Thứ Bảy, 9 tháng 12, 2023

NGHỆ THUẬT ĐÁNH GIẶC CỦA DÂN QUÂN TỰ VỆ LÀ DI SẢN VÔ GIÁ TRONG KHO TÀNG NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ VIỆT NAM

 

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, dân tộc ta phải chống lại kẻ thù có quân số đông, tiềm lực quân sự mạnh, được tổ chức chuyên nghiệp và chính quy.


Để chiến thắng những đội quân xâm lược nhà nghề đó, dân tộc Việt Nam đã tiến hành cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, kết hợp chặt phương thức chiến tranh chính quy với chiến tranh nhân dân địa phương. Trong các cuộc đấu tranh đó, lực lượng dân quân tự vệ đã chiến đấu anh dũng và sáng tạo, góp phần to lớn vào những chiến thắng chung của dân tộc, xây dựng nên một truyền thống vẻ vang, trở thành một di sản vô giá trong nền Nghệ thuật Quân sự Việt Nam.


Di sản đó được thể hiện ở những nội dung sau:


Một là, góp phần cùng với quân và dân cả nước đánh thắng hai kẻ thù hung bạo của thời đại, làm cho chúng sớm bị sa lầy, cơ sở bị triệt phá, tinh thần bị căng thẳng và không tìm ra phương sách đối phó có hiệu quả; lực lượng dân quân tự vệ đã cùng với lực lượng bộ đội địa phương tạo thế, tạo lực cho bộ đội chủ lực giáng những đòn đánh quyết định để giành thắng lợi to lớn trên mặt trận đấu tranh quân sự.


Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Đảng ta đã đánh giá đúng điểm mạnh của ta là ở các vùng nông thôn và chỗ yếu nhất của địch cũng chính là ở các nơi đó, khâu yếu nhất của chúng là bộ máy kìm kẹp quần chúng ở cơ sở. Ta đã lấy chỗ mạnh của ta, đánh vào vùng yếu, khâu yếu của địch, giành thế đứng chân vững chắc ở các vùng nông thôn, tạo nên một hình thái chiến tranh da báo (cài xen chiến lược) vô cùng hiểm hóc.


Thế trận đó đã hạn chế những điểm mạnh cơ bản và sở trường của địch là khả năng cơ động, sức mạnh hỏa lực và đánh phân tuyến. Thế trận đó còn từng bước phá tan chính quyền bù nhìn, do địch dựng lên làm chỗ dựa từ bên trong cho lực lượng xâm lược từ bên ngoài. Quân địch đã bị thế trận chiến tranh nhân dân của ta phân tán về binh lực, suy giảm về sức mạnh, lâm vào thế bị động đối phó. 


Trong cuốn Đông Dương hấp hối, Na-va, viên đại tướng bại trận người Pháp - Tổng Tư lệnh quân đội Pháp ở Đông Dương khi đó đã ngán ngẩm: “Nhìn vào tấm bản đồ người xem thấy chi chít những chấm đỏ và ông ta gọi đó là tấm bản “đồ lên sởi”1. 


Bệnh sởi đó chính là những căn cứ kháng chiến lớn nhỏ do ta tạo nên. Trong cuốn, chiến tranh nhân dân địa phương trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) đã nhận định: "Ở Việt Nam, vào mùa khô 1967, Mỹ có hơn 50 vạn quân, nhưng chỉ có thể tập trung vào đòn tiến công chiến lược nhằm tiêu diệt quân giải phóng không quá 5 vạn quân, chiếm 9% trong tổng số lực lượng"


Chiến tranh nhân dân địa phương đã phát huy được sức mạnh tổng hợp để chiến thắng kẻ thù xâm lược. Trong chống chiến tranh phá hoại của địch, bảo vệ hậu phương lớn - miền Bắc xã hội chủ nghĩa, các lực lượng dân quân tự vệ đã cùng với các lực lượng, ban, ngành đẩy mạnh sản xuất, phục vụ chiến đấu và chiến đấu; đã bắn rơi nhiều máy bay, bắn chìm nhiều tàu chiến địch, bắt sống và tiêu diệt nhiều toán, nhóm biệt kích, giữ vững trật tự trị an ở cơ sở, bảo vệ nhân dân, bảo đảm giao thông, kết hợp đánh địch với chủ động sơ tán phòng tránh, khắc phục hậu quả chiến tranh, chi viện cho tiền tuyến lớn - miền Nam, góp phần đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc.


Các hoạt động của chiến tranh nhân dân địa phương đã làm cho bộ máy chỉ đạo chiến tranh của địch phải lúng túng, không tìm được phương cách đối phó. Buộc chúng phải tập trung lực lượng để đánh những đòn quyết định và phân tán lực lượng để kìm kẹp nhân dân, bảo vệ ấp chiến lược, các căn cứ, kho tàng, sân bay, bến cảng, sở chỉ huy, hệ thống phòng ngự, giao thông và các mục tiêu trọng yếu khác.


Khi đề cập đến chiến tranh nhân dân địa phương ở Việt Nam, nhiều chính khách Mỹ đã phải thừa nhận rằng, họ đang phải đối đầu với một cuộc chiến tranh thần thánh, phải đối phó với lực lượng kháng chiến vô hình. Viên tướng Taylo đã phải thốt lên rằng "Không nên can thiệp vào một cuộc nổi loạn đã phát triển thành chiến tranh du kích"


Chiến tranh nhân dân địa phương của ta được phát triển trên cả ba vùng chiến lược, tạo thế xen kẽ, các mục tiêu trọng yếu của địch bị áp sát và uy hiếp liên tục. Trong hậu phương địch xuất đã hiện nhiều căn cứ kháng chiến, vùng lõm, làm cho địch bị sa lầy, bị đánh cả trước mặt và sau lưng, buộc phải tiến hành một cuộc chiến tranh lâu dài, không thực hiện được ý định của chúng. Thế uy hiếp của chiến tranh nhân dân địa phương ở khắp nơi đã tạo nên sự thu hút lực lượng, làm phân tán quân địch, tạo điều kiện để bộ đội chủ lực tác chiến tập trung của.


Tổng kết về chiến tranh nhân dân địa phương trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) nêu rõ: "Chiến tranh nhân dân địa phương đã tạo điều kiện cho chủ lực ta tập trung được gần 100% lực lượng để đánh địch, nhưng chủ lực của địch lại bị phân tán đến 80%".


Phát huy khả năng sáng tạo và sức mạnh to lớn của chủ nghĩa yêu nước trong quần chúng nhân dân trong quá trình thực hiện những nhiệm vụ cách mạng, các lực lượng dân quân tự vệ đã sử dụng mọi loại vũ khí, như: gậy gộc, dao mác, cuốc thuổng, gươm giáo, chông, mìn, cạm bẫy, các loại vũ khí tự tạo và vũ khí lấy được của địch... đánh địch mọi lúc, mọi nơi; mỗi người dân là một chiến sĩ, dư luận trên thế giới đã ca ngợi: "Ở Việt Nam, ra ngõ gặp anh hùng”.


Hai là, góp phần phát triển nền Nghệ thuật Quân sự Việt Nam sáng tạo, độc đáo và đạt trình độ cao.


Nền Nghệ thuật Quân sự Việt Nam là nghệ thuật toàn dân đánh giặc, lấy lực lượng vũ trang làm nòng cốt. Vì thế, nghệ thuật quân sự không những chỉ đạo hoạt động tác chiến của lực lượng vũ trang, mà còn chỉ đạo hoạt động quân sự của đông đảo quần chúng nhân dân tham gia đánh giặc. Chiến tranh nhân dân của ta được tiến hành bằng hai chân, ba mũi, trên cả ba vùng chiến lược, đó là điểm sáng tạo nổi bật của nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh nhân dân của Đảng ta. Sự sáng tạo đó đã đưa cách mạng Việt Nam vượt qua các thử thách, lần lượt đánh thắng các biện pháp và các chiến lược quân sự của kẻ thù.


Nền Nghệ thuật Quân sự Việt Nam đã chỉ đạo các hoạt động kháng chiến của quân và dân ta, tạo nên những hình thái chiến tranh độc đáo. Khi bàn về vấn đề này, đồng chí Trường Chinh đã viết: “chiến tranh nhân dân của ta diễn ra dưới nhiều hình thái phong phú: chiến tranh cài răng lược, chiến tranh độn thổ, chiến tranh không mặt trận, chiến tranh bao vây, chiến tranh tiêu thổ...” khi có những hình thái chiến tranh khác thường, nghệ thuật quân sự cũng đã giải quyết các vấn đề khác thường. Đó là cả nước là chiến trường, mỗi người dân là một chiến sỹ, mỗi làng xã, khu phố là một pháo đài, mỗi chi bộ đảng là một bộ tham mưu, tiến hành một cuộc chiến tranh không quy ước.


