Thứ Tư, 1 tháng 11, 2023

Nhân lên những tấm gương điển hình học theo Bác

 

Ngày 15/5/2016, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 05-CT/TW về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Qua thực tiễn triển khai cho thấy phong trào này có ý nghĩa rất lớn trong việc thay đổi nhận thức, hành động của cán bộ, đảng viên; đồng thời giúp cho tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ngày càng ăn sâu vào đời sống tinh thần, tư tưởng của nhân dân. Tuy nhiên, các thế lực thù địch không ngừng tung ra những luận điệu phủ nhận giá trị, ý nghĩa của phong trào, chúng ta cần phải tỉnh táo nhận diện và kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị không chỉ đưa ra các luận điệu xuyên tạc thân thế, cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà còn phủ nhận phong trào “Đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Các luận điệu xuyên tạc, chống phá tập trung trên những bình diện chính sau:

Một là, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh là sự “bắt chước”, “sao chép” chủ nghĩa Mác-Lênin, do đó khi áp dụng vào Việt Nam chỉ là sự “khiên cưỡng”, “gán ghép” nên việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh hoàn toàn mang tính hình thức theo kiểu “hô hào khẩu hiệu”.

Hai là, dù thừa nhận tư tưởng Hồ Chí Minh là “kim chỉ nam” cho cách mạng Việt Nam trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc nhưng các thế lực thù địch cho rằng, hiện nay thực tiễn đã thay đổi nên tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã “lỗi thời”, không còn phù hợp. Từ đó các đối tượng cho rằng, việc Bộ Chính trị đề ra Chỉ thị 05-CT/TW là sai lầm, sẽ không có kết quả.

Ba là, các phần tử chống phá cố tình bóp méo, đánh đồng hai khái niệm “học tập” và “bắt chước”, từ đó dẫn dắt vấn đề theo hướng muốn học tập Hồ Chí Minh thì phải “bắt chước” giống Người, từ hình thức ăn mặc đến lời nói, việc làm, lối sống. Từ đó chúng xuyên tạc việc học tập, làm theo tấm gương Hồ Chí Minh bản chất là xóa nhòa sự khác biệt giữa mọi người, mục đích của phong trào là hình thành một thế hệ làm theo một hình mẫu do người khác định hướng, không được tự do khám phá và thể hiện khả năng bản thân. Lợi dụng sai phạm, khuyết điểm của một số cá nhân, tổ chức, các đối tượng lập tức vin vào đó để cáo buộc, vu khống rằng càng thi đua học tập theo gương Hồ Chí Minh, càng lộ nhiều quan chức tham nhũng và những hạn chế của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam…

Những luận điệu trên lộ rõ ý đồ xuyên tạc tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, “hạ bệ thần tượng”, từ đó phủ nhận giá trị, ý nghĩa tích cực của cuộc vận động “Đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” do Đảng ta phát động. Sâu xa hơn, mục đích thật sự của các thế lực thù địch là kích động tư tưởng chống phá Đảng, Nhà nước, chống phá chế độ, chia rẽ mối liên hệ giữa Đảng và quần chúng nhân dân. Trước những diễn biến phức tạp của tình hình cho thấy chúng ta không thể xem thường âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch và cần nâng cao cảnh giác, có biện pháp đấu tranh, phòng ngừa hiệu quả.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng cao đẹp nhất của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Người là kết tinh rạng ngời của đạo đức, trí tuệ, khí phách, lương tri của dân tộc và thời đại. Trọn cả cuộc đời, Người dâng hiến cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Do đó, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh là việc làm cần thiết, là nhiệm vụ hết sức quan trọng, thường xuyên, không thể thiếu đối với toàn Đảng, toàn dân ta; giúp cho Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh; giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên luôn biết “tự soi”, “tự sửa”, “nêu gương”, “dám nghĩ”, “dám làm”, “dám chịu trách nhiệm”.

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khuyến khích khả năng độc lập tư duy, sáng tạo và khám phá, Người luôn đề cao sự tự học, tự nghiên cứu và học hỏi, khuyến khích mọi người phát triển trí tuệ và tư duy sáng tạo của mình. Tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ được cả dân tộc Việt Nam tôn vinh mà còn được đông đảo bạn bè trên khắp thế giới ghi nhận và đánh giá cao.

Chủ tịch Hội đồng hòa bình thế giới, ông Romesh Chandra đánh giá: “Bất cứ nơi nào nhân dân chiến đấu cho độc lập và tự do, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ của Hồ Chí Minh bay cao. Bất cứ ở đâu nhân dân chiến đấu cho hòa bình và công lý, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ của Hồ Chí Minh bay cao. Ở bất cứ đâu, nhân dân chiến đấu cho một thế giới mới, chống lại đói nghèo, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ của Hồ Chí Minh bay cao”. Điều đó phần nào khẳng định giá trị, ý nghĩa không thể phủ nhận của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Thời gian qua, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ngày càng đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả. Cuộc vận động đã trở thành phong trào ý nghĩa, được triển khai sâu rộng trong toàn hệ thống chính trị. Từ bắc đến nam, từ đồng bằng đến miền núi, hải đảo xa xôi, đã xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân điển hình “học Bác”, “noi gương Bác”; sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn, thách thức, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, góp sức cho sự phát triển đất nước. Không chỉ có cán bộ, đảng viên noi gương mà đông đảo quần chúng nhân dân thuộc mọi giai tầng xã hội cũng ra sức học tập theo tấm gương đạo đức, phong cách của Bác.

Báo cáo tại Hội nghị toàn quốc đánh giá tình hình thực hiện Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị khóa XIII về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” (Kết luận số 01) ngày 12/6/2023 cho thấy: tính đến tháng 4 năm 2023, trên cả nước có 25.525 mô hình khác nhau trong học tập và làm theo Bác. Các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương mở các đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng với nhiều chủ đề sâu sắc như: “Tự soi, tự sửa”, “Danh dự là điều thiêng liêng cao quý nhất”; tăng cường kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng, đảng viên trong tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, siết chặt kỷ luật, kỷ cương nội vụ. Qua đó, nâng cao ý thức tự giác, trách nhiệm trong mỗi lời nói, việc làm của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy đảng, chính quyền đã đạt được những kết quả rõ nét.

Cũng từ phong trào ý nghĩa này đã xuất hiện những tấm gương bình dị mà cao quý trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Như câu chuyện của một cán bộ hưu trí tuy đã ngoài 80 tuổi nhưng vẫn không một ngày ngơi nghỉ với công tác khuyến học, khuyến tài, vận động nhân dân xây dựng “dòng họ học tập”, “tổ dân phố học tập”. Đó là những thầy cô giáo tuổi đời còn rất trẻ nhưng không quản ngại khó khăn gian khổ, dũng cảm vượt núi, băng rừng, đưa học trò tới trường, ngoài việc dạy chữ còn chăm lo từng bữa ăn, giấc ngủ cho các em. Đó là những y bác sĩ sẵn sàng từ bỏ cuộc sống phồn hoa đô thị để về các thôn bản khó khăn ở vùng sâu, vùng xa chăm sóc sức khỏe cho bà con nhân dân, mang đến nụ cười cho những trẻ em khuyết tật. Đó là những cán bộ, chiến sĩ sẵn sàng luôn vượt mọi hiểm nguy để có mặt kịp thời hỗ trợ đồng bào mỗi khi gặp bão lũ, thiên tai...

