Triển lãm là hoạt động ý nghĩa nhằm cung cấp thông tin, bằng chứng lịch sử, pháp lý về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm của ông cha ta và khơi dậy lòng yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc trong toàn thể nhân dân.
Chủ Nhật, 10 tháng 12, 2023
TUYÊN TRUYỀN SÂU RỘNG VỀ CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA
SỰ RA ĐỜI CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM - CỘT MỐC ĐÁNH DẤU SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHONG TRÀO ĐẤU TRANH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC Ở VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX
Ngày 22-12-1944, Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân - tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay được thành lập. Mặc dù chỉ có 34 chiến sĩ với 34 khẩu súng khi mới thành lập nhưng sự ra đời của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam.
TẠO SỰ CHUYỂN BIẾN VỀ NHẬN THỨC, SỰ THỐNG NHẤT, ĐỒNG THUẬN CAO VỀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
Đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng về nội dung tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” (Tác phẩm) của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng góp phần tạo nên sự thống nhất về tư tưởng, ý chí và hành động trong toàn xã hội về chủ nghĩa xã hội (CNXH) và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam hiện nay.
TIẾP TỤC VỮNG BƯỚC TRÊN CON ĐƯỜNG ĐỔI MỚI TOÀN DIỆN, ĐỒNG BỘ ĐỂ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC
Sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo trong gần 40 năm qua đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đây là cơ sở, tiền đề vững chắc, tạo động lực mới, khí thế mới, niềm tin vững chắc để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
A. YERSIN - NHÀ KHOA HỌC NỔI TIẾNG NẶNG TÌNH VỚI VIỆT NAM
Bác sĩ A.Yersin gắn bó với mảnh đất Nha Trang như chính quê hương ruột thịt của mình. Đáp lại, người dân nơi này cũng thường trìu mến gọi ông là Ông Năm, theo cách gọi thân thiết của người Việt Nam.
Suốt bao năm qua những đóng góp của bác sĩ A.Yersin vẫn luôn được chính quyền và người dân địa phương ghi nhớ và tôn vinh, cộng đồng xã hội cũng thường xuyên có các hoạt động, lan tỏa tinh thần nhân văn cao cả của ông.
Rất nhiều câu chuyện kể lại đã cho thấy sự hiện diện và gắn bó với mảnh đất Nha Trang từ rất sớm của bác sĩ A.Yersin. Ông có tên đầy đủ là Alexandre Emile John Yersin, sinh ngày 22/9/1863 tại miền Đông tổng Vaud, hạt Lavaux, tỉnh Morges, Thụy Sĩ.
Từ khi 15 tuổi, A.Yersin đã có khuynh hướng thiên về khoa học tự nhiên, đặc biệt là yêu thích sưu tầm, tìm hiểu các loại côn trùng. Những dấu ấn sở thích từ thuở ấu thơ đã thể hiện rất rõ trong sự nghiệp khoa học của A.Yersin sau này.
Ở tuổi 25, A.Yersin nhận văn bằng Tiến sĩ Y khoa, với luận án Étude sur le Développement du Tubercule Expérimental (Nghiên cứu về sự phát triển của bệnh lao bằng thực nghiệm) có nhiều giá trị thực tiễn. Ông gia nhập Viện Pasteur ở Paris; là một trong những học trò xuất sắc của nhà bác học lỗi lạc Louis Pasteur.
Làm công việc nghiên cứu khoa học, nhưng những chuyến đi, và những tấm bản đồ về Đông Dương đầy huyền bí đã khơi dậy trong ông niềm đam mê thám hiểm, muốn khám phá những vùng đất mới mẻ.
Và, khi biết chắc không thể thuyết phục A.Yersin ở lại Paris, chính Louis Pasteur đã viết thư cho Công ty Vận tải Hàng hải Messageries Maritimes đề cử A.Yersin làm bác sĩ trên tàu vận tải.
Như một cơ duyên, cả những chuyến đi, chuyến về, con tàu của A.Yersin đều dừng lại ở Nha Trang, một vịnh biển hoang dã, yên tĩnh và đầy nắng. A.Yersin nhanh chóng bị mảnh đất này mê hoặc.
Trong nhật ký của mình, ông dành cho Nha Trang bao nhiêu là mỹ từ, trìu mến như “vùng này có nhiều núi non và phong cảnh rất ngoạn mục”, “màu sắc tươi đẹp của một vùng nhiệt đới, khí hậu vô cùng dễ chịu”...
Tháng 7/1891, A.Yersin xin thôi việc ở Công ty Vận tải Hàng hải Messageries Maritimes, quyết định ở lại với Nha Trang. Ông cho dựng một ngôi nhà gỗ ở Xóm Cồn, nay thuộc phường Xương Huân, thành phố Nha Trang, vừa nghiên cứu khoa học vừa khám, chữa bệnh miễn phí cho người nghèo ở đây.