Quân và dân ta dùng lối đánh du kích, đánh địch ngay tại địa phương, các sào huyệt của kẻ thù, thực hiện “lai vô ảnh, khứ vô tung”. Chiến tranh du kích của ta đã phát huy vai trò và tác dụng to lớn trong việc sát thương, tiêu hao rộng rãi, tiêu diệt nhỏ quân địch, gây cho chúng những tổn thất và khó khăn, hãm chân những binh đoàn cơ động của địch và trở thành mối lo thường xuyên của chúng. 


Nhờ có chiến tranh nhân dân, ta đã phân tán và giam chân khối cơ động chiến lược của quân Pháp, góp phần quan trọng tạo nên thế trận có lợi và ưu thế áp đảo cho lực lượng ta ở Điện Biên Phủ. Trong sách Tổng kết tác chiến chiến lược trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945-1975), đã nhận định: “chín phần mười trong tổng số 84 tiểu đoàn cơ động chiến lược của Na-va đã bị phân tán trên các hướng, trước khi trận đánh ở Điện Biên Phủ nổ ra”.


Xuất phát từ thực tiễn khi địch tiến công, nếu ta không kiên quyết giữ đất, giữ dân, thì chẳng mấy chốc ta sẽ không còn đất đứng chân, không còn sức người, sức của để kiên trì kháng chiến. Vì thế, việc bám đất, bám dân, bảo vệ cơ sở kháng chiến trong mọi điều kiện là vấn đề có tính sống còn đối với ta. Các đội du kích của ta đã xung kích đảm nhận và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến lược đó. Cuộc chiến tranh ở Việt Nam là cuộc chiến giành dân và trong cuộc chiến đó, chúng ta là người chiến thắng.


Đó là sự khác biệt giữa chiến tranh du kích của ta với chiến tranh du kích của các nước khác. Trong điều kiện lực lượng chủ lực của ta còn non trẻ, chỉ có thể dùng chiến tranh du kích để tiêu diệt, tiêu hao sinh lực địch, vừa đánh, vừa học hỏi, bồi dưỡng và xây dựng lực lượng, không chờ chủ lực lớn mạnh mới tiến công, mà sử dụng thế tiến công của chiến tranh du kích làm ruỗng nát hậu phương địch, chuyển hóa thế trận chiến lược, biến hậu phương địch, thành tiền phương của ta. 


Đó là nghệ thuật tiến công của chiến tranh nhân dân trong điều kiện lực lượng ta chưa mạnh, thể hiện nét đặc sắc trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Đảng ta, làm nên một nền Nghệ thuật Quân sự Việt Nam với sự phát triển độc đáo, sáng tạo.   


Bằng thực tiễn chiến đấu phong phú, các lực lượng dân quân tự vệ đã làm nên một nghệ thuật đánh giặc độc đáo của mình với những đặc điểm chính nổi bật: tính quần chúng sâu rộng, tính toàn diện cao (mọi người có thể tham gia đánh giặc, đánh giặc bằng mọi thứ vũ khí), vì mục đích mang tính xã hội sâu sắc; hình thức tổ chức, hoạt động phong phú, đa dạng và có tính vùng miền; liên tục và trực tiếp cọ sát với địch; tính sáng tạo và hiệu quả của quần chúng được phát huy; luôn gắn chặt với cơ sở, với phương châm “một tấc không đi, một ly không rời”, “dân bám đất, Đảng bám dân, du kích (quân) bám địch”; quán triệt tư tưởng tiến công trong phương thức hoạt động, đặc biệt là trong thực hiện cách đánh; có mối quan hệ chặt chẽ với bộ đội địa phương và bộ đội chủ lực; quy mô tổ chức và tác chiến nhỏ, rộng khắp; công tác tổ chức, chỉ huy và bảo đảm đơn giản, tại chỗ...


Nghệ thuật đó đã tạo ra một di sản vô giá trong nền Nghệ thuật Quân sự Việt Nam, với những bài học kinh nghiệm quý sau:


Thứ nhất, quán triệt sâu sắc những quan điểm cơ bản trong đường lối quân sự của Đảng về chiến tranh nhân dân và về lực lượng dân quân tự vệ   


Giá trị của đường lối đúng trước tiên được thể hiện ở việc xác định mục tiêu, chủ thể của cuộc cách mạng và phương thức tiến hành. Mục tiêu của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Chủ thể của cuộc cách mạng ở nước ta là các tầng lớp nhân dân, mà nòng cốt là công, nông, binh và tầng lớp trí thức. 


Đường lối đúng thể hiện sự thống nhất giữa mục đích chính trị của chiến tranh với mục tiêu của cách mạng, xử lý hài hòa vấn đề dân tộc và giai cấp; là ngọn cờ tập hợp, đoàn kết và phát triển lực lượng... Đó là những vấn đề rất quan trọng của bất kỳ quốc gia, dân tộc nào trên con đường xây dựng, bảo vệ và phát triển của mình.


Con đường đấu tranh cách mạng ở Việt Nam là bằng sức mạnh bạo lực cách mạng của quần chúng nhân dân. Tính chất của hai cuộc chiến tranh vừa qua vừa là các cuộc chiến tranh giải phóng, vừa là những cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.


Các lực lượng vũ trang của ta ở những thời kỳ đầu của các cuộc chiến tranh đều là những đơn vị nhỏ bé, với trang bị thô sơ, nên về xây dựng lực lượng ta đã tuân theo quy luật từ không tới có, từ nhỏ đến lớn. Trong các hoạt động tác chiến chúng ta đã đi từ chiến tranh du kích tiến lên chiến tranh chính quy và sau đó là kết hợp cả hai phương thức chiến tranh chiến tranh du kích (sau này được thống nhất gọi là chiến tranh nhân dân địa phương) và chiến tranh chính quy.


Để đánh thắng kẻ thù, chúng ta phải trường kỳ kháng chiến, giành thắng lợi từng bước, tập trung đánh thắng nỗ lực cao nhất của địch, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn, không mơ hồ ảo tưởng, mất cảnh giác đối với bản chất của kẻ thù.


Quan niệm của chúng ta về sức mạnh đó là sức mạnh tổng hợp, được hình thành từ nhiều nhân tố: chế độ kinh tế - chính trị của đất nước; truyền thống của dân tộc; nghệ thuật lãnh đạo, điều hành chiến tranh; khả năng trang bị và sức chiến đấu của quân đội; trình độ nắm và vận dụng nghệ thuật quân sự; tinh thần, ý chí chiến đấu của quân và dân ta; vai trò của hậu phương; sự phối hợp giữa các lĩnh vực đấu tranh; sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại... 


Do vậy, Đảng ta luôn tiến hành nhiều biện pháp để tạo sức mạnh tổng hợp, trong đó đã chú trọng phát huy nhân tố chính trị tinh thần - ưu thế tuyệt đối của ta trước kẻ thù để giành thắng lợi.    


Xây dựng lực lượng vũ trang nhiều thứ quân làm lực lượng nòng cốt cho sự nghiệp toàn dân đánh giặc. Đây là một trong những nội dung về nghệ thuật chỉ đạo, điều hành chiến tranh của Đảng ta. Trong đó, lực lượng dân quân tự vệ là một trong các thành phần không thể thiếu được của các lực lượng vũ trang cách mạng do Đảng tổ chức và lãnh đạo.


Lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, lấy chất lượng cao thắng số lượng đông, khi có điều kiện và thời cơ kiên quyết tập trung lực lượng và nỗ lực cao nhất để giành thắng lợi quyết định ở chiến trường do ta lựa chọn vừa là một nội dung quan trọng trong tư tưởng Quân sự Việt Nam, vừa là một trong những nội dung đặc sắc của Nghệ thuật Quân sự Việt Nam.


Thứ hai, phát huy động lực và tinh thần yêu nước của những người chủ đất nước, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân địa phương vững mạnh.


Lòng yêu nước của nhân dân ta, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói là một truyền thống cực kỳ quí báu. Lòng yêu nước đó đã hun đúc nên tinh thần quyết chiến, quyết thắng, biết đánh, biết thắng của quân và dân ta. 


Người nói: “Lòng yêu nước và sự đoàn kết của nhân dân ta là một lực lượng vô cùng to lớn không ai thắng nổi. Nhờ lực lượng ấy mà tổ tiên ta đã đánh thắng quân Nguyên, Minh để giữ vững quyền tự do, tự chủ. Nhờ lực lượng đó mà chúng ta làm cách mạng thành công, giành được độc lập. Nhờ lực lượng ấy mà quân và dân ta vượt qua mọi khó khăn, một lòng đánh tan quân xâm lược”.


Cách mạng đã giải phóng mọi tầng lớp nhân dân, từ thân phận của những kiếp người nô lệ bước lên địa vị là người chủ thật sự của đất nước. Vì vậy, nhân dân ta càng yêu quí Tổ quốc mình, càng thiết tha với độc lập, tự do nên càng ra sức góp sức người, sức của cho kháng chiến và sẵn sàng chiến đấu hy sinh quên mình. 


Có thể nói khi được giải phóng khỏi kiếp đời nô lệ, sức mạnh và sự sáng tạo trong quần chúng nhân dân cũng được giải phóng và trở thành một nguồn lực vô tận để tạo thành sức mạnh, đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược.


