Chủ Nhật, 10 tháng 12, 2023

Phở Việt chinh phục người dân Nam Phi

 Sự kiện Ngày Phở Việt Nam tại Nam Phi được tổ chức ngày 9/12 (giờ địa phương), tại khu chợ ẩm thực Hazel Food Market nổi tiếng của thủ đô Pretoria, Nam Phi.

0:00/0:00
0:00
Phở Việt được người dân Nam Phi và khách quốc tế ưa thích. (Ảnh TTXVN)
Phở Việt được người dân Nam Phi và khách quốc tế ưa thích. (Ảnh TTXVN)

    Đây là lần đầu Ngày Phở Việt Nam được tổ chức tại đất nước Cầu vồng, là sáng kiến của Đại sứ quán Việt Nam và các cơ quan đại diện Việt Nam tại Nam Phi, nhằm lan tỏa tinh hoa ẩm thực Việt tới bạn bè bản địa và quốc tế. Theo TTXVN, Đại sứ Việt Nam tại Nam Phi Hoàng Sỹ Cường cho biết, Ngày Phở Việt Nam tại Nam Phi là sự kiện cuối cùng trong chuỗi hoạt động kỷ niệm 30 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Nam Phi (22/12/1993-22/12/2023).

    Bất chấp thời tiết nắng gắt của buổi trưa mùa hè, nhiều người dân Nam Phi, thành viên đoàn ngoại giao các nước cũng như cộng đồng người Việt Nam đang sinh sống, làm việc và học tập tại Nam Phi đã tìm đến gian giới thiệu phở và ẩm thực của Việt Nam.

    Tại đây, thực khách được lựa chọn và thưởng thức món phở bò và phở gà truyền thống của Việt Nam, được các cán bộ, nhân viên, các phu quân và phu nhân của Đại sứ quán và các cơ quan đại diện Việt Nam giới thiệu về các nguyên liệu, cách nấu, cách thưởng thức món phở nổi tiếng của người Việt. Các thực khách rất hào hứng tìm hiểu về cách lựa chọn nguyên liệu, nấu nước dùng cũng như chuẩn bị đồ ăn kèm.

    Dịp này, bên cạnh phở, người dân Nam Phi và khách quốc tế cũng có cơ hội thưởng thức món nem rán truyền thống và cà-phê Việt Nam. Một số sản phẩm mang thương hiệu Việt như gạo, bánh tráng, bánh kẹo… cũng được trưng bày tại sự kiện. Khoảng 500 suất phở bò và gà cùng 1.500 nem rán và cà-phê pha sẵn Việt Nam được phục vụ hoàn toàn miễn phí, đáp ứng nhiều khẩu vị khác nhau của thực khách.

Đoàn công tác Bộ Quốc phòng tri ân các Anh hùng liệt sĩ tại tỉnh Quảng Trị

 

Nhân dịp kỷ niệm 79 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1944/22-12-2023), chiều 10-12, đoàn công tác Bộ Quốc phòng do Trung tướng Nguyễn Văn Gấu, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam làm trưởng đoàn đã đến dâng hương, tri ân các Anh hùng liệt sĩ tại tỉnh Quảng Trị. Tham gia cùng đoàn công tác có Trung tướng Trần Võ Dũng, Chính ủy Quân khu 4.

Tại Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn (nơi yên nghỉ vĩnh hằng của 10.263 liệt sĩ); Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Đường 9 (nơi yên nghỉ vĩnh hằng của hơn 10.800 liệt sĩ) và Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Thành cổ Quảng Trị, Trung tướng Nguyễn Văn Gấu cùng đoàn công tác đã dâng hoa, dâng hương và dành phút mặc niệm bày tỏ sự tri ân công lao to lớn của các Anh hùng liệt sĩ đã hiến trọn tuổi thanh xuân, dũng cảm chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của đất nước, vì hòa bình và hạnh phúc của nhân dân.

Đoàn công tác Bộ Quốc phòng tri ân các Anh hùng liệt sĩ tại tỉnh Quảng Trị
Trung tướng Nguyễn Văn Gấu cùng Trung tướng Trần Võ Dũng thực hiện nghi thức thỉnh chuông tại Nghĩa trang Liệt sĩ quốc gia Trường Sơn.
Đoàn công tác Bộ Quốc phòng tri ân các Anh hùng liệt sĩ tại tỉnh Quảng Trị

Đoàn công tác Bộ Quốc phòng dành phút mặc niệm tri ân các Anh hùng liệt sĩ tại Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn.

Đoàn công tác Bộ Quốc phòng tri ân các Anh hùng liệt sĩ tại tỉnh Quảng Trị
Trung tướng Nguyễn Văn Gấu dâng hương tri ân các Anh hùng liệt sĩ.
Đoàn công tác Bộ Quốc phòng tri ân các Anh hùng liệt sĩ tại tỉnh Quảng Trị
 Đoàn công tác Bộ Quốc phòng dâng hoa, dâng hương tri ân các Anh hùng liệt sĩ tại Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Đường 9.
Đoàn công tác Bộ Quốc phòng tri ân các Anh hùng liệt sĩ tại tỉnh Quảng Trị
 Trung tướng Nguyễn Văn Gấu dâng hương tri ân các Anh hùng liệt sĩ tại Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Đường 9.
Đoàn công tác Bộ Quốc phòng tri ân các Anh hùng liệt sĩ tại tỉnh Quảng Trị
 Trung tướng Nguyễn Văn Gấu dâng hoa tri ân các Anh hùng liệt sĩ tại Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Thành cổ Quảng Trị.
Đoàn công tác Bộ Quốc phòng tri ân các Anh hùng liệt sĩ tại tỉnh Quảng Trị
 Đoàn công tác Bộ Quốc phòng tham quan Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Thành cổ Quảng Trị.

