín nhiệm đó, ban cán sự quyết định quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ.  Khi bí thư ban cán sự và bí thư đảng ủy cơ quan thực hiện đúng trách nhiệm, xác định đúng vai trò, phối hợp chặt chẽ trong hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị thì công việc sẽ suôn sẻ. Còn trong trường hợp bí thư đảng ủy cơ quan bộ, ngành không phối hợp chặt chẽ với bí thư ban cán sự, thậm chí “bất hợp tác”, mâu thuẫn…, thì có thể xảy ra nhiều tình huống phức tạp, như bí thư đảng ủy sử dụng vị trí, mối quan hệ của mình để “hướng lái” làm “xô lệch” phiếu bầu, không bảo đảm khách quan, có khi trái ngược với chỉ đạo của ban cán sự; hoặc khi bí thư đảng ủy cơ quan thể hiện “quyền anh, quyền tôi”, cho rằng, “tôi với anh ngang nhau”, “anh không phải là cấp trên của tôi”…, gây ra mất đoàn kết và bầu không khí nặng nề trong cơ quan. Khi thiếu sự thống nhất giữa bí thư ban cán sự và bí thư đảng ủy cơ quan, thì việc xem xét kỷ luật cán bộ cũng gặp khó khăn. Đơn cử như, quá trình theo dõi, xem xét, đánh giá cán bộ, ban cán sự đảng xác định vi phạm của cán bộ đến mức phải xem xét thi hành kỷ luật; song, khi chỉ đạo thực hiện quá trình đó, đảng ủy cơ quan lại cố tình “buông nhẹ”, thực hiện quy trình không đúng, vòng vo, kéo dài, không nghiêm túc. Mặt khác, trong trường hợp ban cán sự đảng, nhất là bí thư ban cán sự đảng vi phạm nguyên tắc tổ chức của Đảng, vi phạm pháp luật, thì đảng ủy cơ quan hầu như không phát huy được vai trò lãnh đạo, mất sức chiến đấu.

Như vậy, mối quan hệ giữa bí thư ban cán sự đảng bộ, ngành với bí thư đảng ủy cơ quan bộ, ngành là mối quan hệ phối hợp gắn kết, chung sức, chung lòng, sẻ chia trách nhiệm; nhưng trong thực tế, ở nơi này, nơi kia khi vẫn nảy sinh vấn đề trong quan hệ giữa hai vị trí này, ảnh hưởng đến hoạt động của cơ quan. Vì vậy, một số bộ, ngành đã thiết kế, sắp xếp bí thư ban cán sự đảng bộ, ngành kiêm nhiệm (đồng thời) là bí thư đảng ủy cơ quan (như Bộ Ngoại giao, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam). Mô hình này mới chỉ thực hiện ở một số bộ, ngành, trong một số giai đoạn và chưa được đánh giá, tổng kết và nhân rộng.

Vấn đề đặt ra và một số đề xuất trong giải quyết mối quan hệ giữa ban cán sự đảng với tổ chức đảng trong các bộ, ngành hiện nay

Từ thực tiễn hoạt động của ban cán sự đảng các bộ, ngành với đảng ủy cơ quan các bộ, ngành thời gian qua, đặt ra một số vấn đề sau:

Thứ nhấtcần phân định rõ ràng hơn về thẩm quyền, trách nhiệm trong một số hoạt động giữa ban cán sự đảng bộ, ngành với đảng ủy cơ quan.

Ban cán sự đảng bộ, ngành quyết nghị về “quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật và chế độ, chính sách… đối với cán bộ”, đảng ủy cơ quan “tham gia công tác tổ chức, cán bộ”; nhưng trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ, “đảng ủy cấp trên cơ sở trong các bộ, ngành, cơ quan trung ương quyết định thẩm tra, xác minh, kết luận và kiến nghị cơ quan có thẩm quyền quản lý cán bộ, quyết định việc bố trí cán bộ, đảng viên có vấn đề chính trị cần xem xét”(1). Do đó, cần có sự chỉ đạo của ban cán sự, cơ quan có thẩm quyền về công tác cán bộ, thì đảng ủy cơ quan mới thực hiện khâu thẩm tra, xác minh, nếu không sẽ không đủ cơ sở, căn cứ để “quyết định thẩm tra, xác minh, kết luận… cán bộ, đảng viên có vấn đề chính trị cần xem xét”. Do vậy, một số ban cán sự gặp khó khăn bởi không có tổ chức, bộ máy để thực hiện khâu thẩm tra, xác minh, vốn khá phức tạp. Vì vậy, cần có quy định rõ ràng, cụ thể về việc ban cán sự đảng bộ, ngành phối hợp với đảng ủy cơ quan thực hiện nhiệm vụ này theo kế hoạch công tác cán bộ của ban cán sự đảng.

Trong chỉ đạo và thực hiện nhiệm vụ phổ biến, quán triệt Cương lĩnh, đường lối, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, xác định trách nhiệm phối hợp giữa ban cán sự đảng, bí thư ban cán sự đảng với đảng ủy cơ quan theo hệ thống Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương, cần tránh trùng lặp để đem lại hiệu quả cao nhất và trên cơ sở đó, thực hiện tốt quy định “ban cán sự đảng phối hợp với các Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương trong công tác xây dựng Đảng ở đảng bộ”.

Ban Cán sự đảng Bộ Giao thông vận tải và Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ Giao thông vận tải ký quy chế phối hợp công tác_Ảnh: mt.gov.vn

Thứ hai, tập trung xây dựng đảng bộ cơ quan bộ, ngành, nhất là ban chấp hành đảng bộ (đảng ủy), lựa chọn nhân sự bí thư đảng ủy cơ quan thực sự tiêu biểu cho đảng bộ về phẩm chất, trí tuệ, đoàn kết, uy tín, trách nhiệm.