Những tấm gương điển hình trong học tập và làm theo Bác đã truyền cảm hứng rất lớn trong cộng đồng, để từ đó tiếp tục nhân lên những phong trào, cá nhân tiên tiến, điển hình, có những việc làm ý nghĩa cho xã hội. Điều đó chứng tỏ phong trào học tập, làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh đã ngày càng ăn sâu, bám rễ vào đời sống tinh thần, tư tưởng, tác động tích cực đến hành vi của mọi tầng lớp nhân dân; khơi dậy và tạo động lực cho mọi giai tầng trong xã hội phát huy được năng lực, ý chí, bản lĩnh của mình và đóng góp ngày càng nhiều cho sự phát triển của đất nước. Mỗi tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến đó là “những bông hoa đẹp”, đang từng ngày, từng giờ vun góp, tạo ra “rừng hoa đẹp” cho đất nước.

Những kết quả đã đạt được thời gian qua cho thấy cuộc vận động “Học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” đã tạo nên những dấu ấn nổi bật cả trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tuyên truyền, lan tỏa, tổ chức thực hiện… Những kết quả tích cực này đã góp phần đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu các tổ chức, cơ quan, đơn vị; xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, có trách nhiệm và động cơ đúng đắn, tiên phong, gương mẫu, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, góp phần tạo ra những đột phá trong việc phát triển kinh tế - xã hội.

Thời gian tới, để cuộc vận động ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất, có hiệu quả hơn, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên, các cấp ủy đảng, chính quyền và các cơ quan, đơn vị cần phát huy những kết quả đã đạt được trong giai đoạn vừa qua, tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Mỗi cán bộ, đảng viên, nhân dân cần tiếp tục nỗ lực phấn đấu, không ngừng nhân lên những điều tốt đẹp, tiếp tục lan tỏa và góp phần làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ngày càng thấm sâu, phát huy giá trị và thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc trong đời sống xã hội./.

TS. LÊ THỊ CHIÊN (nhandan.vn)

Phát huy vai trò của công tác tư tưởng trong bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa

 

Trong Báo cáo Chính trị Đại hội XII của Đảng ta, lần đầu tiên trong văn kiện chính thức của một Đại hội, kế sách chủ động bảo vệ Tổ quốc trong thời bình, từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy được xác lập: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Chủ động phòng ngừa phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến”. Đến Đại hội XIII, kế sách này được bổ sung phát triển: “Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển. Giữ vững môi trường hòa bình ổn định để phát triển”. Trước đó, kế sách này được xác lập trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”. Đây cũng là kết quả của bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng ta về quốc phòng an ninh, đối tác đối tượng, về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Kế sách này là sự kế thừa bài học “giữ nước từ khi nước chưa nguy” của ông cha ta trong lịch sử dựng nước và giữ nước, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với tình hình mới. Kế sách này được hình thành trên cơ sở nhận định, đánh giá dự báo đúng tình hình, cục diện và các xu hướng vận động phát triển của thế giới, khu vực, trong nước; gắn sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc với xây dựng, đổi mới toàn diện, hội nhập quốc tế, phát triển đất nước. Đây vừa là quan điểm chỉ đạo cơ bản, vừa là phương thức hành động tối ưu để chủ động bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong thời bình từ sớm, từ xa. Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa là trách nhiệm chính trị, là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của Đảng, nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.

Do đó, công tác tư tưởng (bao gồm công tác lý luận, công tác tuyên truyền và công tác cổ động) cần góp phần truyền bá sâu rộng đường lối chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới, kế sách chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa thành nhận thức sâu sắc, niềm tin vững chắc, trách nhiệm chính trị cao, hành động chủ động tích cực tự giác của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên này.

Tại Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII, Ban Chấp hành Trung ương Đảng thống nhất: Trong 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” vừa qua, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã phát huy tinh thần yêu nước, đoàn kết, nỗ lực phấn đấu, đạt được những thành tựu rất quan trọng, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.

Theo đó, quán triệt tư tưởng: Luôn luôn giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng; sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; dựa vào dân, lấy "dân là gốc", khơi dậy, phát huy ý chí tự lực, tự cường, truyền thống văn hóa, yêu nước, sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng "thế trận lòng dân", lấy "yên dân" là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

 

Để góp phần nghiên cứu, học tập, quán triệt và tuyên truyền Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, cần biên soạn tài liệu hoặc đề cương tuyên truyền, tập trung vào một số nội dung như sau:

Thứ nhất, bối cảnh mới của tình hình. Trong giai đoạn phát triển mới hiện nay và sắp tới, tình hình thế giới và khu vực dự báo sẽ còn tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó lường. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song cũng đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới.

Cục diện thế giới đa cực, đa trung tâm, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn sẽ ngày càng quyết liệt, thậm chí có nguy cơ xung đột, đối đầu, tạo thách thức rất lớn đối với các nước đang phát triển, nhất là các nước có độ mở của nền kinh tế cao, sức chống chịu và khả năng cạnh tranh còn hạn chế như nước ta.

Các nước lớn sẽ tăng cường điều chỉnh chiến lược, lôi kéo, tập hợp lực lượng, vừa hợp tác, thoả hiệp, vừa đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau và can dự, chi phối nội bộ nước khác. Nhiều điểm nóng về an ninh tiếp tục tồn tại, có nguy cơ lan rộng, làm xuất hiện các hình thái chiến tranh, loại hình tác chiến, không gian chiến lược mới.

Khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ, tạo ra những biến đổi trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. An ninh truyền thống cũng như phi truyền thống, nhất là thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, an ninh lương thực, năng lượng, an ninh mạng... đặt ra nhiều thách thức đối với các quốc gia. Châu Á - Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương, Đông Nam Á tiếp tục phát triển năng động nhưng sẽ trở thành trọng điểm cạnh tranh quyết liệt giữa các nước lớn.

Ở trong nước, bốn nguy cơ mà Đảng ta đã từng cảnh báo vẫn còn hiện hữu, có mặt sẽ còn diễn biến phức tạp và gay gắt hơn. Những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ; sự xuống cấp về các giá trị văn hóa, đạo đức, lối sống; những mâu thuẫn, bức xúc trong xã hội sẽ còn diễn biến phức tạp; phân cực giàu - nghèo có xu hướng ngày càng gia tăng.

Trên một số vùng chiến lược, địa bàn trọng điểm và trong một số nhóm đối tượng còn tiềm ẩn các yếu tố gây mất ổn định. Tranh chấp biển, đảo, chủ quyền lãnh thổ, chiến tranh thông tin, chiến tranh không gian mạng... là những nguy cơ lớn luôn luôn có thể xảy ra.

Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước sẽ còn câu kết với nhau tăng cường các hoạt động "diễn biến hòa bình", "phi chính trị hóa" lực lượng vũ trang với âm mưu, thủ đoạn chống phá ngày càng tinh vi, công khai và trực diện hơn. Trên cơ sở trình bày tình hình, cục diện thế giới, khu vực cùng với các xu hướng trên, đề cương cần phân tích rõ những thuận lợi nhất là những thách thức đối với nhiệm vụ chiến lược quốc phòng an ninh, bảo vệ Tổ quốc.

Thứ hai, sự đổi mới mạnh mẽ, khách quan toàn diện về vấn đề đối tác, đối tượng.

Trình bày ý nghĩa của đổi mới tư duy từ phân định “bạn - thù” sang “đối tác - đối tượng”. Phân tích các phương châm chỉ đạo trong xác định đối tác - đối tượng: Trên tinh thần thêm bạn, bớt thù, phân hóa, cô lập các thế lực thù địch chống đối, tranh thủ tối đa sự đồng tình ủng hộ của nhân dân tiến bộ thế giới xác định một số phương châm chỉ đạo trong xác định đối tác đối tượng: Không có kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia dân tộc là vĩnh viễn; không nên xác định cả một quốc gia là đối tượng đấu tranh mà chỉ nên nói các thế lực thù địch hoặc một số người trong giới cầm quyền ở một số nước nào đó có hành động cực đoan, hiếu chiến chống đối hay các cơ quan tình báo nước ngoài có hoạt động phương hại đến an ninh quốc gia. Phải xác định được những đối tác chiến lược lâu dài, nhất quán nhằm khai thác triệt để mặt đối tác đảm bảo lợi ích lâu dài và chắc chắn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Làm rõ nội hàm của “Đối tác - Đối tượng”. Đối tác là những ai tôn trọng độc lập chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác hòa bình cùng có lợi với Việt Nam. Đối tượng là bất kể thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong tình hình diễn biến rất nhanh và phức tạp hiện nay cần có cách nhìn biện chứng trong mỗi đối tượng vẫn có thể có mặt cần tranh thủ, hợp tác. Trong một số đối tác, có thể có mặt khác biệt mâu thuẫn với lợi ích của ta. Do đó, cần khắc phục hai khuynh hướng mơ hồ mất cảnh giác hoặc cứng nhắc trong nhận thức, chủ trương và trong xử lý các tình huống cụ thể.

Các chiến sỹ nữ Đội Công binh Việt Nam lên đường làm nhiệm vụ quốc tế.

Các chiến sỹ nữ Đội Công binh Việt Nam lên đường làm nhiệm vụ quốc tế.

Thứ ba, mục tiêu, nội hàm của chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới với 6 nội dung có quan hệ chặt chẽ với nhau. Đó là: Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời vùng biển của Tổ quốc Việt Nam; Bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; Bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa - hiện đại hóa, hội nhập quốc tế; Bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc; Bảo vệ an ninh chính trị, trật tự toàn xã hội và nền văn hóa; Giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thứ tư, những nội dung chủ yếu của bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa là tổng thể tư tưởng và hành động của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta chủ động diễn ra từ trước nhằm sớm phát hiện, ngăn chặn, đẩy lùi, triệt tiêu những âm mưu hành động chống phá chế độ, xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ, lợi ích quốc gia - dân tộc, không để Tổ quốc bị động bất ngờ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa gồm nhiều nội dung, cần tập trung phân tích những nội dung chủ yếu sau:

Chủ động nắm, nghiên cứu, phân tích, dự báo chính xác tình hình thế giới, khu vực, trong nước. Đây là nội dung quan trọng hàng đầu vì chủ động nắm bắt, nghiên cứu, phân tích dự báo chính xác kịp thời cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn để Đảng và Nhà nước hoạch định đường lối, chính sách quốc phòng, an ninh đối ngoại bảo vệ Tổ quốc. Tình hình thế giới, khu vực hiện nay đang diễn ra mau lẹ và phức tạp tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây bất ổn, khó dự báo đòi hỏi phải nâng cao năng lực xử lý thông tin, dự báo, tham mưu chiến lược, chủ động nắm chắc tình hình, kịp thời phát hiện đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động.

Chủ động xây dựng tiềm lực, lực lượng, thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, thế trận lòng dân vững mạnh. Xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần, kinh tế, quân sự, khoa học - công nghệ, đối ngoại vững mạnh.

Xây dựng lực lượng vũ trang: Xây dựng quân đội nhân dân công án nhân dân cách mạng chính quy tinh nhuệ hiện đại. Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu chất lượng ngày càng cao. Xây dựng dân quân tự vệ vững mạnh rộng khắp, có số lượng phù hợp, coi trọng lực lượng dân quân tự vệ biển và dân quân tự vệ các địa bàn trọng điểm. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, thế trận lòng dân.

Phát huy sức mạnh tổng hợp bảo vệ Tổ quốc “Từ sớm, từ xa”: Nhằm động viên, quy tụ, phát huy cao độ sức mạnh của các nhân tố chính trị. Tinh thần, tư tưởng - văn hóa, quốc phòng an inh, kinh tế, đối ngoại, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và cả hệ thống chính trị. Kết hợp sức mạnh bên trong và bên ngoài, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình ủng hộ của nhân dân thế giới và nâng cao uy tín và vị thế của đất nước.

Phương thức bảo vệ Tổ quốc “Từ sớm, từ xa”: Bảo vệ Tổ quốc từ sớm từ xa đã trở thành tư tưởng chỉ đạo, hành động xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Bảo vệ Tổ quốc từ sớm nghĩa là về thời gian phải bảo vệ từ trước, phải chủ động phòng ngừa, tích cực chuẩn bị các điều kiện để bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong thời bình, khi đất nước chưa có chiến tranh, nguy biến. Bảo vệ Tổ quốc từ xa nghĩa là về không gian phải chủ động bảo vệ từ bên ngoài lãnh thổ của đất nước. Phương thức bảo vệ Tổ quốc từ sớm từ xa phải được chủ động tiến hành, lấy phòng ngừa, ngăn chặn nguy cơ chiến tranh, xung đột là chính. Phương thức bảo vệ Tổ quốc từ sớm từ xa là chủ động, kiên quyết, kiên trì đấu tranh không chỉ ngăn chặn chiến tranh xâm lược từ bên ngoài mà còn phải phát hiện sớm và xử lý kịp thời những yếu tố bất lợi, nhất là những yếu tố nguy cơ gây đột biến, đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch.

Đẩy mạnh công tác đối ngoại góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Đối ngoại giữ vai trò tiên phong trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa mọi nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước. Do đó, cần phải phối hợp chặt chẽ, phát huy sức mạnh tổng hợp của đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân, đối ngoại quốc phòng, an ninh.

Quán triệt và thực hiện tốt các nội dung trên chính là thực hiện hóa mục tiêu bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong thời bình, từ sớm từ xa.

Kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa này là sự kế thừa bài học “giữ nước từ khi nước chưa nguy” của ông cha ta trong lịch sử dựng nước và giữ nước, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với tình hình mới. Kế sách này được hình thành trên cơ sở nhận định, đánh giá dự báo đúng tình hình, cục diện và các xu hướng vận động phát triển của thế giới, khu vực, trong nước; gắn sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc với xây dựng, đổi mới toàn diện, hội nhập quốc tế, phát triển đất nước.

