Bài viết một lần nữa khẳng định con đường đi lên xã hội chủ nghĩa là sự lựa chọn đúng đắn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Và việc vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam và những thành tựu trong sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh đó còn đưa ra các nội dung để phản biện lại những nhận định sai trái của các thế lực thù địch, phản động cho rằng: Chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, lạc hậu, không phù hợp với điều kiện thực tiễn hiện nay “con đường đó là không hợp thời”, đồng thời tuyên truyền, nâng cao nhận thức trong toàn xã hội tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới của Đảng theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Xuất phát từ yêu cầu của các cuộc cách mạng Việt Nam đó là giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức đô hộ, cùng với đó là việc xây dựng và phát triển đất nước thì Đảng ta đã xác định rõ ràng và dứt khoát con đường dẫn đến thành công chính là con đường xã hội chủ nghĩa, việc lựa chọn đó là vô cùng đúng đắn và đã được thể hiện cụ thể qua những thành tựu mà dân tộc Việt Nam đã đạt được trong gần 80 năm qua. Song hiện nay các thế lực, thù địch, phản động luôn cho rằng: Chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời lạc hậu, không phù hợp với điều kiện thực tiễn, hiện nay “con đường đó là không hợp thời”. Vì vậy để đề cao cảnh giác trước những luận điệu xuyên tạc, tuyên truyền, nâng cao nhận thức của toàn xã hội xây dựng niềm tin vào sự nghiệp đổi mới của Đảng theo định hướng xã hội chủ nghĩa là việc làm cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Chúng ta khẳng định rằng những quan điểm, luận điệu của các thế lực phản động nêu trên là sai trái, vì:
Thứ nhất, nghiên cứu quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội chúng ta thấy rằng:Học thuyết của C.Mác và Ph.Ăng-ghen ra đời từ giữa thế kỷ 19, trong điều kiện các mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản đã trở nên gay gắt, phơi bày tất cả bản chất giai cấp của nó và sự bóc lột người lao động đến cùng cực. C.Mác và Ph.Ăng-ghen kế thừa thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước, tiếp thu có phê phán các giá trị tinh hoa của quá trình phát triển tư tưởng nhân loại và với tài năng của mình, các ông đã phát hiện ra tính quy luật trong sự vận động của xã hội loài người, trong đó nhân tố quyết định là quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất. Đây chính là cơ sở để C.Mác và Ph.Ăng-ghen dự báo về tất yếu loài người sẽ tiến tới hình thái kinh tế - xã hội chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn đầu là xã hội chủ nghĩa. V.I.Lênin đã phát triển tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăng-ghen trong bối cảnh cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, Ông có nhiều đóng góp phát triển tư tưởng triết học, kinh tế - chính trị và chủ nghĩa xã hội khoa học của C.Mác, Ph.Ăng-ghen; đặc biệt, V.I.Lênin phát triển luận điểm về khả năng thắng lợi của cách mạng vô sản ở một nước tư bản, thậm chí trình độ phát triển chưa cao; xây dựng học thuyết về chính đảng mác-xít kiểu mới; tổ chức cách mạng xã hội chủ nghĩa thắng lợi và vận dụng học thuyết của C.Mác để phân tích, giải quyết hàng loạt vấn đề trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga và Liên bang Xô viết. Đến giữa thế kỷ 20, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã vận dụng một cách sáng tạo các nguyên lý của Chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn để giải quyết các nhiệm vụ to lớn của cách mạng Việt Nam, từ đó huy động sức mạnh toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đấu tranh giành lại độc lập, tự do cho dân tộc, đánh bại các đế quốc, bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.Nhìn nhận từ góc độ nhân văn, chủ nghĩa xã hội là ước vọng ngàn đời của mọi người lao động, của những con người có lương tri cùng tình thương nhân loại, muốn sống trong hòa bình, nhân ái. C.Mác, Ph.Ăng-ghen đã phát triển chủ nghĩa xã hội từ không tưởng trở thành khoa học khi nhìn nhận nó từ quy luật vận động của lịch sử, như sự vận động tất yếu từ những cơ sở xã hội, những yếu tố kinh tế, vật chất vốn đã được hình thành ngay trong lòng chủ nghĩa tư bản. Như vậy, chủ nghĩa xã hội là phù hợp và hợp lý cả về phương pháp luận khoa học và tính mục đích nhân văn.
