Thứ Năm, 7 tháng 12, 2023

Thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa Bộ Tư lệnh BĐBP Việt Nam và Cục Quản lý Di dân Quốc gia Trung Quốc

Nhận lời mời của đồng chí Hứa Cam Lộ, Thứ trưởng Bộ Công an kiêm Cục trưởng Cục Quản lý Di dân Quốc gia Trung Quốc, Đoàn đại biểu Bộ Tư lệnh BĐBP do Trung tướng Lê Đức Thái, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Tư lệnh BĐBP làm Trưởng đoàn đã sang thăm và làm việc tại Trung Quốc từ ngày 3 đến ngày 7/12.

Tại hội đàm giữa Cục Quản lý Di dân Quốc gia Trung Quốc và Bộ Tư lệnh BĐBP Việt Nam, đồng chí Hứa Cam Lộ bảy tỏ vui mừng khi quan hệ hai nước Trung Quốc - Việt Nam tiếp tục duy trì và phát triển tích cực; giao lưu và hợp tác trên nhiều lĩnh vực như chính trị, kinh tế - thương mại, quốc phòng - an ninh ngày càng mật thiết và hiệu quả. Cơ quan Di dân và Biên phòng hai nước đã duy trì, thực hiện nghiêm các văn kiện pháp lý về biên giới cũng như thỏa thuận hợp tác song phương, nhất là Thỏa thuận hợp tác giữa Bộ Công an Trung Quốc và Bộ Quốc phòng Việt Nam về việc thiết lập cơ chế phối hợp thực thi pháp luật ba cấp trong kiểm soát Biên phòng khu vực cửa khẩu và quản lý biên giới đất liền.

Đồng chí Hứa Cam Lộ đề nghị, thời gian tới, hai Bên tiếp tục tăng cường, không ngừng củng cố và làm sâu sắc thêm cơ chế hợp tác thực thi pháp luật trên biên giới, đưa mối quan hệ hợp tác giữa hai Bên lên tầm cao mới, thiết thực, hiệu quả, góp phần tích cực giữ vững môi trường ổn định ở khu vực biên giới, cửa khẩu.

Cũng tại hội đàm, Trung tướng Lê Đức Thái trân trọng cảm ơn đồng chí Hứa Cam Lộ đã mời Đoàn đại biểu Bộ Tư lệnh BĐBP sang thăm, làm việc; đồng thời nhất trí với những ý kiến phát biểu của đồng chí Hứa Cam Lộ về quan hệ hai nước nói chung, giữa lực lượng Biên phòng Việt Nam và Di dân Trung Quốc nói riêng.

Trung tướng Lê Đức Thái đề nghị, trên cương vị là lãnh đạo Bộ Công an và Cục trưởng Cục Quản lý Di dân Quốc gia, đồng chí Hứa Cam Lộ tiếp tục quan tâm, chỉ đạo, thúc đẩy đưa mối quan hệ hữu nghị, hiểu biết, tin cậy, đoàn kết, hợp tác giữa Bộ Tư lệnh BĐBP Việt Nam và Cục Quản lý Di dân Quốc gia Trung Quốc phát triển lên tầm cao mới, ngày càng thiết thực, hiệu quả, vì biên giới Việt Nam - Trung Quốc hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển.

Trước đó, tại Hội nghị đánh giá công tác hợp tác thực thi pháp luật tại khu vực biên giới, cửa khẩu, đồng chí Lưu Hải Đào, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Di dân Quốc gia Trung Quốc và Trung tướng Lê Đức Thái đánh giá, công tác phối hợp giữa hai Bên ngày càng không ngừng được củng cố và phát triển, đạt nhiều kết quả tốt đẹp. Nổi bật là, trong điều kiện còn thực hiện cách ly do dịch Covid-19, với quyết tâm chính trị, hai Bên đã tham mưu cho Bộ Quốc phòng Việt Nam và Bộ Công an Trung Quốc tổ chức Lễ ký kết “Thỏa thuận hợp tác giữa Bộ Quốc phòng Việt Nam và Bộ Công an Trung Quốc về việc thiết lập cơ chế phối hợp thực thi pháp luật ba cấp trong kiểm soát Biên phòng khu vực cửa khẩu và quản lý biên giới đất liền” theo hình thức trực tiếp nhân chuyến thăm, làm việc của đồng chí Triệu Khắc Chí, Ủy viên Quốc vụ, Bộ trưởng Bộ Công an Trung Quốc ngày 19/2/2021 tại Việt Nam.

Bên cạnh đó, cơ chế phối hợp thực thi pháp luật ba cấp trong kiểm soát Biên phòng khu vực cửa khẩu và quản lý biên giới đất liền được hai Bên phối hợp vận hành thông suốt; chủ động, linh hoạt duy trì hiệu quả mối quan hệ hợp tác thông qua các hình thức như tổ chức hội đàm trực tuyến, thiết lập và triển khai liên lạc đường dây nóng qua điện thoại, email... thông qua công thư duy trì trao đổi thông tin tình hình cũng như động viên, thăm hỏi, chúc mừng nhau nhân ngày lễ, Tết hai Bên.

Hai Bên đã chủ động, tích cực phối hợp đấu tranh phòng, chống tội phạm và các hoạt động vi phạm pháp luật trên khu vực biên giới, cửa khẩu như: Buôn lậu, vận chuyển hàng hóa trái phép qua biên giới, ma túy, mua bán người, mua bán, vận chuyển trái phép vũ khí, vật liệu nổ, xuất nhập cảnh trái phép,.... Hoạt động tuần tra liên hợp thực thi pháp luật trên biên giới giữa các đơn vị ngày càng đi vào nền nếp với hình thức, nội dung phong phú (phối hợp tuần tra, tuyên truyền pháp luật song ngữ, phát tờ rơi tuyên truyền...) đã góp phần tích cực duy trì an ninh, trật tự an toàn xã hội khu vực biên giới, cửa khẩu cũng như nâng cao nhận thức của nhân dân hai Bên biên giới.

Công tác phối hợp giữa hai Bên trong quản lý cửa khẩu, kiểm soát xuất nhập cảnh, xuất nhập khẩu tại các cửa khẩu (lối mở) cũng đạt nhiều kết quả tích cực. Hai Bên đã phối hợp tham mưu, đề xuất thúc đẩy mở mới, nâng cấp các cặp cửa khẩu; thúc đẩy nghiên cứu triển khai thí điểm mô hình cửa khẩu thông minh (Hữu Nghị/Việt Nam - Hữu Nghị Quan/Trung Quốc) tại cửa khẩu biên giới đất liền; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi và nâng cao hiệu suất thông quan, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc tại các cửa khẩu, đảm bảo các cặp cửa khẩu biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc hoạt động thông suốt và hiệu quả; Mô hình “Kết nghĩa Đồn - Trạm (Chi đội) hữu nghị, chung tay xây dựng biên giới bình yên” tiếp tục được hai Bên duy trì và nhân rộng.

Hai Bên còn tích cực tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương tổ chức kết nghĩa cụm dân cư hai bên biên giới. Đến nay, địa phương hai Bên đã tổ chức kết nghĩa được 62 cặp thôn, bản, cụm dân cư; qua đó, tăng cường quan hệ đoàn kết, hữu nghị, tin cậy, hiểu biết lẫn nhau giữa chính quyền và nhân dân hai bên biên giới.

Tại hội nghị, hai Bên nhất trí tiếp tục duy trì, phát triển, tăng cường các nội dung hợp tác hai Bên đã và đang triển khai, nghiên cứu mở rộng hợp tác các nội dung mà hai Bên cùng quan tâm. Phối hợp triển khai thực hiện Thỏa thuận hợp tác giữa Bộ Quốc phòng, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Công an, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về việc thiết lập cơ chế phối hợp thực thi pháp luật ba cấp trong kiểm soát Biên phòng khu vực cửa khẩu và quản lý biên giới đất liền; nhất là trao đổi thông tin, tình hình liên quan đến công tác đấu tranh với các loại tội phạm, vi phạm pháp luật, đặc biệt tội phạm xuyên biên giới, tội phạm công nghệ cao, khủng bố, phần tử ly khai, chống chính quyền, tội phạm về ma túy ở khu vực biên giới; công tác cải cách thủ tục kiểm tra, kiểm soát cửa khẩu; tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động lưu thông cửa khẩu cần được duy trì và phát huy... Hoạt động trao đổi đoàn các cấp, nhất là Đoàn cấp cao, mô hình “Sứ giả hữu nghị”, kết nghĩa Đồn-Trạm (Chi đội), kết nghĩa cụm dân cư hai Bên biên giới cần được thúc đẩy, mở rộng hơn nữa.