Thế trận ở từng làng xã chiến đấu được hình thành; lực lượng du kích, dân quân, tự vệ ở cơ sở từng bước được củng cố, mở rộng “có thời kỳ chiếm tỷ trọng gần 12% số dân ở miền Bắc” và được trang bị những vũ khí thích hợp; hệ thống lãnh đạo, chỉ huy được tăng cường; cách đánh cũng chú trọng được huấn luyện... làm cho các lực lượng dân quân tự vệ vừa được mở rộng về số lượng, vừa được nâng dần về chất lượng.     


Thứ ba, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, hiệu lực quản lý, điều hành của chính quyền các cấp và vai trò tham mưu của các cơ quan quân sự địa phương.


Trong hai cuộc kháng chiến vừa qua, Đảng ta đã luôn bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối và toàn diện đối với lực lượng dân quân tự vệ. Đó là nguyên nhân cơ bản nhất để lực lượng này lớn mạnh, trung thành, lập được nhiều chiến công và xác lập được vai trò quan trọng trong thành phần các lực lượng vũ trang nhiều thứ quân của ta.


Thực chất của việc giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng là không ngừng củng cố và tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối và toàn diện của các cấp ủy đảng đối với lực lượng dân quân tự vệ thuộc quyền. Các đảng viên của Đảng, dù trên cương vị là lãnh đạo, chỉ huy hay là đội viên trong lực lượng này, đã luôn đi đầu chiến đấu và hy sinh dũng cảm.


Đó là những tấm gương, là nhân cốt trong xây dựng và hoạt động của lực lượng dân quân tự vệ. Mỗi khi cách mạng chuyển giai đoạn, khi địch thay đổi biện pháp thủ đoạn đối phó hay mỗi khi cách mạng gặp khó khăn, vấp ngã... Đảng ta đã thể hiện bản lĩnh của một đảng lãnh đạo dày dạn kinh nghiệm, đã đấu tranh thẳng thắn, chân tình, mổ xẻ các vấn đề một cách tường tận... nhằm tìm ra nguyên nhân, thống nhất và nâng cao nhận thức trong Đảng, trong đó có các vấn đề thuộc về lãnh đạo, chỉ đạo các lực lượng dân quân tự vệ, để cách mạng tiếp tục tiến lên và giành những thắng lợi to lớn hơn.  


Đảng cũng luôn chú ý xây dựng, củng cố chính quyền các cấp, trong đó, đặc biệt coi trọng cấp cơ sở để các tổ chức này phát huy vai trò và hiệu quả về quản lý, điều hành đối với lực lượng dân quân tự vệ. Đảng quan tâm xây dựng và rèn luyện đội ngũ cán bộ các cấp tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng, có năng lực trong tổ chức, lãnh đạo chỉ huy. Thực hiện tốt cơ chế cấp ủy lãnh đạo, chính quyền quản lý, điều hành, cơ quan quân sự làm tham mưu, người chỉ huy quân sự chỉ huy thống nhất các lực lượng vũ trang thuộc quyền. 


Thứ tư, tổ chức lực lượng hợp lý, coi trọng chất lượng chính trị và công tác huấn luyện, có trang bị phù hợp, gắn chặt với các nhiệm vụ của địa phương, cơ sở trong tổ chức lực lượng vũ trang nhiều thứ quân, mỗi thứ quân có vai trò chiến lược nhất định. 


Nói về vai trò của lực lượng dân quân tự vệ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Dân quân, tự vệ và du kích là lực lượng của toàn dân tộc, là một lực lượng vô địch, là một bức tường sắt của Tổ quốc. 


Vô luận địch nhân hung bạo thế nào, hễ đụng vào lực lượng đó, bức tường đó, thì địch nào cũng phải tan rã”. Đây là lực lượng nòng cốt trong đấu tranh và đánh địch ở cơ sở. Lực lượng này cần được xây dựng với một tỉ lệ hợp lý và phù hợp với các điều kiện ở mọi cơ sở.


Trong cả hai cuộc kháng chiến, Đảng đã xây dựng lực lượng dân quân tự vệ toàn diện, dựa trên cơ sở xây dựng lực lượng chính trị vững chắc, trong đó đặc biệt quan tâm xây dựng về mặt chính trị, coi đó là nguyên tắc quan trọng nhất trong xây dựng lực lượng này. Cùng với xây dựng lực lượng, Đảng cũng quan tâm giải quyết các vấn đề về biên chế, trang bị và huấn luyện để không ngừng nâng cao trình độ và khả năng chiến đấu cho lực lượng dân quân tự vệ.


Trong huấn luyện, Đảng đã chỉ đạo huấn luyện toàn diện, trong đó cách đánh là nội dung quan trọng nhất. Tùy thuộc vào địa bàn cùng những điều kiện cụ thể khác để huấn luyện những cách đánh cụ thể cho các lực lượng dân quân tự vệ ở từng khu vực, từng địa bàn khác nhau.    


Thứ năm, phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng. Chiến tranh nhân dân địa phương có vai trò to lớn trong việc tiêu hao tiêu diệt địch, phân tán, chia cắt, căng kéo địch, đánh phá hậu phương địch... nhưng với quy mô tổ chức lực lượng và tác chiến không lớn, trình độ trang bị, huấn luyện có hạn nên không đủ sức để giáng những đòn tiến công tiêu diệt lớn quân địch, do đó không thể giải quyết được chiến tranh.


Chiến tranh càng phát triển, mục tiêu nhiệm vụ giải phóng đất đai và tiêu diệt địch càng lớn. Muốn vậy, phải đẩy mạnh và phát huy vai trò của chiến tranh chính quy, thực hành những đòn đánh quyết định, tiêu diệt chiến lược quân địch, thay đổi cục diện chiến trường và chiến tranh để kết thúc chiến tranh. Đó là sự nhận thức đúng của Đảng ta về mối quan hệ biện chứng về chức năng, nhiệm vụ giữa các thành phần trong các lực lượng vũ trang cách mạng nhiều thứ quân của ta. 


Trên tinh thần đó, các lực lượng dân quân tự vệ đã nỗ lực hết mình, làm tròn chức năng, nhiệm vụ của mình khi hiệp đồng công tác và chiến đấu cùng các lực lượng khác. Nhờ nhận thức đúng quy luật phát triển của chiến tranh cách mạng ở Việt Nam, Đảng ta đã thúc đẩy chiến tranh du kích phát triển, tiến lên chiến tranh chính quy, tác chiến của chiến tranh nhân dân địa phương tạo điều kiện cho tác chiến của các binh đoàn chủ lực đảm nhiệm vai trò quyết định trong chiến tranh./.

ST




 ❤️LA THỊ TÁM-NGƯỜI CON GÁI SÔNG LA - NIỀM TỰ HÀO CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM 🇻🇳


🌺Năm 1967, theo chân của hai anh trai, cô gái có vóc dáng nhỏ nhắn, đôi mắt sắc lẹm viết quyết tâm thư lên đường nhập ngũ. 

🌺Cô được phân công về đơn vị C2 chủ lực thuộc ngành giao thông vận tải Hà Tĩnh, tham gia đảm bảo giao thông thông suốt để chi viện kịp thời sức người, sức của từ hậu phương lớn miền Bắc cho chiến trường miền Nam.

🌺Nhiệm vụ của La Thị Tám là đứng trên một quả đồi cao, phía trái của ngã ba Đồng Lộc vào những lúc máy bay Mỹ ném bom để đếm số lượng bom trút xuống. 

🌺Sau khi máy bay Mỹ vừa đi, La Thị Tám chạy xuống cắm tiêu đánh dấu cho công binh đến xử lý - phát nổ.

🌺Với chiếc ống nhòm nhỏ, sau mỗi lần máy bay Mỹ ném bom, La Thị Tám lại như con thoi chạy lên đồi căng mắt theo dõi quả nào phát nổ, quả nào chưa và chạy xuống ngã ba Đồng Lộc để cắm cờ tiêu. 

🌺Suốt 200 ngày đêm ròng rã, bàn chân bỏng rát và in thành vệt mòn qua những bãi bom nổ chậm, La Thị Tám đã đếm và cắm tiêu được 1.205 quả.

🔴Ngày 22/12/1969, La Thị Tám được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân khi mới 20 tuổi.

 🌺Cô chính là nguyên mẫu của bài hát : Người con gái sông La- tác giả Doãn Nho/ Nguyễn Phương Thúy:  

"  Ơ .........

Trời mô xanh bằng trời Can Lộc,

chứ nước mô xanh bằng dòng nước sông La.

Ai về Hà Tĩnh quê ta  ....

nhớ chăng đôi mắt người con gái sông La kiên cường.