Thứ hai, Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng chủ nghĩa C.Mác vào điều kiện cụ thể của Việt Nam:
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta. Với truyền thống yêu nước, từ cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, ở nước ta đã xuất hiện những phong trào yêu nước chống thực dân Pháp, theo những khuynh hướng khác nhau: Phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến, tiêu biểu là phong trào Cần Vương (1885 - 1896) và phong trào khởi nghĩa nông dân Yên Thế; phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản, tiêu biểu là xu hướng bạo động do Phan Bội Châu tổ chức, lãnh đạo; xu hướng cải cách do Phan Châu Trinh đề xướng và tổ chức, khởi nghĩa của Việt Nam Quốc dân Đảng do Nguyễn Thái Học đứng đầu. Tất cả những phong trào yêu nước đó đều bị thất bại, nguyên nhân chủ yếu là do thiếu một đường lối cứu nước đúng đắn. Yêu cầu lịch sử đòi hỏi phải có một tổ chức cách mạng tiên phong, có đường lối cứu nước đúng đắn để giải phóng dân tộc.
Năm 1917, cuộc Cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi đã mở ra thời đại mới trong lịch sử loài người - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Ngày 05/6/1911, Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước, tháng 7 năm 1920, Người đọc Sơ thảo Lần thứ nhất Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin và đi đến kết luận quan trọng: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản.Những gì chủ nghĩa tư bản hiện đại đang thể hiện không nằm ngoài tính quy luật mà Chủ nghĩa Mác - Lênin từng chỉ ra, càng chứng minh tính đúng đắn của Chủ nghĩa Mác - Lênin. Sự phát triển lực lượng sản xuất với tác động của cách mạng khoa học và công nghệ, một mặt, tăng thêm tiềm lực cho chủ nghĩa tư bản, mặt khác thúc đẩy nhanh hơn quá trình xã hội hóa lực lượng sản xuất, dẫn đến các thay đổi về quy mô, tính chất của quan hệ sở hữu, quản lý, điều hành sản xuất, phân phối của cải. Suy cho cùng, toàn cầu hóa ra đời từ nền kinh tế tư bản chủ nghĩa cũng giống như cái “áo” đã quá chật đối với mỗi quốc gia và buộc phải nới rộng trên phạm vi toàn thế giới. Sự áp bức bóc lột của chủ nghĩa tư bản cũng theo đó mở rộng ra ngoài chính quốc và về bản chất, cũng không khác gì hành vi xâm lược thuộc địa trước đây, chỉ có điều được che đậy dưới lớp vỏ hào nhoáng hơn, vào các quốc gia nghèo khó bằng cửa chính và bóc lột bằng các luật lệ tự coi là sạch sẽ, văn minh! Người ta tìm mọi cách để chiếm đoạt nguồn tài nguyên, của cải trên thế giới, quy phục các quốc gia yếu thế nhằm phục vụ lợi ích của mình. Chiến tranh I-rắc đẩy một quốc gia vào cuộc chiến đẫm máu, hơn một thập niên vẫn chưa có lối ra. Lý do phát động cuộc chiến tranh chống lại một dân tộc có chủ quyền là tàng trữ “vũ khí giết người hàng loạt” nhưng sau chiến dịch Bão táp sa mạc, đến nay dù đào bới, xới lộn cả nước I-rắc vẫn không tìm thấy “vũ khí giết người hàng loạt” nào! Vậy nguyên nhân cuộc chiến ở I-rắc là gì nếu không phải vì dầu mỏ và lợi ích của các ông chủ, các nhà tư bản? Và “cách mạng màu” phát động ở Li-bi, Xy-ri,… cũng thế, đều có chung hình thức bên ngoài, mục đích ẩn giấu bên trong và hậu quả tồi tệ không khác gì với cuộc chiến ở I-rắc.Vào những năm 1929 - 1930, phong trào công nhân ở nước ta phát triển mạnh mẽ đưa đến sự ra đời các tổ chức cộng sản như: Đông Dương Cộng sản Đảng (6/1929); An Nam Cộng sản Đảng (11/1929); Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (01/1930). Việc