Trong khuôn khổ chuyến thăm và làm việc, Đoàn đã đến thăm, làm việc tại Tổng Trạm kiểm tra biên phòng xuất nhập cảnh tỉnh Thiểm Tây.

 HUYỀN THOẠI "CẦU NGƯỜI"

Những năm tháng chiến tranh trôi qua đã lâu, nhưng ký ức về lấy sức người, dùng vai bắc cầu để vận chuyển thương binh vẫn nguyên vẹn trong lòng bà Giáp Thị Thanh Tiến-nữ thanh niên xung phong (TNXP) năm xưa.
Vào thăm Bảo tàng Bến Tre, chúng tôi rất xúc động khi xem bức ảnh lịch sử độc đáo do phóng viên ảnh Thông tấn xã Việt Nam chụp các nữ TNXP Chiến khu Đ, Tây Ninh đứng ngâm mình giữa dòng nước xiết, dùng vai nâng ván cầu cho những cáng thương binh đi qua suối. Một trong những nữ TNXP trong ảnh, miệng nở nụ cười tươi, đội nón tai bèo làm trụ cầu phía trái là bà Giáp Thị Thanh Tiến, sinh năm 1944, quê ở chợ Bang Tra, xã Nhuận Phú Tân, huyện Mỏ Cày (nay là Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre). Lúc ấy, bà Tiến mới 24 tuổi. Nghe hướng dẫn viên thuyết minh và cảm phục các nữ TNXP, chúng tôi quyết định đi tìm người trong ảnh.
Bà Giáp Thị Thanh Tiến là con út trong gia đình có 6 người con, nhưng chỉ có một trai. Như bao gia đình khác ở Bến Tre sau Phong trào Ðồng khởi, gia đình Út Tiến cũng thi đua tòng quân đánh giặc. Út Tiến xung phong gia nhập lực lượng TNXP khi mới 16 tuổi. Từ Bến Tre, Út Tiến cùng đơn vị TNXP C2012 (đơn vị phục vụ mặt trận, thuộc Trung đoàn Bình Giã, Sư đoàn 9) hành quân về miền Ðông. Những ngày đầu làm nhiệm vụ cáng thương, tải đạn, đôi vai con gái sưng vù, toàn thân đau nhức. Và nhớ nhà! Nhiều đêm nước mắt chảy lặng lẽ, nếu ở gần có lẽ chị đã chạy ù về bên mẹ. Nhưng lời mẹ dặn “nhiệm vụ càng khó khăn càng vinh quang, Út à!” đã động viên Út Tiến tiếp bước.
Theo lời kể của bà Tiến, chiến trường càng ác liệt, sinh hoạt cũng kham khổ theo. Những trận bị địch vây 5-6 ngày, thức ăn chỉ có lon cơm khô, rau rừng, măng luộc chấm muối. Có lần đi tải lương thực, vừa qua trảng thì địch tràn đến. Không đi tiếp cũng không trở về được, đói, chưa có kinh nghiệm nên các chị rủ nhau bẻ măng luộc ăn. Mươi phút sau, ai nấy ôm bụng, sùi cả bọt mép... Hy sinh, gian khổ nhưng mọi người đều yêu thương, đoàn kết, chăm nhau từ chuyện nhỏ nhất.
Khi được hỏi về bức ảnh “Cầu người”, bà Tiến kể: “Hôm đó xảy ra đụng độ giữa Quân Giải phóng với biệt kích Mỹ trong một cánh rừng ở huyện Tân Biên (Tây Ninh). Nhiều chiến sĩ bị thương, trung đội TNXP của chúng tôi chịu trách nhiệm chuyển thương về tuyến sau. Lúc đó mùa mưa nên sông suối ở Chiến khu Đ nước rất lớn. Bức ảnh “Cầu người” chụp trên con suối Nhum, tỉnh Tây Ninh, năm 1968. Buổi sáng, khi chúng tôi hành quân qua thì suối cạn, đến chiều mưa đổ ào ào, nước suối dâng cao. Nhiệm vụ của TNXP là không để sót, không để đồng đội bị thương lần hai. Bởi vậy, khi thấy nước suối dâng cao, chỉ huy nói phải chặt cây bắc cầu đưa đồng đội qua. Lúc đó, chúng tôi phát hiện ở gần đó có một công ty thực phẩm bỏ lại rất nhiều mảnh ván, thế là tất cả nhanh chóng rút ván lội suối bắc cầu cho đoàn cứu thương qua”.
Im lặng hồi lâu, bà Tiến nghẹn ngào: “Trong số các thương binh, nhiều chiến sĩ của ta bị thương nặng nhưng luôn nghĩ cho đồng đội mà không màng đến bản thân. Có đồng chí bị bom đạn làm cho khuôn mặt biến dạng và nghĩ mình khó qua khỏi nên khi chúng tôi đến, các đồng chí ấy nói: “Anh bị nặng, không sống được đâu, các em đi cứu các đồng chí khác đi”. Nghe đồng đội nói vậy mà lòng chúng tôi đau thắt lại...".
Nói về nụ cười của mình khi ấy, bà Tiến kể: “Khi anh em bắc cầu, lúc đó, tôi cũng nhảy xuống suối. Lúc đứng dưới suối làm cầu, nhìn những cáng thương binh đi qua, tôi hy vọng các anh được cứu sống nên nở nụ cười lạc quan. Và nhà nhiếp ảnh Phạm Thính đã ghi lại được khoảnh khắc đó”.
Sau ngày thống nhất đất nước, mãi đến năm 1998, bà Tiến mới thấy bức ảnh “Cầu người” lần đầu tiên. “Lúc thấy bức ảnh, tôi thật sự xúc động, sau đó cố gắng đi tìm tác giả nhưng không được. Năm 2008, trong cuộc triển lãm “Phụ nữ Sài Gòn-Gia Định trong năm Mậu Thân 1968” do Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ tổ chức tại TP Hồ Chí Minh, tôi được ban tổ chức mời lên dự. Tôi tìm ban tổ chức hỏi thăm tác giả bức ảnh. Sau đó, chúng tôi gặp nhau thì tôi mới biết tác giả bức ảnh là đồng chí Phạm Thính. Hai chúng tôi thân thiết từ đó...”, bà Tiến kể.
Bức ảnh "Cầu người" chụp năm 1968.

 VẾT THƯƠNG NGƯỜI LÍNH VỊ XUYÊN!

Nhìn bề ngoài đẹp lắm phải không em?
Sau lớp vải người thiếu chết sống lại
Lính Vị Xuyên của một thời nhớ mãi
Những vết thương trông thật giống bản đồ!
Sẽ có người hỏi anh này ở mô?
Xin trả lời lính Vị Xuyên... Thanh Hóa
Nơi đánh giặc suốt mười năm ròng rã
Nơi năm ngàn người ngã xuống... không về.
Nơi liệt sỹ lúc sống viết lời thề
Sống bám đá, chết hóa đá, thành bất tử
Nơi biên cương đất một ly quyết giữ
Thà hy sinh không khuất phục quân thù.
Có nhiều người đất ôm trọn lời ru
Người sống sót vết tích đầy cơ thể
Em hãy nhớ chiến tranh là vậy nhé
Những chứng minh cho thế hệ sau này.
Lúc trở trời đau đớn mấy người hay
Ai không hiểu lính là sai em nhỉ
Rảnh lên phây vui buồn cùng thủ thỉ
Lời động viên xem nó quý hơn vàng.
Dẫu cuộc đời lịch sử có sang trang
Thì người lính...vẫn sẵn sàng - xung trận!
Sưu tầm

Tỉnh táo trước mưu đồ “tẩy não” giới trẻ

Không thể phủ nhận biểu hiện “nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị” là thực tế tồn tại ở một bộ phận đoàn viên, thanh niên hiện nay.

Thế nhưng, vin vào biểu hiện đó, thời gian qua, các thế lực thù địch cố tình quy chụp, đánh đồng hiện tượng thành bản chất, hoặc bịa đặt những điều không có trong thực tế. 
Thực tế cho thấy, lực lượng phản động, thù địch thường xác định giới trẻ là một trong những đối tượng chủ yếu cần mua chuộc, lôi kéo, nhất là trên phương diện tư tưởng, tâm lý. Thực hiện âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, chúng chủ ý bám vào các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước và diễn biến đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội theo dòng thời sự chủ lưu để tăng cường các hoạt động chống phá.