Thứ Sáu, 8 tháng 12, 2023

NÂNG CAO TRÁCH NHIỆM CỦA CHÍNH QUYỀN CÁC CẤP TRONG VIỆC THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ

 

Trước hết, mỗi cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước cần thấm nhuần và nhận thức sâu sắc bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân. Từ đó, các cấp chính quyền, các cán bộ, công chức cần xác định đúng và rõ trách nhiệm của mình trong việc thực hiện dân chủ, mà trực tiếp là thực hiện các quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở như là một nghĩa vụ bắt buộc của mình, chứ không phải sự ban phát cho người dân. Tiếp theo, Nhà nước cần tạo mọi điều kiện, cơ hội thuận lợi cho người dân thực hiện quyền làm chủ đất nước, được hưởng thụ các quyền tự do, dân chủ về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; được sử dụng quyền làm chủ để mưu cầu lợi ích cá nhân và bảo toàn lợi ích chung của cộng đồng và xã hội.

Để nâng cao hiệu quả thực hiện dân chủ, chính quyền các cấp, nhất là chính quyền cơ sở phải thực hiện công khai, minh bạch trong hoạt động của mình, cũng như trách nhiệm giải trình trước nhân dân địa phương. Công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình là điều kiện tiên quyết để bảo đảm thực hiện đúng, đủ, có hiệu quả các quy định của pháp luật về dân chủ ở cơ sở. Mặt khác, cán bộ, công chức nhà nước cần đổi mới phong cách, thái độ ứng xử với người dân theo đúng tính chất là “công bộc của dân”, là người phục vụ dân; khắc phục căn bệnh quan liêu, cửa quyền, hách dịch, lạnh nhạt, vô cảm khi tiếp xúc với dân, vẫn đang còn khá phổ biến hiện nay. Chỉ có trên cơ sở đổi mới phong cách, thái độ của chính quyền với người dân thì mới có thể khuyến khích người dân dám nói, dám làm, dám biểu lộ chính kiến, quan điểm của mình theo tinh thần thực hiện dân chủ ở cơ sở.

Bên cạnh đó, để tăng cường và nâng cao hiệu quả thực hiện dân chủ ở cơ sở, Nhà nước còn phải thực hiện các biện pháp như: Kiên quyết chống nạn tham nhũng và quan liêu của cán bộ chính quyền các cấp; cấm trù dập, trả thù những người đã mạnh dạn tố cáo những sai trái của cán bộ nhà nước; xử lý thích đáng, nghiêm minh những kẻ vi phạm luật pháp, vi phạm lợi ích của nhân dân và xã hội,... Trách nhiệm của Nhà nước và trách nhiệm của người dân trong việc phát huy dân chủ ở cơ sở có mối quan hệ gắn bó trực tiếp, hỗ trợ, thúc đẩy nhau để bảo đảm một nền dân chủ thực sự trong cuộc sống thường ngày của người dân, nhằm tăng cường và nâng cao hiệu quả thực hiện dân chủ, kể cả dân chủ ở cơ sở./.

TBQL 17

GIẢI PHÁP GIỮ VỮNG VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG TRƯỚC ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 


Một là, tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục làm cho mọi cán bộ, đảng viên, quần chúng nhận rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch hiện nay.

Hiện nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng với sự bùng nổ của mạng Internet đòi hỏi mọi cán bộ, đảng viên phải luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, tỉnh táo, sáng suốt phân tích và nhận rõ âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, trên cơ sở đó tăng cường sức đề kháng, tạo sức mạnh đấu tranh có hiệu quả chống lại kẻ thù. Kết hợp chặt chẽ các hình thức, biện pháp giáo dục, tuyên truyền làm cho mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn nham hiểm, thâm độc của kẻ thù; đấu tranh kiên quyết bảo vệ, giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên quyết đấu tranh bảo vệ và phát triển cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng, đặc biệt là mục tiêu, lý tưởng, đường lối đổi mới đất nước, bảo vệ nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; phản bác các quan điểm tư tưởng sai trái của các thế lực thù địch và ý đồ thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Tiếp tục tăng cường giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, giúp cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức rõ mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh, giữa đối tác và đối tượng, phân biệt rõ bạn, thù trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện đa phương hóa, đa dạng hóa Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy, tranh thủ mọi nguồn lực để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chủ động và kiên quyết đấu tranh khắc phục những biểu hiện mơ hồ, mất cảnh giác, củng cố xây dựng niềm tin, ý chí chiến đấu, quyết tâm bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững nguyên tắc lãnh đạo của Đảng.

Hai là, giữ vững bản chất giai cấp công nhân và tính tiền phong của Đảng Cộng sản Việt Nam.  

Từ khi ra đời đến nay, Đảng ta luôn lấy việc giữ vững bản chất giai cấp công nhân và tính tiền phong của Đảng Cộng sản làm nguồn lực, cơ sở để tồn tại và phát triển. Nhờ đó, Đảng đã vững vàng lãnh đạo cách mạng Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong tình hình hiện nay, khi nước ta đang hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chống phá, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn luôn giữ vững bản chất giai cấp công nhân và tính tiền phong của Đảng;  kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam; tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, phát triển Cương lĩnh, đường lối đổi mới đất nước; chủ động tổng kết thực tiễn, khái quát, bổ sung, phát triển lý luận trong tình hình mới.

Với vai trò là người lãnh đạo, bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp, đồng thời là lãnh tụ chính trị tinh thần của cả dân tộc, hơn ai hết, Đảng phải có bản lĩnh và trí tuệ ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ. Bản lĩnh, trí tuệ được thể hiện ở sự kiên định vững vàng, chủ động sáng tạo trong xây dựng và tổ chức thực hiện cương lĩnh chính trị, đường lối đổi mới đất nước. Hơn 30 năm đổi mới và xây dựng đất nước, Đảng ta đã đề ra và tổ chức thực hiện có kết quả đường lối đổi mới, vận dụng sáng tạo những nguyên lý lý luận, tổng kết thực tiễn, mở rộng dân chủ, phát huy được trí tuệ của cán bộ, đảng viên, nắm bắt được những vấn đề nẩy sinh từ cuộc sống, của tình hình phát triển kinh tế. Giữ vững và tăng cường tính tiên phong đòi hỏi Đảng ta phải thường xuyên làm giàu về năng lực, trí tuệ đáp ứng yêu cầu lãnh đạo đất nước trong đổi mới phát triển kinh tế, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Ba là, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, tích cực đổi mới, xây dựng chỉnh đốn Đảng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước.

Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng là một yêu cầu đòi hỏi khách quan, xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể của đất nước; là sứ mệnh thiêng liêng do nhân dân và dân tộc giao phó; là nhân tố bảo đảm ổn định chính trị, tạo nên sức mạnh đoàn kết, thống nhất để đưa đất nước đi lên. Không có vai trò lãnh đạo của Đảng thì không thể có độc lập dân tộc vững chắc, không có quyền làm chủ thực sự của nhân dân, không có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân và càng không có chủ nghĩa xã hội. Vì thế, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng là nguyên tắc, mục tiêu, đồng thời là điều kiện kiên quyết để làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.

Trong bối cảnh hiện nay, mỗi cán bộ, đảng viên phải nghiêm chỉnh chấp hành Cương lĩnh, Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; gương mẫu thực hiện các quy định của Ban Bí thư, Bộ Chính trị, quy định của Ban Chấp hành Trung ương về trách nhiệm nêu gương; xây dựng hình tượng cán bộ, đảng viên trong sạch, liêm khiết; kiên quyết khắc phục sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên; nâng cao lập trường cách mạng; bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Ra sức học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh; đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng dưới mọi hình thức; nêu cao tính đảng, tính gương mẫu trong quá trình tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; thường xuyên giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng đi đôi với việc tích cực tự đổi mới, tự chỉnh đốn; xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo trong thời kỳ mới.

Bốn là, thực hiện nghiêm nguyên tắc, tập trung dân chủ; không ngừng chăm lo xây dựng khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng, gắn bố mật thiết với nhân dân.

Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản, là nhân tố quyết định sức mạnh và sự thống nhất của Đảng. Do đó, cần nhận thức đúng nội dung, bản chất của tập trung dân chủ; mối quan hệ biện chứng giữa tập trung với dân chủ; trên cơ sở đó mọi cán bộ, đảng viên đều có quyền tham gia vào việc quyết định công việc của Đảng, có quyền được thông tin, thảo luận, tranh luận, nêu ý kiến riêng, bảo lưu ý kiến, cụ thể hóa thành các quy chế, quy định, nhất là việc dân chủ thảo luận xây dựng chủ trương, nghị quyết và lãnh đạo, triển khai tổ chức thực hiện. Thường xuyên tự phê bình và phê bình, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng kèn cựa, địa vị, tranh giành quyền lực, cũng như cục bộ địa phương; bố trí đúng cán bộ, đặc biệt là người đứng đầu cơ quan, đơn vị; xây dựng tình yêu thương, tôn trọng lẫn nhau vì lợi ích chung. Xây dựng khối đoàn kết, thống nhất là một truyền thống tốt đẹp của Đảng, đồng thời là nhân tố tạo nên sức mạnh vô địch của cách mạng nước ta.

