Thứ Tư, 12 tháng 7, 2023

Đảng Cộng sản Việt Nam luôn cầu thị, đổi mới để tự hoàn thiện

Đảng Cộng sản Việt Nam không hề bảo thủ mà luôn đổi mới, cập nhật, nhằm làm cho Đảng mạnh lên, có đường lối đúng đắn, giúp Đảng hoàn thành sứ mệnh, nhiệm vụ đặt ra, đưa Việt Nam vượt qua các khó khăn, thách thức, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác trong bối cảnh mới hiện nay.

Thực tiễn đất nước và thế giới không ngừng vận động, biến đổi, rất nhiều vấn đề mới, yếu tố mới xuất hiện đòi hỏi phải được giải quyết, Đảng ta luôn tìm tòi, học hỏi, tổng kết thực tiễn để đề ra đường lối, quyết sách đúng đắn, phù hợp, Đảng luôn quan tâm đến đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng để Đảng hoàn thành mọi trách nhiệm, nhiệm vụ trong các giai đoạn cách mạng, nhất là những trách nhiệm, nhiệm vụ mới nảy sinh từ thực tiễn hiện nay, để Đảng luôn giữ được bản chất cách mạng, khoa học, vì lợi ích của quần chúng nhân dân, trước sau giữ mối liên hệ mật thiết với quần chúng nhân dân.

Đảng Cộng sản Việt Nam xác định chất lượng, năng lực của đội ngũ đảng viên có tính chất quyết định đối với chất lượng, năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, do vậy, Đảng chú trọng kết nạp những người ưu tú vào Đảng và luôn luôn làm trong sạch Đảng, loại bỏ những phần tử biến chất, xét lại, cơ hội chủ nghĩa ra khỏi Đảng.

Đảng luôn siết chặt kỷ luật Đảng để chống suy thoái, tiêu cực và tham nhũng của một bộ phận cán bộ, đảng viên, làm cho Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh. Đảng ta ý thức rõ rằng, một đảng duy nhất cầm quyền, bên cạnh mặt thuận lợi là cơ bản cũng chứa đựng không ít nguy cơ, mà một trong số đó là dễ quan liêu, xa rời quần chúng, dễ chủ quan... Để tránh nguy cơ đó, Đảng luôn kiên định mục tiêu đã lựa chọn, thường xuyên tự đổi mới, nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức mạnh về mọi mặt, giữ vững phẩm chất đạo đức cách mạng, phong cách công tác gần gũi với nhân dân.

Như vậy, lịch sử đã chứng minh và khẳng định vai trò, sứ mệnh của Đảng Cộng sản Việt Nam là chính đảng duy nhất lãnh đạo, dẫn dắt dân tộc và nhân dân Việt Nam tiếp tục phát triển, bắt kịp xu hướng của thời đại.

Do vậy, những luận điểm sai lầm, suy diễn về vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam, cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ khả năng để lãnh đạo đất nước là quan điểm phản động, sai trái, không có cơ sở cả về lý luận và thực tiễn. Về lý luận, luận điểm này đã dựa trên những phân tích, nhận xét phi khoa học, không logic, không hệ thống và không toàn diện. Về thực tiễn, quan điểm này cũng hết sức phiến diện, quy chụp, phi thực tế khi không thấy rõ hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam trong đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, không thừa nhận những thành quả phát triển đất nước Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong suốt hơn 93 năm qua.

 

 

Những quan điểm sai trái, thù địch

 


Thời gian qua, lợi dụng môi trường internet và truyền thông xã hội, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cho rằng, “Đảng Cộng sản Việt Nam chiếm quyền của dân, vi phạm dân chủ, nhân quyền”; “Đảng không nên giữ vai trò lãnh đạo, không nên và không thể lãnh đạo tuyệt đối”; “phải đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập thì đất nước mới phát triển”...

