Thứ Tư, 6 tháng 12, 2023

HẢI THƯỢNG LÃN ÔNG LÊ HỮU TRÁC: VỊ DANH Y TÂM ĐỨC

 Phiên họp lần thứ 42 của Đại hội đồng Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) diễn ra mới đây đã thông qua nghị quyết vinh danh danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác nhân kỷ niệm 300 năm Ngày sinh của ông vào năm 2024. Đây thực sự là niềm vui, niềm tự hào của cả dân tộc bởi trí tuệ, tài năng và các giá trị văn hóa của con người Việt Nam được lan tỏa.

Người phát triển y học cổ truyền Việt Nam
Hữu Trác (biệt hiệu là Hải Thượng Lãn Ông) sinh năm 1724 trong gia đình, dòng tộc có truyền thống khoa bảng, nhiều người đỗ tiến sĩ, làm quan lớn dưới thời Hậu Lê của nước ta. Cha của ông là TS Lê Hữu Mưu, người làng Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương (nay là xã Liêu Xá, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên). Quê mẹ ông ở làng Bàu Thượng, xã Tình Diệm, huyện Hương Sơn, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An (nay là xã Quang Diệm, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh).
Thuở nhỏ, Lê Hữu Trác theo cha lưu học ở Thăng Long, nổi tiếng là học trò hay chữ và đã thi đỗ tam trường. Sau khi cha mất, Lê Hữu Trác theo mẹ về Hương Sơn sinh sống. Năm 1743, ông thi đỗ Tú tài và còn nghiên cứu thêm thuật âm dương, thiên văn, nhân thuật rồi gia nhập quân đội chúa Trịnh, theo đuổi con đường binh nghiệp. Trong thời gian tại ngũ, ông đã lập được nhiều chiến công, được cất nhắc nhưng ông từ chối để trở về rừng núi Hương Sơn chăm sóc mẹ già. Đây cũng là nơi ông gắn bó thời gian dài hành nghề thầy thuốc cho đến lúc qua đời năm 1791. Khu mộ và Tượng đài Hải Thượng Lãn Ông ở xã Sơn Trung, huyện Hương Sơn thuộc quần thể di tích lịch sử-văn hóa đã được xếp hạng cấp quốc gia năm 1990, hiện trở thành một điểm đến thu hút khách trong và ngoài nước.
Cuộc đời, sự nghiệp của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác đã để lại cho hậu thế nhiều bài học, tư liệu quý thông qua bộ sách nổi tiếng “Hải Thượng Y tông tâm lĩnh”. Bộ sách có 28 tập, chia làm 66 quyển, được coi như bách khoa toàn thư về Đông y, cột mốc đánh dấu bước tiến mới mở đường cho sự phát triển y học cổ truyền Việt Nam. Nội dung bộ sách bao quát khắp các lĩnh vực của y học cổ truyền phương Đông, triết học, văn học, lịch sử, giáo dục, văn hóa học, y lý, điều trị, bệnh học, chẩn đoán, dưỡng sinh, phòng bệnh, dược học, dinh dưỡng ăn uống, nữ công gia chánh, nội khoa, nhi khoa, phụ sản khoa, nhãn khoa, hầu khoa...
Ông là người đầu tiên trong lịch sử y học Việt Nam chép lại những bệnh án chữa thành công (Y dương án) và bệnh án khó chữa, t.ử v.o.n.g (Y âm án), mở đường cho các thầy thuốc có thể chia sẻ một cách trung thực trao đổi học thuật về các ca bệnh nan y có nguy cơ t.ử v.o.n.g hoặc đã t.ử v.o.n.g. Đại danh y còn tập hợp và sưu tầm hàng nghìn bài thuốc hiệu quả rồi chép vào sách để chữa bệnh. Những lý luận y học và phương pháp điều trị, bài thuốc của Hải Thượng Lãn Ông đến nay trở thành cẩm nang giảng dạy trong các trường y dược, được ứng dụng rộng rãi trong nước và nước ngoài.
Đề cao y đức, vì con người
Lúc sinh thời hành nghề làm thuốc, kê đơn, chữa bệnh, Hải Thượng Lãn Ông đặc biệt coi trọng y đức của thầy thuốc. Trong cuốn “Thượng kinh ký sự”, Lê Hữu Trác bộc bạch: “Làm thuốc thì phải nghĩ đến việc cứu người chứ! Cái lòng trung của kẻ làm tôi ở trong nghề thuốc ở đâu?". Sở dĩ ông thốt lên như vậy là vì khi ở kinh thành chữa bệnh cho thế tử, ông thấy cách làm việc vô tâm, thiếu trách nhiệm của nhiều thầy thuốc. Theo ông, đạo làm thuốc là một nhân thuật (nghĩa là một cách làm người, vì con người), chuyên bảo vệ sinh mạng con người, phải lấy việc cứu sống mạng người làm nhiệm vụ của mình, không nên cầu lợi kể công. Đạo làm thuốc là một học thuật cao quý để giữ gìn mạng sống, cũng là đầu mối lớn lao về đạo đức chân chính; “không có nghề nào vô nhân đạo bằng nghề y thiếu đạo đức”... Ông quyết liệt phê phán việc “đem nhân thuật làm chước dối lừa, đem lòng nhân đổi ra lòng buôn bán”. Ông khuyên người thầy thuốc luôn phải trau dồi y đức, người làm nghề thuốc là thanh cao, phải giữ khí tiết trong sạch, không nên nhận quà cáp vì dễ bị khinh rẻ...
Đến tham quan khu vực Tượng đài Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác tọa lạc trên núi ở huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh hiện nay, chúng tôi được đọc nhiều dòng y huấn nổi tiếng của ông khắc trên bia đá. Chẳng hạn như: “Phàm gặp các bệnh nguy kịch thì phải tận tâm cứu chữa tuy đã nghĩ ra được hiệu pháp tốt song vẫn cần phải nói rõ với người nhà bệnh nhân sau đó mới được cho thuốc uống”; “Phàm chữa bệnh cho nhà nghèo khó và người cô độc, góa bụa thì phải hết sức quan tâm. Bởi lẽ nhà giàu có thì chẳng lo không mời được người điều trị, còn nhà nghèo khó thì không có lực để mời được thầy giỏi. Như thế thì tại sao ta không chịu khó bỏ ra chút công sức để cứu sống được một mạng người”... Những dòng y huấn đó cho chúng ta phần nào hiểu được tinh thần nhân văn của vị danh y.
Theo Hải Thượng Lãn Ông, người thầy thuốc cần có 8 đức tính, gói trong 8 chữ: Nhân (nhân từ), Minh (sáng suốt), Đức (đức độ), Trí (trí tuệ), Lượng (độ lượng, bao dung), Thành (thành thật), Khiêm (khiêm tốn), Cần (chuyên cần, siêng năng). Trong đó, nhân là một đức tính cơ bản của người làm nghề y, là điều kiện tiên quyết để vào nghề y, nếu không có lòng nhân, không biết quan tâm đến người khác thì nên đi kiếm sống bằng nghề khác.
Quan điểm y đức của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác có sự tương đồng lớn với Lời thề Hippocrates ở phương Tây, được các thầy thuốc đời sau học tập, noi theo. Quan điểm y đức của ông cũng được Bộ Y tế nước ta vận dụng làm quy định đạo đức hành nghề y dược cổ truyền.
Nhà văn hóa tiến bộ
Không chỉ nổi tiếng là đại danh y, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác còn là một nhà giáo, nhà thơ, nhà văn để lại nhiều tác phẩm thơ và văn xuôi có giá trị lịch sử, văn hóa cho đời sau.
Thơ của Lê Hữu Trác viết bằng cả chữ Hán và chữ Nôm với nhiều thể thơ như: Ngũ ngôn, thất ngôn, song thất lục bát... xuất hiện nhiều trong các tập của bộ sách “Hải Thượng Y tông tâm lĩnh”. Thơ ca của ông thể hiện cảm xúc tinh tế, những suy ngẫm sâu sắc về con người, cuộc đời, giãi bày tâm tư, tình cảm của mình trước tình hình thế sự. Và đặc biệt, ông làm thơ để chuyển tải suy ngẫm về nghề, mô tả bệnh, cách chữa trị, các bài thuốc, cách dùng thuốc... Theo đánh giá của học giả Nguyễn Đổng Chi thì “thơ của Lê Hữu Trác là một thứ thơ lời ít, ý nhiều”, “rất hàm súc, tứ thơ mênh mông, tràn trề”...
Về văn xuôi, tác phẩm “Thượng Kinh ký sự” là tập ký sự được Lê Hữu Trác viết vào thập niên 80 của thế kỷ 18 kể lại cuộc hành trình của mình từ Nghệ Tĩnh (nay là hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh) về Thăng Long chữa bệnh cho chúa Trịnh. Tác phẩm từng được đưa vào sách giáo khoa Ngữ văn giảng dạy ở bậc phổ thông, được đánh giá là một thiên ký sự kiệt tác tái hiện chân thực bức tranh hiện thực xã hội phong kiến Việt Nam từ miền quê nghèo đến cung vua, phủ chúa ở Kinh thành Thăng Long (Hà Nội) nửa sau thế kỷ 18. Tác phẩm không chỉ có giá trị văn học mà còn cung cấp những tư liệu giá trị cho các nhà nghiên cứu lịch sử. Bên cạnh lối hành văn kể chuyện, nhân vật tôi-tác giả trong tập ký sự còn sáng tác tới hàng chục bài thơ chia sẻ nỗi lòng nhớ quê hương, đàm đạo khi gặp bạn bè hay suy ngẫm về công việc chữa bệnh: “Cổ vân dụng dược như dụng binh/ Sinh, sát quan đầu hệ phỉ khinh/ Quốc thủ do đa khuy phạp xứ/ Tàm dư cô lậu lý nan minh” (dịch: “Xưa rằng: “Dùng thuốc như dùng binh/ Tính mạng con người trách nhiệm mình/ Quốc thủ hãy còn nhiều thiếu sót/ Huống mình cô lậu lý không tinh”) (trích “Thượng Kinh ký sự”, tác giả: Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác; Phan Ngọc dịch; Nhà xuất bản Hà Nội).
Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác thực sự là một tấm gương mẫu mực về lao động, học tập, sáng tạo, sống vì nghĩa lớn, không màng danh lợi cá nhân. Hai chữ trong biệt hiệu Lãn Ông (ông già lười) của ông cũng thể hiện ý nghĩa ấy. Những chuyện ông kể, những điều ông viết vào sách để lại cho hậu thế đều toát lên phẩm chất cao quý, tri thức uyên thâm mà khiêm nhường của bậc danh y tài hoa. Gần 3 thế kỷ trôi qua đến nay vẫn cho thấy hệ tư tưởng của ông rất đúng đắn và tiến bộ, tất cả đều vì con người. Vì ông quan niệm: “Con người phải được bảo vệ và phát triển về cả thể chất và tinh thần”, “văn học phải bồi dưỡng tâm hồn, lẽ sống cho con người, phải hướng con người về chân-thiện-mỹ, ngay ăn mặc gì cũng phải đẹp, phải thích nghi với khí hậu”, “tác phẩm văn học phải có ích thật sự chứ không phải để chơi”...
Việc danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác được UNESCO vinh danh thực sự là một tin vui đặc biệt với người dân hai tỉnh Hưng Yên (quê cha), Hà Tĩnh (quê mẹ) nói riêng và cả dân tộc Việt Nam nói chung. Bởi trí tuệ, tài năng và những đóng góp của đại danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác đã được thế giới ghi nhận./.
St