Thực tiễn trong những bước ngoặt của cách mạng, trong những lúc khó khăn, nguy hiểm, sự đoàn kết thống nhất trong Đảng là nguồn sức mạnh, là nhân tố quan trọng, quy tụ sức mạnh của toàn dân tộc, vượt qua mọi khó khăn, thử thách. Sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng phải được xây dựng trên cơ sở đường lối chính trị đúng đắn, tình cảm cách mạng trong sáng, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân; đồng thời thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng. Hiện nay, trước yêu cầu phát triển của cách mạng có nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn rất phức tạp, chưa sáng tỏ, trong Đảng cần có thảo luận, tranh luận. Đây là quy luật bình thường và lành mạnh trong Đảng, phản ánh bước trưởng thành của Đảng. Chúng ta phải kiên quyết đấu tranh chống lại âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù lợi dụng việc Đảng ta mở rộng dân chủ thảo luận để khuếch trương các ý kiến trái ngược nhau, sau đó quy chụp cho Đảng ta là bắt bớ, xử lý những người có quan điểm bất đồng.

Về mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp, của dân tộc, Đảng không có lợi ích nào khác”. “Tất cả đường lối, phương châm, chính sách của Đảng đều chỉ nhằm nâng cao đời sống của nhân dân” - đây là yếu tố quan trọng hàng đầu bảo đảm cho sự thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, đồng thời làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch. Thực tiễn cho thấy, nhờ quán triệt quan điểm lấy dân làm gốc của Đảng, chăm lo giữ gìn sự đoàn kết gắn bó giữa Đảng với nhân dân, Đảng ta đã khơi dậy các tiềm năng từ nhân dân, tạo ra nguồn lực mới cho Đảng. Ngược lại, ở đâu và lúc nào tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên xa dân, quan liêu thậm chí trù dập, ức hiếp dân thì Đảng mất chỗ dựa từ nhân dân, bị dân xa lánh.

Hiện nay, trước yêu cầu xây dựng và chỉnh đốn Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên cần tiếp tục nhận thức sâu sắc, có biện pháp tích cực, thiết thực để góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, trong đó nòng cốt là liên minh công nhân, nông dân và trí thức. Đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới; giữ gìn và phát huy bản chất tốt đẹp của Đảng; ngăn chặn, khắc phục có hiệu quả tệ tham nhũng, lãng phí, quan liêu; đẩy mạnh thực hiện quy chế dân chủ, xây dựng củng cố và thực hiện các thiết chế dân chủ, tăng cường các hình thức dân chủ trực tiếp. Đồng thời, Đảng cần đẩy mạnh việc chăm lo xây dựng và củng cố các cơ quan nhà nước trong sạch, vững mạnh./.

TBQL 17

GIỮ VỮNG VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG TRƯỚC ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 


Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, sáng lập và rèn luyện. Trải qua 90 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược, xóa bỏ chế độ thực dân phong kiến, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, lúc thuận lợi cũng như lúc khó khăn, thử thách, Đảng ta luôn thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng, trí tuệ, đạo đức, văn minh của một đảng cách mạng chân chính, thực sự xứng đáng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam là trung tâm đoàn kết, quy tụ, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh giành và giữ chính quyền, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Hiện nay, các thế lực thù địch đang tập trung chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam với nhiều âm mưu, thủ đoạn tinh vi, thâm độc nhằm hạ thấp uy tín, vai trò của Đảng trước nhân dân, tiến tới xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với cách mạng Việt Nam. Chúng đưa ra các luận điệu cho rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam độc quyền lãnh đạo là “mất dân chủ”, là “chuyên chế”, “đặc quyền, đặc lợi”, là “bóp nghẹt dân chủ”, phải thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập mới có “dân chủ” trong Đảng và trong đời sống xã hội. Chúng đòi hủy bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phủ nhận quyền lãnh đạo của Đảng, tiến tới xóa bỏ thành quả cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Để thực hiện được mục tiêu này, chúng tập trung tấn công trên nhiều lĩnh vực với những âm mưu, thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc.

Các thế lực thù địch thực hiện chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, đánh vào thế giới quan, cơ sở khoa học đường lối chính trị của Đảng; phủ nhận những thành tựu to lớn mà chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã đem lại cho dân tộc Việt Nam. Chúng rêu rao rằng chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, lạc hậu, chủ nghĩa xã hội khoa học không còn sức sống, đã diệt vong. Thời gian gần đây, lợi dụng và triệt để khai thác những hiện tượng tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng dẫn đến “tự chuyển hóa” của một số cán bộ, đảng viên với những biểu hiện như: tự xa rời, phai nhạt mục tiêu, lý tưởng của Đảng, chạy theo “lợi ích nhóm”, “chủ nghĩa tư bản thân hữu”…, các thế lực thù địch tiếp tục tấn công, xuyên tạc, cắt xén, bác bỏ những luận điểm căn bản nhất của chủ nghĩa Mác - Lênin. Chúng còn xuyên tạc trắng trợn tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; cố tình nói sai sự thật về đời tư, hạ thấp uy tín của Hồ Chí Minh. Chúng cho rằng: “Hồ Chí Minh” không phải là nhà tư tưởng, mà chỉ là nhà hoạt động thực tiễn nên không có tư tưởng Hồ Chí Minh. Chúng lờ đi những giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh giàu chất lý luận về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người đã soi đường cho dân tộc ta và ảnh hưởng đến nhiều dân tộc khác trên thế giới trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Từ đó, đòi Đảng ta phải từ bỏ học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Ngoài thực hiện ý đồ chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, các thế lực thù địch còn chống phá về tổ chức của Đảng ta. Chúng tập trung đánh phá vào các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Chúng ra sức xuyên tạc cho rằng nguyên tắc tập trung dân chủ đã lỗi thời, lạc hậu, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ không còn phù hợp sẽ dẫn đến mất dân chủ trong Đảng, làm cho Đảng độc đoán, chuyên quyền…; cổ vũ cho sự bất đồng ý kiến về quan điểm trong Đảng rồi lợi dụng sự bất đồng đó để chia rẽ Đảng thành những phe, nhóm đối lập, chia rẽ lớp đảng viên này với lớp đảng viên khác, đảng viên già với đảng viên trẻ, từng bước gây ra mâu thuẫn trong nội bộ các tổ chức đảng…

Các thế lực thù địch còn tìm mọi cách chia rẽ Đảng với nhân dân, lôi kéo kích động, tách nhân dân ra khỏi ảnh hưởng của Đảng bằng việc vu cáo vi phạm dân chủ, nhân quyền. Chúng cho rằng: Thực hiện sự chuyên chính của một Đảng là nguồn gốc dẫn đến quan liêu, tham nhũng. Lợi dụng việc Đảng ta công khai tự phê bình và phê bình, các thế lực thù địch công kích, nói xấu Đảng, thổi phồng khuyết điểm, sai lầm của một số cá nhân đảng viên để gán cho Đảng Cộng sản đủ các căn bệnh. Thông qua đó, các thế lực thù địch chúng tìm mọi cách chia rẽ, phân hóa các tầng lớp nhân dân, lôi kéo làm mất ổn định chính trị, khi thời cơ đến tiến hành lật đổ ta từ bên trong./.

TBQL 17

Phát Huy Thế Mạnh Của Internet Và Dư Luận Trong Công Tác Phòng, Chống Tham Nhũng, Tiêu Cực

 


Không gian mạng cũng giống như xã hội thực, thúc đẩy tự do, dân chủ, nhưng cũng phải tuân thủ pháp luật. Cần tôn trọng quyền trao đổi ý kiến, bày tỏ ý chí của cư dân mạng và dư luận trực tuyến, đồng thời với xây dựng môi trường mạng an toàn, lành mạnh theo pháp luật, quyền và lợi ích hợp pháp của cư dân mạng được bảo đảm(2). Để phát huy đúng đắn, hiệu quả vai trò của internet và dư luận xã hội trực tuyến đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, cần phải xuất phát từ đặc điểm của truyền thông internet, phát huy ưu điểm, loại bỏ nhược điểm, sử dụng hợp lý vai trò giám sát của dư luận trực tuyến trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và xây dựng, giữ gìn văn hóa liêm chính trong xã hội nói chung và trong hệ thống chính trị nói riêng.

Thứ nhất, nhận thức đúng về hoạt động phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trên không gian mạng.   

Internet đã mở ra một kênh mới để dư luận xã hội chia sẻ thông tin và bày tỏ ý kiến về những hành vi tham nhũng, tiêu cực; trở thành một kênh thuận tiện, an toàn để quần chúng nhân dân tham gia và thảo luận các công việc của Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị; là một kênh giám sát độc lập với giám sát nội bộ như kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, giám sát của cơ quan tư pháp và giám sát của báo chí, kênh thông tin đại chúng chính thống của Đảng, Nhà nước. Việc thực hiện phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trên internet có sự gắn kết và độc lập mạnh mẽ, đồng thời mang lại nhiều khả năng hơn cho việc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, thúc đẩy xây dựng văn hóa liêm chính trong xã hội và toàn hệ thống chính trị. Trên thực tế, việc đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trên internet một cách có trật tự, kỷ cương cũng sẽ góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch của nền chính trị dân chủ, đồng thời giúp nâng cao ý thức công dân của toàn xã hội, để người dân tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội. Bên cạnh đó, phải tỉnh táo, cảnh giác nhận thức được phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là một hoạt động vô cùng phức tạp mang tính hệ thống. Sức mạnh của giám sát của dư luận trực tuyến rất lớn, nhưng những thông tin có được từ hình thức giám sát này thường chỉ mang tính tham khảo.

