Thứ Năm, 13 tháng 7, 2023

 

THẾ NÀO LÀ "CHỦ NGHĨA XÃ HỘI HOANG TƯỞNG"?

Xuyên tạc về chủ nghĩa xã hội là những luận điệu từ trước đến nay các thế lực chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam vẫn luôn tiến hành, đặc biệt là những thời điểm có tính quyến định về đường hướng phát triển của đất nước. Chúng cho rằng “Việt Nam kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là đi theo vết xe đổ của Liên Xô”, “Việt Nam bỏ qua chế độ tư bản là trái quy luật, là duy ý chí nên thất bại”, “Việt Nam đang đi theo con đường tư bản chủ nghĩa và trá hình chủ nghĩa”.

Hay gần đây trang mạng “Dân làm báo” vừa đăng tải bài viết “Việt cộng lải nhải chủ nghĩa xã hội hoang tưởng và quảng cáo dân chủ giả hiệu là do dốt nát hay điếm đàng?”. Vậy thực tế có phải chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước xã hội chúng ta đã và đang lựa chọn là “chế độ xã hội hoang tưởng” như những gì “Dân làm báo” đã đăng tải?

Thứ nhất, chúng ta phải nhận thấy rõ việc Việt Nam bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tiến lên chủ nghĩa xã hội là hợp quy luật phát triển của lịch sử. Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin, ngay từ Chánh cương vắn tắt được thông qua tại Hội nghị hợp nhất ba tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng đã xác định làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản. Đến Cương lĩnh năm 1991, Đảng đã xác định “Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; song loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội và đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”. Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) một lần nữa khẳng định “Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”, “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.

Thứ hai, thực tiễn phát triển của cách mạng nước ta từ khi có Đảng Cộng sản lãnh đạo đã xác định: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn. Lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã ội ở nước ta ngày càng được xác định rõ hơn và từng bước được hiện thực hóa. Đất nước đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay.

Những thành tựu của 35 năm thực hiện cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử. Vậy nên những gì mà Dân làm báo hay những kẻ chống phá đất nước xuyên tạc về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước ta hay về cái gọi là "chủ nghĩa xã hội hoang tưởng"... là hoàn toàn sai sự thật và đó là luận điệu của những kẻ lạc lõng trong gần 100 triệu người dân Việt Nam mà thôi.

 

 

 

KHÔNG AI CÓ THỂ LÀM MỜ HÌNH ẢNH "ANH BỘ ĐỘI CỤ HỒ"

Truyền thống Bộ đội Cụ Hồ là một bộ phận của truyền thống dân tộc, truyền thống cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Phẩm chất truyền thống Bộ đội Cụ Hồ được xây đắp nên từ sự chiến đấu, hy sinh vô bờ bến của nhiều thế hệ cán bộ chiến sỹ; được Đảng ta và chủ tịch Hồ Chí Minh dày công tổ chức, giáo dục, rèn luyện; được nhân dân hết lòng thương yêu đùm bọc và được phát triển thông qua thực tiễn quá trình đấu tranh cách mạng, xây dựng và trưởng thành của Quân đội; được lưu giữ, kế tục, phát triển qua nhiều thế hệ…

Bước sang thời kì đổi mới, Quân đội Nhân dân Việt Nam vẫn mang trong mình nhiệm vụ của một đội quân chiến đấu, đội quân sản xuất, đội quân công tác, nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ độc lập, thống nhất, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, thực hiện tăng gia sản xuất, công tác dân vận, chính sách với người có công, tham gia khắc phục hậu quả thiên tai, phòng chống lụt bão. Hình ảnh anh bộ đội Cụ Hồ sẵn sàng hy sinh cả tính mạng giúp đỡ nhân dân miền Trung trong trận lũ năm 2020 là hình ảnh đẹp in sâu trong lòng nhân dân cả nước, thể hiện truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Đến Hình ảnh những anh bộ dội Cụ Hồ ngày đêm bám rừng bám chốt ngăn chặn người nhập cảnh trái phép giữa lúc dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, bao tháng liền ăn lán ngủ rừng nhường doanh trại làm khu cách ly, công việc vất vả, xa nhà, thiếu thốn vật chất đã bao giờ bỏ cuộc.

Đúng là khi Quân đội ta càng lớn mạnh càng được sự tin yêu của nhân dân thì thế lực thù địch càng quyết liệt hàng ngày, hàng giờ sử dụng những thủ đoạn và luận điệu xảo trá chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội… Mục đích làm xấu hình ảnh, giảm sút uy tín của “Anh bộ đội cụ Hồ” trong mắt của quần chúng nhân dân.

Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, lực lượng chống cộng cực đoan ở nước ngoài đã triệt để lợi dụng intenet và các trang mạng xã hội để tán phát các tin, bài, videoclip có nội dung chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội với sự gia tăng cả về cấp độ, mật độ, tần suất và lưu lượng tin, bài; bằng những chiêu thức, thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm hiểm nhằm thu hút sự quan tâm, theo dõi của cộng đồng mạng. Những thủ đoạn chúng thường dùng trên mạng xã hội, như: tung tin thất thiệt, lừa bịp, mị dân, thật giả lẫn lộn,… làm cho một bộ phận cư dân mạng mất phương hướng, lầm tưởng đó là sự thật, dẫn đến hoài nghi, thiếu niềm tin với Đảng, Nhà nước và chế độ ta, nghe theo lời kích động để tụ tập đông người, gây rối, chống người thi hành công vụ, hủy hoại tài sản của nhà nước và công dân. Nhiều người vì quá vội tin, có những người vì thiếu hiểu biết, cá biệt có một bộ phận cư dân mạng trong đó cả những người có học thức, địa vị trong xã hội không cần biết đến nội dung của vấn đề thấy người khác chia sẻ, bình luận cũng “nhảy vào” a dua, phụ họa, bình luận, chia sẻ theo kiểu chạy theo đám đông, bệnh anh hùng bàn phím.

Hãy cảnh giác với chiêu trò của thế lực thù địch; hãy lên án, vạch trần bộ mặt giả dối, bỉ ổi và những âm mưu xấu, độc của bọn phản động, lưu vong ở nước ngoài đang ráo riết chống phá nền độc lập, tự do mà nhân dân ta đang có. Hãy là người sử dụng mạng xã hội thông thái, để phục vụ đất nước, góp phần bảo vệ nền hòa bình, độc lập của dân tộc mà bao lớp cha anh của chúng ta đã đổ xương máu mới giành được./.