Trước anh linh các Anh hùng liệt sĩ, đoàn công tác nguyện một lòng tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, với nhân dân, nỗ lực, quyết tâm hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp, phát triển.

Thanh niên Hà Tĩnh hăng hái viết đơn tình nguyện nhập ngũ

 

Đến thời điểm hiện nay, nhờ làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, các địa phương của tỉnh Hà Tĩnh đã hoàn thành khám sơ tuyển nghĩa vụ quân sự năm 2024, có hàng trăm thanh niên viết đơn tình nguyện nhập ngũ.

Sinh ra trong gia đình có hai anh em, nhưng con đường học hành của thanh niên Bùi Triệu Phát (sinh 2004), quê ở thôn Ích Mỹ, xã Ích Hậu (huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh) không thuận lợi như bạn bè cùng trang lứa. Bố là Chủ tịch Hội cựu chiến binh xã, mẹ làm hợp đồng cho một công ty ở huyện, em gái học năm thứ nhất Học viện Chính sách và Phát triển, mọi chi phí cho 2 anh em ăn học phụ thuộc vào đồng phụ cấp ít ỏi của bố mẹ.

Ông Bùi Trọng Thương, bố đẻ của Phát chia sẻ: “Dù học giỏi, nhưng vì hoàn cảnh gia đình nên đang học năm thứ hai, Đại học Kiến trúc TP Hồ Chí Minh, cháu phải nghỉ học để tập trung cho em gái ăn học. Gia đình đã động viên cháu tình nguyện viết đơn nhập ngũ với hy vọng thi đậu vào một trường Quân đội, đỡ phần vất vả cho bố mẹ”.

Thanh niên Hà Tĩnh hăng hái viết đơn tình nguyện nhập ngũ

Đại diện cấp ủy, chính quyền địa phương xã Ích Hậu, huyện Lộc Hà (Hà Tĩnh) gặp gỡ, trao đổi, động viên thanh niên Bùi Triệu Phát viết đơn tình nguyện nhập ngũ. 

Với thanh niên Nguyễn Đức Mạnh, sinh năm 2005, quê ở thôn Phúc Tân, xã Kim Song Trường, huyện Can Lộc dù thi đỗ và có giấy báo nhập học của hai trường đại học (Đại học Đà Nẵng và Đại học Sư phạm kỹ thuật Vinh năm 2023), nhưng em vẫn tạm gác giảng đường đại học để viết đơn tình nguyện nhập ngũ. Anh Nguyễn Quốc Sơn, Phó chủ tịch UBND xã Kim Song Trường là bố đẻ của Nguyễn Đức Mạnh cùng với vợ luôn đồng hành, cổ vũ, động viên con vào quân ngũ để được rèn luyện, trưởng thành.

Bày tỏ nguyện vọng của mình, Nguyễn Đức Mạnh tâm sự: “Tình nguyện làm đơn tham gia nghĩa vụ quân sự đợt này là môi trường tốt để em được phấn đấu rèn luyện trưởng thành hơn trong môi trường quân ngũ. Hai năm rèn luyện, đủ chín chắn, trưởng thành, em lại tiếp tục thực hiện ước mơ đại học”.

Thanh niên Phạm Đình Công, sinh năm 2004, ở thôn Minh Lạng, xã Đức Lạng, huyện Đức Thọ lại có hoàn cảnh kém may mắn hơn bạn bè cùng trang lứa. Bố mẹ ly hôn khi em còn nhỏ, mẹ em bỏ xứ vào miền Nam làm công nhân, em được bà ngoại nuôi ăn học. Mặc dù thi đỗ và đang học năm thứ 2, Đại học Công nghệ Thông tin TP Hồ Chí Minh, nhưng vì hoàn cảnh em phải gác lại việc đèn sách và tình nguyện viết đơn nhập ngũ với mong muốn được khoác trên mình màu xanh áo lính.

“Môi trường Quân đội sẽ là trường học lớn để em phấn đấu rèn luyện trưởng thành hơn. Sau này hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về sẽ được quan tâm bảo đảm chế độ chính sách, đặc biệt là có thể học nghề, em sẽ đăng ký đi học để kiếm việc làm lo tương lai”, Phạm Đình Công tâm sự.

Đến thời điểm hiện nay, 216/216 xã, phường, thị trấn trên toàn tỉnh Hà Tĩnh hoàn thành khám sơ tuyển nghĩa vụ quân sự năm 2024; nhiều thanh niên đủ điều kiện khám tuyển cấp huyện, thành phố, thị xã; trong đó có gần 400 thanh niên viết đơn tình nguyện nhập ngũ. Đặc biệt, có những thanh thiên thuộc diện tạm miễn, tạm hoãn nhưng vẫn tình nguyện viết đơn nhập ngũ. Nổi bật có thị xã Kỳ Anh với 48 thanh niên; Can Lộc 41 thanh niên; Lộc Hà 39 thanh niên; Kỳ Anh 29 thanh niên viết đơn tình nguyện nhập ngũ...

Thanh niên Hà Tĩnh hăng hái viết đơn tình nguyện nhập ngũ
Nhờ làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, giác ngộ nên nhiều thanh niên đã tình nguyện viết đơn nhập ngũ để được rèn luyện, trưởng thành trong môi trường quân ngũ. 