Thông qua những quan điểm, luận điểm này, chúng đã bộc lộ dã tâm, mưu đồ đen tối là xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi Đảng ta phải thoái lui, thực hiện “đa nguyên, đa đảng”, từ bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội để đưa đất nước theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản; từ đó gây tâm lý hoài nghi, dao động, giảm sút niềm tin trong nhân dân, đặc biệt là niềm tin vào vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đây là những quan điểm, luận điểm hết sức phản động, sai lầm, phi khoa học, không có cơ sở cả về lý luận và thực tiễn, chứa đựng nhiều mâu thuẫn trong phân tích, đánh giá; nhiều nhận xét là chủ quan, vô căn cứ.

Đây là một loại luận điệu hết sức nguy hiểm bởi nó cố tình đánh đồng giữa vấn đề đa nguyên, đa đảng với dân chủ và phát triển. Thực chất những luận điệu này là gì nếu không phải là muốn đa nguyên, đa đảng, chia quyền lãnh đạo dẫn tới tiếm quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Mục đích của chúng là phủ nhận vai trò lãnh đạo, cầm quyền duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội Việt Nam.

 

ỨNG XỬ TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 

     Văn hóa ứng xử trên không gian mạng có thể hiểu là tất cả hành động của con người trên mạng xã hội như đăng tải thông tin, bày tỏ cảm xúc, chia sẻ, bình luận… Bên cạnh những cá nhân hay tập thể biết sử dụng mạng xã hội văn minh, vẫn còn tồn tại không ít những trường hợp lạm dụng không gian mạng để thể hiện thái độ tiêu cực hay thực hiện các hành vi làm hại người khác. 

Thực hiện tốt Các quy tắc ứng xử trên mạng xã hội áp dụng cho tổ chức, các nhân Chính là người có văn hoá trên không gian mạng. Các quy tắc ứng xử cho tổ chức, cá nhân trong Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội bao gồm:

- Tìm hiểu và tuân thủ các điều khoản hướng dẫn sử dụng của nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội trước khi đăng ký, tham gia mạng xã hội.

- Nên sử dụng họ, tên thật cá nhân, tên hiệu thật của tổ chức, cơ quan và đăng ký với nhà cung cấp dịch vụ để xác thực tên hiệu, địa chỉ trang mạng, đầu mối liên lạc khi tham gia, sử dụng mạng xã hội.

- Thực hiện biện pháp tự quản lý, bảo mật tài khoản mạng xã hội và nhanh chóng thông báo tới các cơ quan chức năng, nhà cung cấp dịch vụ khi tài khoản tổ chức, cá nhân bị mất quyền kiểm soát, bị giả mạo, lợi dụng và sử dụng vào mục đích không lành mạnh, ảnh hưởng đến an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

- Chia sẻ những thông tin có nguồn chính thống, đáng tin cậy.

- Có các hành vi, ứng xử phù hợp với những giá trị đạo đức, văn hóa, truyền thống của dân tộc Việt Nam; không sử dụng từ ngữ gây thù hận, kích động bạo lực, phân biệt vùng miền, giới tính, tôn giáo.

- Không đăng tải những nội dung vi phạm pháp luật, các thông tin xúc phạm danh dự, nhân phẩm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân khác; sử dụng ngôn ngữ phản cảm, vi phạm thuần phong mĩ tục; tung tin giả, tin sai sự thật;... gây bức xúc trong dư luận xã hội, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội.

- Khuyến khích sử dụng mạng xã hội để tuyên truyền, quảng bá về đất nước - con người, văn hóa tốt đẹp của Việt Nam, chia sẻ thông tin tích cực, những tấm gương người tốt, việc tốt.

- Vận động người thân trong gia đình, bạn bè, những người xung quanh tham gia giáo dục, bảo vệ trẻ em, trẻ vị thành niên sử dụng mạng xã hội một cách an toàn, lành mạnh.

