Chủ Nhật, 10 tháng 12, 2023

TUYÊN TRUYỀN SÂU RỘNG VỀ CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA

 Triển lãm là hoạt động ý nghĩa nhằm cung cấp thông tin, bằng chứng lịch sử, pháp lý về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm của ông cha ta và khơi dậy lòng yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc trong toàn thể nhân dân.

Ngày 6/12, tại thị xã Buôn Hồ, Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Đắk Lắk phối hợp Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ủy ban nhân dân thị xã Buôn Hồ tổ chức Triển lãm lưu động “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý”.
Tham dự triển lãm có đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành của tỉnh; lãnh đạo thị xã Buôn Hồ cùng đông đảo cán bộ, đoàn viên, thanh niên, học sinh, chiến sĩ lực lượng vũ trang và nhân dân trên địa bàn thị xã Buôn Hồ.
Triển lãm trưng bày gần 100 tư liệu theo các chủ đề như: Bản đồ Việt Nam thời quân chủ (thế kỷ XVI-XIX) khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; Bản trích và Châu bản triều Nguyễn thể hiện chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; Bản đồ xuất bản tại phương Tây (thế kỷ XVI-XIX) ghi nhận chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; Bản đồ Trung Quốc do phương Tây và Trung Quốc xuất bản (thế kỷ XVI-XX) ghi nhận Hoàng Sa, Trường Sa không thuộc về Trung Quốc; các hình ảnh, tư liệu quần đảo Hoàng Sa trước năm 1975; một số hình ảnh về quần đảo Trường Sa hiện nay và các hoạt động của cán bộ, chiến sĩ hải quân, nhân dân trên quần đảo Trường Sa…
Phát biểu khai mạc triển lãm, Phó Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Đắk Lắk Nguyễn Quốc Hiệp, Trưởng Ban tổ chức triển lãm nhấn mạnh: Biển, đảo Việt Nam là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc; biển, đảo có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước.
Nhận thức sâu sắc vai trò, vị trí, tầm quan trọng của biển, đảo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta luôn xác định biển, đảo là một bộ phận cấu thành chủ quyền, quyền chủ quyền của Tổ quốc và cùng với đất liền là không gian sinh tồn, phát triển bền vững của dân tộc Việt Nam.
Thấm nhuần tư tưởng của ông cha ta về xác lập và bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo; Đảng, Nhà nước ta tiếp tục bổ sung, hoàn thiện và phát triển chiến lược hướng ra biển, khai thác nguồn lợi từ biển để đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk, từ năm 2014 đến nay, Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức nhiều hoạt động tuyên truyền về công tác bảo vệ chủ quyền biển đảo, trong đó có các cuộc Triển lãm lưu động “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam-Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” tại một số huyện trên địa bàn tỉnh như: M’Drắk, Ea Kar, Ea Súp, Krông Bông, Ea H’leo, Cư Kuin.
Tại Triển lãm lần này tại thị xã Buôn Hồ, bản đồ và tư liệu trưng bày là bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên Biển Đông.
Các tư liệu thể hiện nhà nước Việt Nam, từ thời phong kiến đến nay, đã khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền quốc gia đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và nhiều vùng biển đảo khác thuộc lãnh thổ Việt Nam. Đó là một quá trình liên tục, lâu dài, diễn ra trong hòa bình, được ghi nhận trong nhiều nguồn sử liệu của Việt Nam và các nước, đặc biệt là những tư liệu, bản đồ được soạn vẽ, xuất bản từ thế kỷ XVI đến nay ở Việt Nam và ở nhiều nước trên thế giới.
Các tư liệu, văn bản, hiện vật, ấn phẩm và gần 100 bản đồ được trưng bày là tập hợp các nguồn tư liệu chính thống đã được công bố từ trước đến nay của các nhà nghiên cứu, học giả ở trong nước và quốc tế; trong đó có các văn bản Hán-Nôm, văn bản Việt ngữ và Pháp ngữ do triều đình phong kiến Việt Nam và chính quyền Pháp ở Đông Dương ban hành từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX, khẳng định quá trình xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Đặc biệt, các châu bản triều Nguyễn từ triều Gia Long đến triều Bảo Đại ban hành liên quan trực tiếp đến vấn đề khai thác, quản lý, xác lập và thực thi chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
Triển lãm là hoạt động ý nghĩa nhằm cung cấp thông tin, bằng chứng lịch sử, pháp lý về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm của ông cha ta và khơi dậy lòng yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc trong toàn thể nhân dân./.
ST

SỰ RA ĐỜI CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM - CỘT MỐC ĐÁNH DẤU SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHONG TRÀO ĐẤU TRANH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC Ở VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX

 Ngày 22-12-1944, Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân - tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay được thành lập. Mặc dù chỉ có 34 chiến sĩ với 34 khẩu súng khi mới thành lập nhưng sự ra đời của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam.