các tổ chức cộng sản liên tiếp xuất hiện chứng tỏ phong trào công nhân của Việt Nam phát triển mạnh mẽ, nhưng nhiều tổ chức cộng sản ra đời đã tranh giành quần chúng, ảnh hưởng không tốt đến phong trào. Nhận chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, Hồ Chí Minh về Hương Cảng, Trung Quốc tổ chức hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản ở nước ta thành Đảng Cộng sản Việt Nam (từ ngày 06 đến ngày 07 tháng 2 năm 1930). Hội nghị đã thông qua các văn kiện quan trọng, trong đó có Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt của Đảng, xác định Việt Nam “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Kể từ đây, Đảng và dân tộc ta dứt khoát lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
Thực hiện Cương lĩnh của Đảng, cách mạng nước ta đã giành những thắng lợi vĩ đại: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do; thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lược, mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ Quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế.Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng đã lãnh đạo tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước. Do chủ quan nóng vội, muốn nhanh chóng xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội dẫn đến sai lầm đường lối ở một số lĩnh vực, từ đó dẫn đến sự khủng khoảng kinh tế - xã hội ở nước ta (1979 -1986), nước ta rơi vào hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, lạm phát phi mã, đời sống nhân dân cơ cực, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội không ổn định, yêu cầu khách quan đặt ra là cần phải đổi mới đất nước. Ngày 15/12/1986 tại Đại hội VI với tinh thần nhìn thẳng sự thật, nói đúng sự thật, Đại hội đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện gồm: Đổi mới cơ cấu kinh tế, “coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ”; đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trong đó đổi mới kế hoạch hóa, kết hợp kế hoạch hóa với thị trường, từng bước đưa nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý kinh tế của nhà nước; đổi mới và tăng cường vai trò quản lý, điều hành của Nhà nước về kinh tế, “Phân biệt rõ chức năng quản lý hành chính - kinh tế của các cơ quan nhà nước trung ương và địa phương với chức năng quản lý sản xuất - kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở”; đổi mới hoạt động kinh tế đối ngoại, trên cơ sở mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, tạo điều kiện cho người nước ngoài và Việt kiều về nước đầu tư, hợp tác kinh doanh; Đổi mới tư duy lý luận và phong cách lãnh đạo của Đảng, trên cơ sở nâng cao nhận thức lý luận, vận dụng đúng quy luật khách quan, khắc phục bệnh chủ quan, duy ý chí hoặc bảo thủ trì trệ.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng có ý nghĩa lịch sử trọng đại, đánh dấu bước ngoặt trong sự nghiệp quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đại hội đã tìm lối thoát cho cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội bằng việc đề ra đường lối đổi mới, đặt nền tảng cho việc tìm ra con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Các chủ trương, chính sách đổi mới bắt đầu mang lại kết quả rõ rệt, tình hình kinh tế và đời sống nhân dân dần được cải thiện, sinh hoạt dân chủ trong xã hội ngày càng được phát huy, lòng tin của nhân dân vào công cuộc đổi mới tăng lên...