 

NGƯỜI THƯỢNG VÀ ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC ĐỀU CÙNG CHUNG SỨC XÂY DỰNG, BẢO VỆ TỔ QUỐC

Người Thượng là danh từ gọi chung những nhóm sắc tộc bản địa sinh sống tại vùng Tây Nguyên, dãy Trường Sơn, vùng Đông Nam Bộ và một phần lãnh thổ của Campuchia và Lào. Người Thượng (Bahnar, Sedang, Hré, Mnong, Stieng thuộc ngữ hệ Môn Khmer/Nam Á và Djarai, Rhadé, Raglai thuộc ngữ hệ Malayo Polynésien/Nam Ðảo) cũng là con dân của dân tộc Việt Nam; từng chung sức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam cũng như bảo vệ vùng đất mà họ cư trú. Tuy nhiên, vì vị thế địa chính trị đặc biệt của những vùng đất nơi sinh trú của người Thượng có tầm quan trọng đối với sự ổn định, phát triển bền vững của Việt Nam, Lào, Campuchia và khu vực, cho nên, người Thượng luôn là “đối tượng” mà các thế lực xâm lược, thù địch muốn lợi dụng, lôi kéo, kích động, thống trị, bóc lột… Thực tế, dưới thời Pháp thuộc, đồng bào Thượng ở Tây Nguyên cũng như các dân tộc anh em khác chỉ là những nô lệ, quanh năm suốt tháng làm thuê, làm mướn, sống cuộc đời tăm tối. Đến thời Mỹ - ngụy xâm chiếm thì cùng với việc thực hiện chính sách ngu dân, chia để trị, gây mâu thuẫn, nghi kỵ, chém giết giữa các dân tộc, người dân Tây Nguyên không chỉ bị đối xử bất bình đẳng mà các phong tục, tập quán bị kỳ thị và bản sắc văn hóa cũng bị xóa nhòa…

Chỉ đến khi có Đảng lãnh đạo, đi theo Đảng cùng đồng bào các dân tộc anh em đoàn kết tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc thì đồng bào Thượng ở Tây Nguyên mới thoát khỏi kiếp lầm than đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nhờ sức đoàn kết tranh đấu chung của tất cả các dân tộc, nước Việt Nam ngày nay được độc lập, các dân tộc thiểu số được bình đẳng cùng dân tộc Việt Nam, tất cả đều như anh chị em trong một nhà, không còn có sự phân biệt nòi giống, tiếng nói gì nữa. Trước kia các dân tộc để giành độc lập phải đoàn kết, bây giờ để giữ lấy độc lập càng cần phải đoàn kết hơn nữa” và “đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau”

Đặc biệt, khẳng định vị thế của đồng bào các dân tộc thiểu số nói chung, đồng bào Thượng nói riêng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam và nêu rõ trách nhiệm của đồng bào cả nước trước họa ngoại xâm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Trước kia chúng ta xa cách nhau, một là vì thiếu dây liên lạc, hai là vì có kẻ xúi giục. Ngày nay, nước Việt Nam là nước chung của chúng ta. Trong Quốc hội có đủ đại biểu các dân tộc. Chính phủ thì có “NHA DÂN TỘC THIỂU SỐ” để săn sóc cho tất cả các đồng bào. Giang sơn và Chính phủ là giang sơn và Chính phủ chung của chúng ta”(5). Vì thế, tất cả dân tộc anh em phải đoàn kết chặt chẽ để “giữ gìn nước non ta, để ủng hộ Chính phủ ta” và “chúng ta phải yêu thương nhau, kính trọng nhau, phải giúp đỡ nhau để mưu cầu hạnh phúc chung của chúng ta và con cháu chúng ta”.

