Thứ Bảy, 15 tháng 7, 2023

Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng tiếp Đại sứ Pháp Nicolas Warnery


Chiều 10-7, tại Phủ Chủ tịch, tiếp Đại sứ Cộng hòa Pháp Nicolas Warnery tới chào nhân kết thúc nhiệm kỳ công tác, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng mong muốn và tin tưởng, dù trên bất cứ cương vị nào, Đại sứ sẽ tiếp tục dành những tình cảm tốt đẹp về đất nước, con người Việt Nam, là cầu nối thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ hữu nghị truyền thống và Đối tác chiến lược Việt Nam - Pháp.

Chúc mừng Đại sứ Nicolas Warnery hoàn thành xuất sắc nhiệm kỳ công tác, đóng góp tích cực vào việc vun đắp quan hệ Đối tác chiến lược giữa hai nước, Chủ tịch nước đánh giá hợp tác Việt Nam - Pháp có nhiều bước tiến quan trọng. Nhắc lại cuộc gặp Tổng thống Pháp Emmanuel Macron tại London trong chuyến tham dự Lễ đăng quang nhà Vua Anh Charles III tháng 5 vừa qua, Chủ tịch nước cho biết, đã trao đổi, mong muốn sớm đón ngài Tổng thống thăm Việt Nam để cùng thống nhất các định hướng phát triển quan hệ hai nước trong tương lai.

 

Đại sứ Nicolas Warnery nêu rõ, mặc dù trong bối cảnh thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, nhất là đại dịch Covid-19, Việt Nam và Pháp vẫn duy trì hiệu quả quan hệ hợp tác. Đại sứ bày tỏ cảm kích trước việc Việt Nam đã trao tặng khẩu trang kịp thời, góp phần hỗ trợ Pháp ứng phó với dịch Covid-19 trong thời gian dịch diễn biến căng thẳng.

Chia sẻ vinh dự và tự hào được đóng góp vào việc thúc đẩy quan hệ hai nước trong nhiệm kỳ công tác tại Việt Nam, Đại sứ cho biết, Pháp chủ trương phát triển mạnh mẽ quan hệ với Việt Nam trong mọi lĩnh vực cả song phương và trên các diễn đàn khu vực, quốc tế.

Năm 2023, hai nước kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (1973 - 2023) và tròn 10 năm thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược, Đại sứ cho biết, Tổng thống Pháp Emmanuel Macron mong muốn sớm gặp lại Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng để cùng trao đổi, thúc đẩy hợp tác toàn diện giữa hai nước, đặc biệt là chính trị, ngoại giao, kinh tế, thương mại, đầu tư, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, năng lượng và ứng phó với biến đổi khí hậu bởi Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất trong lĩnh vực này. Pháp cũng sẵn sàng hợp tác với Việt Nam bảo tồn các công trình văn hóa, di sản kiến trúc Pháp, nhất là cầu Long Biên - một biểu tượng của Thủ đô Hà Nội qua năm tháng…

Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng cảm ơn tình cảm, đóng góp của Đại sứ Nicolas Warnery dành cho Việt Nam; tán thành với những đề xuất của ngài Đại sứ về việc thúc đẩy hợp tác toàn diện hai nước.

Chủ tịch nước nhấn mạnh, 50 năm qua, quan hệ Việt Nam - Pháp đã đạt được những thành tựu rất quan trọng, nhất là thời gian 10 năm từ khi thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược. Việt Nam cảm ơn Pháp đã hỗ trợ hàng triệu liều vaccine, góp phần giúp Việt Nam ứng phó với dịch Covid-19.

Để tăng cường quan hệ hai nước trong thời gian tới, Chủ tịch nước đề nghị hai bên tiếp tục thúc đẩy các cuộc tiếp xúc, trao đổi, các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao. Qua Đại sứ, Chủ tịch nước trân trọng gửi lời mời và cho biết, Việt Nam sẵn sàng đón Tổng thống Emmanuel Macron sang thăm Việt Nam vào thời gian thích hợp.

Chủ tịch nước đề nghị hai bên thúc đẩy trao đổi đoàn ở cấp địa phương; xúc tiến nhiều hơn nữa các hoạt động giao lưu nhân dân, qua đó làm sâu sắc hơn quan hệ hữu nghị truyền thống giữa hai dân tộc. Việt Nam hoan nghênh các chương trình, dự án hợp tác của doanh nghiệp hai nước; mong muốn Pháp sớm phê chuẩn Hiệp định bảo hộ đầu tư Việt Nam - EU (EVIPA) nhằm tối ưu hóa tiềm năng hợp tác song phương.

Trao đổi với Đại sứ về hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực bảo tồn những công trình văn hóa, di sản kiến trúc mang sắc thái Pháp tại các tỉnh, thành phố của Việt Nam, Chủ tịch nước mong muốn phía Pháp tiếp tục quan tâm, hỗ trợ để việc duy tu, bảo tồn này được triển khai hiệu quả.

Đánh giá cao quan điểm của Pháp về vấn đề Biển Đông, Chủ tịch nước mong muốn Pháp tiếp tục ủng hộ lập trường của ASEAN và Việt Nam về bảo đảm an ninh, an toàn, tự do hàng không, hàng hải trên Biển Đông và giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982.

 

Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng: Người thẩm phán phải là tấm gương về đức tính thanh liêm, cương trực và nhân hậu

 

Chiều 14-7, tại Phủ Chủ tịch, trong lễ trao Quyết định bổ nhiệm chức danh Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đối với đồng chí Nguyễn Hồng Nam, Thẩm phán cao cấp, Phó Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng nêu rõ, mỗi Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần nhận thức sâu sắc về vai trò, vị thế của Tòa án nhân dân nói chung, trách nhiệm của người thẩm phán nói riêng; đề cao tinh thần thượng tôn pháp luật trong xét xử; giữ gìn, bảo vệ pháp luật, hết mực công tâm, khách quan, không vì lợi ích riêng.

Cùng dự buổi lễ, có các đồng chí: Nguyễn Hòa Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Lê Khánh Hải, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước.

Đến dự, có các đồng chí Phó Chánh án, các đồng chí Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; đại diện Văn phòng Trung ương Đảng, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước, Ban Tổ chức Trung ương, Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, Bộ Công an, Bộ Nội vụ….

Đại diện Văn phòng Chủ tịch nước đã công bố Quyết định của Chủ tịch nước về việc bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đối với đồng chí Nguyễn Hồng Nam, Phó Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội giữ chức danh Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Tại buổi lễ, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng nhiệt liệt chúc mừng đồng chí Nguyễn Hồng Nam đã vinh dự được Đảng, Nhà nước tin tưởng trao trọng trách. Đây là niềm vinh dự, tự hào, đồng thời là trách nhiệm nặng nề.

Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng nêu rõ, trong bộ máy nhà nước ta, Tòa án nhân dân có vị trí, vai trò hết sức quan trọng. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp; có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp luôn xác định, Tòa án có vị trí trung tâm và hoạt động xét xử là trọng tâm.

Để hoàn thành tốt yêu cầu, nhiệm vụ được giao trên cương vị công tác mới, Chủ tịch nước đề nghị đồng chí Nguyễn Hồng Nam tiếp tục rèn luyện bản lĩnh chính trị, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân; giữ vững phẩm chất, đạo đức cách mạng, đạo đức nghề nghiệp, gương mẫu chấp hành và thực hiện nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nhận thức sâu sắc về vai trò, vị thế của Tòa án nhân dân nói chung, trách nhiệm của người thẩm phán nói riêng. Đề cao tinh thần thượng tôn pháp luật trong xét xử; giữ gìn, bảo vệ pháp luật, hết mực công tâm, khách quan, không vì lợi ích riêng. Người thẩm phán phải thực sự là tấm gương về đức tính thanh liêm, cương trực và nhân hậu. Mỗi bản án, quyết định của tòa án phải là những chuẩn mực về pháp lý, có sức thuyết phục và cảm hóa, có tác dụng giáo dục, nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật cho nhân dân; khuất phục được tội phạm, tạo sự đồng thuận trong xã hội.