Thứ hai, sử dụng hợp lý internet để phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Dựa vào internet, có thể thúc đẩy công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở ít nhất ba khía cạnh: 1) Cung cấp thêm đầu mối chống tham nhũng, tiêu cực: việc cung cấp, tiết lộ thông tin trên internet, điều tra trực tuyến và các hình thức khác sẽ cung cấp cho các cơ quan hữu quan có thêm các manh mối phong phú, cụ thể, trực tiếp cho việc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực; 2) Có thể tạo thành áp lực dư luận mạnh mẽ: hiện tượng tham nhũng, tiêu cực sau khi bị cư dân mạng phát hiện, lan truyền trên internet sẽ lập tức thu hút sự chú ý rộng rãi, không chỉ tạo thành áp lực dư luận rất lớn đối với các đối tượng chịu sự giám sát mà còn có tác dụng cảnh báo, giáo dục rõ rệt đối với mọi cán bộ, đảng viên; 3) Có thể nhận được sự ủng hộ rộng rãi của quần chúng nhân dân: phần lớn cư dân mạng tích cực cung cấp manh mối, tiến hành điều tra, theo dõi diễn biến của các vụ việc liên quan đến tham nhũng, tiêu cực, đồng thời tăng cường giám sát việc xử lý tình huống thông qua internet, tạo thành lực lượng quần chúng hùng hậu trong đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, có lợi cho việc ngăn chặn và đấu tranh với tham nhũng, tiêu cực. Phải thấu hiểu, lắng nghe dư luận, tiếp thu ý kiến của quần chúng nhân dân và sử dụng quyền lực chính trị thông qua giám sát dư luận trực tuyến để thực hiện công việc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, thúc đẩy văn hóa liêm chính một cách vững chắc và hiệu quả.

Thứ ba, quản lý có hiệu quả hoạt động phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trên internet.

Sự gia tăng hoạt động phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trên internet có thể khắc phục những hạn chế, sự mất an toàn, nguy cơ bị đe dọa đối với người tố giác, tố cáo, lên án, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí trên các kênh tố giác, tố cáo truyền thống. Tuy nhiên, nếu hoạt động này không được tiếp nhận, xử lý, giải quyết đúng đắn, kịp thời thì dễ dẫn đến tình trạng mất lòng tin của quần chúng vào chính quyền và làm suy giảm việc tham gia vào công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của quần chúng nhân dân. Muốn vậy, cần phải tận dụng tình hình, chủ động tấn công, tích cực xây dựng các kênh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trực tuyến thông suốt, hiệu quả và mạnh mẽ. Thiết lập cơ chế lãnh đạo đối với các tổ chức dư luận trực tuyến liên quan đến tham nhũng, tiêu cực. Thành lập Tổ chỉ đạo xử lý dư luận tham nhũng, tiêu cực trên internet do Ủy ban kiểm tra hoặc Ban Nội chính các cấp chủ trì, chịu trách nhiệm cụ thể về việc thu thập ý kiến công dân liên quan đến tham nhũng, tiêu cực trực tuyến, tổ chức và điều phối công việc của các bộ phận liên quan để xác minh, giám sát, báo cáo và công bố thông tin, đồng thời sử dụng internet một cách khoa học và chính xác để thúc đẩy phòng, chống tham nhũng. Cần tăng cường sự phối hợp giữa các bộ, ban, ngành, cơ quan, đơn vị, địa phương nhằm thiết lập hệ thống họp liên tịch để công tác thông tin dư luận xã hội về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, tổ chức họp định kỳ, phản ánh dư luận lớn về tham nhũng và thông tin trên internet... tạo thành thế trận đoàn kết, thống nhất để phòng, chống tham nhũng trên cộng đồng mạng.

Thứ tư, phản hồi và xử lý thông tin liên quan về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Trước những vụ việc dư luận quan tâm liên quan đến tham nhũng, tiêu cực, các cơ quan kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng cũng như cơ quan nội chính, tư pháp phải thực hiện nghiêm theo quy định của pháp luật; cần nghiên cứu và phán đoán thấu đáo các vấn đề được phản ánh trong dư luận mạng, xem xét đầy đủ phản ứng của cư dân mạng, tìm ra chân tướng sự việc một cách chính xác, xử lý đúng đắn, tạo uy tín cho mình. Mặt khác, cần phát huy đầy đủ vai trò của các phương tiện truyền thông chính thống với tư cách là một kênh định hướng dư luận, phản bác những tin đồn thất thiệt, không chính xác và phóng đại trên internet, làm rõ sự thật và đạt được sự thống nhất hữu cơ của hiệu quả chính trị, pháp lý và xã hội. Các cơ quan kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, cơ quan nội chính, tư pháp kịp thời phản hồi các bức xúc của xã hội bằng kết luận chính xác, khách quan để tăng uy tín, hạn chế tin đồn trên mạng, tạo niềm tin cho cư dân mạng vào hoạt động phòng, chống, đấu tranh với tham nhũng, tiêu cực mà Đảng ta đang tiến hành và xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Thứ năm, hoàn thiện cơ chế giám sát đối với việc nghiên cứu, phán đoán của dư luận xã hội liên quan đến tham nhũng, tiêu cực trên không gian mạng.

Các cơ quan kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, nội chính, tư pháp cần thành lập các bộ phận để theo dõi, sàng lọc, phân tích, nghiên cứu và phán đoán dư luận trực tuyến liên quan đến tham nhũng, tiêu cực. Các cơ quan chuyên trách cần tăng cường quản lý thông tin liên quan đến tham nhũng, tiêu cực trên mạng, sử dụng nhiều phương tiện, kênh thông tin và đảm bảo pháp lý để thông tin về các vụ, việc, điểm nóng được dư luận quan tâm. Bên cạnh đó, công khai các biện pháp chính sách, các thông tin liên quan của cơ quan kiểm tra, giám sát, kỷ luật, nội chính, tư pháp mà xã hội quan tâm, kịp thời công khai tình hình giám sát, xử lý dư luận xã hội; hướng dẫn, kiểm soát định hướng dư luận đối với những vấn đề dư luận xã hội nhạy cảm liên quan đến trật tự, xã hội; góp phần gìn giữ hình ảnh, uy tín của Đảng và Nhà nước; làm trong sạch không gian mạng, ngăn chặn thông tin sai lệch, ác ý hoặc cố tình gây hiểu lầm cho dư luận./.

TBQL 17

 

PHÁT HUY VAI TRÒ, THẾ MẠNH CỦA INTERNET VÀ DƯ LUẬN XÃ HỘI TRỰC TUYẾN ĐỐI VỚI CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC

 


Internet đã làm thay đổi cách sống của con người, tác động sâu sắc đến đời sống chính trị, xã hội và theo đó việc giám sát của dư luận xã hội trên mạng internet là một sự tiến bộ của thời đại, là hiện thân của sự tiến bộ trong dân chủ xã hội. Những ưu điểm nổi bật của internet mà không phương thức giám sát nào có được, thể hiện qua bốn vấn đề sau đây:

Một là, phạm vi giám sát vô cùng rộng lớn. Chỉ cần có cơ sở hạ tầng cơ bản về công cụ kỹ thuật và mạng internet, người dân thuộc mọi tầng lớp, ngành nghề, nhóm lợi ích có kỹ năng sử dụng mạng có thể đứng trên các vị trí, góc độ khác nhau để thảo luận, bày tỏ quan điểm về công việc quốc gia, phản ánh các vấn đề xã hội, bày tỏ nhu cầu lợi ích, giám sát các hoạt động của đất nước, đặc biệt là giám sát hoạt động của đảng cầm quyền, của Nhà nước cũng như toàn bộ hệ thống chính trị thông qua mạng internet. Đồng thời, hoạt động giám sát của dư luận trên mạng internet có thể vươn đến nhiều vùng, nhiều lĩnh vực, nhiều vấn đề khác nhau từ vi mô đến vĩ mô.

Hai là, hiệu quả giám sát vượt trội hơn. Tính thời sự và tính kết nối, tương tác mạnh mẽ của internet giúp cho việc phổ biến, lan tỏa và phản hồi thông tin kịp thời và trực tiếp hơn, nhờ đó hiệu quả giám sát dư luận trực tuyến từng bước được cải thiện. Đây là lý do quan trọng thể hiện qua hình thức lấy ý kiến giám sát trực tuyến của Nhân dân ngày càng được nhiều người đồng tình, ủng hộ và áp dụng.