 NỤ CƯỜI BẤT TỬ" BÊN THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ

81 ngày đêm rực lửa bi tráng ở thành cổ, sự sống và cái ch.ết mong manh là thế nhưng nụ cười lạc quan, yêu đời của người lính tuổi đôi mươi là một trong những câu trả lời cho câu hỏi vì sao dân tộc ta đã chiến thắng trong cuộc trường chinh, trường kỳ gian khổ…
Không than thân trách phận, không chịu khuất phục trước hoàn cảnh, không trông chờ, ỷ lại vào chế độ chính sách... đó là những yếu tố hội tụ ở một Cựu chiến binh quen thuộc với nụ cười chiến thắng bên thành cổ Quảng Trị - Cựu chiến binh Lê Xuân Chinh.
Với suy nghĩ lạc quan đó nên ngay cả trong thời điểm bi đát nhất: từ quê hương Thái Bình lên Điện Biên phát triển vùng kinh tế mới, mấy chục năm không được hưởng chế độ thương binh do mất giấy tờ, nghèo đói, bệnh tật, con cái nheo nhóc, ông chưa một lần oán trách hay đòi hỏi chế độ gì từ nhà nước.
Đến nay khi đã ở tuổi xế chiều, niềm vui lớn nhất của ông là: hàng ngày chăm sóc cháu gái, trồng rau, nuôi gà và thỉnh thoảng gặp mặt đồng đội cũ. Cũng bởi nụ cười lạc quan vốn có trong con người ông nên trong thời khắc chiến tranh, ông trở thành nhân vật chính của tuyệt phẩm: Nụ cười chiến thắng bên thành cổ Quảng Trị.
Câu chuyện về tinh thần lạc quan của Cựu chiến binh Lê Xuân Chinh đã và đang là nguồn cảm hứng cho thế hệ trẻ vươn lên trong cuộc sống./.

Bộ đội biên phòng Tây Ninh phá loạt vụ án, giữ vững an ninh biên cương

Với nhiệm vụ quản lý, bảo vệ 240 km đường biên giới, BĐBP Tây Ninh luôn xác định công tác quản lý, đảm bảo an ninh chính trị khu vực biên giới là nhiệm vụ hàng đầu.

Tuyến biên giới tỉnh Tây Ninh có vị trí quan trọng về quốc phòng - an ninh, đối ngoại và phát triển kinh tế - xã hội đối với khu vực Đông Nam Bộ.

Với nhiệm vụ quản lý, bảo vệ khoảng 240km đường biên giới quốc gia, địa bàn hoạt động thuộc 20 xã, phường, thị trấn của 5 huyện biên giới, trên tuyến biên giới của tỉnh có 2 cửa khẩu quốc tế (Mộc Bài và Xa Mát) và nhiều cửa khẩu phụ, nhiều đường tiểu mạch, đường mòn…

Nhiều năm qua, Bộ đội Biên phòng (BĐBP) tỉnh Tây Ninh luôn xác định công tác quản lý bảo vệ, đảm bảo an ninh chính trị khu vực biên giới là nhiệm vụ chính trị trọng tâm hàng đầu. Cũng nhờ đó, tình hình an ninh trật tự trên địa bàn luôn ổn định, mối quan hệ giữa lực lượng BĐBP và người dân luôn được duy trì tốt đẹp.

Để hoàn thành nhiệm vụ, BĐBP tỉnh phải có quyết tâm cao, vận dụng triệt để các biện pháp công tác trong việc phòng ngừa, ngăn chặn các loại tội phạm, bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh biên giới.

Đại tá Phạm Đình Triệu, Chính uỷ Bộ đội Biên Phòng tỉnh Tây Ninh cho biết, công tác quản lý bảo vệ, đảm bảo an ninh chính trị khu vực biên giới là nhiệm vụ chính trị trọng tâm của BĐBP nói chung cũng như lực lượng biên phòng Tây Ninh nói riêng.

Theo đó, Ban Thường vụ Đảng ủy BĐBP tỉnh đã chỉ đạo các chuyên ngành chủ động xây dựng kế hoạch phối hợp với các lực lượng đứng chân trên địa bàn biên giới thực hiện nhiệm vụ bảo vệ biên giới và giữ gìn an ninh chính trị khu vực biên giới.

Bên cạnh việc phối hợp thực hiện tốt các nghị định, quy chế phối hợp, kế hoạch… BĐBP tỉnh thường xuyên trao đổi thông tin, phối hợp chặt chẽ với lực lượng chức năng của Campuchia trong tuần tra, kiểm soát biên giới.

Phối hợp giải quyết kịp thời các vấn đề nảy sinh trên tuyến biên giới, tuyên truyền vận động nhân dân hai bên biên giới thực hiện nghiêm Luật Biên giới quốc gia, tiến trình phân giới cắm mốc, làm đường tuần tra biên giới, chính sách đối ngoại của Đảng và nhà nước ta, góp phần thúc đấy, củng cố mối quan hệ láng giềng hữu nghị, đoàn kết, họp tác cùng phát triển.


KHÔNG NGỪNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN ĐỂ ĐẢNG NGÀY CÀNG VỮNG MẠNH

Đất nước ta đang bước vào một giai đoạn cách mạng mới, dân tộc đang đứng trước những thời cơ, vận hội to lớn để phát triển. Để hiện thực hóa được “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên, liên tục rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng. 

Không thể có một hình thức, phương thức tối ưu, duy nhất để giáo dục đạo đức, cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Đó phải là một quá trình, là sự kết hợp bởi nhiều yếu tố, nhưng quan trọng hơn hết là sự “tự nhận thức”, “thẩm thấu chủ động”, thường xuyên “tự răn, tự rèn” để đạo đức cách mạng trở thành “cốt cách”, là “lẽ sống” của mỗi cán bộ, đảng viên.
Thứ nhất, luôn xác định rõ công tác xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, quan trọng hàng đầu; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên là trọng yếu.
Các cấp ủy đảng phải thực sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng Đảng mạnh trên tất cả các mặt: Chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo theo hướng quyết liệt, linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả, sát thực tiễn; chủ động đi sâu, đi sát cơ sở để nắm bắt tình hình địa phương, đơn vị, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc từ cơ sở; bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của cấp ủy đảng trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội. 
Nhiệm vụ hàng đầu của công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng là việc tổ chức nghiên cứu học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng. Nội dung này phải được tiến hành nghiêm túc, gắn với xây dựng chương trình hành động, kế hoạch thực hiện; chú trọng sơ kết, tổng kết thực tiễn, phải gắn việc học tập với hành động của mỗi cán bộ, đảng viên.
Chú trọng việc thực hiện các nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đặc biệt là các Nghị quyết Trung ương 6 (khóa VIII), Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII, XIII) và các chỉ thị, kết luận của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Triển khai quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả công tác đấu tranh ngăn chặn, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, nhất là trên không gian mạng để góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Triển khai các giải pháp củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Chú trọng xây dựng, giữ gìn mối đoàn kết thống nhất trong Đảng và trong toàn xã hội; thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình... Coi trọng công tác bồi dưỡng, kết nạp đảng viên cả về số lượng và chất lượng.
Cấp ủy, chính quyền các cấp phải thường xuyên rà soát, đánh giá đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý để bố trí phù hợp. Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, lối sống lành mạnh; không quan liêu, tham nhũng; có tinh thần trách nhiệm cao trước Đảng và nhân dân; có tư duy sáng tạo, kiến thức vững vàng; phong cách làm việc khoa học, nói đi đôi với làm. 
Trong công tác bố trí, sử dụng cán bộ, phải cân nhắc kỹ việc lựa chọn, sắp xếp bố trí; căn cứ vào năng lực, sở trường công tác của cán bộ để giao việc phù hợp; giao việc, bổ nhiệm những cán bộ trẻ, có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ, năng lực công tác, khả năng phát triển vào các chức danh lãnh đạo, quản lý; đảm bảo tính liên tục, kế thừa, dân chủ, khách quan trong công tác cán bộ. 
Công tâm, khách quan trong đánh giá cán bộ. Coi trọng đánh giá về đức và tài, trong đó đạo đức là nền tảng, là “cái gốc”; đánh giá đúng trình độ, năng lực, sở trường; lấy tiêu chuẩn hiệu quả, chất lượng công việc làm thước đo quan trọng để đánh giá cán bộ.
Thứ hai, cán bộ, đảng viên phải thường xuyên “sửa đổi lối làm việc”, “quét sạch chủ nghĩa cá nhân”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định muốn sửa đổi lối làm việc thì phải thực hiện tốt nhất việc “phê bình và sửa chữa”. “Mục đích của phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đứng hơn. Cốt để đoàn kết và thống nhất nội bộ”; “Phải sửa đổi lối làm việc của Đảng” để mỗi cán bộ, mỗi đảng viên làm “đúng”, làm “khéo”, có như vậy “thành tích của Đảng còn to tát hơn nữa”. Người lưu ý: “Đảng viên và cán bộ cũng là người. Ai cũng có tính tốt và tính xấu. Song đã hiểu biết, đã tình nguyện vào một Đảng vì dân, vì nước, đã là một người cách mạng thì phải cố gắng phát triển những tính tốt và sửa bỏ những tính xấu.
Vì tính xấu của một người thường chỉ có hại cho người đó; còn tính xấu của một đảng viên, một cán bộ, sẽ có hại đến Đảng, có hại đến nhân dân”; “...các cơ quan, các cán bộ, các đảng viên, mỗi người mỗi ngày phải thiết thực tự kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình. Hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết tự sửa chữa, và giúp đồng chí mình sửa chữa. Phải như thế, Đảng mới chóng phát triển, công việc mới chóng thành công. Nếu không sửa chữa khuyết điểm của ta, thì cũng như giấu giếm tật bệnh trong mình, không dám uống thuốc, để bệnh ngày càng nặng thêm, nguy đến tính mệnh”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng lưu ý “...trong Đảng ta còn có những người chưa học được, chưa làm được bốn chữ “chí công vô tư” cho nên mới mắc phải chứng chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân là một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm”.
Theo Người, những căn bệnh nguy hại sinh ra từ “chủ nghĩa cá nhân” là: tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh, thiếu kỷ luật, kéo bè kéo cánh, hẹp hòi... Để chữa trị những căn bệnh này cần phải: “Mỗi đảng viên, mỗi cán bộ, cần phải thật thà tự xét và xét đồng chí mình, ai có khuyết điểm nào, thì phải thật thà cố gắng tự sửa chữa và giúp sửa chữa lẫn nhau. Thang thuốc hay nhất là thiết thực phê bình và tự phê bình”. 
Thứ ba, cán bộ, đảng viên phải luôn tự ý thức về vai trò tiên phong, gương mẫu.
Tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên phải được thể hiện ở mọi lúc, mọi nơi, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Điều đó không thể tự nhiên mà có, mà phải do chính người cán bộ, đảng viên tu dưỡng, rèn luyện hằng ngày, thông qua quá trình phấn đấu không ngừng mới có được. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Người đảng viên - dù công tác to hay nhỏ, địa vị cao hay thấp - ở đâu cũng phải làm gương mẫu cho quần chúng... Mà muốn cho quần chúng hăng hái thi hành, thì người đảng viên ắt phải xung phong làm gương mẫu để quần chúng bắt chước, làm theo”. Để làm tốt điều đó, Người yêu cầu, cán bộ, đảng viên “phải làm gương mẫu trong lao động sản xuất và trong học tập”; “phải xung phong gương mẫu trong mọi công việc, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân”; “phải gương mẫu, phải thiết thực, miệng nói tay làm để làm gương cho nhân dân”.
Cán bộ, đảng viên phải tiên phong, gương mẫu bởi đây là những người nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vì thế “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, dẫn dắt quần chúng trong mọi phong trào cách mạng. 
Không chỉ trong công việc, mà trong cuộc sống hằng ngày, cán bộ, đảng viên không những phải có trách nhiệm tự tu dưỡng tốt để trở thành con người có đời tư trong sáng, mà cũng phải là tấm gương để gia đình, người thân và quần chúng noi theo./.