1. Ngày 1-9-1858, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Đà Nẵng mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Với truyền thống yêu nước nồng nàn, tinh thần đấu tranh chống giặc ngoại xâm kiên cường bất khuất, nhân dân Việt Nam đã anh dũng đứng lên chống giặc giữ nước theo phương châm “kẻ trước ngã, người sau đứng dậy” nhưng rốt cuộc đều thất bại.
Một câu hỏi lớn đặt ra với những nhà yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX là, làm sao để đánh đuổi thực dân Pháp, giành lại độc lập cho dân tộc? Có người cho rằng phải tiến hành võ trang bạo động, vì “không lấy máu rửa máu thì không thể cải tạo được xã hội hiện tại”. Có người lại lập luận, nếu dùng võ trang bạo động thì sẽ thất bại, bởi thực dân Pháp có vũ khí tối tân hiện đại, nên trước mắt cần phải dựa vào Pháp để “canh tân” đất nước, sau đó mới giành lại độc lập. Người đại diện cho xu hướng bạo động là cụ Phan Bội Châu. Người đại diện cho xu hướng cải lương là cụ Phan Châu Trinh.
Do hạn chế về lập trường giai cấp, cụ Phan Bội Châu, cụ Phan Châu Trinh cũng như các sĩ phu cấp tiến lãnh đạo phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX không thể tìm được một phương hướng giải quyết chính xác cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, nên các cuộc đấu tranh tuy diễn ra rất sôi nổi những đã nhanh chóng bị kẻ thù dập tắt.
2. Xuất phát từ lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, kinh nghiệm đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc và trước những đòi hỏi cấp bách của thực tiễn Việt Nam, ngay từ mới ra đời, Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng tháng 2 - 1930 xác định: Chủ trương làm tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản, để đạt được mục tiêu đó phải dùng bạo lực cách mạng để chống bạo lực phản cách mạng. Tuy nhiên, cái khó đối với Đảng Cộng sản Việt Nam khi đó là vừa mới ra đời Đảng chưa có một đơn vị vũ trang nào làm lực lượng quân sự cho mình. Bởi thế Đảng đã chủ trương tổ chức ra quân đội công - nông, trước hết là các đội tự vệ công - nông, các đội du kích, làm nòng cốt cho toàn dân đấu tranh giải phóng dân tộc.
Thực hiện chủ trương của Đảng, từ năm 1930 đến năm 1944, nhiều địa phương trên phạm vi cả nước đã sáng tạo ra nhiều tổ chức vũ trang tuy tên gọi có khác nhau nhưng đều giữ vai trò nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ đấu tranh với kẻ thù, bảo vệ các cuộc đấu tranh của công nhân, nông dân ở các địa phương. Đó là các đội Tự vệ đỏ ở Nghệ An, Hà Tĩnh trong cao trào cách mạng 1930 - 1931, Đội du kích Bắc Sơn rồi các đội Cứu quốc quân, Quân du kích Nam Kỳ, Đội du kích Pác Bó ở Cao Bằng… Các đội vũ trang nói trên tuy hoạt động rất tích cực và đã có những thành tích đáng kể nhưng đó mới chỉ là các đội du kích của từng địa phương, ảnh hưởng của nó đối với phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân cả nước chưa thật lớn.
3. Khi đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập, tuy chỉ có 34 chiến sĩ nhưng đó là những chiến sĩ kiên quyết, dũng cảm đã được chọn lựa kỹ càng trong các đội du kích Cao - Bắc - Lạng và trong số những người đi học quân sự ở nước ngoài về, hầu hết đã trải qua chiến đấu và ít nhiều đều có hiểu biết về kỹ thuật và kinh nghiệm quân sự. Là con em của các tầng lớp nhân dân bị áp bức, họ có lòng yêu nước, chí căm thù giặc sâu sắc. Không một người nào trong Đội không mang mối hận thù với đế quốc, hoặc nhà cửa bị đốt, của cải bị tịch thu, hoặc cha, anh, chị, em bị bắt, bị bắn, còn bản thân nếu chưa trải qua lao tù thì cũng là những người đang bị truy nã, nợ nước, thù nhà, oán hờn dân tộc, căm thù giai cấp đã xiết chặt họ lại thành một khối rắn chắc, không kẻ thù nào phá vỡ nổi.
Đặc biệt, ngay từ khi mới ra đời, Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân đã có ngay một cương lĩnh chính trị, quân sự đúng đắn. Bản cương lĩnh đó chính là Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân do lãnh tụ Hồ Chí Minh soạn thảo. Nội dung bản chỉ thị tuy ngắn gọn nhưng rất súc tích, hàm chứa nhiều vấn đề cơ bản về đường lối quân sự của Đảng, đó là: Vấn đề kháng chiến toàn dân, vấn đề động viên và vũ trang toàn dân, nguyên tắc về xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, phương châm xây dựng và hoạt động của các thứ quân (quân chủ lực, quân địa phương và lực lượng tự vệ rộng khắp), phương thức hoạt động kết hợp quân sự với chính trị của lực lượng vũ trang, nguyên tắc chiến thuật, tác chiến, cách đánh của lực lượng vũ trang bí mật, bất ngờ, tích cực, chủ động, mưu trí và linh hoạt… Đánh giá về văn kiện lịch sử này, tác giả người Nhật Singô Sibata cho rằng: “Những nguyên tắc chỉ đạo cho Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân do cụ Hồ Chí Minh và Đảng Lao động Việt Nam đề ra trước cách mạng 1945 tiêu biểu cho một lý luận độc đáo, phù hợp với những điều kiện riêng của Việt Nam”. Thực tế lịch sử đã chứng minh, Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân không chỉ có giá trị định hướng dẫn dắt mọi hoạt động của Đội mà nó còn đánh dấu bước hoàn chỉnh lý luận xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền ở Việt Nam.
4. Được dẫn dắt bởi một cương lĩnh hành động đúng đắn, dưới sự lãnh đạo của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh, ngay sau ngày thành lập, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã liên tiếp đánh thắng hai trận Phai Khắt và Nà Ngần (Cao Bằng) ngày 24 và 25-12-1944, g.i.ế.t c.h.ế.t hai tên đồn trưởng, bắt sống toàn bộ binh lính địch trong hai đồn, thu toàn bộ vũ khí, quân trang, quân dụng.
Sự xuất hiện bất ngờ của Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân với hai chiến thắng vang dội Phai Khắt, Nà Ngần, đã tác động mạnh mẽ, gây tâm lí hoang mang, lo sợ trong hàng ngũ quân địch, đồng thời cổ vũ tinh thần cách mạng của quân chúng nhân dân, gấp rút chuẩn bị mọi mặt để đón thời cơ vùng dậy đạp đổ xiềng xích của thực dân, phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân.
Sau thắng lợi giòn giã của hai trận Phai Khắt, Nà Ngần, thực hiện phương châm “Chính trị trọng hơn quân sự, tuyên truyền trọng hơn tác chiến”, các cán bộ, chiến sĩ của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã nhanh chóng triển khai công tác vũ trang tuyên truyền. Trước hết Đội tăng cường tuyên truyền đường lối, chính sách của mặt trận để nhân dân hiểu rằng, đã đến lúc cần phải đứng lên đánh đuổi thực dân, đế quốc và khả năng đánh thắng chúng. Sau đó, Đội bắt tay vào xây dựng tổ chức cơ sở chính trị và lực lượng của địa phương. Đội dựa vào cán bộ địa phương theo cách chọn một số thanh niên trung kiên, tiến hành huấn luyện cấp tốc rồi giao công tác, hoặc cho vào Đội để rèn luyện và bồi dưỡng kinh nghiệm rồi trở về địa phương công tác khi cần thiết. Với những hoạt động tích cực, rộng khắp của Đội “đã tạo nên một khu vực có cơ sở cách mạng rộng lớn từ núi rừng Hoà An giáp tỉnh lỵ Cao Bằng cho đến các châu Nguyên Bình, Ngân Sơn, Chợ Rã và vùng phụ cận các triền núi Phia Uắc, Phia Giả, Phia Bióoc; khu vực này trở thành những căn cứ hoàn toàn, tiến có thể lui, đánh có thể giữ, làm bàn đạp phát triển phong trào về phía Nam”.
Như vậy là, sau 14 năm kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và đảm nhiệm vai trò lãnh đạo cách mạng Việt Nam, với tư tưởng chỉ đạo nhất quán phải sử dụng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng, Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã tích cực chỉ đạo xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang từ nhỏ đến lớn, từ thấp đến cao, từ chưa hoàn chỉnh đến hoàn chỉnh. Nếu các đội Tự vệ đỏ trong phong trào cách mạng 1930-1931, Đội du kích Bắc Sơn, rồi các đội Cứu quốc quân, Quân du kích Nam Kỳ…được coi là những hạt giống quân sự đầu tiên của Đảng, giữ vai trò nòng cốt cho phong trào đấu tranh cách mạng ở địa phương, thì sự ra đời và hoạt động của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân trong những ngày đầu mới thành lập là bước nhảy vọt về chất trong tiến trình chuẩn bị lực lượng cách mạng của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh. Từ đây, Đảng ta và cách mạng Việt Nam mới có một đội quân chủ lực vừa làm nhiệm vụ tác chiến, vừa đóng vai trò tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân, dìu dắt các đội vũ trang địa phương thực hành tác chiến, mở rộng khu căn cứ cách mạng, để đến khi thời cơ xuất hiện, chính đội quân chủ lực ấy đã giương cao ngọn cờ khởi nghĩa tiến về xuôi cùng nhân dân cả nước tiến hành Tổng khởi nghĩa làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945./.
St

TẠO SỰ CHUYỂN BIẾN VỀ NHẬN THỨC, SỰ THỐNG NHẤT, ĐỒNG THUẬN CAO VỀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

 Đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng về nội dung tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” (Tác phẩm) của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng góp phần tạo nên sự thống nhất về tư tưởng, ý chí và hành động trong toàn xã hội về chủ nghĩa xã hội (CNXH) và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam hiện nay.

