Thứ Năm, 7 tháng 12, 2023

Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 


Để đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng, cần quan tâm đến 3 yếu tố cốt lõi là: con người, tổ chức và cơ chế hoạt động.

Về con người:

Lực lượng nòng cốt làm công tác này bên cạnh bản lĩnh chính trị, tư duy lý luận, am hiểu về công nghệ và kỹ năng truyền thông, cần phải rèn luyện “tinh thần thép” và có những nỗ lực vượt bậc. 

“Tinh thần thép” được hình thành dựa trên niềm tin vững chắc vào lý tưởng cách mạng của Đảng và nhân dân ta; vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và sự lãnh đạo của Đảng; có niềm tin vững chắc vào chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh; thấy được những khó khăn trước mắt chỉ là tạm thời, những tiêu cực chỉ là hiện tượng xã hội; nêu cao lòng yêu nước, tính tiên phong, sẵn sàng nhận những nhiệm vụ mới, khó, lấy đó làm cơ hội để thử thách và trưởng thành, từ đó không chùn bước trong cuộc đấu tranh cho lẽ phải, cho chính nghĩa để bảo vệ Đảng, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ.

Các thế lực thù địch trên không gian mạng luôn ẩn danh, cuộc đấu tranh trên không gian mạng rất khó khăn, cam go, lâu dài, nên mỗi cán bộ, đảng viên cần giữ vững bản lĩnh chính trị, say mê lao động, không ngừng nghiên cứu, học tập, cập nhật những vấn đề lý luận và thực tiễn để có nền tảng lý luận vững vàng, không bị “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, làm tốt vai trò sứ giả truyền cảm hứng cho chính đội ngũ của mình và lan tỏa đến người đọc trong công tác thông tin, tuyên truyền định hướng dư luận xã hội.

Về tổ chức:

Tích cực xây dựng, củng cố, kiện toàn tổ chức, phát triển lực lượng đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng do ban chỉ đạo các cấp, các ngành về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” (Ban Chỉ đạo 35) chỉ đạo, quản lý. Trong đó, tại cơ quan thường trực ban chỉ đạo 35 các cấp, các ngành cần bố trí cán bộ chuyên trách, đáp ứng tính chất của công việc để bảo đảm vừa thực hiện tốt nhiệm vụ tham mưu lãnh đạo, chỉ đạo, vừa điều hành, tác chiến thường xuyên, liên tục.

Làm tốt công tác định hướng, bồi dưỡng, phát huy hiệu quả hoạt động của lực lượng nòng cốt trong việc nắm tình hình, thông tin, tuyên truyền định hướng dư luận xã hội và tác chiến bí mật.

Phát triển mạng lưới cộng tác viên trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chú ý tập hợp cộng tác viên từ các địa bàn, cơ sở; từ đoàn viên, sinh viên, học sinh, cán bộ hưu trí... để tạo ra một kênh nắm bắt kịp thời tình hình tư tưởng, tâm trạng xã hội, những vụ việc nóng về cơ quan thường trực ban chỉ đạo 35 các cấp, các ngành.

Về cơ chế hoạt động: 

Cần sớm thiết lập, ràng buộc trách nhiệm pháp lý, thống nhất và triển khai nghiêm cơ chế phối hợp giữa Chính phủ với các nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội nước ngoài, như: Google, Youtube, Facebook... trong việc quản lý, ngăn chặn, xử lý các thông tin xấu, độc.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, định hướng, nắm tình hình tư tưởng, dư luận qua các trang fanpage, group, trang Facebook, kênh Youtube, blog,... Phát triển các trang fanpage, group, Facebook, kênh Youtube, blog... tuyên truyền bảo đảm bám sát tôn chỉ, mục đích hoạt động; xây dựng các chuyên mục thông tin chống lại các luận điệu xuyên tạc, phản động nhằm tạo sự đồng thuận xã hội; từng bước nâng cao nhận thức, trách nhiệm, sức đề kháng, khả năng phát hiện thông tin xấu, độc, hình thành “thế trận toàn dân” trên không gian mạng, góp phần làm trong sạch môi trường mạng, giữ vững an toàn thông tin.

Tăng cường và nâng cao hiệu quả phối hợp, phát huy sức mạnh tổng lực của lực lượng ban chỉ đạo 35 trong cả nước. Thống nhất trung tâm điều hành hoạt động đồng bộ, chặt chẽ, hiệu quả từ Ban Chỉ đạo 35 Trung ương đến các ban, bộ, ngành và địa phương trong định hướng thông tin, tuyên truyền, bồi dưỡng nghiệp vụ (quản trị các nhóm, trang; điều hành, kỹ thuật tác chiến; phương pháp phản biện, đấu tranh ẩn danh;...).

Triển khai thực hiện có hiệu quả quy chế tiếp xúc, đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu cấp ủy đảng, chính quyền các cấp với các tổ chức, cá nhân có nhận thức khác hoặc chưa đúng với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước - nhất là đối với các cá nhân có uy tín, có trình độ, thái độ tích cực, có tầm ảnh hưởng đến cán bộ, đảng viên, nhân dân tại cơ quan, đơn vị, địa phương.

Xây dựng phương án phối hợp chặt chẽ, kịp thời, đồng bộ trong xử lý tình hình nóng, phức tạp nổi lên tại các địa bàn, lĩnh vực giữa các cơ quan, đơn vị, địa phương. Kịp thời phát hiện, phối hợp giáo dục, xử lý nghiêm, đủ sức răn đe đối với các đối tượng sử dụng internet, mạng xã hội đưa, chia sẻ thông tin vi phạm pháp luật.

Nghiên cứu, sớm ban hành quy chế bảo vệ người tham gia công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng để kịp thời xử lý những “sự cố” trong quá trình thực thi nhiệm vụ, khi người tham gia đấu tranh bị đe dọa, bị xâm hại thân thể, uy tín, nhân phẩm, công việc, gia đình, ảnh hưởng đến tổ chức, cơ quan, đơn vị nơi họ đang công tác./.

Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 


Để đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng, cần quan tâm đến 3 yếu tố cốt lõi là: con người, tổ chức và cơ chế hoạt động.

Về con người:

Lực lượng nòng cốt làm công tác này bên cạnh bản lĩnh chính trị, tư duy lý luận, am hiểu về công nghệ và kỹ năng truyền thông, cần phải rèn luyện “tinh thần thép” và có những nỗ lực vượt bậc. 

“Tinh thần thép” được hình thành dựa trên niềm tin vững chắc vào lý tưởng cách mạng của Đảng và nhân dân ta; vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và sự lãnh đạo của Đảng; có niềm tin vững chắc vào chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh; thấy được những khó khăn trước mắt chỉ là tạm thời, những tiêu cực chỉ là hiện tượng xã hội; nêu cao lòng yêu nước, tính tiên phong, sẵn sàng nhận những nhiệm vụ mới, khó, lấy đó làm cơ hội để thử thách và trưởng thành, từ đó không chùn bước trong cuộc đấu tranh cho lẽ phải, cho chính nghĩa để bảo vệ Đảng, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ.

Các thế lực thù địch trên không gian mạng luôn ẩn danh, cuộc đấu tranh trên không gian mạng rất khó khăn, cam go, lâu dài, nên mỗi cán bộ, đảng viên cần giữ vững bản lĩnh chính trị, say mê lao động, không ngừng nghiên cứu, học tập, cập nhật những vấn đề lý luận và thực tiễn để có nền tảng lý luận vững vàng, không bị “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, làm tốt vai trò sứ giả truyền cảm hứng cho chính đội ngũ của mình và lan tỏa đến người đọc trong công tác thông tin, tuyên truyền định hướng dư luận xã hội.

Về tổ chức:

Tích cực xây dựng, củng cố, kiện toàn tổ chức, phát triển lực lượng đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng do ban chỉ đạo các cấp, các ngành về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” (Ban Chỉ đạo 35) chỉ đạo, quản lý. Trong đó, tại cơ quan thường trực ban chỉ đạo 35 các cấp, các ngành cần bố trí cán bộ chuyên trách, đáp ứng tính chất của công việc để bảo đảm vừa thực hiện tốt nhiệm vụ tham mưu lãnh đạo, chỉ đạo, vừa điều hành, tác chiến thường xuyên, liên tục.