PGS.TS. Đào Duy Quát
Nguyên Phó Trưởng ban Thường trực 
Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương

TỰ TU CHỈNH, “ĐÁNH THẮNG KẺ ĐỊCH BÊN TRONG CỦA MỖI CHÚNG TA"

 

Biểu hiện suy thoái hàng đầu về đạo đức, lối sống đã được Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng chỉ ra là: “Cá nhân chủ nghĩa, sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; chỉ lo thu vén cá nhân, không quan tâm đến lợi ích tập thể; ganh ghét, đố kỵ, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình”. Vì vậy, đấu tranh đẩy lùi chủ nghĩa cá nhân là góp phần làm trong sạch hóa, lành mạnh hóa đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay.
    Sáng ngời một thế hệ tự nguyện cống hiến, hy sinh
    Chủ nghĩa cá nhân là căn bệnh hoàn toàn trái với phẩm chất đạo đức của người cán bộ, đảng viên. Bất cứ ai đã đi theo Đảng, theo cách mạng, nhất là những người cán bộ, đảng viên thì luôn phải tâm nguyện suốt đời hy sinh, phấn đấu cho mục tiêu lý tưởng của Đảng, của Bác Hồ và nhân dân ta đã chọn là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Trung thành với mục tiêu lý tưởng cách mạng đó, nhiều thế hệ cán bộ, đảng viên đã một lòng một dạ luôn đặt lợi ích của tập thể, của đất nước lên trên hết, trước hết.
Là đảng viên cộng sản, chắc hẳn ai cũng biết phẩm chất kiên trung, ngời sáng của biết bao chiến sĩ cách mạng trong các ngục tù, mặc dù trước sự tra tấn dã man của đế quốc thực dân, hay trước khi ra pháp trường bước lên máy chém vẫn một lòng một dạ trung thành tuyệt đối với lý tưởng của Đảng, thương yêu đồng đội, hết lòng vì lợi ích chung, nên “Chết còn trút áo cho nhau/ Miếng cơm dành để người sau ấm lòng” (thơ Tố Hữu).
    Trong suốt chặng đường cách mạng của đất nước ta, nhất là trong các cuộc kháng chiến giành độc lập, tự do của dân tộc đã xuất hiện hàng vạn cán bộ, đảng viên tiêu biểu về phẩm chất vì lợi ích tập thể mà quên đi lợi ích cá nhân. Phẩm chất đó là rất đáng trân trọng, là cao cả nhất, là thước đo không gì sánh nổi về tư tưởng vì nước, vì dân mà quên thân, quên lợi ích cá nhân.
Không có sách báo nào viết hết, ca ngợi hết những giá trị to lớn của hàng vạn tấm gương chủ nghĩa anh hùng cách mạng; anh hùng, liệt sĩ và biết bao cán bộ, chiến sĩ trong suốt chặng đường cách mạng hơn 93 năm qua do Đảng, Bác Hồ lãnh đạo. Tiêu biểu là từ các lãnh tụ, lãnh đạo Đảng, các chiến sĩ cách mạng tiền bối như: Trần Phú, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Văn Thụ, Hà Huy Tập, Võ Thị Sáu, Nguyễn Thị Minh Khai, Lý Tự Trọng... đến những anh hùng sáng ngời tinh thần bất khuất như: Nguyễn Văn Trỗi, Võ Thị Thắng, Đinh Núp... Họ đã trở thành biểu tượng cao đẹp về tấm lòng trung kiên, dũng cảm, vì nước, vì dân, được muôn đời thế hệ sau ngợi ca, học tập và noi theo.
    Những triệu chứng nguy hại của bệnh cá nhân chủ nghĩa thời nay
    Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, trên chặng đường lịch sử cách mạng, chúng ta cũng đau lòng khi một bộ phận cán bộ, đảng viên do thiếu tu dưỡng, rèn luyện, thiếu bản lĩnh, bị vật chất, đồng tiền cám dỗ... đã đi ngược lại lợi ích tập thể, lợi ích của đất nước, coi lợi ích cá nhân là trên hết, từ đó làm mất thanh danh, phẩm chất người đảng viên cộng sản.
Những năm gần đây, nhiều cán bộ lãnh đạo cấp bộ, ngành, Trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cũng bị lợi ích cá nhân chi phối, nên đã vi phạm kỷ luật "nghiêm trọng", "rất nghiêm trọng" đã bị kỷ luật và xử lý hình sự. Cũng do sa vào bệnh cá nhân chủ nghĩa, lại thiếu ý thức tu dưỡng rèn luyện, vì lợi ích tầm thường mà hàng chục cán bộ đã nhận hối lộ với số tiền lớn, rất lớn, đặc biệt lớn trong vụ án “chuyến bay giải cứu” và vụ "Việt Á" mới đây, gây bức xúc dư luận.  
Ở mỗi cương vị và trên từng lĩnh vực, căn bệnh cá nhân chủ nghĩa nó diễn ra khác nhau, kể cả về tính chất và quy mô. Nhưng thông thường, biểu hiện cá nhân chủ nghĩa thường bộc lộ ở một số cán bộ, đảng viên đảm nhiệm cương vị chủ chốt cơ quan, đơn vị, địa phương, đó là:
    Thứ nhất, làm việc gì của cơ quan, đơn vị, địa phương cũng tính đến “được cái gì” mang về cho bản thân.
    Thứ hai, củng cố địa vị, bố trí những vị trí chủ chốt cán bộ, đảng viên thuộc quyền lãnh đạo, quản lý của mình là những người thân cận để bảo đảm sự thăng tiến cho cá nhân mình được thuận lợi.
    Thứ ba, xây dựng những cán bộ nguồn nằm trong quy hoạch là những người thân tín hoặc những người “cánh hẩu” với mình để được ban ơn về sau hoặc tiếp tục có điều kiện cất nhắc, giúp đỡ con cháu mình sau này.
    Thứ tư, chỉ đạo cơ quan, đơn vị, địa phương mình xây dựng “chính sách nội bộ” về một việc gì đó mà “lách luật” được để mang lại lợi ích cho một nhóm người. Ví như xây biệt thự liền kề, nhà ở... để bán giá cao nhưng thực chất chênh lệch hàng chục lần so với giá thị trường cho những cán bộ “có nhiều cống hiến”, trong đó có bản thân mình.
    Thứ năm, luôn ích kỷ, so bì, tính toán thiệt hơn; thấy đồng đội học hành, công tác thành đạt thì khó chịu, kèn cựa, nói xấu sau lưng, tìm cách hạ uy tín những cán bộ, đảng viên không thuộc “gu” của mình, gây mất đoàn kết nội bộ hoặc dùng các mánh khóe để vô hiệu hóa đồng đội, cấp dưới của mình.
    Kiên quyết phòng ngừa, đấu tranh đẩy lùi chủ nghĩa cá nhân 
    Phê phán tư tưởng cá nhân chủ nghĩa, hay chủ nghĩa cá nhân, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều bài nói và viết về căn bệnh nguy hiểm này. Người cho rằng, chủ nghĩa cá nhân như một thứ vi trùng độc hại, tồn tại dai dẳng trong mỗi người cán bộ, đảng viên, luôn chờ cơ hội để trỗi dậy; là nguy cơ làm suy yếu Đảng, giảm lòng tin của quần chúng đối với Đảng. Người coi chủ nghĩa cá nhân là giặc nội xâm, kẻ thù của những người cách mạng. Bác Hồ nói: “Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá từ trong phá ra”, do vậy, theo Bác: “Muốn đánh thắng kẻ địch bên ngoài thì trước hết phải đánh thắng kẻ địch bên trong của mỗi chúng ta là chủ nghĩa cá nhân”.
Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) chỉ ra đối với cán bộ, đảng viên, chủ nghĩa cá nhân biểu hiện ở chỗ sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, hám quyền lực, tham nhũng, tiêu cực; bè phái, cục bộ, mất đoàn kết; quan liêu, xa dân, vô cảm trước những khó khăn, bức xúc của dân. Từ sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, cơ hội, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.
Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân, chúng ta cần nhận thức đúng đắn rằng “Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là giày xéo lên lợi ích cá nhân”. Bởi vì, theo Bác, “Mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và của gia đình mình. Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích của tập thể thì không phải là xấu”. Vấn đề là ở chỗ, như Bác Hồ đã chỉ ra: “Lợi ích của cá nhân gắn liền với lợi ích của tập thể. Nếu lợi ích cá nhân mâu thuẫn với lợi ích tập thể, thì đạo đức cách mạng đòi hỏi lợi ích riêng của cá nhân phải phục tùng lợi ích chung của tập thể”.
Việc cần làm hiện nay là các cấp ủy, tổ chức đảng chú trọng tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên về tự phòng, chống bệnh cá nhân chủ nghĩa. Đặc biệt đối với cán bộ chủ chốt, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị phải nhận thức và xác định đấu tranh phòng, chống chủ nghĩa cá nhân là nhiệm vụ không nghỉ, là lương tâm, trách nhiệm và ý thức tự giác của mình trước Đảng, Tổ quốc và nhân dân; dù trong điều kiện nào cũng đặt lợi ích tập thể lên trên hết, thực hiện tốt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư”. Nếu cán bộ, đảng viên ở cương vị chủ chốt các cấp thực hiện đúng lời dạy của Bác, chắc chắn sẽ giáo dục, cảm hóa, thuyết phục được mọi thành viên trong cơ quan, đơn vị cũng đề cao trách nhiệm tự phê phán, đấu tranh chống tư tưởng cá nhân chủ nghĩa. 
Một giải pháp quan trọng nữa là các cấp ủy, tổ chức đảng và các tổ chức trong cơ quan, đơn vị thường xuyên theo định kỳ sinh hoạt tự phê bình và phê bình, trong đó chú trọng xem xét đến từng cá nhân, tập thể có biểu hiện cá nhân chủ nghĩa không? Nếu có thì phải giáo dục, ngăn chặn, đấu tranh nghiêm túc để loại bỏ ngay từ khi còn manh nha, nhen nhóm.
Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, quán triệt thực hiện các chỉ thị, nghị quyết, hướng dẫn, quy định về công tác xây dựng Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”; Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XIII) về “Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; thực hiện nghiêm túc Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm; các quy định về phòng, chống tham nhũng, lãng phí...
Qua đó làm cho mỗi cán bộ, đảng viên nhận thức rõ hơn về trách nhiệm rèn luyện, tu dưỡng, phấn đấu của mình, luôn công tâm vì lợi ích tập thể, lợi ích của đất nước, trong đó có lợi ích chính đáng của mình. Không gì hơn là mỗi cán bộ, đảng viên phải tự tu chỉnh, tự vượt qua và chiến thắng chính mình trước những cám dỗ để không sa vào chủ nghĩa cá nhân. 
Vấn đề có tính lâu dài đòi hỏi chúng ta phải làm tốt công tác giáo dục thế hệ trẻ ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường sớm có tư tưởng lành mạnh, trong sáng, không vụ lợi, lấy mục đích lợi ích tập thể, lợi ích đất nước, lợi ích của nhân dân để xác định động cơ phấn đấu, rèn luyện, phục vụ khi trở thành người cán bộ, đảng viên của Đảng./.
ST