TRIỂN KHAI NGHIÊM TÚC, THỰC CHẤT
Triển khai đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng, tháng 8 vừa qua, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Long tổ chức hội thi cấp tỉnh tìm hiểu tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Hội thi diễn ra sôi nổi với sự tham gia của 27 thí sinh xuất sắc được các huyện ủy, thị ủy, Thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội cấp tỉnh của tỉnh Vĩnh Long tuyển chọn. Mỗi thí sinh trải qua 3 phần thi, gồm: viết bài cảm nhận toàn bộ Tác phẩm hoặc 1 vấn đề trong Tác phẩm; thuyết trình bài cảm nhận và trả lời câu hỏi xử lý tình huống. Kết quả của Hội thi nhằm khuyến khích việc nghiên cứu, tuyên truyền, phổ biến Tác phẩm trong toàn Đảng bộ tỉnh; đồng thời là dịp đánh giá năng lực, trình độ, kỹ năng nghiên cứu, tổng hợp, thuyết trình của đội ngũ cán bộ, đảng viên các cấp. Từ đó, làm cơ sở để các cấp ủy Đảng xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, báo cáo viên, tuyên truyền viên nâng cao trình độ, kỹ năng nghiên cứu, tham mưu, tác chiến phù hợp trong tình hình mới.
Cùng với Tỉnh ủy Vĩnh Long, các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy, đảng đoàn trực thuộc Trung ương đã chỉ đạo cấp ủy trực thuộc tổ chức nghiêm túc đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng này gắn với sinh hoạt chính trị về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, chú trọng liên hệ sâu sắc với thực tiễn cơ quan, đơn vị, nêu cao vai trò, trách nhiệm của mỗi tổ chức, cá nhân, nhất là trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu cấp ủy trong học tập, tuyên truyền triển khai việc thực hiện đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng sâu rộng này. Với nhiều hình thức như sinh hoạt chuyên đề, sinh hoạt định kỳ, hội nghị đảng viên, hội nghị trực tuyến, tọa đàm khoa học, đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng được tổ chức cao điểm, lồng ghép vào dịp kỷ niệm 132 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, 77 năm Cách mạng tháng Tám thành công và Ngày Quốc khánh mùng 2/9; kỷ niệm 105 năm Ngày Cách mạng tháng Mười Nga thành công (7/11); kỷ niệm 78 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22/12 và gắn với các sự kiện chính trị của địa phương, đơn vị. Ban Tuyên giáo Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức tọa đàm khoa học về giá trị Tác phẩm, góp phần làm cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân Thành phố nhận thức sâu sắc hơn những vấn đề lý luận về CNXH, con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Qua đó, nâng cao bản lĩnh chính trị, giữ vững lập trường tư tưởng, kiên định, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý và điều hành của Nhà nước, tạo nên sự thống nhất tư tưởng trong Đảng, ý chí và hành động trong toàn xã hội.
Đảng bộ huyện Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh) là một trong những đảng bộ đi đầu triển khai đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng trong toàn tỉnh. Từ đầu tháng 8/2022, Đảng bộ huyện Cẩm Xuyên đã chọn 3 chi bộ đại diện cho 3 khối (xã, phường; cơ quan; trường học) gồm: Đảng bộ xã Nam Phúc Thăng; Đảng ủy Khối dân; Đảng bộ THPT Cẩm Xuyên tổ chức điểm. Sau tổ chức điểm, Đảng bộ huyện đánh giá, rút kinh nghiệm tiến đến tổ chức đại trà trong tất cả các chi bộ trực thuộc; phân công các đồng chí cấp ủy cấp trên chỉ đạo địa bàn bào theo dõi, đôn đốc và trực tiếp tham dự sinh hoạt tại đơn vị đó. Ngoài ra, Huyện ủy cũng tổ chức một hội nghị thông tin về nội dung, ý nghĩa của Tác phẩm đến cán bộ chủ chốt trong toàn huyện. Để đợt sinh hoạt đạt hiệu quả, Ban Tuyên giáo Huyện ủy Cẩm Xuyên xây dựng trang trình bày nội dung Tác phẩm với hình ảnh bắt mắt, đúc rút thông tin cốt lõi và những nội dung thực tiễn tại Đảng bộ huyện Cẩm Xuyên; gửi về cơ sở trình chiếu trong các buổi sinh hoạt. Đồng thời, hướng dẫn chi tiết cách thức triển khai; gợi mở các nội dung để buổi sinh hoạt được tổ chức đúng trọng tâm, đảm bảo chất lượng.
Tích cực triển khai đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng về nội dung Tác phẩm, các cán bộ, đảng viên trường Chính trị tỉnh Phú Thọ vận dụng nội dung tác phẩm của Tổng Bí thư vào các chuyên đề bài giảng nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy lý luận chính trị của trường và bổ sung kiến thức lý luận chính trị cho học viên. ThS. Nguyễn Thị Thanh Hương, Bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng nhà trường chia sẻ: “Với vai trò, nhiệm vụ nghiên cứu và giảng dạy lý luận chính trị, mỗi cán bộ, giảng viên của nhà trường chính là những người chiến sĩ tiên phong trên mặt trận lý luận; công tác tư tưởng của Đảng. Vì vậy, chúng tôi cần phải nghiên cứu kỹ, hiểu sâu những vấn đề về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam trong tác phẩm của đồng chí Tổng Bí thư để vận dụng thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, đảm bảo tính Đảng, tính chính trị, sự cập nhật, hấp dẫn, lôi cuốn hơn nữa trong mỗi bài giảng lý luận chính trị”.
Tại tỉnh Kon Tum, cấp ủy huyện Tu Mơ Rông chỉ đạo các cơ quan chức năng tích hợp các nội dung trong Tác phẩm vào chương trình giảng dạy tại các cơ sở giáo dục – đào tạo, dạy nghề và bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, giáo viên và học viên. Cấp ủy Huyện Kon Rẫy chỉ đạo Phòng Giáo dục – Đào tạo, Trường Trung học phổ thông Chu Văn An, Trường Phổ thông dân tộc nội trú, Trung tâm chính trị huyện tích hợp nội dung Tác phẩm vào chương trình giảng dạy tại địa phương, đơn vị và bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, giáo viên trên địa bàn.
Ở ngoài nước, nhân kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Italy, trong khuôn khổ Năm Việt Nam – Italy 2023, ngày 30/6/2023, Đại sứ quán Việt Nam tại Italy đã tổ chức tọa đàm bàn tròn “Giới thiệu lý luận về con đường đi lên CNXH của Việt Nam” nhằm trao đổi học thuật, khoa học để chia sẻ và tăng cường hiểu biết lẫn nhau. Buổi tọa đàm có ý nghĩa quan trọng, bổ ích, giúp tăng cường hiểu biết về Việt Nam và con đường xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam lựa chọn, đóng góp vào việc phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Italy.
Đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng về nội dung tác phẩm của Tổng Bí thư được triển khai nghiêm túc, thực chất, tiến hành thường xuyên với nhiều hình thức sáng tạo, hiệu quả, tiết kiệm, gắn với đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, các sự kiện chính trị của đất nước, địa phương, ban, bộ, ngành, cơ quan, đơn vị.
KHẲNG ĐỊNH, LAN TỎA GIÁ TRỊ CỦA TÁC PHẨM VỀ SỰ BỔ SUNG, PHÁT TRIỂN SÁNG TẠO LÝ LUẬN VỀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
Trong đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng, các cơ quan thông tấn, báo chí, cổng thông tin điện tử ở Trung ương và địa phương đã tuyên truyền sâu rộng về nội dung tác phẩm, đặc biệt chú trọng tuyên truyền trên nền tảng mạng xã hội; từ đó, đã ghi nhận được nhiều đánh giá của các học giả, cán bộ, đảng viên về nội dung tác phẩm. Các hoạt động sáng tác văn học, nghệ thuật, phim tài liệu, phim ngắn đã tập trung làm sáng rõ đề tài về CNXH, thành tựu, con đường đi lên CNXH ở Việt Nam và giá trị Tác phẩm đối với cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Với các hình thức, thể loại tác phẩm khác nhau, nhưng tựu chung lại, đều làm nổi bật thông điệp: Tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là một công trình có tầm khái quát lý luận cao, tổng kết thực tiễn sâu sắc về những phát triển sáng tạo riêng có của Đảng ta về mô hình CNXH Việt Nam, trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; trình bày, phân tích, lý giải các vấn đề lý luận và thực tiễn về mô hình CNXH Việt Nam và nội dung, giải pháp để từng bước xây dựng CNXH ở Việt Nam. Tuy đề cập đến những vấn đề lý luận rộng lớn nhưng cách trình bày của tác phẩm lại dung dị, rõ ràng, chắt lọc, lấy tổng kết thực tiễn để minh chứng hết sức thuyết phục. Do vậy, sau hơn 1 năm triển khai đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng, tác phẩm đã có sức cảm hóa, lan tỏa trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Song song với đó, giá trị khoa học của nội dung tác phẩm ngày càng được khẳng định và thấm sâu trong đời sống xã hội. Các hoạt động hội thảo, nghiên cứu khoa học về nội dung tác phẩm của Tổng Bí thư đã góp phần bổ sung, phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những bổ sung, phát triển sáng tạo lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.
Với bài viết “Một số điểm nổi bật trong nhận thức lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam qua Tác phẩm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng”, PGS. TS. Nguyễn Ngọc Hà, Phó Tổng biên tập Tạp chí Cộng sản nhấn mạnh, Tác phẩm thể hiện tầm cao tư tưởng của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong tổng kết, luận giải những vấn đề lý luận rất rộng lớn trên các lĩnh vực, đặc biệt là phân tích, hệ thống hóa, đưa ra những quan điểm, tư tưởng, nhận thức mới về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là đường lối cơ bản, xuyên suốt của Đảng, là nguyên lý thành công của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh. Đi lên CNXH là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu duy nhất đúng để đạt được tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân Việt Nam. Tác phẩm có ý nghĩa vô cùng quan trọng, truyền cảm hứng, khơi dậy khát vọng lớn lao của toàn dân tộc trong thực tiễn phát triển đất nước giai đoạn hiện nay.
Từ góc độ người làm công tác nghiên cứu, giáo dục lý luận chính trị và báo chí, truyền thông, PGS. TS. Mai Đức Ngọc, Học viện Báo chí và Tuyên truyền khẳng định, nội dung cuốn sách đã thực sự mang đến cho chúng ta những bài học có ý nghĩa đặc biệt. Đó là bài học về không ngừng hoàn thiện nhận thức lý luận, bài học về không ngừng bổ sung nhận thức thực tiễn và bài học giáo dục về nhận thức trách nhiệm. Khi gấp cuốn sách lại, hơn bao giờ hết, chúng ta không chỉ cảm thấy khâm phục, tự hào bởi sự đồ sộ của những kiến thức đã được lĩnh hội, mà còn xúc động bởi chính hình ảnh của tác giả đã xuyên suốt từ đầu đến cuối tác phẩm. Ở đó, ta thấy được tấm gương sáng về người lãnh đạo mẫu mực, sống, làm việc và cống hiến đúng bản chất cán bộ của Cụ Hồ. Thiết nghĩ, cuốn sách thực sự sẽ là cẩm nang chỉ hướng cho những cán bộ, đảng viên, những công dân yêu nước phát huy trí tuệ, năng lực của bản thân một cách có hiệu quả trong mọi lĩnh vực công tác, quyết tâm thực hiện thắng lợi con đường mà Đảng ta và Bác Hồ đã lựa chọn xây dựng đất nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên CNXH.
Thông qua đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng này, cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân một lần nữa được thấm nhuần tư tưởng về sự kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sự kế thừa và phát triển, sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn; khẳng định CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam phù hợp với thực tiễn Việt Nam, phù hợp với xu thế thời đại, luôn lấy mục tiêu con người làm trung tâm. Đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng về nội dung tác phẩm đã tiếp thêm niềm tin vững chắc cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trên con đường đi lên CNXH. Đây cũng chính là vũ khí lý luận sắc bén để cán bộ, đảng viên và nhân dân tiếp tục đấu tranh, phản bác với những suy diễn vô căn cứ, chống phá, xuyên tạc những thành tựu mà Việt Nam đạt được trong hơn 35 năm đổi mới đất nước. Từ tổng kết thực tiễn của Việt Nam, Tổng Bí thư đã đóng góp thêm tiếng nói của Việt Nam vào kho tàng lý luận thế giới về CNXH. Điều đó càng khẳng định rằng, sự lựa chọn và kiên định con đường đi lên CNXH là sự lựa chọn, kiên định đúng đắn của lịch sử dân tộc, của nhân dân ta, của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tác phẩm của Tổng Bí thư chính là cơ sở khoa học, luận điểm để phản bác lại các quan điểm sai trái, thù địch về CNXH, con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Kết quả bước đầu của đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng về nội dung tác phẩm của Tổng Bí thư cũng chính là tiền đề quan trọng, góp phần tổng kết lý luận về đường lối đổi mới của Đảng ta trong gần 40 năm qua và tổng kết việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra. Song song với đó,góp phần làm cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân nhận thức sâu sắc hơn những vấn đề lý luận về CNXH, con đường đi lên CNXH ở Việt Nam; nâng cao ý thức, bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng, kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạng toàn diện. Từ đó, củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý và điều hành của Nhà nước, tạo nên sự thống nhất về tư tưởng, ý chí và hành động trong toàn xã hội, tạo ra động lực mới “trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt”, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để thực hiện thắng lợi những mục tiêu chiến lược mà Đạihội XIII của Đảng đề ra, hiện thực hóa ý chí vươn lên, phát triển Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc./.
St

TIẾP TỤC VỮNG BƯỚC TRÊN CON ĐƯỜNG ĐỔI MỚI TOÀN DIỆN, ĐỒNG BỘ ĐỂ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

 Sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo trong gần 40 năm qua đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đây là cơ sở, tiền đề vững chắc, tạo động lực mới, khí thế mới, niềm tin vững chắc để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.