Làm tốt công tác định hướng, bồi dưỡng, phát huy hiệu quả hoạt động của lực lượng nòng cốt trong việc nắm tình hình, thông tin, tuyên truyền định hướng dư luận xã hội và tác chiến bí mật.

Phát triển mạng lưới cộng tác viên trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chú ý tập hợp cộng tác viên từ các địa bàn, cơ sở; từ đoàn viên, sinh viên, học sinh, cán bộ hưu trí... để tạo ra một kênh nắm bắt kịp thời tình hình tư tưởng, tâm trạng xã hội, những vụ việc nóng về cơ quan thường trực ban chỉ đạo 35 các cấp, các ngành.

Về cơ chế hoạt động: 

Cần sớm thiết lập, ràng buộc trách nhiệm pháp lý, thống nhất và triển khai nghiêm cơ chế phối hợp giữa Chính phủ với các nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội nước ngoài, như: Google, Youtube, Facebook... trong việc quản lý, ngăn chặn, xử lý các thông tin xấu, độc.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, định hướng, nắm tình hình tư tưởng, dư luận qua các trang fanpage, group, trang Facebook, kênh Youtube, blog,... Phát triển các trang fanpage, group, Facebook, kênh Youtube, blog... tuyên truyền bảo đảm bám sát tôn chỉ, mục đích hoạt động; xây dựng các chuyên mục thông tin chống lại các luận điệu xuyên tạc, phản động nhằm tạo sự đồng thuận xã hội; từng bước nâng cao nhận thức, trách nhiệm, sức đề kháng, khả năng phát hiện thông tin xấu, độc, hình thành “thế trận toàn dân” trên không gian mạng, góp phần làm trong sạch môi trường mạng, giữ vững an toàn thông tin.

Tăng cường và nâng cao hiệu quả phối hợp, phát huy sức mạnh tổng lực của lực lượng ban chỉ đạo 35 trong cả nước. Thống nhất trung tâm điều hành hoạt động đồng bộ, chặt chẽ, hiệu quả từ Ban Chỉ đạo 35 Trung ương đến các ban, bộ, ngành và địa phương trong định hướng thông tin, tuyên truyền, bồi dưỡng nghiệp vụ (quản trị các nhóm, trang; điều hành, kỹ thuật tác chiến; phương pháp phản biện, đấu tranh ẩn danh;...).

Triển khai thực hiện có hiệu quả quy chế tiếp xúc, đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu cấp ủy đảng, chính quyền các cấp với các tổ chức, cá nhân có nhận thức khác hoặc chưa đúng với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước - nhất là đối với các cá nhân có uy tín, có trình độ, thái độ tích cực, có tầm ảnh hưởng đến cán bộ, đảng viên, nhân dân tại cơ quan, đơn vị, địa phương.

Xây dựng phương án phối hợp chặt chẽ, kịp thời, đồng bộ trong xử lý tình hình nóng, phức tạp nổi lên tại các địa bàn, lĩnh vực giữa các cơ quan, đơn vị, địa phương. Kịp thời phát hiện, phối hợp giáo dục, xử lý nghiêm, đủ sức răn đe đối với các đối tượng sử dụng internet, mạng xã hội đưa, chia sẻ thông tin vi phạm pháp luật.

Nghiên cứu, sớm ban hành quy chế bảo vệ người tham gia công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng để kịp thời xử lý những “sự cố” trong quá trình thực thi nhiệm vụ, khi người tham gia đấu tranh bị đe dọa, bị xâm hại thân thể, uy tín, nhân phẩm, công việc, gia đình, ảnh hưởng đến tổ chức, cơ quan, đơn vị nơi họ đang công tác./.

CẢNH GIÁC VỚI THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 


Với thủ đoạn lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội, khai thác thông tin trên báo chí chính thống về những vụ việc tiêu cực xảy ra trong đời sống xã hội để hư cấu, xuyên tạc, thổi phồng, lấy hiện tượng quy kết thành bản chất, đăng tải thông tin thật - giả lẫn lộn, đưa ra cái gọi là “tài liệu chứng minh” để tuyên truyền, xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng, sự điều hành, quản lý của Nhà nước.

Chúng thường tung ra những thông tin bịa đặt về bí mật nội bộ Đảng nhằm tác động, làm gia tăng các biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, qua đó tác động, thẩm thấu vào một bộ phận cán bộ lão thành cách mạng, trí thức, văn nghệ sĩ để chính họ bộc lộ, đưa ra những quan điểm không đồng thuận, phản biện vô nguyên tắc, phản đối gay gắt với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kêu gọi từ bỏ Đảng, xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin. Thúc đẩy lối sống thực dụng, tư tưởng bất mãn, văn hóa ngoại lai vào đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân, nhất là thế hệ trẻ nhằm làm phai nhạt lý tưởng cách mạng, băng hoại đạo đức xã hội.

Trong thời gian qua, các tổ chức phản động ở bên ngoài tiếp tục duy trì, lập mới hàng nghìn website, blog, fanpage Facebook nhằm đẩy mạnh chiến dịch “chiến tranh tâm lý”, tuyên truyền chống Đảng, Nhà nước; xuyên tạc chia rẽ nội bộ, gieo rắc tâm lý hoang mang, hoài nghi, bất bình trong nhân dân đối với chế độ.

Trong 5 năm qua, đặc biệt trong thời gian Đảng ta chuẩn bị tổ chức Đại hội XIII, chúng tập trung vào một số hoạt động sau:

Tạo lập hàng ngàn trang mạng xã hội, mới nhất là các kênh YouTube Nguyễn Văn Đài, Lê Dũng Vova,… trong đó nhiều trang giả mạo cá nhân, tổ chức có uy tín, núp dưới danh nghĩa tôn giáo, bảo vệ môi trường, dân sinh để thu hút người đọc, qua đó lan truyền các nội dung chống Đảng, Nhà nước.

Sử dụng các đài, báo bên ngoài kết hợp các kênh mạng xã hội để viết bài, cắt ghép, nhào nặn video xuyên tạc, phê phán Đảng, Nhà nước, chính quyền các cấp.

Lan toả các thông tin lượm lặt từ báo chí trong nước và từ tài khoản Facebook của một số cá nhân có quan điểm cực đoan trong nước nhằm phê phán chính quyền, Đại hội Đảng các cấp.

Tổ chức soạn thảo, phát tán “thư ngỏ”, “tâm thư”, “kiến nghị”, “đơn kêu cứu”,… để thu hút sự chú ý của dư luận, cổ súy hoạt động của một số đối tượng có quan điểm cực đoan. Tổ chức các chương trình, tọa đàm, phỏng vấn một số đối tượng chống đối, một số luật sư có tư tưởng phức tạp, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các Bộ, Ban, ngành để tuyên truyền gây mất đoàn kết nội bộ, hình thành dư luận “lề trái”…

Điểm mới trong phương thức, thủ đoạn tuyên truyền phá hoại tư tưởng so với 5 năm trước là: Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng những thành tựu tiên tiến của khoa học công nghệ, ứng dụng các loại hình dịch vụ mới trên không gian mạng để đăng tải, phát tán thông tin sai trái, thù địch trên diện rộng với nhiều bình luận phức tạp. Sử dụng ứng dụng thoại trên internet, thư điện tử, phần mềm chuyên dụng, mạng xã hội để hoạt động chống phá. Chúng lập các nhóm kín trên mạng xã hội phân chia theo khu vực địa lý để tập hợp lực lượng trong nước tham gia tổ chức, chỉ đạo chống phá. Các đối tượng chống đối, bất mãn, khiếu kiện, lợi dụng tôn giáo thường xuyên liên hệ, trao đổi qua mạng với các đối tượng phản động lưu vong để nhận sự giúp đỡ hoặc trả lời phỏng vấn, phát trực tiếp trên mạng xã hội./.