Tôi đến thăm Bảo tàng A.Yersin ở số 10 đường Trần Phú, Nha Trang. Trong căn phòng rộng chừng 100m2 còn lưu giữ khoảng 1.200 hiện vật, gồm sách, những đồ vật thân thiết và thư từ, bút tích của bác sĩ A.Yersin trong suốt hành trình hơn 50 năm cống hiến cho sự nghiệp nghiên cứu, phát triển nền y học thế giới.
Có điều rất đặc biệt là từ nhiều năm nay, không ít người đã tìm đến Nha Trang, thăm bảo tàng mang tên A.Yersin, như một cách thể hiện lòng biết ơn đối với một người từng được coi là “cứu tinh của nhân loại”, khi ông tìm ra trực khuẩn dịch hạch vào năm 1894, giúp nhân loại chặn đứng đại dịch “cái chết đen” hãi hùng thời đó.
Ghi nhớ công lao của ông, vi khuẩn gây dịch hạch được đặt tên là Yersinia pestis. Và, với kỳ tích tìm ra vi trùng dịch hạch, nghiên cứu bào chế thuốc điều trị và phòng bệnh dịch hạch, ông được Chính phủ Pháp tặng thưởng Huân chương Bắc đẩu bội tinh.
Đến hôm nay, nhiều người vẫn truyền nhau những câu chuyện về Ông Năm trong những ngày sống ở Xóm Cồn. Đó là chuyện ông khám, chữa bệnh miễn phí cho người nghèo; chuyện người dân đến hỏi ông về tình hình thời tiết trước mỗi chuyến ra khơi, chuyện những trẻ em Xóm Cồn thường đến nhà ông chơi để được xem chiếu bóng, ăn bánh kẹo, học nói tiếng Pháp…
Trong hồi ký của mình, bác sĩ Kiều Xuân Cư, sinh năm 1919, kể rằng, trước năm 1942, ông cùng những người bạn học ở Trường tiểu học Phủ Diên Khánh thường xuống Nha Trang tắm biển ngày hè.
Có lần, Ông Năm dẫn cả nhóm lên sân thượng, ngắm mặt trời qua kính viễn vọng.
Chuyện kể, cũng nhờ kính thiên văn và một số thiết bị khác, giữa tháng 11/1939, Ông Năm dự báo có bão lớn nên vận động người dân Xóm Cồn đến nhà ông trú tránh an toàn.
Sau sự kiện đó, người dân Xóm Cồn gọi Ông Năm là “nhà tiên tri”, khi ông mất, đến mùa biển động, bà con khấn xin Ông Năm phù hộ, độ trì cho dân lành đi biển tai qua nạn khỏi.
Theo Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Nguyễn Thị Thế Trâm, nguyên Viện trưởng Viện Pasteur Nha Trang, không chỉ có công sáng lập Viện Pasteur Nha Trang, bác sĩ A.Yersin còn có đóng góp quan trọng trong việc thành lập các Viện Pasteur ở Hà Nội, Đà Lạt cũng như quản lý hệ thống Viện Pasteur ở Đông Dương.
Tháng 9/1990, Bộ Văn hóa-Thông tin ban hành quyết định xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia gồm các hạng mục: Thư viện, Bảo tàng A.Yersin trong khuôn viên Viện Pasteur Nha Trang; chùa Linh Sơn Pháp Ấn tại Suối Cát và Khu lăng mộ A.Yersin tại Suối Dầu.
Đến tháng 3/2023, nơi ở và làm việc của A.Yersin trên đỉnh Hòn Bà được bổ sung vào cụm Di tích lịch sử A.Yersin.
Cho tới nay, Ông Năm là người nước ngoài đầu tiên, duy nhất được nhân dân Nha Trang-Khánh Hòa tôn thờ trong chùa sau khi mất và được công nhận là Công dân Việt Nam danh dự.
Ghi nhớ công ơn ông, năm 1990 tỉnh Khánh Hòa cho phép thành lập Ban vận động Hội Những người ái mộ A.Yersin do Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Nguyễn Thị Thế Trâm, Viện trưởng Viện Pasteur Nha Trang làm trưởng ban vận động. Tháng 11/1992, Hội Những người ái mộ A.Yersin tỉnh Khánh Hòa được thành lập.
Một trong những điểm nhấn hoạt động Hội là thành lập Phòng khám miễn phí A.Yersin.
Ngay sau khi thành lập, Phòng khám được các nhà khoa học, các thầy thuốc giàu nhiệt huyết và nhiều tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài chung tay xây dựng tổ chức, nhân sự và tài trợ để duy trì và phát triển hoạt động.