 

Bảo vệ chính trị nội bộ làm cho các tổ chức đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh

 

Bảo vệ chính trị nội bộ là nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ. Trong suốt 93 năm qua, Đảng ta đã rất chú trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ, coi đây là nhiệm vụ quan trọng có tính chiến lược lâu dài.

Công tác bảo vệ chính trị nội bộ được hiểu là các hoạt động nhằm bảo vệ lý tưởng, nền tảng tư tưởng, vị thế, uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam, giữ vững sự trong sạch của các tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên, tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ; đồng thời ngăn ngừa, phát hiện, đấu tranh với những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội...

Thực tế cho thấy trong những năm qua, các thế lực thù địch đã không ngừng tìm mọi âm mưu, thủ đoạn hòng chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa, trong đó chúng tăng cường xuyên tạc bản chất của công tác bảo vệ chính trị nội bộ của Đảng ta. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ tới tâm tư, lý tưởng, niềm tin của nhân dân với Đảng, với đội ngũ cán bộ, đến trật tự an ninh xã hội và lâu dài là sự tồn vong của chế độ.

Các thế lực thù địch xuyên tạc rằng công tác bảo vệ chính trị nội bộ là để duy trì vai trò độc tôn của Đảng, duy trì địa vị và quyền lợi của một bộ phận đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, chứ không phải là vì lợi ích quốc gia, dân tộc và nhân dân. Các đối tượng chống phá cố tình không hiểu Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam.

Công tác bảo vệ chính trị nội bộ không chỉ đơn thuần là công tác để bảo vệ Đảng mà còn là để làm trong sạch Đảng, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, loại trừ các yếu tố tiêu cực nảy sinh trong nội bộ đảng làm cản trở sự phát triển của đảng, góp phần làm cho các tổ chức đảng ngày càng trở nên trong sạch, vững mạnh.

Với bản chất của chế độ và nhà nước xã hội chủ nghĩa “của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thì việc bảo vệ Đảng, làm cho Đảng trở nên trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với vai trò lãnh đạo cách mạng cũng chính là vì lợi ích của quốc gia, dân tộc, vì lợi ích của nhân dân.

Song không chỉ dừng lại ở đó, các thế lực thù địch còn cố tình suy diễn cho rằng, sở dĩ Đảng ta phải tiến hành công tác bảo vệ chính trị nội bộ là để “ngụy trang”, “che đậy” cho những “phức tạp không nhỏ” diễn ra trong nội bộ như: sự mất đoàn kết; sự tranh giành địa vị, phe nhóm, bè phái; sự suy thoái về lý tưởng, niềm tin, tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ; hay tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”,... đang ngày càng tăng lên trong nội bộ Đảng.

Đáng buồn là những luận điệu sai trái này không chỉ được tuyên truyền bởi các thế lực chống phá, phản động mà còn được sự tiếp tay của một số cá nhân, trong đó có cả những người từng có uy tín, công lao nhất định với đất nước, nhưng do bị suy thoái về tư tưởng, sai lầm về nhận thức nên “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trở nên bất mãn, thù hằn chế độ, gây tác động xấu đến dư luận xã hội. Hiện tượng này cần phải được nhận diện, thông tin kịp thời giúp người dân hiểu rõ, không để các đối tượng xấu lôi kéo, dụ dỗ, hoặc tin nghe theo những luận điệu sai trái, thù địch.