 

XUYÊN TẠC QUÁ KHỨ - SỰ XẤU HỔ CỦA LƯƠNG TRI.

Đất nước thống nhất, hòa bình; người dân được hưởng ấm no, hạnh phúc. Sự nghiệp vĩ đại ấy cả dân tộc Việt Nam đã phải đánh đổi bằng biết bao xương máu. Bởi thế, thực hiện tốt nhất chính sách đối với người có công (NCC) với cách mạng là đạo lý của dân tộc. Những lời lẽ xét lại, xuyên tạc, bịa đặt về chính sách ấy luôn lạc lõng và sẽ tự tiêu vong.

Không xa lạ gì thủ đoạn của những kẻ “vừa ăn cắp vừa la làng”. Một mặt họ cho rằng, Đảng, Nhà nước Việt Nam không quan tâm đến NCC, mặt khác họ lại tìm mọi cách phủ nhận sự hy sinh to lớn của dân tộc ta, phủ nhận xương máu của những người đã ngã xuống vì nền độc lập, tự do của dân tộc. Cứ đến ngày 30-4, họ lại rêu rao rằng: “Sự hy sinh của các anh hùng liệt sĩ là không cần thiết, vô nghĩa”. “Chính Đảng Cộng sản Việt Nam phải chịu trách nhiệm cho sự hy sinh đó, vì đã gây ra cảnh “nồi da xáo thịt”… Ngay như dịp 30-4 năm nay, đài BBC đưa ra một xê-ri bài nói về ngày đó. Nhà đài này chủ ý dùng thuật ngữ “biến cố” 30-4 mà không chịu thừa nhận một sự thật hiển nhiên rằng đó là ngày đất nước Việt Nam được thống nhất. Họ hoàn toàn không khách quan khi phỏng vấn hàng loạt cá nhân thiếu thiện chí với Việt Nam, những người phía bên kia để kết luận rằng: “Sự phân cực giữa những người Việt Nam lại trỗi dậy minh họa sống động cho cuộc thống nhất còn ngổn ngang sau gần nửa thế kỷ sau biến cố ngày 30-4-1975”…

Vẫn là chiêu bài hai mặt, khi chúng ta thực hiện tốt chính sách đối với NCC thì nhiều đối tượng bất mãn lại quay sang công kích chính sách đó. Sự kiện năm 2020 vừa qua, khi 13 cán bộ, chiến sĩ hy sinh trong quá trình đi cứu dân do mưa, lũ ở miền Trung, Đảng, Nhà nước ghi nhận công lao, sự hy sinh của các cán bộ, chiến sĩ thì lại xuất hiện các giọng điệu xuyên tạc, phản động. Táng tận nhất là những kẻ trong liên minh “nhà dân chủ”, KOLS, “nhà báo công dân” thường xuyên xuyên tạc tình hình đất nước. Một thành viên của nhóm “Báo sạch” có nhiều bình luận xuyên tạc trên Facebook. Họ đã đổi trắng thay đen, bịa đặt rằng đoàn cán bộ đi công tác vào thủy điện Rào Trăng không phải vì cứu dân mà vì “có cổ phần trong nhà máy thủy điện”. Trên Facebook của một người tên là “Thinh Nguyen” đã rất xấc xược, vô cảm khi nói về sự hy sinh của các cán bộ, chiến sĩ. “Việc các thiếu tướng, đại tá đi cứu hộ, cứu nạn là không cần thiết, nên để cho chiến sĩ”; “cứ mặc định người của quân đội, công an chết thì thành liệt sĩ còn người dân chết khi lũ lụt, hạn hán thì không ai thương”… Tiền hô hậu ủng, Facebook của các đối tượng thường xuyên chống Đảng, Nhà nước đang cao chạy xa bay liên tục hùa theo, nổi bật là cái tên “Người buôn gió”. Nhưng nếu chúng ta chỉ một chút chậm chạp, thiếu sót, chưa kịp làm chế độ, chính sách đối với các cán bộ, chiến sĩ hy sinh thì chắc chắn những luận điệu kia lại quay ngoắt 180 độ để công kích rằng Đảng, Nhà nước Việt Nam không quan tâm đến các cán bộ, chiến sĩ. Đó là sự tráo trở của những kẻ hai mặt.

Những chính sách tri ân và hành động hiếu nghĩa

Phải rất thấu hiểu và chia sẻ với đất nước bởi trải qua các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, số đối tượng NCC là rất lớn, đất nước còn những khó khăn nhất định. Bởi thế, ở đâu đó, còn trường hợp nào đó chưa được quan tâm, chăm sóc chu đáo cũng rất cần sự cảm thông. Nhưng đó không đại diện cho đa số, không thể hiện bản chất chế độ. Những kẻ xuyên tạc, bịa đặt chính sách lại cố tình lờ đi rằng, những năm qua, Đảng, Nhà nước ta đã rất cố gắng chăm lo đối với NCC.

Những ngày này, dù dịch Covid-19 tác động lớn đến đời sống xã hội, nhưng tất cả các cấp, các ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị đều đẩy mạnh hoạt động tri ân, đền ơn đáp nghĩa. Chính sách ưu đãi NCC với cách mạng là một chính sách đặc biệt của Đảng, Nhà nước nhằm tôn vinh, biết ơn, thể hiện đạo lý, truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”. Ngày 19-7-2017, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 14-CT/TW “Về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác NCC với cách mạng”. Mục tiêu từ thời điểm đó đã đặt ra là phấn đấu đến năm 2020, 100% gia đình NCC với cách mạng có mức sống bằng hoặc cao hơn mức trung bình của cộng đồng dân cư nơi cư trú. Cả hệ thống chính trị đã nỗ lực để đạt được mục tiêu ấy. Pháp lệnh Ưu đãi NCC với cách mạng có hiệu lực từ ngày 1-7-2021 thay thế cho pháp lệnh cũ đã bao quát tất cả các nhóm đối tượng được hưởng ưu đãi. Pháp lệnh cũng quy định trách nhiệm thực hiện từ Trung ương đến địa phương, sử dụng cả nguồn lực từ ngân sách nhà nước và nhiều nguồn lực khác trong xã hội để thực hiện chính sách đối với NCC tốt nhất. Mới đây nhất, ngày 24-7 vừa qua, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 75/2021/NĐ-CP quy định mức hưởng trợ cấp, phụ cấp và các chế độ ưu đãi NCC với cách mạng, theo đó nhiều quy định về chế độ ưu đãi và trợ cấp đã được sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh tăng theo hướng có lợi hơn đối với NCC.