Chủ tịch nước nêu rõ, đồng chí Nguyễn Hồng Nam cần tiếp tục nâng cao năng lực, trình độ về mọi mặt; nêu cao tinh thần tự phê bình và phê bình để khắc phục được những hạn chế, vượt qua mọi cám dỗ đời thường. Luôn đoàn kết, thống nhất, khiêm tốn, giản dị, gắn bó mật thiết với đồng nghiệp. Chủ động cùng tập thể Hội đồng Thẩm phán, lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao đổi mới các mặt công tác, chăm lo xây dựng tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh, xây dựng hệ thống Tòa án nhân dân vững mạnh toàn diện, xây dựng đội ngũ cán bộ, thẩm phán, công chức, viên chức Tòa án nhân dân “Phụng công, thủ pháp, chí công, vô tư” như Bác Hồ kính yêu đã dạy.

 

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ dâng hương tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ tại Thừa Thiên Huế


Nhân kỷ niệm 76 năm ngày Thương binh liệt sĩ (27-7-1947 / 27-7-2023), chiều 15-7, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ và đoàn công tác đã dâng hương tại Nghĩa trang liệt sĩ thành phố Huế (phường An Tân, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế); thăm, tặng quà các gia đình chính sách tại tỉnh Thừa Thiên Huế.

Trong không khí trang nghiêm, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đã thỉnh chuông tại tháp chuông Hòa Bình; dâng hoa, dâng hương tại Đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ. Đứng trước anh linh của hơn 2000 anh hùng liệt sĩ của mọi miền Tổ quốc, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cùng đoàn công tác đã bày tỏ lòng thành kính và biết ơn sâu sắc trước công lao to lớn và sự cống hiến của các anh hùng liệt sĩ đối với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do của dân tộc.

 

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cùng các thành viên trong đoàn công tác nguyện luôn nỗ lực hết mình tiếp nối truyền thống vẻ vang, sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Đảng và của dân tộc; không ngừng tìm tòi đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội, góp phần dựng xây đất nước Việt Nam hùng cường theo di nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh, khát vọng của các anh hùng liệt sĩ, đáp ứng nguyện vọng của cử tri, nhân dân cả nước.

 

* Cũng trong chiều 15-7, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đã đến thăm và trao quà cho ông Nguyễn Minh Lực, gia đình thờ cúng liệt sĩ Tôn Thất Cảnh là Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân, cán bộ lão thành cách mạng, chính trị viên đầu tiên của Công an Thừa Thiên Huế. Tiếp nối con đường mà cha mình là liệt sĩ Tôn Thất Cảnh đã chọn lựa, 2 người con của ông cũng tham gia cách mạng và hy sinh vào 1947. Vợ liệt sĩ Tôn Thất Cảnh là bà Nguyễn Thị Trân đã được Đảng, Nhà nước ta phong tặng danh hiệu Mẹ Việt Nam Anh hùng. Gia đình liệt sĩ Tôn Thất Cảnh được bác Hồ tặng 8 chữ vàng: "Một nhà Trung nghĩa - Muôn thuở thơm danh". Hiện 8 chữ vàng được lưu giữ và trưng bày tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

 

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cùng đoàn công tác cũng đã đến thăm, tặng quà Thương binh Trần Bá Lưu, thương tật 71%, trong thời kỳ kháng chiến đã tham gia bảo vệ Khu ủy Khu 5, giải phóng miền Nam, tham gia quân tình nguyện Việt Nam tại Lào.

Tại các gia đình, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ ân cần thăm hỏi, cho biết Đảng và Nhà nước ta luôn ghi nhớ công lao của các anh hùng liệt sĩ, thương binh đã không tiếc máu xương cho độc lập, tự do của Tổ quốc; luôn thực hiện tốt nhất công tác đền ơn đáp nghĩa. Chủ tịch Quốc hội và đoàn công tác mong các gia đình kế tiếp truyền thống cách mạng, tiếp tục có nhiều đóng góp cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước.

 

 

NHỮNG LUẬN ĐIỆU THÊU DỆT, BÓP MÉO SỰ THẬT SAU VỤ KHỦNG BỐ Ở ĐẮK LẮK

Ngày 23/6/2023, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk đã ra quyết định khởi tố vụ án “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân; che giấu tội phạm; không tố giác tội phạm và tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép”; ra các quyết định khởi tố bị can và lệnh tạm giam đối với 75 bị can.

Tuy nhiên, sau khi vụ án xảy ra, trên nhiều kênh thông tin báo chí nước ngoài, các trang mạng hải ngoại, trang mạng cá nhân của các đối tượng chống đối đã tung ra thông tin sai sự thật, các hình ảnh được dàn dựng, cắt ghép… Một số bài viết cố tình đánh tráo bản chất, hướng vụ án sang nguyên do khác nhằm kích động tâm lý kỳ thị dân tộc, gây chia rẽ giữa đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên.

Báo điện tử BBC Tiếng Việt ngày 23/6 đăng bài “Câu chuyện Tây Nguyên và người dân sắc tộc của núi rừng trong lòng tôi” đã đưa nhiều thông tin sai sự thật, có các bình luận mang tính chụp mũ, suy diễn. Bài viết cố tình hướng lái sai mục đích, ý nghĩa của vấn đề di dân, phát triển kinh tế ở Tây Nguyên, từ đó quy chụp “không gian của các sắc tộc bị tan vỡ”! Người viết đưa ra những câu từ vừa trái bản chất, vừa mang tính kích động như “Sau biến cố 30/4/1975, Tây Nguyên bước vào kỷ nguyên bị phá vỡ”.

Ngay như khái niệm “đồng bào” vốn là câu chữ thân thuộc, thiêng liêng với cộng đồng các dân tộc ở Việt Nam thì bài viết cũng cố tình bẻ lệch ý nghĩa, cho rằng “việc gọi các sắc tộc Tây Nguyên bằng từ “đồng bào” không che giấu được toan tính chính trị”, đả kích thành “đây là cách áp đặt văn hoá và mị dân”! Bằng thủ đoạn vờ “đặt vào miệng” của một người không rõ thực hư ở đâu, bài viết này vu cáo “Người Kinh đang đối xử với các sắc tộc Tây Nguyên hơn cả thực dân, bởi thực dân không muốn chiếm đoạt và đồng hoá như thế”; “có quá nhiều người sắc tộc ở Tây Nguyên nói họ không được phép thực hành niềm tin tôn giáo họ chọn”…

Bằng những thủ đoạn đánh tráo bản chất dưới dạng hồi ức, kể lại, nhớ lại, tự bịa ra lời nói của những cá nhân không có thật, bài viết cố tình vẽ ra bức tranh với gam màu xám xịt ở Tây Nguyên rồi quy kết rằng “việc tấn công vào trụ sở Công an tại hai xã vừa qua rất có thể là phản ứng của sự phẫn nộ, phản kháng khi người sắc tộc bị dồn vào đường cùng”! Đây là thủ đoạn vu cáo hết sức nguy hiểm nhằm kích động chống phá từ bên trong và gây sự hiểu lầm, tạo sức ép từ bên ngoài.

Đài Á châu tự do (RFA) đưa bài mang rõ tính kích động, xuyên tạc chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng ta khi nói rằng, giải pháp cho các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội, tôn giáo ở Tây Nguyên đều lặp lại điệp khúc cách đây hàng chục năm. Từ đó bôi nhọ: “Không chỉ nguội mà còn cuội. Cuội là vì trên thực tế, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đi ngược lại chính sách đại đoàn kết dân tộc và giờ đây lại còn đổ vấy trách nhiệm về biến cố xả súng ở huyện Cư Kuin”!