Âm mưu chống phá của các thế lực thù địch

 Âm mưu chống phá cơ bản và lâu dài của các thế lực thù địch là phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta, tạo ra “khoảng trống” về tư tưởng, lý luận nhằm đưa ý thức hệ tư sản thâm nhập ngày càng sâu rộng vào đời sống tinh thần của nhân dân ta, tiến tới xay chuyển quỹ đạo phát triển của Việt Nam đi chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là âm mưu nguy hiểm, thâm độc liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ.

Nhất quán quan điểm trong xây dựng “Nhà nước pháp quyền Việt Nam” XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

 


           Tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (1-1994), lần đầu tiên, Đảng ta đã chính thức sử dụng thuật ngữ “Nhà nước pháp quyền Việt Nam”: Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (sửa đổi, bổ sung 2011), Đảng ta khẳng định một trong những đặc trưng của chế độ là “xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”, chỉ rõ: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”. Quan điểm này được Hiến pháp 2013 tiếp tục ghi nhận, đồng thời chỉ rõ: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”. Nhà nước pháp quyền XHCN về bản chất khác với nhà nước pháp quyền tư sản là ở chỗ: Pháp quyền dưới chế độ tư bản chủ nghĩa về thực chất là công cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản, còn pháp quyền dưới chế độ XHCN là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân. Thông qua thực thi pháp luật Nhà nước bảo đảm các điều kiện để nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm hại lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Đồng thời, chúng ta xác định: Đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng Việt Nam, không ngừng thúc đẩy sự bình đẳng và đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo. Trong quá trình đổi mới đất nước, Đảng ta luôn coi trọng đổi mới hệ thống chính trị mà trọng tâm là xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN. Thực tiễn qua 35 năm đổi mới, tư duy lý luận của Đảng về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN ngày càng đầy đủ và phát triển hơn, tạo cơ sở vững chắc cho việc xây dựng một nhà nước trong sạch, vững mạnh, đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước trên con đường đi lên CNXH.

          Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN thật sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, góp phần tạo sự đồng thuận, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, đưa đất nước vào giai đoạn phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng./.

Các thế lực thù địch là gì?

 Các thế lực thù địch là “tất cả những ai, cá nhân hay tổ chức, nhà nước hay tổ chức phi chính phủ, hợp pháp hay bất hợp pháp, ở trong nước hay nước ngoài… với mục đích chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hoạt động chống phá ta trên lĩnh vực tư ưởng, chính trị,… Các thế lực thù địch trên thực tế là những phần tử hiếu chiến ở phương Tây, ngoài ra còn bao gồm cả một số tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài,…”

Cảnh giác với âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc bản chất giai cấp công nhân và phủ nhận vai trò của tổ chức công đoàn hiện nay

 

Với sứ mệnh lịch sử là xóa bỏ mọi sự áp bức, bóc lột, bất công, nghèo nàn, lạc hậu trên phạm vi toàn thế giới, ngày nay, giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn càng có vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động đã và đang xuyên tạc bản chất, phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và vai trò của tổ chức công đoàn. Phê phán, bác bỏ các luận điệu sai trái đó cùng việc bảo vệ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và vai trò của tổ chức công đoàn trên cơ sở khoa học là nhiệm vụ hết sức cấp thiết hiện nay. C. Mác, Ph. Ăng-ghen đã làm rõ địa vị kinh tế - xã hội khách quan của giai cấp công nhân là xóa bỏ chế độ áp bức, bóc lột, bởi đây là giai cấp đại biểu cho lực lượng sản xuất tiên tiến, hiện đại và hội đủ các yếu tố của một giai cấp lãnh đạo xã hội. Điều này không phải là mong muốn chủ quan của giai cấp công nhân hay nguyện vọng của C. Mác như một số luận điệu xuyên tạc. Sở dĩ giai cấp công nhân có được vai trò và sứ mệnh ấy là do có sự khác biệt với tất cả các giai tầng khác về địa vị trong phương thức sản xuất, về tính tổ chức, tính kỷ luật và hệ tư tưởng. Giai cấp công nhân ra đời và phát triển từ nền đại công nghiệp gắn với dây chuyền máy móc, sản xuất tập trung, theo chu trình khép kín, mang tính xã hội hóa cao. Chính điều này làm cho giai cấp công nhân có tính tổ chức, kỷ luật chặt chẽ, tinh thần hợp tác cao, là giai cấp duy nhất thống nhất được lợi ích cũng như nhận thức, tư tưởng và hành động trong xã hội, hội đủ những phẩm chất cần có của một giai cấp cách mạng, có năng lực lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa.

              Khẳng định bản chất giai cấp công nhân của Đảng có nghĩa là khẳng định lập trường của Đảng ta là lập trường của giai cấp công nhân - giai cấp đại biểu cho phương thức sản xuất tiên tiến và xu thế phát triển của thời đại. Việc giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng luôn được Đảng ta khẳng định qua các kỳ đại hội, gần đây nhất là Đại hội XIII, với yêu cầu: “Giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng, kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng”. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chăm lo xây dựng Đảng ta ngày càng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức, cán bộ, được thể hiện qua các tác phẩm, bài viết, bài nói của Người. Trong “Chương trình tóm tắt của Đảng”, Người viết: “Đảng là đội tiên phong của đạo quân vô sản gồm một số lớn của giai cấp công nhân và làm cho họ có đủ năng lực lãnh đạo quần chúng”. Khẳng định giai cấp công nhân là giai cấp tiên tiến, cách mạng nhất, trong tác phẩm “Đạo đức cách mạng” đăng trên Tạp chí Học tập tháng 12-1958, Người viết: “Để giành lấy thắng lợi, cách mạng nhất định phải do giai cấp công nhân lãnh đạo. Vì nó là giai cấp tiền tiến nhất, giác ngộ nhất, kiên quyết nhất, có kỷ luật nhất và tổ chức chặt chẽ nhất. Mà đảng vô sản là bộ tham mưu của giai cấp công nhân. Cách mạng ở Liên Xô và ở các nước khác trong phe xã hội chủ nghĩa đã chứng thực điều đó, không ai chối cãi được”(7). Báo Nhân Dân ra ngày 6-1-1960 đăng tác phẩm “Ba mươi năm hoạt động của Đảng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó có đoạn: “Ngay từ lúc đầu, Đảng đã giương cao ngọn cờ cách mạng dân tộc dân chủ, lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc. Trong lúc đó, giai cấp phong kiến đã đầu hàng đế quốc, giai cấp tư sản non yếu thì chỉ mong thỏa hiệp với đế quốc để tìm một lối sống. Các tầng lớp tiểu tư sản tuy là sôi nổi, nhưng tư tưởng bế tắc, không có đường ra. Chỉ có giai cấp công nhân là dũng cảm nhất, cách mạng nhất, luôn luôn gan góc đương đầu với bọn đế quốc thực dân. Với lý luận cách mạng tiên phong và kinh nghiệm của phong trào vô sản quốc tế, giai cấp công nhân ta đã tỏ ra là người lãnh đạo xứng đáng nhất và đáng tin cậy nhất của nhân dân Việt Nam”(8). Giai cấp công nhân Việt Nam đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, là lực lượng nòng cốt trong liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

             Như vậy, chủ nghĩa Mác - Lê - Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam đều luận chứng hết sức thuyết phục về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, điều đó đã được minh chứng trong thực tiễn hơn 91 năm lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngày nay, giai cấp công nhân Việt Nam vẫn là lực lượng lãnh đạo cách mạng, là một lực lượng xã hội to lớn, ngày càng đa dạng về cơ cấu ngành, nghề, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và gắn với nền công nghiệp hiện đại. Giai cấp công nhân Việt Nam đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, là lực lượng nòng cốt trong liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng. Họ có khả năng phát minh, cải tiến và áp dụng khoa học - kỹ thuật hiện đại vào quá trình sản xuất, trở thành lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay./.