NHỮNG ĐIỀU CHƯA BIẾT VỀ BẢN TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT NAM

 Lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam là một bản trường ca về các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Từ thế hệ này đến thế hệ khác, người Việt Nam luôn nêu cao tinh thần bất khuất và bảo vệ bằng mọi giá chủ quyền lãnh thổ thiêng thiêng. Một trong những minh chứng hùng hồn nhất cho tinh thần đó là bài thơ “Nam Quốc Sơn Hà” được cho là của danh tướng Lý Thường Kiệt.

Đây là một bài thơ lịch sử phổ biến nhất ở Việt Nam, phổ biến vì nó thể hiện được chân lý toàn vẹn lãnh thổ bất di bất dịch của dân tộc Việt Nam, dù có nghiên cứu sử hay không, thì người Việt Nam ai mà không biết đến câu: “Sông núi nước nam vua nam ở”. Thế nhưng, đến hiện tại, bài thơ này còn nhiều điểm chưa thống nhất giữa các tài liệu về tác giả, thời điểm ra đời và một số câu chữ trong bài thơ.
Về thời điểm ra đời bài thơ “Nam quốc sơn hà”, hiện tại có hai thuyết khác nhau về thời gian xuất hiện, mà có lẽ là dựa chủ yếu vào hai tài liệu sau đây:
Sách “Lĩnh nam chích quái” của Trần Thế Pháp thời Trần, phần “Truyện hai vị thần Long Nhãn, Như Nguyệt” chép:
“Tống Thái Tổ sai bọn tướng quân Hầu Nhân Bảo, Tôn Hoàng Hưng đem binh sang xâm lược nam phương. Lê Đại Hành và tướng quân Phạm Cự Lượng kéo quân tới sông Đồ Lỗ cự địch. Hai bên đối lũy cùng cầm cự với nhau.
Đại Hành mộng thấy hai thần nhân hiện trên sông nói rằng: “Anh em thần một tên là Hống, một tên là Hát, xưa kia theo Triệu Việt Vương, cầm quân chinh phạt nghịch tặc mà lấy được thiên hạ. Về sau Triệu Việt Vương mất nước, Lý Nam Đế triệu hai anh em thần. Bọn thần vì nghĩa không theo được nên uống thuốc độc mà tự tử.
Thượng đế thương hai anh em thần có công lại trung nghĩa một lòng mới phong làm quan tướng trong hàng các thần linh, thống lĩnh quỉ binh. Nay quân Tống phạm cõi, làm khổ sinh linh nước ta, cho nên anh em thần đến yết kiến, xin nguyện cùng nhà vua đánh giặc cứu sinh linh…”.
Đêm sau thấy một người dẫn đoàn quỉ áo trắng từ phía nam sông Bình Giang tới, một người dẫn bọn quỉ áo đỏ từ phía bắc sông như Nguyệt lại, cùng xông vào trại giặc mà đánh. Canh ba đêm ba mươi tháng mười, trời tối đen, mưa to gió lớn đùng đùng. Quân Tống kinh hoàng. Thần nhân tàng hình trên không, lớn tiếng ngâm rằng:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư
Như hà Bắc Lỗ lai xâm phạm
Bạch nhận phiên thành phá trúc dư.
Quân Tống nghe thấy, xéo đạp lên nhau mà chạy, mạnh ai nấy chạy thoát thân, bị bắt không biết bao nhiêu mà kể. Quân Tống vì thế đại bại mà về”.
Trong khi đó, sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nhà Hậu Lê thì ghi: “Nhà Tống sai tuyên phủ sứ Quảng Nam là Quách Quỳ làm Chiêu Thảo sứ, Triệu Tiết làm phó, đem quân tướng, hợp với Chiêm Thành và Chân Lạp sang xâm lấn nước ta.
Vua sai Lý Thường Kiệt đem quân đón đánh, đến sông Như Nguyệt đánh tan được. Quân Tống chết hơn 1 nghìn người. Quách Quỳ lui quân, lại lấy châu Quảng Nguyên của ta (người đời truyền rằng Thường Kiệt làm hàng rào theo dọc sông để cố thủ). Một đêm quân sĩ chợt nghe ở trong đền Trương tướng quân có tiếng đọc to rằng:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên phân định tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!
Sau đó quả nhiên như thế. (Hai anh em Trương tướng quân, anh tên là Khiếu, em tên là Hát, đều là tướng giỏi của Triệt Việt Vương. Triệu Việt Vương bị Hậu] Lý Nam Đế đánh bại mà mất nước. Nam Đế gọi cho làm quan, hai người đều nói: "Tôi trung không thờ kẻ làm vua đã giết hại chủ mình". Rồi ẩn mình trốn ở núi Phù Long, Nam Đế gọi mấy lần không chịu ra, mới hạ lệnh ai chém được thủ cấp hai người thì thưởng nghìn vàng)”.
Như vậy, một thuyết cho rằng bài thơ “Nam Quốc Sơn Hà” xuất hiện khi vua Lê Đại Hành mang quân cự Tống năm 981, còn theo thuyết còn lại thì bài thơ ra đời khi Lý Thường Kiệt phụng mệnh vua Lý Nhân Tông mang quân chống giặc Tống xâm lăng hồi năm 1076-1077.
Thế nhưng, khi đề cập đến bài thơ này đa số sách sử đều cho là gắn liền với trận đánh trên sông Như Nguyệt của Lý Thường Kiệt năm 1076-1077. Như sách Việt Sử Tiêu Án của Ngọ Phong Ngô Thời Sĩ hay Việt Nam Sử Lược của Lệ Thần Trần Trọng Kim đều cho rằng bài thơ xuất hiện vào thời Lý Thường Kiệt.
Dù bài thơ xuất hiện dưới thời Lê hay thời Lý thì đến hiện tại chưa thấy tài liệu nào ghi rằng chính vua Lê Đại Hành hay tướng Lý Thường Kiệt sáng tác bài thơ hoặc đích thân họ đã ngâm bài thơ. Trong cả hai trường hợp các sách đều nói rằng là do “thần nhân” ngâm lên để làm khiếp sợ giặc Tống. Nói về “thần nhân” ngâm bài thơ, thì các sách cũng thống nhất rằng đó là hai thần Trương Hống và Trương Hát. Mà chuyện về hai vị thần này thì còn nhiều điều mờ mịt dù rằng đền thờ hai vị là có thật.
Bài thơ chống ngoại xâm
Dù là xuất hiện ở thời Lê Đại Hành hay thời Lý Thường Kiệt, thì bối cảnh lịch sử cũng là đánh đuổi giặc ngoại xâm mà cụ thể ở đây là giặc Tống.
Các sách có đề cập đến câu chuyện này đều ghi nhận, khi nghe bài thơ, quân Tống kinh hãi và chạy tán loạn. Vì sao lại sợ hãi đến thế?
Trước tiên là vì bài thơ đến từ các thần nhân, trong chuyện Lê Đại Hành thì các thần đích thân ngâm, còn trong chuyện Lý Thường Kiệt thì bài thơ được vang lên từ trong miếu thần. Mà dẫu cho đó là mưu kế Lý Thường Kiệt, thì Lý Thường Kiệt cũng muốn nhờ đến oai thần mà làm khiếp sợ quân xâm lược và Lý Thường Kiệt đã làm được, oai linh của thần nhân đất Việt đã làm khiếp sợ quân thù.
Trong chuyện An Dương Vương mất nước vì để mất nỏ thần, sử gia Ngô Sĩ Liên nhận định trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư như sau: “Chuyện rùa vàng đáng tin chăng? Chuyện thần giáng đất Sần, chuyện đá biết nói cũng có thể là có. Vì việc làm của thần là dựa theo người, thác vào vật mà nói năng. Nước sắp thịnh, thần minh giáng để xem đứa hóa, nước sắp mất, thần cũng giáng để xét tội ác. Cho nên có khi thần giáng mà hưng, cũng có khi thần giáng mà vong.
An Dương Vương hưng công đắp thành có phần không dè đặt sức dân, cho nên thần thác vào rùa vàng để răn bảo, chẳng phải là vì lời oán trách động dân mà thành ra như thế ư?”.
Nói như thế thì thần ở đây chính là linh khí của núi sông, là lòng dân vậy, thần làm theo ý muôn dân, nếu dân hộ thì thần hộ. Oai thần ở đây chính là oai linh của núi sông Việt Nam. Giặc Tống kinh hãi oai thần tức là kinh hãi cái chí khí bất khuất của dân tộc Việt Nam vậy.