Đảng ủy cơ quan cần được xây dựng, củng cố, kiện toàn, bảo đảm cơ cấu, nhưng yêu cầu chất lượng vẫn là hàng đầu. Về cơ cấu, đảng ủy có sự tham gia của lãnh đạo các đơn vị thực thuộc bộ, ngành, giúp việc quán xuyến chung toàn cơ quan được thuận lợi; ủy ban kiểm tra của đảng ủy có sự tham gia của lãnh đạo thanh tra bộ sẽ phát huy tác dụng, vai trò trên cả hai phương diện. Bí thư đảng ủy cơ quan bộ, ngành thông thường là thứ trưởng hoặc phó thủ trưởng ngành và phải đáp ứng những yêu cầu, tiêu chuẩn về phẩm chất, năng lực, uy tín, trách nhiệm… theo quy định và cần có tinh thần hợp tác, chia sẻ trách nhiệm chung. Trên cơ sở đó, đồng chí bí thư đảng ủy mới gắn kết được hoạt động của đảng ủy cơ quan với ban cán sự đảng bộ, ngành bằng ý thức, tinh thần trách nhiệm cao nhất, vì mục tiêu, nhiệm vụ chung.   

Trong thực tiễn hoạt động, vận hành, đã bộc lộ một số vướng mắc trong quan hệ giữa ban cán sự đảng với đảng ủy cơ quan, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả lãnh đạo của Đảng. Do vậy, để giải quyết những vướng mắc đó, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng, cần bổ sung một số quy định, như:

Cần bổ sung cụ thể cơ chế ban cán sự đảng bộ, ngành phối hợp với “đảng ủy cấp trên cơ sở trong các bộ, ngành, cơ quan trung ương: quyết định thẩm tra, xác minh, kết luận và kiến nghị cơ quan có thẩm quyền quản lý cán bộ quyết định việc bố trí cán bộ, đảng viên có vấn đề chính trị cần xem xét”. Nghiên cứu, cụ thể hóa quy định ban cán sự đảng bộ, ngành “được sử dụng bộ máy giúp việc chuyên môn của cơ quan, đơn vị để thực hiện công tác lãnh đạo, chỉ đạo”Hiện nay, việc được lập văn phòng ban cán sự đảng bộ, ngành với số lượng biên chế nhất định cũng chỉ đáp ứng yêu cầu cơ bản về hành chính… Những công việc liên quan đến công tác cán bộ, kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng… đòi hỏi nhiều hơn về công sức và lực lượng. Việc sử dụng bộ máy giúp việc chuyên môn của cơ quan, đơn vị để thực hiện công tác lãnh đạo, chỉ đạo của ban cán sự đảng bộ, ngành nên theo hướng lập phòng (hay tổ, bộ phận bảo vệ chính trị nội bộ) trong vụ tổ chức - cán bộ, tham mưu giúp ban cán sự đảng trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ, trực tiếp thực hiện thẩm tra, xác minh cán bộ, đảng viên có vấn đề cần xem xét về chính trị nội bộ. Thực tế nhiều năm trước đây, Cục Bảo vệ chính trị nội bộ, Ban Tổ chức Trung ương đã tham gia với Bộ Công thương lập Phòng Bảo vệ chính trị nội bộ trong Vụ Tổ chức - Cán bộ, làm công tác tham mưu, giúp việc cho ban cán sự đảng có kết quả tích cực. Mặt khác, nên sử dụng văn phòng cơ quan bộ, ngành thực hiện một số công việc giúp ban cán sự đảng; có thể hợp nhất văn phòng đảng ủy cơ quan với văn phòng ban cán sự đảng để thực hiện nhiệm vụ giúp việc cho ban cán sự đảng bộ, ngành và đảng ủy cơ quan một cách hiệu quả hơn.

Thứ ba, nghiên cứu, đánh giá mô hình bí thư ban cán sự đồng thời là bí thư đảng ủy cơ quan; nghiên cứu mô hình hợp nhất ban cán sự đảng với đảng ủy cơ quan bộ, ngành thành một tổ chức đảng duy nhất trong mỗi bộ, ngành.

Trong thực tế, vai trò của đảng bộ, trực tiếp là đảng ủy cơ quan trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị chưa thực sự rõ, thậm chí còn mờ nhạt. Việc phát huy vai trò của đảng viên, đảng viên giữ cương vị lãnh đạo, đảng viên là chuyên viên, chuyên gia và công tác quản lý đảng viên chưa được thực hiện tốt. Các hoạt động còn nặng tính hình thức, thiếu thiết thực, sinh hoạt chi bộ có nơi còn chưa thực hiện đầy đủ, nghiêm túc, nguyên tắc tự phê bình và phê bình còn bị xem nhẹ.

Trong xu thế thực hiện cải cách hành chính nhà nước và cải cách hành chính trong Đảng và hiệu quả từ các mô hình đã có, việc nhất thể hóa người đứng đầu trong cơ quan, tổ chức đảng, thực hiện bí thư ban cán sự đảng kiêm bí thư đảng ủy cơ quan là cần thiết để giải quyết một số vấn đề vướng mắc đặt ra, nhằm ổn định tình hình, xây dựng và phát triển cơ quan… Khi thực hiện mô hình bí thư ban cán sự đồng thời là bí thư đảng ủy cơ quan thì một đồng chí thứ trưởng, phó thủ trưởng ngành giữ chức phó bí thư thường trực đảng ủy cơ quan. Đồng thời, nghiên cứu mô hình hợp nhất ban cán sự đảng với đảng ủy cơ quan thành một tổ chức đảng duy nhất ở mỗi bộ, ngành để tập trung, thống nhất và nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng (hiện nay, Văn phòng Chính phủ đã thực hiện theo mô hình này). Nhìn rộng hơn, cần bổ sung quy định về mối quan hệ công tác giữa Ban Cán sự đảng Chính phủ và ban cán sự đảng các bộ, ngành, khi về “mặt chuyên môn”, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ là cơ quan lãnh đạo các bộ, ngành, nhưng về “công tác đảng” thì Ban Cán sự đảng Chính phủ và ban cán sự đảng bộ, ngành chỉ là quan hệ phối hợp (do cùng cấp quyết định) nên gây không ít khó khăn, bất cập trong quan hệ công tác giữa hai chủ thể trên, cũng như sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Do đó, cần nghiên cứu chế định mang tính ràng buộc về trách nhiệm lãnh đạo giữa Ban Cán sự đảng Chính phủ và ban cán sự đảng các bộ, ngành, chứ không đơn thuần là cơ chế “phối hợp”./.

Thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội góp phần hiện thực hóa bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

 TCCS - Tiến bộ, công bằng xã hội là mục tiêu, là động lực của phát triển bền vững đất nước, thể hiện bản chất tốt đẹp, nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã và đang xây dựng. Việc thực hiện tốt tiến bộ, công bằng xã hội cũng góp phần bổ sung lý luận chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay.

Chủ trương, đường lối xuyên suốt của Đảng trong thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội

Có thể nói, tiến bộ, công bằng xã hội là yếu tố gắn bó mật thiết với đời sống nhân loại trong mọi giai đoạn phát triển của lịch sử (1); đồng thời, là một trong những nội dung quan trọng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Hiện nay, việc thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội là chủ trương lớn của Đảng, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa trong tiến trình cách mạng Việt Nam, vừa là mục tiêu, nhiệm vụ trong thực tiễn, vừa là động lực then chốt của sự phát triển; bảo đảm mọi thành viên xã hội được hưởng thụ tương xứng với những kết quả đóng góp trong lao động, cũng như kiến tạo sự bình đẳng trong tiếp cận các cơ hội, nguồn lực để mỗi cá nhân có thể phát triển. Tiến bộ, công bằng xã hội, do đó, là trụ cột của sự phát triển bền vững.

Trong quá trình lãnh đạo nhân dân xây dựng và bảo vệ đất nước, Đảng ta luôn nhất quán quan điểm đặt con người ở vị trí trung tâm; do đó, việc thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội luôn được nghiên cứu, cụ thể hóa trong từng chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; tiếp tục nhận thức và giải quyết tốt mối quan hệ lớn giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường. Mặt khác, tiến bộ, công bằng xã hội còn hàm chứa nội dung bảo đảm cuộc sống ấm no, ổn định của mọi thành viên trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đặc biệt là những người yếu thế, nhóm xã hội có đời sống còn nhiều khó khăn; thực hiện an sinh xã hội theo phương châm “không để ai bị bỏ lại phía sau” gắn với chủ trương: “Nhà nước sử dụng thể chế, các nguồn lực, công cụ điều tiết, chính sách phân phối và phân phối lại để phát triển văn hóa, thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội; bảo đảm an sinh xã hội, từng bước nâng cao phúc lợi xã hội, chăm lo cải thiện đời sống mọi mặt của nhân dân, thu hẹp khoảng cách giàu - nghèo”(2).

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính thăm hỏi bệnh nhân đang điều trị tại bệnh viện Bạch Mai_Ảnh: VGP

Ngay từ Đại hội VI (năm 1986) của Đảng, mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với việc giải quyết các mục tiêu xã hội nhằm bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội được đặt ra: “Trình độ phát triển kinh tế là điều kiện vật chất để thực hiện chính sách xã hội, nhưng những mục tiêu xã hội lại là mục đích của các hoạt động kinh tế”(3); do đó, cần “thể hiện đầy đủ trong thực tế quan điểm của Đảng và Nhà nước về sự thống nhất giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội, khắc phục thái độ coi nhẹ yếu tố con người trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội”(4). Đến đại hội XI (năm 2011), sự phát triển nhanh và bền vững trở thành yêu cầu xuyên suốt, đồng thời, chỉ rõ tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội và bảo vệ môi trường(5). Năm 2016, Đại hội XII của Đảng có nhiều bước phát triển mới về nhận thức, quan điểm, khi khẳng định: “Phát triển nhanh và bền vững (hướng tới các mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030 của Liên hợp quốc); giải quyết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường”(6).

Đến nay, đất nước chuyển mình bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng cường mở rộng kinh tế đối ngoại,… nhằm nâng cao tiềm lực kinh tế quốc gia, gia tăng thu nhập bình quân đầu người, bảo đảm tốt các chính sách an sinh, phúc lợi xã hội,… Chính vì vậy, việc thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội ở Việt Nam đạt được nhiều thành tựu, như kinh tế tăng trưởng nhanh, chất lượng được cải thiện; quyền làm chủ của nhân dân được bảo đảm; văn hóa, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ được nâng cao; môi trường sinh thái được quan tâm, bảo vệ; con người có điều kiện hơn để phát triển về thể chất, trí tuệ, đạo đức, nghề nghiệp,...

Đến Đại hội XIII (năm 2021), Đảng ta chỉ rõ cần tập trung “ưu tiên hoàn thiện đồng bộ, có chất lượng và tổ chức thực hiện tốt hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách nhằm tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, lành mạnh, công bằng”(7); chú trọng xây dựng thể chế, pháp luật và khuyến khích khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, đồng thời, “phát triển đầy đủ, đồng bộ các yếu tố thị trường, các loại thị trường”(8); thúc đẩy phát triển các mô hình kinh doanh mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của các loại hình doanh nghiệp,... góp phần bảo đảm tiến bộ, công bằng trong tiếp cận các nguồn lực để phát triển kinh tế; từ đó, tạo cơ sở, điều kiện để thực hiện tiến bộ, công bằng về khía cạnh xã hội ở từng giai đoạn cụ thể.

Bên cạnh đó, nhằm xây dựng đất nước ngày một giàu đẹp, văn minh và phát triển bền vững, cần bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển kinh tế đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội; cần xây dựng một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh bất công “cá lớn nuốt cá bé” vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và các phe nhóm(9); đồng thời, xác định rõ “đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọng của định hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế thị trường ở Việt Nam là phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển. Điều đó có nghĩa là: không chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, càng không “hy sinh” tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần”(10). Đó cũng là những giá trị đích thực của chủ nghĩa xã hội.