 THỜI ĐẠI HỒ CHÍ MINH


Khi những anh hùng ngẩng cao đầu ngã xuống
Miệng hô vang Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh
Lịch sự như một con tài cất tiếng còi cháy bỏng
Báo ga này ga Hồ Chí Minh
Khi đoán cháu con lại nối tiếp cha anh
Tiến trên đường Hồ Chí Minh đuổi giặc
Lịch sử sẽ khởi hành trên con đường ngắn nhất
Vào tương lai thơi đại Hồ Chí Minh
Khi những em bé đến trường trong tình thương bè bạn
Những dân tộc vùng cao viết chữ cụ Hồ trong núi bắng
Lịch sử sẽ lật từng trang nhanh
Trong ánh sáng thời đại Hồ chí Minh
Từ đau thương ta đứng dạy quên mình
Lẽ sống là con đường diệt Mỹ
Dáng vóc lớn khi ta cầm vũ khí
Việt Nam hùng vĩ nước non này
Trên đất nước nghìn năm những nông dân lại tập cấy cày
Nhà bác học phải nghĩ suy từ ba sào chua mặn
Năm tấn thóc để làm thép gang mặt trận
Cũng là bài ca theo suốt những đoàn quân
Ta lại có tình yêu sáng ngời hơn trăm nét hoa văn
Có nỗi vui một câu ca dao, một trang Kiều mơ ước
Có trời xanh Ba Đình ai cũng nhìn ngắm được
Có đời ta trọn vẹn giữa đời dân
Ta thêm yêu tin mỗi thước đất ta nằm
Đường ra trận ta thương từng bóng lá
Ngủ hầm sâu ta quý từng lớp gió
Đất nước này ta yêu ta thân
Ôi đất nước Hồ Chí Minh....

Đảng viên kèm cặp, giúp đỡ quần chúng

Thời gian qua, Đảng ủy, Ban giám hiệu Trường Cao đẳng Kỹ thuật Quân sự 1 (Tổng cục Kỹ thuật) đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo cấp ủy, chỉ huy các cấp triển khai thực hiện hiệu quả mô hình “Đảng viên kèm cặp, giúp đỡ quần chúng”, giúp nhiều quần chúng tiến bộ, được đứng vào hàng ngũ của Đảng.


Chu đáo, tận tình, trách nhiệm là sự quan tâm của các đảng viên dành cho quần chúng được giúp đỡ theo mô hình “Đảng viên kèm cặp, giúp đỡ quần chúng” ở Đảng bộ Trường Cao đẳng Kỹ thuật Quân sự 1. Đại úy Đỗ Thị Út Lộc, giảng viên Bộ môn Văn hóa cơ bản, Khoa cơ bản Kỹ thuật cơ sở, kể lại: "Năm 2021, tôi về trường nhận công tác với không ít bỡ ngỡ ban đầu. Khi ấy, Thiếu tá Nguyễn Thị Hiền, Phó bí thư Chi bộ 1, Trưởng bộ môn Văn hóa cơ bản, Khoa cơ bản Kỹ thuật cơ sở được tổ chức phân công giúp đỡ, kèm cặp tôi. Đồng chí đã thường xuyên trò chuyện, động viên, giúp tôi sớm khắc phục tâm lý tự ti, ngại hòa đồng ban đầu, dần tích cực tham gia các hoạt động tập thể. Cũng từ đó, tôi dần tự tin, nỗ lực thực hiện và đạt một số thành tích trong thực hiện nhiệm vụ chuyên môn. Tháng 6-2022, tôi vinh dự được kết nạp Đảng".

Thực hiện mô hình “Đảng viên kèm cặp, giúp đỡ quần chúng” đã giúp nhiều quần chúng khắc phục được hạn chế cố hữu; hình thành động cơ, động lực phấn đấu học tập, rèn luyện tốt; lạc quan, phấn khởi đón nhận và hoàn thành nhiệm vụ. Cũng qua đó, nhiều quần chúng được lựa chọn tạo nguồn phát triển đảng và được đứng vào hàng ngũ của Đảng. Tiêu biểu như: Thiếu úy QNCN Ngô Minh Tuấn, giáo viên Khoa cơ bản Kỹ thuật cơ sở được Đại úy QNCN Đinh Văn Huy, giáo viên Bộ môn Ngoại ngữ-Tin học, Khoa cơ bản Kỹ thuật cơ sở kèm cặp, giúp đỡ, được kết nạp Đảng tháng 6-2020; Thiếu úy QNCN Vũ Thị Vân Anh, nhân viên Phòng Chính trị, sau khi được Trung tá Đặng Văn Nam, Phó chủ nhiệm Chính trị giúp đỡ, kèm cặp đã tiến bộ nhiều mặt, nhất là về tác phong công tác, chất lượng thực hiện nhiệm vụ và được kết nạp Đảng vào tháng 7-2023.

Vận hành hiệu quả mô hình, từ tháng 7-2021 đến tháng 11-2023, toàn Đảng bộ Trường Cao đẳng Kỹ thuật Quân sự 1 đã phân công 85 cán bộ, đảng viên kèm cặp giúp đỡ 972 quần chúng. Các cấp ủy, chi bộ đã kèm cặp, giúp đỡ, đề nghị cấp ủy cấp trên xem xét, kết nạp 108 quần chúng vào Đảng.