Kết quả đó đã phản ánh sự quan tâm vào cuộc của cả hệ thống chính trị; đặc biệt cơ quan quân sự 13 huyện, thành phố, thị xã đã làm tốt công tác tham mưu với cấp ủy, chính quyền địa phương đẩy mạnh tuyên truyền thông qua truyền thanh nội bộ, phát tờ rơi, pa nô, áp phích, khẩu hiệu... Một số đơn vị đã phối hợp với ngành tư pháp, đoàn thanh niên, phụ nữ tổ chức tuyên truyền lưu động gắn với các hình thức sân khấu hóa như: “Phiên tòa giả định” xử lý thanh niên trốn nghĩa vụ quân sự ở Ban CHQS thành phố Hà Tĩnh; “Rung chuông vàng” tuyên truyền Luật nghĩa vụ quân sự ở Ban CHQS huyện Kỳ Anh...

Đại tá Mai Ngọc Việt, Phó chính ủy Bộ CHQS tỉnh cho biết: “Khi viết đơn tình nguyện nhập ngũ, các thanh niên không chỉ thể hiện tình cảm, trách nhiệm của tuổi trẻ mà còn khơi dậy ước mơ, hoài bão vươn lên học tập, rèn luyện, lập thân, lập nghiệp, đồng thời góp phần đẩy lùi những biểu hiện lệch lạc trong nhận thức, thái độ, hành vi của một bộ phận thanh niên”.

Gác lại những dự định, ước mơ riêng của mình, mỗi thanh niên trên mọi miền quê Hà Tĩnh dù có hoàn cảnh, điều kiện khác nhau, nhưng ở họ đều có điểm chung là mong muốn được thực hiện trách nhiệm thiêng liêng với Tổ quốc. Bằng nhiệt huyết, sức trẻ tràn đầy, họ luôn khao khát được cống hiến công sức, trí tuệ, trách nhiệm, nghĩa vụ của của mình đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trao con giống giúp dân thoát nghèo

 

Nhận sợi thừng buộc con bò cái to béo, bà Lô Thị Bích Phượng, bản Long Thắng, xã Hạnh Dịch, huyện Quế Phong xúc động, vui mừng: "Tôi cảm ơn bộ đội Đoàn Kinh tế-Quốc phòng (KT-QP) 4, Quân khu 4 đã tặng bò. Tôi sẽ chăm bò thật tốt để không phụ lòng tốt của mọi người".

Bà Phượng là hộ neo đơn đặc biệt khó khăn. Tuổi cao, sức yếu nên việc mưu sinh đủ 3 bữa cơm qua ngày đã là điều khó khăn với bà. Trước hoàn cảnh đó, Đội Sản xuất 6, Đoàn KT-QP 4 đã vận động cán bộ, nhân viên chung tay hỗ trợ bà mỗi tháng từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng, cộng thêm mớ rau, con cá... từ tăng gia sản xuất, để bà trang trải cuộc sống. Khi Đảng ủy, chỉ huy Đoàn KT-QP 4 triển khai chương trình hỗ trợ bò cho hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn, Đội Sản xuất 6 vừa hỗ trợ bà Phượng làm chuồng, hướng dẫn kỹ thuật nuôi bò, vừa tham mưu, đề nghị Đoàn trao tặng bò cho gia đình. Vậy là, ước mơ có con bò để chăn nuôi làm kinh tế của bà Phượng đã thành hiện thực.

Thượng tá Hồ Sỹ Cần, Phó đoàn trưởng Đoàn KT-QP 4 cho biết: Để giúp nhân dân có sinh kế vững bền, Đoàn KT-QP 4 triển khai Dự án Hỗ trợ phát triển kinh tế gắn với thực hiện Mô hình bộ đội gắn với dân bản vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tại Khu KT-QP tỉnh Nghệ An/Quân khu 4; lập kế hoạch cấp phát vật tư, con giống tặng hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn. Đơn vị đã tiến hành cấp 199 con trâu cái, 247 con bò cái giống, 800 con dê, 876 con lợn giống, 10.000 gà đen, 9.000 vịt bầu và hơn 150 tấn thức ăn... tặng 1.434 hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn các huyện: Kỳ Sơn, Tương Dương, Quế Phong.

Trao con giống giúp dân thoát nghèo
Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 4, Quân khu 4 trao gia súc tặng hộ nghèo. 

Để nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện dự án, Đảng ủy, chỉ huy Đoàn KT-QP 4 lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể, chính quyền địa phương các cấp từ khâu khảo sát khả năng chăn nuôi của các hộ gia đình; điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu xem thích hợp xây dựng mô hình chăn nuôi gì? Chọn lựa các giống gia súc, gia cầm bản địa để bảo đảm gia súc, gia cầm quen với môi trường khí hậu và phát triển tốt. Đồng thời, phối hợp với ngành nông nghiệp địa phương tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật; tổ chức lực lượng cán bộ, chiến sĩ, trí thức trẻ tình nguyện tiến hành hỗ trợ giúp đỡ các hộ gia đình xây dựng chuồng trại, trồng cỏ... chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà, vịt.

Thượng tá Hồ Sỹ Cần trao đổi thêm: Đảng ủy, chỉ huy Đoàn KT-QP 4 đã tham mưu cho cấp ủy, chính quyền các địa phương và lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị thường xuyên đến các hộ dân được thụ hưởng để động viên, theo dõi, kiểm tra tình hình chăn nuôi của gia đình. Từ đó, kịp thời nắm bắt tình trạng sức khỏe và có biện pháp hỗ trợ, vừa cứu chữa gia súc, gia cầm chẳng may bị bệnh, vừa để tránh lây lan bệnh dịch trong cộng đồng dân cư... để phát huy tối đa hiệu quả, góp phần xóa đói giảm nghèo bền vững cho nhân dân ở vùng dự án.