Đến nay, cả nước có khoảng 9,2 triệu NCC được hưởng các chế độ, chính sách ưu đãi, trong đó gần 1,4 triệu người đang hưởng chế độ ưu đãi hằng tháng. Nhiều chính sách ưu đãi dành cho NCC đang được thực hiện, như: Chăm sóc sức khỏe, phụng dưỡng, tặng sổ tiết kiệm, ưu tiên giao đất sản xuất, hỗ trợ cải thiện về nhà ở, dạy nghề, tạo việc làm. Đặc biệt, Phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” được lan tỏa rộng rãi, huy động được nhiều nguồn lực xã hội tham gia. Từ phong trào này, hàng vạn ngôi nhà tình nghĩa được xây mới tặng NCC. Riêng trong lực lượng vũ trang, những năm qua, toàn quân đã và đang triển khai rất nhiều hoạt động đền ơn đáp nghĩa, như: Hỗ trợ thân nhân liệt sĩ đang công tác trong quân đội; phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng; xây dựng Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”; xây tặng hơn 4.300 nhà tình nghĩa, nhà đồng đội; giải quyết việc làm cho con liệt sĩ, thương binh, bệnh binh nặng; thăm hỏi, tặng quà đối tượng chính sách và NCC với cách mạng… Đó là những minh chứng rõ ràng nhất về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với NCC trong thực tế cuộc sống.

 

 

CẢNH GIÁC VỚI MƯU ĐỒ BÔI ĐEN HIỆN THỰC, CHIA RẼ

 KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT QUÂN-DÂN!

Trước sự ra đi của một quân nhân thực hiện nghĩa vụ quân sự bảo vệ Tổ quốc khi tuổi đời còn quá trẻ, khi mà tương lai tốt đẹp đang chờ đợi em ở phía trước thì hết thảy mọi người đều đau lòng, đều thương xót. Mọi người đều mong muốn được biết tận cùng về sự thật. Chắc chắn trong mỗi chúng ta không ai có thể ngay lập tức chấp nhận được một thực tế quá đau lòng này.

Khi mà sự thật chưa được làm sáng tỏ thì chúng ta đều ít nhiều có những phân tích, suy luận và đánh giá về sự việc theo quan điểm và cách nghĩ của mỗi cá nhân, nhưng hết thảy chúng ta đều là những người ngoài cuộc, tư duy, suy luận của chúng ta không có đầy đủ các dữ liệu, chứng cứ để đưa ra một kết luận hoàn toàn khánh quan chính xác. Để khắc phục hạn chế đó chúng ta đã có những cơ quan chuyên trách, có chuyên môn, có nghiệp vụ, chịu trách nhiệm trước Nhân dân, trước Đảng, trước Nhà nước và quân đội khi thực thi chức trách nhiệm vụ này.

Quân đội là một xã hội thu nhỏ, mọi việc xảy ra ngoài xã hội cũng có thể xảy ra trong quân đội. Có lẽ quân đội nào trên thế giới cũng có việc các quân nhân mâu thuẫn, xíc mích, mất đoàn kết đặc biệt là ở một môi trường các quân nhân đang trong lứa tuổi học tập, rèn luyện để hoàn thiện về nhân cách, cũng có thể có những sự việc đáng tiếc xảy ra nhưng mỗi sự việc là một nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh và kết quả khác nhau không có bất cứ sự việc nào giống sự việc nào và chúng ta không thể lấy sự việc này để kết luận thay cho sự việc khác.

Nếu mỗi chúng ta đều cho mình một cái quyền là cơ quan chức năng, là chuyên gia pháp y… khi gần như không có kiến thức chuyên môn liệu chúng ta có tránh khỏi những kết luận vội vàng.

Thương xót đồng loại, người thân là một trạng thái tâm lý, đạo đức tích cực nó làm cho mỗi chúng ta trở thành con người theo đúng nghĩa hơn, nhưng không có nghĩa như thế là chúng ta có quyền phán xét hay đưa ra những kết luận về một sự việc vốn cần có chứng kiến, hiểu biết đầy đủ về diễn tiến và hơn hết là một chuyên môn khoa học.

Về tình cảm có lúc ai cũng trải qua những cảm xúc và cũng tự đặt ra những câu hỏi, cũng có lúc ít nhiều có hoài nghi như rất nhiều người. Nhưng không vì suy nghĩ của chúng ta mà cơ quan chức năng lại đưa ra một kết luận về một sự việc nếu nó không tồn tại và không xảy ra như vậy. Chúng ta không thể kết luận và quy tội với một cá nhân hay một tổ chức là có tội nếu họ vốn không có tội. Và chúng ta cũng hoàn toàn tin tưởng rằng cá nhân, tập thể nào vi phạm chắc chắn đều không thể tránh khỏi sự trừng phạt của pháp luật.

Khi sự việc chưa có một kết luận cuối cùng của cơ quan chức năng, mỗi chúng ta nên hãy bình tĩnh để chờ đợi, đừng suy diễn, đừng tự làm chuyên gia pháp y, hay thẩm phán, quan tòa. Đặc biệt là chúng ta không để sự việc này là cơ hội cho các thế lực thù địch lợi dụng để chia rẽ truyền thống gắn bó cá- nước của quân và dân.

Việc đâu có đó, sự thật sẽ được công bố, nếu có sai phạm chắc chắn sẽ được xử lý nghiêm.

Nếu ai đó đang kêu gọi thanh niên không thực hiện nghĩa vụ quân sự, xin hãy bình tâm nghĩ lại nếu không có sức mạnh quân đội liệu đất nước có được hòa bình. Rất nhiều thế lực thù địch đang mong chờ vào điều đó. Hơn lúc nào hết chúng ta cần bình tĩnh, tin vào Nhà nước, tin vào công lý, và tin vào Quân đội. Chỉ có đoàn kết, thống nhất mới giúp Dân tộc ta vượt qua mọi khó khăn.