Vì sao quân Tống phải kinh hãi oai thần? Vì quân Tống đã làm trái đạo lý, mà trái đạo lý tức làm làm thần và người cùng oán vậy. Điều trái đạo lý của quân Tống đó là đã xâm phạm đến chủ quyền thiêng liêng của một quốc gia.
Còn nhiều dị bản
Trước hết cần khẳng định rằng bài thơ này không có tên, mà cái tên “Nam Quốc Sơn Hà” là do đời sau mượn bốn chữ ở câu thơ đầu và cũng là tinh thần của cả bài thơ để đặt tên cho bài thơ.
Còn về nội dung của bài thơ, thì đến hiện tại cũng có nhiều dị bản. Đến như hai tài liệu chính yếu liên quan đến câu chuyện nêu trên cũng có chỗ khác nhau.
Lĩnh Nam Chích Quái ghi:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư.
Như hà Bắc Lỗ lại xâm phạm
Bạch nhận phiên thành phá trúc dư.
Dịch nghĩa:
Đất nước Nam do Hoàng Đế nước Nam ngự trị
Điều đó đã được ghi rõ trong sách trời.
Nếu như giặc phương Bắc xâm phạm cõi bờ
Thì lưỡi gươm sắt sẽ chém tan như là chẻ tre vậy.
Còn Đại Việt Sử Ký toàn thư nhà hậu Lê chép:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên phân định tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!
Dịch nghĩa:
Đất nước Nam do Hoàng Đế nước Nam ngự trị
Điều hiển nhiên đó đã được ghi rõ trong sách trời.
Nếu như giặc phương Bắc xâm phạm cõi bờ
Thì sẽ chuốc lấy bại vong.
Bản lưu hành rộng rãi trong hiện tại mà Việt Nam Sử Lược Trần Trọng Kim cũng ghi:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!
Ta thấy có sự khác nhau là “phân định” và “định phận”. Nếu dùng chữ “định phận” thì có vẻ thụ động hơn, tức được trời đặt để. Trong khi đó, chữ “phân định” thì có tinh thần tự chủ hơn, tức cũng do trời sắp đặt, nhưng mà sắp đặt theo chân lý, theo điều hiển nhiên. Và cũng đúng thôi, xã hội Việt Nam từ thế kỷ 15 bắt đầu chịu sự thống trị của Nho Giáo, mà theo Nho Giáo thì trời là "chân thiện mỹ", là đại diện cho sự hoàn hảo, trời luôn làm điều tốt, điều hợp đạo lý cho con người.
Hơn nữa, Nho sĩ ai mà không biết câu “nhân định thắng thiên”, tức nếu người quyết tâm cao thì cũng làm lay chuyển được ý trời. Mộc bản triều Nguyễn, di sản đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận là di sản tư liệu của nhân loại và được đưa vào chương trình "Ký ức thế giới” vào ngày 30/7/2009, cũng chép là “phân định”.
Như vậy, dùng chữ “phân định” thì có vẻ hào hùng hơn và hợp lý hơn trong bối cảnh lịch sử là làm khiến sợ quân thù và khẳng định chủ quyền quốc gia như tinh thần mà bài thơ muốn truyền tải.
Trong các bản trên, ta thấy có sự khác biệt giữa “Bắc Lỗ”- giặc phương Bắc và “nghịch lỗ” - giặc nói chung. Như vậy, từ một đối tượng ngoại xâm cụ thể là giặc phương Bắc đã đi đến giặc ngoại xâm nói chung. Điều đó cho thấy lập trường rất rõ ràng của người Việt Nam, là không chỉ giặc phương Bắc, mà bất kỳ kẻ ngoại xâm nào cũng không được phép và không thể xâm lược Việt Nam, nếu xâm lược thì sẽ chuốc lấy bại vong.
Bàn về cách dịch bài thơ, sách giáo khoa ở Việt Nam và nhiều tài liệu khác điều chép bản dịch sau đây:
Sông núi nước Nam, vua Nam ở
Rành rành định phận tại sách trời.
Cớ sao lũ giặc xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.
Bản dịch này dùng từ “vua” trong khi bản gốc là “đế”. Bản chữ Hán của bài thơ là:
南國山河
南 國 山 河 南 帝 居
截 然 定 分 在 天 書
如 何 逆 虜 來 侵 犯
汝 等 行 看 取 敗 虛
Ta thấy bản gốc là chữ 帝- Hoàng đế, còn vua thì phải là 王 – vương. Hoàng đế là ngôi cao nhất, ngôi có quyền phong cho nhiều người làm Vua, nhưng Vua thì không bao giờ có quyền phong cho ai làm Hoàng đế.
Các vua của ta xưa nay để sánh ngang với triều đình phương Bắc đều xưng là hoàng đế. Tuy vậy, Nho Giáo của ta đề cao thuyết “trọng vương khinh bá”, tức chuộng việc cai trị tốt muôn dân trong nước chứ không có dã tâm đi hiếp đáp nước người, nên dân ta có vẻ đồng nhất hoàng đế và vua, như hay gọi vua Đinh Tiên Hoàng, vua Minh Mạng, hay vua Khang Hy, vua Càn Long… trong khi các vị này đều xưng là hoàng đế. Thế nhưng, nếu ở đây mà dịch Đế là Vua thì chưa thể hiện hết niềm tự tôn và tự tin rất mãnh liệt của tổ tiên ta.
Khẳng định chủ quyền quốc gia
Dù còn nhiều tranh cãi về thời điểm ra đời, về tác giả và về nội dung bài thơ, nhưng có một thực tế lịch sử đó là bài thơ đã tồn tại từ bấy lâu nay trong sử sách chính thống và trong dân gian, đó là dù Lê Đại Hành hay Lý Thường Kiệt thì hai vị này cũng đã thật sự đánh bại giặc Tống. Và điều quan trọng hơn hết không phải là lạc vào trong các chi tiết huyền sử, mà cần hiểu được bài học mà tổ tiên ta muốn gửi gắm cho thế hệ sau.
Giáo sư sử học Trịnh Văn Thảo từng trả lời báo chí khi nói về bài thơ này như sau:
“Trước tiên tôi xin nhắc lại một bản dịch bài thơ mà tạm gọi là của Lý Thường Kiệt, bản dịch của cụ Nguyễn Đổng Chi:
Nước Nam Việt có vua Nam Việt,
Trên sách trời chia biệt rành rành.
Cớ sao giặc dám hoành hành?
Rồi đây bay sẽ tan tành cho coi.
Người ta không biết bài thơ này có phải của danh tướng Lý Thường Kiệt hay không, nhưng chúng ta cần phân biệt huyền sử với khoa học lịch sử. Trong bối cảnh tranh chấp quyết liệt khi đó, thì ta có thể xem bài thơ này là bản tuyên ngôn độc lập tự chủ của người dân Việt Nam. Theo ý tôi, cái ý nghĩa lịch sử nó sâu sắc hơn là sự kiện lịch sử.
Xem lại bài thơ này ta thấy có ba điểm chính. Điểm đầu tiên là nguyên tắc độc lập tự chủ của dân tộc Việt Nam được phát biểu một cách rõ rệt. Thứ hai là nguyên tắc toàn vẹn lãnh thổ của đất nước Việt Nam. Và thứ ba là nguyên tắc về bổn phận thiêng liêng của người Việt là phải bảo vệ tổ quốc của mình. Đó là ba ý chính để có thể suy luận rằng đây có thể là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của quốc gia Việt Nam”.
“Nam quốc sơn hà” là một lời khẳng định hùng hồn cho một chân lý của tạo hóa là: đất nước Việt Nam là do người Việt Nam làm chủ, đó là chủ quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm, bất chấp đó là ai, nếu đi ngược lại chân lý của tạo hóa là xâm lược lãnh thổ Việt Nam (hay của bất kỳ một quốc gia nào) thì chắc chắn sẽ chuốc lấy bại vong. Đây cũng chính là tinh thần bất diệt của dân tộc Việt Nam trong việc bảo vệ chủ quyền quốc gia, đã được thực tế lịch sử minh chứng suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước.
“Xem lại bài thơ này ta thấy có ba điểm chính. Điểm đầu tiên là nguyên tắc độc lập tự chủ của dân tộc Việt Nam được phát biểu một cách rõ rệt. Thứ hai là nguyên tắc toàn vẹn lãnh thổ của đất nước Việt Nam. Và thứ ba là nguyên tắc về bổn phận thiêng liêng của người Việt là phải bảo vệ tổ quốc của mình. Đó là ba ý chính để có thể suy luận rằng đây có thể là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của quốc gia Việt Nam”./.
ST