Trong tiến trình tạo dựng cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín của đất nước, Đảng ta đã khởi xướng và trực tiếp lãnh đạo triển khai sự nghiệp đổi mới với những đường lối, định hướng, chủ trương hết sức đúng đắn, sáng tạo, đem lại thành quả vô cùng to lớn. Gần 40 năm qua, công cuộc đổi mới đã thực sự gắn bó với vận mệnh dân tộc, vận mệnh đất nước, gắn bó với mỗi người chúng ta và được bạn bè quốc tế quan tâm đến như một lẽ đương nhiên. Không phải bây giờ mà trong quá trình cách mạng, chúng ta luôn thực hiện sự đổi mới. Có điều, công cuộc đổi mới lần này mang tính toàn diện, tổng thể, sâu sắc, được chuẩn bị và tiến hành có bài bản. Ở đây, phải định rằng, sự nghiệp đổi mới đất nước là công việc của chúng ta, theo cách thức và bước đi của ta; là công cuộc sáng tạo mang tính tất yếu và công cuộc đó phải được triển khai một cách sâu rộng và đồng bộ, nhưng vì nó còn mới mẻ nên phải cân nhắc từng đường đi nước bước cụ thể, chắc chắn.
Đổi mới vừa là sự thay thế cái cũ, vừa là sự chọn lựa cái cũ, cái hiện đang còn phù hợp để cải biến cho nó trở nên thích ứng và hữu dụng hơn. Đổi mới có thể coi là một sự phủ định biện chứng: “không bao giờ phủ định sạch trơn và không bao giờ quay lại cái cũ”. Đổi mới để phát triển, đồng nghĩa với phát triển, nhưng là sự phát triển trong thế ổn định, sự phát triển theo đúng định hướng và con đường đúng đắn mà chúng ta đã chọn. Trong quá trình ấy, có người khuyên ta cần tư nhân hóa nhanh hơn, mạnh hơn trong mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội; cần hội nhập và hòa nhập với quốc tế mạnh hơn, sâu hơn, toàn diện hơn. Lời khuyên đó dẫu có chân thành thì chúng ta cũng không thể làm như thế. Bởi vì, hơn ai hết, chúng ta hiểu rõ tình hình thực tế của đất nước mình, và đặc biệt quan trọng là chúng ta thực hiện đổi mới nhưng có nguyên tắc, đổi mới nhưng không thay đổi bản chất chế độ xã hội. Đổi mới là thực hiện bước chuyển từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường, nhưng trong khi thực hiện cơ chế thị trường, Nhà nước phải quản lý và điều hành theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục tình trạng thả nổi thị trường; đổi mới để phát triển kinh tế, nhưng sự phát triển đó phải đi đôi với thực hiện công bằng xã hội, khắc phục tình trạng phân hóa giàu nghèo. Đổi mới có yêu cầu và gắn với mở cửa, hội nhập; đổi mới có yêu cầu và gắn với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Toàn bộ công cuộc hội nhập - mở cửa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là để thực hiện chiến lược phát triển nhanh và bền vững; xây dựng và tăng cường lực lượng sản xuất, củng cố và phát triển quan hệ sản xuất phù hợp; nâng tầm đất nước lên trình độ mới, tầm cao mới. Vậy nên đổi mới chính là để hướng tới chủ nghĩa xã hội, để hiện thực quá độ lên chủ nghĩa xã hội ngày càng được xác lập rõ ràng hơn.
Đổi mới và cải cách có cùng nội dung hướng tới cái mới, cái tốt đẹp hơn. Nhưng, cải cách thường được hiểu là những hành động nhất định, những cuộc vận động nhất định nhằm đạt những mục tiêu nhất định. Khi những hành động cải cách ấy, những cuộc vận động cải cách ấy đã đạt tới mục tiêu đề ra thì phải có hành động cải cách mới, cuộc vận động cải cách mới. Còn đổi mới, theo cách hiểu của chúng ta, do bản chất và tính tất yếu của nó, lại là một quá trình lâu dài. Đổi mới như một dòng chảy liên tục, vận động liên tục của cả guồng máy xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng, phát động và lãnh đạo, tổ chức thực hiện. Các kỳ đại hội, từ Đại hội VII đến Đại hội XIII và chắc chắn cả Đại hội XIV tới đây của Đảng cũng sẽ khẳng định tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới để đưa đất nước đi lên. Lời hiệu triệu đó rất phù hợp với yêu cầu của thực tiễn và ý nguyện của nhân dân.
Quá trình đổi mới là quá trình chuyển biến to lớn và thiết thực. Đổi mới tư duy đã khắc phục được những nhận thức lệch lạc, nhất là bệnh giáo điều, chủ quan duy ý chí; từng bước hình thành những quan niệm mới về mục tiêu, bước đi và cách thức phát triển đất nước, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, quản lý xã hội. Công cuộc đổi mới đã giải phóng sức sản xuất, củng cố và tăng cường quan hệ sản xuất mới, đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng của một nước có thu nhập thấp; đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể, ổn định chính trị - xã hội được bảo đảm, định hướng xã hội chủ nghĩa được giữ vững, vai trò lãnh đạo của Đảng được tăng cường, quốc phòng, an ninh được củng cố vững chắc, quan hệ hợp tác quốc tế ngày càng được mở rộng và đẩy mạnh thêm.
Chính đổi mới đã đưa nước ta từ chỗ phải nhập lương thực, nay trở thành nước xuất khẩu gạo đứng nhất nhì thế giới. Chưa bao giờ nhịp độ phát triển và đổi thay từ nông thôn tới thành thị, từ miền núi đến đồng bằng lại nhanh chóng, mạnh mẽ như hiện nay. Cũng chưa bao giờ phong cách sống và làm việc của mọi gia đình và mọi người dân lại có những nét mới mẻ, tươi tắn như hôm nay. Đổi mới đã giúp chúng ta vừa kế thừa và phát huy những thành quả tốt đẹp đã đạt được trước đây, vừa có cách nghĩ, nghe, nhìn và làm khác trước, phù hợp với tình hình đang phát triển. Đổi mới đã đem đến một sức vóc mới cho đất nước, tiếp sức đôi chân chúng ta đi thêm những bước dài, vững chắc trên con đường hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Qua 37 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành, phát triển; chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; văn hóa - xã hội có bước phát triển; bộ mặt đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng; đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị được đẩy mạnh. Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững; quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao.
Báo cáo Chính trị Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Nhìn lại 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa. Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân vượt qua mọi khó khăn, thách thức tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ, phát triển bền vững đất nước”1. Những thành tựu đó tạo tiền đề quan trọng để nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển trong những năm tới; khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử.
Cội nguồn của những thành tựu trên là do Đảng ta có đường lối đổi mới đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, được nhân dân ủng hộ, tích cực thực hiện. Đảng ta nhận thức, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam; có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, nhạy bén, sáng tạo, kịp thời đưa ra những chủ trương, quyết sách phù hợp cho từng giai đoạn cách mạng, khi tình hình thế giới và trong nước thay đổi. Đông đảo cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân đã nỗ lực phấn đấu, tận dụng thời cơ, vượt qua khó khăn, thách thức, thực hiện đường lối đổi mới. Sự nghiệp đổi mới được bàn bè quốc tế ủng hộ, hợp tác, giúp đỡ.
Tuy nhiên, trong tiến trình đi lên, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, chúng ta không quên rằng đất nước mình vẫn còn nghèo, sự phát triển của nền kinh tế chưa vững chắc, hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp, còn nhiều yếu tố chưa bảo đảm tăng trưởng cao và lâu bền, còn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định. Rõ ràng là phía trước của chúng ta không chỉ có thời cơ và thuận lợi mà còn phải đối mặt với những khó khăn và thách thức đan xen. Điều này đã làm nảy sinh những băn khoăn, lo lắng về chặng đường tiếp theo của công cuộc đổi mới đất nước. Bên cạnh đó, một số phần tử bất mãn, cơ hội và các thế lực thù địch đưa ra những luận điệu đả kích, chống phá trắng trợn sự nghiệp đổi mới của chúng ta; luận điệu thâm độc nhất là: “Đổi mới đã hết thời, đã không còn động lực và cạn kiệt hết nguồn lực. Vậy nên, đất nước không thể tiếp tục đổi mới nữa,...”. Tình hình đó đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị cần nhận thức đúng cả thời cơ và thách thức để không bị rơi vào các trạng thái tự mãn, chủ quan hoặc bi quan thái quá. Trên cơ sở đó, xây dựng quyết tâm, niềm tin, khát vọng tiếp tục đẩy mạnh đổi mới toàn diện, đồng bộ để phát triển đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc bằng cả kinh nghiệm thực tiễn và những luận cứ khoa học.
Theo đó, nếu chúng ta quan niệm động lực, nguồn lực là những yếu tố tạo nên sức mạnh thúc đẩy sự phát triển, thì động lực bảo đảm cho sự đổi mới liên tục bao gồm nhiều yếu tố có thể nhận biết rất rõ sau:
Một là, yếu tố khơi nguồn động lực của đổi mới chính là việc định hướng đúng, phát động đúng thời điểm. Chúng ta xác định đổi mới phải theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Định hướng đúng đắn cho sự nghiệp đổi mới vừa hợp thời, hợp quy luật, hợp lòng dân, tạo nên sự chắc chắn, vững tin. Chuẩn bị kỹ và phát động đổi mới đúng lúc, đồng thời với mở cửa hội nhập nên chúng ta có thể chủ động và sáng tạo trong mọi tình huống, đã đứng vững và phát triển trong khi cải cách ở Liên Xô và Đông Âu bị thất bại.
Hai là, những thành quả của đổi mới tiếp thêm luồng sinh khí mới, tăng thêm động lực, tạo cho đất nước ta thế mới, lực mới, gia tốc mới. Thế mới và lực mới là tổng hợp những thành tựu to lớn về kinh tế - xã hội; là kết quả của việc phát triển mọi mặt với sự thông thoáng trong nước và mở rộng quan hệ hợp tác với bên ngoài. Gia tốc mới là khả năng vượt trội, là độ tăng trưởng liên tục ở mức khá cao tạo đà cho giai đoạn kế tiếp. Thế mới, lực mới, gia tốc mới tạo ra tầm vóc và khả năng mới của đất nước. Đó không chỉ là khả năng đất nước vươn tầm mà còn là năng lực mới mạnh mẽ để tiếp tục thúc đẩy sự nghiệp đổi mới phát triển. Đổi mới được nạp thêm năng lượng mới.
Ba là, yếu tố quyết định là động lực và những nguồn lực trong nước. Động lực quan trọng phục vụ và thúc đẩy công cuộc đổi mới là tổng hợp các nguồn lực trong nước, bao gồm không chỉ có vốn, tài sản đã tích lũy được mà còn là tài nguyên chưa đưa vào sử dụng; là lợi thế về địa kinh tế, địa chính trị và quan trọng hơn hết là nguồn lực con người, bao gồm cả sức lao động trí tuệ và sức mạnh tinh thần gắn với truyền thống văn hóa của dân tộc ta. Trong các nguồn lực đó, nguồn lực về tài nguyên là khá phong phú; nguồn lực về đất đai, vị trí địa lý là khá thuận lợi; nguồn lực về truyền thống là sâu sắc, đặc thù; nguồn lực về con người và trí tuệ vô cùng to lớn.
Bốn là, những nguồn lực từ bên ngoài -một yếu tố quan trọng mà nếu biết cách tranh thủ cũng sẽ tạo nên động lực cho công cuộc đổi mới đất nước. Nguồn lực bên ngoài bao gồm: vốn, kỹ thuật - công nghệ, kinh nghiệm quản lý, chất xám, tinh hoa văn hóa nhân loại. Trên cơ sở phải phát huy mọi nguồn lực trong nước, chúng ta có đầy đủ điều kiện để có thể thu hút nguồn lực bên ngoài. Với việc mở rộng nhiều hình thức, có bước đi, biện pháp và chính sách ưu đãi thích hợp, chúng ta nhất định khuyến khích mạnh mẽ việc hợp tác về kinh tế, văn hóa, khoa học, kỹ thuật, công nghệ; đặc biệt là thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào nước ta trên cơ sở đôi bên cùng có lợi.
Năm là, sự phù hợp giữa ý Đảng và lòng dân. Đây là động lực mang tính quyết định đối với sự nghiệp đổi mới. Động lực đó bắt nguồn từ năng lực sáng tạo, bản lĩnh trí tuệ của Đảng ta và nhân dân ta, thể hiện ở trình độ đoán định, nắm bắt những yếu tố và những vấn đề của thời cuộc, dự kiến đúng tình huống, xác định đường đi nước bước rõ ràng, sẵn sàng tạo lập và nắm bắt thời cơ, khắc phục nguy cơ, vượt qua thách thức đưa đất nước đi lên. Do đổi mới là sự phù hợp giữa ý Đảng và lòng dân nên khi Đảng ta phát động, nhân dân nhiệt tình hưởng ứng, tạo thành động lực to lớn thực hiện có hiệu quả sự nghiệp đổi mới đất nước.
Rõ ràng công cuộc đổi mới của chúng ta không chỉ đạt được những thành tựu to lớn qua gần 40 năm thực hiện, mà còn tiếp tục được đẩy mạnh với những nguồn lực phong phú và hết sức to lớn, trong đó có những nguồn lực không bao giờ cạn. Hành trình đổi mới với sự phù hợp giữa ý Đảng và lòng dân đã và đang kết hợp tất cả ba yếu tố: thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Đó là động lực lớn nhất, là yếu tố cơ bản nhất để chúng ta tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ, tạo nên khả năng thành công của sự nghiệp cao cả trọng đại: xây dựng đất nước ta giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội./.
St