Cả hệ thống chính trị, Chính phủ và nhân dân ta chống dịch và phát triển kinh tế trong thời điểm khó khăn này cũng đủ vất vả lắm rồi. Xin chúng ta đừng tự làm chúng ta khó khăn hơn nữa.

CÁC "NHÀ" DÂN CHỦ TRONG NƯỚC

SỢ "DÍNH" ĐẾN VIỆT TÂN?

Đây không chỉ còn là quy kết của chính quyền, công an. Chính đám dân chủ cũng rất sợ bị khẳng định “dính” đến Việt tân. Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Phạm Đoan Trang, Nguyễn Anh Tuấn và đám tay chân VOICE, số cầm đầu cốt cán NO-U, Con đường Việt Nam…đều nhiều lần công khai phủ nhận mình bị chi phối hoạt động bởi Việt tân, cho dù chúng biết rõ kẻ đang điều hành hoạt động của chúng là VOICE, Dân làm báo…đều là tổ chức ngoại vi của Việt tân. Vì sao họ sợ “mang tiếng” là dính đến Việt tân như vậy?

Thứ nhất, là họ sợ truyền thống khủng bố, manh động, liều lĩnh của Việt tân. Dính đến Việt tân đã bị Bộ Công an Việt Nam kết luận là tổ chức khủng bố, đồng nghĩa với việc dân chúng, dư luận quốc tế sẽ có cái nhìn “thiếu thiện cảm” về họ. Thêm nữa, nếu họ phản bội băng đảng này thì tương lai vô cùng u ám khi bị đám công đồ số đông đó khủng bố hàng ngày bằng truyền thông. Nguyễn Ngọc Như Quỳnh là bằng chứng rõ nét nhất, sau khi bị bội bạc với người tình Việt tân, Quỳnh chống Việt tân quyết liệt nên luôn bị dàn đệ tử cuồng Việt tân cả trong và ngoài nước tấn công hàng ngày, nay sang Mỹ còn thảm hơn.

Thứ hai, Việt tân có truyền thống đẩy tay chân trong nước vào tù.

Tổ chức khủng bố Việt Tân được đại diện bởi đối tượng Đỗ Hoàng Điềm và một số thành viên vệ tinh được bầu chọn làm kẻ cầm đầu của tổ chức. Việt Tân đã đẩy các thành viên của chính tổ chức này vào con đường tù tội bằng những hành vi khủng bố, phá hoại. Rõ ràng, để chống phá Việt Nam, các thành viên của tổ chức này phải chứng minh bằng hành động như tuyên truyền chống phá, khủng bố phá hoại, đào tạo huấn luyện... và đó chính là mối quan hệ giữa “nguyên nhân” và “kết quả” khi các đối tượng rơi vào vòng lao lý. Các thành viên của tổ chức khủng bố Việt Tân không chỉ vi phạm pháp luật Việt Nam, mà còn vi phạm pháp luật quốc tế về các hành vi xuất, nhập cảnh trái phép, khủng bố phá hoại...

Thời gian qua, cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an đã bắt giữ và đưa ra điều tra, xét xử nhiều đối tượng liên quan đến tổ chức khủng bố Việt Tân, như: Nguyễn Quốc Quân, Trương Leon, Mai Hữu Bảo, Lương Văn Mỹ, Nguyễn Thị Thanh Vân... và các đối tượng đều nhận các bản án thích đáng trước pháp luật, là hậu quả do chính họ đã dấn thân vào Việt tân.

Chính đám tay chân trong nước đã tổng kết quy trình của Việt tân sau khi đẩy đồng bọn vào tù là dùng họ để truyền thông quảng bá ảnh hưởng của tổ chức, lấy họ làm “bằng chứng” để ngoại giao với thế giới để tố cáo Việt Nam, dùng họ để gây quỹ và lòe bịp kiều bào thu tiền…

Chẳng hạn, trường hợp Châu Văn Khảm sau khi bị xét xử, đồng loạt các tổ chức, cá nhân chống phá Việt Nam ở trong nước, nước ngoài, trong đó “chủ công” là tổ chức khủng bố Việt Tân đã đưa thông tin lên mạng suy tôn hành vi của đối tượng là một “hoạt động cải cách Việt Nam”, đồng thời kêu gọi các nhà nước can thiệp để Việt Nam thả tự do cho Khảm và đồng bọn. Ngày ngày, Việt Tân nghĩ ra đủ chiêu trò khai thác hỉnh ảnh Châu Văn Khảm để nuôi dưỡng truyền thông, nào là “chúc mừng sinh nhật tù nhân lương tâm Châu Văn Khảm”; nào là kêu gọi cộng đồng cùng tham gia ký kiến nghị thư để đòi trả tự do cho Châu Văn Khảm, nào là vận động chính giới, dân biểu Mỹ, EU can thiệp, bảo trợ cho Châu Văn Khảm...

Mượn chính thành viên đã bị kết án để chống phá Nhà nước, đó là cách mà Việt Tân đã khôn ngoan lựa chọn, dụng ý với những thủ đoạn thâm hiểm mà chính những thành viên tham gia vào tổ chức khủng bố này không hay biết. Tổ chức khủng bố Việt Tân tự đẩy sự việc đi xa, định hướng dư luận bằng luồng thông tin không chính xác về Châu Văn Khảm. Và chính những nguồn tin này đã gây ra “điểm mù” khi vẫn còn nhiều người thiếu nhãn quan chính trị, sự khách quan, thấu đáo và thận trọng trong đánh giá vụ việc.

Thứ ba, việc dính đến Việt tân đồng nghĩa vỏ bọc đấu tranh ôn hòa, bất bạo động, cơ hội thành “chính khách” càng xa vời bởi “lý lịch” quá đen tối, bẩn thỉu của Việt tân, khiến chính kiều bào phải tố cáo, những người nước ngoài có lương tri phải ghê sợ.

Việt Tân đã lộ rõ bản chất chống phá Việt Nam, mặc dù chúng vẫn rêu rao các hoạt động vì Tổ quốc, vì người dân Việt Nam. Nếu xét thấu đáo thì mọi hành vi của chúng đều hướng đến mục đích cá nhân, bởi vậy, các thông tin nhào nặn, tuyên truyền tạo nên tâm lý hoài nghi, dao động, tăng cường kêu gọi sự can thiệp của bên ngoài vào Việt Nam về vấn đề “tôn giáo”, “dân chủ”, “nhân quyền”... thực chất là phục vụ các thế lực phản động quốc tế đang dung dưỡng chúng. Truyền thống và hiện thực đã quá đủ để cảnh báo bất cứ thuộc hạ, đám a dua nào dây dưa đến Việt tân.