Theo Đại tá Nguyễn Đình Phượng, Phó chính ủy Trường Cao đẳng Kỹ thuật Quân sự 1, đứng trước thực tiễn về đối tượng đào tạo, quản lý tương đối đa dạng, Đảng ủy, Ban giám hiệu nhà trường chủ trương lãnh đạo, chỉ đạo cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị khảo sát, thống kê về tình hình đội ngũ, chủ động lựa chọn, phân công đảng viên kèm cặp, giúp đỡ quần chúng một cách phù hợp, bảo đảm tính thiết thực, hiệu quả. Cùng với đó, cơ quan chức năng đẩy mạnh các hoạt động kiểm tra, giám sát, kịp thời rút kinh nghiệm, chấn chỉnh các biểu hiện hình thức, chiếu lệ trong thực hiện mô hình “Đảng viên kèm cặp, giúp đỡ quần chúng”.

Trên thực tế, triển khai mô hình, cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Đảng bộ Nhà trường triển khai phân công cho cán bộ, đảng viên kèm cặp, giúp đỡ với toàn bộ quần chúng trong cơ quan, đơn vị. Quá trình kèm cặp, đảng viên có trách nhiệm hướng dẫn, giúp đỡ, động viên quần chúng nâng cao nhận thức, tự giác tu dưỡng rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống; rèn luyện các chuẩn mực hành vi đạo đức, cách ứng xử với cấp trên, cấp dưới, với đồng chí, đồng đội và khi tiếp xúc với nhân dân... 

Thiếu tá Ngụy Ngọc Sáng, Chính trị viên Đại đội 6, Tiểu đoàn 2 cho biết: "Để giúp đỡ quần chúng, tôi chủ động tìm hiểu kỹ lý lịch trích ngang của quần chúng; thường xuyên nắm bắt kết quả học-rèn; tìm hiểu những khó khăn của quần chúng thông qua nhiều biện pháp". Còn theo Thiếu tá Nguyễn Thị Hiền, Trưởng bộ môn Văn hóa cơ bản, Khoa cơ bản Kỹ thuật cơ sở thì để thực hiện tốt nhiệm vụ kèm cặp, giúp đỡ quần chúng, trước hết mỗi đảng viên phải đề cao tình yêu thương, trách nhiệm. Trong quá trình công tác, đảng viên cần chủ động gặp gỡ, trò chuyện, bám nắm quần chúng qua hành vi, cử chỉ, lời nói, thái độ, lễ tiết, tác phong; qua giao nhiệm vụ để thử thách từ hoạt động thực tiễn; hay nắm gián tiếp qua hoàn cảnh gia đình và các yếu tố tâm lý của quân nhân thông qua nghiên cứu hồ sơ...

Trong quá trình thực hiện mô hình, Đảng ủy, Ban giám hiệu Nhà trường đồng thời chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát; chế độ báo cáo của các cán bộ, đảng viên trong sinh hoạt hằng tháng về tình hình và kết quả theo dõi, kèm cặp, giúp đỡ quần chúng. Qua đó, từng cán bộ, đảng viên luôn xác định rõ việc thực hiện phân công theo dõi, kèm cặp, giúp đỡ quần chúng là nhiệm vụ, trách nhiệm chính trị của bản thân; thường xuyên phát huy vai trò nêu gương, thực hiện tốt phương châm “trên làm gương mẫu mực, dưới tích cực noi theo”; “nói đi đôi với làm”, giải quyết hài hòa các mối quan hệ trong thực hiện nhiệm vụ. Nhờ vậy, chất lượng xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật của Nhà trường từng bước được nâng lên. Đội ngũ cán bộ, đảng viên đã phát huy được vai trò tiền phong, gương mẫu, thực sự là những tấm gương cho quần chúng noi theo.


 BÔNG HUỆ TRẮNG TRÊN ĐỈNH TRƯỜNG SƠN

Bông Huệ ấy là liệt sĩ nhà báo Phạm Thị Ngọc Huệ. Khi công tác trên rừng Trường Sơn, để tự nhủ mình và đồng đội và cho vơi đi nỗi nhớ mẹ và chị em ở quê Ninh Bình, cô thường hay nhâm nha câu hát:
"Mẹ ơi! Lúc con về là ngày vui chiến thắng.
Nếu con không về là con đã trả nợ non sông".
Trước ngày hy sinh, Huệ đã viết thư về cho gia đình báo tin cho mẹ là vài ngày nữa chị sẽ ra quân và được cử đi học ở Liên Xô. Nhưng ngày đó đã mãi mãi không đến với Huệ, chị đã trở thành "bông Huệ trắng" của núi rừng Trường Sơn bất tử …
Khoảng 6 giờ sáng ngày 20.12.1968 Huệ đã anh dũng hy sinh khi cùng đơn vị vượt trọng điểm Ka Tốc, dưới đỉnh Pu Khao, cách cửa khẩu Lùm Bùm không xa.
Người nữ chiến sĩ nhà báo, bình thường nhưng lại sống rất oai phong thời chiến.

 VÌ SAO GỌI LÀ CHIẾN THẮNG “ HÀ NỘI - ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG? ”

Cách đây 51 năm, đế quốc Mỹ điên cuồng mở cuộc tập kích đường không chiến lược bằng máy bay B.52 oanh tạc, hủy diệt vào Thủ đô Hà Nội, Thành Phố Hải Phòng, Thái Nguyên với dã tâm biến Miền Bắc Việt Nam trở về “thời kỳ đồ đá”, nhưng đã bị quân và dân ta trừng trị phải nhận thất bại thảm hại. Trận chiến này được coi là chiến thắng Điện Biên Phủ thứ 2 của quân dân Việt Nam.
Năm 1954, với thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ đã làm sụp đổ chế độ thực dân kiểu cũ, buộc thực dân Pháp phải ngồi vào đàm phán với Việt Nam, ký Hiệp định Giơ-ne-vơ (tháng 7/1954), chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam và rút hết quân đội về nước.
Còn chiến thắng 12 ngày đêm cuối năm 1972 đã khởi nguồn cho sự sụp đổ chế độ thực dân kiểu mới, buộc đế quốc Mỹ phải ngồi lại đàm phán với ta ở Hội nghị Pa-ri và ký “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” (ngày 27/01/1973).
Hai sự kiện giống nhau về tầm vóc và ý nghĩa, đều giành thắng lợi và buộc kẻ thù phải ngồi đàm phán, ký kết hiệp định công nhận độc lập chủ quyền của Dân Tộc ta; đều là đỉnh cao của khoa học và nghệ thuật quân sự Việt Nam.
Chiến thắng 12 ngày đêm cuối năm 1972 của quân dân miền Bắc và Thủ đô Hà Nội có giá trị lịch sử, ý nghĩa sâu sắc trên nhiều lĩnh vực quân sự, chính trị, ngoại giao,… như trận toàn thắng trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 đã “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” nên gọi đó là chiến thắng “HÀ NỘI – ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG”.

kẻ có tội phải trả giá trước nhân dân

Với đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm chăm lo các gia đình thương binh, liệt sĩ (TB-LS), người có công và đẩy mạnh Phong trào "Ðền ơn đáp nghĩa". Thế nhưng, các thế lực thù địch, phản động đã tìm mọi thủ đoạn để xuyên tạc chính sách này. Nguy hiểm hơn, chúng đã đánh đồng người hy sinh, cống hiến vì cách mạng với người phản bội Tổ quốc.


Cách đây 76 năm, ngày 16-2-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 20/SL đặt ra “chế độ hưu bổng, thương tật, tiền tuất cho thân nhân, tử sĩ”. Để chỉ đạo công tác thương binh, tử sĩ trong cả nước, ngày 26-2-1947, Phòng Thương binh thuộc Chính trị Cục, Quân đội quốc gia Việt Nam (nay là Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam) được thành lập. Tháng 7-1947, thực hiện chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một hội nghị được tổ chức tại xã Hùng Sơn (nay là thị trấn Hùng Sơn), huyện Đại Từ (Thái Nguyên) về công tác TB-LS đã chọn ngày 27-7 làm Ngày Thương binh. Đến năm 1955, Ngày Thương binh đổi thành Ngày TB-LS.

Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, mặc dù đất nước còn gặp nhiều khó khăn, nhưng Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo công tác TB-LS và người có công với cách mạng. Từ năm 1947 đến nay, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng đã được xây dựng, ban hành tương đối toàn diện, đầy đủ và kịp thời, được ghi trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và được chế định thành các văn bản quy phạm pháp luật cùng nhiều chính sách ưu đãi khác; đã thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước thành cơ sở pháp lý cho việc triển khai thực hiện đồng bộ các chính sách, chế độ ưu đãi đối với người có công và thân nhân.