Đến nay, qua 30 năm hoạt động, Phòng khám bệnh từ thiện A.Yersin đã khám và cấp phát thuốc miễn phí cho gần 150.300 lượt bệnh nhân, tính bình quân trị giá 150.000 đồng/đơn; tổ chức khám lưu động 9.960 lượt cho đồng bào dân tộc vùng sâu, vùng xa.
A.Yersin mất ngày 1/3/1943, tại Nha Trang. Trong di chúc, ông viết: “Khi tôi chết, tôi ước muốn được chôn cất ở Suối Dầu... Hãy giữ tôi lại với Nha Trang, đừng cho ai lấy tôi đi”. Có chi tiết cảm động nữa là trong di chúc, ông đề nghị được chôn nằm úp xuống, như thể muốn ôm trọn mảnh đất đã quá nặng ân tình, không thể rời xa.
Hơn 50 năm gắn bó với Nha Trang-Khánh Hòa, bác sĩ A.Yersin đã để lại vùng đất này nhiều di sản. Trong những năm qua, ngành du lịch Khánh Hòa đã nỗ lực đưa các di sản của ông vào phục vụ du lịch. Chẳng hạn như Chi hội Lữ hành Khánh Hòa mở tour du lịch “Theo dấu chân bác sĩ A.Yersin”.
Nhưng, các đơn vị lữ hành cho rằng, tour du lịch về di sản văn hóa gắn với bác sĩ A.Yersin rất “kén” khách, bởi du khách quốc tế và Việt Nam chưa biết nhiều về A.Yersin.
Mới đây, sáng 22/9, Hội Những người ái mộ A.Yersin tổ chức lễ kỷ niệm 160 năm Ngày sinh của ông.
Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa Lê Hữu Hoàng trân trọng tri ân bác sĩ A.Yersin, người đã đến với Nha Trang, ở lại với đất và người Khánh Hòa với một tình cảm đặc biệt. Tỉnh Khánh Hòa đang chuẩn bị triển khai thực hiện dự án xây dựng mới Bảo tàng A.Yersin tại khuôn viên trước đây là nhà làm việc của bác sĩ A.Yersin./.
CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG LĨNH VỰC LÂM NGHIỆP
Ứng dụng công nghệ số trong lĩnh vực lâm nghiệp đã và đang tạo điều kiện thuận lợi trong việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Đây cũng là yêu cầu tất yếu, bảo đảm sự minh bạch về xuất xứ, nguồn gốc lâm sản thông qua công nghệ số, đáp ứng ngày càng tốt đòi hỏi của thực tiễn hội nhập và phát triển trong giai đoạn kinh tế số hiện nay.
Để chỉ đạo xây dựng và thực hiện kế hoạch chuyển đổi số ngành lâm nghiệp, ngày 9/10/2023, Cục Lâm nghiệp đã ban hành Quyết định số 227/QĐ-LN-CĐS thành lập Ban Chỉ đạo chuyển đổi số trong lĩnh vực lâm nghiệp.
Ban sẽ chịu trách nhiệm chỉ đạo xây dựng và thực hiện kế hoạch chuyển đổi số của ngành; tập trung rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật trong các lĩnh vực lâm nghiệp đáp ứng yêu cầu phát sinh trong tiến trình chuyển đổi số; xây dựng chương trình, đề án, quy hoạch, kế hoạch, chiến lược lồng ghép nội dung về chuyển đổi số lĩnh vực lâm nghiệp.
Bên cạnh đó, Ban cũng chỉ đạo xây dựng hệ thống dữ liệu chuyên ngành; ứng dụng công nghệ số trong hoạt động chỉ đạo điều hành và phát triển sản xuất lĩnh vực lâm nghiệp.
Để thực hiện nhiệm vụ do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giao, Cục Lâm nghiệp đã ban hành Kế hoạch chuyển đổi số năm 2023, theo đó, mục tiêu của ngành là hoàn thành danh mục cơ sở dữ liệu chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý và ban hành được kế hoạch, lộ trình cụ thể để xây dựng, triển khai các cơ sở dữ liệu trong danh mục; nâng cấp, cải tiến hệ thống thông tin quản lý ngành (FORMIS) nhằm đáp ứng các yêu cầu về cấu trúc, chuẩn hóa dữ liệu, bảo đảm cho việc cài đặt, tích hợp, kết nối các phần mềm, các ứng dụng chuyên ngành; thiết lập hệ thống cơ sở dữ liệu tập trung, thực hiện quản lý dữ liệu trên hệ thống FORMIS…
Theo ông Phạm Hồng Lượng, Phó Chánh Văn phòng Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững (Cục Lâm nghiệp), chuyển đổi số đang đặt ra nhiệm vụ khá nặng nề cho ngành lâm nghiệp. Với kế hoạch này, ngành xác định các lộ trình triển khai để đáp ứng mục tiêu chung của quốc gia về chuyển đổi số. Đặc thù rừng Việt Nam trải dài từ bắc chí nam, chủ yếu ở vùng núi cao, hiểm trở nên việc ứng dụng công nghệ số có nhiều khó khăn.