 

   Sự kiểm chứng đúng đắn từ lý luận đến thực tiễn về vai trò lãnh đạo của Đảng


 Thấm nhuần những nguyên lý của Chủ nghĩa Mác-Lênin, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã xác định rằng, cách mạng giải phóng dân tộc, cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam muốn thắng lợi trước hết phải có Đảng Cộng sản lãnh đạo. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trước hết phải có Đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”.
Thực tế lịch sử ở Việt Nam và trên thế giới đã chứng minh tính tất yếu khách quan vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong các giai đoạn của tiến trình cách mạng Việt Nam. Không có một tổ chức chính trị nào có thể thay thế được vai trò này của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mọi luận điểm nhằm hạ thấp hoặc muốn xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam đều trái với điều kiện thực tế của nước ta.
Sự cần thiết phải có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam không phải tự nhiên mà có, nó là tất yếu của lịch sử. Trong thời kỳ giải phóng dân tộc ở Việt Nam trước đây, ngoài phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và dẫn dắt, đã có những phong trào cứu nước, giải phóng dân tộc của một số hội, đoàn thể, đảng phái khác . Tuy nhiên, những tổ chức, đảng phái này do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó nguyên nhân chủ yếu là do đường lối, mục tiêu của các tổ chức, đảng phái đó không phù hợp với xu thế phát triển của dân tộc, thời đại, không quy tụ, tập hợp được quần chúng nhân dân... nên đã không thể lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam và dần tan rã, thất bại.
Đúc rút từ sự sụp đổ của Liên Xô và chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu vào những năm cuối của thập niên 1980, 1990 cũng cho thấy, một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn tới sự sụp đổ chế độ chính trị ở các nước này là đã từ bỏ, buông lỏng, phủ nhận vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản, để cho các lực lượng thù địch, phản động lợi dụng, vô hiệu hóa, cướp chính quyền, đưa đất nước đi theo con đường khác khi có những biến cố về chính trị./.

Để việc nêu gương về đạo đức cách mạng trở thành phương thức lãnh đạo hiệu quả của Đảng trong giai đoạn phát triển mới

 Trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng hơn 93 năm qua, Đảng ta luôn chú trọng thực hiện phương thức nêu gương về đạo đức cách mạng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên; quan tâm công tác tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận về xây dựng Đảng để không ngừng đổi mới, nâng cao hiệu quả phương thức lãnh đạo, thực hiện tốt vai trò “lãnh đạo đất nước và xã hội”. Đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay là nhờ đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng, sự cống hiến tận tụy, hy sinh của lớp lớp thế hệ cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, những tấm gương mẫu mực, trung với nước, với Đảng, hiếu với dân.

Dù vậy, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “trong hàng chục vạn cán bộ và đảng viên xứng đáng, còn lẫn vào một số người thấp kém về tinh thần và đạo đức cách mạng. Họ còn mang nặng chủ nghĩa cá nhân trong mình”(10). Người căn dặn toàn Đảng: “việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ đảng giao phó cho mình, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân. Làm được như vậy, thì dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi”(11).

Đội ngũ cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, giữ vững phẩm chất đạo đức của người cách mạng; thiếu tu dưỡng đạo đức sẽ rất dễ dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng, không có đạo đức cách mạng thì “tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”(12)

Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta đã nêu rõ quan điểm: Một trong 8 phương hướng để nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào giữa thế kỷ XXI là xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Để bảo đảm được vai trò lãnh đạo của Đảng, cùng với sự vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, phải tập trung xây dựng Đảng về đạo đức; đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí. Không đạt được mục tiêu này, Đảng sẽ suy yếu và không thể giữ được vai trò cầm quyền, lãnh đạo sự nghiệp đổi mới.

Nghị quyết số 15-NQ/TW, ngày 30-7-2007, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị” là một bước tiến quan trọng, đánh giá quá trình hơn 20 năm đổi mới tư duy, nhận thức và phương thức lãnh đạo của Đảng gắn liền với công cuộc đổi mới toàn diện đất nước bắt đầu từ Đại hội VI của Đảng (năm 1986); đề ra phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp cụ thể để tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính trị. Trên cơ sở đó, ngày 17-11-2022, tại Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 28-NQ/TW, “Về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới”. Một trong 6 nhiệm vụ, giải pháp được Nghị quyết số 28-NQ/TW nhấn mạnh, đó là: Phát huy vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; từ đó, dẫn đến những thay đổi tích cực về lề lối, phong cách làm việc, cách thức lãnh đạo, hiệu quả hoạt động của các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị - xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng thông qua việc tổ chức thực hiện cương lĩnh, chiến lược, định hướng về chính sách, chủ trương lớn; thông qua công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Thời gian qua, trên cả nước đã có rất nhiều tấm gương tiêu biểu, mô hình điển hình(13) trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Từ việc học tập và làm theo Bác, nhiều cách làm hay, sáng tạo trong rèn luyện, nêu gương về đạo đức cách mạng được phát huy, nhân rộng, góp phần lan tỏa sâu rộng trong Đảng và trong nhân dân(14).

Tại Hội nghị Trung ương 8 khóa XII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: Nhờ có những chủ trương, quy định đúng đắn, kịp thời của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về trách nhiệm nêu gương, cho nên ý thức trách nhiệm của cán bộ, đảng viên từng bước được nâng lên, từ đó có những hành động thiết thực trong công tác và cuộc sống, tạo được sự chuyển biến tích cực về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong làm việc; ý thức tổ chức kỷ luật và đoàn kết nội bộ. Việc thực hiện các chủ trương, quy định về nêu gương của Đảng đã góp phần tăng cường kỷ luật, kỷ cương của Đảng; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, đảng viên; góp phần ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, tham nhũng, tiêu cực, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng.