Những kết quả, thành tựu nổi bật

Sau gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước ta đã vượt qua tình trạng kém phát triển, trở thành quốc gia đang phát triển với thu nhập trung bình và tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao; việc quản lý, phát triển xã hội luôn được gắn liền với nhiệm vụ thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội(11). Thực tế, việc hiện thực hóa các mục tiêu tiến bộ, công bằng xã hội luôn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức từ yêu cầu của sự phát triển toàn diện nhằm đạt được những mục tiêu phát triển trong đa dạng các chiều cạnh xã hội, lĩnh vực hoạt động của con người, các mối tương quan về lợi ích và điều kiện phát triển (kinh tế, xã hội, văn hóa, lịch sử,…). Bên cạnh đó, hiện nay, nhiều trở ngại, điểm nghẽn xuất hiện, đặc biệt là việc các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị luôn tìm cách chống phá, phủ nhận những nỗ lực, thành quả của Đảng và Nhà nước và nhân dân ta; cố tình bôi đen về một Việt Nam “thụt lùi”, “không có dân chủ”, “nhân quyền”, “thiếu tiến bộ, công bằng xã hội”(?!) bằng thủ đoạn cắt ghép, ngụy tạo hòng làm trầm trọng hóa tình trạng khó khăn, phân hóa, chênh lệch giàu nghèo,... Tuy vậy, những âm mưu đó nhanh chóng bị bóc trần bởi sự thật là nhân dân ta ngày càng được thụ hưởng những giá trị thực tế của tiến bộ, công bằng xã hội qua mỗi giai đoạn cách mạng, qua từng chặng đường phát triển; đặc biệt, trong quá trình phát triển đất nước, Nhà nước ta đã giải quyết thành công nhiều các vấn đề xã hội(12), điều này được thể hiện chủ yếu trên một số lĩnh vực sau:

Thứ nhất, sau gần 40 năm đổi mới, nền kinh tế đất nước có những bước phát triển quan trọng, đạt được nhiều thành tựu to lớn, khẳng định chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng. Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt mức khá trong nhiều năm, quy mô nền kinh tế lớn hơn rất nhiều so với trước(13); từ một nước bị thiếu lương thực, đến nay, không những đã bảo đảm được an ninh lương thực mà còn trở thành nước xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp thuộc nhóm đầu thế giới. Bên cạnh đó, ngành công nghiệp phát triển nhanh chóng, tỷ trọng công nghiệp - dịch vụ liên tục tăng (chiếm khoảng 85% GDP); tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa cả nước đạt 620 tỷ USD (năm 2022)(14); dự trữ ngoại hối tăng mạnh, đạt 110 tỷ USD (năm 2021)(15); năm 2022, tổng vốn đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần (GVMCP) của các nhà đầu tư nước ngoài đạt gần 27,72 tỷ USD (bằng 89% so với cùng kỳ năm 2021)(16). Mặt khác, cơ cấu nền kinh tế có sự thay đổi, tổng sản phẩm quốc nội của cả nước có đóng góp khoảng 27% từ kinh tế nhà nước, 4% từ kinh tế tập thể, 30% từ kinh tế hộ, 10% từ kinh tế tư nhân trong nước và 20% từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.

Thứ hai, nhận thức và kết quả trong thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội của các cấp, ngành và toàn dân được nâng lên, được thể hiện qua các các chỉ tiêu về giảm thiểu bất bình đẳng giới, rút ngắn khoảng cách giàu, nghèo (điển hình là Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2025) được thực hiện trên phạm vi cả nước, trọng tâm là các huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn ở vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo; sự phân phối thu nhập được giữ trong ngưỡng khá an toàn so với các nước cùng khung thu nhập. Đồng thời, Mục tiêu thiên niên kỷ về xóa bỏ tình trạng nghèo cùng cực và thiếu đói được hoàn thành; tỷ lệ hộ nghèo giảm dần theo thời gian cùng quá trình tăng trưởng kinh tế, tổng số hộ nghèo cả nước khoảng 609 nghìn hộ (còn 2,23%)(17). Mặt khác, tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm có xu hướng giảm dần (tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi ở khu vực thành thị giảm từ 4,3% (năm 2010) xuống còn khoảng 3,1% (năm 2019), đến năm 2021 là 3,22%)(18). Bên cạnh đó, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế tăng nhanh, từ 60,9% (năm 2010) lên 91% (năm 2021)(19); tuổi thọ trung bình đạt 76,3 tuổi, số năm sống khỏe sau tuổi 60 đạt 17,2 năm (đứng thứ 42/183 nước). Hiện nay, nước ta đã thực hiện nhiều nỗ lực mạnh mẽ trong bảo đảm bình đẳng giới thông qua các luật, chiến lược và chính sách, được thể hiện trong hầu hết các lĩnh vực, từ chính trị, kinh tế tới văn hóa, xã hội; tỷ lệ phụ nữ tham gia vào Quốc hội nhiệm kỳ 2021 - 2026 là 30,26%(20), tăng 3,54% so với nhiệm kỳ trước (trở thành nước có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội đạt trên 25% trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương).