Doanh trại thêm đẹp nhờ bộ đội khéo tay, hay làm

 

Là đơn vị thực hiện nhiệm vụ huấn luyện chiến sĩ mới, đào tạo tiểu đội trưởng bộ binh, quân nhân dự bị... thời gian qua, Tiểu đoàn 158, Vùng 1 Hải quân luôn chú trọng xây dựng cảnh quan môi trường sáng, xanh, sạch, đẹp, góp phần nâng cao đời sống tinh thần, giúp bộ đội càng thêm yêu mến, gắn bó với đơn vị.

Chúng tôi cùng Trung tá Phạm Văn Ái, Chính trị viên Tiểu đoàn 158, đi qua con đường rợp bóng cây xanh mát dẫn đến khoảng sân rộng của Tiểu đoàn. Tại đây, từng tốp cán bộ, chiến sĩ đang tập trung lắp đặt mới hệ thống bảng biển, pa nô, áp phích và hệ thống đèn chiếu sáng sân thể thao... Tất cả được bố trí, sắp xếp hợp lý, khoa học, thống nhất về quy cách, mẫu mã, bảo đảm thẩm mỹ và hiệu quả tuyên truyền. Trong không khí vui tươi, tiếng nói cười rôm rả, ai cũng phấn khởi chung tay lao động làm đẹp doanh trại.

Trung tá Phạm Văn Ái cho biết, đơn vị xác định công tác xây dựng cảnh quan môi trường là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên; góp phần nâng cao chất lượng đời sống tinh thần của bộ đội. Mặc dù đơn vị còn gặp nhiều khó khăn về kinh phí, cơ sở vật chất thiếu đồng bộ... nhưng Tiểu đoàn chủ động xây dựng kế hoạch, phát huy nội lực và tinh thần sáng tạo của bộ đội để từng bước củng cố, chỉnh trang khuôn viên doanh trại ngày càng sáng, xanh, sạch, đẹp.

Chúng tôi dừng chân cạnh cầu thang khu nhà làm việc của Tiểu đoàn. Lúc này, một nhóm cán bộ, chiến sĩ đang cẩn thận treo chiếc gương mới lên tường. Nổi bật trên gương là dòng khẩu hiệu: “Tôi là “Gương điều lệnh”. Đồng chí cho tôi kiểm tra động tác chào!”. Vừa lắp gương, Trung sĩ Đinh Đức Phúc, Tiểu đội trưởng Tiểu đội 1, Trung đội 1, Đại đội 1, vui vẻ nói: “Chúng tôi tự đo vẽ, cắt, dán những dòng chữ này vào gương để các đồng chí đi qua dễ nhìn và vui vẻ thực hiện các động tác điều lệnh. Được tham gia các hoạt động chung như thế này cũng là những phút giây thư giãn đầy ý nghĩa với chúng tôi”.

Cách đó không xa, phía sân bóng đá, một số cán bộ, chiến sĩ đang lắp lại hệ thống đèn chiếu sáng. Hạ sĩ Nguyễn Tuấn Hải, Tiểu đội trưởng Tiểu đội 1, Trung đội 7, Đại đội 3, phấn khởi chia sẻ: “Xem đơn vị như là nhà, vì vậy, những ngày nghỉ, giờ nghỉ, bên cạnh hoạt động thể dục, thể thao, tăng gia sản xuất, chúng tôi cùng nhau vệ sinh, chăm chút cho ngôi nhà thứ hai ngày càng sạch đẹp, xanh mát. Tôi rất vui khi được góp phần công sức của mình để làm cho cảnh quan môi trường đơn vị ngày càng đẹp hơn”.

Doanh trại thêm đẹp nhờ bộ đội khéo tay, hay làm

Các khẩu hiệu, biển bảng xây dựng chính quy thường xuyên được cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 158, Vùng 1 Hải quân củng cố. 

Dịp kỷ niệm Ngày thành lập Vùng 1 Hải quân vừa qua, Tiểu đoàn 158 củng cố làm mới các bảng tin thi đua, pa nô, cờ các loại; làm mới và sửa chữa hơn 120 biển bảng xây dựng chính quy; lắp mới 10 gương điều lệnh... Trước đó, Tiểu đoàn huy động nội lực, tận dụng các nguyên vật liệu sẵn có và phát huy tinh thần sáng tạo, sự khéo tay, hay làm của cán bộ, chiến sĩ để thực hiện nhiều công trình, phần việc thiết thực, ý nghĩa, như: Làm mới, củng cố thao trường, bãi tập, khu hoạt động thể dục, thể thao; sửa chữa nhà xe, cải tạo vườn tăng gia; làm mới 21 giá và lắp đặt các bình cứu hỏa phục vụ công tác phòng cháy, chữa cháy của đơn vị; súc rửa, vệ sinh các bình nước nóng phục vụ sinh hoạt của bộ đội khi trời lạnh... đem lại diện mạo khang trang, môi trường sạch, đẹp, đáp ứng nhu cầu cũng như nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội. Đơn vị còn tu sửa các bảng tin, nhà chòi, hòn non bộ, bàn ghế đá; làm mới nhiều bồn hoa cây cảnh, thảm cỏ, trồng thêm các loại cây ăn quả, cây bóng mát... tạo nét đẹp cho đơn vị.