Có thể khẳng định rằng, đánh giá đúng vị trí, vai trò của đồng bào các dân tộc thiểu số nói chung, đồng bào Thượng/người Thượng nói riêng trong hành trình đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng, tư tưởng, tình cảm và sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là động lực để đồng bào Thượng ở Tây Nguyên tin tưởng vào Đảng và Chính phủ cũng như thủy chung, son sắt đi theo Đảng, chịu sự lãnh đạo của Đảng, đoàn kết với đồng bào cả nước để nhân nguồn sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Trong cuộc trường chinh đầy gian khổ, hy sinh dài 30 năm (1945-1975), đồng bào các dân tộc Tây Nguyên/đồng bào Thượng đã không chỉ phát huy truyền thống đoàn kết, kiên cường, bất khuất để kề vai, sát cánh cùng đồng bào Kinh xây dựng, bảo vệ căn cứ cách mạng, anh dũng chiến đấu chống kẻ thù chung, mà còn làm rạng rỡ mảnh đất Tây Nguyên hùng vĩ với những tên tuổi của các anh hùng Đinh Núp, dân tộc Ba Na; Kpă Klơng, Kpă Ó, dân tộc JRai; Y Buông, A Tranh, dân tộc Xơ Đăng; A Mét, dân tộc Giẻ Triêng; N’Trang Lơng, dân tộc M’Nông; với những vị cách mạng tiêu biểu sau này như Y Ngông Niê Kđăm; Y Bih Alêô, dân tộc Ê Đê; Nay Đer, dân tộc JRai; Bi Năng Tắc, dân tộc Raglai; Điểu Ong, dân tộc Xtiêng…

Mấy thập niên phát huy truyền thống kiên cường, bất khuất của những người con núi rừng, cùng đồng bào cả nước kiên cường đấu tranh vì một đất nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, “quân và dân Tây Nguyên, già, trẻ, gái, trai, Kinh, Thượng đoàn kết một lòng, luôn luôn nêu cao truyền thống anh hùng, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, thi đua giết giặc, lập công, giữ gìn buôn rẫy, thu được những thành tích to lớn, cùng đồng bào cả nước đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” và “đã đoàn kết càng phải đoàn kết chặt chẽ hơn nữa, cố gắng không ngừng, phát huy mạnh mẽ thắng lợi đã giành được, luôn luôn nêu cao cảnh giác, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu của địch” để xây dựng, bảo vệ vùng đất Tây Nguyên và Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn.

Suốt dòng lịch sử, Tây Nguyên luôn là mạch nguồn truyền thống anh hùng, keo sơn gắn bó trong tình anh em, nghĩa đồng bào của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và luôn một lòng sắt son với Đảng, với Bác Hồ. Sau Đại thắng mùa Xuân năm 1975, cả nước thống nhất, cùng đi lên chủ nghĩa xã hội, tiếp nối truyền thống của những N’Trang Lơng, Ama Jhao, N’Trang Gưh, Đinh Núp, A Sanh, Bi Năng Tắc, K’Đen… đồng bào các dân tộc Bahnar, Sedang, Hré, Mnong, Stieng, Djarai, Rhadé, Raglai,v.v.. sinh sống lâu đời ở vùng Tây Nguyên cùng đồng bào Kinh và các dân tộc thiểu số khác tiếp tục trọn niềm tin vào Đảng, vững bước dưới sự lãnh đạo của Đảng để kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, dù phải đối diện với muôn vàn khó khăn, thử thách.