Tuy nhiên, trong bối cảnh thế giới đương đại đang chứng kiến tốc độ phát triển mạnh mẽ như vũ bão của khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, truyền thông, trí tuệ nhân tạo, nhiều diễn biến quan hệ quốc tế phức tạp, thời cơ đan xen thách thức, đang tiềm ẩn nhiều nguy cơ đối với Đảng cầm quyền, tác động trực tiếp đến phương thức lãnh đạo của Đảng.

Sau hơn 35 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, vị thế, sức mạnh tổng hợp và uy tín trên trường quốc tế được nâng lên. Song, “Bốn nguy cơ mà Đảng đã chỉ ra vẫn còn tồn tại, có mặt gay gắt hơn; các mối đe dọa độc lập, chủ quyền, lợi ích chiến lược của đất nước... tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; sự chống, phá quyết liệt của các thế lực thù địch, các tổ chức phản động”(15). Một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa tiên phong, gương mẫu, chưa phát huy hết trách nhiệm, thiếu bản lĩnh, còn thụ động, né tránh trong công việc, trông chờ vào cấp trên; việc thực hiện trách nhiệm nêu gương, nhất là của người đứng đầu, chưa tạo ra được hiệu quả lan tỏa thực sự tích cực.

Đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn cho thấy, phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên gương mẫu, có đạo đức cách mạng trong sáng, đủ năng lực, góp phần tăng cường, nâng cao hiệu quả phương thức lãnh đạo của Đảng để lãnh đạo đất nước phát triển nhanh, bền vững trong những năm tới. Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Trong những năm tới phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”(16). Tập trung xây dựng Đảng về đạo đức, tích cực đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; phát huy thật tốt trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Quan điểm được Đại hội XIII của Đảng nêu lên là: Nêu cao tinh thần tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên. Đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, thực hiện thường xuyên, sâu rộng, có hiệu quả việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị. Thực hiện nghiêm các quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương. Đảng viên tự giác nêu gương để khẳng định vị trí lãnh đạo, vai trò tiên phong, gương mẫu, tạo sự lan tỏa, thúc đẩy các phong trào cách mạng(17).

Bên cạnh đó, Đảng cần tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ... Xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong, gương mẫu, là hạt nhân đoàn kết(18).

Để việc nêu gương về đạo đức cách mạng trở thành phương thức lãnh đạo hiệu quả của Đảng, phát huy được vai trò, năng lực lãnh đạo, dẫn dắt của Đảng, cần thực hiện các giải pháp chủ yếu sau:

Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, của đội ngũ cán bộ, đảng viên về nêu gương và “tự giác nêu gương” theo phương châm “chức vụ càng cao càng phải gương mẫu”. Cần nhận thức sâu sắc rằng, việc nêu gương là trách nhiệm, bổn phận và đạo lý của cán bộ, đảng viên trước Đảng và nhân dân. Trách nhiệm nêu gương đó phải được thể hiện từ trong tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, hoạt động tự phê bình và phê bình; đến trong quan hệ với nhân dân, trong công tác, nâng cao ý thức tổ chức kỷ luật, giữ gìn đoàn kết nội bộ.

Nguồn gốc sức mạnh, quyền lực của Đảng là ở nhân dân. Đối với Đảng cầm quyền, nguy cơ nguy hại nhất, đáng sợ nhất là tự cắt đứt mối liên hệ với nhân dân; do vậy, cán bộ, đảng viên, nhất là những người có chức vụ càng cao càng phải rèn luyện, tu dưỡng, nêu gương về đạo đức cách mạng; kiên quyết đấu tranh với “lợi ích nhóm”, với những tổ chức đảng, đảng viên có dấu hiệu suy thoái về phẩm chất đạo đức, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Hai là, thực hiện nghiêm túc, đồng bộ và hiệu quả các quy định của Đảng về nêu gương(19) gắn với thực hiện các nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng(20) và các quy định khác của Trung ương, nhằm tăng cường kỷ luật, kỷ cương của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái, tham nhũng, tiêu cực, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

Thấm nhuần quan điểm coi công tác cán bộ là công tác “then chốt” của nhiệm vụ “then chốt”, là cái gốc của mọi công việc, là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, có liên quan đến sự sống còn của Đảng và vận mệnh của chế độ, mỗi cán bộ, đảng viên phải có ý thức “gương mẫu trong mọi công việc, liên hệ chặt chẽ với quần chúng, nội bộ thật sự đoàn kết; chấp hành tốt đường lối, chính sách của Đảng, lãnh đạo tốt sản xuất và chiến đấu; một lòng một dạ phục vụ nhân dân, thiết thực chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”(21).

Ba là, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021, của Bộ Chính trị, “Về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh””; trong đó, tập trung làm tốt ba vấn đề: Học tập, làm theo Bác và nêu gương của cán bộ, đảng viên.

“Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, kiên quyết, kiên trì, tích cực phòng ngừa, ngăn chặn và đẩy lùi tệ tham nhũng, tiêu cực, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trở thành việc làm thường xuyên, nhu cầu văn hóa tinh thần trong Đảng, tạo dấu ấn rõ rệt về xây dựng văn hóa Đảng, để Đảng ta thật sự “là đạo đức, là văn minh”(22).

Bốn là, coi trọng công tác kiểm tra, giám sát, kết hợp với phát huy vai trò giám sát của các cơ quan báo chí, các đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc thực hiện trách nhiệm nêu gương về đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Kịp thời biểu dương những điển hình tiên tiến, những tấm gương sáng về đạo đức, lối sống; đấu tranh, ngăn chặn mạnh mẽ, hiệu quả các biểu hiện lệch lạc, sai trái, xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm đạo đức, lối sống.

Kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, trong đó “xây” là cơ bản, chiến lược; “chống” là quan trọng, cấp bách. Đề cao phương châm “nói đi đôi với làm”, “rèn luyện suốt đời”, thường xuyên “tự soi”, “tự sửa” để việc nêu gương về đạo đức cách mạng thực sự mang lại hiệu quả to lớn trong đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng; qua đó, nâng cao uy tín, năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ, đảng viên cũng như của các tổ chức đảng trước quần chúng nhân dân, đưa việc nêu gương thực sự trở thành nền nếp, tập quán đạo đức, văn hóa tốt đẹp trong Đảng và toàn xã hội./.

