Thứ Bảy, 9 tháng 12, 2023
LỊCH SỬ KHÔNG CÓ TRÁCH NHIỆM DẠY CHÚNG TA YÊU NƯỚC???
QUÂN ĐỘI LÀ MÔI TRƯỜNG ĐỂ RÈN LUYỆN THANH NIÊN
Hàng năm, vào đầu xuân mới hàng vạn thanh niên cả nước lại lên đường nhập ngũ. Đây vừa là nghĩa vụ, là vinh dự cũng là trách nhiệm của thanh niên Việt Nam.
Được học tập, rèn luyện trong quân đội là điều kiện tốt để thanh niên tô luyện những phẩm chất nhân cách cần thiết đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước. Có thể nói, môi trường quân đội với kỷ luật nghiêm minh, nhưng sẽ giúp cho thanh niên hình thành và phát triển những phẩm chất mà môi trường khác khó có thể mang lại. Khi mới nhập ngũ, thanh niên phải tuân thủ nghiêm khắc với những quy định, điều lệnh, điều lệ quân đội, phải chấp hành mệnh lệnh của người chỉ huy. Thực tế, thanh niên bước vào quân đội với nhiều đặc điểm tâm lý khác nhau, hội tụ từ nhiều vùng miền khác nhau, những thói quen cũ như sự tùy tiện, buông lỏng, tự do vô kỷ luật thì nay vào quân đội họ phải chuyển hóa một cách nhanh chóng theo yêu cầu quân đội. Đó cũng chính là sự thay đổi từ nhận thức, thói quen, ngôn ngữ, cử chỉ, tác phong… đạt ở mức độ chuẩn hóa và thống nhất trong một tập thể quân sự. Môi trường quân đội cũng giúp cho thanh niên chuyển biến nhanh chóng về mặt nhận thức, đó chính là sự vững vàng về phẩm chất chính trị, về lập trường quan điểm…, từ đó hình thành nên sự đề kháng tốt giúp cho thanh niên luôn có ý thức được nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong môi trường quân đội, thanh niên cũng được hình thành lối sống mới như quan hệ đồng chí, đồng đội, ý thức tập thể, quan hệ quân - dân, giải quyết các vấn đề lợi ích phù hợp theo chuẩn mực xã hội.
Bên cạnh đó, khi thanh niên vào quân đội cũng được hình thành những phẩm chất chuyên môn nghề nghiệp theo các lĩnh vực cụ thể, điều đó sẽ làm cơ sở để mỗi quân nhân có thể vận dụng kiến thức vào cuộc sống sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự của mình. Trong môi trường quân đội, với đội ngũ cán bộ các cấp, họ vừa là người chỉ huy, vừa là nhà giáo dục có thể giúp quân nhân hình thành những tính cách tốt đẹp như sự trung thực, thẳng thắn, tính kiên cường…, điều này cũng giúp ích cho thanh niên có thể vững bước trong cuộc sống sau này. Có thể nói, được học tập, rèn luyện ở môi trường quân đội là điều kiện tốt cho thanh niên phát huy trên nhiều lĩnh vực./.
ST
PHÁT HUY MẠNH MẼ VAI TRÒ CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN MIỆNG
Ngày 8/12, Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Hội nghị Báo cáo viên tháng 12 và Tổng kết công tác tuyên truyền miệng, hoạt động báo cáo viên, tuyên truyền viên năm 2023, triển khai nhiệm vụ năm 2024.
Năm 2023, công tác tuyên truyền miệng tiếp tục được đổi mới về cả nội dung và hình thức.
Việc c.h.u.y.ể.n đ.ổ.i s.ố, ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác tuyên truyền miệng có chuyển biến rõ rệt.
Ban Tuyên giáo các tỉnh ủy, thành ủy tổ chức các hội nghị báo cáo viên bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến nhằm truyền tải, cung cấp thông tin kịp thời đến toàn thể cán bộ, đảng viên. Phương thức hoạt động của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên tiếp tục được đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả.
Đội ngũ báo cáo viên được quan tâm đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kiến thức, kỹ năng, trang bị đầy đủ tài liệu, thiết bị hoạt động. Báo cáo viên các cấp năng động, sáng tạo trong tuyên truyền các văn bản pháp luật, chỉ thị, nghị quyết, kết luận của Trung ương và các địa phương. Qua đó, góp phần nâng cao nhận thức chính trị, tạo sự nhất trí cao trong Đảng, sự đồng thuận xã hội, ổn định tình hình tư tưởng cán bộ, đảng viên và nhân dân; từ đó, thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Về phương hướng, nhiệm vụ năm 2024, đại diện lãnh đạo Ban Tuyên giáo Trung ương nhấn mạnh một số nhiệm vụ công tác tuyên truyền miệng quan trọng: Triển khai thực hiện nghiêm túc Chỉ thị của Ban Bí thư khóa XIII về công tác tuyên truyền miệng trong tình hình mới, trong đó phát huy mạnh mẽ vai trò, tầm quan trọng của công tác tuyên truyền miệng và trọng trách của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên trong tình hình mới.
Các địa phương, đơn vị tiếp tục đổi mới nội dung, tăng cường tính định hướng, thuyết phục của tuyên truyền miệng; đổi mới mạnh mẽ phương thức hoạt động tuyên truyền miệng; sử dụng hiệu quả các thể loại, các hình thức tuyên truyền miệng. Tuyên truyền trực tiếp kết hợp với trực tuyến trên phạm vi rộng từ Trung ương tới cơ sở trên nhiều lĩnh vực, địa bàn. Chú trọng xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số.
Ban Tuyên giáo Trung ương đề nghị từ nay đến cuối năm, ban tuyên giáo các cấp và đội ngũ tuyên truyền viên lưu ý một số lĩnh vực tuyên truyền trọng tâm: Kết quả kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XV; Các nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII; Các hoạt động đối ngoại và một số sự kiện kỷ niệm, lễ, Tết quan trọng.
Dịp này, Ban Tuyên giáo Trung ương tặng Bằng khen 10 tập thể và 10 cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác tuyên truyền miệng và hoạt động báo cáo viên năm 2023./.
ST
NÂNG CAO NGHIỆP VỤ CÔNG TÁC BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG KHỐI CÁC CƠ QUAN TRUNG ƯƠNG
Sáng 8/12, Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương tổ chức Hội nghị tập huấn nghiệp vụ công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch năm 2023. Đồng chí Nguyễn Văn Thể, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương dự Hội nghị.
Cùng dự có các đồng chí Thường trực Đảng ủy Khối, thành viên Ban Chỉ đạo 35 Đảng bộ Khối và các đảng bộ trực thuộc…
Hội nghị nhằm tiếp tục bồi dưỡng nghiệp vụ, bổ sung, cập nhật kiến thức, kỹ năng công tác trong thực hành đấu tranh, ngăn chặn, phản bác các thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch cho thành viên Ban Chỉ đạo, Tổ Thư ký Ban Chỉ đạo 35 Đảng bộ Khối và lãnh đạo cấp ủy, đội ngũ cán bộ tuyên giáo các cấp, đáp ứng yêu cầu tình hình thực tiễn hiện nay.
Tại hội nghị, các đại biểu nghe 2 chuyên đề: Tăng cường công tác đấu tranh, ngăn chặn, xử lý thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch, uốn nắn nhận thức lệch lạc, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, tăng cường công tác chính trị, tư tưởng từ giữa nhiệm kỳ Đại hội XIII đến đầu nhiệm kỳ Đại hội XIV của Đảng, do Thiếu tướng, Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Quảng Bạ, nguyên Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục An ninh, Bộ Công an, Chuyên gia cao cấp Học viện Chính trị Công an Nhân dân trình bày.
Tiến sĩ Vũ Trọng Hà, Vụ trưởng, Chánh Văn phòng Ban Chỉ đạo 35 Trung ương thông tin chuyên đề Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Kết luận hội nghị, dự báo tình hình trong nước và thế giới, những nguy cơ tác động đến ổn định chính trị, xã hội đất nước thời gian tới, đồng chí Lại Xuân Lâm, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Khối, Trưởng Ban Chỉ đạo 35 Đảng bộ Khối đề nghị các cấp ủy, thành viên Ban Chỉ đạo 35 các cấp chủ động, tích cực tham mưu cấp ủy, ban chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện tốt các nội dung đã tập huấn.
Trọng tâm là tăng cường quản lý, giám sát tình hình cán bộ đảng viên, công chức, viên chức và người lao động đăng tải, chia sẻ, tán phát thông tin trên internet, mạng xã hội; tiếp tục phổ biến, quán triệt thực hiện nghiêm túc các quy định, hướng dẫn của Trung ương về việc cán bộ, đảng viên thiết lập và sử dụng trang thông tin điện tử cá nhân trên internet, mạng xã hội; chủ động phối hợp các cơ quan an ninh, quản lý nhà nước kịp thời gỡ bỏ, ngăn chặn những bài viết, thông tin xấu độc chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ.
Các cấp ủy trực thuộc quan tâm chỉ đạo cán bộ, đảng viên tích cực tham gia Cuộc thi Chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng năm 2024 .
Trước đó, Ban Chỉ đạo 35 Đảng bộ Khối đã tổ chức hội nghị giao ban quý 4 và tổng kết hoạt động của Ban Chỉ đạo 35, năm 2023. Theo Ban Chỉ đạo 35, Đảng ủy Khối tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Kết quả thực hiện Chỉ thị số 01-CT/ĐUK, ngày 12/7/2021 của Ban Thường vụ Đảng ủy Khối đã tạo chuyển biến căn bản, hiệu quả trong lĩnh vực công tác này.
Đa số các cấp ủy đã phân công đồng chí bí thư trực tiếp phụ trách công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cấp ủy viên, bí thư cấp ủy các cấp thường xuyên nêu cao tinh thần trách nhiệm, gương mẫu triển khai thực hiện nhiệm vụ.
Đảng ủy Khối và các đảng ủy trực thuộc đã tăng cường phối hợp lãnh đạo, chỉ đạo phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, truyền thông trong Đảng bộ Khối tham gia công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Thông tin tích cực được tăng cường lan tỏa, nhất là tin, bài nêu gương người tốt, việc tốt; tuyên truyền, biểu dương các tập thể và cá nhân tiêu biểu, điển hình trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Đội ngũ báo cáo viên, cộng tác viên dư luận xã hội các cấp tích cực tuyên truyền sâu rộng, đăng tải, chia sẻ thông tin chính thống, tích cực đến cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động các cơ quan Trung ương và Nhân dân, bạn bè quốc tế, nhất là thông tin liên quan đến các sự kiện chính trị quan trọng, vụ việc phức tạp, nhạy cảm dư luận xã hội quan tâm; quyết liệt đấu tranh, phản bác thông tin xấu độc trên không gian mạng.
Các đại biểu chia sẻ những bài học kinh nghiệm, giải pháp thực tế để phát huy hơn nữa những ưu điểm, khắc phục hạn chế với phương châm “kiên định - chủ động - kịp thời - sáng tạo - hiệu quả” nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, thời gian tới./.
ST
HIỆU QUẢ CHỐT DÂN QUÂN BIÊN GIỚI
Những năm gần đây, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 9 chỉ đạo các tỉnh Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang xây dựng và duy trì hoạt động chốt dân quân thường trực trong cụm, tuyến dân cư biên giới.
Trong đó, huyện Tân Hồng là địa bàn trọng điểm trong xây dựng thế trận làng, xã chiến đấu, củng cố khả năng phòng thủ, bảo vệ tuyến biên giới của tỉnh Đồng Tháp. Từ khi thành lập, các chốt dân quân tại huyện Tân Hồng được Bộ Quốc phòng, Quân khu và địa phương đầu tư nơi ăn ở, sinh hoạt, làm việc... bảo đảm thuận lợi cho các hoạt động huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ).
Trung tá Ngô Văn Đông, Phó chỉ huy trưởng, Tham mưu trưởng Ban CHQS huyện Tân Hồng cho biết: “Khi UBND tỉnh ban hành Đề án “Tổ chức lực lượng, huấn luyện, hoạt động và bảo đảm chế độ, chính sách cho dân quân tự vệ giai đoạn 2021-2025”, chúng tôi tham mưu với UBND huyện cụ thể hóa thực hiện theo từng năm sát tình hình thực tế địa phương, như: Đầu tư xây dựng thêm nhà tiền chế gắn liền với chốt dân quân biên giới, chi trả tiền điện, nước, thông tin liên lạc... hỗ trợ sinh hoạt, học tập của anh em. Mới đây, UBND huyện còn cấp cho mỗi chốt hai xe máy làm phương tiện cơ động thực hiện nhiệm vụ”.
Huyện Tân Hồng có đường biên giới dài 23,7km giáp với Campuchia, có vị trí quan trọng trong khu vực phòng thủ tỉnh. Tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn luôn là vấn đề cần lưu ý đối với cấp ủy, chính quyền địa phương. Vì thế, các chốt dân quân biên giới đứng chân tại đây cần phát huy tốt vai trò, vừa thực hiện tốt nhiệm vụ huấn luyện, SSCĐ, vừa phối hợp với các lực lượng tuần tra, kiểm soát giữ địa bàn an toàn. Với vai trò quan trọng đó nên công tác tuyển chọn công dân tham gia lực lượng dân quân được Ban CHQS huyện thực hiện chặt chẽ, bảo đảm độ tin cậy về chính trị, chủ yếu là người địa phương, thông thạo địa bàn, có nhận thức cao, sức khoẻ tốt, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.