 A. YERSIN - NHÀ KHOA HỌC NỔI TIẾNG NẶNG TÌNH VỚI VIỆT NAM

Bác sĩ A.Yersin gắn bó với mảnh đất Nha Trang như chính quê hương ruột thịt của mình. Đáp lại, người dân nơi này cũng thường trìu mến gọi ông là Ông Năm, theo cách gọi thân thiết của người Việt Nam.

Suốt bao năm qua những đóng góp của bác sĩ A.Yersin vẫn luôn được chính quyền và người dân địa phương ghi nhớ và tôn vinh, cộng đồng xã hội cũng thường xuyên có các hoạt động, lan tỏa tinh thần nhân văn cao cả của ông.

Rất nhiều câu chuyện kể lại đã cho thấy sự hiện diện và gắn bó với mảnh đất Nha Trang từ rất sớm của bác sĩ A.Yersin. Ông có tên đầy đủ là Alexandre Emile John Yersin, sinh ngày 22/9/1863 tại miền Đông tổng Vaud, hạt Lavaux, tỉnh Morges, Thụy Sĩ.

Từ khi 15 tuổi, A.Yersin đã có khuynh hướng thiên về khoa học tự nhiên, đặc biệt là yêu thích sưu tầm, tìm hiểu các loại côn trùng. Những dấu ấn sở thích từ thuở ấu thơ đã thể hiện rất rõ trong sự nghiệp khoa học của A.Yersin sau này.

Ở tuổi 25, A.Yersin nhận văn bằng Tiến sĩ Y khoa, với luận án Étude sur le Développement du Tubercule Expérimental (Nghiên cứu về sự phát triển của bệnh lao bằng thực nghiệm) có nhiều giá trị thực tiễn. Ông gia nhập Viện Pasteur ở Paris; là một trong những học trò xuất sắc của nhà bác học lỗi lạc Louis Pasteur.

Làm công việc nghiên cứu khoa học, nhưng những chuyến đi, và những tấm bản đồ về Đông Dương đầy huyền bí đã khơi dậy trong ông niềm đam mê thám hiểm, muốn khám phá những vùng đất mới mẻ.

Và, khi biết chắc không thể thuyết phục A.Yersin ở lại Paris, chính Louis Pasteur đã viết thư cho Công ty Vận tải Hàng hải Messageries Maritimes đề cử A.Yersin làm bác sĩ trên tàu vận tải.

Như một cơ duyên, cả những chuyến đi, chuyến về, con tàu của A.Yersin đều dừng lại ở Nha Trang, một vịnh biển hoang dã, yên tĩnh và đầy nắng. A.Yersin nhanh chóng bị mảnh đất này mê hoặc.

Trong nhật ký của mình, ông dành cho Nha Trang bao nhiêu là mỹ từ, trìu mến như “vùng này có nhiều núi non và phong cảnh rất ngoạn mục”, “màu sắc tươi đẹp của một vùng nhiệt đới, khí hậu vô cùng dễ chịu”...

Tháng 7/1891, A.Yersin xin thôi việc ở Công ty Vận tải Hàng hải Messageries Maritimes, quyết định ở lại với Nha Trang. Ông cho dựng một ngôi nhà gỗ ở Xóm Cồn, nay thuộc phường Xương Huân, thành phố Nha Trang, vừa nghiên cứu khoa học vừa khám, chữa bệnh miễn phí cho người nghèo ở đây.

Tôi đến thăm Bảo tàng A.Yersin ở số 10 đường Trần Phú, Nha Trang. Trong căn phòng rộng chừng 100m2 còn lưu giữ khoảng 1.200 hiện vật, gồm sách, những đồ vật thân thiết và thư từ, bút tích của bác sĩ A.Yersin trong suốt hành trình hơn 50 năm cống hiến cho sự nghiệp nghiên cứu, phát triển nền y học thế giới.