Bên cạnh đó, với diện tích rừng hơn 14 triệu ha, do nhiều đối tượng khác nhau đang quản lý, sử dụng (doanh nghiệp, tổ chức, các hộ gia đình, hợp tác xã, cộng đồng…), nên ứng dụng công nghệ rất nan giải, trong đó chưa kể đến khó khăn trong việc tiếp cận đối tượng sử dụng, cơ sở hạ tầng...
Phó Viện trưởng Viện Công nghiệp rừng (Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam) Nguyễn Đức Thành cho rằng, thời gian gần đây, theo chỉ đạo của Chính phủ và để đáp ứng nhu cầu chung của chuyển đổi số quốc gia, ngành lâm nghiệp đã và đang đẩy mạnh chuyển đổi số.
Đến nay, Cục Kiểm lâm đã triển khai ứng dụng dự báo cháy rừng, ứng dụng trong phân cấp nguy cơ cháy rừng. Việc cảnh báo tự động sẽ giảm thiểu thiệt hại xảy ra do cháy. Các đơn vị quản lý rừng của ngành lâm nghiệp cũng đã ứng dụng hệ thống thông tin địa lý và viễn thám trong quản lý tài nguyên rừng bền vững.
Bên cạnh đó, nhiều hoạt động như xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên rừng, thực vật, lâm sản ngoài gỗ cũng đã tham gia kế hoạch chuyển đổi số…
Về đóng góp của chuyển đổi số trong phát triển, bảo vệ rừng, Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam đã cùng ngành lâm nghiệp triển khai xây dựng cơ sở dữ liệu về bảo tồn, giống cây trồng, thương mại, dự báo cháy rừng… từ đó, lập kế hoạch, xây dựng kế hoạch, chiến lược đáp ứng yêu cầu nhanh hơn, tốt hơn.
Đáng chú ý, Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam đã xây dựng phần mềm số hóa quản lý và truy xuất gỗ hợp pháp; xây dựng cơ sở dữ liệu về tài nguyên rừng, tài nguyên về gỗ và lâm sản phục vụ giám định. Trước đây, việc giám định mẫu gỗ mất khoảng 2-3 ngày. Hiện nay, với chuyển đổi số và công nghệ hỗ trợ, việc giám định đã giảm xuống chỉ 10-15phút/mẫu.
Chuyển đổi số cũng đang được tiến hành tại 34 vườn quốc gia, 60 khu bảo tồn thiên nhiên và hai khu bảo vệ cảnh quan thuộc Cục Lâm nghiệp quản lý. Giám đốc Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà (tỉnh Lâm Đồng) Lê Văn Hương cho biết, đơn vị đã sử dụng hiệu quả công nghệ viễn thám để phát hiện sớm mất rừng và suy thoái rừng.
Vườn quốc gia cùng các nhà khoa học của Trường đại học Lâm nghiệp đã tạo ra các thuật toán để thu ảnh, viết ra các phần mềm để sử dụng nội bộ. Cán bộ quản lý đơn vị thông qua điện thoại có thể cập nhật diễn biến tài nguyên rừng của hơn 70.000 ha rừng đang quản lý.
Phần mềm này sẽ ghi nhận toàn bộ quá trình tuần tra trong rừng, có tác dụng đánh dấu diễn biến trong rừng đến từng gốc cây. Bên cạnh đó, Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà cũng sử dụng phần mềm để quản lý những động vật quý hiếm.
Tương tự, hiện nay các vườn quốc gia: Cúc Phương, Bạch Mã, Pù Mát, Cát Bà, Bù Gia Mập… cũng đã áp dụng công nghệ số trong việc quản lý rừng và động vật quý hiếm, góp phần hiệu quả trong công tác bảo vệ rừng.
Với những quy định mới của EU về truy xuất nguồn gốc lâm sản hợp pháp, sản xuất nông sản không xâm hại, gây mất rừng, ngành lâm nghiệp đang gặp khó khăn trong việc phân định diện tích rừng với diện tích trồng cà-phê, cao-su.
Để thích ứng với Quy định chống phá rừng (EUDR), ngành lâm nghiệp phải quan tâm tới cơ sở dữ liệu để xác định chỉ dẫn địa lý; có các dữ liệu nền tảng để so sánh, đối chiếu và biết chính xác được diện tích, các diễn biến của quá trình chuyển đổi, sản xuất, thương mại nhằm minh bạch được quá trình sản xuất.