Thứ ba, lĩnh vực giáo dục, phát triển con người được đặc biệt chú trọng thông qua nhiều định hướng, chính sách; giáo dục - đào tạo được xác định là quốc sách hàng đầu. Trong khi chưa có điều kiện để bảo đảm giáo dục miễn phí cho mọi người, nước ta tập trung hoàn thành nhiệm vụ xóa nạn mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học (năm 2000) và phổ cập giáo dục trung học cơ sở (năm 2010); số lượng sinh viên đại học, cao đẳng tăng gần 18 lần trong 36 năm qua; tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi từ 15 đến 60 trên cả nước đạt 97,85%; 90,8% số người mới biết chữ tiếp tục học tập và không tái mù chữ trở lại; đồng thời, 63/63 tỉnh, thành phố đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 2; có 21/63 tỉnh, thành phố đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3(21). Bên cạnh đó, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo cũng có xu hướng tăng đều qua các năm, đặc biệt là lao động có tay nghề cao, đáp ứng yêu cầu mới của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Lĩnh vực giáo dục, phát triển con người được đặc biệt chú trọng thông qua nhiều định hướng, chính sách_Ảnh: TTXVN

Giải pháp tiếp tục thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội thời gian tới

Từ quan điểm xuyên suốt, nhất quán của Đảng và Nhà nước đến những thành quả thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong thực tiễn là minh chứng  khẳng định bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đã và đang xây dựng. Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ, cần quản lý phát triển xã hội bền vững, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội và bảo đảm triển  khai “đồng bộ, toàn diện các mục tiêu kinh tế, tiến bộ, công bằng xã hội và môi trường, trên cơ sở đó, đổi mới phân bổ nguồn lực hợp lý để nâng cao hiệu quả phát triển xã hội. Xây dựng và thực hiện đồng bộ thể chế, chính sách phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội bền vững, hài hòa(22). Như vậy, để thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong bối cảnh mới, cần tiến hành những định hướng và giải pháp sau:

Thứ nhất, tập trung xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời, theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào quá trình sản xuất, kinh doanh và thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội - đây là nguyên tắc phân phối công bằng phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay. Do đó, cần tiếp tục cụ thể hóa các quan điểm, đường lối của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về phát triển kinh tế, văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội thành các chính sách, kế hoạch, dự án cụ thể; khắc phục tình trạng chỉ chạy theo lợi ích kinh tế, làm mất đi các giá trị nhân văn, đạo đức tốt đẹp. Các chính sách phát triển kinh tế phải hướng tới thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; đồng thời, tập trung xây dựng mô hình quản lý, phát triển xã hội hài hòa, phù hợp với tình hình mới.

Thứ hai, thực hiện tốt chính sách ưu đãi và trợ giúp xã hội, chú trọng bảo đảm quyền con người, lấy con người làm trung tâm, góp phần ổn định, nâng cao chất lượng cuộc sống cho các đối tượng yếu thế nhằm rút ngắn khoảng cách về mức sống và mức độ tiếp cận các nguồn lực xã hội khác thông qua các giải pháp tiếp cận cơ hội bình đẳng. Mặt khác, tăng cường các hoạt động hỗ trợ người nghèo, nhóm người yếu thế trong tiếp cận với giáo dục nhằm tạo dựng sinh kế bền vững cho các đối tượng này. Bên cạnh đó, bối cảnh mới tạo ra nhiều nhóm lợi ích với nhu cầu khác nhau nên cần có sự quan tâm, chú trọng đến nguyện vọng của các nhóm xã hội; đa dạng hóa các hình thức để tranh thủ, tận dụng ý kiến của các chuyên gia từng lĩnh vực trong quá trình xây dựng, ban hành các chính sách.

Thứ ba, nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là các cơ quan hoạch định chính sách kinh tế - xã hội và các cơ sở sản xuất, kinh doanh về vị trí, vai trò quan trọng của mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội hiện nay trong từng chính sách phát triển cụ thể. Bên cạnh đó, cần kiên quyết đấu tranh với xu hướng tìm kiếm lợi nhuận, lợi ích vật chất bằng mọi giá, rời xa mục tiêu tăng trưởng kinh tế với bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội; mặt khác, thực hiện bảo đảm quyền con người như là mục tiêu, động lực của sự nghiệp đổi mới đất nước vì tiến bộ xã hội.

Thứ tư, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong các chính sách xã hội, bảo đảm công bằng về cơ hội phát triển; cần tăng cường quản lý phát triển xã hội, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, tính bền vững trong các chính sách xã hội, nhất là phúc lợi xã hội, an ninh xã hội, an ninh con người. Đồng thời, phải dự báo đúng xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội ở nước ta trong những năm tới nhằm xây dựng các chính sách phát triển phù hợp với điều kiện, bối cảnh mới; xử lý hài hòa các quan hệ xã hội, kiểm soát sự phân tầng xã hội và giải quyết kịp thời, hiệu quả các rủi ro, mâu thuẫn, xung đột, góp phần bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Đặc biệt, tiếp tục gắn “chính sách phát triển kinh tế với chính sách xã hội, quan tâm lĩnh vực công tác xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Đổi mới cơ chế, huy động phân bổ và đa dạng hóa các nguồn lực thực hiện chính sách xã hội phù hợp với nhu cầu, lợi ích của các tầng lớp dân cư, nhóm xã hội, bảo đảm bình đẳng về cơ hội phát triển, nhất là với lao động khu vực phi chính thức”(23).

Thứ năm, chú trọng hoàn thành các mục tiêu phát triển toàn diện con người, đặt vị trí, quyền lợi của người dân làm trung tâm trên cơ sở nhất quán lấy hiệu quả kinh tế và bảo đảm công bằng xã hội làm tiền đề để thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội. Xác định quan điểm cụ thể trong thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội với cốt lõi là công bằng về cơ hội phát triển, thực hiện phát triển hệ thống an sinh xã hội toàn diện, tiến tới bao phủ toàn dân với các chính sách phòng, ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro cho người dân, bảo đảm trợ giúp cho các nhóm đối tượng yếu thế. Cải cách hệ thống bảo hiểm xã hội đa tầng dựa trên nguyên tắc đóng - hưởng, chia sẻ - bền vững; đồng thời, triển khai “đồng bộ các giải pháp giảm nghèo đa chiều, bền vững, bảo đảm mức sống tối thiểu và các dịch vụ cơ bản. Nâng cao chất lượng xây dựng nông thôn mới, triển khai có hiệu quả chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2020 - 2030, thu hẹp khoảng cách giàu - nghèo giữa các vùng, miền, dân tộc”(24)./.

“Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” nhằm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong tác phẩm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

 TCCS - Sự nghiệp đổi mới là sự nghiệp của dân, do dân và vì dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Điều đó được phản ánh rõ nét qua nhiều bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” và làm sáng tỏ cơ chế vận hành của hệ thống chính trị ở nước ta là “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước với các đại biểu Quốc hội tại Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XV_Ảnh: TTXVN

1- Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là tập hợp các thành tố cơ bản, bao gồm Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Các bộ phận cấu thành trong hệ thống chính trị được vận hành theo cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ, Đoàn thể tập hợp lực lượng”; trong đó, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là hạt nhân quyết định cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, điều đó được thể hiện:

Thứ nhất, khẳng định tính đúng đắn của sự lựa chọn chủ nghĩa xã hội và lý giải sâu sắc vì sao Việt Nam lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” (tác phẩm) đưa ra các luận cứ sau:

Tổng Bí thư đưa ra cách tiếp cận về chủ nghĩa xã hội trong tác phẩm là: “chủ nghĩa xã hội khoa học dựa trên học thuyết Mác - Lênin trong thời đại ngày nay”(1). Học thuyết Mác - Lê-nin là học thuyết cách mạng, khoa học, tiến bộ, có giá trị nhân văn sâu sắc bởi đó là học thuyết duy nhất từ trước tới nay đặt ra mục tiêu và chỉ rõ con đường giải phóng triệt để giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Đồng thời, tính khoa học thể hiện ở chỗ, đây là học thuyết mở, đòi hỏi luôn bổ sung, đổi mới, phát triển để phù hợp với thực tiễn.  

Tổng Bí thư đặt vấn đề: “khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và nhiều nước Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào... Trong hàng ngũ cách mạng cũng có người bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn, khoa học của chủ nghĩa xã hội,... công kích, bài bác chủ nghĩa xã hội, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản.... Thực tế có phải hiện nay chủ nghĩa tư bản, kể cả những nước tư bản chủ nghĩa già đời vẫn đang phát triển tốt đẹp không? Có phải Việt Nam chúng ta đã chọn con đường đi sai không?”(2).

Luận giải quan điểm trên, Tổng Bí thư đưa ra dẫn chứng so sánh bản chất giữa chế độ xã hội tư bản chủ nghĩa với xã hội chủ nghĩa. Với quan điểm khách quan, toàn diện của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tác phẩm không phủ nhận mà khẳng định các giá trị, vai trò của chủ nghĩa tư bản đối với sự phát triển của lịch sử nhân loại: “chưa bao giờ mang tính toàn cầu như ngày nay và cũng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trong lĩnh vực giải phóng và phát triển sức sản xuất, phát triển khoa học và công nghệ... hình thành được không ít các chế độ phúc lợi xã hội tiến bộ hơn so với trước”(3). Tuy nhiên, tác phẩm cũng khẳng định “chủ nghĩa tư bản vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó”(4) do đặc trưng cốt yếu của phương thức sản xuất và tiêu dùng tư bản chủ nghĩa “lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội”(5) đã dẫn đến các khủng hoảng kinh tế - tài chính, năng lượng, lương thực, sự cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, sự suy thoái của môi trường sinh thái; những bất công xã hội; khoảng cách giàu - nghèo ngày càng lớn... Các phong trào phản kháng xã hội bùng nổ mạnh mẽ tại nhiều nước tư bản phát triển, đã chứng minh các thiết chế dân chủ theo công thức “dân chủ tự do” không thể bảo đảm để quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; hệ thống quyền lực ở các nước tư bản chủ nghĩa vẫn chủ yếu thuộc về giai cấp tư sản (thiểu số giàu có) và phục vụ cho lợi ích của các tập đoàn tư bản lớn. “Một bộ phận rất nhỏ, thậm chí chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới 3/4 nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội... Trong đời sống chính trị, một khi quyền lực của đồng tiền chi phối thì quyền lực của nhân dân sẽ bị lấn át”(6). Kết quả các cuộc bầu cử được gọi là “tự do”, “dân chủ” có thể thay đổi chính phủ, nhưng bản chất thống trị của tư bản không thay đổi; đằng sau hệ thống đa đảng trên thực tế vẫn là sự chuyên chế của các tập đoàn tư bản và quyền lực của nhân dân lao động thực sự không có.

Chỉ ra các hạn chế của chủ nghĩa tư bản, trong đó có cả ở các nước tư bản phát triển, các nước tư bản lâu đời cho thấy đây không phải là mô hình xã hội ưu việt mà nhân loại và Việt Nam cần hướng tới. Tác phẩm khẳng định: “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn... cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên... Và, chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân”(7), “đó chính là những giá trị đích thực của chủ nghĩa xã hội và cũng chính là mục tiêu, là con đường mà Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn và đang kiên định, kiên trì theo đuổi”(8). Đoạn này lặp lại rất nhiều từ “chúng ta cần”, cho thấy chế độ xã hội chủ nghĩa chúng ta đang xây dựng chưa hiện hữu, đó là mục tiêu, mong ước hướng tới. Những giá trị ưu việt, tiến bộ đó của chủ nghĩa xã hội không chỉ phù hợp với ý chí, nguyện vọng và mong ước của nhân loại, mà còn là khát vọng của toàn dân ta, nó còn phù hợp với các giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam đã được kết tinh qua hàng nghìn năm lịch sử đấu tranh với dựng nước và giữ nước. Đó là truyền thống nhân đạo, nghĩa tình, tinh thần đoàn kết, yêu thương đùm bọc, đại nghĩa hào hiệp, nhân đạo, nhân văn. Trong những thời điểm khó khăn của đất nước, luôn thấy sự ngời sáng của tình đoàn kết, sự yêu thương, chia sẻ, đùm bọc, nghĩa tình đồng bào, đồng chí cùng vượt qua khó khăn ở khắp mọi miền Tổ quốc... và đặc biệt là giá trị nhân văn vì nhân dân, vì con người. Với các quan điểm như “lấy sức khỏe, tính mạng của nhân dân là trên hết, trước hết”; “chung tay vì người nghèo - không để ai bị bỏ lại phía sau” trong đường lối lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, đã thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng. Do đó, đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là yêu cầu khách quan, con đường tất yếu, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế tiến bộ của thời đại ngày nay. Tác phẩm cũng chỉ rõ, việc bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa để đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam  “bỏ qua những thói hư tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa, chứ không phải bỏ qua cả những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản”(9). Những luận cứ này không chỉ khẳng định niềm tin vào con đường mà Đảng ta đã chọn, mà còn là vũ khí sắc bén để giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên đấu tranh phản bác chống các quan điểm sai trái về học thuyết Mác - Lê-nin, chủ nghĩa xã hội, và mục tiêu, lý tưởng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Thứ hai, tác phẩm đã tổng kết thực tiễn, đưa ra cái nhìn tổng thể, toàn diện về quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và khẳng định vai trò lãnh đạo đúng đắn, tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam với những luận cứ sau:

“Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh”(10). Đây chính là sự sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong vận dụng chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện thực tiễn nước ta. Ngay từ khi mới ra đời và trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định, kiên trì con đường đó. Và thực tiễn đã chứng minh sự lựa chọn và kiên định con đường đó của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh là đúng đắn. Điều đó được thể hiện ở thành công của công cuộc đấu tranh giành chính quyền và bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc, tiêu biểu là Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và Tổng tiến công nổi dậy mùa Xuân năm 1975, thống nhất đất nước và thực hiện thành công con đường đổi mới, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội đã thực sự đem lại những thay đổi to lớn, tốt đẹp cho đất nước qua hơn 35 năm. Tác phẩm đã đưa ra những dẫn chứng sinh động, cụ thể và toàn diện trên các mặt để chứng minh thành tựu to lớn mà công cuộc đổi mới mang lại như: “Kinh tế phát triển, lực lượng sản xuất được tăng cường; nghèo đói giảm nhanh, liên tục; đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều vấn đề xã hội được giải quyết; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được bảo đảm; đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng được mở rộng; thế và lực của quốc gia được tăng cường; niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng được củng cố”(11). Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho rằng: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay(12). Những thành tựu đó là một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ của các thế hệ lãnh đạo qua nhiều nhiệm kỳ, của toàn Đảng, toàn dân. Các mục tiêu, quan điểm và định hướng quan trọng trong xây dựng đất nước mà tác phẩm cũng đưa ra trong thời gian tới là kết quả của quá trình nhận thức ngày càng sâu sắc, hoàn thiện và đúng đắn hơn của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội; khẳng định vai trò lãnh đạo không thể thay thế của Đảng đối với mọi thành công của cách mạng Việt Nam.

Thứ ba, tác phẩm đã làm sáng tỏ cơ chế vận hành “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” của hệ thống chính trị ở nước ta với những cơ sở khách quan và yêu cầu trong tình hình mới như sau:

Trong tác phẩm, vấn đề xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị ở nước ta được Tổng Bí thư đặc biệt quan tâm, coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Bởi vì: “Một đảng cách mạng chân chính có đường lối đúng, có tổ chức chặt chẽ, có đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, gương mẫu, tận tụy, gắn bó máu thịt với nhân dân, được nhân dân ủng hộ, thì đảng đó có sức mạnh vô địch, không thế lực nào ngăn cản nổi trên con đường dẫn dắt dân tộc đi lên”(13)Để tiếp tục nâng cao hơn nữa bản lĩnh và trí tuệ của Đảng và đổi mới chính trị, Đại hội XIII của Đảng đã tập trung ba nội dung cơ bản, trọng yếu: 1- Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng; 2- Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; 3- Mở rộng dân chủ trong Đảng và trong xã hội gắn với tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội. Đây là ba nội dung cơ bản, trọng yếu mang tính đột phá trong đổi mới chính trị; trong đó, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng là nhiệm vụ cấp thiết hàng đầu.

Từ cơ sở lý luận về xây dựng Đảng, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội đến những vấn đề cụ thể về Quốc hội, Chính phủ, nội chính, kiểm tra, văn hóa, đối ngoại; công tác tổ chức, cán bộ; thi đua##- khen thưởng; về công nhân, nông dân, trí thức, thanh niên, phụ nữ, về xây dựng lực lượng quân đội, công an,... ở lĩnh vực nào Tổng Bí thư cũng có phân tích sâu sắc, sẻ chia, đồng cảm, gợi mở, định hướng thuyết phục và nhấn mạnh: “Nhận thức sâu sắc sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới và bảo đảm cho đất nước phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta đặc biệt chú trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa(14). Phải tiếp tục nâng cao hơn nữa bản lĩnh và trí tuệ của Đảng, để Đảng thực sự “là đạo đức, là văn minh”; phải nỗ lực hơn nữa trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; xây dựng Đảng ta và hệ thống chính trị ở nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, ngang tầm nhiệm vụ, đủ sức để lãnh đạo sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước nhanh và bền vững, trong đó có việc phát huy những nhân tố tích cực, khắc phục những tác động tiêu cực, mặt trái của nền kinh tế thị trường, của quá trình hội nhập quốc tế. 