Có điều rất đặc biệt là từ nhiều năm nay, không ít người đã tìm đến Nha Trang, thăm bảo tàng mang tên A.Yersin, như một cách thể hiện lòng biết ơn đối với một người từng được coi là “cứu tinh của nhân loại”, khi ông tìm ra trực khuẩn dịch hạch vào năm 1894, giúp nhân loại chặn đứng đại dịch “cái chết đen” hãi hùng thời đó.

Ghi nhớ công lao của ông, vi khuẩn gây dịch hạch được đặt tên là Yersinia pestis. Và, với kỳ tích tìm ra vi trùng dịch hạch, nghiên cứu bào chế thuốc điều trị và phòng bệnh dịch hạch, ông được Chính phủ Pháp tặng thưởng Huân chương Bắc đẩu bội tinh.

Đến hôm nay, nhiều người vẫn truyền nhau những câu chuyện về Ông Năm trong những ngày sống ở Xóm Cồn. Đó là chuyện ông khám, chữa bệnh miễn phí cho người nghèo; chuyện người dân đến hỏi ông về tình hình thời tiết trước mỗi chuyến ra khơi, chuyện những trẻ em Xóm Cồn thường đến nhà ông chơi để được xem chiếu bóng, ăn bánh kẹo, học nói tiếng Pháp…

Trong hồi ký của mình, bác sĩ Kiều Xuân Cư, sinh năm 1919, kể rằng, trước năm 1942, ông cùng những người bạn học ở Trường tiểu học Phủ Diên Khánh thường xuống Nha Trang tắm biển ngày hè.

Có lần, Ông Năm dẫn cả nhóm lên sân thượng, ngắm mặt trời qua kính viễn vọng.

Chuyện kể, cũng nhờ kính thiên văn và một số thiết bị khác, giữa tháng 11/1939, Ông Năm dự báo có bão lớn nên vận động người dân Xóm Cồn đến nhà ông trú tránh an toàn.

Sau sự kiện đó, người dân Xóm Cồn gọi Ông Năm là “nhà tiên tri”, khi ông mất, đến mùa biển động, bà con khấn xin Ông Năm phù hộ, độ trì cho dân lành đi biển tai qua nạn khỏi.

Theo Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Nguyễn Thị Thế Trâm, nguyên Viện trưởng Viện Pasteur Nha Trang, không chỉ có công sáng lập Viện Pasteur Nha Trang, bác sĩ A.Yersin còn có đóng góp quan trọng trong việc thành lập các Viện Pasteur ở Hà Nội, Đà Lạt cũng như quản lý hệ thống Viện Pasteur ở Đông Dương.

Tháng 9/1990, Bộ Văn hóa-Thông tin ban hành quyết định xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia gồm các hạng mục: Thư viện, Bảo tàng A.Yersin trong khuôn viên Viện Pasteur Nha Trang; chùa Linh Sơn Pháp Ấn tại Suối Cát và Khu lăng mộ A.Yersin tại Suối Dầu.

Đến tháng 3/2023, nơi ở và làm việc của A.Yersin trên đỉnh Hòn Bà được bổ sung vào cụm Di tích lịch sử A.Yersin.

Cho tới nay, Ông Năm là người nước ngoài đầu tiên, duy nhất được nhân dân Nha Trang-Khánh Hòa tôn thờ trong chùa sau khi mất và được công nhận là Công dân Việt Nam danh dự.

Ghi nhớ công ơn ông, năm 1990 tỉnh Khánh Hòa cho phép thành lập Ban vận động Hội Những người ái mộ A.Yersin do Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Nguyễn Thị Thế Trâm, Viện trưởng Viện Pasteur Nha Trang làm trưởng ban vận động. Tháng 11/1992, Hội Những người ái mộ A.Yersin tỉnh Khánh Hòa được thành lập.

Một trong những điểm nhấn hoạt động Hội là thành lập Phòng khám miễn phí A.Yersin.

Ngay sau khi thành lập, Phòng khám được các nhà khoa học, các thầy thuốc giàu nhiệt huyết và nhiều tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài chung tay xây dựng tổ chức, nhân sự và tài trợ để duy trì và phát triển hoạt động.

Đến nay, qua 30 năm hoạt động, Phòng khám bệnh từ thiện A.Yersin đã khám và cấp phát thuốc miễn phí cho gần 150.300 lượt bệnh nhân, tính bình quân trị giá 150.000 đồng/đơn; tổ chức khám lưu động 9.960 lượt cho đồng bào dân tộc vùng sâu, vùng xa.

A.Yersin mất ngày 1/3/1943, tại Nha Trang. Trong di chúc, ông viết: “Khi tôi chết, tôi ước muốn được chôn cất ở Suối Dầu... Hãy giữ tôi lại với Nha Trang, đừng cho ai lấy tôi đi”. Có chi tiết cảm động nữa là trong di chúc, ông đề nghị được chôn nằm úp xuống, như thể muốn ôm trọn mảnh đất đã quá nặng ân tình, không thể rời xa.

Hơn 50 năm gắn bó với Nha Trang-Khánh Hòa, bác sĩ A.Yersin đã để lại vùng đất này nhiều di sản. Trong những năm qua, ngành du lịch Khánh Hòa đã nỗ lực đưa các di sản của ông vào phục vụ du lịch. Chẳng hạn như Chi hội Lữ hành Khánh Hòa mở tour du lịch “Theo dấu chân bác sĩ A.Yersin”.

Nhưng, các đơn vị lữ hành cho rằng, tour du lịch về di sản văn hóa gắn với bác sĩ A.Yersin rất “kén” khách, bởi du khách quốc tế và Việt Nam chưa biết nhiều về A.Yersin.

Mới đây, sáng 22/9, Hội Những người ái mộ A.Yersin tổ chức lễ kỷ niệm 160 năm Ngày sinh của ông.

Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa Lê Hữu Hoàng trân trọng tri ân bác sĩ A.Yersin, người đã đến với Nha Trang, ở lại với đất và người Khánh Hòa với một tình cảm đặc biệt. Tỉnh Khánh Hòa đang chuẩn bị triển khai thực hiện dự án xây dựng mới Bảo tàng A.Yersin tại khuôn viên trước đây là nhà làm việc của bác sĩ A.Yersin./.


 CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG LĨNH VỰC LÂM NGHIỆP

Ứng dụng công nghệ số trong lĩnh vực lâm nghiệp đã và đang tạo điều kiện thuận lợi trong việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Đây cũng là yêu cầu tất yếu, bảo đảm sự minh bạch về xuất xứ, nguồn gốc lâm sản thông qua công nghệ số, đáp ứng ngày càng tốt đòi hỏi của thực tiễn hội nhập và phát triển trong giai đoạn kinh tế số hiện nay.

Để chỉ đạo xây dựng và thực hiện kế hoạch chuyển đổi số ngành lâm nghiệp, ngày 9/10/2023, Cục Lâm nghiệp đã ban hành Quyết định số 227/QĐ-LN-CĐS thành lập Ban Chỉ đạo chuyển đổi số trong lĩnh vực lâm nghiệp.

Ban sẽ chịu trách nhiệm chỉ đạo xây dựng và thực hiện kế hoạch chuyển đổi số của ngành; tập trung rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật trong các lĩnh vực lâm nghiệp đáp ứng yêu cầu phát sinh trong tiến trình chuyển đổi số; xây dựng chương trình, đề án, quy hoạch, kế hoạch, chiến lược lồng ghép nội dung về chuyển đổi số lĩnh vực lâm nghiệp.

Bên cạnh đó, Ban cũng chỉ đạo xây dựng hệ thống dữ liệu chuyên ngành; ứng dụng công nghệ số trong hoạt động chỉ đạo điều hành và phát triển sản xuất lĩnh vực lâm nghiệp.

Để thực hiện nhiệm vụ do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giao, Cục Lâm nghiệp đã ban hành Kế hoạch chuyển đổi số năm 2023, theo đó, mục tiêu của ngành là hoàn thành danh mục cơ sở dữ liệu chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý và ban hành được kế hoạch, lộ trình cụ thể để xây dựng, triển khai các cơ sở dữ liệu trong danh mục; nâng cấp, cải tiến hệ thống thông tin quản lý ngành (FORMIS) nhằm đáp ứng các yêu cầu về cấu trúc, chuẩn hóa dữ liệu, bảo đảm cho việc cài đặt, tích hợp, kết nối các phần mềm, các ứng dụng chuyên ngành; thiết lập hệ thống cơ sở dữ liệu tập trung, thực hiện quản lý dữ liệu trên hệ thống FORMIS…

Theo ông Phạm Hồng Lượng, Phó Chánh Văn phòng Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững (Cục Lâm nghiệp), chuyển đổi số đang đặt ra nhiệm vụ khá nặng nề cho ngành lâm nghiệp. Với kế hoạch này, ngành xác định các lộ trình triển khai để đáp ứng mục tiêu chung của quốc gia về chuyển đổi số. Đặc thù rừng Việt Nam trải dài từ bắc chí nam, chủ yếu ở vùng núi cao, hiểm trở nên việc ứng dụng công nghệ số có nhiều khó khăn.