Anh Nguyễn Hữu Phương, Chốt trưởng Chốt dân quân xã Tân Hộ Cơ cho biết: “Hằng tuần, chúng tôi phối hợp với tổ tuần tra lưu động của Bộ đội Biên phòng tuần tra địa bàn một lần. Những lúc cao điểm hay có các sự kiện chính trị trọng đại của đất nước thì tăng cường tuần tra nhằm đấu tranh, ngăn chặn đối tượng có hành vi vi phạm, vượt biên, nhập cư, cư trú trái phép và những hành vi xâm phạm chủ quyền, lợi ích quốc gia. Ngoài ra, dân quân thường trực còn thực hiện tốt việc phối hợp với các lực lượng giúp nhân dân khắc phục hậu quả thiên tai, lao động sản xuất, phát triển kinh tế, ổn định đời sống”.
Cùng với nắm chắc tình hình địa bàn, công tác huấn luyện, SSCĐ cho dân quân cũng được xác định là nhiệm vụ chính trị trọng tâm. Ngoài chương trình huấn luyện chung, Ban CHQS huyện còn thường xuyên bồi dưỡng, tập huấn cho dân quân các nội dung phù hợp với địa bàn biên giới, làng xã chiến đấu, sông rạch... Anh Nguyễn Văn Luân, phụ trách Chốt dân quân xã Bình Phú cho biết: “Chúng tôi thường xuyên tổ chức luyện tập các phương án SSCĐ để rèn luyện khả năng cơ động, xử trí tình huống nhanh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Đồng thời, kết hợp với các đơn vị đứng chân trên địa bàn tổ chức diễn tập sát thực tế, nâng cao khả năng hiệp đồng tác chiến và tác chiến độc lập khi có tình huống”.
Thực tế cho thấy, nhờ sự quan tâm, hỗ trợ của các cấp, ngành, địa phương, hoạt động của các chốt dân quân biên giới ở huyện Tân Hồng thời gian qua đã phát huy hiệu quả, góp phần quan trọng giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn./.
ST
LÝ LUẬN VỀ ĐẠO ĐỨC CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN CẦM QUYỀN VÀ THỰC TIỄN VIỆT NAM QUA HƠN 35 NĂM ĐỔI MỚI
Học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã đặt nền móng cơ bản cho lý luận về đạo đức của đảng cộng sảm cầm quyền. Trong hơn 35 năm đổi mới vừa qua, Đảng ta đã vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức của đảng cộng sản cầm quyền trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với vai trò, sứ mệnh của Đảng duy nhất cầm quyền.
1. Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức của đảng cầm quyền
Chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của đạo đức trong cách mạng xã hội chủ nghĩa và đối với đảng cộng sản cầm quyền
Từ rất sớm, C.Mác và Ph.Ăngghen đã nhận thức rõ vai trò của đạo đức đối với tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại. Với phương pháp luận duy vật biện chứng, C.Mác chỉ ra rằng, đạo đức là một phạm trù lịch sử, nó bị chi phối bởi hoàn cảnh lịch sử, bởi tồn tại xã hội, đồng thời là kết quả của quá trình giáo dục, rèn luyện đạo đức và hoạt động thực tiễn của con người. Ph.Ăngghen viết: “Nếu như lợi ích đúng đắn là nguyên tắc của toàn bộ đạo đức thì do đó cần ra sức làm cho lợi ích riêng của con người cá biệt phù hợp với lợi ích của toàn thể loài người”.
Trong các hình thái đạo đức của các thời đại khác nhau, chủ nghĩa Mác đặc biệt đánh giá cao vai trò của đạo đức mới trong xã hội tương lai - đạo đức cộng sản. Đó là “một đạo đức thực sự có tính người”, “thứ đạo đức hiện nay đang tiêu biểu cho sự lật đổ hiện tại, biểu hiện cho lợi ích của tương lai, tức là đạo đức vô sản - là thứ đạo đức có một số lượng nhiều nhất những nhân tố hứa hẹn một sự tồn tại lâu dài”.
Giá trị đạo đức không chỉ được thể hiện, phát huy, trở thành động lực trong sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân, mà nó còn là một trong những yếu tố quyết định bảo đảm giữ vững vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản, nhất là khi đảng đó trở thành đảng cầm quyền. Trong xã hội có giai cấp, đạo đức chi phối xã hội là đạo đức của giai cấp thống trị, “vì cho tới nay xã hội đã vận động trong những sự đối lập giai cấp, cho nên đạo đức cũng luôn luôn là đạo đức của giai cấp: hoặc là nó biện hộ cho sự thống trị và lợi ích của giai cấp thống trị”. Tính giai cấp của đạo đức thể hiện ở chỗ, mỗi chế độ xã hội thường xây dựng các chuẩn mực đạo đức tương thích với các thiết chế chính trị và lợi ích xã hội do chế độ xã hội đó đặt ra.
Đạo đức cũng là một trong những yếu tố tạo nên nền tảng tinh thần của xã hội, nó thẩm thấu vào các mối quan hệ xã hội và có tác dụng điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, trong đó có quan hệ chính trị. Đảng cầm quyền tạo được sự giao thoa giữa lý tưởng cách mạng với niềm tin của nhân dân trên cơ sở năng lực lãnh đạo và phẩm chất đạo đức của đảng sẽ khơi dậy, phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân, làm cho nhân dân tin tưởng đi theo và ủng hộ, qua đó đảng giữ vững được vị thế cầm quyền và vai trò lãnh đạo.
Sau khi cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân giành được thắng lợi, đảng cộng sản - đội tiên phong của giai cấp công nhân - trở thành đảng cầm quyền tiến hành cuộc cách mạng toàn diện, triệt để nhằm xóa bỏ chế độ áp bức, bóc lột, cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới với một hệ thống các chuẩn mực đạo đức mới. Trong đạo đức mới, chuẩn mực bao trùm, xuyên suốt là: lợi ích của đảng phù hợp với lợi ích của giai cấp và lợi ích của toàn thể nhân dân lao động, bởi những người cộng sản “tuyệt nhiên không có một lợi ích nào tách khỏi lợi ích của toàn thể giai cấp vô sản”; “tất cả những phong trào lịch sử, từ trước đến nay, đều là do thiểu số thực hiện, hoặc đều mưu lợi ích cho thiểu số. Phong trào vô sản là phong trào độc lập của khối đại đa số, mưu lợi ích cho khối đại đa số”. Nhân tố cốt lõi nhất của đạo đức cộng sản chính là sự thống nhất về lợi ích giữa đảng với giai cấp công nhân và nhân dân. Điều đó tạo thành động lực to lớn thu hút toàn thể giai cấp công nhân và nhân dân lao động đi theo, ủng hộ và trở thành cơ sở chính trị - xã hội rộng lớn bảo đảm vững chắc vị thế cầm quyền của đảng.
V.I.Lênin là lãnh tụ của đảng cộng sản đầu tiên cầm quyền. Ngày 27-3-1922, trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng bônsêvích Nga, V.I.Lênin khẳng định: “đảng ta là đảng cầm quyền duy nhất”. Là đảng cầm quyền, nên những điều kiện bảo đảm cho sự cầm quyền của đảng được Người rất coi trọng. Người đã nghiên cứu, vận dụng sáng tạo học thuyết Mác về đảng cộng sản, đồng thời bổ sung, phát triển lý luận về đảng cầm quyền từ thực tiễn của nước Nga sau Cách mạng Tháng Mười, trong đó có lý luận về đạo đức của đảng cầm quyền.
V.I.Lênin khẳng định, để bảo đảm vững chắc vị thế cầm quyền, lãnh đạo giai cấp, lãnh đạo xã hội, trước hết đảng phải có lý luận khoa học và cách mạng soi đường. “Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng”, “chỉ đảng nào được một lý luận tiên phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong”. Đồng thời, Người cũng khẳng định: đảng cộng sản phải đại diện cho “trí tuệ, danh dự và lương tâm của thời đại”. Sự kết hợp của ba yếu tố: năng lực trí tuệ lãnh đạo sáng suốt; danh dự trách nhiệm trước sứ mệnh giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội khỏi mọi sự áp bức, bóc lột; lương tâm, phẩm giá đạo đức trong sáng sẽ tạo thành sức mạnh tổng hợp bảo đảm giữ vững vị thế cầm quyền, lãnh đạo của đảng đối với nhà nước và toàn xã hội. “Cơ sở của đạo đức cộng sản là cuộc đấu tranh để củng cố và hoàn thành công cuộc xây dựng chủ nghĩa cộng sản”; vì vậy, “cuộc đấu tranh giai cấp còn tiếp tục, và nhiệm vụ của chúng ta là làm cho tất cả mọi lợi ích phải phục tùng cuộc đấu tranh này. Và đạo đức cộng sản của chúng ta cũng phải phục tùng nhiệm vụ này. Chúng ta nói rằng: đạo đức đó là những gì góp phần phá hủy xã hội cũ của bọn bóc lột và góp phần đoàn kết tất cả những người lao động chung quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo ra xã hội mới của những người cộng sản”.
Khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công và trong điều kiện của Đảng cầm quyền, V.I.Lênin đặc biệt coi trọng công tác xây dựng đảng trong sạch, vững mạnh về đạo đức, kiên quyết đấu tranh, phòng ngừa mọi biểu hiện thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên. Tất cả những căn bệnh: quan liêu, nhu nhược, tham nhũng, chủ nghĩa cá nhân, kiêu ngạo cộng sản... nếu không phòng ngừa và đấu tranh loại bỏ thì sẽ là nguy cơ lớn đe dọa vị thế cầm quyền và vai trò lãnh đạo của Đảng. Người chỉ rõ: “Tất cả những đảng cách mạng đã bị tiêu vong cho tới nay, đều bị tiêu vong vì tự cao tự đại, vì không biết nhìn rõ cái gì tạo nên sức mạnh của mình, và vì sợ sệt không dám nói lên những nhược điểm của mình”.
Từ đó, V.I.Lênin yêu cầu, đảng phải hết sức coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn đảng trong sạch, vững mạnh, kết hợp với xây dựng một nhà nước kiểu mới theo nguyên tắc “Thà ít mà tốt”, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Cán bộ, đảng viên trong đảng và trong bộ máy nhà nước phải được tuyển chọn kỹ càng theo những tiêu chuẩn nghiêm ngặt, bảo đảm về chất lượng. Họ phải là “những phần tử ưu tú... phải không sợ thừa nhận bất cứ một khó khăn nào và không lùi bước trước bất cứ một cuộc đấu tranh nào để đạt được mục đích”.
Khi đảng cầm quyền, nguy cơ tha hóa về quyền lực, lạm quyền là rất lớn. Sớm nhận ra vấn đề này, V.I.Lênin yêu cầu phải làm tốt công tác kiểm tra, kiểm soát quyền lực bằng phương thức kết hợp giữa hệ thống pháp luật với công tác tổ chức, công tác kiểm tra của Đảng, với thực thi dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh bổ sung, phát triển lý luận về đạo đức của Đảng cầm quyền ở Việt Nam.
Vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp với thực tiễn Việt Nam, Hồ Chí Minh đã xây dựng một hệ thống lý luận về đạo đức cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, khi cách mạng thành công, giành lại độc lập dân tộc và bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH, Hồ Chí Minh đã dành nhiều tâm sức, trí tuệ cho công việc hệ trọng là xây dựng Đảng xứng đáng “là đạo đức”, “là văn minh”.
Lý luận về đạo đức của đảng cầm quyền được Hồ Chí Minh nhìn nhận ở hai góc độ: đạo đức của toàn Đảng và đạo đức của mỗi đảng viên. Đạo đức của Đảng thể hiện ở sứ mệnh lãnh đạo, trách nhiệm cầm quyền; xây dựng một nền chính trị liêm khiết; tính tiên phong gương mẫu; tính tổ chức kỷ luật, tự giác nghiêm minh; tinh thần tự phê bình và phê bình; lấy phụng sự Tổ quốc, nhân dân và dân tộc làm lợi ích tối thượng; v.v.. Đạo đức của mỗi đảng viên thể hiện ở “tư cách của người cách mạng”, “ít lòng ham muốn về vật chất”, “xem thường danh vị, ngôi thứ và tiền bạc, vì chúng là cội nguồn sinh ra đố kỵ và hận thù và là nguyên nhân của những hành động chỉ điểm, phản bội làm tổn hại nghiêm trọng đến sự nghiệp cách mạng”. Để giữ vững vị thế cầm quyền và thực thi một nền chính trị liêm khiết, Đảng phải kết hợp hài hòa giữa “pháp trị” và “đức trị”; cùng với giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng, “thực hành chữ LIÊM”, “pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì”.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, mặc dù sau đó thực dân Pháp quay lại xâm lược, Đảng ta mới giữ vai trò cầm quyền trong phạm vi nhất định và tuyên bố tự giải tán, nhưng với tầm nhìn xa trông rộng và nhãn quan chính trị sáng suốt, Hồ Chí Minh đã chỉ ra những nguy cơ có thể làm suy yếu Đảng, đe dọa vị thế cầm quyền của Đảng - đó là những thói hư, tật xấu, sự suy đồi về phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên, của một số tổ chức đảng. Tất cả những khuyết tật này nếu không được ngăn chặn, loại bỏ sẽ gây tác hại khôn lường, làm suy giảm nghiêm trọng niềm tin của nhân dân đối với vị thế cầm quyền của Đảng, gây khó khăn cho cuộc kháng chiến diễn ra ác liệt, gây tác hại lâu dài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Chính vì vậy, tháng 10-1947, Người đã viết tác phẩm Sửa đổi lối làm việc. Trong tác phẩm này, Người đã phân tích rõ “tư cách của người cách mạng và đạo đức cách mạng”, bao gồm mười hai điều xây dựng Đảng chân chính cách mạng và xây dựng Đảng về đạo đức. Đây chính là những chuẩn mực đạo đức của một đảng cầm quyền. Đồng thời, Hồ Chí Minh đã chỉ ra những căn bệnh, khuyết điểm mà cán bộ, đảng viên dễ mắc phải bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân. Người xem đây là “căn bệnh mẹ” đẻ ra trăm thứ bệnh khác, như: tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh, thiếu kỷ luật, đầu óc hẹp hòi, địa phương chủ nghĩa, bè phái... Mặt khác, Người cũng chỉ ra phương pháp, cách thức rèn luyện, tu dưỡng “nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” để mỗi cán bộ, đảng viên hằng ngày soi vào đó mà quyết tâm sửa chữa, rèn luyện, phấn đấu.