Trong một bài viết khác, đài này dùng những ngôn từ xảo trá để bóp méo bản chất vụ án khủng bố ở Đắk Lắk, “đánh lái” thành vấn đề xung đột, mâu thuẫn trong các dân tộc ở Tây Nguyên, vu cáo người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên “không chịu được sự áp đảo hiện nay bởi sự thống trị của người Việt đến từ đồng bằng”. Với cách dẫn dắt sai trái này, bài viết nhắm vào chỉ trích Đảng, Nhà nước: “Chính quyền của Đảng Cộng sản bị cáo buộc đàn áp các nhóm sắc dân này, những người đã từng chiến đấu với họ trong các cuộc chiến tranh chống Pháp, Mỹ…”; “đồng bào thiểu số ở Tây Nguyên đã bị truất sở hữu đất đai của tổ tiên, nơi mà nhà nước áp dụng chính sách thuộc địa”!

Đài này cũng đưa nhiều phỏng vấn những đối tượng tự xưng là người dân tộc HMong, người Thượng tự nhận là “nạn nhân bị đàn áp tôn giáo” phải bỏ chạy lưu vong hoặc dẫn lời những trường hợp không rõ địa chỉ cụ thể để bôi nhọ tình hình thực tế tại Đắk Lắk. Những đối tượng này cho rằng vụ việc ở Đắk Lắk là “hành động phản kháng của người Tây Nguyên theo đạo Tin lành bị áp bức về đức tin”, là “mâu thuẫn sắc tộc” âm ỉ từ lâu; xuyên tạc bản chất vấn đề bằng chiêu bài “người Kinh áp bức người Thượng”, “người Kinh chiếm đất của người Thượng”…

Cũng với giọng điệu bịa đặt, đả kích, Đài VOA đưa nhiều bài viết đánh lừa người đọc dưới dạng người Thượng ở Tây Nguyên kể chuyện. Trong bài viết “Người Thượng tấn công chính quyền vì tức nước vỡ bờ”, bằng việc dẫn lời của hai trường hợp ở Hoa Kỳ có tên là Y Phíc và Aga - thành viên của tổ chức phản động “Người Thượng vì công lý”, bài viết trích dẫn những nội dung sai trái nhắm vào miệt thị chính quyền, quy cho nguyên nhân vụ khủng bố là “họ đã bị đẩy đuổi đến bước đường cùng”!

Từ việc bịa chuyện mâu thuẫn trong làm ăn, lao động sản xuất giữa người Kinh với người Thượng, bài viết vu cáo “chính quyền không bao giờ cho người dân tự do bày tỏ niềm tin tôn giáo mà họ lựa chọn”; “người Thượng cũng đem những bức xúc của mình đi khiếu nại với chính quyền nhưng không những không được giải quyết mà còn bị bắt bớ, đánh đập”. Từ đó, bài viết đánh tráo bản chất, bôi nhọ thành “chính quyền cộng sản Việt Nam gần như không quan tâm gì đến đồng bào Tây Nguyên”; biện hộ cho hành vi của những kẻ khủng bố rằng “khi bị đẩy vào bước đường cùng thì người dân không còn cách nào khác là sẵn sàng đối diện với cái chết để làm liều”; “khi họ không còn con đường để sống thì họ phải chấp nhận cái chết”…

Thậm chí, VOA còn dẫn lời Y Phic nói rằng, hơn 70 trường hợp bị bắt giữ trong vụ khủng bố ở Đắk Lắk thì “đa số là người vô tội”, vu cáo “chính quyền nghi ai, ghét ai thì họ đều bắt hết”! Đài VOA dẫn lời Nguyễn Đình Thắng, đối tượng cầm đầu Ủy ban cứu người vượt biển (BPSOS) - một tổ chức phản động lưu vong có trụ sở ở bang Virginia (Mỹ) đứng sau vụ tấn công ở Đắk Lắk, xuyên tạc chính quyền buộc người Thượng ở Tây Nguyên phải bỏ đạo, người thiểu số không quy thuận người Kinh...

Theo dõi những bài viết nói trên cho thấy, thủ đoạn của các đối tượng là thông qua ngôn ngữ kể chuyện của những nhân vật tự xưng “người Thượng ở Tây Nguyên” để đánh vào tâm lý người đọc, người nghe, người xem rằng đây là chuyện thật do người trong cuộc kể ra. Sự thực, người mà những đài báo này dẫn lời, nếu là “người Thượng ở Tây Nguyên” thì đó là những cái tên không rõ địa chỉ, con người cụ thể mà chỉ mang tính hư cấu.Quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền theo hoặc không theo tôn giáo của người dân; bảo đảm sự bình đẳng, không phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo, tín ngưỡng; bảo hộ hoạt động của các tổ chức tôn giáo bằng pháp luật. Những quan điểm nhất quán này đã được ghi nhận trong Hiến pháp, kể từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp 2013. Trong khi đó, chủ trương, đường lối của Đảng về công tác dân tộc được thể hiện trong Nghị quyết các kỳ đại hội, Kết luận số 65/KL/TW ngày 30/10/2014 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới.