Bên cạnh đó, với diện tích rừng hơn 14 triệu ha, do nhiều đối tượng khác nhau đang quản lý, sử dụng (doanh nghiệp, tổ chức, các hộ gia đình, hợp tác xã, cộng đồng…), nên ứng dụng công nghệ rất nan giải, trong đó chưa kể đến khó khăn trong việc tiếp cận đối tượng sử dụng, cơ sở hạ tầng...

Phó Viện trưởng Viện Công nghiệp rừng (Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam) Nguyễn Đức Thành cho rằng, thời gian gần đây, theo chỉ đạo của Chính phủ và để đáp ứng nhu cầu chung của chuyển đổi số quốc gia, ngành lâm nghiệp đã và đang đẩy mạnh chuyển đổi số.

Đến nay, Cục Kiểm lâm đã triển khai ứng dụng dự báo cháy rừng, ứng dụng trong phân cấp nguy cơ cháy rừng. Việc cảnh báo tự động sẽ giảm thiểu thiệt hại xảy ra do cháy. Các đơn vị quản lý rừng của ngành lâm nghiệp cũng đã ứng dụng hệ thống thông tin địa lý và viễn thám trong quản lý tài nguyên rừng bền vững.

Bên cạnh đó, nhiều hoạt động như xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên rừng, thực vật, lâm sản ngoài gỗ cũng đã tham gia kế hoạch chuyển đổi số…

Về đóng góp của chuyển đổi số trong phát triển, bảo vệ rừng, Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam đã cùng ngành lâm nghiệp triển khai xây dựng cơ sở dữ liệu về bảo tồn, giống cây trồng, thương mại, dự báo cháy rừng… từ đó, lập kế hoạch, xây dựng kế hoạch, chiến lược đáp ứng yêu cầu nhanh hơn, tốt hơn.

Đáng chú ý, Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam đã xây dựng phần mềm số hóa quản lý và truy xuất gỗ hợp pháp; xây dựng cơ sở dữ liệu về tài nguyên rừng, tài nguyên về gỗ và lâm sản phục vụ giám định. Trước đây, việc giám định mẫu gỗ mất khoảng 2-3 ngày. Hiện nay, với chuyển đổi số và công nghệ hỗ trợ, việc giám định đã giảm xuống chỉ 10-15phút/mẫu.

Chuyển đổi số cũng đang được tiến hành tại 34 vườn quốc gia, 60 khu bảo tồn thiên nhiên và hai khu bảo vệ cảnh quan thuộc Cục Lâm nghiệp quản lý. Giám đốc Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà (tỉnh Lâm Đồng) Lê Văn Hương cho biết, đơn vị đã sử dụng hiệu quả công nghệ viễn thám để phát hiện sớm mất rừng và suy thoái rừng.

Vườn quốc gia cùng các nhà khoa học của Trường đại học Lâm nghiệp đã tạo ra các thuật toán để thu ảnh, viết ra các phần mềm để sử dụng nội bộ. Cán bộ quản lý đơn vị thông qua điện thoại có thể cập nhật diễn biến tài nguyên rừng của hơn 70.000 ha rừng đang quản lý.

Phần mềm này sẽ ghi nhận toàn bộ quá trình tuần tra trong rừng, có tác dụng đánh dấu diễn biến trong rừng đến từng gốc cây. Bên cạnh đó, Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà cũng sử dụng phần mềm để quản lý những động vật quý hiếm.

Tương tự, hiện nay các vườn quốc gia: Cúc Phương, Bạch Mã, Pù Mát, Cát Bà, Bù Gia Mập… cũng đã áp dụng công nghệ số trong việc quản lý rừng và động vật quý hiếm, góp phần hiệu quả trong công tác bảo vệ rừng.

Với những quy định mới của EU về truy xuất nguồn gốc lâm sản hợp pháp, sản xuất nông sản không xâm hại, gây mất rừng, ngành lâm nghiệp đang gặp khó khăn trong việc phân định diện tích rừng với diện tích trồng cà-phê, cao-su.

Để thích ứng với Quy định chống phá rừng (EUDR), ngành lâm nghiệp phải quan tâm tới cơ sở dữ liệu để xác định chỉ dẫn địa lý; có các dữ liệu nền tảng để so sánh, đối chiếu và biết chính xác được diện tích, các diễn biến của quá trình chuyển đổi, sản xuất, thương mại nhằm minh bạch được quá trình sản xuất.

Do đó, ứng dụng chuyển đổi số trong quản trị rừng ngoài việc cung cấp thông tin chi tiết và chính xác vị trí của từng khoảnh rừng, lô đất của khu vực sẽ góp phần bảo vệ rừng tốt hơn và minh bạch hóa trong quá trình sản xuất lâm nghiệp.

Đẩy mạnh chuyển đổi số đi đôi với phổ biến, tập huấn cũng sẽ giúp các chủ rừng là hợp tác xã, cộng đồng dân cư, doanh nghiệp dễ tương tác và tiếp cận được nhiều thông tin, các tiện ích mà chuyển đổi số mang lại./.

 BỒI ĐẮP TÌNH HỮU NGHỊ VÀ TĂNG CƯỜNG HỢP TÁC VIỆT NAM - CAMPUCHIA

Với phương châm “láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài”, quan hệ Việt Nam-Campuchia thời gian qua tiếp tục phát triển sâu rộng và đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Trên cơ sở đó, hai bên đang nỗ lực thúc đẩy hợp tác thực chất và hiệu quả hơn nữa nhằm mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước.

Trong những năm qua, quan hệ chính trị Việt Nam-Campuchia tiếp tục được duy trì vững chắc, đóng vai trò định hướng quan hệ hai nước. Các chuyến thăm, các cuộc tiếp xúc và trao đổi giữa lãnh đạo cấp cao hai nước được duy trì dưới nhiều hình thức.

Hai bên tổ chức thành công cuộc gặp giữa Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam và Ban Thường vụ Đảng Nhân dân Campuchia (CPP). Việt Nam và Campuchia cũng phối hợp Lào tổ chức cuộc gặp giữa ba người đứng đầu ba đảng tại Hà Nội, cuộc ăn sáng làm việc giữa ba Thủ tướng nhân dịp Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 43 tại Indonesia.

Quan hệ giữa các bộ, ngành, địa phương hai nước cũng được duy trì. Các cơ chế hợp tác song phương, như Ủy ban hỗn hợp về Hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học và kỹ thuật, Hội nghị hợp tác và phát triển các tỉnh biên giới…, tiếp tục phát huy hiệu quả.

Hợp tác quốc phòng, an ninh là một trụ cột quan trọng trong quan hệ hai nước; ngày càng được thúc đẩy, góp phần bảo đảm ổn định, an toàn, an ninh biên giới.

Hai bên cũng phối hợp chặt chẽ triển khai thành quả phân giới cắm mốc 84% đường biên giới trên đất liền và tích cực trao đổi để giải quyết 16% còn lại.

Bên cạnh đó, các lĩnh vực hợp tác như giáo dục, giao thông, vận tải, văn hóa, xã hội, du lịch, khoa học, kỹ thuật... tiếp tục được hai bên quan tâm thúc đẩy.

Hợp tác kinh tế thương mại, đầu tư giữa hai nước những năm qua đạt được nhiều thành tựu.

Việt Nam hiện là đối tác thương mại lớn thứ ba của Campuchia trên thế giới và là đối tác thương mại lớn nhất của Campuchia trong ASEAN.

Kim ngạch thương mại song phương 9 tháng đầu năm 2023 đạt 6,5 tỷ USD. Việt Nam đứng đầu trong ASEAN và nằm trong nhóm năm nước có đầu tư trực tiếp lớn nhất tại Campuchia. Việt Nam hiện có 205 dự án đầu tư còn hiệu lực ở Campuchia với tổng vốn đăng ký đạt 2,94 tỷ USD.

Tại các cuộc gặp, tiếp xúc giữa lãnh đạo cấp cao và các cấp, trong các cơ chế hợp tác giữa hai nước gần đây, hai bên thông tin cho nhau về tình hình mỗi nước, cũng như những bước phát triển tốt đẹp trong quan hệ Việt Nam-Campuchia.

Đều nhận định rằng còn nhiều tiềm năng để thúc đẩy hợp tác hơn nữa, hai nước nhất trí triển khai hiệu quả các thỏa thuận đã ký kết; đẩy mạnh kết nối hai nền kinh tế; tăng cường hợp tác quốc phòng, an ninh.

Hai bên nhất trí thúc đẩy hợp tác hơn nữa trong các lĩnh vực giao thông, du lịch, nông-lâm-ngư nghiệp..., cũng như giữa các địa phương hai nước.

Trong Năm Hữu nghị Việt Nam-Campuchia 2022, hai bên tổ chức thành công nhiều hoạt động ý nghĩa, thiết thực kỷ niệm 55 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước (24/6/1967-24/6/2022).

Với những thành quả đã đạt được, hai bên nhất trí tăng cường giao lưu nhân dân nhằm tiếp tục bồi đắp và nâng cao nhận thức của nhân dân hai nước, nhất là thế hệ trẻ, về quan hệ láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài Việt Nam-Campuchia.

