Thứ Tư, 12 tháng 7, 2023

NHẬN DIỆN “TỰ DIỄN BIẾN”, “ TỰ CHUYỂN HÓA” TRÊN LĨNH VỰC QUỐC PHÒNG, AN NINH!

         Hiện tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” không chỉ diễn ra trên các lĩnh vực như chính trị, kinh tế, văn hóa... mà nó còn diễn ra trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh, với các biểu hiện chính như sau:

Trước hết là sự thiếu tin tưởng vào khả năng, sức mạnh quốc phòng, an ninh bảo vệ Tổ quốc. Hiện nay trong xã hội có một số người cho rằng: sức mạnh quốc phòng, an ninh của đất nước có nhiều hạn chế, yếu kém, khó có khả năng bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, nhất là việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Trước sự chống phá của các thế lực thù địch, hành động vi phạm chủ quyền quốc gia trên biển thì trong tư tưởng và hành vi của những người này thể hiện sự bi quan, thiếu tin tưởng càng rõ rệt, thậm chí còn hoang mang, lo sợ. Những biểu hiện ấy dẫn đến sự lệch lạc trong nhìn nhận, xem xét, xử lý các vấn đề về quốc phòng, an ninh, làm ảnh hưởng tới sức chiến đấu của lực lượng vũ trang và đối sách của Đảng, Nhà nước.

Biểu hiện thứ hai là đòi đổi mới quốc phòng, an ninh theo hướng dựa vào bên ngoài, xa rời nguyên tắc độc lập, tự chủ. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mức độ này thể hiện bằng việc hướng mạnh ra nước ngoài, muốn học tập và đi theo các nước lớn, để mong chờ sự giúp đỡ từ nước ngoài về quốc phòng, an ninh. Họ mong muốn nước ngoài giúp đỡ về vũ khí trang bị, đổi mới quân đội theo hướng quân đội nhà nghề. Trong họ luôn tồn tại luồng tư tưởng “phải dựa vào một nước lớn nào đó thì mới giữ được độc lập chủ quyền, bảo vệ Tổ quốc”. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mức độ này nghĩa là đã ngả sang thế lực thù địch, đến giai đoạn tiếp tay cho các thế lực thù địch phá hoại chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng, an ninh.

Thứ ba là xuyên tạc, công kích, chống đối đường lối chính sách quốc phòng, an ninh của Đảng và Nhà nước. Đây là biểu hiện phản ánh rõ ràng tính trầm trọng và nguy hiểm của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Những người và tổ chức “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở mức độ này thường ra mặt công kích, chống đối dưới chiêu bài “phản biện” mọi chủ trương, đường lối của Đảng nói chung và về quốc phòng, an ninh nói riêng. Các chỉ thị, nghị quyết, văn bản pháp luật, mọi hoạt động của LLVT... họ đều tìm cách để xuyên tạc, công kích. Mục đích cuối cùng của chiêu trò xuyên tạc là nhằm hạ thấp vai trò, uy tín của Đảng, Nhà nước và LLVT, đi đến phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với quốc phòng, an ninh và LLVT. Biểu hiện ở mức độ này có nghĩa họ đã đứng hẳn về phía thế lực thù địch, đi ngược lại quyền lợi của dân tộc và nhân dân Việt Nam.

Hiện nay ở nước ta đã xuất hiện một bộ phận người này, họ thường lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân để ra sức công kích vào quan điểm, đường lối lãnh đạo, đối sách của Đảng về quốc phòng, an ninh. Thi thoảng họ lại tổ chức tụ tập, diễu hành, hòng kích động nhân dân, nhất là vào những dịp lễ Tết, các dịp đất nước có sự kiện lớn, hoặc mỗi khi trên Biển Đông có những biến động phức tạp. Vì vậy chúng ta cần phải nhận rõ các biểu hiện, âm mưu, thủ đoạn của họ, để kiên quyết đấu tranh, phê phán.
Theo QĐND./.


Yêu nước ST.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 13 THÁNG 7 1952!

         “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”!
     Lời dạy trên của Chủ tịch Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong: “Bài nói chuyện tại hội nghị chiến tranh du kích”, ngày 13 tháng 7 năm 1952. Đây là giai đoạn cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta chuẩn bị chuyển sang tổng phản công. Trong nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân dân và lực lượng vũ trang có biểu hiện trông chờ vào sự giúp đỡ của các nước bạn. Mặt khác, lại xuất hiện tư tưởng nóng vội muốn đánh thắng ngay. Trước tình hình đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn chấn chỉnh nhận thức, củng cố niềm tin, phát huy nội lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tích cực tham gia thúc đẩy cuộc kháng chiến nhanh chóng giành thắng lợi.
     Qua bài nói chuyện, Người nhấn mạnh, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta là trường kỳ gian khổ nhưng lại phải tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính. Lời dạy trên đây của Chủ tịch Hồ Chí Minh có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Thực hiện lời dạy của Người, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đã nhận thức rõ chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đoàn kết, thống nhất, phát huy cao độ tinh thần tự lực, tự cường trong thực hiện nhiệm vụ của từng cá nhân, đơn vị, từng địa phương và nhiệm vụ chung của cách mạng. Tinh thần tự lực, tự cường của cả dân tộc là nhân tố quan trọng để làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử phát triển của dân tộc.
     Ngày nay, xu thế mở cửa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nhưng tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường vẫn là yếu tố quyết định đối với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia, dân tộc. Do đó, trong khi mở rộng hợp tác quốc tế theo tinh thần Việt Nam là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, Đảng ta phát huy cao độ tinh thần đại đoàn kết toàn dân, chủ động tự lực cánh sinh thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa.
     Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam phải đề cao tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo; ra sức học tập, tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, trình độ, năng lực, phương pháp, tác phong công tác đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cũng kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa… hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”. Đồng thời, luôn làm tốt công tác đối ngoại quốc phòng để mở rộng quan hệ quốc tế, tranh thủ sự hợp tác, ủng hộ của các đối tác góp phần xây dựng Quân đội nhân dân tiến lên chính quy, hiện đại./.
Môi trường ST.

 GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN MỚI (P2-HẾT)

KHÔNG NGỪNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN ĐỂ ĐẢNG NGÀY CÀNG VỮNG MẠNH

Đất nước ta đang bước vào một giai đoạn cách mạng mới, dân tộc đang đứng trước những thời cơ, vận hội to lớn để phát triển. Để hiện thực hóa được “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên, liên tục rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng. 

Không thể có một hình thức, phương thức tối ưu, duy nhất để giáo dục đạo đức, cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Đó phải là một quá trình, là sự kết hợp bởi nhiều yếu tố, nhưng quan trọng hơn hết là sự “tự nhận thức”, “thẩm thấu chủ động”, thường xuyên “tự răn, tự rèn” để đạo đức cách mạng trở thành “cốt cách”, là “lẽ sống” của mỗi cán bộ, đảng viên.

🔸️ Thứ nhất, luôn xác định rõ công tác xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, quan trọng hàng đầu; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên là trọng yếu.