  Chế độ một đảng lãnh đạo không cản trở dân chủ và phát triển ở Việt Nam


 Đảng là tổ chức chính trị của giai cấp, mang tính chất giai cấp, là sự liên kết tự nguyện của những người cùng chí hướng và cùng quyền lợi. Bản chất của đảng chính trị chính là bản chất giai cấp mà nó đại diện.
Trong xã hội có phân chia giai cấp, mỗi giai cấp khác nhau có đảng khác nhau, thậm chí trong cùng một giai cấp cũng có thể có nhiều đảng khác nhau. Những đảng của cùng một giai cấp sẽ có cùng bản chất của giai cấp, có lợi ích gắn liền với giai cấp sinh ra nó, chúng chỉ khác nhau về hình thức tổ chức, phương thức hoạt động và những mục tiêu cụ thể mà không đối lập về bản chất. Những đảng của các giai cấp khác nhau hoặc đối lập nhau thì không chỉ khác nhau về tôn chỉ, mục đích, phương cách hoạt động, nguyên tắc tổ chức mà còn đối lập về bản chất của đảng. Như vậy, sự đa đảng cũng có nhiều sắc thái khác nhau. Có hiện tượng đa đảng nhưng vẫn nhất nguyên chính trị, có hiện tượng đa đảng đồng thời là đa nguyên chính trị.
Về vấn đề một đảng thì mất dân chủ, cản trở sự phát triển, còn đa đảng đồng nghĩa với dân chủ, phát triển, cho đến hiện nay, vẫn chưa có cơ sở khoa học nào chứng tỏ được điều này. Thực tiễn cho thấy, dân chủ và sự phát triển của một nước không tỷ lệ thuận với số lượng các đảng mà nước đó có. Có nước một đảng vẫn bảo đảm dân chủ và phát triển; có nước nhiều đảng vẫn kém phát triển, vẫn mất dân chủ. Vấn đề thuộc về bản chất của các đảng, lợi ích xã hội mà nó đại diện, bảo vệ; uy tín và năng lực tập hợp, liên kết, lãnh đạo các lực lượng xã hội cùng thực hiện mục tiêu chung của quốc gia-dân tộc. Nếu một đảng chỉ phục vụ cho lợi ích riêng của đảng mình, giai cấp mình thì đảng đó khó có thể được các giai tầng khác chấp thuận làm lực lượng lãnh đạo xã hội, lãnh đạo đất nước. Một đảng đại diện cho lợi ích của giai cấp, của nhân dân và dân tộc, vì dân, vì nước mà hành động, chắc chắn sẽ được nhân dân suy tôn, ủy thác làm lãnh đạo.
Trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền, có hai khả năng phải tính đến: Thứ nhất, một đảng cầm quyền có lợi ích riêng thì đa đảng trong hệ thống chính trị là cần thiết. Trong trường hợp này, nếu chỉ có một đảng là độc tài. Thứ hai, một đảng không có lợi ích riêng khi cầm quyền, cầm quyền vì lợi ích chung thì đa đảng dễ gây bè phái, phân tán./. 

Nêu gương về đạo đức cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh

 Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến nêu gương về đạo đức cách mạng trong Đảng, nhằm nâng cao hiệu quả phương thức lãnh đạo của Đảng. Đây là vấn đề có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với công tác xây dựng Đảng, nhất là trong điều kiện Đảng cầm quyền.

Trong buổi nói chuyện tại lớp chỉnh huấn đầu tiên của Trung ương ngày 11 tháng 5 năm 1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu vấn đề: “Vì sao ta phải chỉnh Đảng?”. Người huấn thị: “Là một Đảng lãnh đạo, Đảng ta cần phải mạnh mẽ, trong sạch, kiểu mẫu”(1). Đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng, tổ chức đảng các cấp phải luôn “tự giác nêu gương” về đạo đức cách mạng, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất nhiều lần đề cập đến vấn đề “gương mẫu” cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Người chỉ rõ: “người đảng viên ở bất kỳ đâu, bất kỳ làm việc gì, bất kỳ địa vị nào và hoàn cảnh nào, cũng phải luôn luôn: - Đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết./ - Phải ra sức tham gia công việc kháng chiến./ - Phải gần gũi dân chúng, thương yêu, giúp đỡ dân chúng, tổ chức và lãnh đạo dân chúng./- Phải giữ vững đạo đức cách mệnh, là chí công vô tư”(2); “Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất./  Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng/... Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc”(3). Đây là những chuẩn mực đạo đức cách mạng mà người cán bộ, đảng viên cần phải có, để quần chúng nhân dân nhìn nhận, học hỏi và noi theo.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi đạo đức là gốc, là “lõi” của văn hóa xã hội. Người cho rằng, có đạo đức cách mạng thì “khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại, cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước... Khi cần, thì sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình cũng không tiếc”(4); “khi gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”; lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ; không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hóa”(5). Đội ngũ cán bộ, đảng viên phải thường xuyên rèn luyện, bồi dưỡng về đạo đức cách mạng để thực sự là lực lượng tiên phong về trí tuệ, phẩm chất đạo đức, là những “hạt giống” tốt để nhân rộng trong xã hội.