Thứ ba, thành tựu của sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam: Ngày nay, thực hiện đường lối đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế bắt đầu phát triển và phát triển liên tục với tốc độ tăng trưởng cao trong suốt 35 năm qua với mức tăng trưởng trung bình khoảng 7% mỗi năm. Quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2020 đạt 342,7 tỉ đô la Mỹ (USD), trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN. Thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 17 lần, lên mức 2.779 USD/người/năm (năm 2020); Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Từ một nước bị thiếu lương thực triền miên, đến nay Việt Nam không những đã bảo đảm được an ninh lương thực mà còn trở thành một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới. Công nghiệp phát triển khá nhanh, tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ liên tục tăng và hiện nay chiếm khoảng 85% GDP. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng mạnh, năm 2020 đạt trên 540 tỉ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt trên 280 tỉ USD. Dự trữ ngoại hối tăng mạnh, đạt 100 tỉ USD vào năm 2020. Đầu tư nước ngoài tăng nhanh, đăng ký đạt gần 395 tỉ USD vào cuối năm 2020...
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng khẳng định: “Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa. Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Những thành tựu đó là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam”.Nói về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhận định: Xây dựng chủ nghĩa xã hội là kiến tạo một kiểu xã hội mới về chất, hoàn toàn không hề đơn giản, dễ dàng. Đây là cả một sự nghiệp sáng tạo vĩ đại, đầy thử thách, khó khăn, một sự nghiệp tự giác, liên tục, hướng đích lâu dài, không thể nóng vội. Vì vậy, bên cạnh việc xác định chủ trương, đường lối đúng, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, phải phát huy mạnh mẽ vai trò sáng tạo, sự ủng hộ và tham gia tích cực của nhân dân. Nhân dân tiếp nhận, ủng hộ và nhiệt tình tham gia thực hiện đường lối của Đảng vì thấy đường lối đó đáp ứng đúng yêu cầu, nguyện vọng của mình.
Hiện nay, cùng với thắng lợi đã giành được trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới đã làm cho thế và lực của nước ta mạnh lên nhiều, cơ sở vật chất - kỹ thuật của nền kinh tế được tăng cường. Đất nước còn nhiều tiềm năng lớn về tài nguyên lao động, nhân dân ta có phẩm chất tốt đẹp, tình hình chính trị - xã hội ổn định, môi trường hoà bình, sự hợp tác, liên kết quốc tế và những xu thế tích cực trên thế giới tạo điều kiện để chúng ta tiếp tục phát huy nội lực và lợi thế so sánh, tranh thủ ngoại lực, nguồn vốn, công nghệ mới, kinh nghiệm quản lý, mở rộng thị trường, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; đó là cơ hội lớn.Đồng thời, đất nước ta phải đối mặt với nhiều nguy cơ và thách thức. Các nguy cơ mà văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, XIII của Đảng chỉ rõ: “Bốn nguy cơ mà Đảng ta chỉ ra vẫn còn tồn tại, có mặt diễn biến phức tạp. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa bị đẩy lùi...” đang cản trở việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, gây bất bình và làm giảm lòng tin trong nhân dân... nếu không được khắc phục kịp thời sẽ làm ảnh hưởng đến vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ xã hội chủ nghĩa. Nắm bắt cơ hội, vượt qua thử thách, Đảng và nhân dân ta đoàn kết, quyết tâm đưa nước ta tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. Đó là con đường duy nhất mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.