Có thể thấy rằng trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ thì vấn đề về cán bộ và công tác cán bộ hiện đang bị các thế lực thù địch lợi dụng khai thác triệt để. Một mặt, chúng lợi dụng những yếu kém, hạn chế, sai lầm của một bộ phận cán bộ dẫn đến tình trạng tham ô, tham nhũng, lãng phí, thất thoát tài sản công, quản lý kém hiệu quả… trong thời gian qua để tuyên truyền, xuyên tạc hòng khoét sâu thêm những bức xúc của nhân dân.

Mặt khác, khi Đảng ta tiến hành công cuộc phòng chống tham nhũng một cách quyết liệt, với quan điểm “không có vùng cấm” trong xử lý vi phạm của đội ngũ cán bộ với hàng loạt các vụ đại án từ trung ương đến địa phương, từ các bộ, ban, ngành đến các doanh nghiệp tư nhân,... thì chúng lại bóp méo, xuyên tạc rằng đó thực chất là việc “thanh trừng bè phái”, “đấu đá nội bộ”, là “các phe cánh triệt tiêu nhau”. Việc quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ cũng bị chúng bóp méo cho rằng đó chỉ là hình thức, nhằm phục vụ “lợi ích nhóm”...

Thẳng thắn nhìn nhận thì trong nội bộ Đảng hiện có tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nhưng đó chỉ là “con sâu làm rầu nồi canh”. Đảng, Nhà nước ta đang nỗ lực hết sức để ngăn chặn và xử lý triệt để tình trạng này, thực hiện nhiều biện pháp quyết liệt góp phần làm trong sạch bộ máy.

Cho nên, sự quyết liệt trong công cuộc chống tham nhũng của Đảng ta hiện nay tuyệt đối không phải là việc đấu đá, thanh trừng nội bộ, bè phái mà chính là thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với vai trò tiên phong, lãnh đạo vì lợi ích quốc gia, dân tộc, nhân dân.

Quan điểm của Đảng ta trong công tác cán bộ được xác định rõ: không để lọt những người không xứng đáng, không bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện, có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhưng cũng không để sót những cán bộ thực sự có đức, có tài; kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực trong công tác cán bộ và “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” trong đấu tranh phòng chống tham nhũng.

Do đó, việc thực hiện quyết liệt trong đấu tranh chống tham nhũng và đổi mới, công khai, nghiêm túc trong công tác cán bộ ở nước ta thời gian qua cũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác bảo vệ chính trị nội bộ.

Bên cạnh đó một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác bảo vệ chính trị nội bộ là bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là phong trào thi đua “Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” của Đảng ta cũng đang bị các thế lực thù địch xuyên tạc cho rằng, cuộc vận động và phong trào thi đua đó đã diễn ra hàng chục năm nay nhưng chỉ là hình thức mang tính “phong trào” chứ không đi vào thực chất, không hiệu quả.

Những luận điệu này không chỉ là sự bóp méo về chức năng, nhiệm vụ của công tác chính trị nội bộ, mà còn cố tình phủ định sạch trơn những cố gắng, quyết tâm trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng mà chúng ta đang thực hiện.

Những kết quả tích cực suốt hàng chục năm qua mà Đảng, Nhà nước cùng với nhân dân ta đã đạt được qua cuộc vận động và phong trào thi đua học và làm theo Bác Hồ là minh chứng rõ ràng, thuyết phục nhất. Đội ngũ cán bộ, đảng viên ở các cơ quan, đơn vị trên khắp cả nước tích cực thi đua không ngừng để “học và làm theo Bác” từ những việc làm thiết thực, cụ thể.

Tiêu biểu như công cuộc đẩy mạnh phòng chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm theo lối sống giản dị của Bác “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”; đẩy mạnh công tác cải cách hành chính với phương châm “phục vụ nhân dân”, gần dân, sát dân; đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, “phê bình và tự phê bình”; đề cao trách nhiệm nêu gương; tự tu dưỡng, tự rèn luyện,...

Qua hàng loạt các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về công tác bảo vệ chính trị nội bộ cho thấy mục đích duy nhất của chúng là phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Chính vì vậy, cho dù ở bất cứ lĩnh vực nào, ở bất cứ đâu, chúng ta cũng phải luôn tỉnh táo, có lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng và nhận thức khoa học đầy đủ, đúng đắn để tỉnh táo nhận diện được những luận điệu, thủ đoạn thâm độc, khó lường của các thế lực thù địch.

Để làm được điều đó mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao nhận thức về vai trò, nhiệm vụ của công tác bảo vệ chính trị nội bộ của Đảng; quán triệt và thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, nghị quyết, hướng dẫn về công tác bảo vệ chính trị nội bộ; gắn kết chặt chẽ công tác bảo vệ chính trị nội bộ với công tác xây dựng Đảng và công tác cán bộ, coi đây là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục trong cả hệ thống chính trị.

Đồng thời cấp ủy, chính quyền các cấp phải kịp thời nắm bắt tình hình tại cơ quan, đơn vị mình, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến công tác bảo vệ chính trị nội bộ, công tác cán bộ, nhân sự,…; chủ động phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền để nắm bắt tình hình, giải quyết những tình huống phát sinh, những vụ việc gây bức xúc, tố giác, khiếu kiện… theo đúng quy định, minh bạch, khách quan, tránh để kẻ xấu lợi dụng xuyên tạc, vu khống. Tiếp tục củng cố, kiện toàn cơ quan, đơn vị, triển khai công tác bảo vệ chính trị nội bộ theo hướng tinh gọn, hiệu quả, thiết thực, phát huy mạnh mẽ vai trò của từng cán bộ, đảng viên và tập thể.

Đây là những yêu cầu cần thiết để chủ động phòng và kịp thời đấu tranh có hiệu quả với các âm mưu, thủ đoạn nhằm phá hoại sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, chia rẽ, hạ thấp uy tín của Đảng, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng và thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động./.