Thứ Sáu, 14 tháng 7, 2023

VIỆT NAM KHÔNG “TỰ MÌNH CÔ LẬP MÌNH” TRONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUỐC PHÒNG


Đến nay, Việt Nam đã 4 lần công bố Sách trắng quốc phòng, trong đó công khai chính sách quốc phòng hòa bình và tự vệ, nhằm mục tiêu tạo lập, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Tuy nhiên, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách để xuyên tạc, phủ nhận một cách vô căn cứ.
Vì vậy, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của chúng, bảo vệ chính sách quốc phòng đúng đắn của Việt Nam là nhiệm vụ quan trọng hiện nay.
Việt Nam là đất nước luôn phải đối mặt với nguy cơ bị xâm lược từ bên ngoài và đã phải trải qua rất nhiều cuộc chiến tranh để giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Chính vì vậy, khát khao được sống trong hòa bình, độc lập; giải quyết mọi bất đồng, tranh chấp bằng biện pháp hòa bình là mong muốn, thiện chí và quan điểm nhất quán trong chính sách quốc phòng của Việt Nam.
Tuy nhiên, thời gian qua, các thế lực phản động, phần tử bất mãn, cơ hội chính trị, nhóm người tự xưng là “người yêu nước”, “tâm huyết” với vận mệnh quốc gia-dân tộc đã gửi “thư ngỏ”, “kiến nghị”, viết bài tán phát với những giọng điệu xuyên tạc, bóp méo đường lối đối ngoại và chính sách quốc phòng của Việt Nam. Chúng cho rằng, trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, các quốc gia luôn có mối quan hệ ràng buộc, phụ thuộc chặt chẽ lẫn nhau, trong khi đó Việt Nam vẫn theo đuổi chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ và chính sách quốc phòng “4 không” (không liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế) là “bảo thủ, lỗi thời”, “tự mình cô lập mình”, “tự trói tay, chân mình”, tước đi cơ hội hợp tác với các nước lớn để tăng cường sức mạnh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.
Ngang nhiên, trắng trợn hơn, chúng còn vu khống, quy chụp việc Việt Nam tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh là khơi mào cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực, là để chống lại một nước thứ ba. Đặc biệt, các thế lực thù địch cho rằng, với chính sách quốc phòng hiện nay thì Việt Nam không thể giữ vững chủ quyền, quyền chủ quyền, sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Do đó, chỉ có liên minh quân sự với các cường quốc thì Việt Nam mới giữ vững được chủ quyền lãnh thổ, bảo vệ được lợi ích quốc gia-dân tộc.
Có thể thấy mục đích sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch là nhằm dẫn dắt, hướng lái Việt Nam tham gia các liên minh quân sự, dần đi sâu vào quỹ đạo lệ thuộc bên ngoài, đánh mất độc lập, tự chủ trong các hoạt động quân sự, quốc phòng, đối ngoại. Đồng thời, kích động, gieo rắc tâm lý hoài nghi trong xã hội vào khả năng bảo vệ đất nước của quốc phòng Việt Nam, tính đúng đắn của đường lối quân sự, quốc phòng, đối ngoại của Đảng; từ đó gây chia rẽ, mâu thuẫn nội bộ, làm giảm sút lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với lĩnh vực quân sự, quốc phòng, đối ngoại; cấp độ cao hơn là từ chối thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, hoặc tham gia vào các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.
Soi rọi vào lý luận và thực tiễn đều cho thấy, những luận điệu trên của các thế lực thù địch là hoàn toàn vô căn cứ, xuyên tạc trắng trợn chính sách quốc phòng của nước ta:
Về lý luận: Quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh là luôn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, “dựa vào sức mình là chính”, “đem sức ta mà giải phóng cho ta”; kết hợp chặt chẽ sức mạnh nội lực của đất nước với sức mạnh quốc tế để củng cố, tăng cường sức mạnh quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần chỉ rõ vai trò, tầm quan trọng của sức mạnh nội lực, của mối quan hệ giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, Người nói: “Cố nhiên sự giúp đỡ của các nước bạn là quan trọng, nhưng không được ỷ lại, không được ngồi mong chờ người khác. Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”; “Phải trông ở thực lực. Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”. Đồng thời, Người căn dặn, phải luôn “biết mình, biết người”, “biết thời, biết thế” để “cương nhu kết hợp”; phải đặc biệt coi trọng xử lý khéo léo quan hệ với các nước, nhất là các nước láng giềng và các nước lớn, vì lợi ích tối cao của quốc gia-dân tộc.
Thấm nhuần sâu sắc tư tưởng của Người, Đảng, Nhà nước ta luôn khẳng định nhất quán quan điểm: “Chúng ta bảo vệ Tổ quốc bằng sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại. Trong đó, sức mạnh bên trong của đất nước, của chế độ chính trị, nền kinh tế và tiềm lực quốc gia là nhân tố quyết định”. Đồng thời: Kiên trì chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, thêm bạn, bớt thù, vừa hợp tác, vừa đấu tranh. Tăng cường hợp tác, tạo thế đan xen lợi ích chiến lược giữa nước ta với các nước, nhất là các nước lớn, các đối tác chiến lược, các nước láng giềng và các nước trong khu vực; tránh xung đột, đối đầu, tránh bị cô lập, phụ thuộc.
Chiến lược quốc phòng Việt Nam năm 2018 xác định: Xây dựng, củng cố quan hệ, lòng tin chiến lược với các nước, nhất là các đối tác chiến lược, tạo thế để bảo vệ Tổ quốc; sẵn sàng đánh thắng mọi hình thái chiến tranh xâm lược nếu xảy ra; tham gia tích cực, trách nhiệm, hiệu quả vào các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc (LHQ) và những vấn đề liên quan của cộng đồng quốc tế, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 chỉ rõ, cùng với chủ trương “4 không”, Việt Nam: “Tăng cường hợp tác quốc phòng với các nước để nâng cao khả năng bảo vệ đất nước và giải quyết các thách thức an ninh chung. Tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế”.
Đồng thời, Việt Nam chủ trương phát triển quan hệ hợp tác quốc phòng với tất cả các nước, nhất là các nước láng giềng, các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, xây dựng lòng tin, tạo sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế để ngăn ngừa nguy cơ và đối phó với chiến tranh xâm lược; sẵn sàng mở rộng quan hệ hợp tác quốc phòng trên cơ sở không phân biệt sự khác nhau về chế độ chính trị và trình độ phát triển. Việt Nam không chấp nhận quan hệ hợp tác quốc phòng dưới bất kỳ điều kiện áp đặt hoặc sức ép nào. Việt Nam tăng cường hợp tác quốc phòng đa phương nhằm góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền quốc gia.
Đại hội XIII của Đảng xác định rõ: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại...". Đồng thời: “Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng những biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc”.
Về thực tiễn: Trong những năm qua, Việt Nam luôn nỗ lực thực thi đúng đường lối đối ngoại và chính sách quốc phòng đã đề ra, trở thành quốc gia thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới. Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 192 quốc gia (bao gồm 190/193 nước thành viên LHQ); đã thiết lập quan hệ hợp tác quốc phòng với hơn 100 nước trên thế giới, trong đó có đầy đủ 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an LHQ và tất cả các nước lớn trên nhiều lĩnh vực.
Đặc biệt, gần 10 năm qua, Việt Nam đã triển khai hơn 530 cán bộ, nhân viên tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình LHQ tại các phái bộ và trụ sở LHQ ở New York (Hoa Kỳ). Việc tham gia ngày càng tích cực, hiệu quả vào hoạt động gìn giữ hòa bình thế giới của Việt Nam đã được LHQ ghi nhận và đánh giá cao, để lại những ấn tượng tốt đẹp với chính quyền, người dân nước sở tại và bạn bè quốc tế. Hình ảnh chiến sĩ mũ nồi xanh Việt Nam, phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới được lan tỏa rộng rãi, ghi dấu ấn tích cực và đậm nét trong lòng nhân dân, kiều bào Việt Nam ở nước ngoài, được bạn bè quốc tế trân trọng, quý mến.
Mặt khác, trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn diễn ra ngày càng gay gắt, quyết liệt hiện nay, nếu dựa vào nước lớn này làm đồng minh, liên minh thì sẽ trở thành đối tượng chiến lược, đối đầu với nước lớn khác. Vì vậy, Việt Nam kiên định chính sách “4 không”, thêm bạn, bớt thù; tăng đối tác, giảm đối tượng, xử lý hài hòa quan hệ với các nước; thiết lập, củng cố quan hệ với tất cả các nước, nhất là các đối tác chiến lược, hội nhập quốc tế sâu rộng, gia tăng sự đan xen lợi ích chung với nhiều nước, tạo sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế; ngăn ngừa nguy cơ và đối phó thắng lợi với mọi hình thức chiến tranh xâm lược là lựa chọn đúng đắn, phù hợp nhất. Trong bất luận hoàn cảnh nào, Việt Nam cũng không chọn bên mà chọn lẽ phải, chính nghĩa.
Như vậy, cả lý luận và thực tiễn, rõ ràng là những minh chứng đầy đủ, khách quan, thuyết phục nhất, thể hiện rõ mong muốn, thiện chí: Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam mà không một thế lực nào có thể xuyên tạc, phủ nhận. Đồng thời cũng vạch trần âm mưu đen tối của các thế lực thù địch đối với chính sách quốc phòng Việt Nam.
Theo đó, để đấu tranh làm thất bại âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, cần phải tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, làm rõ tính đúng đắn của chính sách quốc phòng Việt Nam ở cả trong nước và quốc tế; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với quốc phòng, an ninh và đối ngoại; huy động tối đa các nguồn lực để tăng cường sức mạnh quốc phòng, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, phát huy vai trò “tiên phong” trong kiến tạo môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước./.
QĐND

CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN PHẢI CÓ DŨNG KHÍ BẢO VỆ LẼ PHẢI