Các cấp ủy đảng phải thực sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng Đảng mạnh trên tất cả các mặt: Chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo theo hướng quyết liệt, linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả, sát thực tiễn; chủ động đi sâu, đi sát cơ sở để nắm bắt tình hình địa phương, đơn vị, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc từ cơ sở; bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của cấp ủy đảng trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội. 

Nhiệm vụ hàng đầu của công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng là việc tổ chức nghiên cứu học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng. Nội dung này phải được tiến hành nghiêm túc, gắn với xây dựng chương trình hành động, kế hoạch thực hiện; chú trọng sơ kết, tổng kết thực tiễn, phải gắn việc học tập với hành động của mỗi cán bộ, đảng viên. Chú trọng việc thực hiện các nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đặc biệt là các Nghị quyết Trung ương 6 (khóa VIII), Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII, XIII) và các chỉ thị, kết luận của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Triển khai quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả công tác đấu tranh ngăn chặn, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, nhất là trên không gian mạng để góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Triển khai các giải pháp củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Chú trọng xây dựng, giữ gìn mối đoàn kết thống nhất trong Đảng và trong toàn xã hội; thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình... Coi trọng công tác bồi dưỡng, kết nạp đảng viên cả về số lượng và chất lượng.

Cấp ủy, chính quyền các cấp phải thường xuyên rà soát, đánh giá đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý để bố trí phù hợp. Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, lối sống lành mạnh; không quan liêu, tham nhũng; có tinh thần trách nhiệm cao trước Đảng và nhân dân; có tư duy sáng tạo, kiến thức vững vàng; phong cách làm việc khoa học, nói đi đôi với làm. 

Trong công tác bố trí, sử dụng cán bộ, phải cân nhắc kỹ việc lựa chọn, sắp xếp bố trí; căn cứ vào năng lực, sở trường công tác của cán bộ để giao việc phù hợp; giao việc, bổ nhiệm những cán bộ trẻ, có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ, năng lực công tác, khả năng phát triển vào các chức danh lãnh đạo, quản lý; đảm bảo tính liên tục, kế thừa, dân chủ, khách quan trong công tác cán bộ. 

Công tâm, khách quan trong đánh giá cán bộ. Coi trọng đánh giá về đức và tài, trong đó đạo đức là nền tảng, là “cái gốc”; đánh giá đúng trình độ, năng lực, sở trường; lấy tiêu chuẩn hiệu quả, chất lượng công việc làm thước đo quan trọng để đánh giá cán bộ. 

🔸️ Thứ hai, cán bộ, đảng viên phải thường xuyên “sửa đổi lối làm việc”, “quét sạch chủ nghĩa cá nhân”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định muốn sửa đổi lối làm việc thì phải thực hiện tốt nhất việc “phê bình và sửa chữa”. “Mục đích của phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đứng hơn. Cốt để đoàn kết và thống nhất nội bộ”(7); “Phải sửa đổi lối làm việc của Đảng” để mỗi cán bộ, mỗi đảng viên làm “đúng”, làm “khéo”, có như vậy “thành tích của Đảng còn to tát hơn nữa”. Người lưu ý: “Đảng viên và cán bộ cũng là người. Ai cũng có tính tốt và tính xấu. Song đã hiểu biết, đã tình nguyện vào một Đảng vì dân, vì nước, đã là một người cách mạng thì phải cố gắng phát triển những tính tốt và sửa bỏ những tính xấu. Vì tính xấu của một người thường chỉ có hại cho người đó; còn tính xấu của một đảng viên, một cán bộ, sẽ có hại đến Đảng, có hại đến nhân dân”(8); “...các cơ quan, các cán bộ, các đảng viên, mỗi người mỗi ngày phải thiết thực tự kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình. Hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết tự sửa chữa, và giúp đồng chí mình sửa chữa. Phải như thế, Đảng mới chóng phát triển, công việc mới chóng thành công. Nếu không sửa chữa khuyết điểm của ta, thì cũng như giấu giếm tật bệnh trong mình, không dám uống thuốc, để bệnh ngày càng nặng thêm, nguy đến tính mệnh”(9).

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng lưu ý “...trong Đảng ta còn có những người chưa học được, chưa làm được bốn chữ “chí công vô tư” cho nên mới mắc phải chứng chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân là một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm”(10). Theo Người, những căn bệnh nguy hại sinh ra từ “chủ nghĩa cá nhân” là: tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh, thiếu kỷ luật, kéo bè kéo cánh, hẹp hòi... Để chữa trị những căn bệnh này cần phải: “Mỗi đảng viên, mỗi cán bộ, cần phải thật thà tự xét và xét đồng chí mình, ai có khuyết điểm nào, thì phải thật thà cố gắng tự sửa chữa và giúp sửa chữa lẫn nhau. Thang thuốc hay nhất là thiết thực phê bình và tự phê bình”. 

🔸️ Thứ ba, cán bộ, đảng viên phải luôn tự ý thức về vai trò tiên phong, gương mẫu.

Tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên phải được thể hiện ở mọi lúc, mọi nơi, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Điều đó không thể tự nhiên mà có, mà phải do chính người cán bộ, đảng viên tu dưỡng, rèn luyện hằng ngày, thông qua quá trình phấn đấu không ngừng mới có được. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Người đảng viên - dù công tác to hay nhỏ, địa vị cao hay thấp - ở đâu cũng phải làm gương mẫu cho quần chúng... Mà muốn cho quần chúng hăng hái thi hành, thì người đảng viên ắt phải xung phong làm gương mẫu để quần chúng bắt chước, làm theo”(11). Để làm tốt điều đó, Người yêu cầu, cán bộ, đảng viên “phải làm gương mẫu trong lao động sản xuất và trong học tập”; “phải xung phong gương mẫu trong mọi công việc, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân”; “phải gương mẫu, phải thiết thực, miệng nói tay làm để làm gương cho nhân dân”. Bởi, “Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”(12) . 

Cán bộ, đảng viên phải tiên phong, gương mẫu bởi đây là những người nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vì thế “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, dẫn dắt quần chúng trong mọi phong trào cách mạng. 

Không chỉ trong công việc, mà trong cuộc sống hằng ngày, cán bộ, đảng viên không những phải có trách nhiệm tự tu dưỡng tốt để trở thành con người có đời tư trong sáng, mà cũng phải là tấm gương để gia đình, người thân và quần chúng noi theo./.


 Dấu ấn Quân đội nhân dân Việt Nam trong đối ngoại quốc phòng


Trong những năm qua, đối ngoại quốc phòng (ĐNQP) tiếp tục thể hiện tính chủ động, linh hoạt, là điểm sáng trong triển khai chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước, góp phần quan trọng vào việc tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với quốc tế và giải quyết những vấn đề mà đất nước phải đối mặt.

1. Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến nay, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến nhanh chóng, phức tạp và khó dự báo. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn tiếp tục gay gắt, chi phối cục diện chính trị, an ninh, kinh tế thế giới; xu hướng phân cực, đa trung tâm diễn ra nhanh chóng, rõ nét hơn. Cùng với đó, các vấn đề an ninh phi truyền thống và đại dịch Covid-19 tác động đa diện, đa chiều đến an ninh, xã hội của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.

Quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính trị về Hội nhập quốc tế (Nghị quyết 22), Nghị định số 22/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định về ĐNQP (Nghị định 22), Nghị quyết số 806-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về hội nhập quốc tế và ĐNQP đến năm 2020 và những năm tiếp theo (Nghị quyết 806), Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đã lãnh đạo, chỉ đạo công tác ĐNQP đúng chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước; bám sát định hướng của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Thủ tướng Chính phủ trong điều kiện bình thường mới, phù hợp với tình hình thực tiễn. Theo đó, đã xử lý quan hệ quốc phòng với các nước bảo đảm thận trọng, chặt chẽ và hiệu quả; triển khai các mặt hợp tác quốc phòng song phương, đa phương chủ động, linh hoạt và đạt hiệu quả thiết thực. Trong đó, nổi bật là ĐNQP đã chủ động, tích cực nghiên cứu, đánh giá, nhận định tình hình, kịp thời tham mưu cho Đảng, Nhà nước trong ứng xử trước các vấn đề quốc tế, khu vực cũng như trong quan hệ ngoại giao với các nước và trong tham gia các cơ chế đa phương, nhất là tham mưu giải pháp thực hiện, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc.

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị quân chính toàn quân năm 2022, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương, đánh giá công tác hội nhập quốc tế và ĐNQP tiếp tục là điểm sáng, là một trong những trụ cột của đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân, góp phần bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”. 

 

Cúc li lng ngôn, nói xàm

            - Ngày 28/6/2023, trên trang Facebook Chân Trời Mới Media có đăng bài “Tiếng súng Cư Kuin còn cho thấy điều gì và nó phục vụ cho ai?” của Thu Cúc. Đọc bài viết, độc giả dễ dàng nhận thấy, Thu Cúc đã lợi dụng vụ tấn công khủng bố tại Đắk Lắk ngày 11/6/2023 vừa qua để xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, gây chia rẽ mối quan hệ bang giao tốt đẹp giữa Việt Nam với các nước.

Trước hết, các cơ quan chức năng của Việt Nam đều khẳng định: vụ việc nổ súng vào 02 trụ sở ủy ban nhân cấp xã tại huyện Cư Kuin (tỉnh Đắk Lắk) ngày 11/6/2023 vừa qua là vụ tấn công khủng bố. Bởi, những kẻ tấn công khủng bố  đã cướp đi sinh mạng của những người dân vô tội, các đồng chí công an, cán bộ cấp xã. Hành động dã man, không có nhân tính của những kẻ khủng bố không chỉ dư luận trong nước mà cả quốc tế đều cực lực lên án. Vì vậy, bất kỳ đối tượng nào chỉ đạo hay trực tiếp tấn công khủng bố cũng không thể chấp nhận được, cần phải xử lý nghiêm minh theo pháp luật, qua đó lấy lại niềm tin, mang lại cuộc sống bình yên cho nhân dân các dân tộc Tây Nguyên.

Thứ hai, việc cơ quan Công an Việt Nam mỗi thời điểm công bố một số liệu cũng là hoạt động hết sức bình thường, bởi vụ việc đang trong quá trình điều tra. Ngày 23/6/2023, Trung tướng Tô Ân Xô đưa ra số liệu cụ thể của vụ tấn công khủng bố tại Đắk Lắk là số liệu chính xác, số liệu này đã được cơ quan chức năng của Việt Nam đã điều tra, làm rõ.

Thứ ba, tàu hải quân của các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ,… ghé thăm Cảng Đà Nẵng của Việt Nam thời gian vừa qua là hoạt động giao lưu, trao đổi thường niên giữa Hải quân nhân dân Việt Nam với hải quân các nước trong khu vực và trên thế giới đã được lên kế hoạch từ trước và được thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng. Vậy nên, tàu Hàng không mẫu hạm USS Ronald Reagan của Mỹ thăm Đà Nẵng từ ngày 25 đến ngày 30/6/2023 cũng là hoạt động giao lưu trao đổi thường niên chứ không phải là hoạt động “ban ơn nghĩa tình” của Mỹ đối với Việt Nam như Cúc đã rêu rao.

Thứ tư, việc các cơ quan chức năng của Việt Nam cho rằng vụ tấn công khủng bố tại Đắk Lắk ngày 11/6/2023 vừa qua có liên quan đến một tổ chức khủng bố tại Mỹ điều bình thường, bởi trong quá trình điều tra, xét hỏi, các đối tượng tiến hành khủng bố tại Đắk Lắk đã thừa nhận. Do đó, không thể kết luận Việt Nam “lấy oán, trả ơn” đối với Mỹ, bởi việc tàu Hàng không mẫu hạm USS Ronald Reagan thăm Đà Nẵng và vụ tấn công khủng bố tại Đắk Lắk là hai lĩnh vực không liên quan gì đến nhau. Ngoài ra, theo Tre Việt, việc Cúc cho rằng dư luận trong nước và quốc tế hướng sự chú ý vào câu hỏi: “Vậy cuối cùng, tiếng súng Chư Quynh (Cư Kuin) hôm 11/6 còn cho thấy điều gì và nó phục vụ những ai?” là sự suy luận để ngụy biện cho luận điệu xuyên tạc, hòng gây chia rẽ mối quan hệ bang giao giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và thế giới.

Vì vậy, đề nghị các cơ quan chức năng của Việt Nam cần có biện pháp xử lý nghiêm các hoạt động xuyên tạc, chống phá của Cúc, không để Cúc “lộng ngôn, nói xàm”./.


 

 VIỆT NAM - MỘT QUỐC GIA “ĐẶC BIỆT”


- Là kẻ thù suốt hàng ngàn năm với Trung Quốc nhưng đồng thời cũng là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc ở Asean.
- Từng là cựu thù với Mỹ nhưng lượng hàng hoá xuất khẩu vào thị trường Mỹ luôn đứng “top” đầu Asean.
- Khối Đông Âu tan rã và suy yếu nhưng Việt Nam vẫn giữ quan hệ nồng ấm với Nga và các nước khối SNG
- Việt Nam mở cửa và hội nhập với toàn cầu nhưng vẫn không quên người anh em Cuba ở phương xa, hàng năm vẫn cứ đều đều những tàu chở gạo, những liều vắc-xin qua lại cho nhau.
- Là quốc gia XHCN nhưng lại có thể kí EV-FTA với các quốc gia phương tây (Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu-Việt Nam), cái này thì phải gọi là chất.
- Ở Lào mỗi khi xảy ra chuyện thì không Phải Trung Quốc hay Thái Lan tới ứng cứu mà chính những bác sĩ, bộ đội tình nguyện Việt Nam sẽ là những đầu tiên đến giúp đỡ người anh em này.
- Đối với người dân châu Phi, Việt Nam đã làm nên “những điều kỳ diệu”.
- Đến khi Covid xảy ra hết đợt này đến đợt khác, nhưng đã không có chuyện xác người chết la liệt, xã hội rối loạn như ở một số nước.
Sao lại có một quốc gia đặc biệt đến thế ??
- Người Việt bình thường nhìn hiền hậu, đôi lúc hay bộc trực và cãi nhau thế thôi nhưng cứ hễ xảy ra chuyện đại sự thì dân tộc này lại đoàn kết như một, nếu không đoàn kết làm sao thắng nổi 3/5 nước hội đồng bảo an và tồn tại đến bây giờ. Người Việt Nam cũng không phải là một kẻ thù dai, hiện nay tất cả các cựu thủ Việt Nam đều trở thành đối tác làm ăn quan trọng của nhau.
- Dù bất kì biến cố nào, Nhân dân luôn vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành của Chính phủ. Bởi, có nói ngược, nói xuôi, con thuyền cách mạng Việt Nam vẫn băng băng tiến về phía trước./.

 Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về người cán bộ cách mạng


Việc nghiên cứu hệ thống các quan điểm trong tư tưởng Hồ Chí Minh về người cán bộ cách mạng qua các thời kỳ cho thấy nổi lên những giá trị lớn sau:
Người cán bộ phải có đạo đức cách mạng   
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao đạo đức của người cán bộ cách mạng. Người cho rằng, cán bộ chỉ có giác ngộ chính trị chưa đủ, mà còn phải thấm nhuần, tu dưỡng đạo đức cách mạng. Người từng viết: “… Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”[1]. Người coi đó là thuộc tính nhất quán trong mọi hoàn cảnh, bởi đã là cán bộ cách mạng thì phải có đạo đức cách mạng. Người cán bộ chân chính phải biết giữ đạo đức cách mạng. Bởi vì, mọi việc thành hay bại là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng hay không. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi chủ nghĩa cá nhân là gốc của tình trạng suy thoái đạo đức cách mạng, là căn bệnh nguy hiểm nhất phải tập trung chữa trị từ sớm. Người căn dặn các cán bộ của Đảng phải tránh sa vào chủ nghĩa cá nhân, ví chủ nghĩa cá nhân là một thứ “vi trùng rất độc”, nó là thứ “bệnh mẹ”, do nó mà sinh ra các thứ “bệnh con”, các chứng bệnh nguy hiểm như: bệnh quan liêu, bệnh tham lam, bệnh kiêu ngạo, bệnh lười biếng, thiếu kỷ luật, óc hẹp hòi, óc địa phương… Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng của người cán bộ phải được thường xuyên rèn dũa, giống như “ngọc càng mài càng sáng”, thể hiện rõ trong công tác và trong sinh hoạt thường ngày. Đó là:
Trung với nước, hiếu với dân. Theo đó, người cán bộ cách mạng phải thể hiện trung thành, tận tụy, cống hiến vì lợi ích của Tổ quốc; phải vì lợi ích của nhân dân, mưu cầu hạn phúc cho nhân dân. Người khuyên cán bộ, đảng viên phải gắn bó với dân, thương dân, lấy trí tuệ ở dân, học hỏi dân. Mỗi cán bộ, đảng viên phải xác định mình là công bộc của dân: “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”[2]. Trung với nước, hiếu với dân là hạt nhân cơ bản của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, là tiêu chuẩn đạo đức quan trọng nhất đối với cán bộ, đảng viên.
Có tình thương yêu con người, tình thương đồng bào, đồng chí. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, tình thương yêu con người là một trong những phẩm chất đạo đức cao đẹp. Người đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng phải trở thành những tấm gương có sức cảm hóa, phải luôn yêu thương con người, yêu thương đồng bào, đồng chí mình; phải bao dung, độ lượng, kể cả đối với những người trót lầm đường lạc lối nhằm đánh thức lương tri, đánh thức phần thiện trong con người của họ. Chỉ như thế mới thu phục được quần chúng, dẫn dắt quần chúng, cùng đồng chí mình vượt qua khó khăn và thách thức.
Phải “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. Đó là đạo đức, là phẩm chất trung tâm của người cán bộ cách mạng. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cần - là cần cù, chịu khó; kiệm - là tiết kiệm của công, không lãng phí; liêm - là không tham ô, sống trong sạch; chính - phải luôn ngay thẳng, chính trực; chí công vô tư - là sự rạch ròi giữa việc công và việc tư, phải đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân. Người nhắc nhở cán bộ: việc tu dưỡng, rèn luyện phải được thực hiện hàng ngày, hàng giờ, trong công tác, sinh hoạt gia đình, xã hội, ở mọi không gian, thời gian và lấy chính bản thân mình làm đối tượng để rèn dũa “giống như rửa mặt hàng ngày”.
Phải có tinh thần trách nhiệm trước công việc. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhắc nhở các cán bộ của Đảng, dù ở bất kỳ cương vị nào, làm công tác gì, gặp hoàn cảnh nào, đều phải có tinh thần trách nhiệm. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, người có tinh thần trách nhiệm là khi Đảng, Chính phủ hoặc cấp trên giao cho việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, thì cũng đem cả tinh thần và sức lực làm cho đến nơi đến chốn, vượt mọi khó khăn, làm cho thành công; luôn nắm vững chính sách, đi đúng đường lối quần chúng và làm tròn nhiệm vụ. Trái lại, làm một cách cẩu thả, làm cho xong chuyện, dễ làm khó bỏ, đánh trống bỏ dùi, gặp sao làm vậy… là không có tinh thần trách nhiệm; còn bệnh quan liêu, mệnh lệnh, chủ quan, hấp tấp, tự tư, tự lợi là trái hẳn với tinh thần trách nhiệm. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, bất cứ nấu bếp, quét nhà hay làm chủ tịch đều phải lao động cả. Bởi lao động là vẻ vang. Do đó, tình yêu lao động và lao động sáng tạo là một trong những chuẩn mực cơ bản của đạo đức cách mạng. Điều đó đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải gương mẫu trong lao động, đem hết nhiệt tình, trí tuệ làm cho lao động của mình, của tập thể đạt được năng suất và hiệu quả ngày càng cao trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần làm cho công cuộc kháng chiến, kiến quốc mau đến thành công.
Người cán bộ phải tích cực học tập và tự trau dồi kiến thức, phải được huấn luyện và rèn luyện kỹ năng để trưởng thành
Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc học tập chính trị của cán bộ. Người từng nhắc nhở: “mỗi cán bộ, đảng viên phải học lý luận, phải đem lý luận áp dụng vào công việc thực tế. Phải chữa bệnh kém lý luận, khinh lý luận và lý luận suông”.[3] Người cho rằng, phải có lý luận, phải có chủ nghĩa thì tinh thần mới vững, hành động mới nhất quán. Người cán bộ phải trước hết là người hiểu đúng, quán triệt sâu sắc mọi chủ trương, đường lối của Đảng. Hiểu đúng rồi thì đem ra vận dụng để cho công việc thành công. Với quan niệm “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định “huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”[4]. Để huấn luyện, bồi dưỡng và làm cho cán bộ trưởng thành, Đảng phải bỏ nhiều công sức, phải nuôi dạy cán bộ như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, để huấn luyện, học tập có kết quả thì trước hết phải xác định đúng mục đích huấn luyện, học tập. Người căn dặn, cán bộ đi học là để “làm việc, làm người, làm cán bộ”[5]; học để sửa chữa tư tưởng, học để tu dưỡng đạo đức cách mạng. Người chỉ rõ, việc đào tạo cán bộ là việc hết sức hệ trọng: phải đào tạo một đội ngũ cán bộ có gan phụ trách, có gan làm việc, ham làm việc. Có thế Đảng mới thành công. Nếu đào tạo một mớ cán bộ nhát gan, dễ bảo, không dám phụ trách, như thế là một việc thất bại của Đảng. Đào tạo thế là phí công, phí của, vô ích. Chủ tịch Hồ Chí Minh nghiêm khắc phê phán cách đào tạo hình thức, chạy theo số lượng mà không thiết thực, chu đáo, chất lượng kém. Người cho rằng “học phải đi đôi với hành”, “Phải nâng cao và hướng dẫn việc tự học”[6]. Người học phải biết tự giác học tập, xác định mục đích, động cơ học tập. Học tập lý luận “theo nguyên tắc: kinh nghiệm và thực tế phải đi cùng nhau”. Cách học tập là: “lấy tự học làm cốt”. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân, không học nhân dân là một thiếu sót rất lớn”[7].
“Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, phải có tác phong dân chủ, nói đi đôi với làm
Khi bàn về vai trò của cán bộ trong sự nghiệp cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt cán bộ trong sự tổng hòa các mối quan hệ. Người coi “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”. Vai trò của người cán bộ được Người ví theo cách rất tự nhiên, như: cây thì phải có gốc, không có gốc thì cây héo, sông thì phải có nguồn, không có nguồn thì sông cạn. Trong mọi việc của cách mạng, của Đảng phải có người cán bộ đứng ra để thực hiện, không có cán bộ thì không thể hoàn thành. Người còn ví, cán bộ như cái dây chuyền của bộ máy liên quan đến nhiều bộ phận, nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt. Người cũng ví: cán bộ là cầu nối, là người trực tiếp đem chính sách của Chính phủ, của đoàn thể thi hành trong nhân dân, giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời, đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng. Như vậy, nếu cán bộ dở thì một mặt chính sách không thể thực hiện được, mặt khác việc hoạch định, xây dựng chính sách mới sẽ sai lầm hoặc không phù hợp. Thực tiễn của các thời kỳ cách mạng cho thấy, trong tất cả mọi công việc của Đảng dù to hay nhỏ, cán bộ là yếu tố trung tâm, then chốt và mang tính quyết định.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn. Cán bộ, đảng viên phải xung phong gương mẫu, bàn bạc một cách dân chủ với mọi người, khuyên mọi người phát biểu ý kiến. Người từng nhắc nhở: trong phong cách làm việc, phong cách công tác, phong cách lãnh đạo của cán bộ phải chống bệnh hẹp hòi, nghĩa là phải tuyệt đối nhằm vào lợi ích của toàn quốc, lợi ích của toàn Đảng. Người chỉ rõ: nguyên nhân của bệnh có nhiều, nhưng chủ yếu là do ham danh vọng và địa vị, nên khi ở cương vị phụ trách thì lôi người này, kéo người khác, ưa ai thì kéo vào, không ưa thì đẩy ra. Hậu quả của bệnh hẹp hòi là gây chia rẽ, mất đoàn kết giữa cán bộ cấp trên phái đến và cán bộ địa phương, cán bộ cũ và cán bộ mới, giữa bộ phận và toàn cục, cán bộ cơ quan này và cán bộ cơ quan khác, địa phương này và địa phương khác… Cán bộ mắc bệnh hẹp hòi đẻ ra nhiều thứ bệnh khác như không biết dùng nhân tài, việc gì cũng ôm hết. Ôm lấy hết thì cố nhiên làm không nổi. Thậm chí dìm người giỏi.
Nói đi đôi với làm là một truyền thống, một chuẩn mực hành vi đạo đức của dân tộc Việt Nam, là một nét đẹp truyền thống đạo đức phương Đông như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: Người phương Đông giàu tình cảm, đối với họ một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền. Người yêu cầu cán bộ phải thống nhất giữa nói và làm, tư tưởng phải chuyển hóa thành hành động cụ thể, hoàn thành nhiệm vụ, thực hiện lý tưởng cao cả của Đảng và dân tộc. Đối với cán bộ của Đảng, Người từng căn dặn “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, để dân tin, dân quý, dân ủng hộ, người đảng viên phải làm trước, đi trước, dù có gian khổ, hy sinh cũng không kêu ca, phàn nàn. Nói đi đôi với làm còn là cách để cấp trên gương mẫu với cấp dưới, là để cầm tay, chỉ việc giữa người có kinh nghiệm với người mới, người chưa có kinh nghiệm.