Ba là, hình thức giám sát linh hoạt hơn. Lượng thông tin khổng lồ được lưu trữ trên internet cung cấp nhiều nguồn thông tin và cơ sở vật chất để thực hiện việc giám sát của dư luận. Từ mạng xã hội, báo chí trực tuyến cho đến các website… sự cùng tồn tại và tương tác của nhiều hình thức mạng làm cho các phương thức giám sát của dư luận xã hội trực tuyến trở nên đa dạng và linh hoạt hơn. Đồng thời, tính ẩn danh của internet cũng phát huy tác dụng giúp bảo vệ những công dân mạng tích cực tham gia giám sát hoạt động của bộ máy công quyền.

Bốn là, chi phí giám sát tiết kiệm hơn. Sự thuận tiện, hiệu quả và dễ vận hành của giám sát dư luận trực tuyến đã giúp giảm đáng kể chi phí vật chất của giám sát dư luận truyền thống. Hơn nữa, việc giám sát của dư luận trực tiếp còn có sự tham gia của hàng triệu cư dân mạng đến từ các khu vực, ngành nghề, lĩnh vực khác nhau. Họ thực hiện quyền giám sát và cung cấp thông tin về các hành vi tiêu cực, sai phạm của các cá nhân, tổ chức lên internet, điều này giúp cho công tác điều tra, kiểm tra thực tế được dễ dàng hơn, chi phí tiết kiệm hơn./.

TBQL 17

NHỮNG GIẢI PHÁP GÓP PHẦN ĐẤU TRANH LÀM THẤT BẠI MỌI ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, CƠ HỘI, PHẢN ĐỘNG VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM HIỆN NAY

 


Một là, tiếp tục giáo dục nâng cao nhận thức, xác định rõ hơn vị trí, vai trò, trách nhiệm của các lực lượng tham gia đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động.

Thông qua các hình thức, biện pháp, kết hợp giữa giáo dục với tự giáo dục để nâng cao nhận thức cho các lực lượng tham gia đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động về: tính cấp thiết, vị trí, vai trò, tính chất, đặc điểm, nội dung, hình thức, biện pháp đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”.

Cần xác định rõ hơn vị trí, vai trò, trách nhiệm của lãnh đạo, chỉ đạo, của các lực lượng chuyên trách và của các lực lượng khác trong tham gia đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động. Vị trí, vai trò, trách nhiệm tham gia đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” phải gắn chặt với vị trí, vai trò của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, quản lý trên các cương vị được giao.

Hai là, tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo cuộc đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động.

Tăng cường công tác lãnh đạo của cấp uỷ đảng, sự chỉ đạo trực tiếp của thủ trưởng cơ quan, đơn vị đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động. Phát huy tốt hơn nữa vai trò của các ban, ngành, đoàn thể trong xác định chủ trương, biện pháp, xây dựng và tổ chức triển khai kế hoạch đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động.

Ba là, xác định rõ nội dung, hình thức, biện pháp, tổ chức lực lượng và xác định rõ cơ chế phối hợp, kết hợp giữa các lực lượng đấu tranh phù hợp và có hiệu quả thiết thực.

Xác định rõ nội dung đấu tranh, trong đó tập trung vào những nội dung mà các thế lực thù địch, cơ hội, phản độngđang ráo riết tập trung hướng tới hiện nay và những năm tới trong chống phá cách mạng Việt Nam. Thường xuyên nghiên cứu, đổi mới những hình thức, biện pháp đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động nhằm đem lại hiệu quả cao. Nghiên cứu tổ chức lực lượng đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động hợp lý, quan tâm xây dựng lực lượng chuyên trách, nòng cốt. Thường xuyên quan tâm phối hợp, kết hợp tốt giữa các lực lượng để tạo sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động.

Bốn là, thường xuyên quan tâm nghiên cứu tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động.

Thông qua thực tiễn đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản độngđể thường xuyên tổ chức sơ kết, tổng kết, rút ra những bài học kinh nghiệm cả thành công và chưa thành công để tiếp tục tiến hành cuộc đấu tranh có hiệu quả hơn. Trên cơ sở sơ kết, tổng kết thực tiễn đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản độngđể tiếp tục bổ sung, phát triển lý luận về những vấn đề liên quan đến đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”.

Năm là, quan tâm đầu tư những điều kiện đảm bảo cho cuộc đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” ngày càng hợp lý, có hiệu quả hơn.

Quan tâm đầu tư bồi dưỡng lực lượng tham gia đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” về bản lĩnh chính trị, phẩm chất chính trị, đạo đức, về tinh thần đoàn kết, về ý thức tổ chức kỷ luật, về năng lực, kinh nghiệm và phương pháp đấu tranh...Quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, đảm bảo về mặt thông tin, tư liệu cho các lực lượng tham gia đấu tranh kịp thời, cập nhật, chính xác. Có cơ chế, chính sách, chế độ cụ thể đảm bảo sự quan tâm đối với các lực lượng tham gia đấu tranh trên mặt trận khó khăn, phức tạp và quyết liệt này.

Sáu là, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” với “chống”, lấy xây dựng cho ta mạnh lên là chính để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động.

Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, giáo dục làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân có nhận thức sâu sắc về bản chất, âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động. Tăng cường giáo dục cho cán bộ, đảng viên, nhân dân về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin vào mục tiêu, lý tưởng cách mạng.

Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Xây dựng các tổ chức chính trị xã hội vững mạnh toàn diện, hoạt động có hiệu quả, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Xây dựng đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh ở các cơ quan, đơn vị, địa phương với những phong trào cách mạng rộng khắp tạo tiền đề, điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng con người mới, chống sự xâm nhập và nảy sinh các quan điểm, tư tưởng phản động, phản văn hóa trong đời sống tinh thần của xã hội./.

TBQL 17

BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRƯỚC ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH HIỆN NAY

 


Trong quá trình chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch, cơ hội, phản động đặc biệt quan tâm chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta, chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm xuyên tạc, phủ nhận và đi tới xóa bỏ ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong đời sống tinh thần của xã hội Việt Nam. Chúng ra sức xuyên tạc chủ trương, đường lốicủa Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tatrong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; tuyêntruyền, cổ súy cho hệ tư tưởng tư sản phản động; xuyên tạc, hạ thấp, phủ nhận để đi tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam, tiến tới làm sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam...

Đặc biệt, trong những năm tới, tình hình quốc tế, khu vực và trong nước, bên cạnh những thuận lợi mới, sẽ còn có những diễn biến phức tạp, khó lường với những khó khăn, thách thức mới như Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã chỉ ra. Lợi dụng những khó khăn, phức tạp của tình hình quốc tế, khu vực và trong nước, nhất là trong quá trình chúng ta triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng và các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII, các thế lực thù địch, cơ hội, phản động sẽ đẩy mạnh quá trình thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” với những âm mưu, thủ đoạn thâm độc mới, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong để thực hiện mục tiêu cơ bản, xuyên suốt trong chống phá cách mạng Việt Nam, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta.

Để thực hiện mục tiêu cơ bản, xuyên suốt trong chống phá cách mạng Việt Nam, hiện nay và trong những năm tới, các thế lực thù địch, cơ hội, phản động sẽ tập trung chống phá cách mạng Việt Nam trên các các vấn đề chủ yếu sau đây:

- Tập trung xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin trên các nguyên lý cơ bản như: Lý luận về hình thái kinh tế - xã hội, học thuyết giá trị thặng dư, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân; phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta; phủ nhận mục tiêu, lý tưởng, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; hạ thấp và đi đến phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội.

- Tập trung xuyên tạc, phá hoại Cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách được thể hiện trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” (bổ sung, phát triển năm 2011), trong các văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và các Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII.

- Tăng cường xâm nhập về văn hóa, đạo đức, lối sống, tập trung tấn công vào nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc bằng cách làm phai mờ những giá trị văn hóa truyền thống cách mạng của chúng ta, kết hợp với việc gieo rắc những sản phẩm văn hóa phản động, tuyên truyền lối sống thực dụng trong xã hội ta, nhất là trong thế hệ trẻ, trong sinh viên, học sinh...

          - Lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo…, những vấn đề do lịch sử để lại, những “điểm nóng” về an ninh, về trật tự, an toàn xã hội để kích động chống phá ta, nhất là trên các địa bàn chiến lược quan trọng, những vùng sâu, vùng xa, vùng cao nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, đang có những khó khăn về đời sống vật chất và tinh thần.

- Lợi dụng những sơ hở, thiếu sót của ta trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội, trong đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, trong quá trình tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, trong thực hiện việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để gây áp lực, bôi nhọ, xuyên tạc, hạ thấp uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội ta.

- Đối với Quân đội ta, các thế lực thù địcn, cơ hội, phản động sẽ tăng cường thực hiện âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội, tìm cách tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng; từng bước làm suy yếu bản chất cách mạng và truyền thống vẻ vang của quân đội nhân dân. Tìm cách phá vỡ hệ tư tưởng của Đảng trong quân đội; làm xói mòn về phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, chiến sĩ quân đội.