Trung úy Đinh Văn Quang, Trung đội trưởng Trung đội 1, Đại đội 1, bày tỏ: “Được công tác, sinh hoạt trong một không gian thoáng đãng, xanh, sạch, đẹp giúp chúng tôi thư giãn, “giải nhiệt” sau những giờ huấn luyện vất vả nơi thao trường. Mỗi cán bộ, chiến sĩ như được tiếp thêm năng lượng, tinh thần thoải mái để phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao”.

Tùy theo tay nghề, sở trường của từng đồng chí, đơn vị thành lập các tổ xây, hàn, sơn, cắt tỉa cây cảnh, chăm sóc vườn hoa... Những đồng chí có kinh nghiệm về xây dựng tham gia làm tiểu cảnh, bồn hoa, đắp vẽ các họa tiết. Các chiến sĩ thạo nghề nông được giao phụ trách trồng cây, chăm sóc vườn hoa. Người biết về cơ khí thì thiết kế hệ thống biển bảng, tranh cổ động...

Theo Thiếu tá Hoàng Thế Anh, Chính trị viên phó Tiểu đoàn, một số công trình như tiểu cảnh, hòn non bộ... được chính tay cán bộ, chiến sĩ đơn vị thực hiện đã giúp tiết kiệm chi phí thi công, làm đẹp doanh trại và tạo không gian nghỉ ngơi, thư giãn cho bộ đội sau những giờ huấn luyện vất vả. Việc chỉnh trang đơn vị nhìn có vẻ đơn giản nhưng đây cũng là một nhiệm vụ quan trọng để rèn luyện tính cẩn thận, kiên trì, khéo léo cho bộ đội, đặc biệt là những chiến sĩ trẻ.

Những ngày này, Tiểu đoàn 158, Vùng 1 Hải quân như khoác lên mình màu áo mới với khuôn viên chính quy, sáng, xanh, sạch, đẹp. Trung tá Phạm Văn Ái nhấn mạnh, việc xây dựng doanh trại chính quy, sáng, xanh, sạch, đẹp chính là bộ mặt của đơn vị, cũng là điều kiện thuận lợi để mỗi cán bộ, chiến sĩ phát huy tinh thần sáng tạo, cống hiến, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Bản chất dân chủ theo chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

 


Bàn về quyền làm chủ của nhân dân trên lĩnh vực chính trị, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Trong chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa thì bao nhiêu quyền lực đều là của dân, bao nhiêu sức mạnh đều ở nơi dân, bao nhiêu lợi ích đều là vì dân[1]... Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước xã hội chủ nghĩa, do đó về thực chất là của nhân dân, do nhân dân và vi nhân dân. Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, khác với các cuộc cách mạng trước đây là ở chỗ, nó là cuộc cách mạng của số đông, vì lợi ích của số đông nhân dân. Theo Hồ Chí Minh: “Tổng tuyển cử là một dịp cho toán thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức, để gánh vác công việc nước nhà. Trong cuộc Tổng tuyển cử, hễ là những người muốn lo việc nưóc thì đều có quyền ra ứng cử; hễ là công dân thì đều cổ quyền đi bầu cử”[2] Quyền được tham gia rộng rãi vào công việc quản lý nhà nước chính là nội dung dân chủ trên lĩnh vực chính trị. V.I.Lênin còn nhấn mạnh, dân chủ xã hội chủ nghĩa là chế đô dân chủ của đại đa số dân cư, của những người lao động bị bóc lột là chế độ mà nhân dân ngày càng tham gia nhiều vào công việc nhà nước. Với ý nghĩa đó, V.I.Lênin đã diễn đạt một cách khái quát về bản chất và mục tiêu của dân chủ xã hội chủ nghĩa: “Chế độ dân chủ vô sản so với bất cứ chế độ dân chủ tư sản nào, cũng dân chủ hơn gấp triệu lần”[3].

Dân chủ trên lĩnh vực kinh tế

Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa được xây dựng và hoàn thiện dựa trên chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu, đáp ứng sự phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất dựa trên cơ sở khoa học và công nghệ hiện đại nhằm thỏa mãn ngày càng cao những nhu cầu vật chất và tinh thần của toàn thể nhân dân lao động. Bản chất kinh tế đó chỉ được bộc lộ đầy đủ qua một quá trình ổn định chính trị, phát triển sản xuất và nâng cao đòi sống của toàn xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và sự quản lý, hướng dẫn, giúp đỡ của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Trước hết, đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân về các tư liệu sản xuất chủ yếu; quyền làm chủ trong quá trình sản xuất kinh doanh, quản lý và phân phối. Bản chất kinh tế của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa dù khác về bản chất kinh tế của các chế độ tư hữu, áp bức, bóc lột, bất công) nhưng cũng như toàn bộ nền kinh tế - xã hội chủ nghĩa, nó không hình thành từ “hư vô” theo mong muốn của bất kỳ ai. Nó là sự kế thừa và phát triển mọi thành tựu nhân loại đã tạo ra trong lịch sử, đồng thời lọc bỏ những nhân tố lạc hậu, tiêu cực, kim hãm... của các chế độ kinh tế trước đó, nhất là bản chất tư hữu, áp bức bóc lột bất công đối với đa số nhân dân. Dưới góc độ kinh tế, dân chủ xã hội chủ nghĩa được biểu hiện là sự đảm bảo về lợi ích kinh tế, phải coi lợi ích kinh tế của người lao động là động lực cơ bản nhất có sức thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Lao động, việc làm và phân phối lợi ích tương ứng với kết quả lao động là nội dung kinh tế của dân chủ, đây cũng là nội dung mà quyền dân chủ được thể hiện một cách rộng rãi, trực tiếp. Do vậy, khác với nền dân chủ tư sản, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa được thực hiện trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu và thực hiện chế độ phân phổi lợi ích theo kết quả lao động là chủ yếu.