Đức tính thanh liêm, chính trực và danh dự của người đảng viên là nền tảng để họ có dũng khí đấu tranh với những hiện tượng tiêu cực, tham ô, lãng phí…
Trong cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng (PCTN), tiêu cực (TC), không ít người phải chịu cảnh bất công khi bị cô lập, trù dập, thậm chí bị cấp trên kỷ luật vì lý do “không biết điều”, “không biết mình là ai”... Nhưng nhiều người đã dũng cảm đứng lên đấu tranh chống tiêu cực, bảo vệ lẽ phải với tinh thần “chỉ biết còn Đảng là còn mình”. Trường hợp của cựu chiến binh Đàm Tiến Chiêm (Phó Ban liên lạc Cựu chiến binh Đặc công tỉnh Ninh Bình) là một ví dụ.
Năm 1999, khi giữ cương vị làm Phó Chủ nhiệm Hợp tác xã nông nghiệp xã Ninh Tiến (TP Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình), ông Chiêm phát hiện nhiều cán bộ lạm dụng chức quyền chiếm đoạt 5% đất của xã làm của riêng. Khi ông và các xã viên đấu tranh chống tiêu cực, có nhiều đối tượng đã đến gặp ông dụ dỗ, không được thì đe dọa. Nhưng với “tinh thần thép” của người chiến sĩ, ông không cho phép mình chùn bước. Vì việc làm này, ông Chiêm trở thành “vật cản” trong mắt một số cán bộ thoái hóa, biến chất ở địa phương.
Năm 2015, chi ủy đặt vấn đề với ông không tham gia ứng cử vào vị trí Phó Giám đốc Hợp tác xã với lý do ông đã cao tuổi. Tuy nhiên, khi ra Đại hội, ông vẫn được các xã viên tín nhiệm và được bầu vào vị trí này. Lấy lý do ông không chấp hành nghị quyết của chi bộ, chi ủy đã ra quyết định kỷ luật ông. Sau đó, cấp ủy lại đề xuất khai trừ ông ra khỏi Đảng. Điều đáng buồn là tổ chức đảng các cấp cũng thống nhất theo đề xuất này, dẫn đến việc Ban Thường vụ Thành ủy Ninh Bình ra quyết định xóa tên đảng viên Đàm Tiến Chiêm.
Với danh dự của người lính Cụ Hồ, ông Chiêm luôn vững lòng tin với Đảng và quyết tâm tranh đấu với tiêu cực đến cùng. Và niềm tin của ông đã được đền đáp khi Thường vụ Thành ủy Ninh Bình sau đó ban hành các quyết định khôi phục quyền đảng viên đối với ông. Năm 2018, trong lễ khôi phục quyền đảng viên, Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình lúc đó là bà Nguyễn Thị Thanh (nay là Trưởng Ban công tác đại biểu - Ủy ban Thường vụ Quốc hội) đã bày tỏ sự nể trọng đối với ông, bởi vì lòng tự trọng và danh dự của đảng viên, ông đã đấu tranh tìm lại sự trong sạch cho chính mình và cũng là góp phần củng cố niềm tin trong Đảng.
Trường hợp của ông Chiêm là một trong những điển hình của hàng triệu đảng viên “không bị cám dỗ bởi bất cứ lợi ích nào và cũng không ngại bất cứ lực cản không trong sáng nào, dám nói, dám làm, kiên quyết làm vì lợi ích chung” như lời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.
Thực tế cho thấy, trong đấu tranh PCTN,TC, hầu hết đối tượng bị tố cáo đều là những người có chức vụ, quyền hạn, còn người tố cáo thường là cấp dưới hoặc yếu thế hơn. Điều này dẫn đến việc có rất nhiều cá nhân biết về hành vi tham nhũng, tiêu cực nhưng lại e ngại và không dám tố cáo do sợ bị “sứt đầu, mẻ trán”. Không ít cán bộ, đảng viên thực sự chính trực đã phải ngậm ngùi rời khỏi cơ quan, tổ chức, vì họ không thể chấp nhận sống chung với tiêu cực. Một số người khác thì chấp nhận sống trong im lặng, an phận thủ thường bởi suy nghĩ “đấu tranh thì tránh đâu”. Tuy nhiên, nhiều người đã vượt qua được nỗi sợ hãi này. Họ đã đấu tranh với chính mình, với cái lợi bất chính, cái tâm vô cảm.
Rất nhiều cán bộ, đảng viên đã được khen thưởng vì dũng cảm tố cáo hành vi tham nhũng, tiêu cực. Đây chính là niềm động viên, khích lệ, lan tỏa tinh thần đấu tranh PCTN,TC mà Đảng, Nhà nước ta đang đẩy mạnh. Minh chứng là ngày 16/9/2022, Thanh tra Chính phủ đã có Quyết định 331/QĐ-TTCP khen thưởng cho 4 cá nhân có thành tích xuất sắc trong việc tố cáo hành vi tham nhũng tại tỉnh Hà Giang. Đó là ông Phạm Ngọc Chuyển và ông Phạm Văn Phú - công chức thuộc Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Hà Giang, mỗi người 20 tháng lương cơ sở, tương đương 29,8 triệu đồng; khen thưởng ông Khuất Duy Mỹ và ông Nguyễn Ngọc Đức, hai cán bộ thuộc Công ty TNHH Một thành viên Xổ số kiến thiết Hà Giang mỗi người 30 tháng lương cơ sở, tương đương 44,7 triệu đồng.
Có thể khẳng định, những người dám đứng ra tố cáo hành vi tham nhũng, tiêu cực hoàn toàn không phải vì mục đích để được khen thưởng, được vinh danh, mà đó là bổn phận, trách nhiệm và danh dự của người đảng viên buộc họ phải lên tiếng để bảo vệ niềm tin yêu của nhân dân với Đảng và chế độ.
Trong cuộc họp báo sau khi kết thúc Đại hội XIII của Đảng (ngày 01/02/2021), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng chia sẻ: “Có người hối lộ, xách vali tiền đến Ủy ban Kiểm tra Trung ương định biếu xén, lấp liếm. Cán bộ kiểm tra bảo mở ra xem nó là gì, mở vali ra thấy toàn là tiền đô-la. Cán bộ liền bảo khóa lại, lập biên bản, ký vào đây rồi xách va li đó về”. Kể lại câu chuyện này, Tổng bí thư, Chủ tịch nước nêu rõ: đấu tranh chống tham nhũng là phức tạp, khó khăn, nếu không có bản lĩnh, dũng khí, tình cảm chân chính thì không làm được./.
Nguồn: Báo Pháp luật Việt Nam

BÁO CHÍ TẬP TRUNG PHÁT HIỆN NHỮNG VẤN ĐỀ NÓNG, NHẠY CẢM, MỚI XUẤT HIỆN

 