TS. NGÔ THỊ NỤ (nhandan.vn)

BÁC HỒ NÓI VỀ Ý NGHĨA CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh - người kế tục trung thành và vận dụng sáng tạo học thuyết Mác-Lênin khi nói về Cách mạng Tháng Mười Nga đã khẳng định: Cách mạng Tháng Mười là cuộc cách mạng triệt để nhất và ngọn đuốc lý luận Mác-Lênin, kinh nghiệm của nó soi sáng con đường cách mạng Việt Nam.
Bài học đầu tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Cần có sự lãnh đạo của một đảng cách mạng chân chính của giai cấp công nhân, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân”. 85 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, cách mạng Việt Nam đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, giành được nhiều thắng lợi vẻ vang, đã chứng minh nhận định của Bác là hoàn toàn đúng đắn.
Bài học thứ hai của Cách mạng Tháng Mười Nga được Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng vào cách mạng Việt Nam, đó là: “Thực hiện cho được liên minh công nông... Chỉ có khối liên minh công nông do giai cấp công nhân lãnh đạo mới có thể kiên quyết và triệt để đánh đổ các thế lực phản cách mạng, giành lấy và củng cố chính quyền nhân dân lao động, hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của cách mạng dân tộc, dân chủ tiến lên chủ nghĩa xã hội”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất thành công khi xác định lực lượng cách mạng. Theo Người, quần chúng nhân dân là lực lượng cách mạng, nhưng trong khối đại đoàn kết đông đảo ấy phải lấy liên minh công nông làm gốc.
Bài học thứ ba mà Bác chỉ ra là, “Dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền”. Bài học phương pháp bạo lực cách mạng từ Cách mạng Tháng Mười Nga đã được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng trong phương pháp cách mạng bạo lực, trong nghệ thuật chớp thời cơ lãnh đạo toàn dân tộc làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945 – cuộc cách mạng giải phóng dân tộc duy nhất do Đảng cộng sản lãnh đạo giành chính quyền về tay nhân dân ở một nước thuộc địa.
Bài học thứ tư là, “Không ngừng tăng cường và củng cố nền chuyên chính vô sản”. Bài học này đã được Bác nhận thức đầy đủ và vận dụng thành công vào cách mạng Việt Nam, điển hình như: sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Người đã lãnh đạo nhân dân xây dựng và củng cố chính quyền-công cụ thực hiện chuyên chính vô sản.
Bài học thứ năm - một bài học rất sâu sắc của Cách mạng Tháng Mười Nga là, “cần có tinh thần cách mạng triệt để, luôn luôn giương cao ngọn cờ của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, không sợ gian khổ, hy sinh, kiên quyết đấu tranh đến cùng vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Vận dụng bài học này vào Việt Nam, Bác chỉ rõ: “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ” và “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng quyết giành cho được độc lập”... Thực hiện những lời kêu gọi của Bác, nhân dân Việt Nam ở cả hai miền đã chiến đấu cực kỳ anh dũng để đất nước được hoàn toàn độc lập, giang sơn thu về một mối.
Bài học thứ sáu của Cách mạng Tháng Mười Nga được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, đó là “Kết hợp chặt chẽ lòng yêu nước với tinh thần quốc tế vô sản”.
Ði theo con đường của Cách mạng Tháng Mười, Ðảng ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện đã giành được nhiều thắng lợi vẻ vang, ghi lại những mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước./.
St

Việt Nam đóng góp tích cực bảo đảm quyền tự do tôn giáo


Xây dựng các báo cáo, soạn các thư ngỏ, kiến nghị sai sự thật về tình hình tôn giáo ở Việt Nam, nhân danh tự do tôn giáo để thực hiện các mưu đồ đen tối nhằm chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam… là hàng loạt chiêu trò quen thuộc được các thế lực thù địch đẩy mạnh trong thời gian qua. Tuy nhiên, những thành tựu của công tác tôn giáo ở Việt Nam mà đông đảo bạn bè quốc tế công nhận, đánh giá cao đã là câu trả lời rõ ràng nhất về việc bảo đảm quyền con người cũng như quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi tầng lớp nhân dân.

Năm 2023 chứng kiến nhiều sự kiện quan trọng khẳng định những đóng góp tích cực của Việt Nam trong lĩnh vực bảo vệ và thúc đẩy quyền con người nói chung, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo nói riêng ở cả cấp độ quốc tế và quốc gia.

Tiêu biểu có thể kể đến: Ngày 3/4, Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc thông qua Nghị quyết kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (UDHR) và 30 năm Tuyên bố và Chương trình hành động Vienna (VDPA) do Việt Nam đề xuất và soạn thảo. Nghị quyết là dấu ấn nổi bật của Việt Nam trong lần thứ hai đảm nhiệm cương vị thành viên Hội đồng Nhân quyền, thể hiện đóng góp thực chất, trách nhiệm của Việt Nam trên lĩnh vực quyền con người.

Trong tháng 6, Đoàn đại biểu Quốc hội do ông Đôn Tuấn Phong, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại làm Trưởng đoàn đã tham dự Hội nghị Nghị viện về đối thoại tôn giáo do Liên minh Nghị viện Thế giới (IPU) tổ chức tại Maroc. Trước diễn đàn liên nghị viện của 163 quốc gia, đoàn đại biểu Việt Nam đã thông tin cho bạn bè quốc tế biết về những thành tựu quan trọng trong bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; ghi nhận các đóng góp của các tổ chức tôn giáo trên các lĩnh vực giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội, thiện nguyện; khẳng định vai trò của các đại biểu Quốc hội là chức sắc tôn giáo trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

Mới đây, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng đã thăm chính thức Tòa thánh Vatican theo lời mời của Giáo hoàng Francis. Trong chuyến thăm này, với mong muốn chung tiếp tục thúc đẩy quan hệ giữa hai bên, hai bên chính thức thông báo về việc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Tòa thánh đã thông qua “Thỏa thuận Quy chế hoạt động của Đại diện thường trú và Văn phòng Đại diện thường trú Tòa thánh tại Việt Nam”.

Hai bên bày tỏ tin tưởng Đại diện thường trú Tòa thánh sẽ thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ trong Quy chế; hỗ trợ cộng đồng Công giáo Việt Nam hoạt động trên tinh thần tôn trọng pháp luật và Giáo huấn của Giáo hội thực hiện đường hướng “đồng hành cùng dân tộc”, “giáo dân tốt và công dân tốt”, đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước; đồng thời phát huy vai trò cầu nối thúc đẩy quan hệ giữa Việt Nam và Tòa thánh.

Những kết quả trên đây đã cho thấy nỗ lực của Đảng, Nhà nước trong việc chăm lo đời sống của công dân theo tôn giáo, từ đó tạo điều kiện để tất cả nhân dân được thụ hưởng các quyền kinh tế-xã hội, văn hóa, dân sự, chính trị theo chuẩn mực quốc tế bên cạnh việc hoàn thiện hệ thống pháp luật và thực thi các chủ trương, chính sách, từ đó hướng đến mục tiêu ngày càng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân và bảo đảm tốt hơn các quyền con người.

Bất chấp thực tế đó, các thế lực thù địch, thiếu thiện chí vẫn cố tình liên tục mở ra các diễn đàn hoặc tham gia vào nhiều sự kiện nhằm chống phá Việt Nam. Mới đây, BPSOS (Ủy ban cứu trợ người vượt biển) loan tin sẽ tham gia “hội nghị cấp bộ trưởng các quốc gia về vấn đề tự do tôn giáo trên toàn cầu” (FoRB) với tư cách đồng tổ chức cùng lực lượng tham dự lên tới 30 người để “trình bày trong hội nghị về tình trạng thực tại của nhân quyền tôn giáo tại Việt Nam”. Tuy nhiên thực tế FoRB không phải là “hội nghị cấp bộ trưởng các quốc gia về vấn đề tự do tôn giáo trên toàn cầu” mà là “hội nghị cấp bộ trưởng quốc tế về tự do tôn giáo và tín ngưỡng”. Sự kiện có sự góp mặt chính thức của đại diện đến từ 36 chính phủ.