Trong điều kiện đất nước ta hiện nay, thế và lực đã lớn mạnh lên nhiều. Cơ sở vật chất, kỹ thuật của nền kinh tế được tăng cường. Đất nước ta còn nhiều tiềm năng to lớn về tài nguyên, người lao động. Nhân dân ta có truyền thống lao động cần cù, thương yêu đùm bọc lẫn nhau, phẩm chất đạo đức tốt, có tình thương yêu bao la... Tình hình an ninh chính trị - xã hội ổn định; môi trường hoà bình, sự hợp tác, liên kết quốc tế và những xu thế tích cực trên thế giới đang tạo điều kiện để chúng ta tiếp tục phát huy nội lực. Đồng thời, đất nước ta cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức. Bốn nguy cơ mà Đảng ta từng chỉ rõ: tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa; nạn tham nhũng và tệ quan liêu; diễn biến hoà bình do các thế lực thù địch gây ra, đến nay vẫn còn tồn tại và diễn biến phức tạp, đan xen tác động lẫn nhau, không thể xem nhẹ nguy cơ nào. Nước ta vẫn là một trong những nước có nền kinh chậm phát triển; mức sống của nhân dân còn thấp. Trong khi đó, cuộc cạnh tranh kinh tế ngày càng quyết liệt, nếu chúng ta không nhanh chóng vươn lên thì càng tụt hậu xa hơn về kinh tế. Muốn thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu và nhanh chóng đạt đến trình độ của một nước phát triển, không còn đường nào khác phải đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước.Ngày nay, trên phạm vi toàn thế giới, công nghiệp hoá vẫn đang được coi là phương hướng chủ đạo phải trải qua của các nước đang phát triển. Đối với nước ta, khi những tư tưởng cơ bản trong học thuyết Mác về hình thái kinh tế - xã hội được nhận thức lại một cách khoa học và sâu sắc với tư cách là cơ sở lý luận của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thì một mặt, chúng ta phải đẩy mạnh sự nghiệp này trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội để nhanh chóng tạo ra lực lượng sản xuất hiện đại cho chế độ xã hội mới. Mặt khác, chúng ta phải chú trọng xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự điều tiết của kinh tế Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là hai nhiệm vụ được thực hiện đồng thời, chúng luôn tác động, thúc đẩy và hỗ trợ nhau cùng phát triển. Bởi lẽ, "nếu công nghiệp hoá, hiện đại hoá tạo nên lực lượng sản xuất cần thiết cho chế độ xã hội mới, thì việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần chính là để xây dựng hệ thống quan hệ sản xuất phù hợp".
Trong thời đại ngày nay, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước không thể không dựa trên nền tảng vững chắc của khoa học và công nghệ hiện đại. Song, để cho khoa học và công nghệ trở thành động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trở thành nền tảng và chiếm vị trí then chốt trong quá trình phát triển đó, thì trước hết chúng ta phải tìm ra động lực, năng lực nội sinh cho sự phát triển của bản thân nó. Động lực này, năng lực nội sinh này trước hết nằm ở lợi ích của những người làm công tác nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ.Bởi lẽ, sản phẩm trí tuệ trước hết phải là sở hữu cả những người trực tiếp sản sinh ra nó và bản thân nó được coi như một thứ hàng hoá đặc biệt, được trả giá tương xứng với giá trị của nó. Công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đang bước vào thời kỳ phát triển mới "đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước", đòi hỏi chúng ta phải nhận thức một cách sâu sắc, đầy đủ những giá trị lớn lao và ý nghĩa quyết định của nhân tố con người. Đó là chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn của cải vật chất và tinh thần; phải có sự thay đổi sâu sắc từ cách nhìn, cách nghĩ đến cách đào tạo, bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người Việt Nam hiện đại như một cuộc cách mạng về con người. Hơn nữa, với tính tất yếu khách quan của công cuộc cải tạo xã hội một cách toàn diện theo những tư tưởng cơ bản của học thuyết Mác về hình thái kinh tế - xã hội, của sự nghiệp phát triển đất nước theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì cuộc cách mạng về con người phải được nhận thức là mặt thứ hai thống nhất, không thể tách rời của quá trình phát triển kinh tế - xã hội vì mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh"./.

_______________________
1. C.Mác - Ăngghen: tuyên ngôn Đảng cộng sản, Nxb, sự thật, Hà Nội, 1983, tr100.
2. Hồ Chí Minh toàn tập (1,2,9), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995.
3. V.I.Lênin, toàn tập, tập 23, 45, Nxb tiến bộ, Matxcova, 1995.
4. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, IX, X, XI, XII, XIII của Đảng, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
Yêu nước ST.