Tuy nhiên, có một sự thật không thể phủ nhận là, ở các giai đoạn lịch sử khác nhau, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, Tây Nguyên chính là một trong những địa bàn trọng điểm mà các thế lực thù địch lựa chọn để thực hiện “diễn biến hòa bình” và người Thượng chính là “đối tượng” để các phần tử phản động, cơ hội, thù địch lợi dụng, lôi kéo, kích động. Song, kiên trung với Đảng và không phụ lòng Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên không chỉ nếm mật, nằm gai cùng cả nước trong các cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược, viết nên những trang sử chói ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam vì sự nghiệp giải phóng, mà còn tiếp tục chung sức, đồng lòng xây dựng, bảo vệ và phát triển Tây Nguyên bền vững trên con đường đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng; đồng thời, tận dụng tối đa mọi nguồn lực, phát huy lợi thế và tiềm năng sẵn có của mình để cùng đồng bào cả nước xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Vì thế, mọi luận điệu cho rằng “người Thượng bị tước đoạt đất đai, bị ép từ bỏ đạo Tin Lành”, bị người Kinh “thượng đẳng o ép”, bị “ngăn cản khi muốn sang định cư ở nước ngoài”; “chính quyền bắt đầu truy quét các nhà thờ Tin Lành ở Tây Nguyên” và “các cuộc biểu tình rầm rộ của người Thượng chính là nhằm để đòi tự do tôn giáo và được trả lại đất đai” hay Đảng Cộng sản Việt Nam “luôn đi ngược lại chính sách đại đoàn kết dân tộc” và “giờ đây lại còn đổ vấy trách nhiệm về biến cố xả súng ở huyện Cư Kuin là do các thế lực thù địch” đều không phải là sự thật, đều là phản động. Đồng thời, những chiêu trò, thủ đoạn lợi dụng, núp bóng nhân quyền, tôn giáo, lợi dụng những vấn đề lịch sử để kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, ly khai, tự trị trong một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số và đòi thành lập “Nhà nước Đềga độc lập” ở Tây Nguyên của các thế lực thù địch đều là nhằm mục đích chia rẽ người dân tộc thiểu số với người Kinh; chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc và chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ. Ở Việt Nam, không có chuyện Tây Nguyên và người Thượng bị “đóng cửa với thế giới”, bị “đàn áp”, mà chỉ có một sự thật là nếu nhân danh tôn giáo, nhân quyền để hoạt động gây rối, vi phạm pháp luật thì tất yếu sẽ bị xử lý nghiêm minh./.

 

 

TÂY NGUYÊN KHÔNG CHỈ ỔN ĐỊNH MÀ NGÀY CÀNG PHÁT TRIỂN

 

Với việc triển khai thực hiện Nghị quyết 10/NQ-TW ngày 18/1/2002 của Bộ Chính trị về “Phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên”, hệ thống chính trị các cấp ở Tây Nguyên đã không chỉ tập trung giải quyết những vấn đề vừa cơ bản vừa cấp bách, mang tính đột phá như đất đai, nhà ở, việc làm, nước sinh hoạt, xóa đói nghèo, y tế… cho bà con các dân tộc thiểu số, mà còn chú trọng bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống bản địa, đặc sắc của cộng đồng các dân tộc anh em. Cùng với đó, việc huy động mọi nguồn lực phát triển mạng lưới giao thông như hệ đường bộ toàn vùng kết nối các tỉnh Tây Nguyên, mở rộng cơ hội giao thương với các trung tâm lớn cả nước và các nước trong khu vực. Hệ thống giao thông liên cửa khẩu nối liền Tây Nguyên với Campuchia và Lào, qua các cửa khẩu quốc tế ĐĐắk Ruê (Đắk Lắk), Lệ Thanh (Gia Lai), Bờ Y (Kon Tum). Đường hàng không phát triển với ba sân bay Liên Khương, Buôn Ma Thuột và Pleiku; đường Hồ Chí Minh cùng đường hành lang kinh tế Đông - Tây đi qua các tỉnh vùng Tây Nguyên… đã không chỉ tạo điều kiện để các vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới được thông thương thuận tiện, mà còn góp phần phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng và nâng cao đời sống nhân dân vùng Tây Nguyên.