[1]   Xem Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.6, tr.232.

[2]   Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.4, tr153.

[3] V.I.Lênín: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2005, t.37, tr.312.

Dân chủ xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực chính trị


Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, về bản chất, là sự lãnh đạo chính trị của giai cấp công nhân thông qua chính đảng của nó đôi với toàn xã hội, nhưng không phải chỉ đề thực hiện quyền lực và lợi ích riêng cho giai cấp công nhân, mà là để thực hiện quyền lực và lợi ích của toàn thể nhân dân, trong đó có giai cấp công nhân. Nên dân chủ xã hội chủ nghĩa do đảng cộng sản lãnh đạo - yếu tố quan trọng để đảm bảo quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, bởi vì, đảng cộng sản đại biểu cho trí tuệ, lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc. Với nghĩa này, dân chủ xã hội chủ nghĩa mang tính nhất nguyên về chính trị. Sự lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua đảng cộng sản đối với toàn xã hội về mọi mặt được V.LLênin gọi là sự thống trị chính trị. Trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhân dân lao động là những người làm chủ các quan hệ chinh trị trong xã hội. Họ có quyền giới thiệu các đại biểu tham gia vào bộ máy chính quyền từ Trung ương đến địa phương, tham gia đóng góp ý kiến xây dựng chính sách, pháp luật, xây dựng bộ máy và cán bộ nhân viên nhà nước. Quyền được tham gia rộng rãi vào công việc quản lý nhà nước của nhân dân chính là nội dung dân chủ trên lĩnh vực chính trị. 

Khi nào nền dân chủ xã hội chủ nghĩa tiêu vong


Quá trình tiêu vong của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đồng nghĩa với quá trình làm sâu, rộng hơn các thành quả dân chủ, đưa nó lên những trình độ phát triển mới, tiến dần tới dân chủ trọn vẹn, dân chủ hoàn toàn, phù hợp với xu thế phát triển của nhân loại từ “vương quốc tất yếu” sang “vương quốc tự do”. Đây là quá trình lâu dài, khi xã hội đã đạt trình độ phát triển rất cao, xã hội không còn sự phân chia giai cấp, đó là xã hội cộng sản chủ nghĩa đạt tới mức độ hoàn thiện, khi đó dân chủ xã hội chủ nghĩa với tư cách là một chế độ nhà nước cũng tiêu vong, không còn nữa. Cũng cần lưu ý rằng, cho đến nay, sự ra đời của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mới chỉ trong một thời gian ngắn, ở một số nước có xuất phát điểm về kinh tế, xã hội rất thấp, lại thường xuyên bị kẻ thù tấn công, gây chiến tranh, do vậy, mức độ dân chủ đạt được ở những nước này hiện nay còn nhiều hạn chế ở hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội. Ngược lại, sự ra đời, phát triển của nền dân chủ tư sản có thời gian cả mấy trăm năm, lại ở hầu hết các nước phát triển (do điều kiện khách quan, chủ quan). Hơn nữa, trong thời gian qua, để tồn tại và thích nghi, chủ nghĩa tư bản đã có nhiều lần điều chỉnh về xã hội, trong đó quyền con người đã được quan tâm ở một mức độ nhất định (sự điều chỉnh này không ảnh hưởng nhiều đến lợi ích cơ bản của giai cấp tư sản). Nền dân chủ tư sản có nhiều tiến bộ, song nó vẫn bị hạn chế bởi bản chất của chủ nghĩa tư bản Để có một chế độ dân chủ thực sự quyền lực thuộc về nhân dân, ngoài yếu tố giai cấp công nhân lãnh đạo (mặc dù là yếu tố quan trọng nhất), đòi hỏi cần nhiều yếu tố như trình độ dân trí, xã hội công dân, việc tạo dựng cơ chế pháp luật đảm bảo quyền tự do cá nhân, quyền làm chủ nhà nước và quyền tham gia vào các quyết sách của nhà nước, điều kiện vật chất để thực thi dân chủ. 

Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa không phải là nền dân chủ của thiểu số

 


Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa không phải là nền dân chủ của thiểu số và cho thiểu số bóc lột, có đặc quyền đặc lợi và muốn dành thêm đặc quyền, đặc lợi; ngược lại, nó là nền dân chủ của đa số và vì đa số. Do đó, về nguyên tắc, nỏ bài trừ đặc quyền, đặc lợi và vì lợi ích của đa số nhân dân lao động, nó phải gạt bỏ những kẻ đặc quyền, đặc lợi ra khỏi vị trí quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Bản thân nền dân chủ này cũng phát triển từ thấp tới cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện. Nhưng càng hoàn thiện bao nhiêu, nó càng tự tiêu vong bấy nhiêu. Thực chất của sự tiêu vong này theo V.I.Lênin, đó là tính chính trị của dân chủ sẽ mất đi trên cơ sở không ngừng mở rộng dân chủ đối với nhân dân, xác lập địa vị chủ thể quyền lực của nhân dân, tạo điều kiện để họ tham gia ngày càng đông đảo và ngày càng có ý nghĩa quyết định vào sự quản lý nhà nước, quản lý xã hội (xã hội tự quản). Quá trình đó làm cho dân chủ trở thành một thói quen, một tập quán trong sinh hoạt xã hội.. để đến lúc nó không còn tồn tại như một thể chế nhà nước, một chế độ, tức là mất đi tính chính trị của nó.

Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa


Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848), C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ rõ: “giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải tự giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc”[1] phải giành lấy dân chủ với ý nghĩa trực tiếp là giành lấy quyền lực nhà nước và tồ chức quyền lực đó thành nhà nước dân chủ vô sản. Theo hai ông, giai cấp công nhân giành được chính quyền là dấu mốc làm xuất hiện một nền dân chủ mới, khác về chất so với các nền dân chủ trước đó - dân chủ vô sản. Công xã Pari năm 1871 là mầm mống đầu tiên của dân chủ xã hội chủ nghĩa. V.I.Lênin viết: “Công xã dường như đã thay bộ máy nhà nước bị đập tan, bằng một chế độ dân chủ “chỉ” hoàn bị hơn mà thôi... từ chỗ là dân chủ tư sản đã biến thành dân chủ vô sản, từ là nhà nước ( lực lượng đặc biệt đề trấn áp một giai cấp nhất định) nó biến thành một cái gì thực ra không phải là nhà nước hiểu theo nghĩa thật sự nữa”[2]. Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga (1917) vĩ đại với sự xuất hiện nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới - Nhà nước Xôviết, xây dựng nền dân chủ phục vụ lợi ích cho đa số người lao động - nền dân chủ xã hội chủ nghĩa bắt đầu ra đời. Như vậy, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa chỉ được xác lập sau khi giai cấp công nhân thông qua đội tiền phong của mình là đảng cộng sản giành được chính quyền, tiến hành cải tạo và xây dựng xã hội mới thông qua cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa dưới các hình thức khác nhau. Quá trình phát triển của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là từ thấp tới cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện; có sự kế thừa một cách chọn lọc giá trị của các nền dân chủ trước đó, trước hết là nền dân chủ tư sản. Nguyên tắc cơ bản của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là không ngừng mở rộng dân chủ, nâng cao mức độ giải phóng cho những người lao động, thu hút họ tham gia tự giác vào công việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội.



[1]  C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2002, t.4, tr.623-624.

[2]  V.I.Lênin. Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2005, t.33, tr52. 

Tình hình già hóa dân số ở Việt Nam

 


Dân số Việt nam đang tăng chậm, nhưng sẽ đạt 100 triệu dân vào năm 2025. Từ năm 2011 tỷ lệ người 60 tuổi trở lên đạt tỷ lệ trên 10% tổng dân số và sẽ chạm ngưỡng 20% vào năm 2032. Quá trình già hóa dân số sẽ diễn ra trong khoảng 20 năm (từ 2012- 2032) là đạt ngưỡng dân số già, đến năm 2050 dân số Việt nam sẽ trở thành “siêu già”. Việt Nam có tốc độ già hóa dân số diễn ra nhanh, thời gian để chuyeẻn từ “già hóa dân số” sang “siêu già” mất khoảng 15-18 năm, ngắn hơn nhiều so với nhieèu nước, kể cả các quốc gia có trình độ phát trieẻn hơn. Pháp: 115 năm, Thủt Điển Mất 85 năm, Úc: 73 năm, Trung Quốc 26 năm (Trung quốc đến năm 2030 cứ 100 người có 25 người 65 tuổi trở lên), Nhật Bản: 26 năm. Việt Nam đang trong thời gian ngắn ngủi còn lại của cơ cấu dân số vàng

Tỷ trọng người già 65+  là 7,7% năm 2019 (có 7,4 triệu người già, đứng thứ 18 trong các nước có dân số già trên thế giới (khoảng từ năm 2012, tỷ trọng người gia 65+ bắt đầu vượt ngưỡng 7% dân số; ước tính đến năm 2035, có hơn 13 triệu người già; năm 2050 sẽ có hơn 21 triệu người già (từ 65+). Chỉ số già hóa cho thấy quá trình già hóa đang diễn ra với nhịp độ ngày càng nhanh)

Quan niệm về già hóa dân số

 


Già hóa dân số: là thời kỳ quá độ chuyển từ cơ cấu dân số trẻ sang cơ cấu dân số già. Trong quá trình này tỷ trọng trẻ em trong dân số sẽ giảm dần và xuống thấp hơn so với tỷ trọng người già

Trong cơ cấu dân số trẻ: tỷ trọng người già 65+ thấp hơn 7,0%

Trong cơ cấu dân số già: Tỷ trọng người già chiếm từ 14% trở lên

Quá trình già hóa dân số: bắt đầu khi tỷ trọng dân số 60+ chạm ngưỡng 10% hoặc khi tỷ trọng dân số 65+ chạm ngưỡng 7%

Thời kỳ dân số già:  bắt đầu khi tỷ trọng dân số 60+ đạt ngưỡng 20% trở lên đến dưới 30%  (65+ đạt ngưỡng 14% trở lên đến dưới 21%)

Thời kỳ dân số rất già: bắt đầu khi tỷ trọng người 60+ đạt từ 30% trở lên (65+ đạt từ 21% trở lên)