Ngày TB-LS (27-7) có ý nghĩa quan trọng với toàn dân Việt Nam, đó là ngày thể hiện truyền thống “hiếu nghĩa bác ái”, lòng quý trọng và biết ơn của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đối với những chiến sĩ đã hy sinh vì nền độc lập, tự do và thống nhất của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Ngày 27-7 cũng là ngày phát huy tinh thần yêu nước, củng cố và bồi đắp niềm tin vào sự nghiệp cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Vậy mà, thay vì đồng lòng ủng hộ các hoạt động thể hiện đạo lý truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vào dịp kỷ niệm Ngày TB-LS hằng năm vẫn có tiếng nói xuyên tạc về chính sách với TB-LS và người có công. Thâm độc hơn, chúng còn đánh đồng người hy sinh, cống hiến vì cách mạng với người chết trong chiến tranh mà không tham gia, cống hiến gì, thậm chí là kẻ cam tâm làm tay sai cho thực dân, đế quốc, phản bội Tổ quốc.

Từ đầu năm 2023 đến nay, lợi dụng những khó khăn do tình hình thế giới diễn biến phức tạp, một số địa phương tăng trưởng kinh tế chậm lại, người lao động thiếu việc làm, các thế lực thù địch đã viết bài, đưa thông tin, hình ảnh... lên mạng xã hội, trắng trợn xuyên tạc, cố ý lập lờ, đánh tráo giá trị, “đổi trắng thay đen” nhằm gây xáo trộn tư tưởng, tạo hoài nghi về chính sách an sinh xã hội, ưu đãi đối với người có công. Chúng “phân tích” rằng kinh tế Việt Nam chậm phát triển là do gánh nặng của chính sách xã hội, trong đó có chi nhiều cho TB-LS, người có công. Mục đích là nhằm kích động, xuyên tạc chính sách đền ơn đáp nghĩa của Đảng, Nhà nước, hủy hoại truyền thống tốt đẹp “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta.

Gần đây, trên mạng xã hội xuất hiện một số ý kiến của những người tự xưng là “người yêu nước chân chính” kêu gọi cần phải “đối xử công bằng” với những người được gọi là “Quân lực Việt Nam cộng hòa”. Họ cho rằng “Quân lực Việt Nam cộng hòa” cũng “có công bảo vệ Tổ quốc”, vì thế cần phải “tôn vinh những người đã hy sinh vì Tổ quốc”. Có lẽ họ không biết hoặc cố tình không biết rằng chính thể “Việt Nam cộng hòa” năm 1955 mới ra đời một cách bất hợp pháp trên nửa lãnh thổ phía Nam của Việt Nam, đóng vai trò như một thực thể chính trị của người Mỹ nhằm theo đuổi các mục tiêu phục vụ lợi ích riêng của họ.  

Trong khi đó, Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa được thành lập một cách chính danh trên toàn lãnh thổ Việt Nam vào năm 1945, sau cuộc Cách mạng Tháng Tám. Ngay trong năm 1946, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã tiến hành tổng tuyển cử bầu Quốc hội theo chế độ phổ thông đầu phiếu trên toàn quốc với sự tham gia của đông đảo đồng bào và đã có bản Hiến pháp đầu tiên được thông qua. Hai sự kiện này đặt cơ sở pháp lý vững chắc cho nhà nước dân chủ mới khai sinh. Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã ban hành những sắc lệnh, những văn bản pháp lý đầu tiên khẳng định nền độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ từ Bắc chí Nam.

Không những vậy, sau năm 1954, Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa dù đang trên thế thắng về mặt quân sự (với trận Điện Biên Phủ lừng lẫy) vẫn chấp nhận một cuộc tổng tuyển cử sòng phẳng trên tinh thần hòa hợp để thống nhất đất nước đang tạm thời bị chia cắt. Tuy nhiên, cả phía Mỹ và cái gọi là “Việt Nam cộng hòa” đều kiên quyết từ chối thiện chí đó. Theo Hiệp định Geneva, Việt Nam chỉ tạm thời bị chia cắt làm hai miền, giới tuyến quân sự chỉ là tạm thời và không phải là biên giới quốc gia. Theo hiệp định này, hai bên sẽ tiến hành hiệp thương để thống nhất đất nước trong năm 1956. Tuy nhiên, Ngô Đình Diệm-do CIA (Mỹ) “tìm thấy” và đưa về Việt Nam làm “Thủ tướng” của chính phủ bù nhìn Bảo Đại-đã tuyên bố: “Không có tổng tuyển cử gì hết”, trắng trợn vi phạm Hiệp định Geneva và đi ngược lại nguyện vọng thống nhất của dân tộc.

Thực tế lúc đó, Mỹ và phe cánh của Ngô Đình Diệm lo sợ uy tín to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Mặt trận và Đảng Lao động Việt Nam. Chúng tin rằng nếu tiến hành bầu cử tự do, chắc chắn Đảng Lao động Việt Nam của Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ thắng lớn. Do vậy, Ngô Đình Diệm với sự giúp đỡ của người Mỹ đã phải sử dụng nhiều thủ đoạn để củng cố quyền lực của mình. Ngô Đình Diệm đã áp dụng nhiều chiêu thức man rợ để tàn sát những người kháng chiến và người yêu nước chân chính, khủng bố tinh thần nhân dân, củng cố chính quyền phản động của mình, công khai phá hoại Hiệp định Geneva, mưu đồ chia cắt lâu dài đất nước.

Chính thể “Việt Nam cộng hòa” là phi pháp nên các công cụ bạo lực của nó cũng chỉ là lực lượng phản dân, hại nước, làm tay sai cho các thế lực ngoại bang. Quân đội của chính thể “Việt Nam cộng hòa” được gọi là “Quân lực Việt Nam cộng hòa” thường khoe là “chiến đấu cho tự do”, thế nhưng thực chất, họ đã tiếp tay cho “ông chủ” của mình là quân viễn chinh Mỹ để làm hại chính đồng bào mình. Với bản chất đánh thuê (và cả chết thuê nữa), “Quân lực Việt Nam cộng hòa” hoàn toàn phụ thuộc vào Mỹ, thiếu lý tưởng, không thể đại diện cho dân tộc Việt Nam và cũng không thể kế thừa truyền thống quân sự của dân tộc. Đến khi Mỹ rút viện trợ và ngưng yểm trợ thì quân đội này (cùng với chính thể “Việt Nam cộng hòa”) đã suy sụp nhanh chóng...

Với quan điểm nhân đạo và hòa bình, Đảng, Nhà nước và Quân đội ta đã có những chính sách tri ân đối với TB-LS và người có công, đối xử nhân đạo với tù hàng binh, thương xót những người lính Pháp, lính Mỹ tử vong trên lãnh thổ Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng viết: “Tôi nghiêng mình trước anh hồn những chiến sĩ và đồng bào Việt Nam, đã vì Tổ quốc mà hy sinh tính mệnh. Tôi cũng ngậm ngùi thương xót cho những người Pháp đã tử vong. Than ôi, trước lòng bác ái, thì máu Pháp hay máu Việt cũng đều là máu, người Pháp hay người Việt cũng đều là người” (Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, H. 2011, tập 4, tr.510).

Trong nhiều năm qua, chúng ta đã giúp người Mỹ tìm kiếm và kiểm kê quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh ở Việt Nam. Mới đây, lễ hồi hương hài cốt quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh ở Việt Nam (MIA) lần thứ 160 đã diễn ra tại sân bay quốc tế Đà Nẵng. Rất nhiều người đã từng phục vụ trong “Quân lực Việt Nam cộng hòa” trước kia nay trở thành những nhà khoa học, doanh nhân tiêu biểu của Việt Nam. Nếu những gia đình này gặp khó khăn, họ đều được hưởng chính sách an sinh xã hội, không hề có sự phân biệt đối xử. Thế nhưng không thể và không bao giờ được đánh đồng sự hy sinh, cống hiến vì cách mạng của đồng bào, chiến sĩ với những người làm tay sai cho ngoại bang.

Xuyên tạc, phủ nhận, hạ thấp sự hy sinh to lớn của các anh hùng liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người có công là thủ đoạn thể hiện tính chất, bản chất vô ơn bạc nghĩa của những kẻ phản động, thù địch. Họ xuyên tạc nhằm phục vụ mục tiêu chống phá, hòng tạo ra nhận thức lệch lạc, làm suy giảm lòng tin của một bộ phận quần chúng nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đó là tội ác mới, cần phải bị vạch trần và lên án.

76 năm qua kể từ năm 1947, vào mỗi dịp 27-7, nhiều hoạt động tri ân và tôn vinh các anh hùng liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, những người có công với cách mạng đã diễn ra trên khắp mọi miền Tổ quốc. Việc chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công là vinh dự, đồng thời là trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị-xã hội và của quần chúng nhân dân; của thế hệ hôm nay và cả mai sau. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn trân trọng những cống hiến, hy sinh to lớn của đồng bào, chiến sĩ đối với Tổ quốc. Không thể xuyên tạc được chính sách đối với người có công hợp lý, hợp tình, hợp pháp và hợp lòng dân của chúng ta.