Do đó, ứng dụng chuyển đổi số trong quản trị rừng ngoài việc cung cấp thông tin chi tiết và chính xác vị trí của từng khoảnh rừng, lô đất của khu vực sẽ góp phần bảo vệ rừng tốt hơn và minh bạch hóa trong quá trình sản xuất lâm nghiệp.
Đẩy mạnh chuyển đổi số đi đôi với phổ biến, tập huấn cũng sẽ giúp các chủ rừng là hợp tác xã, cộng đồng dân cư, doanh nghiệp dễ tương tác và tiếp cận được nhiều thông tin, các tiện ích mà chuyển đổi số mang lại./.
BỒI ĐẮP TÌNH HỮU NGHỊ VÀ TĂNG CƯỜNG HỢP TÁC VIỆT NAM - CAMPUCHIA
Với phương châm “láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài”, quan hệ Việt Nam-Campuchia thời gian qua tiếp tục phát triển sâu rộng và đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Trên cơ sở đó, hai bên đang nỗ lực thúc đẩy hợp tác thực chất và hiệu quả hơn nữa nhằm mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước.
Trong những năm qua, quan hệ chính trị Việt Nam-Campuchia tiếp tục được duy trì vững chắc, đóng vai trò định hướng quan hệ hai nước. Các chuyến thăm, các cuộc tiếp xúc và trao đổi giữa lãnh đạo cấp cao hai nước được duy trì dưới nhiều hình thức.
Hai bên tổ chức thành công cuộc gặp giữa Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam và Ban Thường vụ Đảng Nhân dân Campuchia (CPP). Việt Nam và Campuchia cũng phối hợp Lào tổ chức cuộc gặp giữa ba người đứng đầu ba đảng tại Hà Nội, cuộc ăn sáng làm việc giữa ba Thủ tướng nhân dịp Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 43 tại Indonesia.
Quan hệ giữa các bộ, ngành, địa phương hai nước cũng được duy trì. Các cơ chế hợp tác song phương, như Ủy ban hỗn hợp về Hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học và kỹ thuật, Hội nghị hợp tác và phát triển các tỉnh biên giới…, tiếp tục phát huy hiệu quả.
Hợp tác quốc phòng, an ninh là một trụ cột quan trọng trong quan hệ hai nước; ngày càng được thúc đẩy, góp phần bảo đảm ổn định, an toàn, an ninh biên giới.
Hai bên cũng phối hợp chặt chẽ triển khai thành quả phân giới cắm mốc 84% đường biên giới trên đất liền và tích cực trao đổi để giải quyết 16% còn lại.
Bên cạnh đó, các lĩnh vực hợp tác như giáo dục, giao thông, vận tải, văn hóa, xã hội, du lịch, khoa học, kỹ thuật... tiếp tục được hai bên quan tâm thúc đẩy.
Hợp tác kinh tế thương mại, đầu tư giữa hai nước những năm qua đạt được nhiều thành tựu.
Việt Nam hiện là đối tác thương mại lớn thứ ba của Campuchia trên thế giới và là đối tác thương mại lớn nhất của Campuchia trong ASEAN.
Kim ngạch thương mại song phương 9 tháng đầu năm 2023 đạt 6,5 tỷ USD. Việt Nam đứng đầu trong ASEAN và nằm trong nhóm năm nước có đầu tư trực tiếp lớn nhất tại Campuchia. Việt Nam hiện có 205 dự án đầu tư còn hiệu lực ở Campuchia với tổng vốn đăng ký đạt 2,94 tỷ USD.
Tại các cuộc gặp, tiếp xúc giữa lãnh đạo cấp cao và các cấp, trong các cơ chế hợp tác giữa hai nước gần đây, hai bên thông tin cho nhau về tình hình mỗi nước, cũng như những bước phát triển tốt đẹp trong quan hệ Việt Nam-Campuchia.
Đều nhận định rằng còn nhiều tiềm năng để thúc đẩy hợp tác hơn nữa, hai nước nhất trí triển khai hiệu quả các thỏa thuận đã ký kết; đẩy mạnh kết nối hai nền kinh tế; tăng cường hợp tác quốc phòng, an ninh.
Hai bên nhất trí thúc đẩy hợp tác hơn nữa trong các lĩnh vực giao thông, du lịch, nông-lâm-ngư nghiệp..., cũng như giữa các địa phương hai nước.
Trong Năm Hữu nghị Việt Nam-Campuchia 2022, hai bên tổ chức thành công nhiều hoạt động ý nghĩa, thiết thực kỷ niệm 55 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước (24/6/1967-24/6/2022).