TÍCH CỰC ĐẤU TRANH CHỐNG "TÁC ĐỘNG CHUYỂN HÓA" CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 


             Đấu tranh chống “tác động chuyển hóa” của các thế lực thù địch là việc đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn cài cắm, móc nối, gây dựng cơ sở, chống “tác động chuyển hóa” về tư tưởng, đạo đức, lối sống, thái độ chính trị của nội bộ theo chiều hướng hoài nghi, tiêu cực, phản động, ly khai, hình thành các quan điểm đi ngược lại chủ trương, đường lối của Đảng. Nguyên tắc, yêu cầu bảo đảm an ninh chính trị nội bộ, phòng, chống “tác động chuyển hóa” chính trị phải chủ động phòng ngừa, giữ vững bên trong là chủ yếu, cụ thể như sau:

           Thứ nhất, ngăn ngừa, khắc phục, triệt tiêu nguồn gốc, nguyên nhân làm nảy sinh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII của Đảng, “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Trong đó, hết sức chú ý đấu tranh khắc phục tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, làm cho những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” dần bị triệt tiêu, loại bỏ trong mỗi con người, tổ chức; đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch.

           Thứ hai, xây dựng con người, đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức theo chuẩn mực phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực, phong cách sống, làm việc khoa học.

             Thứ ba, xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ để tạo nên khả năng đề kháng, miễn dịch, bảo đảm cho mỗi cán bộ, đảng viên, các tổ chức đảng và toàn Đảng không bị mắc vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; đồng thời, tạo động lực, sức mạnh nội sinh để giành thắng lợi trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

             Thứ tư, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhằm phát huy sức mạnh nội sinh của cả dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, không để cho các thế lực thù địch lợi dụng những yếu kém, sơ hở trong quản lý kinh tế  - xã hội ở nơi này hay nơi khác nhằm kích động bất đồng, mâu thuẫn giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội, giữa đồng bào ở trong nước với đồng bào định cư ở nước ngoài, làm giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước hòng thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong xã hội./.

TIẾP TỤC VỮNG BƯỚC TRÊN CON ĐƯỜNG ĐỔI MỚI TOÀN DIỆN, ĐỒNG BỘ ĐỂ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

 

Sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo trong gần 40 năm qua đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đây là cơ sở, tiền đề vững chắc, tạo động lực mới, khí thế mới, niềm tin vững chắc để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
Trong tiến trình tạo dựng cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín của đất nước, Đảng ta đã khởi xướng và trực tiếp lãnh đạo triển khai sự nghiệp đổi mới với những đường lối, định hướng, chủ trương hết sức đúng đắn, sáng tạo, đem lại thành quả vô cùng to lớn. Gần 40 năm qua, công cuộc đổi mới đã thực sự gắn bó với vận mệnh dân tộc, vận mệnh đất nước, gắn bó với mỗi người chúng ta và được bạn bè quốc tế quan tâm đến như một lẽ đương nhiên. Không phải bây giờ mà trong quá trình cách mạng, chúng ta luôn thực hiện sự đổi mới. Có điều, công cuộc đổi mới lần này mang tính toàn diện, tổng thể, sâu sắc, được chuẩn bị và tiến hành có bài bản. Ở đây, phải định rằng, sự nghiệp đổi mới đất nước là công việc của chúng ta, theo cách thức và bước đi của ta; là công cuộc sáng tạo mang tính tất yếu và công cuộc đó phải được triển khai một cách sâu rộng và đồng bộ, nhưng vì nó còn mới mẻ nên phải cân nhắc từng đường đi nước bước cụ thể, chắc chắn.
Đổi mới vừa là sự thay thế cái cũ, vừa là sự chọn lựa cái cũ, cái hiện đang còn phù hợp để cải biến cho nó trở nên thích ứng và hữu dụng hơn. Đổi mới có thể coi là một sự phủ định biện chứng: “không bao giờ phủ định sạch trơn và không bao giờ quay lại cái cũ”. Đổi mới để phát triển, đồng nghĩa với phát triển, nhưng là sự phát triển trong thế ổn định, sự phát triển theo đúng định hướng và con đường đúng đắn mà chúng ta đã chọn. Trong quá trình ấy, có người khuyên ta cần tư nhân hóa nhanh hơn, mạnh hơn trong mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội; cần hội nhập và hòa nhập với quốc tế mạnh hơn, sâu hơn, toàn diện hơn. Lời khuyên đó dẫu có chân thành thì chúng ta cũng không thể làm như thế. Bởi vì, hơn ai hết, chúng ta hiểu rõ tình hình thực tế của đất nước mình, và đặc biệt quan trọng là chúng ta thực hiện đổi mới nhưng có nguyên tắc, đổi mới nhưng không thay đổi bản chất chế độ xã hội. Đổi mới là thực hiện bước chuyển từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường, nhưng trong khi thực hiện cơ chế thị trường, Nhà nước phải quản lý và điều hành theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục tình trạng thả nổi thị trường; đổi mới để phát triển kinh tế, nhưng sự phát triển đó phải đi đôi với thực hiện công bằng xã hội, khắc phục tình trạng phân hóa giàu nghèo. Đổi mới có yêu cầu và gắn với mở cửa, hội nhập; đổi mới có yêu cầu và gắn với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Toàn bộ công cuộc hội nhập - mở cửa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là để thực hiện chiến lược phát triển nhanh và bền vững; xây dựng và tăng cường lực lượng sản xuất, củng cố và phát triển quan hệ sản xuất phù hợp; nâng tầm đất nước lên trình độ mới, tầm cao mới. Vậy nên đổi mới chính là để hướng tới chủ nghĩa xã hội, để hiện thực quá độ lên chủ nghĩa xã hội ngày càng được xác lập rõ ràng hơn.
Đổi mới và cải cách có cùng nội dung hướng tới cái mới, cái tốt đẹp hơn. Nhưng, cải cách thường được hiểu là những hành động nhất định, những cuộc vận động nhất định nhằm đạt những mục tiêu nhất định. Khi những hành động cải cách ấy, những cuộc vận động cải cách ấy đã đạt tới mục tiêu đề ra thì phải có hành động cải cách mới, cuộc vận động cải cách mới. Còn đổi mới, theo cách hiểu của chúng ta, do bản chất và tính tất yếu của nó, lại là một quá trình lâu dài. Đổi mới như một dòng chảy liên tục, vận động liên tục của cả guồng máy xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng, phát động và lãnh đạo, tổ chức thực hiện. Các kỳ đại hội, từ Đại hội VII đến Đại hội XIII và chắc chắn cả Đại hội XIV tới đây của Đảng cũng sẽ khẳng định tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới để đưa đất nước đi lên. Lời hiệu triệu đó rất phù hợp với yêu cầu của thực tiễn và ý nguyện của nhân dân.
Quá trình đổi mới là quá trình chuyển biến to lớn và thiết thực. Đổi mới tư duy đã khắc phục được những nhận thức lệch lạc, nhất là bệnh giáo điều, chủ quan duy ý chí; từng bước hình thành những quan niệm mới về mục tiêu, bước đi và cách thức phát triển đất nước, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, quản lý xã hội. Công cuộc đổi mới đã giải phóng sức sản xuất, củng cố và tăng cường quan hệ sản xuất mới, đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng của một nước có thu nhập thấp; đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể, ổn định chính trị - xã hội được bảo đảm, định hướng xã hội chủ nghĩa được giữ vững, vai trò lãnh đạo của Đảng được tăng cường, quốc phòng, an ninh được củng cố vững chắc, quan hệ hợp tác quốc tế ngày càng được mở rộng và đẩy mạnh thêm.
Chính đổi mới đã đưa nước ta từ chỗ phải nhập lương thực, nay trở thành nước xuất khẩu gạo đứng nhất nhì thế giới. Chưa bao giờ nhịp độ phát triển và đổi thay từ nông thôn tới thành thị, từ miền núi đến đồng bằng lại nhanh chóng, mạnh mẽ như hiện nay. Cũng chưa bao giờ phong cách sống và làm việc của mọi gia đình và mọi người dân lại có những nét mới mẻ, tươi tắn như hôm nay. Đổi mới đã giúp chúng ta vừa kế thừa và phát huy những thành quả tốt đẹp đã đạt được trước đây, vừa có cách nghĩ, nghe, nhìn và làm khác trước, phù hợp với tình hình đang phát triển. Đổi mới đã đem đến một sức vóc mới cho đất nước, tiếp sức đôi chân chúng ta đi thêm những bước dài, vững chắc trên con đường hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Qua 37 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành, phát triển; chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; văn hóa - xã hội có bước phát triển; bộ mặt đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng; đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị được đẩy mạnh. Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững; quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao.
Báo cáo Chính trị Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Nhìn lại 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa. Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân vượt qua mọi khó khăn, thách thức tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ, phát triển bền vững đất nước”1. Những thành tựu đó tạo tiền đề quan trọng để nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển trong những năm tới; khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử.
Cội nguồn của những thành tựu trên là do Đảng ta có đường lối đổi mới đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, được nhân dân ủng hộ, tích cực thực hiện. Đảng ta nhận thức, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam; có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, nhạy bén, sáng tạo, kịp thời đưa ra những chủ trương, quyết sách phù hợp cho từng giai đoạn cách mạng, khi tình hình thế giới và trong nước thay đổi. Đông đảo cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân đã nỗ lực phấn đấu, tận dụng thời cơ, vượt qua khó khăn, thách thức, thực hiện đường lối đổi mới. Sự nghiệp đổi mới được bàn bè quốc tế ủng hộ, hợp tác, giúp đỡ.
Tuy nhiên, trong tiến trình đi lên, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, chúng ta không quên rằng đất nước mình vẫn còn nghèo, sự phát triển của nền kinh tế chưa vững chắc, hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp, còn nhiều yếu tố chưa bảo đảm tăng trưởng cao và lâu bền, còn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định. Rõ ràng là phía trước của chúng ta không chỉ có thời cơ và thuận lợi mà còn phải đối mặt với những khó khăn và thách thức đan xen. Điều này đã làm nảy sinh những băn khoăn, lo lắng về chặng đường tiếp theo của công cuộc đổi mới đất nước. Bên cạnh đó, một số phần tử bất mãn, cơ hội và các thế lực thù địch đưa ra những luận điệu đả kích, chống phá trắng trợn sự nghiệp đổi mới của chúng ta; luận điệu thâm độc nhất là: “Đổi mới đã hết thời, đã không còn động lực và cạn kiệt hết nguồn lực. Vậy nên, đất nước không thể tiếp tục đổi mới nữa,...”. Tình hình đó đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị cần nhận thức đúng cả thời cơ và thách thức để không bị rơi vào các trạng thái tự mãn, chủ quan hoặc bi quan thái quá. Trên cơ sở đó, xây dựng quyết tâm, niềm tin, khát vọng tiếp tục đẩy mạnh đổi mới toàn diện, đồng bộ để phát triển đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc bằng cả kinh nghiệm thực tiễn và những luận cứ khoa học.
Theo đó, nếu chúng ta quan niệm động lực, nguồn lực là những yếu tố tạo nên sức mạnh thúc đẩy sự phát triển, thì động lực bảo đảm cho sự đổi mới liên tục bao gồm nhiều yếu tố có thể nhận biết rất rõ sau:
Một là, yếu tố khơi nguồn động lực của đổi mới chính là việc định hướng đúng, phát động đúng thời điểm. Chúng ta xác định đổi mới phải theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Định hướng đúng đắn cho sự nghiệp đổi mới vừa hợp thời, hợp quy luật, hợp lòng dân, tạo nên sự chắc chắn, vững tin. Chuẩn bị kỹ và phát động đổi mới đúng lúc, đồng thời với mở cửa hội nhập nên chúng ta có thể chủ động và sáng tạo trong mọi tình huống, đã đứng vững và phát triển trong khi cải cách ở Liên Xô và Đông Âu bị thất bại.
Hai là, những thành quả của đổi mới tiếp thêm luồng sinh khí mới, tăng thêm động lực, tạo cho đất nước ta thế mới, lực mới, gia tốc mới. Thế mới và lực mới là tổng hợp những thành tựu to lớn về kinh tế - xã hội; là kết quả của việc phát triển mọi mặt với sự thông thoáng trong nước và mở rộng quan hệ hợp tác với bên ngoài. Gia tốc mới là khả năng vượt trội, là độ tăng trưởng liên tục ở mức khá cao tạo đà cho giai đoạn kế tiếp. Thế mới, lực mới, gia tốc mới tạo ra tầm vóc và khả năng mới của đất nước. Đó không chỉ là khả năng đất nước vươn tầm mà còn là năng lực mới mạnh mẽ để tiếp tục thúc đẩy sự nghiệp đổi mới phát triển. Đổi mới được nạp thêm năng lượng mới.
Ba là, yếu tố quyết định là động lực và những nguồn lực trong nước. Động lực quan trọng phục vụ và thúc đẩy công cuộc đổi mới là tổng hợp các nguồn lực trong nước, bao gồm không chỉ có vốn, tài sản đã tích lũy được mà còn là tài nguyên chưa đưa vào sử dụng; là lợi thế về địa kinh tế, địa chính trị và quan trọng hơn hết là nguồn lực con người, bao gồm cả sức lao động trí tuệ và sức mạnh tinh thần gắn với truyền thống văn hóa của dân tộc ta. Trong các nguồn lực đó, nguồn lực về tài nguyên là khá phong phú; nguồn lực về đất đai, vị trí địa lý là khá thuận lợi; nguồn lực về truyền thống là sâu sắc, đặc thù; nguồn lực về con người và trí tuệ vô cùng to lớn.
Bốn là, những nguồn lực từ bên ngoài -một yếu tố quan trọng mà nếu biết cách tranh thủ cũng sẽ tạo nên động lực cho công cuộc đổi mới đất nước. Nguồn lực bên ngoài bao gồm: vốn, kỹ thuật - công nghệ, kinh nghiệm quản lý, chất xám, tinh hoa văn hóa nhân loại. Trên cơ sở phải phát huy mọi nguồn lực trong nước, chúng ta có đầy đủ điều kiện để có thể thu hút nguồn lực bên ngoài. Với việc mở rộng nhiều hình thức, có bước đi, biện pháp và chính sách ưu đãi thích hợp, chúng ta nhất định khuyến khích mạnh mẽ việc hợp tác về kinh tế, văn hóa, khoa học, kỹ thuật, công nghệ; đặc biệt là thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào nước ta trên cơ sở đôi bên cùng có lợi.
Năm là, sự phù hợp giữa ý Đảng và lòng dân. Đây là động lực mang tính quyết định đối với sự nghiệp đổi mới. Động lực đó bắt nguồn từ năng lực sáng tạo, bản lĩnh trí tuệ của Đảng ta và nhân dân ta, thể hiện ở trình độ đoán định, nắm bắt những yếu tố và những vấn đề của thời cuộc, dự kiến đúng tình huống, xác định đường đi nước bước rõ ràng, sẵn sàng tạo lập và nắm bắt thời cơ, khắc phục nguy cơ, vượt qua thách thức đưa đất nước đi lên. Do đổi mới là sự phù hợp giữa ý Đảng và lòng dân nên khi Đảng ta phát động, nhân dân nhiệt tình hưởng ứng, tạo thành động lực to lớn thực hiện có hiệu quả sự nghiệp đổi mới đất nước.
Rõ ràng công cuộc đổi mới của chúng ta không chỉ đạt được những thành tựu to lớn qua gần 40 năm thực hiện, mà còn tiếp tục được đẩy mạnh với những nguồn lực phong phú và hết sức to lớn, trong đó có những nguồn lực không bao giờ cạn. Hành trình đổi mới với sự phù hợp giữa ý Đảng và lòng dân đã và đang kết hợp tất cả ba yếu tố: thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Đó là động lực lớn nhất, là yếu tố cơ bản nhất để chúng ta tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ, tạo nên khả năng thành công của sự nghiệp cao cả trọng đại: xây dựng đất nước ta giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội./.
Tạp chí Quốc phòng toàn dân