LÚC NAN NGUY

 Bức ảnh đã được họa sĩ Việt Nam phục chế màu rất đẹp và quý giá vô cùng. Hai con người làm nên lịch sử sáng chói đất Việt: Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong một sự kiện lịch sử mà Người phải chuốc trận đau "thập tử nhất sinh" tưởng chừng không qua khỏi trước những ngày Cách mạng Tháng Tám năm 1945 nổ ra.

Cố Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể: Tháng 7/1945, ở Tân Trào, Tuyên Quang, do điều kiện sống hết sức kham khổ, ăn uống đạm bạc, thiếu thốn lại làm việc quá sức nên Bác Hồ lâm bệnh nặng. Cũng vào thời điểm đó, cao trào kháng Nhật đang cuộn dâng từ Bắc vào Nam, các địa phương đang chuẩn bị mọi lực lượng khởi nghĩa. Ấy vậy mà đúng lúc “dầu sôi lửa bỏng” thì Bác lại ốm. Nhìn Bác đau yếu, tôi lo lắng vô cùng...
Đêm đó trên lán Nà Nưa, Bác vừa tỉnh, vừa mê. Mỗi khi nhớ ra, Bác lại dặn tôi: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập!”.
Thời đó, Người đã trở thành lãnh tụ dân tộc, ở châu Âu những người như Bác được sống trong những cung điện xa hoa chẳng thiếu thứ gì nhưng với Bác, bữa ăn còn dùng cơm độn sắn, hoặc ăn củ mài, củ trám để làm việc. Lúc đau ốm thuốc men thiếu thốn, không đủ để điều trị, nhân dân mất nước, lầm than, nghèo nàn, đói khổ...
Khi đất nước độc lập, nhân dân, ấm no, hạnh phúc, phồn vinh, sung túc thì Bác đã đi xa. Ngày Quốc khánh, cả dân tộc sống trong niềm hoan ca, xem lại bức ảnh của Người không khỏi bùi ngùi xúc động, muôn triệu người dân nhớ Bác không nguôi!
Nhìn bức ảnh như nhắc nhở chúng ta không bao giờ được phép quên công ơn to lớn của Người và vị Đại tướng kính yêu chỉ huy LLVT và toàn nhân dân làm nên Cuộc Cách mạng thần kỳ, lập nên Nhà nước Công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, làm tiền đề cho dân tộc Việt Nam độc lập, thống nhất, hạnh phúc, phồn vinh hôm nay./.
St

KHÍ PHÁCH BÙI THỊ XUÂN TRƯỚC NGUYỄN ÁNH

 Tháng 7 năm Nhâm Tuất (1802), Nguyễn Ánh trở về Phú Xuân, đem vua tôi nhà Tây Sơn ra để tiến hành báo th.ù. Nguyễn Ánh cho t.ử h.ình các võ tướng Tây Sơn, Trần Quang Diệu bị l:ột d:a, cho voi ch:à, hoặc trảm quyết những vị tướng khác. Đến Bùi Thị Xuân, Người ta truyền tai nhau rằng, vì đã nghe danh nữ kiệt từ lâu, Nguyễn Ánh ra lệnh đem bà đến để xem mặt, rồi hỏi một cách tự đắc:

“Ta và Nguyễn Huệ, ai hơn?”
Nữ kiệt ung dung đáp:
“Nói về tài ba thì tiên đế ta bách chiến bách thắng, hai bàn tay trắng dựng nên cơ đồ. Còn nhà ngươi bị đánh phải trốn chui trốn nhủi, phải cầu viện ngoại bang, hết Xiêm đến Pháp. Chỗ hơn kém rõ ràng như ao trời nước vũng. Còn nói về đức độ, thì tiên đế ta lấy nhân nghĩa mà đối xử với kẻ trung thần thất thế, như đã đối với Nguyễn Huỳnh Ðức, tôi nhà ngươi vậy. Còn nhà ngươi lại dùng tâm của kẻ tiểu nhân mà đối với những bậc nghĩa liệt, đã hết lòng vì chúa, chẳng nghĩ rằng ai có chúa nấy, ái tích kẻ tôi trung của người tức là khuyến khích tôi mình trung với mình. Chỗ hơn kém cũng rõ ràng như ban ngày và đêm tối. Nếu tiên đế ta đừng mất sớm, thì dễ gì nhà ngươi trở lại đất nước này”./.
ST

NÂNG MỨC HƯỞNG BẢO HIỂM Y TẾ TỪ 80% LÊN 100%

 Từ ngày 3/12, một loạt chính sách mới về bảo hiểm y tế (BHYT) quy định trong Nghị định 75 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 146 của Chính phủ, quy định chi tiết và hướng dẫn biện pháp thi hành một số điều của Luật BHYT có hiệu lực.

Theo đó, nghị định bổ sung thêm cũng như điều chỉnh quy định về một số đối tượng thuộc nhóm tham gia BHYT do ngân sách nhà nước đóng.
Cụ thể, bổ sung mới: Người dân các xã an toàn khu, vùng an toàn khu cách mạng trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ hiện đang thường trú tại các xã an toàn khu cách mạng trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã được cập nhật thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu về cư trú mà không thuộc đối tượng quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 12 Luật BHYT.
Theo Bảo hiểm xã hội Việt Nam, việc Nghị định số 75 bổ sung đưa nhóm đối tượng người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại địa bàn các xã mới thoát khỏi vùng khó khăn, đặc biệt khó khăn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025 theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ vào nhóm được ngân sách nhà nước hỗ trợ mức đóng BHYT có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người dân, đặc biệt là nhóm yếu thế có cơ hội được tham gia và thụ hưởng chính sách BHYT, qua đó góp phần duy trì, phát triển diện bao phủ BHYT.
Việc quy định ngân sách nhà nước tiếp tục hỗ trợ thêm một thời gian sau khi thoát nghèo để người dân có thể tích lũy và đủ điều kiện kinh tế tham gia BHYT thể hiện chính sách bảo đảm an sinh xã hội, thoát nghèo bền vững của Chính phủ.
Nghị định 75 cũng đã bổ sung, nâng mức hưởng BHYT trong đó nâng mức hưởng từ 80% lên 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT cho một số nhóm đối tượng là người có công với cách mạng; người phục vụ người có công với cách mạng sống ở gia đình nâng mức hưởng từ 80% lên 95% chi phí khám chữa bệnh BHYT; vợ hoặc chồng liệt sĩ tái giá nhưng đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo quy định của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng: có mức hưởng 95% chi phí khám chữa bệnh BHYT.
Ngoài ra, Nghị định 75/2023/NĐ-CP quy định hỗ trợ 100% mức đóng BHYT đối với người thuộc hộ gia đình cận nghèo đang cư trú trên địa bàn các huyện nghèo theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản khác của cơ quan có thẩm quyền.
Bên cạnh đó, Nghị định 75 cho phép xuất trình căn cước công dân thay thế cho thẻ BHYT có ảnh; các giấy tờ chứng minh nhân thân hợp pháp khác hoặc giấy tờ đã được định danh điện tử mức độ 2 trên VNeID khi đi khám chữa bệnh./.
St

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI VƯƠNG ĐÌNH HUỆ TIẾP NHẬN TRỌNG TRÁCH NƯỚC CHỦ NHÀ HỘI NGHỊ CẤP CAO QUỐC HỘI 3 NƯỚC CLV LẦN THỨ HAI.