 HÌNH ẢNH BỘ ĐỘI CỤ HỒ TRONG THỜI KỲ MỚI


Cán bộ và chiến sĩ trong Quân đội, từ trước đến nay, luôn là một lực lượng chính trị đáng tin cậy và tận tâm với Tổ quốc, Đảng, Nhà nước và nhân dân. Họ luôn sẵn sàng sử dụng súng để bảo vệ lãnh thổ, biên giới, vùng biển, hải đảo và tài nguyên thiên nhiên của đất nước. Bộ đội không ngại khó khăn, hy sinh và luôn sẵn sàng chiến đấu vì dân và vì nước. Những hình ảnh của quân đội đã giúp nhân dân diệt trừ đói nghèo và chống lại những kẻ nội xâm. Họ đã đóng góp vào việc giải quyết vấn đề đói nghèo, xây dựng nông thôn mới, và cùng nhân dân vượt qua thiên tai và dịch bệnh. Họ đã tham gia cứu hộ, cứu nạn và thực hiện nhiệm vụ quốc tế, đồng thời gắn bó với lòng biết ơn từ nhân dân Việt Nam và cộng đồng quốc tế.

Trong thời chiến và thời bình, những người lính luôn sẵn sàng đi bất kỳ nơi nào và thực hiện bất kỳ nhiệm vụ nào khi Tổ quốc cần. Họ đã làm việc ở biển, trên đảo, ở biên giới xa xôi và hiện diện tại những điểm nóng của dịch Covid-19. Họ đã hy sinh và nhịn đói, chịu nóng để bảo vệ hòa bình thế giới dưới sự hỗ trợ của Liên Hợp Quốc, giúp nhân dân Nam Phi và Nam Xu Đăng vượt qua khủng hoảng và tái thiết cuộc sống của người dân địa phương. Trải qua 78 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã khẳng định rõ ràng rằng mục tiêu và lý tưởng chiến đấu của là mục tiêu và lý tưởng chiến đấu của Đảng, thể hiện sự khao khát sống vì hòa bình. Bất kể vị trí nào, mọi quân nhân đều tận tụy với Đảng và nhân dân, đồng lòng "phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân", sẵn sàng hiến dâng tuổi xuân và cuộc sống của mình cho cách mạng. Họ không bao giờ từ bỏ, không chùn bước, không lạc đường dù gian khó, khó khăn và thách thức có đến thế nào; không bao giờ quên lời hứa trọng đại đã ấp ủ trong trái tim với Đảng, Bác Hồ và nhân dân về sự hiến dâng tự nguyện, trung thành với Đảng và lòng hiếu hạnh với dân.