Thủ tướng yêu cầu báo chí tập trung phát hiện những vấn đề nóng, nhạy cảm, mới xuất hiện, các nút thắt, điểm nghẽn; đi vào định hướng, gợi mở giải pháp tháo gỡ những vấn đề khó, phức tạp.
Ngày 12/7, Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 274/TB-VPCP kết luận của Thủ tướng Chính Thủ Phạm Minh Chính tại buổi làm việc với Hội Nhà báo Việt Nam.
Tạo đồng thuận, chia sẻ trong nhân dân
Thông báo kết luận nêu rõ: Báo chí là công cụ tuyên truyền trên mặt trận tư tưởng văn hóa của Đảng, Nhà nước, là phương tiện thông tin thiết yếu, là “món ăn tinh thần" không thể thiếu trong đời sống xã hội, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế của người dân.
Hội Nhà báo Việt Nam có vai trò quan trọng trong đoàn kết, tập hợp, nâng cao bản lĩnh chính trị, bồi dưỡng nghiệp vụ, rèn luyện đạo đức nghề nghiệp của những người làm báo, góp phần tạo sự thống nhất trong Đảng và sự đồng thuận trong xã hội.
Nhân kỷ niệm 98 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam, thay mặt Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đánh giá cao, nhiệt liệt biểu dương những thành tích, sự đóng góp quan trọng của Hội Nhà báo Việt Nam và những cống hiến của những người làm báo trên cả nước.
Trong suốt 73 năm xây dựng và trưởng thành (21/4/1950-21/4/2023), Hội Nhà báo Việt Nam đã không ngừng phát triển về tổ chức và lực lượng, trưởng thành về mọi mặt, có nhiều đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc; luôn bám sát đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và Điều lệ của Hội để thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao.
Trong cuộc chiến chống đại dịch COVID-19, báo chí đã thể hiện vai trò quan trọng, tạo đồng thuận, chia sẻ trong nhân dân về các biện pháp chống dịch, tiêm chủng; đồng cảm, tương thân, tương ái, giúp đỡ lẫn nhau trong lúc khó khăn do dịch bệnh; kịp thời phản ánh hiện thực sinh động của cuộc sống, những thành tựu, nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân với tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc; những điểm sáng về tăng trưởng, phục hồi kinh tế sau đại dịch, nhiều chủ trương, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước đi vào cuộc sống; tham gia phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, khơi dậy niềm tin trong nhân dân.
Tuy nhiên, hoạt động báo chí vẫn còn tồn tại, hạn chế ở một số cơ quan báo chí và người làm báo; vẫn còn tình trạng “báo hóa” tạp chí, trang tin điện tử tổng hợp; có biểu hiện “tư nhân hóa báo chí”; nội dung bạo lực, chạy theo thị trường, thiếu tính định hướng, thiếu tính giáo dục và nhân văn; vấn đề tin giả, tin sai sự thật chưa giảm…
Xây dựng đội ngũ người làm báo có phẩm chất chính trị, tư tưởng, năng lực, trình độ tốt để “phụng sự Tổ quốc"
Thời gian tới, để báo chí Việt Nam thực sự cách mạng, chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại, Hội Nhà báo Việt Nam cần tiếp tục phát huy vai trò quan trọng của mình, cùng với các bộ, ngành, địa phương tập trung triển khai một số nhiệm vụ, giải pháp.
Hội Nhà báo Việt Nam đẩy mạnh hoạt động tập hợp lực lượng, xây dựng đội ngũ những người làm báo, chú trọng bồi dưỡng, nâng cao, rèn luyện phẩm chất chính trị, tư tưởng, năng lực, trình độ chuyên môn cho hội viên để “phụng sự Tổ quốc,” “phụng sự nhân dân,” “phụng sự giai cấp và nhân loại” như lời Bác Hồ kính yêu từng căn dặn.
Chung sức, đồng lòng tập trung xây dựng và phát triển đội ngũ người làm báo nhạy bén về chính trị-kinh tế xã hội, hiểu biết về khoa học và công nghệ; chấn chỉnh những “lệch chuẩn” về đạo đức nghề nghiệp; giữ vững “tâm sáng, lòng trong, bút sắc”, thúc đẩy giá trị nhân văn trong hoạt động báo chí. Bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của hội viên trong thực thi nhiệm vụ, đồng thời xử lý nghiêm những vi phạm, nhất là việc lợi dụng báo chí để đi ngược lại mục tiêu, lý tưởng của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và lợi ích của nhân dân.
Tiếp tục quán triệt và thực hiện có hiệu quả mục tiêu xây dựng nền báo chí, truyền thông chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại theo Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng. Báo chí phải đồng hành cùng dân tộc, làm tốt hơn nữa chức năng định hướng tư tưởng, là vũ khí sắc bén bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; bám sát các nhiệm vụ chính trị của đất nước, cơ quan, địa phương, đơn vị để phản ánh, nhất là 6 nhiệm vụ trọng tâm, 3 đột phá chiến lược.
Các cơ quan báo chí, các cấp hội nhà báo cần tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; tăng cường thông tin xây dựng, phản biện xã hội để đưa đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn, “đưa ý Đảng đến gần dân hơn”; tập trung phát hiện những vấn đề nóng, nhạy cảm, mới xuất hiện, các nút thắt, điểm nghẽn; đi vào định hướng, gợi mở giải pháp tháo gỡ những vấn đề khó, phức tạp trong nước và quốc tế.
Đẩy mạnh tuyên truyền về văn hóa tương xứng với tuyên truyền về kinh tế, chính trị, xã hội theo 6 nhiệm vụ và 4 nhóm giải pháp mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu tại Hội nghị Văn hóa Toàn quốc năm 2021; tăng cường chất lượng các tác phẩm báo chí, bảo đảm tính chiến đấu cao, giá trị nhân văn sâu sắc, tác động mạnh cả về lý trí và cảm xúc của công chúng; từ đó định hướng dư luận, tạo đồng thuận xã hội, củng cố niềm tin vững chắc của nhân dân với Đảng và Nhà nước.
Báo chí phải đi đầu trong phát hiện, biểu dương nhân tố mới
Báo chí phải đi đầu trong phát hiện, biểu dương những nhân tố mới, gương người tốt, việc tốt, cách làm hay, mô hình tiên tiến, lấy cái đẹp dẹp cái xấu, lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực, tạo động lực, truyền cảm hứng, tạo sự lan tỏa trong cộng đồng, xã hội. Làm tốt vai trò giám sát, phản biện; cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, trung thực, minh bạch. Đẩy mạnh đấu tranh bảo vệ chân lý, lẽ phải, người lương thiện; chống lại những suy nghĩ và hành động sai trái, nhất là tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống; tích cực tham gia phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng
Đẩy mạnh ch.u.y.ể.n đ.ổ.i s.ố báo chí gắn với k.inh t.ế s.ố và kinh tế báo chí truyền thông. Bám sát các xu hướng tất yếu trong báo chí, truyền thông thế giới để đổi mới và làm tốt vai trò dẫn dắt, định hướng dư luận xã hội.
Báo chí phải góp phần vào công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng, đảng viên; xây dựng cơ quan hành chính các cấp hiệu lực, hiệu quả, đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; xử lý nghiêm những hành vi vi phạm.
Tăng cường bồi dưỡng chính trị, chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ phóng viên, nhà báo. Quán triệt, thực hiện nghiêm Luật Báo chí, 10 điều Quy định đạo đức người làm báo Việt Nam; tiếp tục hoàn thiện pháp luật về báo chí, bảo đảm quyền tự do báo chí, theo quy định của pháp luật và bảo vệ quyền hành nghề hợp pháp và các lợi ích chính đáng của người làm báo. Tập trung xây dựng tổ chức Đảng trong các cơ quan báo chí trong sạch, vững mạnh.
Báo chí phát huy hơn nữa tinh thần cách mạng để tiếp tục truyền tải những chủ trương, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước đến với nhân dân và phản ánh nguyện vọng của nhân dân, nhất là những chính sách tác động lớn, chủ trương đổi mới trong lĩnh vực kinh tế, giáo dục, hạ tầng, y tế, chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số, đối với vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, chủ trương đại đoàn kết dân tộc…
Hội Nhà báo Việt Nam cần chủ động thúc đẩy đổi mới sáng tạo về nội dung, cách làm truyền thông chính sách một cách chủ động, kịp thời, phù hợp, góp phần nâng cao hiệu quả định hướng thông tin, dư luận. Tổng kết Giải Báo chí quốc gia để đề xuất đổi mới, nâng tầm và nâng cao chất lượng giải thưởng.
Đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định liên quan tới hoạt động báo chí
Về các đề xuất, kiến nghị của Hội Nhà báo Việt Nam, trong đó, về hoàn thiện quy định pháp luật, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định liên quan tới hoạt động báo chí như Nghị định số 60/2021/NĐ-CP của Chính phủ ngày 21/6/2021 quy định cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập (hoàn thiện trong năm 2023).
Bộ Thông tin và Truyền thông và các bộ, ngành liên quan rà soát, sửa đổi các quy định, tiêu chuẩn, tiêu chí về định mức kinh tế-kỹ thuật thuộc lĩnh vực báo chí, phát thanh, truyền hình phù hợp với yêu cầu phát triển chung của đất nước và của ngành Báo chí (hoàn thiện trong quý 3 năm 2023).
Về Quy hoạch và phát triển báo chí toàn quốc, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì, phối hợp với các bộ liên quan rà soát, đề xuất xây dựng, hoàn thiện chính sách để việc thực hiện quy hoạch báo chí hợp lý, hiệu quả hơn, đi vào thực chất, phù hợp với xu thế phát triển.
Về hạ tầng công nghệ thông tin, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ đạo các cơ quan liên quan hỗ trợ bảo đảm hạ tầng số cho các cơ quan báo chí, tăng cường ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin. Xác định đây là một nhiệm vụ quan trọng trong công tác Ch.uyển đ.ổi S.ố Quốc gia nói chung và ch.uyển đ.ổi s.ố trong hoạt động báo chí nói riêng, để cơ quan báo chí phải là một trong những cơ quan tiên phong về ch.uyển đ.ổi s.ố.
Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông, Hội Nhà báo Việt Nam nghiên cứu, đề xuất xây dựng kế hoạch, rà soát chương trình đào tạo nguồn nhân lực phục vụ mục tiêu ngành, lĩnh vực báo chí; đẩy mạnh đào tạo, đào tạo lại hàng năm cho hội viên, nhà báo, phóng viên về kỹ năng làm báo trong kỷ nguyên số, ứng dụng công nghệ mới trong hoạt động báo chí. Tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế về đào tạo nguồn nhân lực cho các cơ quan báo chí.
Bố trí tài chính theo hướng đặt hàng, giao nhiệm vụ
Thủ tướng giao Bộ Thông tin và Truyền thông đề xuất cơ chế huy động như hợp tác công-tư trong tăng cường cơ sở vật chất cho các cơ quan báo chí; huy động được sức mạnh của xã hội; chống tiêu cực, tham nhũng.
Bố trí tài chính theo hướng đặt hàng, giao nhiệm vụ, cân đối nguồn lực chung cho hoạt động báo chí. Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp với Bộ Tài chính xây dựng cơ chế bảo đảm hoạt động của các cơ quan báo chí minh bạch, công khai, hiệu quả, nằm trong tổng thể chung của các cơ quan trong hệ thống chính trị.
Về chế độ, chính sách cho người làm công tác tại Hội nhà báo Việt Nam và Hội Nhà báo tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Thủ tướng giao Bộ Nội vụ phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Thông tin và Truyền thông nghiên cứu, xử lý kiến nghị của Hội Nhà báo Việt Nam theo thẩm quyền và quy định hiện hành; trường hợp vượt thẩm quyền báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
Về triển khai Kế hoạch hành động hướng tới kỷ niệm 100 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21/6/2025), đây là dấu mốc quan trọng đánh dấu sự trưởng thành và phát triển của Báo chí Cách mạng Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì, phối hợp với Hội Nhà báo Việt Nam căn cứ Kế hoạch kỷ niệm 100 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21/6/1925-21/6/2025) do Ban Tuyên giáo Trung ương ban hành để xây dựng kế hoạch hành động cụ thể, đảm bảo ý nghĩa, thiết thực và hiệu quả; trình cấp có thẩm quyền xem xét quyết định./.
Theo TTXVN
Có thể là hình ảnh về 4 người và cái bục