Đảng ta là “Đảng cầm quyền”, “Đảng của toàn dân”, “Đảng của cả dân tộc”, đội tiền phong, đại biểu trung thành của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc. “Đảng ta vĩ đại, vì ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích gì khác”(6). Nguồn gốc sức mạnh của Đảng là ở mối liên hệ mật thiết với nhân dân. Chính vì vậy, để xứng đáng là lực lượng lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của dân tộc, Đảng phải thường xuyên xây dựng, chỉnh đốn, đổi mới; đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, tận tâm, tận lực, vì nước, vì nhân dân, giữ vững bản chất giai cấp, bản lĩnh chính trị, cách mạng, tiên phong; chống các biểu hiện tha hóa quyền lực, tha hóa con người, giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy lực không thể khuất phục.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “đạo đức cách mạng của người đảng viên là bất kỳ khó khăn đến mức nào cũng kiên quyết làm đúng chính sách và nghị quyết của Đảng, làm gương mẫu cho quần chúng. Mọi đảng viên phải nâng cao tinh thần trách nhiệm trước nhân dân, trước Đảng; phải ngăn ngừa và kiên quyết chống lại chủ nghĩa cá nhân”(7). Người cho rằng, muốn vận động, tập hợp, dẫn dắt, lãnh đạo quần chúng nhân dân tin theo Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên phải là tấm gương về đạo đức cách mạng. Người thường căn dặn, “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Cán bộ, đảng viên vừa là “đày tớ”, vừa là người lãnh đạo nhân dân. Họ phải là tấm gương mẫu mực để nhân dân tin theo, noi theo và làm theo. Cán bộ, đảng viên giữ chức vụ càng cao, trọng trách nêu gương càng phải lớn. Họ phải nêu gương trong tu dưỡng lý tưởng, đạo đức cách mạng, trong tôi luyện, kiên trung lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, trung hiếu với nhân dân; nêu gương tận tụy, chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; nêu gương trong tự phê bình và phê bình, trong thấm nhuần và thực hiện nghiêm đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước... Những nội dung này rất quan trọng, tạo nên hiệu quả tối ưu trong công tác lãnh đạo của Đảng, nhân lên sức mạnh nội sinh to lớn của dân tộc trong bất kỳ hoàn cảnh nào.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, một tấm gương sống có giá trị hơn hàng trăm bài diễn văn tuyên truyền; lấy gương người tốt, việc tốt hằng ngày để giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng. “Nếu chúng ta làm gương mẫu và biết lãnh đạo thì bất cứ công việc gì khó khăn đến đâu cũng nhất định làm được”(8). Bởi thực tế, “Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”(9), từ lời nói, việc làm đến cách ăn, ở đều phải để cho dân tin, dân phục, dân yêu. Cán bộ, đảng viên dù ở vị trí nào, nếu có tâm, có tầm, có tài, có đạo đức, “lời nói đi đôi với việc làm” thì sẽ tạo sự lan tỏa, tác động tích cực đến cộng đồng, giúp quần chúng tự soi, tự sửa, hoàn thiện bản thân. Thông qua công tác nêu gương của cán bộ, đảng viên, phương thức lãnh đạo của Đảng sẽ được phát huy, nhân lên sức mạnh, nâng cao năng lực để Đảng lãnh đạo, dẫn dắt quần chúng thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ của cách mạng.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nêu gương về đạo đức phải được thực hiện trên ba mối quan hệ: Đối với mình, đối với người và đối với việc. Với mình, phải cần, kiệm, liêm, chính; “nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm”; làm gương trong công việc từ nhỏ đến lớn, thường xuyên học tập, rèn luyện, không ngừng hoàn thiện bản thân. Với người, phải thật thà, chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ đồng chí, đồng nghiệp, gắn bó mật thiết với nhân dân. Với việc, phải tận tâm, tận lực, chí công vô tư, gương mẫu, đi đầu, trách nhiệm. Người cũng chỉ ra ba nguyên tắc để xây dựng đạo đức mới cho đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng là: 1- Nói đi đôi với làm, nêu gương về đạo đức; 2- Xây đi đôi với chống. Xây dựng đạo đức cách mạng phải gắn chặt với chống chủ nghĩa cá nhân; 3- Tu dưỡng đạo đức suốt đời./.

Thứ Tư, 12 tháng 7, 2023

Đảng Cộng sản Việt Nam luôn cầu thị, đổi mới để tự hoàn thiện

Đảng Cộng sản Việt Nam không hề bảo thủ mà luôn đổi mới, cập nhật, nhằm làm cho Đảng mạnh lên, có đường lối đúng đắn, giúp Đảng hoàn thành sứ mệnh, nhiệm vụ đặt ra, đưa Việt Nam vượt qua các khó khăn, thách thức, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác trong bối cảnh mới hiện nay.

Thực tiễn đất nước và thế giới không ngừng vận động, biến đổi, rất nhiều vấn đề mới, yếu tố mới xuất hiện đòi hỏi phải được giải quyết, Đảng ta luôn tìm tòi, học hỏi, tổng kết thực tiễn để đề ra đường lối, quyết sách đúng đắn, phù hợp, Đảng luôn quan tâm đến đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng để Đảng hoàn thành mọi trách nhiệm, nhiệm vụ trong các giai đoạn cách mạng, nhất là những trách nhiệm, nhiệm vụ mới nảy sinh từ thực tiễn hiện nay, để Đảng luôn giữ được bản chất cách mạng, khoa học, vì lợi ích của quần chúng nhân dân, trước sau giữ mối liên hệ mật thiết với quần chúng nhân dân.

Đảng Cộng sản Việt Nam xác định chất lượng, năng lực của đội ngũ đảng viên có tính chất quyết định đối với chất lượng, năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, do vậy, Đảng chú trọng kết nạp những người ưu tú vào Đảng và luôn luôn làm trong sạch Đảng, loại bỏ những phần tử biến chất, xét lại, cơ hội chủ nghĩa ra khỏi Đảng.

Đảng luôn siết chặt kỷ luật Đảng để chống suy thoái, tiêu cực và tham nhũng của một bộ phận cán bộ, đảng viên, làm cho Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh. Đảng ta ý thức rõ rằng, một đảng duy nhất cầm quyền, bên cạnh mặt thuận lợi là cơ bản cũng chứa đựng không ít nguy cơ, mà một trong số đó là dễ quan liêu, xa rời quần chúng, dễ chủ quan... Để tránh nguy cơ đó, Đảng luôn kiên định mục tiêu đã lựa chọn, thường xuyên tự đổi mới, nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức mạnh về mọi mặt, giữ vững phẩm chất đạo đức cách mạng, phong cách công tác gần gũi với nhân dân.

Như vậy, lịch sử đã chứng minh và khẳng định vai trò, sứ mệnh của Đảng Cộng sản Việt Nam là chính đảng duy nhất lãnh đạo, dẫn dắt dân tộc và nhân dân Việt Nam tiếp tục phát triển, bắt kịp xu hướng của thời đại.

Do vậy, những luận điểm sai lầm, suy diễn về vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam, cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ khả năng để lãnh đạo đất nước là quan điểm phản động, sai trái, không có cơ sở cả về lý luận và thực tiễn. Về lý luận, luận điểm này đã dựa trên những phân tích, nhận xét phi khoa học, không logic, không hệ thống và không toàn diện. Về thực tiễn, quan điểm này cũng hết sức phiến diện, quy chụp, phi thực tế khi không thấy rõ hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam trong đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, không thừa nhận những thành quả phát triển đất nước Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong suốt hơn 93 năm qua.