Trong Di chúc, một lần nữa Hồ Chí Minh khẳng định: xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh vẫn là công việc hàng đầu, trước hết. Do vậy, Người yêu cầu: “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”; cán bộ, đảng viên phải là những con người vừa có đức, vừa có tài, vừa “hồng”, vừa “chuyên”, phải thấm nhuần đạo đức cách mạng, có tinh thần yêu nước, thương dân, “đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc”.
Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa đạo đức của Đảng cầm quyền với tấm gương đạo đức trong sáng của đội ngũ cán bộ, đảng viên tạo nên sức hút và trở thành yếu tố thu phục nhân dân đi theo, ủng hộ sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Không chỉ xây dựng hệ thống lý luận đạo đức cách mạng nền tảng, Hồ Chí Minh còn là tấm gương đạo đức trong sáng, mẫu mực về sự kết hợp hài hòa giữa “pháp trị” và “đức trị” trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Người luôn tâm niệm: đạo đức là gốc, là nguồn, là nền tảng của người cách mạng, bởi vì muốn làm cách mạng thì trước hết con người phải có cái tâm trong sáng, cái đức cao đẹp đối với giai cấp công nhân, nhân dân lao động và với dân tộc.
Người căn dặn: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán hai chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nội dung đạo đức của Đảng cầm quyền thể hiện, thấm sâu trên mọi lĩnh vực. Về chính trị, tư tưởng, Đảng phải có lý luận khoa học và cách mạng làm nền tảng soi đường dẫn lối, đề ra đường lối đúng đắn để lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân thực hiện mục tiêu, lý tưởng của mình. Về tổ chức, đạo đức của Đảng cầm quyền được thể hiện vừa ở đạo đức của toàn Đảng, của các tổ chức đảng, vừa là đạo đức của mỗi đảng viên. Về hành động, các tổ chức đảng và mỗi đảng viên phải thực hiện theo đúng đường lối, chủ trương của Đảng, lấy lợi ích của quốc gia - dân tộc, lợi ích của nhân dân làm mục tiêu tối thượng để phục vụ, cống hiến. Về phương thức thực hiện, kết hợp hài hòa giữa “pháp trị” và “đức trị”, qua cơ chế kiểm tra, giám sát của Đảng, của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, của nhân dân, đặc biệt qua sự giám sát của nhân dân đối với hoạt động của các tổ chức đảng và đối với từng cán bộ, đảng viên.
2. Sự vận dụng, phát triển lý luận về đạo đức của đảng cầm quyền qua hơn 35 năm đổi mới ở Việt Nam
Từ thực tiễn hơn 35 năm đổi mới, lý luận về đạo đức của đảng cầm quyền được Đảng ta vận dụng, bổ sung, phát triển và đạt được những thành tựu cơ bản sau:
Một là, quy định rõ hơn vai trò, trách nhiệm của đảng cầm quyền
Đảng đã quy định rõ hơn vai trò, trách nhiệm của mình trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền. Điều 4 Hiến pháp năm 2013 xác định rõ vị thế cầm quyền, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Đảng ta tiếp tục xác định yêu cầu, trách nhiệm của Đảng cầm quyền là phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, kiên định đường lối đổi mới của Đảng và các nguyên tắc xây dựng Đảng. Đảng phải trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình.
Hai là, tư duy, nhận thức lý luận về đạo đức của đảng cầm quyền không ngừng được bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với bối cảnh mới
Từ Đại hội VI của Đảng đến nay, không có nhiệm kỳ nào mà Ban Chấp hành Trung ương Đảng không có nghị quyết chuyên đề về xây dựng Đảng, về đổi mới, chỉnh đốn Đảng, gần đây thể hiện rõ, tập trung ở các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII và Kết luận của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII. Trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, lần đầu tiên những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đã được Đảng ta chỉ ra, giúp mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên căn cứ vào đó mà tự soi xét và nâng cao ý thức trách nhiệm, tự giác trong việc thực hiện Nghị quyết.
Từ Đại hội XII, Đảng xác định xây dựng Đảng về đạo đức là một nội dung trong công tác xây dựng Đảng. Đến Đại hội XIII của Đảng, công tác xây dựng Đảng được xác định đầy đủ: xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, gắn với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Đại hội XIII đã bổ sung thành tố “năng lực cầm quyền” bên cạnh các thành tố “năng lực lãnh đạo” và “sức chiến đấu”. Mục tiêu tổng quát của định hướng phát triển đất nước có đoạn ghi: “Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”. Đây là một sự bổ sung, phát triển mới của Đảng trong nhận thức lý luận về Đảng lãnh đạo, Đảng cầm quyền, là sự kết hợp giữa xây dựng với chỉnh đốn Ðảng; giữa xây dựng Ðảng với bảo vệ Ðảng trong điều kiện mới.
Kết luận số 21-KL/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII khẳng định: tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng với một số điểm mới nổi bật: cùng với xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải mở rộng phạm vi xây dựng, chỉnh đốn cả hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; đi liền với ngăn chặn, đẩy lùi phải chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm minh những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những hành vi tham nhũng, tiêu cực; bổ sung, làm rõ hơn hệ thống những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “tiêu cực” sát với tình hình mới, trong đó nhấn mạnh đến nguy hại của suy thoái về đạo đức, phai nhạt lý tưởng cách mạng, suy giảm niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin vào sự nghiệp cách mạng của đất nước; nói và làm trái với quan điểm, đường lối của Đảng; sa sút ý chí chiến đấu trong bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ XHCN và bảo vệ nhân dân.
Ba là, xác định rõ hơn về phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện một Đảng cầm quyền
Nhận thức về phương thức lãnh đạo của Đảng được bổ sung ngày càng rõ và toàn diện hơn. Tại Đại hội VII của Đảng, Cương lĩnh năm 1991 xác định: Đảng lãnh đạo bằng Cương lĩnh, chiến lược, các định hướng chính sách; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra; bằng biện pháp nêu gương của cán bộ, đảng viên; giới thiệu những đảng viên ưu tú lãnh đạo chính quyền và các tổ chức đoàn thể.
Đến Đại hội XI của Đảng, Cương lĩnh năm 2011 bổ sung, làm rõ hơn trách nhiệm cá nhân, nhất là cán bộ cấp chiến lược và người đứng đầu; Đảng thường xuyên nâng cao năng lực cầm quyền và năng lực lãnh đạo.
Tại Đại hội XII của Đảng, điểm mới trong nội dung xây dựng Đảng được bổ sung toàn diện hơn, trong đó không chỉ xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và cán bộ, mà nhấn mạnh xây dựng Đảng về đạo đức, làm cho Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh.
Đến Đại hội XIII, Đảng ta đặc biệt nhấn mạnh, làm rõ, toàn diện hơn phương thức dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đây không chỉ là sự kế thừa bài học lớn “lấy dân làm gốc” từ trong lịch sử cách mạng nước ta, mà còn là sự tổng kết từ thực tiễn công tác xây dựng Đảng thời kỳ đổi mới.
Bên cạnh những kết quả đạt được, trong nhận thức, phát triển lý luận về đạo đức của Đảng cầm quyền còn một số vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu, làm sáng tỏ, từ khái niệm đến nội hàm, các tiêu chí đánh giá đạo đức của đảng cầm quyền; quan hệ giữa xây dựng Đảng về đạo đức với xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và cán bộ; những yếu tố tác động đến quá trình xây dựng Đảng về đạo đức; định hướng và các giải pháp đẩy mạnh xây dựng Đảng về đạo đức để Đảng ta luôn xứng đáng “là đạo đức” của Đảng duy nhất cầm quyền...
ST
THIÊNG LIÊNG QUÊ HƯƠNG VIỆT NAM TRONG TRÁI TIM BÀ CON NGƯỜI VIỆT Ở THÁI LAN
Ông Nguyễn Ngọc Thìn, Chủ tịch Tổng hội người Việt Nam toàn Thái chia sẻ, cộng đồng người Việt ở đất nước Chùa vàng hân hoan, xúc động và tự hào chờ đón Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Vương Đình Huệ, cơ quan cao nhất đại diện cho ý chí của toàn dân sang thăm chính thức Vương quốc Thái Lan.
Trao đổi với phóng viên Báo Nhân Dân, chia sẻ tình cảm với đất nước, ông nói, quê hương Việt Nam là hai từ thiêng liêng luôn chiếm vị trí trang trọng nhất trong tâm khảm, trái tim của bà con tại Thái Lan.
Chuyến thăm đúng dịp đón chào năm mới
“Ngài Vương Đình Huệ mặc dù rất bận rộn với công việc và trách nhiệm lớn lao vẫn dành thời gian quý báu đến thăm bà con và nhất là chuyến thăm diễn ra trước thềm đón chào năm mới 2024 đem đến sự quan tâm lớn lao và những điều chúc tốt lành nhất cho cộng đồng”, ông nói.
Theo ông, nỗi nhớ quê hương luôn trào dâng mạnh mẽ khi Kiều bào đón nhận, hưởng ứng các ngày Lễ của dân tộc, đón các đoàn đại biểu đến thăm, thời khắc đón chào năm mới, các ngày trọng đại của cộng đồng, gia đình và bản thân...
“Chuyến thăm này thể hiện sự quan tâm của Nhà nước Việt Nam luôn coi Kiều bào là bộ phận không thể tách rời của Cộng đồng dân tộc Việt Nam, của chính sách đại đoàn kết dân tộc”, ông Nguyễn Ngọc Thìn nhấn mạnh.
Ông cũng chia sẻ, bà con kiều bào hết sức phấn khởi về chuyến thăm, về sự phát triển quan hệ giữa Việt Nam và Thái Lan và nguyện hết sức, làm tròn trách nhiệm với quê hương và không ngừng vun đắp cho tình hữu nghị giữa hai dân tộc.
Bà Nguyễn Thị Xuân Oanh, kiều bào Việt Nam tại Udon Thani chia sẻ với phóng viên Báo Nhân Dân: Năm mới, ai cũng cầu mong những điều tốt lành đến với gia đình mình và những người thân.
“Với kiều bào chúng tôi, Tổ quốc luôn trong trái tim mọi người. Vì thế những ngày tới, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đến thăm bà con người Việt ở Thái Lan vào dịp sắp bước vào thềm năm mới 2024, đó là một niềm mong ước của mọi Việt kiều Thái Lan”, bà Xuân Oanh nói.
Theo bà, Chủ tịch Vương Đình Huệ đại diện lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam, Tổ quốc Việt Nam đến với bà con kiều bào, đem lại tình cảm của Tổ quốc Việt Nam như người mẹ hiền đến với những đứa con ở nơi xa chưa có điều kiện về thăm cha mẹ...
Được biết, cộng đồng người Việt tại Thái Lan hết sức tự hào khi có nhiều công trình văn hóa, khu tưởng niệm mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam như Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Bản Nỏng Ôn, tỉnh Udon Thani, Khu Tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại tỉnh Nakhon Phanom, Công viên Hữu nghị Thái Việt và Chùa Một cột ở tỉnh Khỏn Kèn... được bà con đóng góp xây dựng và trân trọng giữ gìn.
Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Bản Nỏng Ôn là nơi tưởng nhớ linh thiêng Vị Cha già dân tộc kính yêu, Chủ tịch Hồ Chí Minh của bà con kiều bào cũng như đông đảo khách thăm quan du lịch.
Mỗi khi có ngày Lễ lớn của Dân tộc, bà con Kiều bào đều đến thành kính dâng hương, tưởng nhớ công lao trời biển, tâm niệm Mong muốn và lời dặn dò của Bác.
Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng thường xuyên nhận được sự quan tâm tạo điều kiện thuận lợi của các cấp chính quyền Thái Lan, thể hiện sự ngưỡng mộ của Bạn cũng như chính quyền, nhân dân Thái đối với Bác. Hiện Khu Di tích là một điểm thu hút du lịch đến thăm Udon Thani.
Đề cập Khu Di tích thành quần thể gắn liền di tích, hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh và văn hóa Việt tại Udon Thani, Chủ tịch Tổng hội người Việt Nam nêu rõ: Cộng đồng người Việt tại Thái Lan luôn luôn tự hào, nguyện hết sức giữ gìn, phát triển Khu Di tích cho hiện nay cũng như thế hệ mai sau.
“Bán anh em xa, mua láng giềng gần”
Theo ông Nguyễn Ngọc Thìn nhìn nhận, quan hệ Việt Nam và Thái Lan hết sức quan trọng, được Nhà nước hai bên luôn quan tâm.
Ông cho rằng: Hai nước là láng giềng hữu nghị, và tục ngữ Việt Nam có câu “Bán anh em xa, mua Láng giềng gần” thể hiện tầm quan trọng của các nước láng giềng. Hai nước là thành viên chủ chốt, có vị thế trong ASEAN; có nhiều tiềm năng thế mạnh bổ trợ nhau và có nhiều nét tương đồng về văn hóa trong nhân dân.
Qua theo dõi nội dung gặp gỡ, làm việc của Chủ tịch Quốc hội nước ta và Chủ tịch Hạ viện, Chủ tịch Thượng viện Vương quốc Thái Lan, lãnh đạo hai nước thể hiện mong muốn và quyết tâm đưa quan hệ giữa hai nước lên tầm cao mới một cách thực chất trên nhiều lĩnh vực.
Trước thực tiễn quan hệ hai nước vừa qua, theo ông Nguyễn Ngọc Thìn, Chủ tịch Tổng hội người Việt Nam toàn Thái: Quốc hội, chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp hai nước cần duy trì và đẩy mạnh việc giao lưu các cấp, giao lưu nhân dân để tăng cường hiểu biết về niềm tin, sự thống nhất về lợi ích của hai bên, về cơ hội, thời cơ hợp tác để “hai bên cùng thắng”, cũng như những thách thức chung hai bên cần vượt qua.
Hai bên cũng cần đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động hợp tác về kinh tế, quảng bá, xúc tiến thương mại, văn hóa, giáo dục, khoa học kỹ thuật một cách cụ thể, thực chất và hiệu quả.
Ông Nguyễn Ngọc Thìn thẳng thắn nêu cần chỉnh sửa lại một số chính sách về bảo hộ thương mại chưa phù hợp để cùng nhau đạt được những lợi ích lớn hơn, song trùng của hai nước, trước những thách thức của quá trình toàn cầu hóa, tự do thương mại và bảo hộ thương mại, trước sự tranh giành vai trò ảnh hưởng trong khu vực đang tăng lên giữa các cường quốc.
Cho rằng trước hết cần đẩy mạnh phát triển hạ tầng, đáp ứng tốt cho các yêu cầu về giao thương, Chủ tịch Tổng hội người Việt Nam toàn Thái tin tưởng chắc chắn rằng, quan hệ hai nước sẽ đạt được nhiều kết quả tích cực hơn nữa trong thời gian tới trên nhiều lĩnh vực.
Với công tác hoạt động của Cộng đồng kiều bào ta ở Thái Lan, ông mong muốn đề đạt một số nội dung sau: Tiếp tục duy trì, đẩy mạnh và tạo điều kiện các hoạt động kiều bào về thăm quê hương, tham dự các ngày Lễ lớn do Bên Nhà tổ chức, thăm quan các di tích lịch sử, văn hóa của dân tộc.
Về quy định pháp luật, cần điều chỉnh, bổ sung cần thiết để tăng cường hơn nữa sự gắn bó, lợi ích và trách nhiệm của bà con người Việt ở xa Tổ quốc với quê hương: quyền sỡ hữu, quyền sử dụng đất đai, nhà ở, các vấn đề về hộ tịch, căn cước công dân, visa, có những ưu đãi đặc thù cho bà con về đầu tự kinh doanh tại quê nhà, về giáo dục, duy trì và phát triển tiếng Việt trong cộng đồng, nâng cao hiểu biết về văn hóa Việt trong cộng đồng...
“Các trường đại học Việt Nam xem xét cấp một số học bổng cho con em kiều bào có khả năng, giúp thế hệ trẻ ở xa Tổ quốc luôn hiểu biết, gắn bó, phục vụ quê hương”.
Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng, quan hệ Việt Nam và Thái Lan ngày càng phát triển tốt đẹp, nhưng giữa Việt Nam và Thái Lan có nhiều mặt chưa cân bằng trong kinh tế.
Bà Nguyễn Thị Xuân Oanh cho biết: Nhiều mặt hàng của Thái Lan được bày bán nhiều nơi ở Việt Nam kể cả trong siêu thị và các tiểu thương, nhưng hàng Việt Nam thì hiếm bắt gặp trong các cửa hàng Thái Lan. “Những nhà đầu tư Thái Lan vào Việt Nam thì nhiều, nhưng nhà đầu tư Việt Nam vào Thái Lan thì ít”.
Bà con cộng đồng bày tỏ mong muốn Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ và các thành viên trong Đoàn công tác qua các cuộc làm việc với các nhà lãnh đạo Thái Lan đạt kết quả tốt đẹp, triển khai hiệu quả các cơ chế hợp tác giữa hai nước.
Cơ quan Quốc hội hai nước cần phối hợp thực hiện hiệu quả Chương trình Hành động triển khai quan hệ Đối tác chiến lược tăng cường Việt Nam-Thái Lan giai đoạn 2022-2027; phấn đấu đạt đưa kim ngạch thương mại song phương sớm đạt mục tiêu 25 tỷ USD, bảo đảm lợi ích và cùng có lợi trong thời gian tới./.
ST
BỒI ĐẮP TÌNH HỮU NGHỊ VÀ TĂNG CƯỜNG HỢP TÁC VIỆT NAM - CAMPUCHIA
Với phương châm “láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài”, quan hệ Việt Nam-Campuchia thời gian qua tiếp tục phát triển sâu rộng và đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Trên cơ sở đó, hai bên đang nỗ lực thúc đẩy hợp tác thực chất và hiệu quả hơn nữa nhằm mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước.
Trong những năm qua, quan hệ chính trị Việt Nam-Campuchia tiếp tục được duy trì vững chắc, đóng vai trò định hướng quan hệ hai nước. Các chuyến thăm, các cuộc tiếp xúc và trao đổi giữa lãnh đạo cấp cao hai nước được duy trì dưới nhiều hình thức.
Hai bên tổ chức thành công cuộc gặp giữa Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam và Ban Thường vụ Đảng Nhân dân Campuchia (CPP). Việt Nam và Campuchia cũng phối hợp Lào tổ chức cuộc gặp giữa ba người đứng đầu ba đảng tại Hà Nội, cuộc ăn sáng làm việc giữa ba Thủ tướng nhân dịp Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 43 tại Indonesia.
Quan hệ giữa các bộ, ngành, địa phương hai nước cũng được duy trì. Các cơ chế hợp tác song phương, như Ủy ban hỗn hợp về Hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học và kỹ thuật, Hội nghị hợp tác và phát triển các tỉnh biên giới…, tiếp tục phát huy hiệu quả.
Hợp tác quốc phòng, an ninh là một trụ cột quan trọng trong quan hệ hai nước; ngày càng được thúc đẩy, góp phần bảo đảm ổn định, an toàn, an ninh biên giới.
Hai bên cũng phối hợp chặt chẽ triển khai thành quả phân giới cắm mốc 84% đường biên giới trên đất liền và tích cực trao đổi để giải quyết 16% còn lại.
Bên cạnh đó, các lĩnh vực hợp tác như giáo dục, giao thông, vận tải, văn hóa, xã hội, du lịch, khoa học, kỹ thuật... tiếp tục được hai bên quan tâm thúc đẩy.
Hợp tác kinh tế thương mại, đầu tư giữa hai nước những năm qua đạt được nhiều thành tựu.
Việt Nam hiện là đối tác thương mại lớn thứ ba của Campuchia trên thế giới và là đối tác thương mại lớn nhất của Campuchia trong ASEAN.
Kim ngạch thương mại song phương 9 tháng đầu năm 2023 đạt 6,5 tỷ USD. Việt Nam đứng đầu trong ASEAN và nằm trong nhóm năm nước có đầu tư trực tiếp lớn nhất tại Campuchia. Việt Nam hiện có 205 dự án đầu tư còn hiệu lực ở Campuchia với tổng vốn đăng ký đạt 2,94 tỷ USD.
Tại các cuộc gặp, tiếp xúc giữa lãnh đạo cấp cao và các cấp, trong các cơ chế hợp tác giữa hai nước gần đây, hai bên thông tin cho nhau về tình hình mỗi nước, cũng như những bước phát triển tốt đẹp trong quan hệ Việt Nam-Campuchia.
Đều nhận định rằng còn nhiều tiềm năng để thúc đẩy hợp tác hơn nữa, hai nước nhất trí triển khai hiệu quả các thỏa thuận đã ký kết; đẩy mạnh kết nối hai nền kinh tế; tăng cường hợp tác quốc phòng, an ninh.
Hai bên nhất trí thúc đẩy hợp tác hơn nữa trong các lĩnh vực giao thông, du lịch, nông-lâm-ngư nghiệp..., cũng như giữa các địa phương hai nước.
Trong Năm Hữu nghị Việt Nam-Campuchia 2022, hai bên tổ chức thành công nhiều hoạt động ý nghĩa, thiết thực kỷ niệm 55 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước (24/6/1967-24/6/2022).
Với những thành quả đã đạt được, hai bên nhất trí tăng cường giao lưu nhân dân nhằm tiếp tục bồi đắp và nâng cao nhận thức của nhân dân hai nước, nhất là thế hệ trẻ, về quan hệ láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài Việt Nam-Campuchia.
Cùng với đẩy mạnh hợp tác trong khuôn khổ song phương, hai bên nhất trí phối hợp chặt chẽ, ủng hộ lẫn nhau tại các tổ chức, diễn đàn khu vực và quốc tế, như Liên hợp quốc, ASEAN…, cũng như các cơ chế hợp tác tiểu vùng sông Mê Công.
Việt Nam đã phối hợp và ủng hộ Campuchia đảm nhiệm thành công vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2022.
Hai bên tiếp tục chung tay xây dựng Cộng đồng ASEAN đoàn kết, độc lập, tự cường và thịnh vượng; thúc đẩy hợp tác đa phương giữa hai nước đóng góp tích cực vào hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực và thế giới, đồng thời góp phần nâng cao uy tín và vị thế của mỗi nước trên trường quốc tế./.
ST
VIỆT NAM TRÚNG CỬ PHÓ CHỦ TỊCH MỘT UỶ BAN THEN CHỐT CỦA UNESCO
Ngày 8/12, trong khuôn khổ Kỳ họp lần thứ 18 của Uỷ ban liên chính phủ Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể (Công ước 2003) của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) diễn ra ở thành phố Kasane (Cộng hòa Boswana), Việt Nam đã được tín nhiệm bầu vào vị trí Phó Chủ tịch Ủy ban, đại diện cho khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Đây là lần thứ 2 Việt Nam là thành viên của cơ quan điều hành Công ước 2003, sau nhiệm kỳ đầu tiên từ 2006-2010.
Phóng viên TTXVN tại Pháp dẫn lời Đại sứ Lê Thị Hồng Vân, Trưởng Phái đoàn thường trực Việt Nam bên cạnh UNESCO, cho biết trong năm nay Việt Nam đã đón nhận nhiều tin vui trong hợp tác với tổ chức UNESCO, tiêu biểu như việc Việt Nam được tín nhiệm bầu vào vị trí Phó Chủ tịch Đại hội đồng UNESCO, được bầu vào Ủy ban Di sản Thế giới; Vịnh Hạ Long - Quần đảo Cát Bà được ghi danh là di sản thiên nhiên thế giới; thành phố Đà Lạt, Hội An tham gia Mạng lưới các thành phố sáng tạo; Danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác được UNESCO ra Nghị quyết cùng kỷ niệm 300 năm ngày sinh và dự kiến có thể có thêm một số thành phố của Việt Nam tham gia mạng lưới các thành phố học tập toàn cầu…
Theo Đại sứ Lê Thị Hồng Vân, việc Việt Nam thêm lần nữa được tín nhiệm bầu làm Phó Chủ tịch một trong những cơ quan chuyên môn then chốt của UNESCO đã khẳng định vị thế và uy tín ngày càng cao của Việt Nam trên trường quốc tế, cho thấy sự ủng hộ, tin tưởng của cộng đồng quốc tế đối với khả năng đóng góp và năng lực điều hành của Việt Nam tại UNESCO, cũng như ghi nhận đóng góp tích cực của Việt Nam trong lĩnh vực hợp tác văn hóa nói chung và di sản văn hóa phi vật thể nói riêng, góp phần vào thúc đẩy vai trò của văn hóa và di sản cho sự phát triển bền vững, bao trùm và tự cường ở tầm quốc gia, khu vực và toàn cầu. Đây cũng là một minh chứng nữa về việc Việt Nam đã triển khai thành công đường lối đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa và hội nhập quốc tế toàn diện theo đúng tinh thần Nghị quyết lần thứ XIII của Đảng, Chỉ thị 25-CT/TW của Ban Bí thư về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030.
Với tư cách Phó Chủ tịch Ủy ban liên chính phủ Công ước 2003, Việt Nam sẽ có điều kiện thuận lợi hơn trong việc hoàn thiện, triển khai các mục tiêu và ưu tiên của Công ước 2003, nâng tầm quan trọng của di sản văn hóa phi vật thể như một động lực cho phát triển bền vững, đa dạng văn hóa, sáng tạo và đối thoại giữa các nền văn hóa, gắn kết xã hội, tăng cường sự tham gia của cộng đồng, phụ nữ và giới trẻ.
Kỳ họp lần thứ 18 của Ủy ban liên chính phủ Công ước 2003 diễn ra từ ngày 4 - 9/12, với sự tham dự của hơn 500 đại biểu và quan sát viên từ 24 quốc gia thành viên Ủy ban, các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ về văn hóa và nghệ thuật. Đoàn Việt Nam có ông Đào Quyền Trưởng, Phó Vụ trưởng Vụ Ngoại giao văn hóa và UNESCO, Ủy viên thư ký Ban thư ký Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam, cùng đại diện Ban thư ký Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam và ông Phạm Cao Quý, Phó Trưởng phòng, Cục Di sản Văn hóa thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tham dự với tư cách chuyên gia.
Tại kỳ họp, các thành viên Ủy ban liên chính phủ Công ước 2003 đã thông qua ghi danh 56 hồ sơ mới vào danh sách các Di sản văn hóa phi vật thể; đánh giá công tác triển khai Công ước 2003 tại các quốc gia thành viên ở khu vực Arab; thảo luận và thông qua cơ chế đơn giản hóa quy trình xây dựng hồ sơ đề cử; tổ chức các hoạt động kỷ niệm 20 năm thành lập Công ước 2003; và bầu cử một số chức danh điều hành của Ủy ban.
Ông Đào Quyền Trưởng cho biết Đoàn Việt Nam đã tham gia chủ động và tích cực vào các nội dung của kỳ họp. Ban thư ký và các quốc gia thành viên Công ước 2003 đánh giá cao chính sách, chiến lược và các biện pháp thiết thực của Việt Nam trong phát huy vai trò của di sản văn hóa phi vật thể như động lực cho phát triển bền vững về kinh tế, văn hóa-xã hội, bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học. Những chia sẻ về nỗ lực của Việt Nam trong việc nghiên cứu tích hợp từ sớm nhiều nội dung của Công ước 2003 vào Luật Di sản Văn hóa của Việt Nam được quốc tế đánh giá rất cao.
Bên cạnh đó, 15 Di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh và 534 Di sản trong danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia đều có các đề án quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị với sự tham gia chặt chẽ của cộng đồng, trách nhiệm của các cấp chính quyền từ trung ương tới địa phương đã trở thành kinh nghiệm tốt cho các quốc gia thành viên.
Ủy ban liên chính phủ Công ước 2003 gồm 24 thành viên, là cơ quan điều hành quan trọng của UNESCO về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, quyết định những vấn đề then chốt liên quan tới công nhận các di sản văn hóa phi vật thể, phân bổ kinh phí hỗ trợ bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể ở các nước; quyết định chính sách, định hướng phát triển của Công ước 2003. Kỳ họp lần thứ 19 của Ủy ban liên chính phủ Công ước 2003 dự kiến sẽ được tổ chức tại Paraguay vào tháng 12/2024 và sẽ xem xét hồ sơ đề cử “Lễ hội vía Bà Chúa Xứ núi Sam” của Việt Nam vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại./.
ST
CÔ BA DŨNG SỸ, CHỊ HAI NĂM TẤN TRANG SỬ VẺ VANG CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC
Cứ mỗi lần giai điệu của ca khúc “Hai chị em” vang lên, lòng tôi lại xốn xang một cảm xúc khó tả, một cái gì đó vừa bồi hồi, xúc động, lại vừa day dứt một nỗi niềm nhớ quê. "Cô Ba dũng sĩ quê ở Trà Vinh, chị Hai năm tấn quê ở Thái Bình, hai chị em trên hai trận tuyến anh hùng bất khuất - trung hậu đảm đang. Trang sử vàng chống Mỹ cứu nước, sáng ngời tên những cô gái Việt Nam... Đẹp lắm chứ, anh hùng lắm chứ".
Nếu ai chưa từng đi xa sẽ khó có cảm giác giống như tôi, hơn thế nữa tôi lại đang có mặt ở mảnh đất Trà Vinh - vùng quê kết nghĩa “chị em” với Thái Bình từ thời kháng chiến chống Mỹ. Ở Trà Vinh có nhiều “cô Ba” lắm, nếu như ngày xưa có “cô Ba dũng sĩ”, thì ngày nay là những cô "Ba tân thời" miệt mài bên những mảnh vườn sum suê trái ngọt, bên những cánh đồng bát ngát, bên những hàng dừa xanh mướt ngút ngàn. Cô Ba kháng chiến nay trở thành những “bà cố” hoặc thành thiên cổ, nhưng chiến tích của họ thì sử sách mãi còn khắc ghi. “Chị Hai” ở Thái Bình xa xôi mà kết nghĩa “chị em” được với “cô Ba” thì cũng là một kỳ tích hiếm có. Dưới thời đạn bom ác liệt, giữa hai bờ chiến tuyến mà lửa thù không đốt được dải Trường Sơn thì ở đâu đó nơi làng quê xa xôi hay nơi mặt trận khói lửa vẫn vang lên câu hát rộn ràng khí thế mà chất chứa tình yêu quê hương, đất nước.
Cô Ba dũng sĩ quê ở Trà Vinh, chị Hai năm tấn quê ở Thái Bình, hai chị em trên hai trận tuyến anh hùng bất khuất trung hậu đảm đang. Trang sử vàng chống Mỹ cứu nước sáng ngời tên những cô gái Việt Nam... Đẹp lắm chứ, anh hùng lắm chứ.
Dù rằng ở hai trận tuyến khác nhau, dù rằng cô trong Nam, chị ngoài Bắc, khác nhau địa giới hành chính, khác cả phong tục tập quán và giọng nói, tiếng cười nhưng ở họ vẫn có một điểm chung, họ vẫn là những “cô gái Việt Nam” - những cô gái được Bác Hồ khen ngợi bằng tám chữ vàng “Anh hùng, Bất khuất, Trung hậu, Đảm đang”; họ là những chiến sĩ cầm súng trên chiến trường, là những người thợ cầm cuốc cày ở lại xây dựng quê hương giúp chồng ra tiền phương đánh giặc. Dù ở vị trí nào, ở địa phương nào họ cũng đều là những người anh hùng, đều là những tấm gương sáng, là những dấu chấm đỏ tươi trên “trang sử vàng truyền thống của Phụ nữ Việt Nam”. “Cô gái Việt Nam” đẹp lắm! anh hùng lắm! Họ không chỉ đẹp bởi vóc dáng, mà còn bởi nụ cười chiến thắng, nụ cười tin tưởng vào ngày mai huy hoàng của Tổ quốc thống nhất. Nụ cười của "cô Ba" e ấp sau nón lá dừa và nụ cười của “chị Hai” hồn hậu bên sóng lúa đương thì con gái đã trở thành hình tượng đẹp nhất mỗi khi nhắc tới quê hương Việt Nam. Thời đại sinh ra những người anh hùng và những người anh hùng ấy đã làm cho thời đại bừng sáng lên, thời đại của những cô gái tay không bắt giặc, thời đại của những o du kích nhỏ giương cao súng, thằng Mỹ lênh khênh bước cúi đầu. Phụ nữ Việt Nam, người con gái Việt Nam anh hùng và dũng cảm.
Thời đại của những “bà mẹ cầm súng” trong trang văn của Anh Đức, của những “mẹ đào hầm khi tóc còn xanh” trong ý nhạc của Phạm Minh Tuấn và là thời đại của những chị Hai năm tấn, của cô Ba dũng sĩ trong nhạc Hoàng Vân, thời kỳ “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”, “những nón trắng cày ruộng thay chồng trên cánh đồng năm tấn thóc”, thời kỳ “hậu phương thi đua với tiền phương”… còn nhiều, nhiều nữa những bà, những mẹ, những chị như vậy.
Nếu ai đã từng một lần bắt gặp cái “dáng kiều thơm” bé nhỏ trong ký ức của chàng lính Tây Tiến, đã từng gặp cái “bồn chồn nhớ mắt người yêu” trong “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi sẽ thấy đâu đó trong thơ, trong nhạc Việt Nam hình ảnh của những người phụ nữ ấy. Họ cũng bé nhỏ, cũng e ấp lắm nhưng họ cũng có thể trở thành bất tử như những vọng phu thuở nào, cũng có thể trở thành những anh hùng làm nên lịch sử. Họ tiễn người yêu lên đường nhập ngũ, tiễn chồng, tiễn con và đến lúc chính họ cũng trở thành chiến sĩ, họ cũng cầm súng chiến đấu. Họ là người Việt Nam đã góp phần làm vẻ vang thêm trang sử, làm nên những bản anh hùng ca hào hùng của thời kỳ đấu tranh chống Mỹ cứu nước. Trên cánh đồng lúa chín, dưới tầm đạn thù, người phụ nữ Việt Nam vẫn cầm liềm cắt lúa, vẫn cất cao tiếng hát qua mỗi vụ được mùa, ngoài tiền phương các cô vẫn dẫn đầu đoàn binh tóc dài, áo bà ba đi “đốt đồn giặc thù”. Dù là đổ mồ hôi hay đổ máu xương đều là vì một nghĩa lớn, bởi một trái tim muốn cống hiến hết mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Chị và em tuy hai mà một, chiến công của em có mai vàng mừng công đẹp lắm, chiến công của chị có lúa thóc trĩu đòn gánh trên vai gửi vào chiến trường nuôi quân. Cả chị cả em, cả một thế hệ những người phụ nữ Việt Nam thời ấy cùng chuyển mình, cùng hiến dâng vì một lý tưởng cao đẹp, một triết lý sống còn mà dân tộc đã giao phó “vừa đảm đang vừa bất khuất”. “Hỡi ai có xa quê ta Thái Bình hỏi rằng lúa vụ mùa năm nay có đẹp không?” “Đẹp lắm chứ! Anh hùng lắm chứ!” lúa Thái Bình vẫn đẹp, gạo Thái Bình vẫn cứ trắng trong như tấm lòng của “chị Hai” dành cho “cô Ba”, dành cho quê hương đất nước. Để đến một ngày đất nước thống nhất, non sông liền một dải em sẽ lại “hát chị nghe” như ngày nào. Tình cảm sâu nặng, thủy chung son sắt chính là đặc điểm nổi bật nhất trong tâm hồn những cô gái Việt Nam.
Đã nửa thế kỷ đi qua kể từ khi ca khúc ra đời, người nghe nhạc vẫn đắm đuối, ngẩn ngơ với giai điệu vui tươi, lạc quan yêu đời tin tưởng vào chiến thắng. Nước nhà thống nhất, giang sơn thu về một mối. Để ai đó có đi trong chiến trường, hỏi rằng mùa này hoa mai đã nở chưa, đẹp lắm ấy hoa nở khắp chốn. Vâng! Mùa hoa chiến công nở rộ khắp chiến trường. Thái Bình mùa này mùa lúa bội thu. Cả hai miền thắng lớn.
Tan giặc về để em lại hát chị nghe. Chúng ta hãy dành hàng ngàn bó hoa tươi thắm nhất để trao tặng các mẹ, các chị với tình cảm thân thương và lòng quý trọng biết ơn nhất. Các mẹ, các chị chính là những bông hoa đẹp nhất đã và đang hiến dâng cho đời./.
ST
LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 09 THÁNG 12 NĂM 1959!
PHÁT TRIỂN ĐẢNG VIÊN CẦN CHỌN LỌC RẤT CẨN THẬN!
“Khi phát triển Đảng cần phải chọn lọc rất cẩn thận, phải xem trọng chất lượng quyết không nên làm một cách ồ ạt, không nên tham nhiều”. Đó là lời Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài viết “Tiêu chuẩn của người đảng viên”, đăng trên Báo Nhân Dân, số ra ngày 9-12-1959.
Là người sáng lập và xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến công tác phát triển Đảng, bởi theo Người, đây là một nội dung quan trọng của công tác xây dựng Đảng, có ý nghĩa quyết định sự tồn tại và phát triển của Đảng ta. Lời dạy của Bác có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, góp phần chỉ đạo, định hướng công tác phát triển đảng viên của Đảng đúng hướng, có chất lượng. Thấm nhuần lời dạy của Bác, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng và làm tốt công tác phát triển Đảng, thu hút được những người ưu tú, tiêu biểu nhất về phẩm chất, năng lực, trí tuệ trong giai cấp công nhân, nông dân, trí thức và các thành phần xã hội khác. Nhờ đó, Đảng ta đã không ngừng lớn mạnh và trưởng thành, đủ sức lãnh đạo nhân dân ta hoàn thành thắng lợi sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
Ngày nay, đất nước ta bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng, đẩy mạnh CNH, HĐH. Việc phát triển Đảng đi đôi với củng cố tổ chức đã và đang được Đảng ta đặc biệt quan tâm trong công tác xây dựng Đảng. Lời dạy của Bác vẫn còn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn, là kim chỉ nam định hướng đúng đắn cho công tác phát triển đảng viên của Đảng. Để thực hiện tốt lời dạy của Bác, mỗi cấp ủy, tổ chức đảng cần thực hiện tốt nhiều khâu, nhiều bước theo một quy trình chặt chẽ, nghiêm túc: Từ tuyên truyền, giáo dục, tạo nguồn, bồi dưỡng, kết nạp đến giúp đỡ đảng viên dự bị trở thành đảng viên chính thức, trong đó khâu tạo nguồn, bồi dưỡng đối tượng kết nạp Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng; phải xác định và vận dụng đúng đắn tiêu chuẩn đảng viên, đồng thời thực hiện tốt phương hướng phát triển Đảng; phát triển đảng viên phải tích cực, thận trọng, phát triển phải luôn đi đôi với củng cố Đảng và phải thực hiện tốt các bước phát triển Đảng...
Thực hiện lời dạy của Bác, mỗi cấp ủy và tổ chức đảng trong quân đội phải đặc biệt coi trọng công tác phát triển đảng viên, góp phần xây dựng đội ngũ đảng viên có chất lượng cao, có số lượng hợp lý, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng và Đảng bộ Quân đội, lãnh đạo toàn quân thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, thực sự là lực lượng chính trị tin cậy, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành của Đảng, Nhà nước và nhân dân./.
ST
BỆNH HÌNH THỨC TRONG KIỂM ĐIỂM, ĐÁNH GIÁ CÁN BỘ
Kiểm điểm, đánh giá, xếp loại cán bộ, công chức, viên chức là công việc rất quan trọng của công tác cán bộ nhằm giúp các tổ chức, cơ quan, đơn vị nắm được chất lượng công tác của từng cá nhân từ đó có cơ sở thực hiện các chế độ, chính sách phù hợp. Đây cũng là căn cứ để lựa chọn, sàng lọc, bố trí, sắp xếp, sử dụng cán bộ một cách hiệu quả, hợp lý. Do đó, công việc này cần được thực hiện một cách thường xuyên, nghiêm túc, bảo đảm thực chất, hiệu quả.
Kiểm điểm, đánh giá thiếu nghiêm túc, không thực chất sẽ dẫn đến hậu quả là việc đánh giá, bình bầu, xếp loại cán bộ không chính xác. Từ đây sẽ dẫn tới nguy cơ sai lầm trong bố trí, sắp xếp, sử dụng cán bộ, triển khai các chính sách, đãi ngộ không phù hợp, tâm lý bất bình, mất động lực lao động, phấn đấu, cống hiến trong nội bộ đơn vị.
Nguy hại hơn, đánh giá cán bộ sai sẽ dễ dẫn đến nguy cơ thực hiện quy hoạch, đề bạt, bổ nhiệm thiếu chính xác, có thể để lọt những người không xứng đáng vào những vị trí lãnh đạo,... ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động, uy tín của tổ chức, cơ quan, đơn vị, thậm chí làm suy yếu tổ chức, đơn vị trong hệ thống chính trị, trong đó có những tác động tiêu cực, cản trở, ảnh hưởng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận thức rõ điều này, nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có sự quan tâm và ban hành nhiều chủ trương, chính sách, chỉ thị, quy định, nghị định, hướng dẫn... nhằm chỉ đạo, nâng cao hiệu quả công tác kiểm điểm, đánh giá, xếp loại tập thể, cá nhân ở các cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị.
Năm 2018, Bộ Chính trị ban hành Quy định số 132-QĐ/TW về việc kiểm điểm và đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm đối với tập thể, cá nhân trong hệ thống chính trị. Sau 5 năm thực hiện Quy định số 132-QĐ/TW, công tác đánh giá, xếp loại tập thể, cá nhân cán bộ, công chức đã đạt được những kết quả tích cực, đáng ghi nhận, song có lúc, có nơi vẫn còn những yếu kém, khuyết điểm, chưa đạt hiệu quả như mong đợi. Thực tiễn ở một số cấp ngành cho thấy công tác đánh giá cán bộ vẫn là khâu còn tồn đọng không ít vấn đề phức tạp, cần chấn chỉnh.
Một trong những nguyên nhân cơ bản là do căn bệnh hình thức, nể nang, xuôi chiều trong quá trình thực hiện. Tại một số tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương, việc kiểm điểm, đánh giá, xếp loại cán bộ vẫn còn tình trạng qua loa, đại khái, mang tính hình thức, chiếu lệ, làm cho có, cho xong, cho đủ quy định chứ chưa đi vào thực chất, bảo đảm hiệu quả, chất lượng, đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Tình trạng nể nang, e ngại va chạm, sợ mất lòng, dễ dãi, xuôi chiều, dĩ hòa vi quý, thậm chí lo ngại bị trù dập, cô lập, trả thù, nhất là đánh giá, xếp loại thủ trưởng, lãnh đạo đơn vị vẫn diễn ra ở một số cơ quan, đơn vị, địa phương... Vẫn còn hiện tượng định kiến, kết bè, kết cánh, vào hùa thù ghét cá nhân trong việc đánh giá, xếp loại thi đua.
Hậu quả là một số cán bộ yếu kém về năng lực, nhân cách đạo đức... nhưng vẫn được cho qua để đánh giá tốt, xếp hạng cao, được khen thưởng, đãi ngộ, cá biệt có trường hợp được quy hoạch, bổ nhiệm, đề bạt, thăng chức. Ngược lại, không ít cán bộ có đủ năng lực, trình độ, nhân phẩm,... nhưng do không cùng "phe cánh", không đồng thuận cùng hội nhóm, bè phái… cho nên bị đánh giá, xếp loại thấp, thậm chí không được đề bạt, bổ nhiệm, hoặc bị điều động, luân chuyển công tác.
Có thể thấy chính những hạn chế trong công tác đánh giá, xếp loại là một nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức nước ta, từ đó tác động đến hiệu quả hoạt động của đơn vị, đến tiến trình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.
Đáng buồn là tại một số cơ quan, đơn vị, vẫn tồn tại tình trạng không ít cán bộ, công chức, thậm chí cán bộ lãnh đạo, quản lý chưa nhận thức đầy đủ và đúng đắn về tầm quan trọng của công tác kiểm điểm, đánh giá, xếp loại cán bộ, chưa lường hết những hậu quả, tác hại khôn lường của việc thực hiện đánh giá, xếp loại cán bộ sai, thậm chí còn cho rằng làm như vậy mới giúp bảo đảm sự đoàn kết của đơn vị.
Đây là một trong những lý do khiến căn bệnh hình thức, nể nang, xuôi chiều trong đánh giá cán bộ tồn tại và ăn sâu bám rễ lâu đến vậy; từ đây đòi hỏi cần phải nhận diện rõ cũng như chú trọng tuyên truyền, phổ biến sâu rộng để nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của cán bộ, công chức đối với việc thực hiện nghiêm túc công tác đánh giá, xếp loại; đồng thời có những biện pháp quyết liệt hơn để phê phán, ngăn chặn, loại bỏ triệt để căn bệnh hình thức, bảo đảm thực chất, hiệu quả hoạt động này.
Ngày 4/10/2023 vừa qua, Bộ Chính trị ban hành Quy định số 124-QĐ/TW về việc kiểm điểm và đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm đối với tập thể, cá nhân trong hệ thống chính trị với nhiều điểm mới được bổ sung cụ thể hơn, thiết thực hơn so với quy định cũ, đồng thời những điểm đã được nêu ở quy định cũ được điều chỉnh, bổ sung, nhấn mạnh, làm rõ hơn.
Quy định nhằm nêu cao tinh thần tự phê bình và phê bình, tự soi, tự sửa, thấy được ưu điểm để phát huy, hạn chế, khuyết điểm để khắc phục, góp phần phát hiện, ngăn chặn những biểu hiện suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Sự ra đời của Quy định số 124-QĐ/TW cho thấy quyết tâm cao của Đảng ta trong việc đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác đánh giá, xếp loại tập thể, cá nhân cán bộ, công chức, viên chức trong toàn hệ thống chính trị nhằm đem lại một sự thay đổi về chất mang tính đột phá trong công tác cán bộ.
Tại Quy định số 124-QĐ/TW, từ những quan điểm chỉ đạo chung cho đến những nội dung, tiêu chí đánh giá, xếp loại… đều được nêu chi tiết, cụ thể giúp mọi tổ chức, cơ quan, đơn vị có thể dễ dàng nắm bắt và tổ chức thực hiện, đồng thời đảm bảo tính chuẩn xác trong đánh giá, xếp loại đối với các đối tượng cán bộ, công chức ở những vị trí khác nhau.
Ngay ở phần đầu, Quy định số 124-QĐ/TW đã bổ sung khẳng định rõ về mục đích của việc kiểm tra, đánh giá, xếp loại là để nêu cao tinh thần tự phê bình và phê bình, tự soi, tự sửa, thấy được ưu điểm để phát huy, nhìn nhận được hạn chế, khuyết điểm để khắc phục; chủ động phát hiện, ngăn chặn biểu hiện suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên.
Do đó, yêu cầu không chỉ các cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo, tổ chức, cơ quan, đơn vị nhất là người đứng đầu, mà từng cán bộ, đảng viên cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm trong kiểm điểm, đánh giá, bình bầu; bảo đảm trung thực, thẳng thắn, công tâm, khách quan, công khai, thực chất; nêu cao trách nhiệm và sự gương mẫu trong quá trình thực hiện.
Quy định số 124-QĐ/TW cũng nêu rõ, để đem lại hiệu quả thực chất công tác kiểm điểm, đánh giá, xếp loại cán bộ thì các tiêu chí để tập thể, cá nhân căn cứ vào đó kiểm điểm, đánh giá, bình bầu cần rõ ràng, cụ thể, chi tiết và thiết thực. Do đó, bên cạnh các tiêu chí về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, trách nhiệm với công việc, thì cần phải bổ sung nhiều tiêu chí khác để bảo đảm tính chuẩn xác trong đánh giá cán bộ đáp ứng yêu cầu của công cuộc phát triển đất nước trong thời đại mới, trong đó không thể thiếu các tiêu chí quan trọng như trách nhiệm nêu gương, việc thực hiện những điều đảng viên không được làm, đối chiếu với những biểu hiện suy thoái, tự diễn biến, tự chuyển hóa, tinh thần đoàn kết thống nhất nội bộ,…
Đặc biệt, trong Quy định số 124-QĐ/TW, việc đánh giá cá nhân đã có sự phân định rõ giữa cá nhân giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hay không. Đương nhiên, với cán bộ càng giữ chức vụ cao thì những yêu cầu đánh giá, xếp loại càng phải cao hơn, nghiêm khắc hơn với những tiêu chí cụ thể, rõ ràng, không chỉ đánh giá về những mặt cơ bản cốt yếu của cán bộ lãnh đạo như năng lực, trình độ, phẩm chất, trách nhiệm nêu gương của bản thân và gia đình… mà còn đánh giá cả khả năng quy tụ, xây dựng đoàn kết nội bộ, tinh thần năng động, đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; khả năng xử lý những vấn đề khó, phức tạp, nhạy cảm trong thực hiện nhiệm vụ, và sự tín nhiệm của cán bộ, đảng viên.
Hơn thế, cán bộ lãnh đạo quản lý còn phải chịu trách nhiệm nếu để xảy ra những vấn đề bức xúc, phức tạp, có đơn, thư khiếu nại, tố cáo; mất đoàn kết nội bộ; tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; có tập thể, cá nhân thuộc quyền quản lý bị kỷ luật, khởi tố,...
Với những điểm bổ sung cụ thể, rõ ràng, thiết thực đó, Quy định số 124-QĐ/TW không chỉ giúp nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo, tổ chức, cơ quan, đơn vị và mỗi cán bộ, đảng viên trong thực hiện nghiêm túc việc đánh giá, xếp loại, ngăn chặn và đẩy lùi căn bệnh hình thức, nể nang, xuôi chiều, dĩ hòa vi quí… trong quá trình thực hiện đánh giá xếp loại mà còn giúp các cơ quan, đơn vị có căn cứ, cơ sở để thực hiện đúng và bảo đảm tính chính xác, chân thực, hiệu quả của công tác kiểm điểm, đánh giá, xếp loại cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức.
Với quyết tâm chính trị cao như vậy, đồng thời tăng cường sự chỉ đạo, phối kết hợp của các cơ quan, ban, ngành, địa phương, trong thời gian tới chắc chắn sẽ có những sự thay đổi tích cực đối với công tác đánh giá, xếp loại cán bộ, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong bối cảnh mới, thực hiện khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
HOÀ BÌNH, ỔN ĐỊNH LÀ NỀN TẢNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Sáng 8/12, tại Thủ đô Bangkok, trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Thái Lan, Chủ tịch Quốc hội, GS.TS Vương Đình Huệ đã tới thăm và có bài phát biểu quan trọng tại Đại học Chulalongkorn - một trong những đại học danh tiếng và lâu đời nhất tại Thái Lan, có bề dày truyền thống hơn 100 năm.
Cùng dự có Phó Chủ tịch thứ nhất Hạ viện Thái Lan Padipat Suntiphada; các thành viên Đoàn đại biểu cấp cao Quốc hội Việt Nam; Hiệu trưởng Đại học Chulalongkorn Bundhit Eua-Aporn cùng các cơ quan truyền thông của Thái Lan.
Phát biểu tại sự kiện, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ nhấn mạnh, Việt Nam và Thái Lan là hai nước láng giềng gắn bó lâu đời. Những điểm tương đồng mà hai nước sẻ chia, cùng khát vọng chung về hòa bình, độc lập, tự cường là chất keo tự nhiên gắn kết hai dân tộc, là nền tảng bền vững cho mối quan hệ hai nước không ngừng phát triển.
Theo Chủ tịch Quốc hội, cộng đồng quốc tế đang đứng trước thời khắc quan trọng, liên quan đến vấn đề sống còn đối với vận mệnh của cả nhân loại: đó là chiến tranh và hòa bình. Vòng xoáy xung đột và bạo lực leo thang ở nhiều khu vực trên thế giới vẫn gây ra nhiều đau thương không kể xiết đối với người dân, cướp đi sinh mạng của nhiều người dân vô tội. Nguy cơ xung đột ngày càng lớn khi cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, sự trỗi dậy của chủ nghĩa cường quyền, dân tộc vị kỷ, đang đe doạ luật pháp quốc tế và xói mòn tính hiệu quả của các thể chế đa phương, thúc đẩy chạy đua vũ trang ở nhiều nơi trên thế giới.
Chính vì thế, giữ vững hòa bình, đẩy lùi và ngăn ngừa chiến tranh, xung đột trở thành đòi hỏi cấp bách. Hòa bình, ổn định là nền tảng cho phát triển bền vững” - Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh.
Khẳng định, Việt Nam nhận thức sâu sắc rằng, tương lai của đất nước Việt Nam gắn liền với hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển của khu vực và toàn thế giới, Chủ tịch Quốc hội cũng cho rằng, để có nền hòa bình lâu dài và bền vững, tất cả các nước, trong đó có Việt Nam và Thái Lan, các nước thành viên ASEAN, đều có trách nhiệm đóng góp vào việc thúc đẩy đối thoại, hợp tác; tôn trọng các nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, trong đó có việc giải quyết hòa bình các tranh chấp, không sử dụng và đe dọa sử dụng vũ lực. Đây là vấn đề sống còn của ngày hôm nay, đồng thời là trách nhiệm của chúng ta với các thế hệ mai sau.
Về quan hệ Việt Nam - Thái Lan, Chủ tịch Quốc hội khẳng định, Việt Nam luôn coi trọng và mong muốn tăng cường hơn nữa sự gắn bó, tin cậy và quan hệ Đối tác Chiến lược Việt Nam - Thái Lan. Phát huy những thành tựu hợp tác to lớn của gần 50 năm qua, đã đến lúc hai nước cùng nỗ lực hướng tới nâng cấp quan hệ trong thời gian tới. Để phát triển sâu sắc và toàn diện hơn nữa nội hàm quan hệ Đối tác Chiến lược giữa hai nước, Chủ tịch Quốc hội nêu 5 đề xuất:
Một là, tăng cường tin cậy chính trị và hợp tác an ninh, quốc phòng; thiết lập các cơ chế hợp tác mới trên cơ sở phát huy các thế mạnh, lợi thế của cả hai nước, tăng cường tính bổ trợ lẫn nhau.
Hai là, hai nước đứng trước cơ hội to lớn, đưa hợp tác kinh tế Việt Nam - Thái Lan sang giai đoạn phát triển mới, với tầm mức mới và tư duy mới, trong đó, hai nước đoàn kết hơn, gắn bó hơn và sáng tạo hơn với phương châm “tin cậy, trách nhiệm, chân thành, hợp tác cùng thắng cùng có lợi và cùng tiến”.
Ba là, tăng cường gắn kết kinh tế sâu rộng và triển khai hiệu quả Chiến lược “3 kết nối”. Tranh thủ, tận dụng hiệu quả xu hướng chuyển dịch của các chuỗi sản xuất, cung ứng toàn cầu để tăng cường kết nối của các chuỗi cung ứng. Phấn đấu đưa kim ngạch thương mại song phương sớm đạt 25 tỷ USD theo hướng cân bằng hơn; mở rộng đầu tư giữa hai nước.
Bốn là, đẩy mạnh hợp tác du lịch, văn hóa, giáo dục và giao lưu nhân dân. Tăng cường kết nối du lịch theo khuôn khổ “hai quốc gia, một điểm đến” nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng và thế mạnh du lịch của cả hai nước.
Năm là, đề cao chủ nghĩa đa phương và đoàn kết quốc tế, tăng cường phối hợp chặt chẽ trong các khuôn khổ hợp tác đa phương.
Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh, quan hệ Việt Nam - Thái Lan đang ở vào thời kỳ tốt đẹp nhất trong lịch sử quan hệ hai nước. Quan hệ hữu nghị truyền thống, gắn kết bền chặt, hợp tác cùng có lợi giữa Việt Nam và Thái Lan đã vượt qua bao thăng trầm của lịch sử, ngày càng đơm hoa kết trái, vì một tương lai an bình, hạnh phúc và thịnh vượng của nhân dân hai nước, vì một Cộng đồng ASEAN đoàn kết, vững mạnh và một thế giới hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển bền vững.
Ngay sau phát biểu, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đã dành thời gian trao đổi với các chuyên gia, học giả và sinh viên về triển vọng quan hệ Việt Nam - Thái Lan, trong đó có việc nâng cấp quan hệ hai nước; vai trò của Việt Nam và Thái Lan trong ASEAN và trong hợp tác tiểu vùng. Chủ tịch Quốc hội khẳng định, với những thành tựu đã đạt được và với vai trò của cả hai nước trong ASEAN, trong một thế giới nhiều biến động như hiện nay, quan hệ Việt Nam - Thái Lan đã chín muồi để hướng đến việc nâng cấp trong thời gian tới.
Tương lai, tầm nhìn chúng ta đã có. Quan trọng nhất là sự quyết tâm của Chính phủ hai nước và nhân dân hai nước” - Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ nói./.
ST
NGHỆ THUẬT ĐÁNH GIẶC CỦA DÂN QUÂN TỰ VỆ LÀ DI SẢN VÔ GIÁ TRONG KHO TÀNG NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ VIỆT NAM
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, dân tộc ta phải chống lại kẻ thù có quân số đông, tiềm lực quân sự mạnh, được tổ chức chuyên nghiệp và chính quy.
Để chiến thắng những đội quân xâm lược nhà nghề đó, dân tộc Việt Nam đã tiến hành cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, kết hợp chặt phương thức chiến tranh chính quy với chiến tranh nhân dân địa phương. Trong các cuộc đấu tranh đó, lực lượng dân quân tự vệ đã chiến đấu anh dũng và sáng tạo, góp phần to lớn vào những chiến thắng chung của dân tộc, xây dựng nên một truyền thống vẻ vang, trở thành một di sản vô giá trong nền Nghệ thuật Quân sự Việt Nam.
Di sản đó được thể hiện ở những nội dung sau:
Một là, góp phần cùng với quân và dân cả nước đánh thắng hai kẻ thù hung bạo của thời đại, làm cho chúng sớm bị sa lầy, cơ sở bị triệt phá, tinh thần bị căng thẳng và không tìm ra phương sách đối phó có hiệu quả; lực lượng dân quân tự vệ đã cùng với lực lượng bộ đội địa phương tạo thế, tạo lực cho bộ đội chủ lực giáng những đòn đánh quyết định để giành thắng lợi to lớn trên mặt trận đấu tranh quân sự.
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Đảng ta đã đánh giá đúng điểm mạnh của ta là ở các vùng nông thôn và chỗ yếu nhất của địch cũng chính là ở các nơi đó, khâu yếu nhất của chúng là bộ máy kìm kẹp quần chúng ở cơ sở. Ta đã lấy chỗ mạnh của ta, đánh vào vùng yếu, khâu yếu của địch, giành thế đứng chân vững chắc ở các vùng nông thôn, tạo nên một hình thái chiến tranh da báo (cài xen chiến lược) vô cùng hiểm hóc.
Thế trận đó đã hạn chế những điểm mạnh cơ bản và sở trường của địch là khả năng cơ động, sức mạnh hỏa lực và đánh phân tuyến. Thế trận đó còn từng bước phá tan chính quyền bù nhìn, do địch dựng lên làm chỗ dựa từ bên trong cho lực lượng xâm lược từ bên ngoài. Quân địch đã bị thế trận chiến tranh nhân dân của ta phân tán về binh lực, suy giảm về sức mạnh, lâm vào thế bị động đối phó.
Trong cuốn Đông Dương hấp hối, Na-va, viên đại tướng bại trận người Pháp - Tổng Tư lệnh quân đội Pháp ở Đông Dương khi đó đã ngán ngẩm: “Nhìn vào tấm bản đồ người xem thấy chi chít những chấm đỏ và ông ta gọi đó là tấm bản “đồ lên sởi”1.
Bệnh sởi đó chính là những căn cứ kháng chiến lớn nhỏ do ta tạo nên. Trong cuốn, chiến tranh nhân dân địa phương trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) đã nhận định: "Ở Việt Nam, vào mùa khô 1967, Mỹ có hơn 50 vạn quân, nhưng chỉ có thể tập trung vào đòn tiến công chiến lược nhằm tiêu diệt quân giải phóng không quá 5 vạn quân, chiếm 9% trong tổng số lực lượng"
Chiến tranh nhân dân địa phương đã phát huy được sức mạnh tổng hợp để chiến thắng kẻ thù xâm lược. Trong chống chiến tranh phá hoại của địch, bảo vệ hậu phương lớn - miền Bắc xã hội chủ nghĩa, các lực lượng dân quân tự vệ đã cùng với các lực lượng, ban, ngành đẩy mạnh sản xuất, phục vụ chiến đấu và chiến đấu; đã bắn rơi nhiều máy bay, bắn chìm nhiều tàu chiến địch, bắt sống và tiêu diệt nhiều toán, nhóm biệt kích, giữ vững trật tự trị an ở cơ sở, bảo vệ nhân dân, bảo đảm giao thông, kết hợp đánh địch với chủ động sơ tán phòng tránh, khắc phục hậu quả chiến tranh, chi viện cho tiền tuyến lớn - miền Nam, góp phần đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc.
Các hoạt động của chiến tranh nhân dân địa phương đã làm cho bộ máy chỉ đạo chiến tranh của địch phải lúng túng, không tìm được phương cách đối phó. Buộc chúng phải tập trung lực lượng để đánh những đòn quyết định và phân tán lực lượng để kìm kẹp nhân dân, bảo vệ ấp chiến lược, các căn cứ, kho tàng, sân bay, bến cảng, sở chỉ huy, hệ thống phòng ngự, giao thông và các mục tiêu trọng yếu khác.
Khi đề cập đến chiến tranh nhân dân địa phương ở Việt Nam, nhiều chính khách Mỹ đã phải thừa nhận rằng, họ đang phải đối đầu với một cuộc chiến tranh thần thánh, phải đối phó với lực lượng kháng chiến vô hình. Viên tướng Taylo đã phải thốt lên rằng "Không nên can thiệp vào một cuộc nổi loạn đã phát triển thành chiến tranh du kích"
Chiến tranh nhân dân địa phương của ta được phát triển trên cả ba vùng chiến lược, tạo thế xen kẽ, các mục tiêu trọng yếu của địch bị áp sát và uy hiếp liên tục. Trong hậu phương địch xuất đã hiện nhiều căn cứ kháng chiến, vùng lõm, làm cho địch bị sa lầy, bị đánh cả trước mặt và sau lưng, buộc phải tiến hành một cuộc chiến tranh lâu dài, không thực hiện được ý định của chúng. Thế uy hiếp của chiến tranh nhân dân địa phương ở khắp nơi đã tạo nên sự thu hút lực lượng, làm phân tán quân địch, tạo điều kiện để bộ đội chủ lực tác chiến tập trung của.
Tổng kết về chiến tranh nhân dân địa phương trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) nêu rõ: "Chiến tranh nhân dân địa phương đã tạo điều kiện cho chủ lực ta tập trung được gần 100% lực lượng để đánh địch, nhưng chủ lực của địch lại bị phân tán đến 80%".
Phát huy khả năng sáng tạo và sức mạnh to lớn của chủ nghĩa yêu nước trong quần chúng nhân dân trong quá trình thực hiện những nhiệm vụ cách mạng, các lực lượng dân quân tự vệ đã sử dụng mọi loại vũ khí, như: gậy gộc, dao mác, cuốc thuổng, gươm giáo, chông, mìn, cạm bẫy, các loại vũ khí tự tạo và vũ khí lấy được của địch... đánh địch mọi lúc, mọi nơi; mỗi người dân là một chiến sĩ, dư luận trên thế giới đã ca ngợi: "Ở Việt Nam, ra ngõ gặp anh hùng”.
Hai là, góp phần phát triển nền Nghệ thuật Quân sự Việt Nam sáng tạo, độc đáo và đạt trình độ cao.
Nền Nghệ thuật Quân sự Việt Nam là nghệ thuật toàn dân đánh giặc, lấy lực lượng vũ trang làm nòng cốt. Vì thế, nghệ thuật quân sự không những chỉ đạo hoạt động tác chiến của lực lượng vũ trang, mà còn chỉ đạo hoạt động quân sự của đông đảo quần chúng nhân dân tham gia đánh giặc. Chiến tranh nhân dân của ta được tiến hành bằng hai chân, ba mũi, trên cả ba vùng chiến lược, đó là điểm sáng tạo nổi bật của nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh nhân dân của Đảng ta. Sự sáng tạo đó đã đưa cách mạng Việt Nam vượt qua các thử thách, lần lượt đánh thắng các biện pháp và các chiến lược quân sự của kẻ thù.
Nền Nghệ thuật Quân sự Việt Nam đã chỉ đạo các hoạt động kháng chiến của quân và dân ta, tạo nên những hình thái chiến tranh độc đáo. Khi bàn về vấn đề này, đồng chí Trường Chinh đã viết: “chiến tranh nhân dân của ta diễn ra dưới nhiều hình thái phong phú: chiến tranh cài răng lược, chiến tranh độn thổ, chiến tranh không mặt trận, chiến tranh bao vây, chiến tranh tiêu thổ...” khi có những hình thái chiến tranh khác thường, nghệ thuật quân sự cũng đã giải quyết các vấn đề khác thường. Đó là cả nước là chiến trường, mỗi người dân là một chiến sỹ, mỗi làng xã, khu phố là một pháo đài, mỗi chi bộ đảng là một bộ tham mưu, tiến hành một cuộc chiến tranh không quy ước.
Quân và dân ta dùng lối đánh du kích, đánh địch ngay tại địa phương, các sào huyệt của kẻ thù, thực hiện “lai vô ảnh, khứ vô tung”. Chiến tranh du kích của ta đã phát huy vai trò và tác dụng to lớn trong việc sát thương, tiêu hao rộng rãi, tiêu diệt nhỏ quân địch, gây cho chúng những tổn thất và khó khăn, hãm chân những binh đoàn cơ động của địch và trở thành mối lo thường xuyên của chúng.
Nhờ có chiến tranh nhân dân, ta đã phân tán và giam chân khối cơ động chiến lược của quân Pháp, góp phần quan trọng tạo nên thế trận có lợi và ưu thế áp đảo cho lực lượng ta ở Điện Biên Phủ. Trong sách Tổng kết tác chiến chiến lược trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945-1975), đã nhận định: “chín phần mười trong tổng số 84 tiểu đoàn cơ động chiến lược của Na-va đã bị phân tán trên các hướng, trước khi trận đánh ở Điện Biên Phủ nổ ra”.
Xuất phát từ thực tiễn khi địch tiến công, nếu ta không kiên quyết giữ đất, giữ dân, thì chẳng mấy chốc ta sẽ không còn đất đứng chân, không còn sức người, sức của để kiên trì kháng chiến. Vì thế, việc bám đất, bám dân, bảo vệ cơ sở kháng chiến trong mọi điều kiện là vấn đề có tính sống còn đối với ta. Các đội du kích của ta đã xung kích đảm nhận và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến lược đó. Cuộc chiến tranh ở Việt Nam là cuộc chiến giành dân và trong cuộc chiến đó, chúng ta là người chiến thắng.