Quan điểm về dân số ở Việt Nam


 Nghị quyết số 04-NQ/HNTW năm1993: Với trọng tâm là thực hiện tốt kế hoạch hóa gia đình “Sự gia tăng dân số quá nhanh là một trong những nguyên nhân quan trọng cản trở tốc độ phát triển kinh tế- xã hội, gây khó khăn lớn cho việc cải thiện đời sống, hạn chế điều kiện phát triển vêg mặt trí tuệ, văn hóa và thể lực của giống nòi. Nếu xu hướng này cư stiếp tục diễn ra tghì trong tương lai không xxa đất nước sẽ đứng trước những khó khăn rất lớn, thậm chí những nguy cơ về nhiều mặt” Vì vậy mục tiêu của chính sách dân số trong giai đoạn đó đã nhấn mạnh trọng tâm: “Thực hiện gia đình ít con, khỏe mạnh, tạo điều kiện để có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Mỗi gia đình chỉ có một hoặc hai con để tới năm 2015 bình quân trong toàn xã hội mỗi gia đình (một cặp vợ chồng) có 2 con, tiến tới ổn định quy mô dân số từ giữa thế kỷ XXI. Tập trung mọi nỗ lực nhằm tạo chuỷen biến rõ rệt ngay trong thập kỷ 90 này”

Nước ta đã đạt mức sinh thay thế khoảng năm 2005 (trước 10 năm so với mục tiêu đặt ra). Tuy nhiên mức sinh của ta có xu hướng tiếp tục giảm chậm trong những năm tiếp theo. Chẳng hạn: Quá trình này khó đảo ngượcdưới tác động của các yếu tố phát triển trong quá trình CNH-HĐH. Hiện nay 21 tỉnh/thành phố ở nước ta đang có mức sinh thấp hơn mức sinh thay thế cần thiết (các dấu hiệu về thiếu nguồn cung ứng lao động cho nhiều doanh nghiệp ở vùng Đông Nam Bộ đã bắt đầu xuất hiện)

Nghị quyết số 21-NQ/TW (25/10/2007), với mục tiêu: “ Tiếp tục chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển” vơi 7 giải pháp đề ra. Bên cạnh đó chuyển trọng tâm chính sách dân số đòi hỏi công tác dân số phải cập nhật, phải tính đến các yếu tố “phát triển” về kinh tế, giáo dục, y tế, môi trường…ngược lại, các kế hoạch phát triển cũng cần tính đến sự biến đổi nhanh về quy mô, cơ cấu, phân bố và chất lượng dân số

 Đại hội XIII, định hướng “ tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về dân số gắn với xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; đảm bảo hài hòa giữa quyền và nghĩa vụ của người dân trong thực hiện chính sách dân số…Chăm lo phát triển về chất lượng, bảo đảm quy mô, cơ cấu dân số hợp lý…” 

Mối quan hệ giữa dân số và phát triển

 


Nếu coi phát triển là đối lập với nghèo khổ thì phát triển được coi là quá trình  giảm dần, đi đến loại bỏ nạn đói ăn, bệnh tật, mù chữ, tình trạng mất vệ sinh, thất nghiệp và bất bình đẳng. Trên thực tế, dân số ổn định thì phát triển kinh tế xã hội bền vững, đảm bảo chất lượng cuộc sống tốt cho cộng đồng. Dân số và phát triển có tác động qua lại chặt chẽ, biện chứng với nhau. Bước tiến của lĩnh vực này thúc đẩy, tạo thuận lợi cho lĩnh vực kia và ngược lại. Dân số có tác động qua lại đến kinh tế, giáo dục, xã hội, môi trường, y tế và ngược lại sự phát triển bền vững của các yếu tố đố sẽ đảm bảo nâng cao chất lượng dân số. Dân số và phát triển có liên quan chặt chẽ tới tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và bền vững về môi trường. Những biến đổi về quy mô, cơ cấu và phân bvố dân số chính là sự thay đổi những chiều cạnh về dân số- kinh tế, dân số - xã hội và dân số - môi trường liên quan đến các mục tiêu phát triển bền vững.

Nền dân chủ vô sản (dân chủ xã hội chủ nghĩa)


Thắng lợi chính trị của Cách mạng Tháng Mười Nga (1917) và các cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa khác đã đưa giai cấp công nhân và nhân dân lao động từ địa vị những người nô lệ bị bóc lột và áp bức lên địa vị những người chủ của xã hội. Chính quyền đã thuộc về tay giai cấp cồng nhân với tư cách là nhà nước kiểu mới, là bộ máy quản lý và điều hành mọi hoạt động của xã hội để thực hiện quyền làm chủ của những người lao động đã được giải phóng. Việc thiết lập chính quyền nhà nước của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, việc đảng cộng sản khẳng định trong thực tê vai trò lãnh đạo nhà nước và xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa... là những tiền đề, nguyên tắc dẫn tới xác lập nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, một nền dân chủ mới về chất cao hơn so với nển đàn chủ tư sàn và các nền dân chủ trước đó. Theo V.I.Lênin: “Xôviết tựu trung là một hình thức và một kiều chế độ dân chủ vô cùng cao hơn, chính là do chỗ nó tập hợp được quần chủng công nông và lôi cuốn họ tham gia sinh hoạt chính trị, nên nó là cơ quan gần “nhân dân" nhất"[1]. Dân chủ xã hội chủ nghĩa xuất hiện trong thắng lợi cứa cách mạng chính trị giành chính quyền của giai cấp công nhân, gắn liền với sự ra đời của nhà nước kiểu mới - nhà nước xã hội chủ nghĩa. Nền dân chủ này lại có một quá trình phát triển và hoàn thiện cùng với quá trình lịch sử lâu dài mà giai cấp cồng nhân, nhân dân lao động dựa trên nhà nước của mình để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Đặc trưng cơ bản của nền dân chủ xă hội chủ nghĩa là thực hiện quyền lực của nhân dân - tức là xây dựng nhà nước dân chủ thực sự, dân làm chủ nhà nước và xã hội, bảo vệ quyền lợi cho đại đa sổ nhân dân.



[1] V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2005, t.37, tr.383.