Trước sự chống phá ngày càng tinh vi, thâm độc, xảo quyệt của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động, chúng ta đã tích cực, chủ động triển khai các hoạt động đấu tranh phòng, chống, từ khâu lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức lực lượng đến xây dựng và triển khai kế hoạch đấu tranh phòng, chống và đã thu được những kết quả quan trọng.

Tuy nhiên, trên thực tế, vẫn còn tồn tại những khó khăn, bất cập trong nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp, các ngành trong xác định kế hoạch và tổ chức lực lượng, triển khai các hoạt động đấu tranh phòng, chống; việc phối hợp, kết hợp và điều kiện đảm bảo thông tin, tư liệu, kinh phí cho hoạt động đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” vẫn còn những hạn chế, bất cập./.

TBQL 17

MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA HỘI CỰU CHIẾN BINH TRONG ĐẤU TRANH PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG

 


Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ nhiệm vụ của Hội CCB Việt Nam: “Động viên CCB phát huy bản chất, truyền thống Bộ đội Cụ Hồ trong xây dựng và bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; giúp nhau làm kinh tế, cải thiện đời sống. Tăng cường vai trò của hội viên trong việc giáo dục lòng yêu nước, truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ, góp phần xây dựng và củng cố cơ sở chính trị, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”.

Trước diễn biến phức tạp, khó lường của tình hình thế giới, khu vực và sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động, các cấp hội CCB cần quan tâm thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, như sau:

Một là, tiếp tục quán triệt và triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 35 của Bộ Chính trị và hướng dẫn, chỉ đạo của Ban chỉ đạo 35 các cấp về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới đến cán bộ, hội viên CCB. Các cấp hội quan tâm làm tốt công tác nắm tình hình tư tưởng, dư luận xã hội, đặc biệt ở các địa bàn trọng điểm, kịp thời phát hiện những vấn đề nổi cộm, từ đó tham mưu, đề xuất Ban chỉ đạo 35 các cấp giải quyết, góp phần giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng. Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng, trọng tâm là nâng cao nhận thức cho hội viên về những nội dung cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tuyên truyền làm cho hội viên CCB và nhân dân hiểu, nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chú trọng những chính sách có liên quan trực tiếp đến quyền lợi, trách nhiệm của hội viên.

Hai là, phối hợp chặt chẽ với cấp ủy Đảng, chính quyền và các ngành, đoàn thể, tập trung làm tốt công tác định hướng dư luận xã hội cho cán bộ, hội viên CCB và nhân dân; cung cấp thông tin kịp thời, đa dạng, chuẩn xác, qua đó phản bác luận điệu sai trái của các thế lực thù địch. Thường xuyên nắm chắc tình hình hội viên và nhân dân trên địa bàn dân cư; kịp thời phát hiện những động thái, dư luận có biểu hiện lệch lạc, đồng thời bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền; phối hợp chặt chẽ với Mặt trận, các đoàn thể chính trị - xã hội và các hội quần chúng trong triển khai thực hiện nhiệm vụ chính trị và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch của các thế lực thù địch, phản động. Khi có tình huống xảy ra trên địa bàn dân cư, cần làm tốt công tác tham mưu để cấp ủy, chính quyền và lực lượng vũ trang địa phương kịp thời xử lý.

Ba là, đi đôi với công tác tuyên truyền, cần làm tốt công tác nắm tình hình dư luận xã hội, chủ động nắm bắt các nguồn thông tin lan truyền tại cơ sở để phản ánh trung thực tâm tư nguyện vọng của hội viên CCB và nhân dân, xây dựng nội dung tuyên truyền chống các luận điệu sai trái, qua đó phát huy dân chủ, giúp người dân có điều kiện bày tỏ quan điểm, chính kiến của mình đối với các vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… Thông qua dư luận để điều chỉnh một số chủ trương, chính sách cho phù hợp, đáp ứng yêu cầu thực tế của nhân dân và địa phương; kiên quyết loại trừ những thông tin bịa đặt, không chính xác; thông báo, xử lý kịp thời cho cơ quan chức năng xử lý các thông tin sai trái gây hoang mang trong dư luận xã hội.

Bốn là, tổ chức hội CCB ở cơ sở cần tăng cường công tác quản lý, giáo dục cán bộ, hội viên chấp hành đúng Điều lệ hội. Thực hiện đúng quy định của Đảng, Nhà nước, không lan truyền những thông tin sai lệch, xấu độc; tán phát đơn thư nặc danh, mạo danh có nội dung xuyên tạc, vu không, kích động; xử lý kịp thời, nghiêm minh các sai phạm. Các tổ chức hội cần kết nối lực lượng xung kích ở cơ sở để tạo thành thế trận vững chắc, có tính tổ chức, kỷ luật trong việc phòng chống, phản bác thông tin sai trái, xuyên tạc. Chủ động xây dựng lực lượng nòng cốt, có năng lực, trình độ đấu tranh trên mặt trận lý luận, tư tưởng; đồng thời duy trì nghiêm nền nếp hoạt động của các tổ, các cộng tác viên trong phát hiện, đấu tranh với các luận điệu sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Năm là, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, hội viên CCB từ cơ sở, chi hội, tổ hội. Mỗi cán bộ hội cần phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu trong thực hiện Nghị quyết 35-NQ/TW; tích cực học tập lý luận chính trị để trang bị kiến thức, nâng cao “khả năng miễn dịch”, tăng cường “sức đề kháng” trước âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Mỗi CCB cần nêu cao cảnh giác, không để các phần tử xấu lợi dụng gây mất đoàn kết nội bộ, vu cáo, bôi nhọ, đả kích Đảng, Nhà nước. Thực hiện tốt nhiệm vụ giám sát và phản biện xã hội; tham gia đóng góp xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh. Bằng tâm huyết và sự từng trải của mình, các CCB cần tích cực tham gia giáo dục truyền thống và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, truyền thụ kinh nghiệm sống, cống hiến cho thế hệ trẻ.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là vấn đề cơ bản, hệ trọng, sống còn trong xây dựng và bảo vệ Đảng, chính quyền; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, thường xuyên, lâu dài của các cấp hội và mỗi cán bộ, hội viên hội CCB, trước hết là người đứng đầu tổ chức hội các cấp./.

TBQL 17

 

PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA HỘI CỰU CHIẾN BINH TRONG ĐẤU TRANH PHẢN BÁC ÂM MƯU, LUẬN ĐIỆU CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG

 


Xuất phát từ vai trò, nhiệm vụ chính trị của Hội Cựu chiến binh Việt Nam, những năm qua, các cấp hội đã thường xuyên chăm lo giáo dục, tuyên truyền, giúp hội viên hiểu biết sâu sắc và nâng cao nhận thức về quan điểm, đường lối, chủ trương, của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Thông qua các hoạt động tuyên truyền, mỗi cán bộ, hội viên CCB  hiểu rõ hơn nội dung về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng chính là bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng, bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Một trong những giải pháp giúp nâng cao nhận thức chính trị cho cán bộ, hội viên CCB đó là các cấp hội thường xuyên quan tâm xây dựng lượng nòng cốt, cốt cán trong Hội CCB. Từ những hoạt động cụ thể, thiết thực, các phong trào thi đua, Hội CCB các cấp đã xây dựng được lực lượng tham gia cấp ủy, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể, có vai trò quan trọng trong đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, phản động. Cùng với đó, các cấp hội đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị 05 và Chỉ thị 01 của Bộ Chính trị (khóa XII, XIII) về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện các nghị quyết của Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến” “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Các cấp hội, hội viên luôn gương mẫu chấp hành, thường xuyên phối hợp với các cấp, các ngành, đoàn thể tham mưu cho cấp ủy đảng và trực tiếp tham gia tuyên truyền, vận động hội viên, nhân dân hiểu rõ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là những vấn đề về dân tộc, tôn giáo, âm mưu thủ đoạn “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch, phản động, không để kẻ xấu lợi dụng xuyên tạc, gây chia rẽ, mất đoàn kết. Hằng năm, có hơn 98% cán bộ, hội viên CCB đăng ký thực hiện những nội dung, việc làm thiết thực; nhiều tấm gương tiêu biểu được cấp ủy, chính quyền các địa phương biểu dương, khen thưởng. Kết quả đó tiếp tục khẳng định vai trò của tổ chức Hội CCB trong thực hiện nhiệm vụ tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ nhân dân và chế độ XHCN, giữ vững ổn định chính trị ở cơ sở, góp phần quan trọng xây dựng, củng cố hệ thống chính trị vững mạnh. Các cấp hội phối hợp tham gia giám sát, phản biện xã hội và tham gia giải quyết một số vấn đề phức tạp xảy ra trên địa bàn; phát hiện kịp thời và chủ động ngăn chặn những quan điểm sai trái, thù địch tác động đến hội viên CCB và nhân dân trên địa bàn./.

TBQL 17