Con đường đi tới tương lai - Những đánh giá mang tầm thời đại

 


 

Trong một bài viết gửi báo chí ở Việt Nam, bà Merle Ratner, nhà hoạt động xã hội người Mỹ, điều phối viên Chiến dịch hỗ trợ và công lý cho nạn nhân chất độc da cam Việt Nam đã có phân tích rất xác đáng: "Người dân Mỹ đau đớn nhận ra rằng, CNTB đã giáng cho họ một đòn đau đớn. Tuy nhiên, điều mà họ chưa thể thấu hiểu hoàn toàn đó là đau khổ của họ không chỉ do những cá nhân tham lam chỉ coi trọng khối tài sản khổng lồ của họ hơn tình thương đối với nhân loại mà còn xuất phát từ bản chất của CNTB. CNTB luôn nhắm đến tối đa hóa lợi nhuận và giá trị thị trường. Tham lam và bất bình đẳng là gen di truyền của CNTB và chúng sẽ chỉ bị loại bỏ khi thay đổi hệ thống chính trị và kinh tế triệt để. Tương lai của loài người chắc chắn phải là chủ nghĩa xã hội (CNXH). Tương lai hoàn toàn thuộc về CNXH. Nhưng CNXH trong thời đại mới sẽ khác hơn những gì đã diễn ra trong thế kỷ 20. Có khả năng sẽ có nhiều cuộc thử nghiệm khác nhau ở các quốc gia khác nhau. Tất cả cần phải được nghiên cứu, tổng hợp và rút ra bài học kinh nghiệm”. 

Nhìn vấn đề ở logic lịch sử như vậy càng cho thấy bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng không chỉ có ý nghĩa trước mắt đối với nước ta mà còn là một bài viết mang tính tổng kết thực tiễn, khái quát lý luận rất quan trọng giúp nhận diện những vấn đề có tính quy luật lớn của thời đại hiện nay, cũng là điều mà nhiều nhà nghiên cứu, nhà lãnh đạo trên thế giới quan tâm. Đó chính là một vấn đề mang tính toàn cầu như chuyên gia người Mỹ từng khẳng định: “Phải được nghiên cứu, tổng hợp và rút ra bài học kinh nghiệm”. 

Một giá trị hết sức quan trọng và to lớn khác là bài viết đã chỉ ra những đặc trưng cơ bản của mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng; khẳng định những biện pháp, cách thức, các khâu đột phá cần làm, các vấn đề then chốt phải thực hiện để đi lên CNXH. Bài viết mang tính khái quát nhưng đã khẳng định rất rõ rằng Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức về CNXH ngày càng rõ hơn, con đường đi lên CNXH ngày càng sáng tỏ hơn và đang từng bước được hiện thực hóa. Bài viết vừa có tầm vóc lý luận và thực tiễn to lớn, vừa là thông điệp mạnh mẽ của Đảng ta và nhân dân ta về sự lựa chọn con đường đi tới tương lai; tiếp tục cổ vũ quần chúng nhân dân kiên định, vững bước trên con đường đã chọn./.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 08 THÁNG 12 NĂM 1956!

         “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới, không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”!
Đây là lời khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Bài nói chuyện tại lớp nghiên cứu chính trị khóa 2 Trường Đại học nhân dân Việt Nam”, Người nói ngày 08/12/1956. 
Thấm nhuần tư tưởng mácxít và trải qua quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, Người đánh giá rất cao vai trò, sức mạnh của nhân dân trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhân dân trong tư tưởng, tình cảm của Hồ Chí Minh vừa là một tập hợp đông đảo quần chúng, vừa là mỗi con người cụ thể. Đó là người nông dân, công nhân, nhà trí thức, các chiến sĩ, các cháu thiếu nhi, thanh niên, phụ nữ, học sinh, sinh viên, các bậc phụ lão, các dân tộc, tôn giáo, kiều bào ta ở nước ngoài… Bác cho rằng, tất cả đều là nhân dân và dưới bầu trời này, không gì quý bằng nhân dân; trong thế giới, không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân. Lời khẳng định của Bác tuy ngắn gọn, nhưng vô cùng sâu sắc, mãi mãi là ngọn đuốc soi đường cho Đảng và Nhà nước ta trong quá trình lãnh đạo nhân dân qua các thời kỳ cách mạng.
Thực hiện lời dạy của Bác, hơn 60 năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quán triệt sâu sắc tư tưởng của Người về sức mạnh của nhân dân, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp cách mạng, đồng thời phát huy sức mạnh toàn dân tộc là nguồn lực chủ yếu để đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt, trong thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra những chủ trương, chính sách đúng đắn, hợp lòng dân nhằm phát huy vai trò và tập hợp rộng rãi lực lượng của quần chúng nhân dân, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo nên sức mạnh tổng hợp để thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nhờ phát huy vai trò của nhân dân và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, công cuộc đổi mới của chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, tạo tiền đề, nền tảng quan trọng để nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ trong những năm tới.
Trước yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng và quân đội trong tình hình mới, mỗi cán bộ, chiến sĩ phải luôn nhận thức sâu sắc về vai trò của nhân dân, về sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân; không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ sẵn sàng chiến đấu, xây dựng chuẩn mực đạo đức của người quân nhân cách mạng, tiêu chí phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”; tăng cường mối quan hệ đoàn kết máu thịt quân dân, tham gia xây dựng cơ sở địa phương vững mạnh; kiên quyết đấu tranh chống các quan điểm sai trái nhằm chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc; bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nhân dân, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
Môi trường ST.

NGƯỜI TỐT, VIỆC TỐT: PHỐI HỢP VỚI CÔNG AN TRẢ LẠI 719 TRIỆU DO CHUYỂN KHOẢN NHẦM!

     Ngày 06/12/2023, Công an huyện Đô Lương, Nghệ An cho biết, dưới sự chứng kiến của cơ quan chức năng, anh Nguyễn Xuân Phúc (sinh năm 1985) trú tại xã Văn Sơn, huyện Đô Lương vừa trả lại số tiền 719 triệu đồng bị chuyển khoản nhầm cho chủ nhân.
Trước đó, Công an huyện Đô Lương nhận được thông tin từ ngân hàng chi nhánh Bà Triệu, số 18 Ngô Quyền, phường Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nộ đề nghị đơn vị hỗ trợ để khách hàng được nhận lại số tiền chuyển nhầm.
Xác minh sự việc và xác định anh Nguyễn Xuân Phúc (sinh năm 1985) trú tại xã Văn Sơn, huyện Đô Lương được ngân hàng chi nhánh Bà Triệu chuyển nhầm số tiền 719 triệu đồng vào lúc 13 giờ 15 phút ngày 29/11/2023. Lực lượng Công an đã làm việc với anh Nguyễn Xuân Phúc và đề nghị anh chuyển trả lại số tiền nói trên. Đến 18 giờ 30 phút cùng ngày, toàn bộ số tiền 719 triệu đồng đã được anh Phúc chuyển khoản trả lại cho chủ nhân.
Ngân hàng chi nhánh Bà Triệu đã gửi thư cảm ơn tinh thần trách nhiệm, kịp thời, vì nhân dân phục vụ của tập thể Công an huyện Đô Lương và Công an xã Văn Sơn./.
Môi trường ST.

Để thanh niên vững vàng, tiên phong trên mặt trận đấu tranh chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”

     Trong mọi giai đoạn cách mạng, thanh niên luôn là lực lượng xã hội to lớn, góp phần quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Họ luôn sung sức, năng động, nắm bắt thông tin nhanh nhạy, có năng lực tiếp cận, sáng tạo với công nghệ mới và luôn nhạy cảm với các vấn đề chính trị xã hội.