KHÔNG THỂ CA NGỢI, TÔN VINH, ĐẶT TÊN ĐƯỜNG MẠC ĐĂNG DUNG - KẺ VÌ LỢI ÍCH CỦA GIA TỘC, TỰ TRÓI MÌNH, QUỲ GỐI CẮT ĐẤT ĐAI CHO NHÀ MINH!

     Cụ Hồ từng dạy: “Dân ta phải biết sử ta/cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam". Thế nhưng trong những năm gần đây, dư luận rất buồn lòng và phản đối mạnh mẽ trước một số nội dung trong Quốc sử và cả những phát ngôn của những nhà sử học có trách nhiệm biên soạn bộ Quốc sử. Dưới chế độ quân chủ ngày xưa, của Trung Hoa cũng như của Việt Nam, có một biệt lệ: Người viết sử (sử quan) làm việc độc lập, không tuân theo các chỉ thị của vua chúa. Nguyên tắc này được áp dụng nhằm bảo đảm tính khách quan của sử sách, không phụ thuộc vào ý muốn của người đương quyền. Thế nhưng những sử gia đó phải là người có tâm sáng, lòng trong, không vị tự tư tự lợi hay chủ ý cá nhân để can thiệp và làm lệch lạc những sự thật lịch sử kiểu như Tư Mã Thiên vì căm nhà Tần nên bịa ra câu chuyện Tần Thủy Hoàng là con Lã Bất Vi. Ấy vậy mà hiện nay, chẳng hiểu vì lý do gì mà người ta lật lại lịch sử, dựa vào quan điểm của ông Phan Huy Lê để ca ngợi Mạc Đăng Dung, đặt tên đường để vinh danh ông ta. 

KHÔNG THỂ CA NGỢI, TÔN VINH, ĐẶT TÊN ĐƯỜNG MẠC ĐĂNG DUNG:
Mạc Đăng Dung soán ngôi nhà Lê năm 1527, nghĩ thoáng ra thì đó cũng chỉ là câu chuyện nội bộ của nước Việt, triều nay thay thế triều khác là chuyện bình thường khi mà triều cũ khí số đã tận; không đủ sức gánh vác sơn hà; ví như nhà Tiền Lê thay nhà Đinh, nhà Lý thay nhà Lê, nhà Trần thay nhà Lý…thế nhưng việc cắt đất, dâng cho ngoại bang mà cụ thể là nhà Minh của Mạc Đăng Dung thì thiên thu, vạn đại vẫn là tội đồ dân tộc, tội nhân thiên cổ! Mạc Đăng Dung không chỉ cắt đất cho nhà Minh một lần mà ông ta làm đến 2 lần. Năm 1528 “Đăng Dung sợ vua Minh hỏi tội liền lập mưu cắt đất dâng nhân dân hai châu Quy, Thuận và hai tượng người bằng vàng, bạc cùng châu báu vật lạ. Vua Minh nhận, từ đó Bắc Nam thông hiếu đi lại” - Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Minh sử của Trung Quốc cũng ghi lại sự kiện ô nhục của Mạc Đăng Dung.

Lần hai, năm 1540, Mạc Đăng Dung cùng với cháu là Văn Minh và bề tôi là Nguyễn Như Quế, Đỗ Chế Khanh, Đặng Văn Tri, Lê Thuyên, Nguyễn Tổng, Tô Văn Tốc, Nguyễn Kinh Tế, Dương Duy Nhất, Bùi Trí Vĩnh, qua Trấn Nam Quan, mỗi người đều cầm thước, buộc dây ở cổ, đi chân không đến phủ phục trước mạc phủ của quân Minh quỳ gối, cúi đầu dâng tờ biểu đầu hàng, nộp hết sổ sách về đất đai, quân dân và quan chức cả nước để chờ phân xử, dâng các động Tê Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát, An Lương, La Phù của châu Vĩnh An trấn Yên Quảng, xin cho nội thuộc vào Khâm Châu.
Vậy nên việc xuyên tạc lịch sử, ca ngợi Mạc Đăng Dung và triều Mạc là không thể chấp nhận!

Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê năm 1527 và đến năm 1533 thì Nguyễn Kim phò vua Lê Trang Tông lên ngôi ở Lào và sau đó Quân Lê - Nguyễn, rồi đến là Lê - Trịnh cùng với Mạc triều xảy ra nội chiến không ngừng, sử gọi là thời kỳ Nam - Bắc triều, kéo dài cho đến 1592 khi Mạc Mậu Hợp bị quân Trịnh tiêu diệt. Sau đó tàn dư họ Mạc lên Cao Bằng và lay lắt thêm mấy mươi năm. Rõ ràng là nhà Lê dù suy yếu nhưng trước khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, đất nước vẫn yên bình. Sau khi nhà Mạc cướp ngôi thì chiến tranh liên miên, nhân dân lầm thân, đất nước đổ nát, máu tươi trải ngàn dăm. Vậy nên nói rằng nhà Mạc có chính sách cải tổ, an dân, góp phần to lớn trong tiến trình phát triển lịch sử Việt Nam là không có cơ sở, là ngụy biện, rửa mặt cho Mạc Đăng Dung của một số sử gia và con cháu họ Mạc. 