Ngày nay, cán bộ và chiến sĩ trong Quân đội hiểu rõ ai là bạn, ai là thù, ai đúng, ai sai; ai là đối tác, ai là đối tượng; nhận thức được âm mưu và thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa từ các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị. Lớp lớp cán bộ và chiến sĩ trẻ hôm nay tự tin tiếp nối truyền thống của cha ông, nắm vững súng để bảo vệ biển cả và không trung thiêng liêng của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân trong thời đại toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Thành tựu trong công cuộc giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong hơn 35 năm đổi mới đã khẳng định sự trung thành tuyệt đối, niềm tin, danh dự và giá trị sống cao quý của Bộ đội theo tấm gương của Bác Hồ. Thế giới có thể thay đổi, nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi. St

 Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ của Đảng

Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ đã trở thành kim chỉ Nam cho Đảng ta trong công tác xây dựng Đảng ở mỗi giai đoạn và thời kỳ cách mạng. “Cán bộ là gốc của công việc”, mọi quyết sách của Đảng đều phụ thuộc vào yếu tố con người, việc thành hay bại là ở cán bộ. Sinh thời, khi nói hoặc viết về công tác cán bộ của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường quan tâm đến các vấn đề hết sức cốt lõi và mang tính nguyên tắc, như:
Phải đánh giá đúng cán bộ
Đây là yêu cầu xuất phát để tiến hành các mặt khác của công tác cán bộ. Nếu không đánh giá đúng cán bộ và tình hình công tác cán bộ thì không thể đề bạt, sử dụng cán bộ một cách đúng đắn được. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, cứ mỗi lần xem xét, rà soát lại đội ngũ cán bộ, một mặt sẽ tìm thấy những nhân tài mới, mặt khác thì những người yếu kém sẽ bị lòi ra. Đánh giá đúng cán bộ không chỉ nhằm phát hiện cái hay của họ để khuyến khích, phát huy, mà còn nhằm thấy cái dở của họ để tìm cách giúp đỡ, khắc phục.
Để đánh giá đúng cán bộ, Hồ Chí Minh yêu cầu phải có quan điểm biện chứng. Người cho rằng, mọi sự vật, hiện tượng đều không ngừng biến đổi. Cán bộ cũng như vậy “có người khi trước theo cách mạng mà nay lại phản cách mạng. Có người khi trước không cách mạng mà nay lại tham gia cách mạng. Thậm chí có người nay đang theo cách mạng, nhưng sau này có thể phản cách mạng”; và “Quá khứ, hiện tại và tương lai của mọi người không phải luôn giống nhau”.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong công tác cán bộ, việc đánh giá cán bộ là một trong những khâu rất quan trọng. Để đánh giá đúng cán bộ, Người chỉ ra ba yêu cầu, đó là:
(1) Phải thường xuyên đánh giá cán bộ để bố trí cán bộ phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng; giúp cho tổ chức “biết rõ cán bộ”, nắm chắc đội ngũ cán bộ để có chính sách và biện pháp thích hợp, đồng thời tạo tâm lý yên tâm cho đội ngũ cán bộ trong hoạt động thực tiễn.
(2) Đánh giá cán bộ phải khách quan, toàn diện, phải chú ý đến năng lực, phẩm chất, hiệu quả công việc. Đặc biệt là đánh giá cán bộ phải chú trọng đến phẩm chất đạo đức. Người chỉ rõ: “Ai mà hay khoe công việc, hay a dua, tìm việc nhỏ mà làm, trước mặt thì theo mệnh lệnh, sau lưng thì trái mệnh lệnh, hay công kích người khác, hay tự tâng bốc mình, những người như thế, tuy họ làm được việc, cũng không phải cán bộ tốt”[8]. Ngược lại: “Ai cứ cắm đầu làm việc, không ham khoe khoang, ăn nói ngay thẳng, không che giấu khuyết điểm của mình, không ham việc dễ, tránh việc khó, bao giờ cũng kiên quyết làm theo mệnh lệnh của Đảng, vô luận hoàn cảnh thế nào lòng họ cũng không thay đổi, những người như thế, dù công tác kém một chút cũng là cán bộ tốt”.[9] Theo Người, việc đánh giá cán bộ cần phải dựa vào nhân dân, phát huy dân chủ và nắm bắt được dư luận xã hội mới bảo đảm thực chất và hiệu quả.
(3) Đánh giá cán bộ phải công tâm, minh bạch, người làm công tác cán bộ cũng phải có đầy đủ chuẩn mực đạo đức thì mới hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Người còn nhắc nhở những người làm công tác cán bộ phải dũng cảm nhìn nhận và kiên quyết khắc phục những hạn chế, khuyết điểm của mình.
Phải huấn luyện, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ một cách toàn diện          
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, huấn luyện cán bộ là một khâu quan trọng trong công tác cán bộ. Đảng phải huấn luyện, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ một cách toàn diện để xây dựng đội ngũ cán bộ đủ đức, đủ tài, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của cách mạng. Người khẳng định: “vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người. Chúng ta phải đào tạo ra những công dân tốt và cán bộ tốt cho nước nhà”[10]. Người đề ra mục đích của việc huấn luyện cán bộ là phải xây dựng đội ngũ cán bộ mạnh về phẩm chất và năng lực, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng. Huấn luyện để cán bộ vững vàng về mọi mặt “có gan phụ trách, có gan làm việc”[11]. Người yêu cầu: “Đào tạo cán bộ không được làm qua loa, đại khái” mà “phải nuôi dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng cây cối quý”.[12] Trong huấn luyện cán bộ của lực lượng vũ trang, Người từng căn dặn, việc huấn luyện cán bộ phải trọng cả về chính trị và quân sự, trong đó chính trị là trọng tâm. Người cán bộ của Đảng phải được trang bị đầy đủ kiến thức lý luận, đó là vũ khí quan trọng nhất trên các mặt trận. Khi tư tưởng vững chắc sẽ không có khó khăn nào ngăn trở. 
Phải sử dụng và bố trí đúng cán bộ
Hồ Chí Minh từng nhắc nhở chúng ta rằng: “Dùng cán bộ không đúng tài năng của họ, cũng là một thất bại”, Người thí dụ: “Người viết giỏi nhưng nói kém lại dùng vào những việc cần phải nói. Người nói khéo nhưng viết xoàng lại dùng vào công việc viết lách. Thành thử hai người đều không có thành tích”. Đi đôi với việc sử dụng đúng tài năng của cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu người lãnh đạo, quản lý các cấp phải biết trọng dụng nhân tài, nếu không sẽ làm “thui chột” nhân tài. Người căn dặn: phải biết chăm lo phát hiện nhân tài, phải biết đào tạo, bồi dưỡng nhân tài và phải biết sử dụng nhân tài một cách hợp lý. Việc trọng dụng nhân tài theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là phải làm thường xuyên, liên tục như “người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta”