"Chiến sĩ đỏ tình nguyện" hiến máu cứu sống bệnh nhân nguy kịch

 Ngày 29.6 lãnh đạo Công an huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông đã nhận được thư cảm ơn của người dân liên quan sự việc Đại úy Đinh Văn Giáp (cán bộ Công an xã Đắk Drô) đã không quản ngại khó khăn, kịp thời hiến máu cứu người vượt qua cơn nguy kịch do bị tai biến. 

 

Trước đó, ngày 25.6 ngay sau khi tiếp nhận thông tin về trường hợp bệnh nhân Trịnh Đình Sỹ (SN 1954, trú tại thị trấn Liên Sơn, huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk) bị tai biến đang cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa vùng Tây Nguyên trong tình trạng tiểu cầu tụt trầm trọng và đang rất cần tiểu cầu B, Đại úy Đinh Văn Giáp, thành viên mô hình dân vận khéo “Chiến sĩ đỏ tình nguyện” của Công an huyện Krông Nô đã nhanh chóng liên hệ đăng ký và tiến hành hiến 2 đơn vị tiểu cầu giúp ông Sỹ qua cơn nguy kịch.

 

“Không quản ngại khó khăn, đường xá xa xôi, anh Đinh Văn Giáp đã tự nguyện đến Bệnh viện hiến liên tiếp 2 đơn vị tiểu cầu, kịp thời giúp bố tôi vượt qua cơn nguy kịch. Tôi và gia đình rất cảm kích trước tình cảm, nghĩa cử cao đẹp của anh Giáp và lực lượng Công an huyện Krông Nô”, anh Trịnh Đình Thành (con trai bệnh nhân Trịnh Đình Sỹ) chia sẻ trong thư.

 

Đại úy Đinh Văn Giáp cho biết, bản thân rất thương cảm những người bệnh cần máu, tiểu cầu để điều trị, nhất là những bệnh nhân nguy kịch. “Việc tham gia hiến máu, hiến tiểu cầu tình nguyện giúp đỡ những người cần máu, cần tiểu cầu làm tôi thấy sống có ích hơn cho cộng đồng, xã hội và trở thành việc làm thường xuyên”. Đại úy Giáp chia sẻ.

 

Trước đó, vào ngày 19.5, sau khi tiếp nhận thông tin về sản phụ Phan Thị Tuyết Minh (SN 1984), trú tại xã Hòa Thắng, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk đang cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa vùng Tây Nguyên trong tình trạng bị băng huyết và hôn mê cần tiểu cầu B, nếu không kịp thời truyền tiểu cầu sẽ dẫn đến tử vong, Đại úy Đinh Văn Giáp đã đến Bệnh viện đa khoa vùng Tây Nguyên để hoàn thiện các thủ tục kiểm tra và tiến hành hiến tiểu cầu.

 

Mặc dù được Đại úy Đinh Văn Giáp hiến 1 đơn vị tiểu cầu nhưng bệnh nhân vẫn chưa có dấu hiệu phục hồi và phải cần thêm 1 đơn vị tiểu cầu nữa mới vượt qua cơn nguy kịch.

 

Để kịp thời cứu bệnh nhân, Đại úy Giáp tiếp tục hiến thêm 1 đơn vị tiểu cầu nữa giúp sản phụ Phan Thị Tuyết Minh vượt qua cơn nguy kịch và tỉnh lại sau đó. Cảm kích trước nghĩa cử cao đẹp của Đại úy Giáp, gia đình chị Phan Thị Tuyết Minh đã viết thư cảm ơn và chia sẻ, lan tỏa việc làm ý nghĩa, nhân văn và giàu lòng nhân ái của Đại úy Giáp lên mạng xã hội, được cộng đồng mạng ghi nhận và đánh giá cao.

 

Mô hình dân vận khéo “Chiến sĩ đỏ tình nguyện” của Công an huyện Krông Nô ra mắt vào ngày 7.4.2023 với 77 thành viên và nòng cốt là lực lượng Công an. Đến nay, mô hình đã có gần 200 thành viên là cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên chức và nhân dân, trong đó có 2 thành viên có nhóm máu hiếm.

 

Mỗi khi nhận được cuộc gọi, thông tin cần hỗ trợ từ bệnh viện và gia đình các nạn nhân trong diện nguy kịch, các thành viên mô hình dân vận khéo “Chiến sĩ đỏ tình nguyện” của Công an huyện Krông Nô đã không ngần ngại khó khăn lập tức lên đường hiến máu, hiến tiểu cầu cứu người.

Chẳng có nơi nào quyền được bình yên như Việt Nam

"Ở Úc bạn có thể nói Việt Nam vi phạm nhân quyền, nhưng điều bạn không thể phủ nhận khi sang Việt Nam là chẳng có nơi nào quyền được bình yên như Việt Nam".

Đó là một góc giá trị nhân quyền thực mà Thủ tướng Úc Anthony Albanese sau khi đến Hà Nội xơi liền mấy cốc bia Trúc Bạch và bún chả Hà Nội đã thốt lên.

Đến Hà Nội không vội được đâu! Đến cả các vị Obama, António Guterres, Olaf Scholz hay Ngoại trưởng Hoa Kỳ Anthony Blinken đến Việt Nam còn tấm tắc khen nhân quyền Việt Nam thì đám phản động Việt tân tư cách gì chê bai nhân quyền Việt Nam thế chai thế lọ nhỉ.

Tôi nói thật, bình yên, đoàn kết, độc lập, tự chủ, tôn vinh giá trị gốc của người Việt cũng là một giá trị nhân quyền mà nhiều quốc gia khác vì mất gốc, mất cội nguồn không có được, còn phải nằm mơ. Ví đâu xa, nhiều kẻ cho rằng Mỹ là thiên đường của nhân quyền nhưng đố các bạn tìm được giá trị gốc của người da đỏ trên đất nước Mỹ đấy! Chỉ có Bún chả Việt Nam mới là thiên đường của thế giới, chả phải là vị nguyên thủ quốc gia nào cũng muốn thưởng thức đó sao?

Chỉ là anh chị em Việt tân mất gốc không thấy được điều này chuyên dõ mõm về bỉ bôi đất nước.

 

KHÔNG THỂ ĐÁNH ĐỒNG GIỮA NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI KẺ PHẢN BỘI

Với đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm chăm lo các gia đình thương binh, liệt sĩ (TB-LS), người có công và đẩy mạnh Phong trào "Ðền ơn đáp nghĩa". Thế nhưng, các thế lực thù địch, phản động đã tìm mọi thủ đoạn để xuyên tạc chính sách này. Nguy hiểm hơn, chúng đã đánh đồng người hy sinh, cống hiến vì cách mạng với người phản bội Tổ quốc.

Cách đây 76 năm, ngày 16-2-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 20/SL đặt ra “chế độ hưu bổng, thương tật, tiền tuất cho thân nhân, tử sĩ”. Để chỉ đạo công tác thương binh, tử sĩ trong cả nước, ngày 26-2-1947, Phòng Thương binh thuộc Chính trị Cục, Quân đội quốc gia Việt Nam (nay là Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam) được thành lập. Tháng 7-1947, thực hiện chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một hội nghị được tổ chức tại xã Hùng Sơn (nay là thị trấn Hùng Sơn), huyện Đại Từ (Thái Nguyên) về công tác TB-LS đã chọn ngày 27-7 làm Ngày Thương binh. Đến năm 1955, Ngày Thương binh đổi thành Ngày TB-LS.
Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, mặc dù đất nước còn gặp nhiều khó khăn, nhưng Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo công tác TB-LS và người có công với cách mạng. Từ năm 1947 đến nay, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng đã được xây dựng, ban hành tương đối toàn diện, đầy đủ và kịp thời, được ghi trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và được chế định thành các văn bản quy phạm pháp luật cùng nhiều chính sách ưu đãi khác; đã thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước thành cơ sở pháp lý cho việc triển khai thực hiện đồng bộ các chính sách, chế độ ưu đãi đối với người có công và thân nhân.