Mạc Đăng Dung vì gia tộc, dòng họ mà can tâm bán nước cho nhà Minh. Một số sử gia cố tình lấp liếm rằng: Mạc Đăng Dung buộc phải sử dụng "khổ nhục kế" (xin trá hàng và dâng đất khống) trước đạo quân xâm lược Nhà Minh do nhà Lê Trung hưng cầu viện, khi đang ở vào tình thế lưỡng đầu thọ địch, thù trong giặc ngoài (cộng thêm một bất lợi lớn là việc Mạc Thái Tông vừa qua đời đột ngột, con nối ngôi là Hiến tông Mạc Phúc Hải vẫn còn nhỏ tuổi)...là kiểu ngụy biện không thể chấp nhận. Không lý Mao Bá Ôn và Vua quan nhà Minh là những kẻ không có trí não và dễ dàng bị Mạc Đăng Dung lừa, dâng đất khống. Nên nhớ nhà Minh thời kỳ đó vẫn rất hùng mạnh và họ chỉ tha cho Mạc Đăng Dung khi họ được những gì mà họ muốn. 

Vậy nên nhưng tỉnh, thành phố nào có ý định lấy tên Mạc Đăng Dung đặt tên đường, tên trường thì nên xem xét. Nước Việt ta gần 5000 năm lịch sử, anh hùng như lộc biếc của mùa xuân. Những Gia Long, Mạc Đăng Dung, Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký...là tội đồ của dân tộc. Không ai đi tôn vinh giặc! Ngày xưa ngụy Sài Gòn dùng các nhân vật trên để đặt tên đường là vì bản chất của ngụy Sài Gòn và những tên bán nước là "đồng bệnh tương lân, đồng khí tương cầu". Chúng ta là đất nước của những anh hùng chống ngoại xâm, không thể dung giặc. Ban Tuyên giáo Trung ương đã có văn bản hướng dẫn các địa phương không đặt tên đường cho những nhân vật gây tranh cãi. Vậy nên việc làm của một số địa phương hiện nay, vinh danh Mạc Đăng Dung là không đúng. Cần xem xét lại./.


P/s: Mạc Đăng Dung quỳ mọp, bái lạy Mao Bá Ôn và sứ thần nhà Minh.
Yêu nước ST.

KHÔNG CHẤP NHẬN NHỮNG LUẬN ĐIỆU PHỦ NHẬN, XUYÊN TẠC SỰ HI SINH CỦA CÁC ANH HÙNG LIỆT SĨ


Ngày Thương binh liệt sĩ 27/7 có ý nghĩa quan trọng với người dân Việt Nam - thể hiện truyền thống hiếu nghĩa, đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, thể hiện sự tri ân, trân trọng những cống hiến, hy sinh to lớn của đồng bào, chiến sĩ đối với Tổ quốc, lòng biết ơn sâu sắc của các tầng lớp nhân dân, cán bộ đối với thương binh liệt sĩ và người có công với cách mạng. Bên cạnh những hoạt động tri ân diễn ra trên khắp mọi nơi thì đâu đó, bất chấp đạo lý, các thế lực thù địch, phần tử bất mãn, cơ hội chính trị, phản động luôn tìm mọi âm mưu, thủ đoạn để hạ thấp giá trị sự hi sinh của các Anh hùng liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người có công với cách mạng nhằm kích động, chống phá Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Chúng triệt để lợi dụng sự phát triển của Internet, mạng xã hội đẩy mạnh các hoạt động thông tin, tuyên truyền kích động, chống phá. Chúng xuyên tạc, đưa ra các bài viết, video clip với luận điệu lập lờ, đánh tráo giá trị, đổi trắng thay đen, xuyên tạc rằng: “Sự hy sinh của các anh hùng liệt sĩ là không cần thiết, vô nghĩa để hình thành chế độ cộng sản”. Hay chúng lợi dụng một số vướng mắc, bất cập trong quá trình thực hiện chế độ, chính sách đối với người có công để xuyên tạc, vu khống Đảng, Nhà nước đã “lãng quên, không quan tâm đến thương binh, bệnh binh, người có công với cách mạng”. Chúng lôi kéo, kêu gọi, tập hợp những người bất mãn để lập ra các câu lạc bộ, hội, nhóm cựu chiến binh, từ đó kích động biểu tình, viết thư ngỏ đòi yêu sách, gây rối an ninh trật tự.
Những phương thức, thủ đoạn chống phá trên tuy không mới trong âm mưu thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” đối với cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch; tuy nhiên, xuyên tạc, phủ nhận, hạ thấp sự hy sinh to lớn của các Anh hùng liệt sĩ, thương binh, người có công là thủ đoạn thể hiện sự tột cùng của bản chất bất nhân, vô ơn, bạc nghĩa để phục vụ mục tiêu chống phá, tạo ra nhận thức lệch lạc, làm suy giảm lòng tin của một bộ phận quần chúng nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đồng thời khoét sâu vào mất mát, nỗi đau chiến tranh, tổn thương thân nhân gia đình liệt sĩ, thương binh, người có công với cách mạng.
Trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của đất nước, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân, hàng triệu người con ưu tú của dân tộc đã hiến dâng tuổi thanh xuân, sẵn sàng xả thân cho Tổ quốc, dũng cảm chiến đấu, anh dũng hy sinh hoặc mang thương tật suốt đời. Máu đào và sự hy sinh của các Anh hùng liệt sĩ đã thấm vào mảnh đất quê hương, hồn cốt dân tộc, để đất nước độc lập, tự do, nhân dân ấm no, hạnh phúc. Hàng triệu thân nhân liệt sĩ mãi mãi không bao giờ được gặp lại những người thân yêu nhất của mình. Các Anh hùng liệt sĩ, thương binh "đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi". Khúc tráng ca vang vọng ấy sẽ mãi muôn đời lưu truyền với sử xanh, đúng như lời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định: Họ chiến đấu, hy sinh để Tổ quốc ta độc lập, tự do, thống nhất và dân tộc ta mãi mãi trường tồn. Tinh thần bất diệt, tấm gương sáng ngời của họ sẽ sống mãi với non sông Việt Nam. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đời đời vinh danh, ghi nhớ công ơn, luôn tự hào, nguyện kế tục và thực hiện thành công sự nghiệp cách mạng, xứng đáng với những hy sinh, cống hiến to lớn của các bậc cách mạng tiền bối, các Anh hùng liệt sĩ, thương binh, đồng bào, chiến sĩ cả nước.
Ngày 27/7 hằng năm đã đi vào lịch sử đất nước như một dấu ấn nhắc nhở mọi người về truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây” của dân tộc Việt Nam. Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam luôn trân trọng, ghi công các Anh hùng liệt sĩ, quan tâm và dành những tình cảm đặc biệt, chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công với cách mạng. Các hoạt động đền ơn, đáp nghĩa, chăm sóc người có công đã thực sự trở thành phong trào rộng khắp, có ý nghĩa nhân văn sâu sắc ở tất cả các cấp, các ngành, địa phương.
Phát huy truyền thống, đạo lý tốt đẹp của dân tộc, trong những ngày tháng 7 thiêng liêng, lực lượng Quân đội đã tích cực tổ chức các hoạt động tri ân, đền ơn đáp nghĩa, thể hiện sự biết ơn sâu sắc của lực lượng Quân đội đối với những đóng góp, hy sinh của các vị cách mạng tiền bối trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Đã tổ chức dâng hương tại các địa chỉ lịch sử, nghĩa trang liệt sĩ; thăm hỏi, tặng quà mẹ Việt Nam anh hùng, thân nhân gia đình liệt sĩ, các đồng chí thương, bệnh binh trong và ngoài lực lượng Quân đội
Chiến tranh đã lùi xa nhưng sự hi sinh quên mình vì nền độc lập, tự do của dân tộc, vì sự bình yên, hạnh phúc của nhân dân của các Anh hùng liệt sĩ, những thương bệnh binh, người có công với cách mạng sẽ mãi lã những tượng đài lịch sử bất tử sống mãi trong trái tim của mỗi người dân Việt Nam. Những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả cách mạng nhằm phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc, chống phá Đảng, Nhà nước chỉ càng bộc lộ rõ bản chất vô ơn, bạc nghĩa, mưu đồ xấu xa, đi ngược lại với lợi ích chung của dân tộc của các thế lực thù địch, phản động; mỗi chúng ta cần nêu cao tinh thần cảnh giác và kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn.
QĐND -