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, để sử dụng và bố trí đúng cán bộ, phát huy hết năng lực, sở trường của cán bộ cần thực hiện tốt các việc đó là:
(1) Phải làm tốt khâu phát hiện và lựa chọn cán bộ
Trong tuyển chọn cán bộ, Người cho rằng không thiên tư, thiên vị, không phân biệt người trong hay người ngoài Đảng mà lựa chọn những người thật sự có đức, có tài. Người căn dặn: “Phong trào giải phóng sôi nổi, nảy nở ra rất nhiều nhân tài ngoài Đảng. Chúng ta không được bỏ rơi họ, xa cách họ. Chúng ta phải thật thà đoàn kết với họ, nâng đỡ họ. Phải thân thiết với họ, gần gũi họ, đem tài năng của họ giúp ích vào công cuộc kháng chiến cứu nước”.[13] Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phải tìm cho được những người tiêu biểu như: Những người tỏ ra trung thành và hăng hái trong công việc, trong lúc đấu tranh; Những người liên lạc mật thiết với dân chúng, hiểu biết dân chúng, luôn luôn chú ý tới lợi ích của dân chúng. Như thế thì dân mới tin cậy cán bộ và nhận cán bộ đó là người lãnh đạo của họ; Những người có thể phụ trách và giải quyết các vấn đề, trong những hoàn cảnh khó khăn. Ai sợ phụ trách và không có sáng kiến thì không phải là người lãnh đạo. Người lãnh đạo đúng đắn thì cần phải: khi thất bại không hoang mang, khi thắng lợi không kiêu ngạo, khi thi hành các nghị quyết kiên quyết, gan góc, không sợ khó khăn; Những người luôn luôn giữ kỷ luật”.[14] 
(2) Phải khéo dùng cán bộ
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “khéo dùng cán bộ là phải khéo nâng cao chỗ tốt, khéo sửa chữa chỗ xấu cho họ”,[15] “dùng người như dùng gỗ. Người thợ khéo thì gỗ to, nhỏ, thẳng cong đều tùy chỗ mà dùng được”.[16] Khéo dùng cán bộ còn có nghĩa là phải tin tưởng vào cán bộ, tạo điều kiện, cơ hội để khuyến khích họ phát huy dân chủ và tinh thần trách nhiệm của mình. Đối với cấp dưới, người lãnh đạo phải tiếp thu, lắng nghe, góp ý, phê bình. Nếu ý kiến cấp dưới không đúng, cấp trên không quở trách mà nên vui vẻ giải thích cho họ hiểu và động viên họ tiếp tục nỗ lực hơn nữa trong công tác. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, khéo dùng cán bộ còn thể hiện ở chỗ biết kết hợp hài hòa giữa thế hệ cán bộ đi trước và cán bộ kế cận. Những cán bộ đi trước có nhiều kinh nghiệm về lãnh đạo, được rèn luyện thử thách nhiều trong thực tế. Còn cán bộ trẻ là những người hăng hái, nhiệt huyết, nhạy cảm với cái mới và chịu khó học tập nên nhanh tiến bộ.
(3) Quan tâm về cất nhắc, đề bạt cán bộ
Trong quá trình sử dụng cán bộ, Người yêu cầu phải thật sự thận trọng trong việc này. Người chỉ rõ: “Cất nhắc cán bộ không nên làm như giã gạo”. Nghĩa là từ trước khi cất nhắc không xem xét kỹ, khi cất nhắc rồi không giúp đỡ họ, khi họ sai lầm thì đẩy họ xuống, chờ lúc họ làm khá lại cất nhắc lên. Một cán bộ bị “nhấc lên”, “thả xuống” ba lần như thế thì “hỏng cả đời”. Sinh thời, dù làm việc ở bất cứ cương vị nào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều đối xử với cán bộ một cách đúng mực, hài hòa, tinh tế, nhân văn. Người cho rằng: Cấp trên phải biết chỉ đạo cấp dưới, tin tưởng cấp dưới, không làm hộ, làm thay hoặc cái gì cũng nhúng tay vào. Mục đích của “chỉ đạo” là để phát triển năng lực và sự sáng tạo của cán bộ đúng với đường lối của Đảng, ngang tầm với sự phát triển của cách mạng. Người luôn đề cao công tác kiểm tra cán bộ, nhưng phải đúng người, đúng việc, phải thiết thực và công tâm, kiểm tra cán bộ không phải là “bới lông tìm vết”, “đào chuyện cũ ra làm án mới”, vì vậy không phải ngày nào cũng kiểm tra. Kiểm tra là để xem xét quá trình công tác và học tập có tiến bộ hay hạn chế, khuyết điểm để giúp đỡ người tiến bộ ít, khen người tiến bộ nhiều, giúp mọi người rút kinh nghiệm, sửa chữa khuyết điểm và phát huy ưu điểm của bản thân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh tới tính tự giác của cán bộ trước sai lầm, khuyết điểm. Bởi: mỗi người tài giỏi đến đâu cũng có thể mắc những sai lầm, thiếu sót. Nhưng người cũng rất dứt khoát trong việc xem xét, xử phạt những cán bộ có sai lầm, khuyết điểm. Người cho rằng: “Nếu nhất nhất không xử phạt thì sẽ mất cả kỷ luật,… Vì vậy, hoàn toàn không dùng xử phạt là hoàn toàn không đúng. Mà chút gì cũng dùng đến xử phạt cũng không đúng”[17].
Phải kiên quyết chống các biểu hiện tiêu cực trong công tác cán bộ
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao phát huy dân chủ trong công tác cán bộ, Người từng phê phán công khai trước hội nghị: “có những đồng chí còn giữ thói “một người làm quan cả họ được nhờ”, đem bà con, bạn hữu đặt vào chức này việc kia, làm được hay không, mặc kệ. Hỏng việc đoàn thể chịu, cốt cho bà con, bạn hữu có địa vị là được”.[18] Người chỉ ra thói xấu trong công tác cán bộ đó là: ham dùng những kẻ khéo nịnh hót mà ghét những người chính trực. Đó là những là kẻ cơ hội, nếu không tỉnh táo đề phòng thì những kẻ này sẽ tìm cách chui vào nắm giữ những chức vụ trong Đảng, chính quyền và các đoàn thể, gây tác hại rất lớn. Người phê phán những cán bộ lãnh đạo: ham dùng những người tính tình hợp với mình và không dùng những người không hợp với mình, bất kể người đó có năng lực ra sao. Đó cũng chính là mầm mống dẫn đến tình trạng bè phái, phe nhóm, chia rẽ gây mất đoàn kết trong nội bộ Đảng và chính quyền.
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ tác hại của bệnh hẹp hòi, bệnh địa phương cục bộ. Theo Người, những bệnh chủ nghĩa địa phương, chủ nghĩa bản vị, chủ nghĩa cá nhân, khuynh hướng tham danh vọng, tham địa vị, dìm người giỏi, v.v... đều do bệnh hẹp hòi mà ra. Hồ Chí Minh cho rằng, phải chữa cho “tiệt nọc” bệnh hẹp hòi, khắc phục kèn cựa, mất đoàn kết giữa cán bộ trên điều về và cán bộ tại chỗ, giữa cán bộ trẻ và cán bộ già, giữa cán bộ cũ và cán bộ mới… Trong sử dụng cán bộ phải kết hợp các loại cán bộ trên tinh thần đoàn kết cùng hướng tới mục đích chung là hoàn thành nhiệm vụ một cách tốt nhất; không cục bộ, hẹp hòi. Trong kết hợp các loại cán bộ phải bảo đảm tính kế thừa và phát triển. Phải kết hợp giữa cán bộ lớn tuổi và cán bộ trẻ, lớp cán bộ cũ và cán bộ mới, tạo nguồn cán bộ kế cận để bảo đảm sự chuyển giao công việc, phải bồi dưỡng cán bộ cách mạng cho đời sau. Theo Hồ Chí Minh: “Số cán bộ  có ít, không đủ cho Đảng dùng. Đồng thời, theo luật tự nhiên, già thì phải yếu, yếu thì phải chết. Nếu không có cán bộ mới thế vào, thì ai gánh vác công việc của Đảng”.