Với những thành quả đã đạt được, hai bên nhất trí tăng cường giao lưu nhân dân nhằm tiếp tục bồi đắp và nâng cao nhận thức của nhân dân hai nước, nhất là thế hệ trẻ, về quan hệ láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài Việt Nam-Campuchia.
Cùng với đẩy mạnh hợp tác trong khuôn khổ song phương, hai bên nhất trí phối hợp chặt chẽ, ủng hộ lẫn nhau tại các tổ chức, diễn đàn khu vực và quốc tế, như Liên hợp quốc, ASEAN…, cũng như các cơ chế hợp tác tiểu vùng sông Mê Công.
Việt Nam đã phối hợp và ủng hộ Campuchia đảm nhiệm thành công vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2022.
Hai bên tiếp tục chung tay xây dựng Cộng đồng ASEAN đoàn kết, độc lập, tự cường và thịnh vượng; thúc đẩy hợp tác đa phương giữa hai nước đóng góp tích cực vào hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực và thế giới, đồng thời góp phần nâng cao uy tín và vị thế của mỗi nước trên trường quốc tế./.
KHÔNG LÀM NGƠ TRƯỚC BIỂU HIỆN SUY THOÁI "THÍCH ĐƯỢC ĐỀ CAO, CA NGỢI"
Cổ kim đông tây từng đúc kết, những người có chức sắc, vị thế xã hội mà bỏ ngoài tai những lời trung thực, khảng khái và lại ưa thích những lời người khác tâng bốc, tung hô, nịnh nọt mình thì rất dễ bị ảo tưởng về quyền lực, từ đó có những hành xử thiếu minh mẫn, nhân văn. Nếu thời xưa, người dân luôn “dị ứng” và oán ghét những tên quan nịnh thần làm nhiễu nhương triều chính, thì thời nay, chúng ta cũng không thể làm ngơ trước một bộ phận cán bộ, đảng viên “thích được đề cao, ca ngợi”-một trong những biểu hiện suy thoái về đạo đức lối sống mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng đã chỉ ra.
Từ những lời cảnh báo thói đời siểm nịnh của người xưa
Nhìn lại lịch sử cho thấy, xu nịnh là cách sống “vào luồn, ra cúi” của một bộ phận quan nịnh thần trong các triều đại phong kiến thuở trước. Những kẻ nịnh thần này thường tài hèn đức mọn, nhưng lại khéo ăn khéo nói, biết vuốt ve, “vỗ về” vua chúa đúng lúc, đúng chỗ bằng những lời nói mỹ miều, ngọt ngào, cốt là để lấy lòng bề trên. Nếu bề trên (ông vua, bà chúa, ông quan) nào tỉnh táo, sáng suốt và kiên quyết lánh xa, loại trừ thói xu nịnh vờ vĩnh, giả tạo thì giữ được tư thế, tác phong, nhân cách chân chính của bậc quang minh chính đại, góp phần bảo đảm cho triều chính được uy nghiêm, sơn hà xã tắc được bình an. Ngược lại, những người ở ngôi cao chức trọng và nắm giữ nhiều quyền bính mà dễ ngả lòng, a dua, thậm chí “đắm chìm” trong những lời bợ đỡ, ton hót của những kẻ “ngồi lê đôi mách” thì dễ làm cho các mối quan hệ trong triều chính trở nên rối ren, mọi người sống nghi kỵ, oán thán lẫn nhau và khiến lòng dân thêm bất an, ly tán.
Danh nho Chu Văn An (1292-1370), một vị quan thanh liêm đời Trần, tận mắt chứng kiến cảnh nhiễu nhương, suy đồi từ trong triều chính có nguyên nhân sâu xa là do những quan nịnh thần gây ra. Vì vậy, Chu Văn An đã dâng “Thất trảm sớ”, đề nghị vua Trần Dụ Tông (1336-1369) xử chém 7 tên nịnh thần để góp phần lấy lại sự nghiêm minh trong vương triều và củng cố niềm tin cho thần dân. “Thất trảm sớ” của Chu Văn An dù không được nhà vua chấp thuận, nhưng mãi là lời cảnh báo, cảnh tỉnh muôn đời đối với hậu họa khôn lường của thói gian thần, nịnh bợ.
Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm (1889-1954) là một đại thần triều Nguyễn. Khi thi đỗ đại khoa, ông được cùng các vị tiến sĩ đồng khoa triều kiến vua Thành Thái (1879-1954). Khi nhà vua đề nghị mỗi vị đề xuất góp ý kế sách để phục hưng quốc gia, Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm đã đọc 4 câu: “Tôn tộc đại quy/ Tôn lộc đại nguy/ Tôn tài đại thịnh/ Tôn nịnh đại suy”. Bốn câu này được hiểu là: “Tôn trọng nòi giống ắt đại hòa hợp/ Tôn trọng bổng lộc ắt đại nguy nan/ Tôn trọng tài năng ắt đại phồn thịnh/ Tôn trọng siểm nịnh ắt đại suy vong”.