Trước đó, hội nghị đã được tổ chức 4 lần vào các năm 2018, 2019, 2020 và 2022. Tại hội nghị, bên cạnh những phiên họp chính thức, các đoàn thể xã hội được phép mở một số tọa đàm bên lề, với điều kiện họ có đăng ký và tự chủ kinh phí. Các sự kiện phi chính thức này không ảnh hưởng đến các tuyên bố, nghị quyết chung của các nước tham gia hội nghị. Hơn nữa, không phải tuyên bố chung nào cũng được tất cả các nước thành viên của FoRB đồng thuận. Đơn cử, tại hội nghị năm 2022, chỉ có 8 nước ký vào Tuyên bố về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và bình đẳng giới.

Như vậy, việc BPSOS tự nhận là đơn vị đồng tổ chức của FoRB dễ gây hiểu lầm, song lại đang được tổ chức này tận dụng nhằm hư trương thanh thế trên phương tiện truyền thông đại chúng hải ngoại. Không chỉ vậy, những chủ đề mà BPSOS cho biết sẽ trình bày tại FoRB cho thấy vẫn chỉ là sự lặp lại nội dung từng được họ trình bày tại cái gọi là “Hội nghị Thượng đỉnh tự do tôn giáo quốc tế lần thứ ba” (IRF-2023) diễn ra hồi đầu năm nay. Điều đáng nói là liên quan đến một số vụ án, sự kiện đã được thông tin công khai, minh bạch trên các phương tiện thông tin đại chúng ở trong nước và nước ngoài song lại bị BPSOS và các nhóm chống phá khác hướng lái theo chiều hướng tiêu cực, nhằm bôi đen tình hình tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam.

Tuy nhiên, sự tỉnh táo của nhiều người khiến họ không dễ bị mắc lừa, chính vì vậy dù hô hào rầm rộ song buổi thuyết trình tại IRF-2023 của các “nhà đấu tranh” này chỉ thu hút được lẻ tẻ khán giả, vốn là các đối tượng chống cộng lưu vong. Thế nhưng, BPSOS và các tổ chức chống phá khác dường như vẫn “cố đấm ăn xôi”.

Đơn cử, vụ việc “chi phái Cao Đài 1997 và Cao Đài Chơn Truyền 1926” được Nguyễn Đình Thắng (đối tượng cầm đầu BPSOS) liên tục chia sẻ trên mạng xã hội trong thời gian gần đây, thực chất là mâu thuẫn giữa hai tổ chức tôn giáo Cao Đài trên lãnh thổ Hoa Kỳ. Tuy nhiên, BPSOS lại vu khống Nhà nước Việt Nam khi cho rằng chi phái Cao Đài 1997 (chi phái của Hội thánh Cao Đài Tòa thánh Tây Ninh tại Hoa Kỳ) “do nhà nước Việt Nam dựng lên” để “diệt đạo Cao Đài ở Việt Nam” và “tấn công” những người bảo vệ đạo Cao Đài Chơn Truyền 1926… tại Hoa Kỳ. Phải chăng họ muốn lờ đi sự thật là đến nay, Nhà nước đã công nhận tổ chức tôn giáo đối với 10 Hội thánh Cao Đài, 21 tổ chức Cao Đài hoạt động độc lập và cấp đăng ký hoạt động tôn giáo đối với 01 pháp môn Cao Đài. Hội thánh Cao Đài Tòa thánh Tây Ninh là một trong số đó, đang hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.

Tính đến tháng 12/2021, các hội thánh, tổ chức Cao Đài có hơn 1,2 triệu tín đồ, hơn 13 nghìn chức sắc, 26 nghìn chức việc, 1.300 cơ sở tôn giáo ở 38 tỉnh, thành phố trên lãnh thổ Việt Nam (số liệu từ Sách trắng “Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam”, Nxb Tôn giáo, 2023). Đó là chưa kể một số tổ chức tôn giáo Cao Đài hợp pháp ở Việt Nam đã và đang mở rộng phạm vi truyền đạo ra nhiều quốc gia trên thế giới mà không hề bị chính quyền Việt Nam ngăn chặn, cản trở.

Ngoài ra, BPSOS cùng với các tổ chức cực đoan khác như “Người Thượng vì công lý”, “Bàn tròn đa tôn giáo Việt Nam”, “Hội thánh tin lành đấng Chirst” không ngừng lợi dụng các vấn đề tôn giáo và sắc tộc để kêu gọi cộng đồng quốc tế ủng hộ ly khai, đòi thành lập “nhà nước riêng, tôn giáo riêng” cho người dân tộc thiểu số Tây Nguyên.

Sau vụ tấn công, khủng bố tại Đắk Lắk ngày 11/6/2023, các tổ chức này chẳng những không lên án tội ác, mà ngang nhiên vu cáo chính quyền “kích động bạo lực”, “đàn áp người dân tộc thiểu số” nhằm mục đích chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc trên địa bàn Tây Nguyên. Đồng thời các đối tượng còn cố tình biện minh cho thủ đoạn đội lốt tôn giáo để gieo rắc tư tưởng hẹp hòi dân tộc, âm mưu tập hợp lực lượng, tiến tới gây rối, biểu tình, bạo loạn của các tổ chức chống phá.

Từ nhiều năm qua, đặc biệt trong năm 2023 các thế lực thù địch liên tục đẩy mạnh hoạt động chống phá liên quan đến lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng và sắc tộc tại Việt Nam. Chúng kêu gọi các tổ chức liên chính phủ và những nước lớn “đưa Việt Nam vào danh sách theo dõi đặc biệt về tự do tôn giáo”, làm bàn đạp để gây sức ép, can thiệp vào các công việc nội bộ của Việt Nam, nhất là khi Việt Nam được bầu làm Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2022-2023 và lần thứ hai trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2023-2025. Bất chấp những thủ đoạn chống phá ngày một gia tăng của các thế lực thù địch, Việt Nam vẫn đạt được những thành tựu không thể phủ nhận trên lĩnh vực quyền con người và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Thực tiễn đã minh chứng, ở Việt Nam không có sự phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo, không có mâu thuẫn, xung đột giữa các tôn giáo; người theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau cùng chung sống hài hòa trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Khi tới thăm Việt Nam, bất kỳ du khách quốc tế nào cũng có thể cảm nhận được đời sống hòa hợp và bao dung giữa các tôn giáo cũng như sự đồng thuận giữa các tôn giáo và Nhà nước.

Điều đáng mừng là trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Việt Nam đã có thêm nhiều kênh chính thức để thông tin cho bạn bè thế giới hiểu rõ hơn về tình hình tự do tôn giáo đang diễn ra. Bên cạnh đó, thông qua các cơ chế hợp tác song phương, đa phương, khu vực và quốc tế, đặc biệt là Liên hợp quốc, Nhà nước Việt Nam đã chứng tỏ được những đóng góp tích cực trong đấu tranh bảo vệ, phát huy các nguyên tắc, nội dung tiến bộ về tự do tôn giáo, và luôn kiên định bảo vệ lẽ phải trong lĩnh vực này ở cấp độ quốc gia và quốc tế./.

QUANG MINH (nhandan.vn)