Tác phẩm đã làm rõ hơn mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát của hệ thống chính trị ở nước ta gồm có 3 bộ phận: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Đây cũng là vấn đề được Tổng Bí thư đề cập ở nhiều bài viết, bài phát biểu trong 29 bài viết, bài phát biểu của Tác phẩm. Đảng lãnh đạo là đề ra đường lối, chủ trương, phương hướng xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước, mở rộng các quan hệ đối ngoại; lãnh đạo thông qua tuyên truyền, giáo dục; lãnh đạo thông qua công tác tổ chức cán bộ; lãnh đạo thông qua công tác kiểm tra, giám sát; và Đảng lãnh đạo thông qua sự nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng. Nhà nước quản lý thông qua việc thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành văn bản luật, chính sách và tổ chức, triển khai thực hiện có hiệu lực, hiệu quả các chính sách nhằm biến chủ trương, đường lối của Đảng thành hiện thực. Nhân dân làm chủ bằng hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp (thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội) nhằm thực hiện quyền làm chủ của mình. Đồng thời, nhân dân cũng là chủ thể thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và được thụ hưởng các thành quả do chính mình làm ra.

Cán bộ, đảng viên xã Tung Chung Phố, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai hướng dẫn đồng bào cách chăm sóc quýt - cây hàng hóa chủ lực của địa phương cho giá trị kinh tế cao_Ảnh: TTXVN

Tổng Bí thư chỉ rõ, trong chế độ chính trị của chúng ta: “Mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích; mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân”(15). Vì vậy, xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa, là xây dựng một chế độ “hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội, khác hẳn về chất so với các xã hội cạnh tranh để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa các cá nhân và phe nhóm, do đó cần và có điều kiện để xây dựng sự đồng thuận xã hội thay vì đối lập, đối kháng xã hội”(16). Đây là những chỉ dẫn rất quan trọng của Tổng Bí thư trong quá trình xây dựng chế độ chính trị và cơ chế vận hành của hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay, đồng thời lưu ý cần: Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện. “Đặc biệt là cần phải đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả việc phân cấp, phân quyền, phân công, phối hợp, gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát giữa các cơ quan, đơn vị thuộc Chính phủ, chính quyền các địa phương và giữa các cơ quan, đơn vị này với các cơ quan, đơn vị của Đảng, Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, hệ thống các cơ quan tư pháp và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội; bảo đảm cả hệ thống tổ chức bộ máy luôn luôn vận hành một cách đồng bộ, thống nhất; tránh tình trạng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”, “quyền anh, quyền tôi”, “cua cậy càng, cá cậy vây””(17).

2- Để củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí, quyết tâm và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, Tổng Bí thư yêu cầu:

Thứ nhất, đối với Quốc hội, tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang và các kết quả đạt được, tiếp tục nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả hoạt động của Quốc hội trong giai đoạn mới. Quốc hội cần tiếp tục thể chế hóa, cụ thể hóa các quyết sách quan trọng tại Đại hội XIII của Đảng đạt chất lượng ngày càng cao, đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ của công cuộc đổi mới, và tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Đối với các đại biểu Quốc hội “cần tiếp tục nêu cao tinh thần trách nhiệm, hết lòng vì nước, vì dân, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, giữ gìn phẩm chất, đạo đức, nâng cao trình độ về mọi mặt, gần gũi và lắng nghe ý kiến của nhân dân, thực hiện và hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ mà cử tri và nhân dân giao phó”(18). Quốc hội “tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tổ chức và phương thức hoạt động, đạt được nhiều kết quả quan trọng, đóng góp to lớn hơn nữa vào công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa đất nước từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xứng đáng là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”(19).

Thứ hai, đối với Chính phủ tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tổ chức và phương thức hoạt động, đóng góp to lớn hơn nữa vào công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế trong bối cảnh mới, từng bước đưa đất nước vượt qua thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. “Xứng đáng với vị trí, vai trò là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thực hiện quyền hành pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; là cơ quan trực tiếp tổ chức, quản lý, triển khai thực hiện có hiệu quả mọi chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, biến đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước thành hiện thực sinh động, mang lại ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân, làm vẻ vang cho dân tộc, cho giống nòi”(20).

Thứ ba, đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên phát huy truyền thống đoàn kết, huy động sức mạnh toàn dân tộc; và “tiếp tục có những hoạt động năng động, sáng tạo, đổi mới mạnh mẽ hơn nữa; thiết thực hiệu quả hơn nữa, góp phần tập hợp ngày càng đông đảo các tầng lớp nhân dân trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Nhân dân với Đảng và chính quyền, tạo thành sức mạnh to lớn, vô địch để xây dựng Tổ quốc ta ngày càng cường thịnh, Nhân dân ta ngày càng hạnh phúc; Đất nước ta ngày càng phát triển, phồn vinh”(21).

Thứ tư, đối với các cơ quan nội chính phải thật sự là những “thanh bảo kiếm sắc bén” và “lá chắn vững chắc” để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân, bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ gìn trật tự, kỷ cương của xã hội.“Điều này đòi hỏi mỗi cán bộ, chiến sĩ, công chức cơ quan nội chính phải thường xuyên tôi luyện, rèn giũa bản thân để “thanh bảo kiếm” luôn rắn rỏi và sắc bén, dám vung kiếm và vung kiếm đúng lúc, chém đúng đối tượng, không bị sứt mẻ; để “lá chắn” luôn vững vàng, chắc chắn, không một viên đạn, mũi tên nào có thể xuyên thủng, nhất là những viên đạn, mũi tên “bọc đường””(22).

Tóm lại, tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, có tính khoa học và tính chiến đấu cao, giúp toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta và nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới hiểu rõ hơn về mục tiêu và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Tác phẩm cũng là “vũ khí lý luận gắn với thực tiễn” có giá trị sắc bén, để đập tan những luận điệu xuyên tạc, phản động của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị chống phá, mưu toan thực hiện mục tiêu xóa bỏ, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta đó là: phủ định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; chống phá và đòi bác bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với cách mạng Việt Nam... Với các luận cứ lý luận khoa học và minh chứng thực tiễn sinh động, tác phẩm đã khẳng định tính đúng đắn về sự lựa chọn chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Tác phẩm có nhiều bài viết, bài phát biểu đã làm rõ cơ chế vận hành “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” để thực hiện thắng lợi mục tiêu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa như Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đề ra, hướng tới mục tiêu tổng quát “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”./.

-----------------------------