    Bên cạnh đó còn một bộ phận thanh niên xa rời đạo đức, lý tưởng cách mạng, có lối sống thực dụng nên dễ bị tác động bởi mặt trái của nền kinh tế thị trường... Cũng bởi đặc điểm là nhạy cảm, dễ tiếp cận cái mới, thích tự do, tự khẳng định mình, lại chưa có nhiều kinh nghiệm, nhận thức các vấn đề chính trị - xã hội còn hạn chế nên thanh niên thường dễ bị lôi kéo, kích động. Cũng vì thế mà các thế lực thù địch luôn coi thanh niên là đối tượng đặc biệt để lợi dụng thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, thực hiện “Phi chính trị hóa Quân đội”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

    Để giúp đoàn viên, thanh niên trong Quân chủng nhận diện và cùng nhau làm thất bại  âm mưu của các thế lực thù địch, trước hết, cấp ủy, chỉ huy và tổ chức đoàn các cấp phải nhận thức đúng, đầy đủ tính cấp bách và tầm quan trọng của công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ. Để làm được điều đó, tổ chức Đoàn các cấp, nhất là ở cơ sở cần quan tâm đổi mới, tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức công tác thanh niên, trọng tâm là đổi mới nội dung, phương thức giáo dục chính trị, tư tưởng, lý tưởng, truyền thống, bồi đắp lý tưởng cách mạng, lòng yêu nước, xây dựng đạo đức, lối sống lành mạnh, ý thức tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật cho thế hệ trẻ.  Thường xuyên coi trọng giáo dục ý thức cảnh giác cách mạng để thanh niên biết nhận diện, đề phòng và tránh xa những cám dỗ vật chất, văn hóa tầm thường, văn hóa ngoại lai xấu độc, biết tự bảo vệ mình, bảo vệ tổ chức Đoàn, không mắc vào bẫy “phi chính trị hóa”, âm mưu thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của các thế lực thù địch. Trong đó, việc chủ động, kịp thời cung cấp thông tin chính thống về tình hình thế giới, trong nước và Quân đội cho thanh niên. Chú trọng tuyên truyền các phong trào thi đua yêu nước, gương người tốt, việc tốt trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, quân sự. Trong đó, đẩy mạnh thực hiện học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” có hiệu quả là việc làm vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính lâu dài để thế hệ trẻ phát huy sức trẻ, vững vàng, tiên phong trên mọi mặt trận, nhất là mặt trận chống “Diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của các thế lực thù địch, phản động.

Chủ động đấu tranh với các thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá cách mạng Việt Nam

     Đối với Việt Nam, trong những năm qua, quyền của người dân tộc thiểu số luôn là một trong những vấn đề chiến lược được các thế lực thù địch triệt để lợi dụng nhằm gây mất ổn định, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ta, đưa Việt Nam đi theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Chúng coi đó là một yếu tố quan trọng để tạo sức ép từ bên ngoài, đồng thời kích động các hoạt động chống phá từ bên trong.

    Để phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn hiệu quả hoạt động này, thiết nghĩ chúng ta cần thực hiện tốt các nội dung như sau:

    Thứ nhất, tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về quyền của đồng bào các dân tộc thiểu số theo luật pháp quốc tế và pháp luật Việt Nam;

    Thứ hai, không ngừng chăm lo xây dựng, củng cố, kiện toàn hệ thống chính trị ở các địa bàn vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, ưu tiên bồi dưỡng, sử dụng cán bộ người dân tộc thiểu số.

  Thứ ba, tiếp tục thực hiện hiệu quả các chương trình, dự án phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao trình độ dân trí, văn hóa, xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội;

Thứ tư, thường xuyên làm tốt công tác nắm tình hình, kịp thời phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn âm mưu, hoạt động lợi dụng quyền của người dân tộc thiểu số để phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống phá cách mạng nước ta. Giải quyết triệt để, kịp thời các “điểm nóng”.

Đấu tranh ngăn chặn "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trên lĩnh vực chính trị

     Việc nhận diện rõ và có giải pháp ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực chính trị có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    Hiện nay, chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch tiến hành trên tất cả các lĩnh vực nhằm chống phá độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở nước ta mà không cần chiến tranh. Chiến lược “diễn biến hòa bình” thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Việc nhận diện rõ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực chính trị có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
    “Tự diễn biến” trên lĩnh vực chính trị, là xu hướng chính trị tiêu cực, phản cách mạng, xa rời mục tiêu, lý tưởng, định hướng chính trị; dao động, mơ hồ, mất phương hướng, thực chất là sự biến đổi về chính trị theo chiều hướng xấu dần, từng bước xa rời mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
    “Tự chuyển hóa” trên lĩnh vực chính trị là sự phai nhạt, từ bỏ mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; nhận thức sai lệch, từng bước phủ nhận những nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước. Tán dương chủ nghĩa tư bản, đề cao, tuyệt đối hóa các quan điểm, tư tưởng phi mácxít. Phê phán, tiến tới phủ nhận quan điểm, đường lối, chính sách, pháp luật Nhà nước. Có những hoạt động chống lại Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

    Từ những biểu hiện trên, để đấu tranh ngăn chặn tình trạng “tự chuyển hóa”, “tự diễn biến” và đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên mặt trận chính trị - tư tưởng, mọi cán bộ đảng viên cần phải thường xuyên giáo dục chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước. Đề cao tinh thần tự phê bình và phê bình trong các tổ chức đảng . Nêu cao đạo đức cách mạng “cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”, khắc phục chủ nghĩa cá nhân, tích cực vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng và các hiện tượng tiêu cực ngay trong cơ quan, đơn vị mình, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên. Luôn giữ gìn, củng cố đoàn kết, thống nhất vững chắc trong Đảng, chống những biểu hiện cục bộ, địa phương, phe cánh, “lợi ích nhóm”.

 

Đáu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ phải đúng hướng và có hiệu quả

     Để cuộc đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở nước ta hiện nay được đúng hướng và có hiệu quả, cần nhận thức đúng đắn và quán triệt sâu sắc quan điểm chỉ đạo của Đảng là: “Nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật. Kết hợp giữa “xây” và “chống”; “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách”. Cụ thể bao gồm:

    Một là, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ở Việt Nam hiện nay, thực chất là cuộc đấu tranh trong nội bộ cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Hai là, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn dân.

    Ba là, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ phải tiến hành đồng bộ trên tất cả lĩnh vực với những nội dung, hình thức, biện pháp đa dạng, linh hoạt, hiệu quả.

    Bốn là, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ phải tiến hành thường xuyên, liên tục, lâu dài, có sự phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành, các tổ chức và lực lượng.

    Năm là, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ phải kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa “phòng” và “chống”, giữa “xây” và “chống”, trong đó lấy “phòng”, “xây” là chính.

    Việc xác định đúng đắn các hình thức, biện pháp đấu tranh là vấn đề đặc biệt quan trọng trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở nước ta hiện nay. Hình thức, biện pháp phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” rất đa dạng, phong phú, bao gồm các hình thức của công tác tư tưởng, tổ chức, chính sách; các hình thức, biện pháp về hành chính, kinh tế, pháp luật... trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, đồng thời thường xuyên được đổi mới phù hợp với sự phát triển của tình hình.

Vận dụng phong cách dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào công tác dân vận ở Đảng bộ Khối Các cơ quan Trung ương

 Vận dụng phong cách dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào công tác dân vận ở Đảng bộ Khối Các cơ quan Trung ương

   
Toàn cảnh Tọa đàm.

Toàn cảnh Tọa đàm.

Các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Nguyễn Văn Thể, Bí thư Đảng ủy Khối; Phạm Tất Thắng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Dân vận Trung ương cùng PGS, TS. Vũ Trọng Lâm, Tổng Biên tập - Giám đốc Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật; Lại Xuân Lâm, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Khối chủ trì Tọa đàm.