 BIỆN PHÁP PHÒNG, CHỐNG PHƯƠNG THỨC VÀ THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA TRONG TÌNH HÌNH MỚI


Trước những phương thức, thủ đoạn chống phá Đảng và Nhà nước ta của các thế lực thù địch, đòi hỏi công tác phòng, chống mưu đồ và thủ đoạn chống phá của các thế lực phản động trong và ngoài nước trên không gian mạng hiện nay cần phải có những giải pháp căn cơ, hữu hiệu và phù hợp với tình hình thực tế ở trong nước cũng như quốc tế, trong đó tập trung thực hiện một biện pháp sau:

 Thứ nhất, tập trung nâng cao vai trò lãnh đạo của cấp ủy Đảng trong hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, đặc biệt trong việc lãnh đạo công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức lối sống, ý thức trách nhiệm trong toàn bộ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức của hệ thống chính trị. Hạn chế đến mức thấp nhất những thiếu sót trong quá trình thực thi công vụ, nhiệm vụ để từ đó tránh được các sự kiện, các vụ việc phức tạp, nhạy cảm nảy sinh trong đời sống xã hội dễ gây tác động đến tư tưởng, tâm tư, tình cảm của Nhân dân; đồng thời phải khắc phục, sửa chữa những hạn chế, yếu kém trong quản lý, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở mỗi ngành, mỗi cấp và mỗi tổ chức. Từ đó, các thế lực thù địch không có cơ hội để lợi dụng kích động, xuyên tạc chống phá Đảng và Nhà nước ta, củng cố them lòng tin của Nhân dân với Đảng, với Nhà nước làm cho nền tảng tư tưởng của Đảng được sống mãi trong lòng dân Việt Nam.

 Thứ hai, thực hiện tốt công tác tuyên tuyền, công tác tư tưởng nâng cao trình độ và khả năng nhận thức cho người dân khi tiếp cận, sử dụng mạng xã hội. Cần thường xuyên tuyên truyền, nhắc nhở người dân cảnh giác các trang mạng xã hội không chính thống, các trang mạng có tính phản động, nhận diện được các diễn đàn không phù hợp với pháp luật Việt Nam, đạo đức chuẩn mực xã hội của Việt Nam, các thông tin sai lệnh, kích động gây hận thù giữa các vùng miền, các dân tộc và các tôn giáo… .

Bên cạnh đó, việc tuyên truyền còn giúp cho người dân thấy được trách nhiệm của bản thân mình đối với quê hương, đất nước và Tổ quốc thân yêu, để từ đó loại bỏ và phản bác lại những luận điệu thông tin, hình ảnh xuyên tạc, vu khống, gây ảnh hưởng cho cho người khác, cho cộng đồng trên môi trường mạng, góp phần bảo vệ môi trường mạng, không gian mạng lành mạnh. Củng cố cho người dân thêm niềm tin vào Đảng, Nhà nước, giữ vững được lập trường, quan điểm theo các giá trị mà Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã khẳng định và định hướng.

Thứ ba, trong điều kiện và tình hình hiện nay, các cấp chính quyền cần phải thực hiện tốt việc minh bạch trong quá trình thực thi công vụ, nhiệm vụ và các cơ chế, chính sách cần công khai và minh bạch hơn. Các vấn đề, sự việc cần được minh bạch để người dân hiểu hơn, một số sự kiện, thông tin mật trước đây chúng ta cũng cần đến lúc phải giải mã để người dân tiếp cận một cách chính thống nhất, hiểu rõ bản chất của vấn đề và sự kiện. Khi các thông tin được minh bạch, được giải mã sẽ giúp cho người dân tiếp cận một cách đúng nhất. Từ đó, các thế lực thù địch phản động không thể lợi dụng xuyên tạc các thông tin, gây hoang mang, hiểu lầm trong quần chúng nhân dân. 

 Thứ tư, tăng cường khối đại đoàn kết, thống nhất trong Đảng và trong Nhân dân. Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là truyền thống quý báu của dân tộc ta từ ngàn đời xưa cho đến nay. Muốn đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược hay xây dựng và phát triển quê hương đất nước thì hơn hết và trước hết chúng ta cần phải tạo nên một khối đại đoàn kết trong tổ chức Đảng, trong quần chúng nhân dân, đặc biệt trong công tác phòng, chống phá Đảng, Nhà nước của các thế lực thù địch trên mọi phương diện, trong đó có không gian mạng.

Hơn bao giờ hết, chúng ta cần phải tạo nên sự đoàn kết ngay trong tổ chức Đảng, trong cả hệ thống chính trị để các thế lực thù địch không có cơ sở, cơ hội lôi kéo, xúi dục và kích động làm ảnh hưởng đến thành quả cách mạng đã đạt được. Cơ sở lý luận và thực tiễn của cách mạng Việt Nam đã chứng minh về tầm quan trọng của khối đại đoàn kết, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đoàn kết là để sống còn”, “Không đoàn kết thì suy và mất. Có đoàn kết thì thịnh và còn. Chúng ta phải lấy đoàn kết mà xoay vần vận mệnh, giữ gìn dân tộc và bảo vệ nước nhà”.

Thứ năm, hoàn thiện các công cụ, phương tiện kiểm tra, kiểm soát thông tin trên không gian mạng. Trong thời gian tới, chúng ta cần xây dựng và hoàn thiện thể chế quản lý mạng xã hội, trong đó nâng cao các mức xử phạt của các chế tài truy tố, xử lý các hành vi xuyên tạc, bịa đặt, sai sự thật đối với người khác, đối với tổ chức, với Đảng và Nhà nước ta; có cơ chế kiểm soát các thông tin, hình ảnh được đăng tải, có công cụ để truy vết nguồn gốc các vài đăng, các lượt chia sẻ và các đường link mang tính phản động, trái thuần phong mỹ tục.

Xây dựng bộ từ khóa sàng lọc, kịp thời ngăn chặn và loại bỏ các trang mạng không phù hợp của các thế lực thù địch, các bài viết sai sự thật, các trang mạng cá nhân chuyên đưa các thông tin bịa đặt, cắt xén trá hình, có tính kích động, gây thù hằn, gây hiểu nhầm trong quần chúng nhân dân.

 Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong việc kiểm tra, kiểm soát các thông tin được đăng tải trên mạng xã hội. Xử lý nghiêm các trường hợp lợi dụng livestream để nói xấu các cá nhân, tổ chức; xử lý các hành vi bịa đặt, kích động, gây thù hằn làm ảnh hưởng môi trường mạng, đặc biệt phải loại trừ tận gốc, xử lý nghiêm các trường hợp lợi dụng tự do dân chủ trong việc livestream để lồng ghép tư tưởng phản động, đưa thông tin sai sự thật, nhằm làm mất an ninh trật tự trên không gian mạng, chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam.