Thứ Bảy, 9 tháng 12, 2023

ĐỪNG LỢI DỤNG DÂN CHỦ ĐỂ TUYÊN TRUYỀN XUYÊN TẠC!

   Gần đây, trên mạng xã hội cũng như ở các buổi sinh hoạt của một số hội, nhóm, có những người đã lợi dụng quyền dân chủ, nhân quyền để tiến hành những hoạt động tuyên truyền xuyên tạc chống phá đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta.

Đó là những việc làm sai trái cần phải lên án mạnh mẽ, bởi chính những người này đang muốn gây chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Họ là ai? Tuyên truyền xuyên tạc, chống phá chế độ nhằm mục đích gì? Những câu hỏi đó cần phải làm rõ để nhân dân nhìn nhận thấu đáo, tự nâng cao cảnh giác, đồng thời có biện pháp ngăn chặn kịp thời, không để cho họ tự tung, tự tác.

Trước hết, cần nhận diện rõ các đối tượng đang ra sức lợi dụng dân chủ, nhân quyền để chống phá chế độ của chúng ta và nói xấu các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội. Họ là một số người đang sống ở nước ngoài và cả ở trong nước. Hiện nay, nước ta có hơn 4,5 triệu kiều bào đang sinh sống ở nước ngoài. Đại bộ phận những người Việt định cư ở nước ngoài tuân thủ luật pháp nước sở tại, chịu khó học tập, làm việc, có tinh thần xây dựng quê hương; trong đó không ít Việt kiều thành đạt đã trở về đóng góp, đầu tư tiền của, trí tuệ, tích cực góp phần xây dựng quê hương, đất nước. Thế nhưng cũng vẫn còn một bộ phận không cam tâm với những thất bại khi làm tay sai cho các đội quân thực dân, đế quốc, họ vẫn nuôi tham vọng quay trở lại nắm quyền lực và thực hiện các mưu đồ xấu. Để thực hiện âm mưu của mình, họ đã móc nối, cấu kết với các thế lực thù địch, ra sức thực hiện “diễn biến hòa bình”, hòng gây bạo loạn, lật đổ chế độ. Đặc điểm chung của những người này là ra sức tuyên truyền cổ xúy cho dân chủ, nhân quyền theo mô hình phương Tây, nhưng bản thân họ lại chuyên đấu đá, xâu xé quyền lực, phát ngôn thiếu thiện chí. Điển hình như cái gọi là tổ chức "Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời", do một cựu thiếu úy ngụy cầm đầu. Đây là một tổ chức chuyên xúi giục, tuyên truyền xuyên tạc và chỉ đạo thực hiện các hoạt động khủng bố. Ngay cả cái gọi là "đảng Việt Tân" cũng luôn tuyên truyền là sử dụng các biện pháp hòa bình để thực hiện dân chủ, nhân quyền và thay đổi chế độ, nhưng thực chất đó lại là một tổ chức khủng bố quốc tế.

Đáng chú ý hơn, lợi dụng xu hướng hội nhập quốc tế, trong những năm gần đây, các "nhà dân chủ" ở nước ngoài đã ra sức móc nối, kích động những phần tử bất mãn với chế độ ở trong nước, lôi bè kết cánh để chống phá đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Kịch bản của họ là đòi đa nguyên, đa đảng, kích động biểu tình, gây bạo loạn tiến tới lật đổ chế độ, theo kiểu “mùa xuân Ả-rập”, hoặc “cách mạng màu” như đã từng xảy ra ở các nước Đông Âu trước đây. Đáng tiếc là một số người ở trong nước đã bị chúng lừa phỉnh và mua chuộc tham gia các hành động biểu tình, gây bạo loạn, phá hoại sự bình yêu của đất nước.

Gần đây, trong nước lại xuất hiện một số “công thần cộng sản”, trong số đó có những người đã vào sinh ra tử, cùng nhân dân đánh đuổi thực dân, đế quốc, được Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận, tuyên dương công trạng, được giao trọng trách trong bộ máy Nhà nước. Nhưng bản thân họ dường như không thỏa mãn với những gì đã có, lớn tiếng tuyên truyền, xuyên tạc chống phá đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Nhân cơ hội này, các thế lực thù địch đã ngấm ngầm và công khai ủng hộ cả vật chất và tinh thần cho các phần tử này. Vì thế, nếu chúng ta không kiên quyết đấu tranh thì chắc chắn sẽ có kẻ "đục nước béo cò" làm những việc mờ ám.

Hai là, họ muốn gì khi lợi dụng vấn đề dân chủ để ra sức chống phá đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước? Đối với lực lượng phản động từ hải ngoại thì mọi người đều thấy rõ, âm mưu, thủ đoạn của chúng là thực hiện “diễn biến hòa bình”, tiến tới thay đổi chế độ để chúng có cơ hội nắm quyền thống trị. Còn đối với những người “công thần cộng sản” thì họ muốn gì? Có lẽ họ đang thấy cái bóng của mình quá to trên bức tường nhờ ánh hào quang của quá khứ? Là con dân nước Việt cần phải nhận thức sâu sắc rằng, trong bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã trịnh trọng tuyên bố: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Người đã phân tích, chỉ rõ, ngọn nguồn và bản chất của lời tuyên ngôn đó cho toàn dân dễ nhớ, dễ hiểu. Hơn 70 năm qua, dù trong hoàn cảnh khó khăn của hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược, hay trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng và Nhà nước ta luôn hướng tới xây dựng một nền dân chủ thật sự cho mọi người dân. Đảng Cộng sản Việt Nam không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân. Chính vì vậy, nhân dân ta một lòng một dạ đi theo con đường cách mạng mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn.

Hiện nay, mục tiêu được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang nỗ lực phấn đấu thực hiện là xây dựng một nước Việt Nam: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Muốn đạt được mục tiêu chiến lược này, phải trải qua một quá trình phấn đấu kiên trì, gian khổ và lâu dài. Và trên con đường đó, chúng ta khó tránh khỏi những khó khăn, vấp váp. Người xưa thường dạy “nhân vô thập toàn”, chính nhân quân tử ai cũng thấu hiểu điều đó. Đối với một con người còn như thế, thử hỏi cả một quốc gia, trong điều kiện đang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, thì khó có thể "mười phân vẹn mười". Chỉ những người ích kỷ, hẹp hòi mới bới móc, chì chiết những khiếm khuyết khó tránh khỏi trong tiến trình phát triển, rồi từ đó quy kết, bôi nhọ, nói xấu Đảng, nói xấu chế độ.

Tóm lại, lợi dụng dân chủ để chống phá đường lối, quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước hòng trục lợi là một hành động rất đáng bị lên án. Mỗi cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân hãy tỉnh táo, kiên quyết loại bỏ tư tưởng xấu độc đó ra khỏi đời sống xã hội. Dân tộc ta có truyền thống yêu nước nồng nàn và giàu lòng nhân ái, vị tha, chỉ “đánh kẻ chạy đi, không đánh người chạy lại”, những người lợi dụng dân chủ để chống phá cuộc sống yên bình của nhân dân thì cần sớm thức tỉnh khi còn chưa muộn./.
Yêu nước ST.

NIỀM TIN VÀ VỊ THẾ VỮNG CHẮC!

     Xét trên bình diện chung, tình hình kinh tế - xã hội 11 tháng của năm 2023 cơ bản đạt được mục tiêu tổng quát đã đề ra với nhiều kết quả quan trọng trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội.

Nổi bật là kinh tế vĩ mô được duy trì ổn định; lạm phát được kiểm soát; tăng trưởng được thúc đẩy; các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm; an sinh xã hội, đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện tốt hơn.

Đi vào từng vấn đề cụ thể, có thể nhìn nhận, nhiều chỉ số quan trọng của nền kinh tế đang cho thấy những diễn biến rất lạc quan. Đó là Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 11 tháng tăng 3,22%; thị trường tiền tệ, tỷ giá cơ bản ổn định.

Đặc biệt, thu ngân sách nhà nước 11 tháng đạt 94,9% dự toán, ước cả năm vượt mục tiêu đã đề ra do tháng 12 thường có tỷ trọng thu cao, tạo thêm nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển.

Đáng mừng hơn, dù phải đối mặt không ít khó khăn nhưng xuất nhập khẩu đã tiếp tục trở lại đà tăng trưởng trong tháng 11, khi xuất khẩu tăng 6,7% và nhập khẩu tăng 5,1% so với cùng kỳ năm trước, xuất siêu 1,28 tỷ USD.

Tính chung 11 tháng, xuất khẩu đạt kim ngạch 322,5 tỷ USD, nhập khẩu 296,67 tỷ USD; xuất siêu là 25,83 tỷ USD (cùng kỳ năm trước là 10,3 tỷ USD). Một chỉ số quan trọng nữa cũng đạt mức tăng khả quan là chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 11 tăng 3% so với tháng 10 và tăng 5,8% so với cùng kỳ; tính chung 11 tháng tăng 1%.

Đáng chú ý, đầu tư phát triển tiếp tục đạt kết quả tích cực, khẳng định là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Cụ thể, vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đăng ký và thực hiện cao nhất kể từ năm 2020 đến nay. Tổng vốn FDI đăng ký 11 tháng đạt 28,85 tỷ USD, tăng 14,8% so cùng kỳ; vốn FDI thực hiện đạt 20,25 tỷ USD, tăng 2,9%.

Thêm một động lực quan trọng của nền kinh tế ghi nhận khởi sắc, đó là trong 11 tháng đã có trên 201.500 doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường, tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước.

Với các “chân kiềng” của nền kinh tế được giữ vững và ghi nhận tăng trưởng cho thấy, chúng ta đã từng bước đi qua khó khăn, thách thức, tạo nên những động lực tăng trưởng vững chắc. Nói một cách hình ảnh, trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu cơ bản là một “bức tranh màu tối”, thì "bức tranh" kinh tế Việt Nam vẫn có nhiều gam màu sáng…

Tăng trưởng trong khó khăn luôn được đánh giá là một kỳ tích, nhưng chúng ta không được phép lơ là, chủ quan và “ngủ quên trên chiến thắng”. Nhiệm vụ trước mắt là phải nỗ lực hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ năm 2023, trên cơ sở đó bước vào năm 2024 với niềm tin và vị thế vững chắc.

Do đó, các cấp, ngành, địa phương, đặc biệt là người đứng đầu cần phải nhận diện được rằng, chúng ta hãy còn đó không ít khó khăn, thách thức. Đó là sức ép lạm phát vẫn cao; tiếp cận tín dụng, thị trường bất động sản còn không ít vướng mắc. Đáng nói là còn tình trạng một số cơ quan, đơn vị, cá nhân ngại việc, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, dẫn đến sự quyết tâm, quyết liệt chưa cao…, ảnh hưởng không nhỏ đến việc hiện thực hóa các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra.

Với quan điểm nghiêm túc và nhất quán, trong chỉ đạo tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 11-2023, diễn ra vào ngày 6-12 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã nhấn mạnh: “Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, các cấp phát huy tinh thần trách nhiệm, đề cao trách nhiệm cá nhân theo tinh thần tháng sau hiệu quả hơn tháng trước, quý sau cao hơn quý trước, năm sau tốt hơn năm trước”.

Trên tinh thần này, người đứng đầu Chính phủ yêu cầu, tiếp tục thực hiện quyết liệt nhiệm vụ ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; phấn đấu đạt cao nhất các chỉ tiêu, mục tiêu năm 2023.

Trong đó đặc biệt lưu ý việc thúc đẩy các động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế, nhất là tăng cường liên kết vùng, liên vùng và cả nước; tập trung phát triển các lĩnh vực mới nổi, như chu.yển đ.ổi s.ố, chuyển đổi xanh, thúc đẩy khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, khoa học công nghệ…

Có thể thấy, nước ta đang thể hiện khả năng phục hồi mạnh mẽ và triển vọng của nền kinh tế trong trung và dài hạn tiếp tục có nhiều tín hiệu rất lạc quan. Đây chính là kết quả thể hiện bản lĩnh càng trong khó khăn càng phải duy trì năng lượng tích cực để vượt qua và vươn lên mạnh mẽ hơn.

Với quyết tâm cao, nỗ lực lớn, Chính phủ và chính quyền các địa phương cùng các tầng lớp nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp tiếp tục chung sức, đồng lòng, năng động, sáng tạo hơn nữa để tranh thủ mọi thời cơ, thuận lợi, phát huy thành quả đạt được, vững vàng vượt qua mọi khó khăn, thách thức, hoàn thành thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ đề ra cho năm 2023 và bước vào năm 2024 với khí thế mới tự tin hơn, vững chắc hơn./.
Yêu nước ST.

VIỆT NAM - THẾ GIỚI: ÂN TÌNH CUBA ĐỐI VỚI NGÀNH GÀ VIỆT NAM!

     Cuba là nước duy nhất trên thế giới cho đến ngày nay hỗ trợ Việt Nam 15 dòng gà thuần chủng gồm 3 giống (chuyên thịt, chuyên trứng và kiêm dụng), đặt nền móng cho sự phát triển ngành gà Việt Nam theo hướng công nghiệp” – đó là chia sẻ của PGS, TS Nguyễn Huy Đạt, nguyên Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Gia cầm Trung ương khi chúng tôi tìm hiểu những kỷ niệm, dấu ấn của chuyên gia Cuba đối với sự phát triển của ngành gà Việt Nam!

Chuẩn bị chu đáo việc tiếp nhận giống gà từ Cuba
Vào cuối năm 1968, Bộ Nông nghiệp Việt Nam cử Bác sĩ thú y Nguyễn Ngọc Cảnh sang Cuba nghiên cứu, lập đề án xây dựng phát triển ngành chăn nuôi gia cầm cho Việt Nam. Sau chuyến đi, bản đề án được xây dựng và đệ trình lên cấp trên của hai nước.

Phía Cuba, đích thân Chủ tịch Fidel Castro xem xét phê chuẩn. Sau đó, một chương trình hợp tác viện trợ kinh tế, xây dựng phát triển ngành chăn nuôi (bò và gà) của Việt Nam đã được Chính phủ Cuba thông qua. Cuối năm 1969, đoàn cán bộ quản lý, kỹ thuật và công nhân chăn nuôi gà của Việt Nam gồm 16 người, do đồng chí Nguyễn Huệ, Giám đốc Nông trường quốc doanh An Khánh làm trưởng đoàn sang Cuba nghiên cứu, thực tập trong thời gian 6 tháng.    

Trong tiết trời Đông Hà Nội, PGS, TS Nguyễn Huy Đạt nhớ lại: Sau đợt tập huấn bên nước bạn, năm 1970, Phòng Gia cầm trong Cục Chăn nuôi gia súc nhỏ được thành lập do Bác sĩ thú y Nguyễn Ngọc Cảnh làm trưởng phòng.

Cùng năm đó, Ủy ban Nông nghiệp Trung ương cho triển khai đầu tư xây dựng ban đầu các cơ sở giống gà với sự cố vấn của chuyên gia đến từ Cuba. Hai trung tâm giống gà thuần chủng được khởi công xây dựng tại Tam Đảo và Ba Vì theo thiết kế mẫu của Cuba, phù hợp với hệ thống công nghệ Cuba chuyển giao. Trực tiếp tham gia cố vấn, hướng dẫn xây dựng khi đó là Kỹ sư Bernabe Mesa Ariss do Bộ Nông nghiệp Cuba cử sang để lựa chọn địa điểm, thiết kế kỹ thuật mặt bằng chuồng trại...

Tháng 5-1973, Cuba cử đoàn chuyên gia đầu tiên đến Hà Nội làm việc với Công ty kinh doanh Gia cầm Trung ương. Đoàn do kỹ sư José M.Jimenes Hurtado làm trưởng đoàn và các thành viên gồm chuyên gia vệ sinh thú y, bác sĩ thú y Espronceda; chuyên gia quản lý và dinh dưỡng Abdón; chuyên gia giống Pedroso và Minel, nữ chuyên gia chọn trống mái Maricela. 

Trong tiết trời oi nắng của mùa hè miền Bắc, không quản ngại gian khổ, đoàn chuyên gia Cuba đã cùng các cơ quan chức năng của Việt Nam kiểm tra đôn đốc công tác chuẩn bị cơ sở vật chất kỹ thuật để tiếp nhận trứng giống gốc từ Cuba chuyển sang bằng chuyên cơ trong thời gian thích hợp; trực tiếp chỉ đạo ấp nở và nuôi dưỡng thành công hai đàn gà giống gốc; huấn luyện đào tạo chuyên môn vệ sinh phòng bệnh, giống, nuôi dưỡng... cho cán bộ, công nhân ngành gà Việt Nam.

Đoàn cùng lãnh đạo Công ty Gia cầm Trung ương đi khảo sát, chọn địa điểm xây dựng trại gà bố mẹ Lương Mỹ và Tam Dương. Cùng cán bộ, công nhân của Việt Nam tổ chức tổng vệ sinh sát trùng trại gà An Khánh và nuôi thử đàn gà Leghom thương phẩm trên chuồng lồng lần đầu tiên tại Việt Nam. Các chuyên gia Espronceda cùng đồng chí Võ Bá Thọ, Nguyễn Huy Đạt, Phương Song Liên trực tiếp quét dọn, tiêm phòng, mổ khám gà bệnh; Abdón hướng dẫn lắp đặt lồng gà đẻ thương phẩm. Riêng đồng chí Espronceda còn có nhiệm vụ chỉ đạo, giúp đỡ về kỹ thuật cho các xí nghiệp gà ở Hải Phòng trong những buổi đầu còn khó khăn, thiếu kinh nghiệm.

“Đầu năm 1974, Việt Nam tiến hành nuôi thử nghiệm gà công nghiệp lô đầu tiên ở An Khánh theo quy trình mới. Cuba giao 10.000 trứng gà leghorn thương phẩm đưa về ấp tại Trại gà Cầu Diễn, sau khi nở chọn được khoảng 4.000 gà mái 1 ngày tuổi”, ông Đạt cho biết.

Theo PGS, TS Nguyễn Huy Đạt, Cuba đã chuyển giao miễn phí cho ta các dòng gà thuần quý cùng toàn bộ công nghệ tương ứng. Đồng thời, Cuba cung cấp cho ta ban đầu các nguyên liệu bổ sung thức ăn hỗn hợp, một số thuốc thú y, dụng cụ trang thiết bị chăn nuôi thú y, chuyên dùng cho công tác giống. Cung cấp bản vẽ thiết kế mẫu xây dựng chuồng trại, viện trợ gần như toàn bộ nguyên liệu vật tư và nhân công thiết bị xây dựng trại gà Lương Mỹ. Giúp đào tạo, tập huấn từ 3 đến 6 tháng một số đoàn cán bộ kỹ thuật, quản lý của Việt Nam tại Cuba vào các năm 1982 và 1984, phía bạn tài trợ 100% kinh phí.

Chúng tôi trở về huyện Ba Vì, TP Hà Nội để tìm gặp đồng chí Nguyễn Danh Nguyên, nguyên Giám đốc Trung tâm gà giống trứng dòng thuần Việt Nam – Cuba (hay gọi là Trại gà Ba Vì) để được nghe lại những câu chuyện xung quanh sự giúp đỡ của Cuba đối sự phát triển của ngành gà Việt Nam.

Ông Nguyên chia sẻ: “Trong tháng 4 và tháng 5-1974, các lô trứng giống dòng thuần được chuyển từ Cuba sang Việt Nam bằng máy bay, đưa về ấp tại hai trung tâm giống dòng thuần. Tại Tam Đảo nuôi giống gà thịt Plymouth Rock gồm dòng mái màu trắng 433 (6.200 con 1 ngày tuổi); dòng trống trung gian màu trắng 488 (3.200 con 1 ngày tuổi) và dòng trống màu vằn 799 (1.970 con 1 ngày tuổi). Giống gà Leghorn trắng nuôi tại Ba Vì gồm 2 dòng X và Y (vào ấp 7.200 trứng X, 12.998 trứng Y; nở chọn được 2.260 con dòng X và 7.918 con dòng Y)”.

Thầy tôi thế đấy... và bản lĩnh nhà khoa học Việt Nam
Quá trình tìm hiểu tư liệu để viết bài này, chúng tôi được tiếp cận những dòng hồi ký của Bác sĩ thú y Võ Bá Thọ, Bác sĩ thú y đầu tiên của ngành gà công nghiệp miền Bắc. Bác sĩ thú y Võ Bá Thọ đã chia sẻ câu chuyện với chuyên gia Cuba Espronceda, đồng thời là người thầy của mình, qua đó thấy được tinh thần làm việc thẳng thắn, chân thành, nhiệt huyết của các chuyên gia Cuba.

Bác sĩ thú y Võ Bá Thọ kể lại trong hồi ký: "Trong thời gian làm việc ở Công ty gia cầm Trung ương, tôi cùng chị Phương Song Liên và thầy Espronceda làm việc với nhau. Mọi việc thầy Espronceda đều bàn bạc với chúng tôi. Thỉnh thoảng, ông cũng có ý kiến khác chúng tôi trong việc xác định bệnh qua mổ khám gà bệnh. Có lần tôi chẩn đoán ca bệnh “gút phủ tạng” (Gota Visceral) ở gà con Leghorn nuôi thử ở An Khánh nhưng thầy Espronceda không đồng tình và cho là ở gà con không thấy có bệnh này. Thầy trò bất đồng ý kiến. Thấy vậy, Phương Song Liên đã nói đỡ cho tôi, giải thích là tôi chưa kết luận mà chỉ nói giống bệnh gút mà thôi! Buổi chiều trên đường về, không khí im ắng khác thường, không nói chuyện cười đùa như mọi khi. Về đến Kim Liên, thầy Espronceda bảo tôi ngồi chờ. Một lúc sau, thầy mang ra quyển sách của Jean Perdrix, mở ra xem bệnh gút ở gà con. Thầy nói: Cậu đúng, tôi sai! Làm thầy mà nói sai là chuyện không thể chấp nhận. Thầy sai phải nói để học trò biết sai, không nên giấu dốt... và ông xin lỗi tôi. Cảm động quá, tôi đã ôm siết thầy trong vòng tay của mình! Thầy Espronceda của tôi như thế đó!”.

Nhờ sự hỗ trợ đặc biệt của Cuba, cuối năm 1974, đầu năm 1975, Cuba bắt đầu triển khai xây dựng trại gà giống sinh sản Lương Mỹ gồm khu gà con, gà dò và khu gà đẻ. Toàn bộ thiết kế, nguyên vật liệu chính là cấu kiện khung bê tông cốt thép, tấm lợp mái, lưới thép bao che chuồng, các trang thiết bị chính như máy ấp nở, ổ đẻ, máng ăn uống, khay, hộp đựng trứng đều được chuyển từ Cuba sang bằng tàu thủy đến cảng Hải Phòng.

Một đoàn chuyên gia xây dựng Cuba gồm cán bộ và công nhân hàng trăm người cùng trang thiết bị xe máy thi công, vận chuyển, cấu kiện, vật liệu được đưa sang công trường trực tiếp thi công lắp dựng. Tại công trình Trại gà Lương Mỹ, Đội xây dựng Cuba mang tên Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi, chỉ huy trưởng công trường là kỹ sư Rigoberto de la Rosa Artega, kỹ sư Igmacio Brito Jimenes là Bí thư chi bộ, chỉ huy phó. Các hạng mục xây lắp chính đều cho Cuba đảm nhiệm, còn phía Việt Nam chỉ làm các hạng mục phụ trợ và bổ sung.

Nhắc đến những kỷ niệm trong thời gian “ăn cùng gà, thức cùng gà” với các chuyên gia Cuba, PGS, TS Nguyễn Huy Đạt kể: "Cho đến bây giờ tôi vẫn nhớ một kỷ niệm với chuyên gia Cuba Falcon. Đó là năm 1985, đàn gà Cuba hỗ trợ Việt Nam đang nuôi tại trại gà ở Tam Đảo xuất hiện bệnh mới (sau này mới biết là bệnh làm suy giảm miễn dịch ở gà). Chuyên gia Falcon giữ nguyên tắc là tiêu hủy hết đàn gà 25.000 con. Tôi thấy tiếc nên kiến nghị không tiêu hủy mà chuyển hết đàn gà bị bệnh lên quả đồi ở Thái Nguyên. Sau đó bao vây Trại gà Tam Đảo cho phun thuốc sát khuẩn trong vòng 6 tháng. Toàn bộ công nhân chuyển lên Thái nguyên chăm sóc gà. Tôi cam kết, nếu sau 6 tháng gà không đẻ sẽ tiến hành tiêu hủy hết. Kết quả là sau 6 tháng nuôi trên Thái Nguyên, đàn gà vẫn đẻ bình thường, gà khỏe mạnh và tiếp tục được đưa trở lại trại gà Tam Đảo chăm sóc. Nhờ vậy, tôi thoát “án” kỷ luật đang chờ sẵn mình. Nhưng qua đó, cũng cho thấy bản lĩnh của những nhà khoa học Việt Nam”.
 
Với sự giúp đỡ chân thành của Cuba, Liên hiệp xí nghiệp gia cầm Việt Nam đã nuôi giữ thành công các dòng gà thuần chủng mà bạn tặng. Như vậy, từ năm 1974 đến 1993, Liên hiệp xí nghiệp gia cầm Việt Nam đã trực tiếp tiếp nhận viện trợ không hoàn lại từ Liên hiệp gia cầm Cuba 15 dòng gà thuần chủng. Các dòng gà này đều được nuôi giữ thuần chủng thành công trong điều kiện khí hậu Việt Nam.

Sau nhiều đời nuôi giữ tại 2 trung tâm giống gốc quốc gia Ba Vì và Tam Đảo, được Hội đồng khoa học kỹ thuật ngành Nông nghiệp Việt Nam nghiệm thu đánh giá xuất sắc và được Bộ Nông nghiệp công nhận và cho phát triển rộng rãi vào sản xuất trên cả nước. Trong nhiều năm liền, cán bộ, công nhân viên các thế hệ ở Trung tâm Ba Vì và Tam Đảo đã cùng phòng Kỹ thuật của liên hiệp và đoàn chuyên gia Cuba miệt mài, nghiêm túc nuôi chọn lọc, giữ thuần chủng thành công các bộ giống gà thuần chủng quý do Cuba trao tặng.

Điều đó khẳng định, cán bộ, nhân viên Liên hiệp Xí nghiệp gia cầm Việt Nam đã tiếp nhận, chuyển giao hiệu quả viện trợ không điều kiện của Cuba cho ngành gia cầm Việt Nam. Các công nghệ, lĩnh vực về giống, thức ăn, thú y, kỹ thuật nuôi dưỡng, vật tư trang thiết bị, xây dựng chuồng trại, đào tạo nhân lực được chuyển giao trong 21 năm liên tục (1972-1993).

Ngày nay, ngành chăn nuôi gà nước ta đã phát triển với nhiều dòng giống công nghiệp tiên tiến trên thế giới cho năng suất trứng, thịt cao. Nhưng đối với ngành gà Việt Nam sự giúp đỡ vô tư, chí nghĩa, chí tình của nhân dân Cuba trong những năm đất nước ta còn nghèo nàn, lạc hậu đã đặt nền móng để ngành chăn nuôi gà Việt Nam chuyển dần sang hướng sản xuất công nghiệp chuyên thịt và chuyên trứng, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu ra một số thị trường trên thế giới.

Thay cho lời kết: Các thế hệ người Việt Nam thường truyền dạy nhau rằng: Không bao giờ được quên những người bạn đã gắn bó với nhau lúc hoạn nạn. Lịch sử là dòng chảy liên tục nối quá khứ với hiện tại và tương lai. Càng tự hào, càng nâng niu tình đoàn kết quốc tế cao cả Việt Nam - Cuba mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Fidel Castro cùng Đảng, Nhà nước và nhân dân hai nước tạo dựng, vun đắp trong suốt thời gian qua, chúng ta càng tin tưởng tình đoàn kết keo sơn giữa hai nước sẽ ngày càng bền vững và phát triển lên tầm cao mới, góp phần thiết thực nối dài tình cảm chí tình, chí nghĩa, nhất là trong thế hệ trẻ của hai đất nước ở hiện tại và tương lai./.
Ảnh: Đại sứ Cuba thăm Xí nghiệp gà giống Tam Dương (tháng 7-1983).
Yêu nước ST.

CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ LỰA CHỌN ĐÚNG ĐẮN CỦA ĐẢNG TA, DÂN TỘC TA!

     Bài viết một lần nữa khẳng định con đường đi lên xã hội chủ nghĩa là sự lựa chọn đúng đắn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Và việc vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam và những thành tựu trong sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh đó còn đưa ra các nội dung để phản biện lại những nhận định sai trái của các thế lực thù địch, phản động cho rằng: Chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, lạc hậu, không phù hợp với điều kiện thực tiễn hiện nay “con đường đó là không hợp thời”, đồng thời tuyên truyền, nâng cao nhận thức trong toàn xã hội tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới của Đảng theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Xuất phát từ yêu cầu của các cuộc cách mạng Việt Nam đó là giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức đô hộ, cùng với đó là việc xây dựng và phát triển đất nước thì Đảng ta đã xác định rõ ràng và dứt khoát con đường dẫn đến thành công chính là con đường xã hội chủ nghĩa, việc lựa chọn đó là vô cùng đúng đắn và đã được thể hiện cụ thể qua những thành tựu mà dân tộc Việt Nam đã đạt được trong gần 80 năm qua. Song hiện nay các thế lực, thù địch, phản động luôn cho rằng: Chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời lạc hậu, không phù hợp với điều kiện thực tiễn, hiện nay “con đường đó là không hợp thời”. Vì vậy để đề cao cảnh giác trước những luận điệu xuyên tạc, tuyên truyền, nâng cao nhận thức của toàn xã hội xây dựng niềm tin vào sự nghiệp đổi mới của Đảng theo định hướng xã hội chủ nghĩa là việc làm cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Chúng ta khẳng định rằng những quan điểm, luận điệu của các thế lực phản động nêu trên là sai trái, vì:

Thứ nhất, nghiên cứu quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội chúng ta thấy rằng:Học thuyết của C.Mác và Ph.Ăng-ghen ra đời từ giữa thế kỷ 19, trong điều kiện các mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản đã trở nên gay gắt, phơi bày tất cả bản chất giai cấp của nó và sự bóc lột người lao động đến cùng cực. C.Mác và Ph.Ăng-ghen kế thừa thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước, tiếp thu có phê phán các giá trị tinh hoa của quá trình phát triển tư tưởng nhân loại và với tài năng của mình, các ông đã phát hiện ra tính quy luật trong sự vận động của xã hội loài người, trong đó nhân tố quyết định là quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất. Đây chính là cơ sở để C.Mác và Ph.Ăng-ghen dự báo về tất yếu loài người sẽ tiến tới hình thái kinh tế - xã hội chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn đầu là xã hội chủ nghĩa. V.I.Lênin đã phát triển tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăng-ghen trong bối cảnh cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, Ông có nhiều đóng góp phát triển tư tưởng triết học, kinh tế - chính trị và chủ nghĩa xã hội khoa học của C.Mác, Ph.Ăng-ghen; đặc biệt, V.I.Lênin phát triển luận điểm về khả năng thắng lợi của cách mạng vô sản ở một nước tư bản, thậm chí trình độ phát triển chưa cao; xây dựng học thuyết về chính đảng mác-xít kiểu mới; tổ chức cách mạng xã hội chủ nghĩa thắng lợi và vận dụng học thuyết của C.Mác để phân tích, giải quyết hàng loạt vấn đề trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga và Liên bang Xô viết. Đến giữa thế kỷ 20, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã vận dụng một cách sáng tạo các nguyên lý của Chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn để giải quyết các nhiệm vụ to lớn của cách mạng Việt Nam, từ đó huy động sức mạnh toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đấu tranh giành lại độc lập, tự do cho dân tộc, đánh bại các đế quốc, bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.Nhìn nhận từ góc độ nhân văn, chủ nghĩa xã hội là ước vọng ngàn đời của mọi người lao động, của những con người có lương tri cùng tình thương nhân loại, muốn sống trong hòa bình, nhân ái. C.Mác, Ph.Ăng-ghen đã phát triển chủ nghĩa xã hội từ không tưởng trở thành khoa học khi nhìn nhận nó từ quy luật vận động của lịch sử, như sự vận động tất yếu từ những cơ sở xã hội, những yếu tố kinh tế, vật chất vốn đã được hình thành ngay trong lòng chủ nghĩa tư bản. Như vậy, chủ nghĩa xã hội là phù hợp và hợp lý cả về phương pháp luận khoa học và tính mục đích nhân văn.

Thứ hai, Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng chủ nghĩa C.Mác vào điều kiện cụ thể của Việt Nam:
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta. Với truyền thống yêu nước, từ cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, ở nước ta đã xuất hiện những phong trào yêu nước chống thực dân Pháp, theo những khuynh hướng khác nhau: Phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến, tiêu biểu là phong trào Cần Vương (1885 - 1896) và phong trào khởi nghĩa nông dân Yên Thế; phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản, tiêu biểu là xu hướng bạo động do Phan Bội Châu tổ chức, lãnh đạo; xu hướng cải cách do Phan Châu Trinh đề xướng và tổ chức, khởi nghĩa của Việt Nam Quốc dân Đảng do Nguyễn Thái Học đứng đầu. Tất cả những phong trào yêu nước đó đều bị thất bại, nguyên nhân chủ yếu là do thiếu một đường lối cứu nước đúng đắn. Yêu cầu lịch sử đòi hỏi phải có một tổ chức cách mạng tiên phong, có đường lối cứu nước đúng đắn để giải phóng dân tộc.
Năm 1917, cuộc Cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi đã mở ra thời đại mới trong lịch sử loài người - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Ngày 05/6/1911, Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước, tháng 7 năm 1920, Người đọc Sơ thảo Lần thứ nhất Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin và đi đến kết luận quan trọng: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản.Những gì chủ nghĩa tư bản hiện đại đang thể hiện không nằm ngoài tính quy luật mà Chủ nghĩa Mác - Lênin từng chỉ ra, càng chứng minh tính đúng đắn của Chủ nghĩa Mác - Lênin. Sự phát triển lực lượng sản xuất với tác động của cách mạng khoa học và công nghệ, một mặt, tăng thêm tiềm lực cho chủ nghĩa tư bản, mặt khác thúc đẩy nhanh hơn quá trình xã hội hóa lực lượng sản xuất, dẫn đến các thay đổi về quy mô, tính chất của quan hệ sở hữu, quản lý, điều hành sản xuất, phân phối của cải. Suy cho cùng, toàn cầu hóa ra đời từ nền kinh tế tư bản chủ nghĩa cũng giống như cái “áo” đã quá chật đối với mỗi quốc gia và buộc phải nới rộng trên phạm vi toàn thế giới. Sự áp bức bóc lột của chủ nghĩa tư bản cũng theo đó mở rộng ra ngoài chính quốc và về bản chất, cũng không khác gì hành vi xâm lược thuộc địa trước đây, chỉ có điều được che đậy dưới lớp vỏ hào nhoáng hơn, vào các quốc gia nghèo khó bằng cửa chính và bóc lột bằng các luật lệ tự coi là sạch sẽ, văn minh! Người ta tìm mọi cách để chiếm đoạt nguồn tài nguyên, của cải trên thế giới, quy phục các quốc gia yếu thế nhằm phục vụ lợi ích của mình. Chiến tranh I-rắc đẩy một quốc gia vào cuộc chiến đẫm máu, hơn một thập niên vẫn chưa có lối ra. Lý do phát động cuộc chiến tranh chống lại một dân tộc có chủ quyền là tàng trữ “vũ khí giết người hàng loạt” nhưng sau chiến dịch Bão táp sa mạc, đến nay dù đào bới, xới lộn cả nước I-rắc vẫn không tìm thấy “vũ khí giết người hàng loạt” nào! Vậy nguyên nhân cuộc chiến ở I-rắc là gì nếu không phải vì dầu mỏ và lợi ích của các ông chủ, các nhà tư bản? Và “cách mạng màu” phát động ở Li-bi, Xy-ri,… cũng thế, đều có chung hình thức bên ngoài, mục đích ẩn giấu bên trong và hậu quả tồi tệ không khác gì với cuộc chiến ở I-rắc.Vào những năm 1929 - 1930, phong trào công nhân ở nước ta phát triển mạnh mẽ đưa đến sự ra đời các tổ chức cộng sản như: Đông Dương Cộng sản Đảng (6/1929); An Nam Cộng sản Đảng (11/1929); Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (01/1930). Việc các tổ chức cộng sản liên tiếp xuất hiện chứng tỏ phong trào công nhân của Việt Nam phát triển mạnh mẽ, nhưng nhiều tổ chức cộng sản ra đời đã tranh giành quần chúng, ảnh hưởng không tốt đến phong trào. Nhận chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, Hồ Chí Minh về Hương Cảng, Trung Quốc tổ chức hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản ở nước ta thành Đảng Cộng sản Việt Nam (từ ngày 06 đến ngày 07 tháng 2 năm 1930). Hội nghị đã thông qua các văn kiện quan trọng, trong đó có Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt của Đảng, xác định Việt Nam “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Kể từ đây, Đảng và dân tộc ta dứt khoát lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

Thực hiện Cương lĩnh của Đảng, cách mạng nước ta đã giành những thắng lợi vĩ đại: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do; thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lược, mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ Quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế.Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng đã lãnh đạo tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước. Do chủ quan nóng vội, muốn nhanh chóng xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội dẫn đến sai lầm đường lối ở một số lĩnh vực, từ đó dẫn đến sự khủng khoảng kinh tế - xã hội ở nước ta (1979 -1986), nước ta rơi vào hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, lạm phát phi mã, đời sống nhân dân cơ cực, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội không ổn định, yêu cầu khách quan đặt ra là cần phải đổi mới đất nước. Ngày 15/12/1986 tại Đại hội VI với tinh thần nhìn thẳng sự thật, nói đúng sự thật, Đại hội đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện gồm: Đổi mới cơ cấu kinh tế, “coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ”; đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trong đó đổi mới kế hoạch hóa, kết hợp kế hoạch hóa với thị trường, từng bước đưa nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý kinh tế của nhà nước; đổi mới và tăng cường vai trò quản lý, điều hành của Nhà nước về kinh tế, “Phân biệt rõ chức năng quản lý hành chính - kinh tế của các cơ quan nhà nước trung ương và địa phương với chức năng quản lý sản xuất - kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở”; đổi mới hoạt động kinh tế đối ngoại, trên cơ sở mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, tạo điều kiện cho người nước ngoài và Việt kiều về nước đầu tư, hợp tác kinh doanh; Đổi mới tư duy lý luận và phong cách lãnh đạo của Đảng, trên cơ sở nâng cao nhận thức lý luận, vận dụng đúng quy luật khách quan, khắc phục bệnh chủ quan, duy ý chí hoặc bảo thủ trì trệ.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng có ý nghĩa lịch sử trọng đại, đánh dấu bước ngoặt trong sự nghiệp quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đại hội đã tìm lối thoát cho cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội bằng việc đề ra đường lối đổi mới, đặt nền tảng cho việc tìm ra con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Các chủ trương, chính sách đổi mới bắt đầu mang lại kết quả rõ rệt, tình hình kinh tế và đời sống nhân dân dần được cải thiện, sinh hoạt dân chủ trong xã hội ngày càng được phát huy, lòng tin của nhân dân vào công cuộc đổi mới tăng lên...
Thứ ba, thành tựu của sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam: Ngày nay, thực hiện đường lối đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế bắt đầu phát triển và phát triển liên tục với tốc độ tăng trưởng cao trong suốt 35 năm qua với mức tăng trưởng trung bình khoảng 7% mỗi năm. Quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2020 đạt 342,7 tỉ đô la Mỹ (USD), trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN. Thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 17 lần, lên mức 2.779 USD/người/năm (năm 2020); Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Từ một nước bị thiếu lương thực triền miên, đến nay Việt Nam không những đã bảo đảm được an ninh lương thực mà còn trở thành một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới. Công nghiệp phát triển khá nhanh, tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ liên tục tăng và hiện nay chiếm khoảng 85% GDP. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng mạnh, năm 2020 đạt trên 540 tỉ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt trên 280 tỉ USD. Dự trữ ngoại hối tăng mạnh, đạt 100 tỉ USD vào năm 2020. Đầu tư nước ngoài tăng nhanh, đăng ký đạt gần 395 tỉ USD vào cuối năm 2020...

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng khẳng định: “Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa. Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Những thành tựu đó là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam”.Nói về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhận định: Xây dựng chủ nghĩa xã hội là kiến tạo một kiểu xã hội mới về chất, hoàn toàn không hề đơn giản, dễ dàng. Đây là cả một sự nghiệp sáng tạo vĩ đại, đầy thử thách, khó khăn, một sự nghiệp tự giác, liên tục, hướng đích lâu dài, không thể nóng vội. Vì vậy, bên cạnh việc xác định chủ trương, đường lối đúng, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, phải phát huy mạnh mẽ vai trò sáng tạo, sự ủng hộ và tham gia tích cực của nhân dân. Nhân dân tiếp nhận, ủng hộ và nhiệt tình tham gia thực hiện đường lối của Đảng vì thấy đường lối đó đáp ứng đúng yêu cầu, nguyện vọng của mình.

Hiện nay, cùng với thắng lợi đã giành được trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới đã làm cho thế và lực của nước ta mạnh lên nhiều, cơ sở vật chất - kỹ thuật của nền kinh tế được tăng cường. Đất nước còn nhiều tiềm năng lớn về tài nguyên lao động, nhân dân ta có phẩm chất tốt đẹp, tình hình chính trị - xã hội ổn định, môi trường hoà bình, sự hợp tác, liên kết quốc tế và những xu thế tích cực trên thế giới tạo điều kiện để chúng ta tiếp tục phát huy nội lực và lợi thế so sánh, tranh thủ ngoại lực, nguồn vốn, công nghệ mới, kinh nghiệm quản lý, mở rộng thị trường, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; đó là cơ hội lớn.Đồng thời, đất nước ta phải đối mặt với nhiều nguy cơ và thách thức. Các nguy cơ mà văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, XIII của Đảng chỉ rõ: “Bốn nguy cơ mà Đảng ta chỉ ra vẫn còn tồn tại, có mặt diễn biến phức tạp. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa bị đẩy lùi...” đang cản trở việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, gây bất bình và làm giảm lòng tin trong nhân dân... nếu không được khắc phục kịp thời sẽ làm ảnh hưởng đến vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ xã hội chủ nghĩa. Nắm bắt cơ hội, vượt qua thử thách, Đảng và nhân dân ta đoàn kết, quyết tâm đưa nước ta tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. Đó là con đường duy nhất mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

Trong điều kiện đất nước ta hiện nay, thế và lực đã lớn mạnh lên nhiều. Cơ sở vật chất, kỹ thuật của nền kinh tế được tăng cường. Đất nước ta còn nhiều tiềm năng to lớn về tài nguyên, người lao động. Nhân dân ta có truyền thống lao động cần cù, thương yêu đùm bọc lẫn nhau, phẩm chất đạo đức tốt, có tình thương yêu bao la... Tình hình an ninh chính trị - xã hội ổn định; môi trường hoà bình, sự hợp tác, liên kết quốc tế và những xu thế tích cực trên thế giới đang tạo điều kiện để chúng ta tiếp tục phát huy nội lực. Đồng thời, đất nước ta cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức. Bốn nguy cơ mà Đảng ta từng chỉ rõ: tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa; nạn tham nhũng và tệ quan liêu; diễn biến hoà bình do các thế lực thù địch gây ra, đến nay vẫn còn tồn tại và diễn biến phức tạp, đan xen tác động lẫn nhau, không thể xem nhẹ nguy cơ nào. Nước ta vẫn là một trong những nước có nền kinh chậm phát triển; mức sống của nhân dân còn thấp. Trong khi đó, cuộc cạnh tranh kinh tế ngày càng quyết liệt, nếu chúng ta không nhanh chóng vươn lên thì càng tụt hậu xa hơn về kinh tế. Muốn thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu và nhanh chóng đạt đến trình độ của một nước phát triển, không còn đường nào khác phải đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước.Ngày nay, trên phạm vi toàn thế giới, công nghiệp hoá vẫn đang được coi là phương hướng chủ đạo phải trải qua của các nước đang phát triển. Đối với nước ta, khi những tư tưởng cơ bản trong học thuyết Mác về hình thái kinh tế - xã hội được nhận thức lại một cách khoa học và sâu sắc với tư cách là cơ sở lý luận của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thì một mặt, chúng ta phải đẩy mạnh sự nghiệp này trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội để nhanh chóng tạo ra lực lượng sản xuất hiện đại cho chế độ xã hội mới. Mặt khác, chúng ta phải chú trọng xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự điều tiết của kinh tế Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là hai nhiệm vụ được thực hiện đồng thời, chúng luôn tác động, thúc đẩy và hỗ trợ nhau cùng phát triển. Bởi lẽ, "nếu công nghiệp hoá, hiện đại hoá tạo nên lực lượng sản xuất cần thiết cho chế độ xã hội mới, thì việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần chính là để xây dựng hệ thống quan hệ sản xuất phù hợp".

Trong thời đại ngày nay, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước không thể không dựa trên nền tảng vững chắc của khoa học và công nghệ hiện đại. Song, để cho khoa học và công nghệ trở thành động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trở thành nền tảng và chiếm vị trí then chốt trong quá trình phát triển đó, thì trước hết chúng ta phải tìm ra động lực, năng lực nội sinh cho sự phát triển của bản thân nó. Động lực này, năng lực nội sinh này trước hết nằm ở lợi ích của những người làm công tác nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ.Bởi lẽ, sản phẩm trí tuệ trước hết phải là sở hữu cả những người trực tiếp sản sinh ra nó và bản thân nó được coi như một thứ hàng hoá đặc biệt, được trả giá tương xứng với giá trị của nó. Công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đang bước vào thời kỳ phát triển mới "đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước", đòi hỏi chúng ta phải nhận thức một cách sâu sắc, đầy đủ những giá trị lớn lao và ý nghĩa quyết định của nhân tố con người. Đó là chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn của cải vật chất và tinh thần; phải có sự thay đổi sâu sắc từ cách nhìn, cách nghĩ đến cách đào tạo, bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người Việt Nam hiện đại như một cuộc cách mạng về con người. Hơn nữa, với tính tất yếu khách quan của công cuộc cải tạo xã hội một cách toàn diện theo những tư tưởng cơ bản của học thuyết Mác về hình thái kinh tế - xã hội, của sự nghiệp phát triển đất nước theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì cuộc cách mạng về con người phải được nhận thức là mặt thứ hai thống nhất, không thể tách rời của quá trình phát triển kinh tế - xã hội vì mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh"./.
_______________________
1. C.Mác - Ăngghen: tuyên ngôn Đảng cộng sản, Nxb, sự thật, Hà Nội, 1983, tr100.
 2. Hồ Chí Minh toàn tập (1,2,9), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995.
3. V.I.Lênin, toàn tập, tập 23, 45, Nxb tiến bộ, Matxcova, 1995.
 4. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, IX, X, XI, XII, XIII của Đảng, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
Yêu nước ST.

BẢO VỆ CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN LÀ BẢO VỆ NIỀM TIN, LẼ SỐNG!

     Trong lúc toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang ra sức thi đua đẩy nhanh tiến độ, chất lượng thực hiện các chỉ tiêu, mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và các quyết sách mà Quốc hội khóa XV đã xác định. Đồng thời, chuẩn bị tốt các điều kiện cần thiết để triển khai, thực hiện thắng lợi Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2024, thì các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị lại ra sức “đâm bị thóc, chọc bị gạo”, ráo diết đẩy mạnh xuyên tạc, chống phá chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh – nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Vì sao các thế lực thù địch lại “giở trò”, làm việc sai trái này vào thời điểm hiện nay? Điều gì khiến họ phải dồn sức, tăng cường chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta, cố tình xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh ?

1. Cũng như trước đây, từ sau Đại hội lần thứ XIII của Đảng đến nay, các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị ráo diết đòi xét lại chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; bài xích, phủ nhận bản chất khoa học, cách mạng hệ tư tưởng của giai cấp công nhân; viện dẫn các loại lý do để giải thích sự “sai lầm” về thế giới quan và phương pháp khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; vu khống, kết tội Đảng Cộng sản Việt Nam “khư khư bám giữ chủ nghĩa Mác – Lênin – một học thuyết đã lỗi thời, lạc hậu, không còn sức sống”, làm cho đất nước ta tụt hậu, sau gần 40 năm đổi mới mà vẫn là nước kém phát triển, dân còn đói nghèo…

Những luận điệu chống phá này hoàn toàn không mới, về thực chất, chỉ là “bồn cũ soạn lại”, được dàn dựng mới cho hợp mốt, hợp thời rồi chọn thời điểm “nhạy cảm” để tung lên mạng xã hội nhằm gây rối nhận thức, làm suy giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân vào đường lối đổi mới, hướng đến việc phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng; không muốn công cuộc đổi mới của chúng ta có thêm thành công, quan điểm, đường lối của Đảng không thể thực hiện hóa trong cuộc sống.

Đây là bản “điệp khúc” đã tua đi tua lại nhiều lần, kể từ khi học thuyết Mác chào đời cho đến khi đóng vai trò thống trị trong phong trào công nhân quốc tế, những kẻ thù của C. Mác đã dùng mọi thủ đoạn, biện pháp, kể cả những thủ đoạn, biện pháp hèn hạ nhất để xuyên tạc, chống phá, hạ bệ chủ nghĩa Mác, uy tín và vị thế của ông. Họ ý thức rõ ràng sự nguy hiểm của chủ nghĩa Mác, nhất là sự lan tỏa, ảnh hưởng thuyết phục và sức sống mãnh liệt của học thuyết Mác đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế; họ không muốn chủ nghĩa Mác tồn tại, phát triển và xâm nhập ngày càng sâu rộng; không muốn chủ nghĩa Mác trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của các đảng cộng sản, phong trào công nhân quốc tế; trong đó có sự lớn mạnh, trưởng thành của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trước những biến động dữ dội của tình hình thế giới và khu vực, đặc biệt là sự sụp đổ chế độ XHCN theo mô hình Xô viết ở Liên Xô và các nước Đông Âu cũng như việc chậm khắc phục những hạn chế, bất cập của nền kinh tế và một số hiện tượng tiêu cực trong quá trình đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở nước ta, một số người đã dao động, giảm lòng tin vào bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và con đường đi lên CNXH của Việt Nam.

Vin vào cái cơ đó, một số người nhân danh “cấp tiến” đã đề xuất giải pháp nhằm “thay máu cho hệ tư tưởng”, “sửa lại chủ nghĩa Mác – Lênin” cho hợp thời, “hợp mốt” và sát với thực tế Việt Nam đương đại. Có người còn tuyên bố rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam phải “giã từ CNXH” để đi theo con đường của CNTB, học tập, noi gương “các nước lớn” và coi đó là cái cách “tối ưu nhất để Việt Nam “cất cánh”…

Vì thế, một số người đã lợi dụng chiêu bài “dân chủ” và “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo”, “đa nguyên chính trị” và “đa đảng đối lập” để công khai xét lại chủ nghĩa Mác – Lênin, vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam. Họ cho rằng, “chủ nghĩa Mác – Lênin là quá khứ”, không phù hợp với thời đại cách mạng công nghiệp 4.0, v.v.. Có người còn xuyên tạc rằng: “C. Mác và V.I. Lênin là những nhà không tưởng”, “Việt Nam không cần chủ nghĩa Mác – Lênin”, “cần thay máu cho hệ tư tưởng”, v.v..

Lợi dụng internet, các trang mạng xã hội, một số người đã đưa ra lý lẽ sai trái để phê phán, bác bỏ, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận mục tiêu, con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH mà nhân dân ta đã chọn; cố tình xuyên tạc chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng và tính ưu việt của chế độ XHCN ở nước ta. Vì thế, họ đã và đang tạo nên các “điểm nóng”, gây “diễn biến bên trong” nội bộ Đảng, Nhà nước và xã hội ta, trước hết là gây tự diễn biến, tự chuyển hóa về nhận thức, tư tưởng; từ đó dẫn đến những diễn biến về các mặt khác.

 2. Vì sao những người có quan điểm đối lập với Đảng, Nhà nước ta lại ra sức chống phá chủ nghĩa Mác – Lênin một cách quyết liệt như vậy? Hẳn là họ đã ý thức rất rõ sức sống mãnh liệt của chủ nghĩa Mác – Lênin, nhất là khi chủ nghĩa Mác – Lênin trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam. Hơn thế, họ biết rõ rằng mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều do chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường, dẫn lối, quyết định. Hẳn là họ hiểu rằng, chừng nào còn chủ nghĩa Mác – Lênin thì chừng ấy còn có Đảng Cộng sản lãnh đạo, còn có phong trào cách mạng và cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân tất yếu họ sẽ tiêu diệt; và do đó, CNXH và CNCS tất yếu sẽ được xây dựng thành công, sự nghiệp cách mạng sẽ thắng lợi. Và do đó, tất yếu họ sẽ bị diệt vong. Sự tồn tại, phát triển của chủ nghĩa Mác – Lênin là hoàn toàn có hại cho họ. Hẳn là họ không hề mong muốn có kết cục “bi thảm” như thế. Để duy trì sự tồn tại của mình, họ buộc phải dùng các biện pháp, mọi thủ đoạn có thể để chống phá, triệt hạ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh – nền tảng tư tưởng của Đảng ta.

Việc khẳng định Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam đã làm cho các thế lực thù địch căm giận đến tận xương tủy. Vì thế, họ viết bài, nói xấu, xuyên tạc, vu khống, bác bỏ bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự phản ứng tiêu cực cũng là điều không khó nhận thức.

Cho nên, sự cố tình xuyên tạc và phủ nhận các luận điểm khoa học, cách mạng, phủ nhận cội nguồn, gốc rễ, lịch sử sự hình thành, phát triển của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là vì họ hiểu rằng, người Việt Nam biết đến chủ nghĩa Mác – Lênin thông qua nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh và các tài liệu dịch thuật do Hồ Chí Minh và những người yêu nước chuyển từ châu Âu về quê nhà. Vì lẽ đó, họ cho rằng, để hạ bệ chủ nghĩa Mác – Lênin, nhất thiết phải “tấn công” tư tưởng Hồ Chí Minh – nền tảng tư tưởng của Đảng. Hơn thế, do nhiều lý do khác nhau, phần đông nhân dân lao động mới hiểu biết chủ nghĩa Mác – Lênin ở những điểm căn bản nhất, đại cương nhất, thông qua tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng. Lợi dụng sự khác biệt này, các thế lực thù địch đã xuyên tạc, bóp méo sự thật về nguồn gốc, bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin.

Sử dụng chiêu bài “mưa dầm thấm sâu”, “nước chảy đá mòn”, các thế lực thù địch bằng nhiều cách đã và đang xuyên tạc, chống phá chủ nghĩa Mác – Lênin, làm cho một số người dân do thiếu thông tin, nhẹ dạ, cả tin hay bất mãn với chế độ đã “tán thưởng, hùa theo”, nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, giá trị khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, ca ngợi không công cho CNTB, hạ thấp uy tín, vị thế và sự ảnh hưởng của Đảng trong xã hội Việt Nam.

Với quyết tâm chính trị rất cao, chúng ta kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; chống lại mọi quan điểm, luận điệu sai trái của các thế lực thù địch và những kẻ “theo đuôi” để bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế XHCN và cuộc sống hòa bình, hạnh phúc của nhân dân; không cho phép bất cứ ai, thế lực nào lợi dụng mạng xã hội, lợi dụng các thời điểm họp Ban Chấp hành Trung ương, học Quốc hội và các sự kiện chính trị quan trọng khác để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN mà nhân dân ta đang xây dựng. Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng – Niềm vui, lẽ sống, trách nhiệm và hạnh phúc của chúng ta, là chìa khóa “vàng” để công cuộc đổi mới thành công./.
Yêu nước ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: BÀI HỌC KHÓ QUÊN!

     Vào một ngày nghỉ, tôi đến thăm nhà anh bạn mới được điều động về công tác gần nhà. Ngắm nhìn căn nhà cấp 4, lợp ngói 3 gian của gia đình anh đã rêu phong, xập xệ, tôi hỏi: Ông định khi nào làm lại căn nhà này? Anh bạn tôi nhoẻn cười: Ông thấy hơn hai mươi năm công tác xa nhà, lương “ba cọc ba đồng”, vợ ốm con đau, thiếu thốn đủ đường, lấy đâu ra mà xây với sửa?... Nghe vậy tôi thoáng chạnh lòng.

Nhân chuyện nhà cửa, anh bạn tôi “dốc bầu” tâm sự:

Vừa qua để xoay xở chuyển công tác về dưới này, vợ chồng tôi cũng cố thu xếp một món kha khá… để đến gặp “sếp”. Sau khi trò chuyện, hỏi han tình hình gia đình và nghe tôi trình bày nguyện vọng chuyển công tác về một cơ sở gần nhà, “sếp” nói: “Cán bộ trên này đang rất thiếu… để tôi bàn với các anh ấy xem”. Rồi “sếp” bắt tôi mang gói quà về với thái độ kiên quyết. Tôi ngại quá, cố thuyết phục “sếp” nhận và giúp tôi. Không sao từ chối được, “sếp” đành nhận và bảo tôi cứ yên tâm làm việc cho tốt.

Tôi ra về mà lòng vui phấp phỏng. “Sếp” đã nhận là yên tâm. Tôi vừa lặng lẽ chờ đợi, vừa kiên trì làm việc cho tốt.

Bẵng một thời gian, bỗng một hôm “sếp” ghé thăm nhà tôi. Ngồi trò chuyện chút ít, “sếp” thông báo việc chuyển công tác của tôi đã được cấp ủy đồng ý và đã có quyết định. Vừa nói, ông vừa trao lại gói quà mà trước đây tôi đã mang đến biếu. Tôi ngập ngừng, không dám nhận lại, nhưng với thái độ kiên quyết của “sếp”, tôi không thể khác được… “Sếp” căn dặn tôi: Là cán bộ lãnh đạo, tôi rất hiểu hoàn cảnh của anh em cấp dưới. Việc gì giúp được anh em tốt hơn, thuận lợi hơn tôi cũng không ngần ngại gì và không yêu cầu anh em phải vất vả tốn kém. Đó là trách nhiệm của tôi. Cậu cầm lại gói quà này mà thêm thắt sửa sang lại nhà cửa cho chắc chắn...

Nghe xong câu chuyện, tôi thầm vui và ghé sát tai anh bạn: Ông được một bài học rồi đấy… Anh bạn tôi gật đầu: Đúng, bài học nhớ đời không thể nào quên. Cũng còn may, gặp được “sếp” xử lý tế nhị, kín kẽ, chứ nếu vào ông “sếp” khác tính tình cương trực mà gọi cơ quan lên giao gói quà trả lại thì “hết chỗ chui”…

Nhân một buổi sinh hoạt chuyên đề của chi bộ, tôi kể lại câu chuyện anh bạn. Mọi người bàn luận khá sôi nổi. Một số người liên hệ, dẫn chứng ra một số ví dụ tương tự và cho rằng, chính những người như anh bạn tôi đã tự khởi đầu cho những biểu hiện không lành mạnh, tiêu cực trong công tác cán bộ. Nhưng cũng có đảng viên còn phân vân, cho đó là trường hợp hy hữu… Rồi một vài người lại kể ra những biểu hiện tiêu cực từ chạy chức, chạy quyền, chạy bằng cấp, chạy tuổi… đi cửa trước, cửa sau. Có người chạy hết chức này đến chức khác… Có cán bộ lợi dụng vị trí công tác, khi giúp ai việc gì cũng khéo dùng nghệ thuật “rung chài” hoặc cứ phải có “đếm… đếm”.

Buổi sinh hoạt chi bộ trở nên rất sôi nổi. Cuối cùng, các đảng viên cũng đi đến đồng lòng, cho rằng việc làm của ông “sếp” ấy rất đáng được học tập. Còn những biểu hiện tiêu cực của một số cán bộ, đảng viên, trong đó có anh bạn tôi, thì cần phải nghiêm khắc sửa chữa, nếu không sẽ nhanh chóng dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, rất nguy hiểm.

Qua chuyện này, anh em trong chi bộ tôi càng thấm thía sâu sắc lời dạy của Bác: Người đảng viên, người cán bộ tốt muốn trở nên người cách mạng chân chính, không có gì là khó cả. Điều đó hoàn toàn do lòng mình mà ra. Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công vô tư. Mình đã chí công vô tư thì khuyết điểm sẽ càng ngày càng ít, mà những đức tính tốt ngày càng thêm.

Thiết nghĩ, nếu cán bộ, đảng viên nào cũng tự giác, trung thực học và làm theo lời Bác thì Đảng ta sẽ luôn rất mạnh từ cơ sở./.
Yêu nước ST.

HỌC TẬP VÀ LÀM THEO BÁC: ĐÁNH BẠI CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN - ĐẶC TÍNH CÁCH MẠNG NỔI BẬT TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH!

     Đánh bại chủ nghĩa cá nhân, người cách mạng, Đảng cách mạng phải suốt đời trau dồi cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, suốt đời tận tụy phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, đất nước. Đây là đặc tính cách mạng nổi bật trong tư tưởng Hồ Chí Minh trên bình diện đạo đức.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội phải đánh bại chủ nghĩa cá nhân. Tư tưởng xã hội chủ nghĩa là đối lập với tư tưởng cá nhân chủ nghĩa. Đảng chân chính cách mạng phải tiêu biểu, mẫu mực về đạo đức, văn hóa “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Trong lý luận về Đảng Cộng sản cầm quyền, Người trù tính sâu xa phải đặc biệt coi trọng xây dựng Đảng về đạo đức, về văn hóa. Chỉ dẫn ấy của Hồ Chí Minh đang soi sáng cho Đảng và nhân dân ta trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện hiện nay.
Tính cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh còn biểu hiện đậm nét qua dũng khí tự phê phán và phê phán của người cách mạng và Đảng cách mạng về những khuyết điểm, sai lầm đã mắc phải, có thái độ khách quan, khoa học trong phân tích, đánh giá thực trạng, xem xét kỹ lưỡng những nguyên nhân, hoàn cảnh dẫn đến những khuyết điểm, sai lầm đó để kiên quyết sửa chữa, thúc đẩy phong trào cách mạng tiến lên. Đó là phẩm chất cao quý, can đảm của những người cách mạng và Đảng cách mạng chân chính. Hồ Chí Minh nhiều lần nhấn mạnh rằng, tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất làm cho Đảng tiến bộ không ngừng, thành một Đảng chắc chắn, mạnh khỏe như người không có bệnh, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên giữ gìn và phát huy được tính cách mạng, tính tiền phong gương mẫu, được quần chúng tin tưởng và ủng hộ, giữ vững niềm tin với Đảng và thắt chặt mối liên hệ máu thịt giữa Đảng với quần chúng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ yêu cầu, phương châm, phương pháp tự phê bình và phê bình mà mấu chốt là phải có động cơ, mục đích đúng, phương pháp khéo léo, thận trọng, kiên quyết mà mềm mỏng, có lý có tình, thấu lý đạt tình. Mở đầu tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (năm 1947), Người đặt vấn đề phê bình và sửa chữa, chỉ ra 3 căn bệnh nguy hiểm: Bệnh chủ quan, bệnh hẹp hòi, thói ba hoa mà không ít cán bộ, đảng viên mắc phải. Người tỏ thái độ kiên quyết phải tẩy sạch những chứng bệnh ấy, tẩy sạch quan liêu, tẩy sạch chủ nghĩa cá nhân, coi đó là bệnh gốc, “bệnh mẹ” đẻ ra trăm ngàn bệnh khác, những thói hư tật xấu khác, làm hư hỏng cán bộ, suy yếu tổ chức… Trong bản Di chúc, Người căn dặn: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”, phải giữ gìn đoàn kết, nhất trí, thống nhất tư tưởng và hành động như giữ gìn con ngươi của mắt mình.
Tính cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh qua dũng khí tự phê phán và phê phán mà Người chỉ dẫn là tính Đảng, là nhân tố và điều kiện quan trọng làm cho cách mạng có sức mạnh tự bảo vệ. Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh, cách mạng lấy sức mạnh trong lòng dân, vì thế Đảng ta và mỗi cán bộ, đảng viên phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu, dân giúp đỡ, dân ủng hộ, dân bảo vệ thì muôn việc sẽ thành công.
Trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, lời dạy của Bác vẫn vẹn nguyên giá trị và là tư tưởng chỉ đạo, phương châm hành động đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong tự phê bình và phê bình, đấu tranh bài trừ chủ nghĩa cá nhân ra khỏi đời sống xã hội.
Các cấp ủy, tổ chức Đảng và mỗi đảng viên trong cả nước cần quán triệt sâu sắc hơn nữa tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, có thái độ quyết tâm hơn trong đấu tranh với chủ nghĩa cá nhân, góp phần xây dựng Đảng ta xứng đáng “là đạo đức”, “là văn minh”, đủ sức chèo lái, đưa đất nước ta phát triển phồn vinh, hạnh phúc theo tâm nguyện của Người./.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CỤC AN NINH MẠNG VÀ PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ CAO ĐƯA RA TÁM KHUYẾN CÁO ĐỂ PHÒNG TRÁNH LỪA ĐẢO TRỰC TUYẾN!

⓵ Cần cảnh giác khi nhận được các cuộc gọi điện thoại cố định mà người gọi tự xưng là cán bộ cơ quan nhà nước, đặc biệt là lực lượng công an để thông báo yêu cầu cung cấp qua điện thoại thông tin phục vụ điều tra.

⓶ Thường xuyên kiểm tra, rà soát, cập nhật các tính năng bảo mật, quyền riêng tư trên các trang, tài khoản mạng xã hội.

⓷ Không cung cấp thông tin cá nhân, số điện thoại, tài khoản ngân hàng của mình cho bất kỳ đối tượng nào khi chưa biết rõ nhân thân, lai lịch của người đó.

⓸ Không nhấp vào đường link hoặc mở các tệp đính kèm trong thư điện tử, tin nhắn được gửi từ địa chỉ không xác định.

⓹ Trường hợp nhận được tin nhắn vay mượn tiền hoặc nhờ chuyển khoản tiền, người dân cần xác minh lại thông tin.

⓺ Kiểm tra kỹ thông tin website khi thực hiện các giao dịch trực tuyến, bởi lẽ các website chính thức của tổ chức, doanh nghiệp sẽ đăng ký với cơ quan có thẩm quyền và được đánh dấu an toàn như dùng giao thức “https”.

⓻ Tuyệt đối không được cho mượn, cho thuê các giấy tờ cá nhân, không nhận mở tài khoản, chuyển khoản ngân hàng hay nhận tiền chuyển khoản ngân hàng cho người không quen biết.

⓼ Trường hợp có nghi ngờ về hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cần kịp thời thông báo cho cơ quan công an nơi gần nhất để được tiếp nhận, hướng dẫn giải quyết./.
Yêu nước ST.

ÔNG CHA TA ĐÁNH GIẶC: CÂU CHUYỆN ĐIỆN BIÊN CỦA VỊ TƯỚNG ANH HÙNG!

     Ngày 24-11 vừa qua, lễ trao tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân đối với Trung tướng Đặng Quân Thụy, nguyên cán bộ nghiên cứu Cục Quân huấn, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam đã diễn ra trang trọng tại Thủ đô Hà Nội.

Hơn 60 năm công tác, Trung tướng Đặng Quân Thụy đã có nhiều đóng góp quan trọng đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trên nhiều cương vị như: Chính trị viên Đại đội; Tổ trưởng Tổ chiến sự; Tư lệnh Binh chủng Hóa học; Tư lệnh Quân khu 2; Ủy viên Trung ương Đảng khóa VII; Đại biểu Quốc hội các khóa VIII, IX, X; Phó chủ tịch Quốc hội kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh Quốc hội; Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam.

Ở tuổi 95, sức khỏe đã suy giảm nhiều nhưng Trung tướng Đặng Quân Thụy vẫn rất minh mẫn và thông tuệ. Chính vì vậy, không chỉ tại buổi lễ trang trọng vừa diễn ra mà trong nhiều cuộc trò chuyện với chúng tôi tại nhà riêng nằm trên phố Tôn Thất Thiệp (Hà Nội), những điều ông chia sẻ luôn cuốn hút người nghe. 

Là người vinh dự được tham gia nhiều chiến dịch, trận đánh cả trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và hai cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới ở hai đầu đất nước, Trung tướng Đặng Quân Thụy có rất nhiều kỷ niệm đáng nhớ. Nhưng có lẽ 56 ngày đêm ở Chiến dịch Điện Biên Phủ là dấu ấn sâu sắc nhất, nên khi được hỏi, lần nào ông cũng nhắc đến với nhiều cảm xúc. “Đầu tháng Giêng năm 1954, tôi là cán bộ tác chiến nhận nhiệm vụ đi lập đài quan sát trận địa địch, cùng anh em trinh sát pháo binh và công binh leo lên một ngọn núi cao. Bấy giờ, không chỉ tôi mà còn có nhiều đồng chí khác chưa hình dung hết quy mô của trận đánh tương lai nhưng tất cả đều có chung một niềm tin chiến thắng. Được có mặt từ những ngày đầu cho đến khi kết thúc Chiến dịch Điện Biên Phủ tôi rất vui vì trong khi tin chiến thắng dồn dập báo về sở chỉ huy thì tôi cũng có niềm vui riêng đó là có con trai đầu lòng đấy!” – vị tướng già hào hứng kể.

Khi đài quan sát hoàn thành, từ trên đỉnh núi, tổ tác chiến tiền phương do đồng chí Đặng Quân Thụy đã chọn điểm đặt vị trí ống kính, từ đây có thể trông thấy trong lòng chảo Điện Biên hoạt động của lính Pháp. Chúng cho quân nhảy dù tăng cường lực lượng, phát quang cây cối, chiếm nhà dân, đào hầm hào chuẩn bị trận địa. Nhiều ngày bám trụ trên đài, tổ tác chiến có nhiệm vụ ghi chép lại cụ thể, chi tiết từng vị trí quan trọng của địch để bộ phận phía sau làm cơ sở, phối hợp với lực lượng trinh sát bản đồ báo cáo chỉ huy xây dựng kế hoạch tác chiến.

Sáng 13-3-1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến cơ quan tác chiến sớm hơn thường lệ. Các phòng trong đường hầm đều sáng đèn. Trong những ô nhỏ khoét vào vách hầm, cán bộ trợ lý tác chiến đã ngồi bên máy điện thoại bắt thẳng tới từng đại đoàn và pháo binh. Trên mặt ai cũng lộ vẻ trang nghiêm, sẵn sàng đi vào trận đánh. 17 giờ 5 phút, trận đánh Him Lam bắt đầu. Cùng lúc toàn bộ pháo binh của ta, 40 khẩu pháo cỡ từ 75mm đến 120mm đồng loạt nhả đạn. Theo phân công, sĩ quan tác chiến Đặng Quân Thụy cùng một số đồng chí trực ban trong hầm Sở chỉ huy ở Mường Phăng liên tục bám và theo dõi tình hình bộ đội chiến đấu. Cả mặt trận hướng về Him Lam. Bộ phận trực ban tác chiến liên tục cập nhật tình hình, báo cáo từng diễn biến của trận đánh đến Bộ chỉ huy chiến dịch. 23 giờ 30 phút ngày 13-3-1954, Đại đoàn trưởng Đại đoàn 312 Lê Trọng Tấn báo cáo: Trung đoàn 141, Đại đoàn 312 đã hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt trung tâm đề kháng Him Lam, diệt 300 tên địch, bắt sống 200 tên, thu toàn bộ vũ khí trang bị. “Trận đánh mở màn thành công ngoài mong đợi. Một trung tâm đề kháng như Him Lam không đứng vững trước cuộc tiến công với lực lượng trung đoàn của ta, thì tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ quyết không phải là một pháo đài không thể công phá” - nhận định của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã được khẳng định khi chiếm xong đồi Him Lam, ta diệt tiếp đồi Độc Lập, thì địch ở đồi Bản Kéo cũng kéo cờ trắng ra hàng…

“Tất nhiên chiến thắng đến không hề dễ dàng với chúng ta. Phân khu Bắc của địch bị tiêu diệt nhanh chóng trong đợt 1 của chiến dịch. Nhưng khi đợt tấn công thứ 2 ở dãy đồi phía đông thuộc phân khu Trung tâm, các đơn vị đều không giành được thắng lợi như dự kiến. Từ sau khi mất phân khu Bắc, địch hoàn toàn giữ thế phòng ngự. Những trận đánh phản kích chỉ nhằm ngăn cản không cho trận địa chiến hào của ta đến gần. Hy vọng của địch vẫn là lợi dụng ưu thế về địa hình và binh lực, vũ khí tập trung để đánh bại cuộc tiến công của ta như chúng đã làm được ở Nà Sản trước đó. Trung đoàn 98 (Trung đoàn trưởng Vũ Lăng) đánh đồi C1 sau thắng lợi ban đầu thì địch phản kích mạnh không tiến tiếp được. Trung đoàn 174 (Trung đoàn trưởng Nguyễn Hữu An) để lỡ yếu tố bất ngờ khi đánh đồi A1 do đường dây liên lạc bị đứt nên không nhận được lệnh tấn công, tạo cơ hội cho địch phản kích dữ dội. Lực lượng của ta tổn thất nhiều khi vượt qua cửa mở… Hai bên ở thế giằng co hàng tháng ròng” - Trung tướng Đặng Quân Thụy nhớ lại.

Bước sang đợt tấn công thứ ba, đồng chí Đặng Quân Thụy được cử làm phái viên tác chiến xuống theo dõi ở một đơn vị của Đại đoàn 316. Trước đó, ông và đồng đội rất hân hoan khi được đọc “Thư kêu gọi các chiến sĩ Điện Biên Phủ đẩy mạnh cuộc thi đua đánh tỉa quân địch” của Đại tướng, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp. Đến giờ, Trung tướng vẫn nhớ trong thư có đoạn: Để làm cho địch càng ngày càng bị tiêu hao mệt mỏi, tinh thần sút kém, thương vong chồng chất, để làm cho địch luôn luôn lo sợ và căng thẳng, ăn không ngon, ngủ không yên, bất cứ lúc nào cũng có thể bị bắn chết, để tạo điều kiện cho quân ta giành được những thắng lợi lớn hơn, tiến tới tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ. Tôi kêu gọi: Toàn thể các chiến sĩ bắn súng trường, các chiến sĩ bắn súng máy, các chiến sĩ bắn súng cối, các chiến sĩ pháo binh, hãy phát huy cao độ tinh thần tích cực diệt địch, nỗ lực thi đua đánh tỉa quân địch ở Điện Biên Phủ. Một viên đạn, một tên địch!...

Theo trí nhớ của Trung tướng Đặng Quân Thụy, bấy giờ từ sở chỉ huy tiền phương, ông chủ yếu bám theo đội hình của Trung đoàn 174. Sau khi nhận bàn giao lại trận địa ở A1 từ Trung đoàn 102 (Đại đoàn 308), Ban Chỉ huy Trung đoàn 174 đã lên kế hoạch đánh địch ở nhiều hướng hơn. Các phân đội hỏa lực và cả phân đội phòng ngự luôn luôn giữ vững vị trí. Nhất là sau đó phương án sử dụng khối bộc phá 1.000 kg để phá hủy công sự địch được báo cáo thông qua, khả năng dứt điểm A1 hoàn toàn có thể thực hiện được. Bấy giờ cùng có mặt tại đơn vị, còn có đồng chí Nguyễn Bội Giong, là phái viên đốc chiến của Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam (vốn là Bí thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, sau này là Đại tá, nguyên Chuyên viên cao cấp Ban Tổng kết lịch sử chiến tranh, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam). Cả hai ông đều nhất trí với đề xuất của Trung đoàn trưởng Nguyễn Hữu An về việc huấn luyện và tổ chức một đội đánh hầm ngầm, mang nhiều bộc phá đánh vào cửa hầm của địch.

Và để phối hợp và hỗ trợ cho cuộc tiến công của Trung đoàn 174 vào cao điểm A1, Bộ chỉ huy chiến dịch giao cho Đại đoàn 316 sử dụng công binh của đại đoàn bí mật đào một đường hầm đi sâu vào trong lòng đồi A1 và bố trí một khối lượng thuốc nổ chừng 1.000 kg để đến đúng giờ G cho nổ, nhằm đánh sập hầm ngầm cố thủ của địch ở đồi A1 cùng một số lô cốt trên sườn phía Tây và Tây Nam của vị trí đó. Hành động này cũng tạo điều kiện thuận lợi cho tiểu đoàn bộ binh đánh chiếm nhanh gọn các mục tiêu còn lại trong tung thâm phòng thủ của địch trên cao điểm A1. Đúng như dự đoán, Trung đoàn 174 đã nhanh chóng chiếm lĩnh toàn bộ đồi A1 - công sự kiên cố nhất trong toàn bộ chiến dịch.

Sau trận này, phái viên Đặng Quân Thụy tiếp tục đến theo dõi Trung đoàn 36 (Đại đoàn 308) diệt cứ điểm 206 án ngữ sân bay Mường Thanh, cắt đường tiếp tế của địch. Khi bộ đội đào trận địa lấn vào vị trí của địch rồi tổ chức tiến công, ông cũng băng qua hàng rào dây thép gai trong công sự cùng các chiến sĩ và bị thương vào bắp chân nhưng vẫn tiếp tục cơ động cho đến khi có lệnh rút về căn cứ. Kết thúc chiến dịch, ông có mặt trong thành phần hội nghị tổng kết chiến dịch. “Ở cương vị của mình, tôi sẵn sàng chia sẻ những gì mình biết và chứng kiến. Mong rằng đó sẽ là những tư liệu hữu ích cho thế hệ sau này” - Trung tướng Đặng Quân Thụy tâm sự./.


Yêu nước ST.

KHÔNG THỂ “NỒI VUÔNG ÚP VUNG TRÒN”!

     Chính sách của Đảng, Nhà nước có ý nghĩa hết sức quan trọng trong sự lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng. Chính sách đúng là nguyên nhân dẫn đến những thắng lợi, thành công của cách mạng Việt Nam. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng vào tháng 2-1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu: “Điểm lại từ ngày thành lập đến nay, nói chung chính sách của Đảng ta đúng. Không đúng sao lập được những thành tích lớn lao như vậy?”, Đến tháng 12-1958, trong bài Đạo đức cách mạng đăng trên Tạp chí Học tập, Hồ Chí Minh viết: “Sở dĩ Đảng ta có thể lãnh đạo giai cấp công nhân và toàn dân tiến lên CNXH, là vì Đảng ta có chính sách đúng đắn và lãnh đạo thống nhất”.

Nhưng làm thế nào để có chính sách đúng là vấn đề cốt tử, cần phải được Đảng, Nhà nước và nhân dân quyết trí, đồng tâm triển khai tiến hành.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: Muốn có chính sách đúng thì yếu tố hết sức quan trọng đặt ra là khi đặt chính sách phải hiểu rõ, biết rõ tình hình. Chỉ hiểu rõ, biết rõ tình hình thì đặt chính sách mới đúng; ngược lại, không nắm rõ, hiểu rõ tình hình mà đặt chính sách thì sẽ là “Nồi vuông úp vung tròn, không ăn khớp gì hết”. Để hiểu rõ, nắm rõ tình hình rồi từ đó đặt chính sách cho đúng, Hồ Chí Minh chỉ ra: Việc gì cũng phải điều tra rõ ràng, cẩn thận và làm đến nơi đến chốn; cán bộ, đảng viên phải điều tra và báo cáo rõ ràng tình hình từng xã, từng huyện, từng tỉnh, từng khu. 

Mục đích chính sách của Đảng, Nhà nước cũng chỉ vì phục vụ nhân dân, như Hồ Chí Minh đã xác định: “Tất cả những việc Đảng ta và Chính phủ đề ra đều nhằm cải thiện đời sống cho nhân dân. Làm gì mà không nhằm mục đích ấy là không đúng”. Hồ Chí Minh luôn yêu cầu phải biến quyết tâm của Đảng và Chính phủ thành quyết tâm của toàn thể quần chúng nhân dân và đoàn kết thống nhất quần chúng nhân dân cùng hăng hái thực hiện đầy đủ, đúng đắn chính sách của Đảng, Chính phủ. Chính vì vậy, để có chính sách đúng về nội dung cũng như cách thức tổ chức thực hiện thành công thì phải quan tâm nắm rõ, hiểu rõ tình hình thực tế, tâm tư, nguyện vọng, mong muốn của nhân dân. Trong bài viết Sửa đổi lối làm việc, tháng 10-1947, Hồ Chí Minh viết: “Bất cứ việc to việc nhỏ, chúng ta phải xét rõ và làm cho hợp trình độ văn hóa, thói quen sinh hoạt, trình độ giác ngộ, kinh nghiệm tranh đấu, lòng ham, ý muốn, tình hình thiết thực của quần chúng. Do đó mà định cách làm việc, cách tổ chức, có như thế, mới có thể kéo được quần chúng”. Người thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên trong mọi việc, việc gì cũng phải bàn bạc với nhân dân và giải thích cho nhân dân.

Đồng thời, Hồ Chí Minh cũng chỉ ra những căn bệnh có hại cần phải phòng, tránh, sửa chữa, khắc phục, như quan liêu, mệnh lệnh. Người cho rằng trong công việc mà dùng cách quan liêu, mệnh lệnh là tạo ra bức tường ngăn cách, tách rời Đảng, Chính phủ với nhân dân và lợi ích của nhân dân với Đảng, Chính phủ.

Trong suốt quá trình lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng Việt Nam, nhất là thời kỳ đổi mới vừa qua, tư tưởng, lời dạy, chỉ đạo thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được Đảng Cộng sản Việt Nam quán triệt, tiếp thu và triển khai tích cực. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng luôn khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp cách mạng bằng cương lĩnh, chiến lược, bằng các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của cán bộ, đảng viên của Đảng. Và cùng với nỗ lực đồng tình ủng hộ, đồng hành của nhân dân mà các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước luôn phù hợp với thực tiễn, được nhanh chóng đi vào cuộc sống đạt kết quả to lớn, toàn diện.

Bên cạnh đó, Đảng cũng chỉ rõ một số hạn chế khuyết điểm trong xây dựng và triển khai thực hiện chính sách của Đảng, Nhà nước. Đáng chú ý là tình trạng quan liêu, xa rời thực tế, xa rời nhân dân của một bộ phận cán bộ, đảng viên, như Đảng đã xác định: “Quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở, thiếu kiểm tra đôn đốc, không nắm chắc tình hình địa phương, cơ quan, đơn vị mình; thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân”.

Tiếp tục phát huy những thành công đã đạt được, kiên quyết khắc phục, sửa chữa những hạn chế, khuyết điểm trong xây dựng và thực hiện chính sách vì dân, vì nước, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã và đang chung sức, đồng lòng thực hiện nhiều chủ trương, biện pháp tích cực, hiệu quả. Đặc biệt, chúng ta kiên quyết, kiên trì thực hiện những chỉ đạo sâu sắc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, được thể hiện rất sinh động trong cuốn sách: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam”.

Có thể thấy rõ, nhiều vấn đề, nội dung cơ bản, quan trọng trong xây dựng và thực hiện chính sách của Đảng, Nhà nước mang tính lý luận và thực tiễn cao, đã được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thể hiện hết sức đúng đắn, sinh động và thuyết phục. Xin nêu một số vấn đề, nội dung quan trọng dưới đây của Tổng Bí thư:
Tổng Bí thư nhấn mạnh: Trong chế độ chính trị XHCN, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích; mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu, phát triển. Tổng Bí thư nêu rõ: Đảng ta lãnh đạo và cầm quyền, trong khi xác định phương hướng chính trị cũng như đề ra các quyết sách, không thể chỉ xuất phát từ thực tiễn của đất nước và dân tộc Việt Nam, mà còn phải nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm từ thực tiễn của thế giới, của thời đại. Tổng Bí thư cũng nhắc nhở: Đảng cần phải tiếp thu cũng như bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học để chủ nghĩa và học thuyết của Đảng luôn luôn tươi mới và được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống. Tổng Bí thư chỉ đạo: “Bên cạnh việc xác định chủ trương, đường lối đúng, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, phải phát huy mạnh mẽ vai trò sáng tạo, sự ủng hộ và tham gia tích cực của nhân dân. Nhân dân tiếp nhận, ủng hộ và nhiệt tình tham gia thực hiện đường lối của Đảng vì thấy đường lối đó đáp ứng đúng yêu cầu, nguyện vọng của mình. Sức mạnh nhân dân là cội nguồn sâu xa của thắng lợi, của phát triển”.
Chúng ta tuyệt đối tin tưởng, kỳ vọng, nỗ lực phấn đấu theo tinh thần, mục tiêu mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Với hướng đi đúng đắn, hợp quy luật, ý Đảng hợp với lòng dân; phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, khát vọng vươn lên mãnh liệt và ý chí, quyết tâm chính trị cao, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta nhất định sẽ lập nên những kỳ tích phát triển mới, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, vững bước đi lên CNXH, thực hiện thành công tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và ước vọng của toàn dân tộc”./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: LÀM THEO BÁC TỪ NHỮNG VIỆC LÀM GẦN GŨI, THIẾT THỰC!