 Chiều 6-12, tại Thủ đô Vientiane, Lào, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cùng Chủ tịch Quốc hội Lào, Chủ tịch Quốc hội Campuchia đồng chủ trì Phiên bế mạc Hội nghị cấp cao Quốc hội ba nước Campuchia-Lào-Việt Nam (CLV) lần thứ nhất.

Trước khi diễn ra phiên bế mạc, hội nghị đã tiến hành và hoàn thành các nội dung theo chương trình của Phiên toàn thể thứ hai.
Hội nghị cấp cao Quốc hội CLV lần thứ nhất đã thành công tốt đẹp, thông qua Tuyên bố chung về tăng cường vai trò của nghị viện trong thúc đẩy hợp tác toàn diện giữa Campuchia - Lào - Việt Nam. Ba Chủ tịch Quốc hội đã ký Tuyên bố chung, tái khẳng định cam kết mở rộng và làm sâu sắc hơn nữa quan hệ hợp tác và đối tác nghị viện nhằm duy trì và bảo vệ sự hợp tác chặt chẽ, cùng có lợi giữa Quốc hội CLV, qua đó thúc đẩy hợp tác trên các lĩnh vực chính trị, an ninh, quốc phòng, văn hóa, kinh tế vì sự phát triển kinh tế - xã hội của ba nước; thực hiện mạnh mẽ vai trò giám sát của Quốc hội trong việc giải quyết các vấn đề còn tồn tại vì lợi ích chung của người dân trong khu vực Tam giác phát triển Campuchia - Lào - Việt Nam (CLV-DTA) và ba nước. Tuyên bố chung cũng thể hiện sự nhất trí của ba Quốc hội về các ưu tiên hợp tác trong 3 trụ cột về chính trị - đối ngoại, quốc phòng - an ninh và kinh tế - văn hóa - xã hội.
Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ phát biểu đánh giá cao nội dung Tuyên bố chung của Hội nghị khi đề cập đến các vấn đề quan tâm chung của ba nước hiện nay; đồng thời khẳng định quyết tâm của các cơ quan nghị viện đồng hành cùng Chính phủ thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực, giám sát chặt chẽ việc thực hiện các thỏa thuận đã ký kết vì lợi ích của nhân dân ba nước.
Tại lễ bế mạc, thay mặt Quốc hội Việt Nam, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đã nhận bàn giao từ Quốc hội Lào trọng trách nước chủ nhà Hội nghị cấp cao Quốc hội CLV lần thứ hai dự kiến tổ chức năm 2025./.
St

Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Vị tướng của lòng dân

 Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị tướng huyền thoại, người anh hùng dân tộc. Với người dân Việt Nam và cả thế giới, Đại tướng trở thành hình mẫu đẹp, vị tướng huyền thoại, người Anh Cả của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Sinh trưởng trong một gia đình nhà nho thanh bần tại làng An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, Võ Nguyên Giáp nổi tiếng thông minh, hiếu học ngay từ lúc còn nhỏ. Từ năm 1925 đến năm 1927, ông theo học ở Trường Quốc Học Huế, rồi tham gia hoạt động cách mạng. Từ đó Đại tướng Võ Nguyên Giáp không ngừng theo đuổi con đường học vấn; hoạt động say sưa, tích cực trên mặt trận văn hóa, song song với việc tham gia vào các phong trào, hoạt động cách mạng.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp là vị tướng tài ba, người Anh Cả của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đại tướng là người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lại là một Tổng Tư lệnh quân đội nhân dân từng cầm quân chinh chiến đánh thắng hai đế quốc Pháp và Mỹ, cùng dân tộc giành lại độc lập, thống nhất Tổ quốc. Sống giản dị, gần gũi; tài đức vẹn toàn, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trở thành tấm gương sáng, là niềm tự hào, kính mến trong trái tim của người dân Việt Nam. Sống giữa cuộc đời và sống trong lòng dân, Đại tướng Võ Nguyên Giáp được người Việt Nam gọi bằng những cái tên trìu mến: Anh Cả, Anh Văn, bác Giáp, tướng Giáp...
Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Đại tướng bốn lần viết thư cho bộ đội trước khi bắt tay vào nhiệm vụ mới. Nhà văn Nguyễn Đình Thi nhận xét: “Một vị Tổng Tư lệnh viết thư tâm tình với cán bộ và chiến sĩ như vậy là nét đẹp nói lên bản chất cách mạng của Bộ đội Cụ Hồ và cũng là điều hiếm thấy trong chiến tranh các nước”.
Cuộc đời của Đại tướng luôn song hành với những chặng đường lịch sử của dân tộc trong thế kỷ XX. Nhưng với tinh thần khiêm tốn, trong cuốn hồi ký Những năm tháng không thể nào quên, Đại tướng không nhằm tự thuật về cuộc đời của mình mà chủ yếu tái hiện lại những sự kiện quan trọng, những biến cố có tính bước ngoặt trong lịch sử Việt Nam hiện đại, từ những ngày khẩn trương chuẩn bị cho khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám, đến những ngày gay go ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Trên cơ sở những sự kiện lịch sử, Đại tướng đã có những bình luận đánh giá khái quát, sâu sắc, làm rõ những nỗ lực, to lớn của Đảng, Chính phủ, Bác Hồ và nhân dân ta trong những ngày đầu sau Cách mạng Tháng Tám để giữ vững nền độc lập, đem lại hạnh phúc cho nhân dân, khẳng định vị thế của nước Việt Nam mới. Đọc những trang hồi ký của Đại tướng cảm nhận sâu sắc hơn tấm lòng, tình cảm và trách nhiệm của một vị tướng tài ba, lỗi lạc một đời gắn bó với đất nước, con người Việt Nam.
Là một trong 10 nhân vật quân sự lỗi lạc nhất của mọi thời đại, Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn nhận được sự ngưỡng mộ, kính trọng của bạn bè khắp năm châu. Nhiều nguyên thủ quốc gia, chính khách, học giả, nhà báo, nhà văn, nhân dân thế giới viết về Đại tướng bằng tình cảm ấm áp, niềm xúc động, khâm phục tài năng và đức độ.
Nhân dịp Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến thăm Algeria, xã luận của tờ El moudjahd năm 1976 có viết: “Một người dáng vẻ rất giản dị. Một bộ mặt cởi mở. Còn hơn một anh hùng. Tướng Giáp. Ông thuộc dòng những chiến sĩ mà người ta sẽ kể những chiến công từ thế hệ này qua thế hệ khác. Có lẽ ngay cả những nhà sử học cũng cần rất nhiều luận chứng để tránh miêu tả ông như một nhân vật truyền thuyết, để kể lại trung thành những giá trị của ông…”.
“Chiến thắng bằng mọi giá” là một trong những cuốn sách đầy đủ, chi tiết nhất của người nước ngoài viết về Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Cecil B. Currey - một sử gia quân sự - đã giúp người Việt Nam chúng ta làm một công việc cần thiết và vô cùng đáng trân trọng: Đó là khiến thế giới hiểu về lịch sử - truyền thống Việt Nam, hiểu về đất nước - con người Việt Nam, hiểu về vị tướng lĩnh tài ba của Việt Nam - Đại tướng Võ Nguyên Giáp - mà theo đánh giá của ông là “Thiên tài quân sự vĩ đại nhất thế kỷ XX và là một trong những vĩ nhân của mọi thời đại”.
Đại tướng Peter Macdonald, đồng thời là nhà phân tích về chiến lược của nước Anh khẳng định: "Từ năm 1944 đến năm 1975, cuộc đời của Võ Nguyên Giáp gắn liền với chiến đấu và chiến thắng, khiến ông trở thành một trong những thống soái lớn của mọi thời đại”.
Trong một lần về quê, Đại tướng tâm sự: “Quê hương, gia đình đã hun đúc nên nhân cách của tôi, quyết định con đường đi của tôi”. Trở về dòng sông Kiến Giang của Lệ Thủy, bằng giọng nói hiền từ, đậm chất Quảng Bình, giản dị ân cần, bác Giáp hỏi thăm mọi người… Nhớ lần về thăm quê ở làng An Xá vào tháng 4 năm 2002 đã làm Đại tướng xúc động khi được trở về ngôi nhà gắn với tuổi thơ của mình. Tháng 11 năm 2004, lúc này đã 93 tuổi, đại tướng dành thời gian để dặn dò, lãnh đạo huyện nhà phát huy truyền thống quê hương, chăm lo và yêu thương nhân dân, xây dựng quê hương giàu mạnh.
Tháng 10 năm 2013, Đại tướng đã an nghỉ giấc ngàn thu giữa lòng đất mẹ Quảng Bình. Nhớ về ông, hàng triệu, hàng triệu trái tim người dân Việt mãi còn thổn thức… Nhớ về tướng Giáp là nhớ về vị tướng huyền thoại, vị tướng của nhân dân mà tên tuổi của ông gắn liền Chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy 5 châu, chấn động địa cầu, vị đại tướng mà cả thế giới nghiêng mình và ngợi ca.
Em Đặng Vũ, học sinh Trường THPT chuyên Quốc Học Huế tâm sự: “Em rất vinh dự và tự hào khi được học dưới mái trường Quốc Học Huế, nơi mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã theo học. Em hứa mình sẽ cố gắng học tập và rèn luyện, xứng đáng thế hệ con cháu, tiếp bước ông cha đi trước góp phần xây dựng quê hương đất nước tươi đẹp”.
Cô giáo Lê Thị Hương Lý, người con quê hương Quảng Bình, hiện là giáo viên dạy Ngữ văn ở Trường THPT Đào Duy Từ (TP Đồng Hới) chia sẻ: “Là học sinh cũ và giờ được giảng dạy ở ngôi trường vinh dự 2 lần Đại tướng về thăm nên tôi rất tự hào. Tháng 8 năm 1999, Đại tướng về thăm quê, nghe tin Trường THPT Đào Duy Từ tổ chức kỷ niệm 10 năm thành lập trường và có học sinh Trần Đức Long vừa đạt Huy chương đồng Quốc tế môn Sinh học, Đại tướng đã đến thăm trường. Hôm đó đúng ngày sinh nhật của đại tướng 25-8. Các thế hệ thầy cô và học sinh luôn ấn tượng và xúc động về sự gần gũi, ân cần, hiền từ, giản dị và sâu sắc của Đại tướng khi ông căn dặn thầy, trò Trường THPT Đào Duy Từ không được ngủ quên trên vòng nguyệt quế, phải tiếp tục thi đua dạy tốt học tốt để trở thành trường học kiểu mẫu của tỉnh”...
St