“Tôn nịnh đại suy” hiểu rộng ra là bất cứ chỗ nào, thể chế nào, xã hội nào, nếu không loại bỏ mà lại coi trọng thói siểm nịnh thì sớm muộn chỗ đó, thể chế đó, xã hội đó cũng sẽ mục ruỗng, thối nát và đi đến bờ vực suy vong thảm hại.
Đến căn bệnh “thích được đề cao, ca ngợi” trong một bộ phận quan chức thời nay
Thực ra, đã sống trong cuộc đời này, ai cũng thích khen. Vì lời khen không chỉ là một trong những nghệ thuật giao tiếp để động viên, khích lệ nhau vươn lên trong cuộc sống mà còn là một phương thức giáo dục tinh tế, hiệu quả trong học tập, lao động, công tác. Nhưng điều quan trọng là phải khen đúng lúc, đúng chỗ, đúng mực, đúng đối tượng thì lời khen mới có giá trị. Còn nếu khen một cách tràn lan, gặp đâu khen đấy, khen không xuất phát từ tấm lòng chân thành, nhất là cấp dưới thường xuyên dành cho cấp trên những lời “ngọt như mía lùi” thì đó không phải là lời khen, mà thực chất là sự nịnh nọt, ton hót-một thái độ ứng xử không phù hợp với phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên.
Đến nhiều tổ chức, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp hiện nay, nếu ai tinh ý và chịu khó quan sát, lắng nghe thì trong các cuộc trò chuyện, có thể thấy một hiện tượng là quần chúng thích nói ý tứ cho vừa lòng lãnh đạo, cấp dưới hay “vuốt ve” cấp trên, nhân viên ưa nói tốt về thủ trưởng... Trong giao tiếp đời thường là vậy và trong sinh hoạt đảng, chính quyền, đoàn thể cũng như vậy.
Còn tồn tại hiện tượng trên một phần vì cấp dưới mang tâm lý cả nể những người có tuổi tác, chức sắc, vị thế công tác hơn mình; nhưng phần khác, cũng do tâm lý thích, thậm chí ham mê, ưa chuộng lời khen của những người có chức quyền. Mà khi cấp dưới khen thì nhiều khi là “khen cho được việc”, cố khen cho “mát mặt” cấp trên, chứ chưa hẳn là khen đúng lòng mình. Hay nói cách khác, đó là những lời khen mang tính chất “hối lộ tinh thần” hơn là lời khen thật sự ý nghĩa.
Không những vậy, một số quan chức còn lợi dụng báo chí, truyền thông để ca ngợi, tung hô mình vào những thời điểm "nhạy cảm", như: Đại hội, bầu cử, được bổ nhiệm chức vụ mới… Tinh vi hơn, có quan chức bỏ ra những khoản kinh phí “không hề nhỏ” để duy trì, “nuôi dưỡng” một bộ phận làm truyền thông chuyên nghiệp chỉ để “lăng xê”, đánh bóng tên tuổi cá nhân mình trong xã hội.
Cán bộ, đảng viên cần giữ đạo khiêm nhường, tự trọng, cương trực
Trong những năm tháng bao cấp, dư luận vẫn râm ran câu nói “Thật thà thường thua thiệt/ Lươn lẹo lại lên lương” nhằm ám chỉ những kẻ “mồm năm miệng mười", "đầu môi chót lưỡi” ngon ngọt với cấp trên thì dễ bề được ưu tiên thăng tiến, lên cấp, nâng lương. Nhưng cha ông ta cũng có câu “Mật ngọt chết ruồi” với hàm ý khuyên răn, cảnh tỉnh ai đó chỉ thích nghe những lời lẽ quyến rũ, giọng điệu ngọt ngào mà giả dối của người khác thì tự mình sa vào tình thế nguy hiểm lúc nào không hay.
Thực tế cho thấy, những cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ có chức quyền mà luôn sống, sinh hoạt, làm việc trong sự “bủa vây” của những lời khen hào phóng, mỹ miều, giả tạo của những người xung quanh và cấp dưới, thì theo ngày ngày, tháng tháng, họ rất dễ bị ảo tưởng về chính mình. Từ đó, những biểu hiện gia trưởng, quan liêu, độc đoán cũng sẽ dần “lớn lên” trong thái độ, tư tưởng, tính cách của họ. Đó cũng là tiền đề để hình thành, tạo ra “uy tín giả”-một “cái bẫy” có thể làm quan chức tự sụp đổ ngay dưới chân mình!