Ngày TB-LS (27-7) có ý nghĩa quan trọng với toàn dân Việt Nam, đó là ngày thể hiện truyền thống “hiếu nghĩa bác ái”, lòng quý trọng và biết ơn của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đối với những chiến sĩ đã hy sinh vì nền độc lập, tự do và thống nhất của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Ngày 27-7 cũng là ngày phát huy tinh thần yêu nước, củng cố và bồi đắp niềm tin vào sự nghiệp cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Vậy mà, thay vì đồng lòng ủng hộ các hoạt động thể hiện đạo lý truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vào dịp kỷ niệm Ngày TB-LS hằng năm vẫn có tiếng nói xuyên tạc về chính sách với TB-LS và người có công. Thâm độc hơn, chúng còn đánh đồng người hy sinh, cống hiến vì cách mạng với người chết trong chiến tranh mà không tham gia, cống hiến gì, thậm chí là kẻ cam tâm làm tay sai cho thực dân, đế quốc, phản bội Tổ quốc.

Từ đầu năm 2023 đến nay, lợi dụng những khó khăn do tình hình thế giới diễn biến phức tạp, một số địa phương tăng trưởng kinh tế chậm lại, người lao động thiếu việc làm, các thế lực thù địch đã viết bài, đưa thông tin, hình ảnh... lên mạng xã hội, trắng trợn xuyên tạc, cố ý lập lờ, đánh tráo giá trị, “đổi trắng thay đen” nhằm gây xáo trộn tư tưởng, tạo hoài nghi về chính sách an sinh xã hội, ưu đãi đối với người có công. Chúng “phân tích” rằng kinh tế Việt Nam chậm phát triển là do gánh nặng của chính sách xã hội, trong đó có chi nhiều cho TB-LS, người có công. Mục đích là nhằm kích động, xuyên tạc chính sách đền ơn đáp nghĩa của Đảng, Nhà nước, hủy hoại truyền thống tốt đẹp “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta.

Gần đây, trên mạng xã hội xuất hiện một số ý kiến của những người tự xưng là “người yêu nước chân chính” kêu gọi cần phải “đối xử công bằng” với những người được gọi là “Quân lực Việt Nam cộng hòa”. Họ cho rằng “Quân lực Việt Nam cộng hòa” cũng “có công bảo vệ Tổ quốc”, vì thế cần phải “tôn vinh những người đã hy sinh vì Tổ quốc”. Có lẽ họ không biết hoặc cố tình không biết rằng chính thể “Việt Nam cộng hòa” năm 1955 mới ra đời một cách bất hợp pháp trên nửa lãnh thổ phía Nam của Việt Nam, đóng vai trò như một thực thể chính trị của người Mỹ nhằm theo đuổi các mục tiêu phục vụ lợi ích riêng của họ.  

Trong khi đó, Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa được thành lập một cách chính danh trên toàn lãnh thổ Việt Nam vào năm 1945, sau cuộc Cách mạng Tháng Tám. Ngay trong năm 1946, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã tiến hành tổng tuyển cử bầu Quốc hội theo chế độ phổ thông đầu phiếu trên toàn quốc với sự tham gia của đông đảo đồng bào và đã có bản Hiến pháp đầu tiên được thông qua. Hai sự kiện này đặt cơ sở pháp lý vững chắc cho nhà nước dân chủ mới khai sinh. Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã ban hành những sắc lệnh, những văn bản pháp lý đầu tiên khẳng định nền độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ từ Bắc chí Nam.

Không những vậy, sau năm 1954, Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa dù đang trên thế thắng về mặt quân sự (với trận Điện Biên Phủ lừng lẫy) vẫn chấp nhận một cuộc tổng tuyển cử sòng phẳng trên tinh thần hòa hợp để thống nhất đất nước đang tạm thời bị chia cắt. Tuy nhiên, cả phía Mỹ và cái gọi là “Việt Nam cộng hòa” đều kiên quyết từ chối thiện chí đó. Theo Hiệp định Geneva, Việt Nam chỉ tạm thời bị chia cắt làm hai miền, giới tuyến quân sự chỉ là tạm thời và không phải là biên giới quốc gia. Theo hiệp định này, hai bên sẽ tiến hành hiệp thương để thống nhất đất nước trong năm 1956. Tuy nhiên, Ngô Đình Diệm-do CIA (Mỹ) “tìm thấy” và đưa về Việt Nam làm “Thủ tướng” của chính phủ bù nhìn Bảo Đại-đã tuyên bố: “Không có tổng tuyển cử gì hết”, trắng trợn vi phạm Hiệp định Geneva và đi ngược lại nguyện vọng thống nhất của dân tộc.

Thực tế lúc đó, Mỹ và phe cánh của Ngô Đình Diệm lo sợ uy tín to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Mặt trận và Đảng Lao động Việt Nam. Chúng tin rằng nếu tiến hành bầu cử tự do, chắc chắn Đảng Lao động Việt Nam của Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ thắng lớn. Do vậy, Ngô Đình Diệm với sự giúp đỡ của người Mỹ đã phải sử dụng nhiều thủ đoạn để củng cố quyền lực của mình. Ngô Đình Diệm đã áp dụng nhiều chiêu thức man rợ để tàn sát những người kháng chiến và người yêu nước chân chính, khủng bố tinh thần nhân dân, củng cố chính quyền phản động của mình, công khai phá hoại Hiệp định Geneva, mưu đồ chia cắt lâu dài đất nước.

Chính thể “Việt Nam cộng hòa” là phi pháp nên các công cụ bạo lực của nó cũng chỉ là lực lượng phản dân, hại nước, làm tay sai cho các thế lực ngoại bang. Quân đội của chính thể “Việt Nam cộng hòa” được gọi là “Quân lực Việt Nam cộng hòa” thường khoe là “chiến đấu cho tự do”, thế nhưng thực chất, họ đã tiếp tay cho “ông chủ” của mình là quân viễn chinh Mỹ để làm hại chính đồng bào mình. Với bản chất đánh thuê (và cả chết thuê nữa), “Quân lực Việt Nam cộng hòa” hoàn toàn phụ thuộc vào Mỹ, thiếu lý tưởng, không thể đại diện cho dân tộc Việt Nam và cũng không thể kế thừa truyền thống quân sự của dân tộc. Đến khi Mỹ rút viện trợ và ngưng yểm trợ thì quân đội này (cùng với chính thể “Việt Nam cộng hòa”) đã suy sụp nhanh chóng...

Với quan điểm nhân đạo và hòa bình, Đảng, Nhà nước và Quân đội ta đã có những chính sách tri ân đối với TB-LS và người có công, đối xử nhân đạo với tù hàng binh, thương xót những người lính Pháp, lính Mỹ tử vong trên lãnh thổ Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng viết: “Tôi nghiêng mình trước anh hồn những chiến sĩ và đồng bào Việt Nam, đã vì Tổ quốc mà hy sinh tính mệnh. Tôi cũng ngậm ngùi thương xót cho những người Pháp đã tử vong. Than ôi, trước lòng bác ái, thì máu Pháp hay máu Việt cũng đều là máu, người Pháp hay người Việt cũng đều là người” (Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, H. 2011, tập 4, tr.510).

Trong nhiều năm qua, chúng ta đã giúp người Mỹ tìm kiếm và kiểm kê quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh ở Việt Nam. Mới đây, lễ hồi hương hài cốt quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh ở Việt Nam (MIA) lần thứ 160 đã diễn ra tại sân bay quốc tế Đà Nẵng. Rất nhiều người đã từng phục vụ trong “Quân lực Việt Nam cộng hòa” trước kia nay trở thành những nhà khoa học, doanh nhân tiêu biểu của Việt Nam. Nếu những gia đình này gặp khó khăn, họ đều được hưởng chính sách an sinh xã hội, không hề có sự phân biệt đối xử. Thế nhưng không thể và không bao giờ được đánh đồng sự hy sinh, cống hiến vì cách mạng của đồng bào, chiến sĩ với những người làm tay sai cho ngoại bang.

Xuyên tạc, phủ nhận, hạ thấp sự hy sinh to lớn của các anh hùng liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người có công là thủ đoạn thể hiện tính chất, bản chất vô ơn bạc nghĩa của những kẻ phản động, thù địch. Họ xuyên tạc nhằm phục vụ mục tiêu chống phá, hòng tạo ra nhận thức lệch lạc, làm suy giảm lòng tin của một bộ phận quần chúng nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đó là tội ác mới, cần phải bị vạch trần và lên án.

76 năm qua kể từ năm 1947, vào mỗi dịp 27-7, nhiều hoạt động tri ân và tôn vinh các anh hùng liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, những người có công với cách mạng đã diễn ra trên khắp mọi miền Tổ quốc. Việc chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công là vinh dự, đồng thời là trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị-xã hội và của quần chúng nhân dân; của thế hệ hôm nay và cả mai sau. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn trân trọng những cống hiến, hy sinh to lớn của đồng bào, chiến sĩ đối với Tổ quốc. Không thể xuyên tạc được chính sách đối với người có công hợp lý, hợp tình, hợp pháp và hợp lòng dân của chúng ta.