ĐẲNG CẤP ĐÁNH MÌN CỦA DU KÍCH VIỆT NAM

 Ông Sáu Sang, tên thật là Nguyễn Sang, sinh năm 1931, “Dũng sĩ d.iệt M.ỹ” của quê hương Đông Lâm, xã Đại Quang, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Ông nổi tiếng khắp vùng về sự dũng cảm, kiên cường và những mẹo đ.ánh g.iặc đặc sắc.

Ông Sang vào đội du kích Đông Lâm khi một mắt đã bị hỏng. Vậy mà, với khẩu súng trường có ống ngắm, ông cứ “mỗi viên đ.ạn kết liễu một tên địch”. Ông nghĩ ra cách đánh mìn rất linh hoạt, có thể tiêu diệt được tất cả các loại xe quân sự Mỹ, từ GMC cho tới xe tăng, xe bọc thép. Ông gài m.ìn rất đơn giản, nhưng đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật c.hiến tranh du kích, phù hợp với từng tình huống. Đối với những xe địch chở lính đi càn, chở hàng quân sự, ông đánh m.ìn khi chúng hành quân theo chiều đi. Với xe đ.ịch đi tập luyện, “diễu võ giương oai” thì ông đợi khi chúng quay trở về mới đ.ánh. Cách đ.ánh trong trường hợp này như sau: Khi xe địch đã đi khuất, ông đặt m.ìn ngay dưới vết bánh xe rồi tái tạo bề mặt như nguyên dạng, đủ để b.ọn g.iặc khi quay về không thể nhận ra dấu vết khác thường. Vì vậy, làm cho các xe của đ.ịch sắp vào bẫy mà lái xe của đ.ịch vẫn không phát hiện ra và dễ dàng bị t.iêu d.iệt.
Một lần, đ.ịch hành quân vào làng Lam Phụng thuộc xã Đại Đồng, huyện Đại Lộc. Nơi này toàn đường đất. Ông Sang bí mật quan sát cách đi của các xe tăng, xe bọc thép… rồi quyết định chọn vũng nước trên đường làm nơi đặt m.ìn. Sau khi múc hết nước trong vũng đổ đi nơi khác, ông lấy giẻ lau khô đáy vũng rồi đặt xuống dưới quả m.ìn đã được bọc kín bằng nhiều lớp ni lông, sau đó lại đổ nước vào vũng như cũ. Quá trình thao tác ông không để lại dấu vết lạ, khiến lái xe của đ.ịch không thể phát hiện ra và dễ dàng bị t.iêu d.iệt. Ông Sang thường đ.ánh m.ìn kiểu liên hoàn, khi đã xác định xong vị trí đ.ánh, ông đặt ở mỗi đầu đoạn đường 2 quả m.ìn. Ở giữa đường ông đặt 3 quả, bố trí theo hình tam giác. Với cách đ.ánh này, xe đã lọt vào đoạn đường đó thì không thể tránh được.
Để báo cáo với cấp trên chính xác số lượng quân đ.ịch bị tiêu diệt trong mỗi trận đánh, ông Sang thường đào hầm bí mật rồi xuống đó ẩn mình. Khi đánh m.ìn xong, ông ở lại chờ đến khi máy bay Mỹ tới thu dọn chiến trường, ông sẽ đếm từng tên đ.ịch bị c.hết, bị thương qua cửa lên máy bay.
Đáng tiếc, ông hy sinh năm 1970 do bị địch phục kích./.
St

CÔNG LAO VÕ NGUYÊN GIÁP

 

Tiếng gọi non sông từ thuở thiếu thời
Nước Việt Nam loạn lạc khắp mọi nơi
Bác Hồ đặc cách phong hàm Đại Tướng
Văn theo nghiệp võ binh pháp tuyệt vời
Chiến dịch Thu Đông Người Pháp bất ngờ
(Chiến dịch Biên giới Thu Đông 1950)
Điện Biên Phủ, quân Pháp bại trận sa cơ
( Pháp thất bại Điện Biên Phủ )
Tướng lĩnh thất thủ đầu hàng vô điều kiện
Chiến công lừng lẫy năm châu lúc bấy giờ
Hai nước ký hiệp ước Geneve,
Thống nhất nam bắc nằm trên bàn cờ
Người Mỹ âm mưu đập tan ước mơ
Chiến trận đau thương vô cùng ác liệt
Mỗi bên chiến tuyến hàng vạn nấm mồ
Đại Tướng Võ Nguyên Giáp với chiến lược, chiến thuật:
Dùng nhân nghĩa để thuyết phục lòng dân
Chiến tranh du kích, khi cần chính quy
Biết ta biết địch rõ ràng từng li
Trường kỳ kháng chiến đến khi hòa bình
“Thần tốc thần tốc kết thúc chiến chinh”
“ Đ.ánh chắc thắng chắc quân binh bảo tồn “
“ Chiến tranh nhân dân” thành phố nông thôn
“Đại đao người Mỹ “… khiếp hồn thua đau
Tình cảm của Đại tướng với quân dân,
Đời thường bình dị khiêm nhường
Ân cần gần gũi mến thương chân tình
Động viên thăm hỏi quân binh
Khen thưởng khích lệ dân mình thắng to
Đúng là Đại tướng trời cho
Đánh tan quân giặc chăm lo nước nhà
Xứng đáng thống soái quân ta
Điều binh khiển tướng tài ba kiêm toàn
Uy danh lừng lẫy bốn phương
Trí cao tâm sáng soi đường muôn nơi.
St

VIỆT NAM NỖ LỰC PHÒNG, CHỐNG VŨ KHÍ HỦY DIỆT HÀNG LOẠT

 Sáng 6-12, tại Bộ tư lệnh Hóa học, Cơ quan đầu mối Quốc gia Việt Nam về phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt đã tổ chức Hội nghị sơ kết thực hiện nghị định của Chính phủ về phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt giai đoạn 2019-2023.