Cổ kim đông tây đã đúc kết, những người có chức sắc, vị thế xã hội mà bỏ ngoài tai những lời trung thực, khảng khái và lại ưa thích những lời tâng bốc, tung hô, nịnh nọt thì rất dễ bị ảo tưởng về quyền lực, từ đó có những hành xử thiếu minh mẫn, nhân văn, thậm chí vùi dập những người cương trực. Thế nên, Tuân Tử-một trong những triết gia cổ đại lừng danh của Trung Quốc đã tự răn mình và cũng là nhắc nhớ các bậc quân tử đời sau: “Người chê ta mà chê phải là thầy của ta, người khen ta mà khen phải là bạn ta, những kẻ vuốt ve, nịnh bợ chính là kẻ thù của ta vậy”.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất lên án thói tâng bốc, xu nịnh. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” viết tháng 10-1947, một trong những căn bệnh của một bộ phận cán bộ, đảng viên được Bác sớm chỉ ra và cảnh báo là: “Bệnh xu nịnh, a dua; ưa người ta tâng bốc, khen ngợi mình”. Bác cũng phê phán những cán bộ, đảng viên sống ba phải, không có lập trường, chính kiến rõ ràng: “Thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi. Theo gió bẻ buồm, không có khí khái”. Những người như thế không xứng đáng là người lãnh đạo, dìu dắt, giáo dục quần chúng.
Để không mắc vào “cạm bẫy” ưa xu nịnh và chữa trị được căn bệnh “thích được đề cao, ca ngợi”, một trong những việc cần làm hiện nay là mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp phải giữ gìn đức tính cương trực, tự trọng, khiêm nhường. Cương trực để không bị "mê hoặc" bởi “cái bả” ca tụng của nhiều cán bộ, nhân viên cấp dưới lúc nào cũng có thể “rót lời đường mật” vào tai mình. Tự trọng để biết phân biệt đâu là điều hay lẽ phải cần lắng nghe, coi trọng, đâu là lời khen vờ vĩnh, giả tạo cần tránh xa, loại bỏ. Khiêm nhường để không tự ảo tưởng về mình mà luôn có ý thức học tập, rèn luyện, bồi đắp những phẩm chất giá trị tích cực, nhân văn, nhằm không ngừng hoàn thiện nhân cách bản thân và sống giản dị, gần gũi với tập thể nơi công tác và với cộng đồng nơi cư trú.
Một việc không thể không nhắc lại là các cấp ủy, tổ chức đảng nói chung, cán bộ lãnh đạo nói riêng cần tiếp tục coi trọng và duy trì thường xuyên, nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình. Trong sinh hoạt tự phê bình và phê bình, mỗi người cần thể hiện rõ tinh thần trung thực, thẳng thắn, công tâm, đồng thời bày tỏ thái độ trân trọng, bảo vệ cái đúng, cái tốt; phê phán kịp thời cái xấu, cái sai; kiên quyết đấu tranh loại bỏ lề thói xu nịnh, a dua, “mũ ni che tai”, “mười lăm cũng ừ, mười tư cũng gật”, góp phần vừa giữ vững và nâng cao kỷ cương, kỷ luật của tổ chức đảng, vừa xây dựng môi trường văn hóa giao tiếp ứng xử lành mạnh trong tổ chức, cơ quan, đơn vị.
CÔ BA DŨNG SỸ, CHỊ HAI NĂM TẤN TRANG SỬ VẺ VANG CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC
Cứ mỗi lần giai điệu của ca khúc “Hai chị em” vang lên, lòng tôi lại xốn xang một cảm xúc khó tả, một cái gì đó vừa bồi hồi, xúc động, lại vừa day dứt một nỗi niềm nhớ quê. "Cô Ba dũng sĩ quê ở Trà Vinh, chị Hai năm tấn quê ở Thái Bình, hai chị em trên hai trận tuyến anh hùng bất khuất - trung hậu đảm đang. Trang sử vàng chống Mỹ cứu nước, sáng ngời tên những cô gái Việt Nam... Đẹp lắm chứ, anh hùng lắm chứ".
KHÔNG PHẢI XUẤT TRÌNH SỔ HỘ KHẨU, SỔ TẠM TRÚ KHI LÀM THỦ TỤC BẢO HIỂM XÃ HỘI
Khi thực hiện thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của ngành bảo hiểm xã hội Việt Nam, người dân không phải nộp, xuất trình sổ hộ khẩu hay sổ tạm trú.
QUÂN ĐỘI LÀ MÔI TRƯỜNG ĐỂ RÈN LUYỆN THANH NIÊN
Hàng năm, vào đầu xuân mới hàng vạn thanh niên cả nước lại lên đường nhập ngũ. Đây vừa là nghĩa vụ, là vinh dự cũng là trách nhiệm của thanh niên Việt Nam.