Thực tế, những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế vùng Tây Nguyên đều tăng cao hơn so với bình quân chung của cả nước. Cụ thể, “giai đoạn 2016 - 2020, tăng trưởng bình quân của vùng Tây Nguyên đạt 6,55%; GRDP bình quân đầu người đến năm 2020 đạt 55,6 triệu đồng/người, gấp 1,4 lần so với năm 2016. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng dần tỷ trọng công nghiệp - xây dựng - dịch vụ. Tỷ trọng các ngành nông nghiệp, công nghiệp và xây dựng, dịch vụ, thuế trợ cấp sản phẩm năm 2020 tương ứng là 33,51%; 21%, 40,83% và 14,66%”. Vì thế mà, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đã ngày càng chuyển biến tích cực, khởi sắc; cuộc sống du canh, du cư, ốm đau bệnh tật được khắc phục dần; đời sống văn hóa, tinh thần ngày càng phong phú, đa dạng... Cũng vì thế, Tây Nguyên không phải “là vùng đất gần như đóng cửa với thế giới” mà là kết nối để phát triển bền vững. Bởi, đánh giá đúng vị trí chiến lược và vai trò đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của Tây Nguyên, Đảng và Nhà nước Việt Nam không chỉ quan tâm lãnh đạo, chăm lo đầu tư xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng vùng Tây Nguyên sau hai cuộc kháng chiến kéo dài 30 năm (1945-1975) đã để lại hậu quả nặng nề, mà còn đặc biệt quan tâm phát triển vùng đất này trên tinh thần làm tốt kinh tế, xã hội sẽ góp phần quan trọng vào ổn định chính trị, trật tự xã hội; và ngược lại, tình hình ổn định tốt thì mới yên tâm phát triển kinh tế-xã hội như Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 6/10/2022 của Bộ Chính trị về “Phương hướng phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” .

Quan điểm “phát triển Tây Nguyên nhanh, bền vững là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước và là nhiệm vụ xuyên suốt, trọng tâm, có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển của các địa phương trong vùng và cả nước” và “xây dựng và phát triển Tây Nguyên kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, bảo vệ tài nguyên, môi trường gắn chặt với quốc phòng, an ninh và đối ngoại” đã, đang được triển khai. Đó chính là, phát triển hạ tầng chiến lược, nhất là hạ tầng giao thông, góp phần phát triển hành lang kinh tế Đông - Tây, hàng lang kinh tế Bắc - Nam để kết nối vùng, tạo không gian phát triển mới; phát triển hạ tầng y tế, giáo dục và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực… Đó là thực hiện các chính sách để nâng cao trình độ dân trí, đời sống vật chất và tinh thần của người dân; hình thành nếp sống văn minh, gia đình văn hóa trong đồng bào các dân tộc. Đồng thời, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo, truyền thống tốt đẹp, các di tích lịch sử, văn hóa tiêu biểu các dân tộc Tây Nguyên gắn liền với việc duy trì, bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa tiêu biểu đặc trưng của vùng và di sản văn hóa đồng bào dân tộc thiểu số… với dự kiến tăng trưởng GRDP bình quân giai đoạn 2021-2025 là khoảng 7-8%.

Các con số “cơ cấu kinh tế năm 2025: nông nghiệp 29,6%; công nghiệp - xây dựng 25,4%; dịch vụ 40,4%; thuế sản phẩm 4,6%. GRDP bình quân/người đến năm 2025 khoảng 85 triệu đồng. Tập trung huy động mọi nguồn lực để đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng, hạ tầng đô thị, công nghệ thông tin; chú ý phát triển giao thông kết nối các cảng biển miền Trung và Vùng kinh tế trọng điểm Đông Nam Bộ, tập trung đầu tư phát triển các công trình thủy lợi lớn, kênh dẫn kết nối, các hồ chứa nhằm đảm bảo nước tưới cho sản xuất; tăng cường phối hợp và liên kết vùng, xây dựng cơ chế phối hợp có hiệu quả nhằm khai thác được các tiềm năng, lợi thế của từng địa phương, của vùng” đã cho thấy: Mọi quyết sách liên quan đến Tây Nguyên là nhằm để chuyển khu vực Tây Nguyên từ trạng thái “ổn định để phát triển” sang “phát triển để ổn định” như Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã khẳng định tại Hội nghị triển khai Nghị quyết 23 ngày 20/11/2022. Vì thế, luận điệu Tây Nguyên bị “cô lập”, bị “đóng cửa”, bị “ngăn cách” đều là không khách quan; là xuyên tạc sự thật.