Nội dung phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ

     Nội dung phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ bao gồm toàn bộ các nội dung công tác “phòng” và nội dung đấu tranh “chống” trong mối quan hệ chặt chẽ và thống nhất với nhau, cụ thể như sau:

    Thứ nhất, ngăn ngừa, triệt tiêu nguồn gốc, nguyên nhân làm nảy sinh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Trong đó, phải hết sức chú ý đấu tranh khắc phục tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch.

Thứ hai, khắc phục những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên. Thực hiện nội dung này, cần tiến hành đấu tranh chống những tư tưởng, biểu hiện: Phản bác, phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ; đòi thực hiện “đa nguyên, đa đảng”…

    Thứ ba, ngăn ngừa, khắc phục tác hại “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong xã hội. Đó là việc thực hiện các nội dung đấu tranh để ngăn ngừa, khắc phục tác hại của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong mỗi con người và tổ chức; làm cho những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mất khả năng gây tác hại, không còn lây lan trong đời sống xã hội, dần dần bị triệt tiêu, loại bỏ trong mỗi con người và tổ chức.

    Thứ tư, xây dựng con người, đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức theo chuẩn mực phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực, phong cách sống, làm việc khoa học. Trong nội dung này, đặc biệt cần thực hiện tốt nội dung xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức; nhất là xây dựng về phẩm chất, năng lực, đạo đức, lối sống, phong cách sống, tác phong công tác đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ, theo đúng chuẩn mực đạo đức xã hội chủ nghĩa, chuẩn mực đạo đức cán bộ, đảng viên.

    Thứ năm, xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ. Điều đó không những tạo nên khả năng đề kháng, miễn dịch, bảo đảm cho mỗi cán bộ, đảng viên, các tổ chức đảng và toàn Đảng không bị mắc vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, mà còn tạo nên động lực to lớn, sức mạnh nội sinh để giành thắng lợi trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

    Thứ sáu, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhằm phát huy sức mạnh nội sinh của cả dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN, không để cho các thế lực thù địch lợi dụng những yếu kém, bất cập, bất đồng, bất hòa, mâu thuẫn giữa các dân tộc, tôn giáo, các giai cấp, các tầng lớp xã hội, giữa Đảng, Nhà nước, đoàn thể CT-XH với nhân dân; giữa đồng bào ở trong nước với đồng bào định cư ở nước ngoài để thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong xã hội ta.

Kiên quyết phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ

 

    Diễn biến mới, phức tạp và khó nhận diện của biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đòi hỏi chúng ta phải hành động kiên quyết và khôn khéo để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ tổ chức, tạo ra hệ “miễn dịch” bảo vệ cán bộ, đảng viên.  để nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên dưới tác động của công nghiệp 4.0 cần có những giải pháp đồng bộ, sát thực với điều kiện, diễn biến thực tế. Trong đó, cần tăng cường giáo dục chủ nghĩa Mác - Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng nhằm nâng cao trình độ lý luận chính trị, xây dựng bản lĩnh chính trị, tư tưởng vững vàng cho cán bộ, đảng viên. Đây chính là trang bị cho cán bộ, đảng viên cả “thanh kiếm” và “khiên chắn” để tăng cường “sức đề kháng”, tạo hệ “miễn dịch” trong tư tưởng, nhận thức của mỗi người trước sự lôi kéo của các thế lực thù địch.

    Cùng với đó là phát huy vai trò của tổ chức Đảng để ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ cơ sở. Mỗi cấp bộ đảng cần làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, nhất là nắm và giải quyết vấn đề chính trị hiện nay; quản lý chặt chẽ tình hình tư tưởng chính trị; kịp thời phát hiện những nhận thức lệch lạc và giáo dục, định hướng, giải quyết tốt để tạo sức đề kháng từ phía tổ chức. Đồng thời, đầu tư, hiện đại hóa các phương tiện, công cụ truyền thông để tạo điều kiện thuận lợi cho đấu tranh, vạch trần những âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch. Các chiêu thức chống phá tinh vi đòi hỏi công tác đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng, phản bác quan điểm sai trái, thù địch bằng lý luận sắc bén, thuyết phục; khai thác tốt vai trò công nghệ để giám sát các thông tin độc hại ngay từ nguồn phát tán để ngăn chặn từ xa; mở rộng tối đa phạm vi bao phủ của thông tin chính thống trên hệ sinh thái truyền thông, tạo khả năng áp đảo cần thiết trong các loại hình chiến tranh thông tin; sử dụng công nghệ để vạch trần, chỉ ra những mánh khóe, thủ đoạn, âm mưu ẩn chứa tinh vi trong những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Bên cạnh đó, cần ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyền, giáo dục, định hướng tư tưởng cho cán bộ, đảng viên trước những tiêu cực, mặt trái, những vấn đề chính trị - xã hội phức tạp. Phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của mỗi cán bộ, đảng viên trong việc tự tu dưỡng, tự học tập để nâng cao trình độ, bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng. Đó là con đường tự thân nhằm nâng cao sức đề kháng thông qua khả năng tự nhận biết, tự phân loại, sàng lọc và định hướng thông tin để tự bảo vệ mình, bảo vệ tổ chức trước các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch; không để lực lượng thù địch có cơ hội lợi dụng, mua chuộc, lôi kéo, chống phá.

Nhận diện, đấu tranh với “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ

      - Thời gian qua, lợi dụng thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (công nghiệp 4.0), các thế lực thù địch, phản động đã thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đây là âm mưu, thủ đoạn nham hiểm, thể hiện rõ tính chất, mức độ phức tạp của tình hình để có các biện pháp đấu tranh, ngăn chặn hiệu quả, làm giảm nguy cơ dẫn đến các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngay trong nội bộ Đảng.

    Thông qua là các trang mạng xã hội, các diễn đàn, hệ thống truyền thông đa phương tiện, các thế lực thù địch gieo rắc các thông tin xấu, độc, xuyên tạc, tấn công trực diện, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm phá hủy nền tảng tư tưởng của Đảng, bản chất cách mạng của Đảng và Nhà nước. Với luận điệu xuyên tạc được lặp đi lặp lại nhiều lần, các thế lực thù địch sử dụng công nghệ để tạo ra sự “thu hút” ảo, như số lượng người đọc, người bình luận, người chia sẻ “khủng” để gây chú ý, hoài nghi, hoang mang và dần làm lung lay tư tưởng của một số cán bộ, đảng viên. Chúng đội lốt, nhân danh “công lý”, “tập thể”, “quyền dân sự” để lập các hội, nhóm nhằm tập hợp, lôi kéo một số cán bộ thoái hóa, biến chất; lập ra cái gọi là “thư ngỏ”, “tâm thư”, “kiến nghị” rồi phát tán nội dung trên các trang mạng xã hội hòng làm nhiễu loạn tình hình.

    Chúng còn tận dụng công nghệ thông tin, công nghệ trí tuệ nhân tạo để đầu tư tài chính, công nghệ, con người cho lĩnh vực truyền thông nhằm tuyên truyền, xuyên tạc, vu khống, lôi kéo, dần làm “đổi màu” truyền thông, tách truyền thông khỏi sự lãnh đạo của Đảng. Chúng triệt để lợi dụng công nghệ để đầu tư các sản phẩm truyền thông xấu, độc, phản giá trị; khoét sâu vào trí tò mò, thích cái mới lạ, tin giật gân về các vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội để nhanh chóng lan tỏa trên môi trường mạng toàn cầu. Thực tế cho thấy, một số cán bộ, đảng viên sau khi bị tiêm nhiễm thông tin tiêu cực, độc hại đã tỏ ra hoài nghi về con đường cách mạng, có tư tưởng xét lại một số chủ trương của Đảng, như đảng viên làm kinh tế tư nhân, phát triển kinh tế tư nhân hay vấn đề kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa... Họ hoài nghi và cho rằng, đây chính là biểu hiện, là minh chứng về sự dần “đổi màu” của Đảng, của chế độ…

Mõi cán bộ, đảng viên phải nhận diện rõ và kiên quyết đấu tranh chống những âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch trên không gian mạng