     Trong phát biểu chỉ đạo việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đặc biệt nhấn mạnh việc phải “thúc đẩy, tạo chuyển biến mạnh mẽ từ “học tập” sang “làm theo”, hiện thực hóa bằng những chương trình hành động cụ thể, việc làm cụ thể, thiết thực trong thực hiện nhiệm vụ chính trị…”. Những ý kiến chỉ đạo, định hướng của đồng chí Tổng Bí thư được nhân dân rất quan tâm, bởi đó cũng là đòi hỏi cấp thiết từ thực tế.
Chúng ta không phủ nhận những năm qua, cuộc vận động học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã trở thành việc làm thường xuyên và có sức lan tỏa sâu rộng trong đời sống xã hội. Đặc biệt, nếu xem việc “học tập” và “làm theo” là hai vế của thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW thì chúng ta đã làm khá tốt vế “học tập”. Các cấp, các ngành, các địa phương, cơ quan, đơn vị đã tổ chức rất nhiều hội nghị nghiên cứu, học tập, quán triệt về tư tưởng, đạo đức, phong cách của Hồ Chí Minh cho các đối tượng. Sau mỗi đợt học tập, các cấp ủy đều chỉ đạo, tổ chức cho cán bộ, đảng viên, công chức viết bài thu hoạch khá đầy đủ.

 Ngoài ra, chủ đề học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh còn là nội dung của nhiều cuộc hội thảo, tọa đàm, hội thi. Rất nhiều giải thưởng cũng đã được trao cho các tập thể, cá nhân đạt kết quả cao qua các cuộc thi tìm hiểu, thi báo cáo viên, tuyên truyền viên về chủ đề tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh. Công tác tuyên truyền về các nội dung trong Chỉ thị số 05-CT/TW cũng như nội dung quan điểm, tư tưởng, đạo đức và phong cách của Người được tiến hành khá đa dạng, phong phú, rầm rộ, bài bản, đồng bộ và sâu sắc... Có thể khẳng định ở vế “học tập” thì toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đã thuộc và hiểu ngày càng sâu sắc hơn về những giá trị to lớn của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. 
Những kết quả trong “học tập” tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã tạo ra những chuyển biến rõ nét trong nhận thức và hành động “làm theo” của các cấp, các ngành, các địa phương, các tổ chức, cơ quan, đơn vị, từng cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Rất nhiều tập thể, cá nhân tiêu biểu điển hình “làm theo” Bác đã xuất hiện, tạo sức lan tỏa mạnh mẽ trong đời sống xã hội. Đặc biệt, trong cuộc chiến phòng, chống đại dịch Covid-19; phòng, chống thiên tai, hỏa hoạn... nhiều cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân ta đã thể hiện được những phẩm chất cao quý, giá trị tốt đẹp của con người Việt Nam bằng những việc làm thiết thực, cụ thể. Những kết quả mà chúng ta đạt được trong thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW thời gian qua đã góp phần quan trọng thúc đẩy việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị và nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị từ Trung ương tới cơ sở; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của đội ngũ cán bộ, đảng viên. 

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả ấy chúng ta thấy việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vẫn còn bộc lộ những hạn chế, bất cập. Một trong những nội dung đáng lưu ý mà Trung ương đã chỉ ra là tình trạng nặng về hô hào mang tính phong trào, học đầy đủ “thuộc lòng” theo kiểu lý thuyết suông về các quan điểm, tư tưởng, đạo đức và phong cách của Hồ Chí Minh chứ chưa chú trọng đẩy mạnh vế “làm theo”. Việc tổ chức “học tập” thì nhiều nhưng việc “làm theo” thì chưa được bao nhiêu. Sau “học tập”, các tập thể, cá nhân đều xây dựng các chương trình hành động để làm theo nhưng ở nhiều nơi, với không ít người mọi việc đề ra rất hay nhưng vẫn chỉ “nằm trên giấy”. Nói một cách khái quát là giữa “học tập” và “làm theo” đang tồn tại một khoảng cách khá xa. 

Đúng như Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã thẳng thắn chỉ ra: “Nhiều việc ta làm còn hình thức lắm, còn nặng về báo cáo thành tích...”. Có thể nói đó là một hạn chế lớn mà chúng ta cần phải nhanh chóng khắc phục để việc thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW mang lại hiệu quả thực sự, kéo gần khoảng cách giữa “học tập” và “làm theo”. Không nói suông, nói đi đôi với làm đó cũng chính là đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định lý luận phải gắn với thực tiễn, “học đi đôi với hành”, “nói đi đôi với làm”. Cùng với thực hiện nhất quán tư tưởng, quan điểm ấy, Người thường xuyên phê bình, chấn chỉnh những sai lầm, khuyết điểm xảy ra do không thực hiện phương châm kết hợp chặt chẽ giữa việc học và hành, lý thuyết gắn với thực tiễn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Những bệnh duy tâm, máy móc, mạo hiểm, chủ quan,v.v… đều vì tách rời điều kiện khách quan với chủ quan, tách rời lý luận với thực hành mà có”.

Từ thực tiễn chúng ta phải thừa nhận với nhau rằng lý thuyết mà không gắn với thực tế, nói mà không làm thì đó chỉ là một mớ lý thuyết suông, đầy giáo điều, sáo rỗng. Làm theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư cho rằng, chính là thúc đẩy, tạo chuyển biến mạnh mẽ từ “học tập” sang “làm theo”, hiện thực hóa bằng những chương trình hành động cụ thể, việc làm cụ thể, thiết thực trong thực hiện nhiệm vụ chính trị gắn với đề cao chức trách, đạo đức công vụ của mỗi cán bộ, đảng viên. Như thế, cũng có nghĩa là “đừng chỉ dừng ở lý thuyết suông, học thuộc lòng, đừng nói một đằng, làm một nẻo, nói trống rỗng”. Hay nói cách khác là phải kéo gần khoảng cách giữa “học tập” và “làm theo” bằng những việc làm cụ thể, gần gũi, thiết thực hằng ngày thì việc thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị mới đem lại hiệu quả thiết thực./.
Yêu nước ST.

 HUYỀN THOẠI "CẦU NGƯỜI"


Những năm tháng chiến tranh trôi qua đã lâu, nhưng ký ức về lấy sức người, dùng vai bắc cầu để vận chuyển thương binh vẫn nguyên vẹn trong lòng bà Giáp Thị Thanh Tiến-nữ thanh niên xung phong (TNXP) năm xưa.


Vào thăm Bảo tàng Bến Tre, chúng tôi rất xúc động khi xem bức ảnh lịch sử độc đáo do phóng viên ảnh Thông tấn xã Việt Nam chụp các nữ TNXP Chiến khu Đ, Tây Ninh đứng ngâm mình giữa dòng nước xiết, dùng vai nâng ván cầu cho những cáng thương binh đi qua suối. Một trong những nữ TNXP trong ảnh, miệng nở nụ cười tươi, đội nón tai bèo làm trụ cầu phía trái là bà Giáp Thị Thanh Tiến, sinh năm 1944, quê ở chợ Bang Tra, xã Nhuận Phú Tân, huyện Mỏ Cày (nay là Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre). Lúc ấy, bà Tiến mới 24 tuổi. Nghe hướng dẫn viên thuyết minh và cảm phục các nữ TNXP, chúng tôi quyết định đi tìm người trong ảnh.


Bà Giáp Thị Thanh Tiến là con út trong gia đình có 6 người con, nhưng chỉ có một trai. Như bao gia đình khác ở Bến Tre sau Phong trào Ðồng khởi, gia đình Út Tiến cũng thi đua tòng quân đánh giặc. Út Tiến xung phong gia nhập lực lượng TNXP khi mới 16 tuổi. Từ Bến Tre, Út Tiến cùng đơn vị TNXP C2012 (đơn vị phục vụ mặt trận, thuộc Trung đoàn Bình Giã, Sư đoàn 9) hành quân về miền Ðông. Những ngày đầu làm nhiệm vụ cáng thương, tải đạn, đôi vai con gái sưng vù, toàn thân đau nhức. Và nhớ nhà! Nhiều đêm nước mắt chảy lặng lẽ, nếu ở gần có lẽ chị đã chạy ù về bên mẹ. Nhưng lời mẹ dặn “nhiệm vụ càng khó khăn càng vinh quang, Út à!” đã động viên Út Tiến tiếp bước.


Theo lời kể của bà Tiến, chiến trường càng ác liệt, sinh hoạt cũng kham khổ theo. Những trận bị địch vây 5-6 ngày, thức ăn chỉ có lon cơm khô, rau rừng, măng luộc chấm muối. Có lần đi tải lương thực, vừa qua trảng thì địch tràn đến. Không đi tiếp cũng không trở về được, đói, chưa có kinh nghiệm nên các chị rủ nhau bẻ măng luộc ăn. Mươi phút sau, ai nấy ôm bụng, sùi cả bọt mép... Hy sinh, gian khổ nhưng mọi người đều yêu thương, đoàn kết, chăm nhau từ chuyện nhỏ nhất.


Khi được hỏi về bức ảnh “Cầu người”, bà Tiến kể: “Hôm đó xảy ra đụng độ giữa Quân Giải phóng với biệt kích Mỹ trong một cánh rừng ở huyện Tân Biên (Tây Ninh). Nhiều chiến sĩ bị thương, trung đội TNXP của chúng tôi chịu trách nhiệm chuyển thương về tuyến sau. Lúc đó mùa mưa nên sông suối ở Chiến khu Đ nước rất lớn. Bức ảnh “Cầu người” chụp trên con suối Nhum, tỉnh Tây Ninh, năm 1968. Buổi sáng, khi chúng tôi hành quân qua thì suối cạn, đến chiều mưa đổ ào ào, nước suối dâng cao. Nhiệm vụ của TNXP là không để sót, không để đồng đội bị thương lần hai. Bởi vậy, khi thấy nước suối dâng cao, chỉ huy nói phải chặt cây bắc cầu đưa đồng đội qua. Lúc đó, chúng tôi phát hiện ở gần đó có một công ty thực phẩm bỏ lại rất nhiều mảnh ván, thế là tất cả nhanh chóng rút ván lội suối bắc cầu cho đoàn cứu thương qua”.


Im lặng hồi lâu, bà Tiến nghẹn ngào: “Trong số các thương binh, nhiều chiến sĩ của ta bị thương nặng nhưng luôn nghĩ cho đồng đội mà không màng đến bản thân. Có đồng chí bị bom đạn làm cho khuôn mặt biến dạng và nghĩ mình khó qua khỏi nên khi chúng tôi đến, các đồng chí ấy nói: “Anh bị nặng, không sống được đâu, các em đi cứu các đồng chí khác đi”. Nghe đồng đội nói vậy mà lòng chúng tôi đau thắt lại...".


Nói về nụ cười của mình khi ấy, bà Tiến kể: “Khi anh em bắc cầu, lúc đó, tôi cũng nhảy xuống suối. Lúc đứng dưới suối làm cầu, nhìn những cáng thương binh đi qua, tôi hy vọng các anh được cứu sống nên nở nụ cười lạc quan. Và nhà nhiếp ảnh Phạm Thính đã ghi lại được khoảnh khắc đó”.


Sau ngày thống nhất đất nước, mãi đến năm 1998, bà Tiến mới thấy bức ảnh “Cầu người” lần đầu tiên. “Lúc thấy bức ảnh, tôi thật sự xúc động, sau đó cố gắng đi tìm tác giả nhưng không được. Năm 2008, trong cuộc triển lãm “Phụ nữ Sài Gòn-Gia Định trong năm Mậu Thân 1968” do Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ tổ chức tại TP Hồ Chí Minh, tôi được ban tổ chức mời lên dự. Tôi tìm ban tổ chức hỏi thăm tác giả bức ảnh. Sau đó, chúng tôi gặp nhau thì tôi mới biết tác giả bức ảnh là đồng chí Phạm Thính. Hai chúng tôi thân thiết từ đó...”, bà Tiến kể.


Bức ảnh "Cầu người" chụp năm 1968.



 ️HÁT CHO ĐỒNG ĐỘI NGHE


Mỗi năm vượt hơn ba trăm cây số

Chúng tôi và Anh - Người Nhạc sỹ thương binh!

Cùng hành quân lên mảnh đất Vị xuyên

Nơi nghĩa trang có đồng đội tôi nằm đó

Ở trên cao núi mây hun hút gió

Thắp hương làm giỗ trận cho Anh Em

Các Anh ở đâu đây khe núi hay vạt cỏ ch.áy đen?

Có linh thiêng không họ , tên hãy về đây ghi nhận

Bập bùng ghi ta, lời ca cất lên chát mặn

Nước mắt , chén rượu , xôi gà ta ngồi lại bên nhau!

Thấm thoắt hơn bốn mươi năm có ít gì đâu?

Một thời để nhớ, đầu xanh nay đã bạc

Nhưng đồng đội tôi về bên nghe khúc hát

Mãi mãi tuổi hai mươi - cùng đất nước trường tồn...!!!