Thượng tướng Võ Minh Lương, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Trưởng Cơ quan đầu mối quốc gia Việt Nam về phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, chủ trì hội nghị.
Dự hội nghị có Thiếu tướng Hà Văn Cử, Tư lệnh Binh chủng Hóa học, Phó trưởng Cơ quan đầu mối quốc gia Việt Nam về phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt; Thiếu tướng Trịnh Thành Đồng, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Binh chủng Hóa học và đại biểu đại diện các cơ quan chức năng Bộ Quốc phòng; đại biểu đại diện các cơ quan, bộ, ban, ngành Trung ương.
Phát biểu khai mạc hội nghị, Thượng tướng Võ Minh Lương nhấn mạnh: Thời gian qua, với vai trò là cơ quan đầu mối quốc gia về phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt (WMD), Bộ Quốc phòng đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn triển khai thực hiện Nghị định số 81/2019/NĐ-CP ngày 11-11-2019 của Chính phủ về phòng, chống phổ biến WMD; đưa nội dung Nghị định số 81 vào chương trình giáo dục chính trị cho các đối tượng trong toàn quân và lực lượng dân quân tự vệ và đẩy mạnh thông tin tuyên truyền về phòng, chống phổ biến WMD.
Các bộ, ban, ngành, địa phương chú trọng quán triệt, tuyên truyền nội dung, nghĩa vụ phòng, chống phổ biến WMD đến cán bộ, đảng viên và nhân dân bằng nhiều hình thức phong phú. Sau 3 năm triển khai Nghị định 81, đã có 14 bộ, cơ quan ngang bộ và 58 tỉnh, thành phố tổ chức tuyên truyền phổ biến kiến thức pháp luật về Nghị định với hơn 700 chương trình và hàng trăm nghìn lượt độc giả, thính giả.
Các hoạt động tập huấn, huấn luyện nâng cao năng lực của các lực lượng chuyên môn, tuyến đầu, các cơ quan, đơn vị, tổ chức có liên quan trong giám sát, nhận diện, đấu tranh, xử lý, ứng phó với WMD được quan tâm triển khai.
Binh chủng Hóa học - Cơ quan thường trực của Cơ quan đầu mối quốc gia Việt Nam về phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt (gọi là Cơ quan thường trực 81) đã, đang phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, ban, ngành Trung ương, địa phương thực hiện chức năng đại diện của Bộ Quốc phòng triển khai thực hiện các điều ước quốc tế về phòng, chống phổ biến WMD và tổ chức, tham gia các hoạt động hợp tác quốc tế trao đổi thông tin, nâng cao năng lực phòng ngừa, phát hiện, ứng phó các nguy cơ sự cố hóa học, sinh học, bức xạ và hạt nhân, nghiên cứu hoàn thiện hệ thống pháp luật về phòng, chống phổ biến WMD…
Tại hội nghị, ngoài làm rõ những kết quả đã đạt được, các đại biểu cũng chia sẻ những khó khăn, vướng mắc trong phòng, chống phổ biến WMD. Cụ thể như: Hiện nay, chưa có quy định pháp luật đầy đủ về xử lý đối với các hành vi phạm trong phòng, chống phổ biến WMD làm cơ sở để cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý; chưa có văn bản của cấp có thẩm quyền xác lập, quy định trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân trong kiểm soát hàng hóa, vật liệu có nguy cơ sử dụng vào mục đích phổ biến WMD; cơ chế, hướng dẫn thanh tra, kiểm tra, giám sát còn bất cập; kinh phí bảo đảm cho hoạt động này ở các địa phương còn hạn chế…
Vì thế, các đại biểu đề nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục chỉ đạo, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý để bảo đảm tính hiệu lực, hiệu quả trong thi hành các quy định về phòng, chống phổ biến WMD; tăng cường chỉ đạo thông tin, tuyên truyền, hợp tác quốc tế trong phòng, chống phổ biến WMD; chỉ đạo trang bị đầy đủ phương tiện nghiệp vụ, thực hiện chế độ chính sách cho lực lượng tham gia và chỉ đạo làm rõ trách nhiệm, tăng cường hiệu quả phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương trong thực hiện hoạt động phòng, chống phổ biến WMD…
Đề nghị Bộ Quốc phòng tăng cường chỉ đạo cung cấp thông tin, biên soạn tài liệu hướng dẫn công tác phòng, chống phổ biến WMD; chỉ đạo tổ chức các hoạt động tập huấn, huấn luyện, diễn tập nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ phòng, chống phổ biến WMD để nâng cao nhận thức, kỹ năng xử lý tình huống phổ biến WMD…
Tại hội nghị, Chương trình phối hợp thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an ninh nội địa và phòng, chống phổ biến WMD đã được ký kết; các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác phòng, chống phổ biến WMD được khen thưởng./.
St

VIỆT NAM LẦN THỨ 4 ĐƯỢC VINH DANH LÀ ĐIỂM ĐẾN DI SẢN HÀNG ĐẦU THẾ GIỚI

 

Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) cho biết, tại Lễ trao giải thưởng Du lịch Thế giới (World Travel Awards), Việt Nam đã được vinh danh là Điểm đến Di sản hàng đầu thế giới năm 2023.
Đây là lần thứ 4 Việt Nam đón nhận giải thưởng danh giá này sau 3 lần trước vào năm 2019, 2020 và 2022. Để giành được chiến thắng, Việt Nam đã vượt qua nhiều ứng viên nặng ký là Ai Cập, Hy Lạp, Nhật Bản, Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất, Brazil, Armenia.
Danh hiệu Điểm đến Di sản hàng đầu thế giới một lần nữa khẳng định tiềm năng và sức hút hàng đầu về tài nguyên thiên nhiên cũng như giá trị di sản văn hóa lâu đời./.
St

THỰC TẾ BÁC BỎ HOÀN TOÀN NHỮNG LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI VỀ TỰ DO NGÔN LUẬN, TỰ DO BÁO CHÍ Ở VIỆT NAM

 Gần đây, trên một số đài báo thiếu thiện chí và các trang mạng có địa chỉ ở nước ngoài, các thế thực thù địch, phản động vẫn rêu rao rằng các cơ quan chức năng của Việt Nam “vi phạm quyền tự do ngôn luận”; hạn chế nghiêm trọng tự do báo chí, tự do Internet, bao gồm bắt và truy tố tùy tiện những người chỉ trích chính quyền, kiểm duyệt, đóng các trang mạng, “giới hạn” quyền tự do ngôn luận, tự do biểu đạt của người dân “có tiếng nói đối lập, ôn hòa...”. Cần phải khẳng định ngay rằng đó là một sự xuyên tạc, vu khống trắng trợn.

Chúng ta chẳng lạ gì dân chủ, nhân quyền là vấn đề mà các thế lực thù địch, phản động và một số trang mạng, đài báo thiếu thiện chí thường xuyên lợi dụng để chống phá Việt Nam. Nhưng dù bằng luận điệu, chiêu trò gì đi chăng nữa, họ cũng không thể phủ nhận được thực tế, không thể xuyên tạc được sự thật.
Đối với Đảng, Nhà nước Việt Nam, tôn trọng, bảo vệ, thúc đẩy quyền con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do thông tin, tự do biểu đạt là quan điểm xuyên suốt, nhất quán. Không chỉ là quyền cần phải bảo đảm mà Việt Nam còn xác định đó là một động lực cho sự phát triển của xã hội. Việt Nam tôn trọng và bảo đảm các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và thông tin, tự do biểu đạt của người dân. Hiến pháp Việt Nam năm 2013 đã nêu rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Cùng với đó quyền tự do ngôn luận trên báo chí được Luật Báo chí năm 2016 quy định, công dân có quyền: Phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các tổ chức, cá nhân khác... Luật Báo chí năm 2016 và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 cũng quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí; bảo đảm mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền… Không một tổ chức, cá nhân nào được hạn chế, cản trở báo chí, nhà báo hoạt động... Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, phát sóng”… Có thể khẳng định rằng, hệ thống pháp luật Việt Nam về báo chí, phát thanh, truyền hình ngày càng được hoàn thiện theo hướng bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do thông tin, tự do biểu đạt của nhân dân.
Thực tế cho thấy báo chí ở Việt Nam đã trở thành diễn đàn ngôn luận của các tổ chức xã hội, nhân dân, là công cụ quan trọng bảo vệ lợi ích của xã hội, các quyền tự do của nhân dân; là lực lượng quan trọng trong công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi chính sách và pháp luật của Nhà nước. Báo chí đã đóng vai trò quan trọng trong phát hiện, đưa tin nhiều vụ việc vi phạm pháp luật, góp phần vào cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và các tệ nạn xã hội, xây dựng bộ máy công quyền trong sạch, vững mạnh. Mọi người dân đều có quyền đề đạt nguyện vọng, phát biểu và đóng góp ý kiến trên tất cả các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội thông qua các phương tiện thông tin đại chúng. Chủng loại thông tin trên báo chí, đài phát thanh và truyền hình ở Việt Nam ngày càng phong phú và cập nhật hơn do nguồn cung cấp thông tin nhiều và đa dạng hơn. Hoạt động của các phương tiện thông tin đại chúng ngày càng cởi mở, sôi động. Các phiên họp của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, nhất là các buổi chất vấn được truyền hình trực tiếp trên truyền hình. Nhiều chương trình đối thoại, tranh luận, trả lời, thăm dò ý kiến… với nội dung phong phú, đa dạng về mọi vấn đề đã được đăng tải, truyền thanh và truyền hình rộng rãi.
Sự phát triển nhanh chóng, đa dạng về loại hình và phong phú về nội dung và các phương tiện thông tin đại chúng ở Việt Nam là một minh chứng về tự do ngôn luận, tự do báo chí và thông tin ở Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam có 808 cơ quan báo chí (bao gồm 138 báo và 670 tạp chí); 72 đài phát thanh, truyền hình; 666 cơ sở truyền thanh - truyền hình cấp huyện; 9.812 đài truyền thanh cấp xã…
Người dân Việt Nam ngày càng được tiếp cận tốt hơn với công nghệ thông tin hiện đại, đặc biệt là Internet. Chính phủ Việt Nam chủ trương khuyến khích và tạo mọi điều kiện để người dân tiếp cận, khai thác và sử dụng rộng rãi thông tin trên mạng Internet… Đến đầu năm 2023, Việt Nam có 77,93 triệu người dùng Internet, chiếm 79,1% tổng dân số. Ngoài ra, số lượng người dùng mạng xã hội để bày tỏ chính kiến, tổ chức các diễn đàn thảo luận, phản biện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, gửi các góp ý, kiến nghị đến các cơ quan chức năng… cũng đạt con số hơn 70 triệu, tương đương với 71% tổng dân số… Sự phát triển nhanh của các phương tiện thông tin đại chúng, Internet, mạng xã hội cho thấy, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do thông tin ở Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ.
Thế nhưng bất chấp những thành quả ấy, các tổ chức, cá nhân thù địch và một số trang mạng, đài báo thiếu thiện chí vẫn cố tình xuyên tạc, vu khống Việt Nam vi phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Đáng lưu ý họ ngộ nhận rằng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do Internet, tự do biểu đạt là quyền tuyệt đối. Họ cố tình lờ đi trách nhiệm, nghĩa vụ công dân trong quá trình thực thi quyền con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do Internet, tự do biểu đạt.
Cũng như mọi quốc gia trên thế giới, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do Internet, tự do biểu đạt ở Việt Nam không phải là quyền tự do vô hạn định, vô tổ chức mà phải theo khuôn khổ pháp luật. Pháp luật Việt Nam quy định hạn chế quyền tự do ngôn luận, tự do Internet trong một số trường hợp, phù hợp với Công ước về các quyền dân sự và chính trị, nhằm tôn trọng các quyền hợp pháp và chính đáng, uy tín, danh dự của người khác; nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn công cộng, sức khỏe cộng đồng và đạo đức của xã hội. Những trường hợp “có tiếng nói đối lập, ôn hòa…” mà các thế lực thù địch, phản động ra sức tung hô thực chất họ đã lợi dụng, lạm dụng quyền tự do ngôn luận, tự do biểu đạt để tuyên truyền xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật Nhà nước; phát tán những luận điệu, tài liệu phản động gây hoài nghi, hoang mang trong dư luận, kích động gây rối, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân... nhằm phá hoại công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân Việt Nam. Họ bị các cơ quan chức năng của Việt Nam bắt giữ, điều tra và truy tố là do đã vi phạm pháp luật.
Thực tế sự phát triển toàn diện kinh tế - văn hóa - xã hội của Việt Nam thời gian qua đã cho thấy những cáo buộc rằng các cơ quan chức năng của Việt Nam “vi phạm quyền tự do ngôn luận”, “giới hạn” quyền tự do biểu đạt của người dân mà các thế lực thù địch, phản động rêu rao là hồ đồ, vô căn cứ. Những giọng điệu lạc lõng bóp méo, xuyên tạc sự thật ấy là nhằm mưu đồ xấu. Thế nhưng họ sẽ không thể làm gì được. Hình ảnh một đất nước Việt Nam hòa bình, ổn định, dân chủ, phát triển và là một thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế đã bác bỏ hoàn toàn những luận điệu sai trái đó./.
St

Hội nghị Cấp cao Quốc hội ba nước Campuchia-Lào-Việt Nam (CLV) lần thứ nhất đã thành công tốt đẹp

 Theo đặc phái viên TTXVN, chiều 6/12, tại Vientiane, Lào, đã diễn ra Phiên toàn thể thứ hai và Lễ bế mạc Hội nghị Cấp cao Quốc hội ba nước Campuchia-Lào-Việt Nam (CLV) lần thứ nhất.

Hội nghị Cấp cao Quốc hội CLV lần thứ nhất đã thành công tốt đẹp, thông qua tuyên bố chung về tăng cường vai trò của nghị viện trong thúc đẩy hợp tác toàn diện giữa Campuchia-Lào-Việt Nam.
Ba Chủ tịch Quốc hội đã ký tuyên bố chung, tái khẳng định cam kết mở rộng và làm sâu sắc hơn nữa quan hệ hợp tác và đối tác nghị viện nhằm duy trì và bảo vệ sự hợp tác chặt chẽ, cùng có lợi giữa Quốc hội CLV, qua đó thúc đẩy hợp tác trên các lĩnh vực chính trị, an ninh, quốc phòng, văn hóa, kinh tế vì sự phát triển kinh tế-xã hội của ba nước; thực hiện mạnh mẽ vai trò giám sát của Quốc hội trong việc giải quyết các vấn đề còn tồn tại vì lợi ích chung của người dân trong Khu vực Tam giác Phát triển Campuchia-Lào-Việt Nam và ba nước.
Tuyên bố chung cũng thể hiện sự nhất trí của ba Quốc hội về các ưu tiên hợp tác trong 3 trụ cột về chính trị-đối ngoại, quốc phòng-an ninh và kinh tế-văn hóa-xã hội.
Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ phát biểu đánh giá cao nội dung tuyên bố chung của hội nghị khi đề cập đến các vấn đề quan tâm chung của ba nước hiện nay; đồng thời khẳng định quyết tâm của các cơ quan nghị viện đồng hành cùng chính phủ thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực, giám sát chặt chẽ việc thực hiện các thỏa thuận đã ký kết vì lợi ích của nhân dân ba nước.
Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ nhấn mạnh trong thế giới đầy biến động và phức tạp như hiện nay, với những hình thái tập hợp lực lượng đa dạng, sự cạnh tranh gay gắt, việc tăng cường và củng cố mối quan hệ hợp tác, tình đoàn kết giữa ba nước Campuchia-Lào-Việt Nam càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
Chủ tịch Quốc hội đề nghị ba Quốc hội cần phối hợp chặt chẽ, ủng hộ lẫn nhau, thúc đẩy giám sát các thỏa thuận hợp tác giữa ba nước như định hướng về tổng thể quan hệ ba nước đã được ba người đứng đầu ba đảng thống nhất: củng cố trụ cột về quốc phòng-an ninh, tăng cường hợp tác trong công tác đối ngoại; tạo đột phá trong hợp tác kinh tế, tăng cường hợp tác văn hóa, giáo dục, khoa học-kỹ thuật, du lịch, nông nghiệp; thúc đẩy hơn nữa quan hệ hợp tác giữa các cơ quan của Đảng và Nhà nước, Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và các địa phương của ba nước trên cơ sở phát huy tiềm năng, thế mạnh của mỗi nước.
Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ khẳng định Quốc hội Việt Nam phối hợp chặt chẽ với các Quốc hội Lào và Campuchia tiếp tục thúc đẩy vai trò của Quốc hội trong giám sát việc thực hiện các kế hoạch phát triển ngày càng hiệu quả hơn nữa; tổ chức thực hiện tốt các nội dung đã thống nhất trong tuyên bố chung; cùng nhau thúc đẩy việc giải quyết các vấn đề còn tồn tại, tiến tới hoàn thành mục tiêu phát triển đã đề ra.
Tại Lễ bế mạc, thay mặt Quốc hội Việt Nam, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đã nhận bàn giao từ Quốc hội Lào trọng trách nước chủ nhà Hội nghị Cấp cao Quốc hội CLV lần thứ hai dự kiến tổ chức năm 2025.
Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ trân trọng mời Chủ tịch Quốc hội Vương quốc Campuchia và Chủ tịch Quốc hội Lào dẫn đầu đoàn đại biểu Quốc hội hai nước tham dự các hoạt động của Hội nghị Cấp cao Quốc hội CLV lần thứ hai tại Việt Nam, cùng tạo dựng dấu ấn mới cho hợp tác ba Quốc hội, góp phần tăng cường quan hệ hữu nghị đoàn kết giữa ba nước.
Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ và đoàn đại biểu Campuchia và Lào đã theo dõi đoạn phim ấn tượng về đất nước, con người và những thành tựu phát triển mọi mặt của Việt Nam.
St