Đó là sự khác biệt giữa chiến tranh du kích của ta với chiến tranh du kích của các nước khác. Trong điều kiện lực lượng chủ lực của ta còn non trẻ, chỉ có thể dùng chiến tranh du kích để tiêu diệt, tiêu hao sinh lực địch, vừa đánh, vừa học hỏi, bồi dưỡng và xây dựng lực lượng, không chờ chủ lực lớn mạnh mới tiến công, mà sử dụng thế tiến công của chiến tranh du kích làm ruỗng nát hậu phương địch, chuyển hóa thế trận chiến lược, biến hậu phương địch, thành tiền phương của ta.
Đó là nghệ thuật tiến công của chiến tranh nhân dân trong điều kiện lực lượng ta chưa mạnh, thể hiện nét đặc sắc trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Đảng ta, làm nên một nền Nghệ thuật Quân sự Việt Nam với sự phát triển độc đáo, sáng tạo.
Bằng thực tiễn chiến đấu phong phú, các lực lượng dân quân tự vệ đã làm nên một nghệ thuật đánh giặc độc đáo của mình với những đặc điểm chính nổi bật: tính quần chúng sâu rộng, tính toàn diện cao (mọi người có thể tham gia đánh giặc, đánh giặc bằng mọi thứ vũ khí), vì mục đích mang tính xã hội sâu sắc; hình thức tổ chức, hoạt động phong phú, đa dạng và có tính vùng miền; liên tục và trực tiếp cọ sát với địch; tính sáng tạo và hiệu quả của quần chúng được phát huy; luôn gắn chặt với cơ sở, với phương châm “một tấc không đi, một ly không rời”, “dân bám đất, Đảng bám dân, du kích (quân) bám địch”; quán triệt tư tưởng tiến công trong phương thức hoạt động, đặc biệt là trong thực hiện cách đánh; có mối quan hệ chặt chẽ với bộ đội địa phương và bộ đội chủ lực; quy mô tổ chức và tác chiến nhỏ, rộng khắp; công tác tổ chức, chỉ huy và bảo đảm đơn giản, tại chỗ...
Nghệ thuật đó đã tạo ra một di sản vô giá trong nền Nghệ thuật Quân sự Việt Nam, với những bài học kinh nghiệm quý sau:
Thứ nhất, quán triệt sâu sắc những quan điểm cơ bản trong đường lối quân sự của Đảng về chiến tranh nhân dân và về lực lượng dân quân tự vệ
Giá trị của đường lối đúng trước tiên được thể hiện ở việc xác định mục tiêu, chủ thể của cuộc cách mạng và phương thức tiến hành. Mục tiêu của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Chủ thể của cuộc cách mạng ở nước ta là các tầng lớp nhân dân, mà nòng cốt là công, nông, binh và tầng lớp trí thức.
Đường lối đúng thể hiện sự thống nhất giữa mục đích chính trị của chiến tranh với mục tiêu của cách mạng, xử lý hài hòa vấn đề dân tộc và giai cấp; là ngọn cờ tập hợp, đoàn kết và phát triển lực lượng... Đó là những vấn đề rất quan trọng của bất kỳ quốc gia, dân tộc nào trên con đường xây dựng, bảo vệ và phát triển của mình.
Con đường đấu tranh cách mạng ở Việt Nam là bằng sức mạnh bạo lực cách mạng của quần chúng nhân dân. Tính chất của hai cuộc chiến tranh vừa qua vừa là các cuộc chiến tranh giải phóng, vừa là những cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.
Các lực lượng vũ trang của ta ở những thời kỳ đầu của các cuộc chiến tranh đều là những đơn vị nhỏ bé, với trang bị thô sơ, nên về xây dựng lực lượng ta đã tuân theo quy luật từ không tới có, từ nhỏ đến lớn. Trong các hoạt động tác chiến chúng ta đã đi từ chiến tranh du kích tiến lên chiến tranh chính quy và sau đó là kết hợp cả hai phương thức chiến tranh chiến tranh du kích (sau này được thống nhất gọi là chiến tranh nhân dân địa phương) và chiến tranh chính quy.
Để đánh thắng kẻ thù, chúng ta phải trường kỳ kháng chiến, giành thắng lợi từng bước, tập trung đánh thắng nỗ lực cao nhất của địch, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn, không mơ hồ ảo tưởng, mất cảnh giác đối với bản chất của kẻ thù.
Quan niệm của chúng ta về sức mạnh đó là sức mạnh tổng hợp, được hình thành từ nhiều nhân tố: chế độ kinh tế - chính trị của đất nước; truyền thống của dân tộc; nghệ thuật lãnh đạo, điều hành chiến tranh; khả năng trang bị và sức chiến đấu của quân đội; trình độ nắm và vận dụng nghệ thuật quân sự; tinh thần, ý chí chiến đấu của quân và dân ta; vai trò của hậu phương; sự phối hợp giữa các lĩnh vực đấu tranh; sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại...
Do vậy, Đảng ta luôn tiến hành nhiều biện pháp để tạo sức mạnh tổng hợp, trong đó đã chú trọng phát huy nhân tố chính trị tinh thần - ưu thế tuyệt đối của ta trước kẻ thù để giành thắng lợi.
Xây dựng lực lượng vũ trang nhiều thứ quân làm lực lượng nòng cốt cho sự nghiệp toàn dân đánh giặc. Đây là một trong những nội dung về nghệ thuật chỉ đạo, điều hành chiến tranh của Đảng ta. Trong đó, lực lượng dân quân tự vệ là một trong các thành phần không thể thiếu được của các lực lượng vũ trang cách mạng do Đảng tổ chức và lãnh đạo.
Lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, lấy chất lượng cao thắng số lượng đông, khi có điều kiện và thời cơ kiên quyết tập trung lực lượng và nỗ lực cao nhất để giành thắng lợi quyết định ở chiến trường do ta lựa chọn vừa là một nội dung quan trọng trong tư tưởng Quân sự Việt Nam, vừa là một trong những nội dung đặc sắc của Nghệ thuật Quân sự Việt Nam.
Thứ hai, phát huy động lực và tinh thần yêu nước của những người chủ đất nước, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân địa phương vững mạnh.
Lòng yêu nước của nhân dân ta, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói là một truyền thống cực kỳ quí báu. Lòng yêu nước đó đã hun đúc nên tinh thần quyết chiến, quyết thắng, biết đánh, biết thắng của quân và dân ta.
Người nói: “Lòng yêu nước và sự đoàn kết của nhân dân ta là một lực lượng vô cùng to lớn không ai thắng nổi. Nhờ lực lượng ấy mà tổ tiên ta đã đánh thắng quân Nguyên, Minh để giữ vững quyền tự do, tự chủ. Nhờ lực lượng đó mà chúng ta làm cách mạng thành công, giành được độc lập. Nhờ lực lượng ấy mà quân và dân ta vượt qua mọi khó khăn, một lòng đánh tan quân xâm lược”.
Cách mạng đã giải phóng mọi tầng lớp nhân dân, từ thân phận của những kiếp người nô lệ bước lên địa vị là người chủ thật sự của đất nước. Vì vậy, nhân dân ta càng yêu quí Tổ quốc mình, càng thiết tha với độc lập, tự do nên càng ra sức góp sức người, sức của cho kháng chiến và sẵn sàng chiến đấu hy sinh quên mình.
Có thể nói khi được giải phóng khỏi kiếp đời nô lệ, sức mạnh và sự sáng tạo trong quần chúng nhân dân cũng được giải phóng và trở thành một nguồn lực vô tận để tạo thành sức mạnh, đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược.
Thế trận ở từng làng xã chiến đấu được hình thành; lực lượng du kích, dân quân, tự vệ ở cơ sở từng bước được củng cố, mở rộng “có thời kỳ chiếm tỷ trọng gần 12% số dân ở miền Bắc” và được trang bị những vũ khí thích hợp; hệ thống lãnh đạo, chỉ huy được tăng cường; cách đánh cũng chú trọng được huấn luyện... làm cho các lực lượng dân quân tự vệ vừa được mở rộng về số lượng, vừa được nâng dần về chất lượng.
Thứ ba, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, hiệu lực quản lý, điều hành của chính quyền các cấp và vai trò tham mưu của các cơ quan quân sự địa phương.
Trong hai cuộc kháng chiến vừa qua, Đảng ta đã luôn bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối và toàn diện đối với lực lượng dân quân tự vệ. Đó là nguyên nhân cơ bản nhất để lực lượng này lớn mạnh, trung thành, lập được nhiều chiến công và xác lập được vai trò quan trọng trong thành phần các lực lượng vũ trang nhiều thứ quân của ta.
Thực chất của việc giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng là không ngừng củng cố và tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối và toàn diện của các cấp ủy đảng đối với lực lượng dân quân tự vệ thuộc quyền. Các đảng viên của Đảng, dù trên cương vị là lãnh đạo, chỉ huy hay là đội viên trong lực lượng này, đã luôn đi đầu chiến đấu và hy sinh dũng cảm.
Đó là những tấm gương, là nhân cốt trong xây dựng và hoạt động của lực lượng dân quân tự vệ. Mỗi khi cách mạng chuyển giai đoạn, khi địch thay đổi biện pháp thủ đoạn đối phó hay mỗi khi cách mạng gặp khó khăn, vấp ngã... Đảng ta đã thể hiện bản lĩnh của một đảng lãnh đạo dày dạn kinh nghiệm, đã đấu tranh thẳng thắn, chân tình, mổ xẻ các vấn đề một cách tường tận... nhằm tìm ra nguyên nhân, thống nhất và nâng cao nhận thức trong Đảng, trong đó có các vấn đề thuộc về lãnh đạo, chỉ đạo các lực lượng dân quân tự vệ, để cách mạng tiếp tục tiến lên và giành những thắng lợi to lớn hơn.
Đảng cũng luôn chú ý xây dựng, củng cố chính quyền các cấp, trong đó, đặc biệt coi trọng cấp cơ sở để các tổ chức này phát huy vai trò và hiệu quả về quản lý, điều hành đối với lực lượng dân quân tự vệ. Đảng quan tâm xây dựng và rèn luyện đội ngũ cán bộ các cấp tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng, có năng lực trong tổ chức, lãnh đạo chỉ huy. Thực hiện tốt cơ chế cấp ủy lãnh đạo, chính quyền quản lý, điều hành, cơ quan quân sự làm tham mưu, người chỉ huy quân sự chỉ huy thống nhất các lực lượng vũ trang thuộc quyền.
Thứ tư, tổ chức lực lượng hợp lý, coi trọng chất lượng chính trị và công tác huấn luyện, có trang bị phù hợp, gắn chặt với các nhiệm vụ của địa phương, cơ sở trong tổ chức lực lượng vũ trang nhiều thứ quân, mỗi thứ quân có vai trò chiến lược nhất định.
Nói về vai trò của lực lượng dân quân tự vệ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Dân quân, tự vệ và du kích là lực lượng của toàn dân tộc, là một lực lượng vô địch, là một bức tường sắt của Tổ quốc.
Vô luận địch nhân hung bạo thế nào, hễ đụng vào lực lượng đó, bức tường đó, thì địch nào cũng phải tan rã”. Đây là lực lượng nòng cốt trong đấu tranh và đánh địch ở cơ sở. Lực lượng này cần được xây dựng với một tỉ lệ hợp lý và phù hợp với các điều kiện ở mọi cơ sở.
Trong cả hai cuộc kháng chiến, Đảng đã xây dựng lực lượng dân quân tự vệ toàn diện, dựa trên cơ sở xây dựng lực lượng chính trị vững chắc, trong đó đặc biệt quan tâm xây dựng về mặt chính trị, coi đó là nguyên tắc quan trọng nhất trong xây dựng lực lượng này. Cùng với xây dựng lực lượng, Đảng cũng quan tâm giải quyết các vấn đề về biên chế, trang bị và huấn luyện để không ngừng nâng cao trình độ và khả năng chiến đấu cho lực lượng dân quân tự vệ.
Trong huấn luyện, Đảng đã chỉ đạo huấn luyện toàn diện, trong đó cách đánh là nội dung quan trọng nhất. Tùy thuộc vào địa bàn cùng những điều kiện cụ thể khác để huấn luyện những cách đánh cụ thể cho các lực lượng dân quân tự vệ ở từng khu vực, từng địa bàn khác nhau.
Thứ năm, phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng. Chiến tranh nhân dân địa phương có vai trò to lớn trong việc tiêu hao tiêu diệt địch, phân tán, chia cắt, căng kéo địch, đánh phá hậu phương địch... nhưng với quy mô tổ chức lực lượng và tác chiến không lớn, trình độ trang bị, huấn luyện có hạn nên không đủ sức để giáng những đòn tiến công tiêu diệt lớn quân địch, do đó không thể giải quyết được chiến tranh.
Chiến tranh càng phát triển, mục tiêu nhiệm vụ giải phóng đất đai và tiêu diệt địch càng lớn. Muốn vậy, phải đẩy mạnh và phát huy vai trò của chiến tranh chính quy, thực hành những đòn đánh quyết định, tiêu diệt chiến lược quân địch, thay đổi cục diện chiến trường và chiến tranh để kết thúc chiến tranh. Đó là sự nhận thức đúng của Đảng ta về mối quan hệ biện chứng về chức năng, nhiệm vụ giữa các thành phần trong các lực lượng vũ trang cách mạng nhiều thứ quân của ta.
Trên tinh thần đó, các lực lượng dân quân tự vệ đã nỗ lực hết mình, làm tròn chức năng, nhiệm vụ của mình khi hiệp đồng công tác và chiến đấu cùng các lực lượng khác. Nhờ nhận thức đúng quy luật phát triển của chiến tranh cách mạng ở Việt Nam, Đảng ta đã thúc đẩy chiến tranh du kích phát triển, tiến lên chiến tranh chính quy, tác chiến của chiến tranh nhân dân địa phương tạo điều kiện cho tác chiến của các binh đoàn chủ lực đảm nhiệm vai trò quyết định trong chiến tranh./.
ST