Cùng với đẩy mạnh hợp tác trong khuôn khổ song phương, hai bên nhất trí phối hợp chặt chẽ, ủng hộ lẫn nhau tại các tổ chức, diễn đàn khu vực và quốc tế, như Liên hợp quốc, ASEAN…, cũng như các cơ chế hợp tác tiểu vùng sông Mê Công.

Việt Nam đã phối hợp và ủng hộ Campuchia đảm nhiệm thành công vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2022.

Hai bên tiếp tục chung tay xây dựng Cộng đồng ASEAN đoàn kết, độc lập, tự cường và thịnh vượng; thúc đẩy hợp tác đa phương giữa hai nước đóng góp tích cực vào hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực và thế giới, đồng thời góp phần nâng cao uy tín và vị thế của mỗi nước trên trường quốc tế./.


 KHÔNG LÀM NGƠ TRƯỚC BIỂU HIỆN SUY THOÁI "THÍCH ĐƯỢC ĐỀ CAO, CA NGỢI"

Cổ kim đông tây từng đúc kết, những người có chức sắc, vị thế xã hội mà bỏ ngoài tai những lời trung thực, khảng khái và lại ưa thích những lời người khác tâng bốc, tung hô, nịnh nọt mình thì rất dễ bị ảo tưởng về quyền lực, từ đó có những hành xử thiếu minh mẫn, nhân văn. Nếu thời xưa, người dân luôn “dị ứng” và oán ghét những tên quan nịnh thần làm nhiễu nhương triều chính, thì thời nay, chúng ta cũng không thể làm ngơ trước một bộ phận cán bộ, đảng viên “thích được đề cao, ca ngợi”-một trong những biểu hiện suy thoái về đạo đức lối sống mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng đã chỉ ra.

Từ những lời cảnh báo thói đời siểm nịnh của người xưa

Nhìn lại lịch sử cho thấy, xu nịnh là cách sống “vào luồn, ra cúi” của một bộ phận quan nịnh thần trong các triều đại phong kiến thuở trước. Những kẻ nịnh thần này thường tài hèn đức mọn, nhưng lại khéo ăn khéo nói, biết vuốt ve, “vỗ về” vua chúa đúng lúc, đúng chỗ bằng những lời nói mỹ miều, ngọt ngào, cốt là để lấy lòng bề trên. Nếu bề trên (ông vua, bà chúa, ông quan) nào tỉnh táo, sáng suốt và kiên quyết lánh xa, loại trừ thói xu nịnh vờ vĩnh, giả tạo thì giữ được tư thế, tác phong, nhân cách chân chính của bậc quang minh chính đại, góp phần bảo đảm cho triều chính được uy nghiêm, sơn hà xã tắc được bình an. Ngược lại, những người ở ngôi cao chức trọng và nắm giữ nhiều quyền bính mà dễ ngả lòng, a dua, thậm chí “đắm chìm” trong những lời bợ đỡ, ton hót của những kẻ “ngồi lê đôi mách” thì dễ làm cho các mối quan hệ trong triều chính trở nên rối ren, mọi người sống nghi kỵ, oán thán lẫn nhau và khiến lòng dân thêm bất an, ly tán.

Danh nho Chu Văn An (1292-1370), một vị quan thanh liêm đời Trần, tận mắt chứng kiến cảnh nhiễu nhương, suy đồi từ trong triều chính có nguyên nhân sâu xa là do những quan nịnh thần gây ra. Vì vậy, Chu Văn An đã dâng “Thất trảm sớ”, đề nghị vua Trần Dụ Tông (1336-1369) xử chém 7 tên nịnh thần để góp phần lấy lại sự nghiêm minh trong vương triều và củng cố niềm tin cho thần dân. “Thất trảm sớ” của Chu Văn An dù không được nhà vua chấp thuận, nhưng mãi là lời cảnh báo, cảnh tỉnh muôn đời đối với hậu họa khôn lường của thói gian thần, nịnh bợ.

Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm (1889-1954) là một đại thần triều Nguyễn. Khi thi đỗ đại khoa, ông được cùng các vị tiến sĩ đồng khoa triều kiến vua Thành Thái (1879-1954). Khi nhà vua đề nghị mỗi vị đề xuất góp ý kế sách để phục hưng quốc gia, Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm đã đọc 4 câu: “Tôn tộc đại quy/ Tôn lộc đại nguy/ Tôn tài đại thịnh/ Tôn nịnh đại suy”. Bốn câu này được hiểu là: “Tôn trọng nòi giống ắt đại hòa hợp/ Tôn trọng bổng lộc ắt đại nguy nan/ Tôn trọng tài năng ắt đại phồn thịnh/ Tôn trọng siểm nịnh ắt đại suy vong”.

“Tôn nịnh đại suy” hiểu rộng ra là bất cứ chỗ nào, thể chế nào, xã hội nào, nếu không loại bỏ mà lại coi trọng thói siểm nịnh thì sớm muộn chỗ đó, thể chế đó, xã hội đó cũng sẽ mục ruỗng, thối nát và đi đến bờ vực suy vong thảm hại.

Đến căn bệnh “thích được đề cao, ca ngợi” trong một bộ phận quan chức thời nay

Thực ra, đã sống trong cuộc đời này, ai cũng thích khen. Vì lời khen không chỉ là một trong những nghệ thuật giao tiếp để động viên, khích lệ nhau vươn lên trong cuộc sống mà còn là một phương thức giáo dục tinh tế, hiệu quả trong học tập, lao động, công tác. Nhưng điều quan trọng là phải khen đúng lúc, đúng chỗ, đúng mực, đúng đối tượng thì lời khen mới có giá trị. Còn nếu khen một cách tràn lan, gặp đâu khen đấy, khen không xuất phát từ tấm lòng chân thành, nhất là cấp dưới thường xuyên dành cho cấp trên những lời “ngọt như mía lùi” thì đó không phải là lời khen, mà thực chất là sự nịnh nọt, ton hót-một thái độ ứng xử không phù hợp với phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên.

Đến nhiều tổ chức, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp hiện nay, nếu ai tinh ý và chịu khó quan sát, lắng nghe thì trong các cuộc trò chuyện, có thể thấy một hiện tượng là quần chúng thích nói ý tứ cho vừa lòng lãnh đạo, cấp dưới hay “vuốt ve” cấp trên, nhân viên ưa nói tốt về thủ trưởng... Trong giao tiếp đời thường là vậy và trong sinh hoạt đảng, chính quyền, đoàn thể cũng như vậy.

Còn tồn tại hiện tượng trên một phần vì cấp dưới mang tâm lý cả nể những người có tuổi tác, chức sắc, vị thế công tác hơn mình; nhưng phần khác, cũng do tâm lý thích, thậm chí ham mê, ưa chuộng lời khen của những người có chức quyền. Mà khi cấp dưới khen thì nhiều khi là “khen cho được việc”, cố khen cho “mát mặt” cấp trên, chứ chưa hẳn là khen đúng lòng mình. Hay nói cách khác, đó là những lời khen mang tính chất “hối lộ tinh thần” hơn là lời khen thật sự ý nghĩa.

Không những vậy, một số quan chức còn lợi dụng báo chí, truyền thông để ca ngợi, tung hô mình vào những thời điểm "nhạy cảm", như: Đại hội, bầu cử, được bổ nhiệm chức vụ mới… Tinh vi hơn, có quan chức bỏ ra những khoản kinh phí “không hề nhỏ” để duy trì, “nuôi dưỡng” một bộ phận làm truyền thông chuyên nghiệp chỉ để “lăng xê”, đánh bóng tên tuổi cá nhân mình trong xã hội. 

Cán bộ, đảng viên cần giữ đạo khiêm nhường, tự trọng, cương trực

Trong những năm tháng bao cấp, dư luận vẫn râm ran câu nói “Thật thà thường thua thiệt/ Lươn lẹo lại lên lương” nhằm ám chỉ những kẻ “mồm năm miệng mười", "đầu môi chót lưỡi” ngon ngọt với cấp trên thì dễ bề được ưu tiên thăng tiến, lên cấp, nâng lương. Nhưng cha ông ta cũng có câu “Mật ngọt chết ruồi” với hàm ý khuyên răn, cảnh tỉnh ai đó chỉ thích nghe những lời lẽ quyến rũ, giọng điệu ngọt ngào mà giả dối của người khác thì tự mình sa vào tình thế nguy hiểm lúc nào không hay.

Thực tế cho thấy, những cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ có chức quyền mà luôn sống, sinh hoạt, làm việc trong sự “bủa vây” của những lời khen hào phóng, mỹ miều, giả tạo của những người xung quanh và cấp dưới, thì theo ngày ngày, tháng tháng, họ rất dễ bị ảo tưởng về chính mình. Từ đó, những biểu hiện gia trưởng, quan liêu, độc đoán cũng sẽ dần “lớn lên” trong thái độ, tư tưởng, tính cách của họ. Đó cũng là tiền đề để hình thành, tạo ra “uy tín giả”-một “cái bẫy” có thể làm quan chức tự sụp đổ ngay dưới chân mình!

Cổ kim đông tây đã đúc kết, những người có chức sắc, vị thế xã hội mà bỏ ngoài tai những lời trung thực, khảng khái và lại ưa thích những lời tâng bốc, tung hô, nịnh nọt thì rất dễ bị ảo tưởng về quyền lực, từ đó có những hành xử thiếu minh mẫn, nhân văn, thậm chí vùi dập những người cương trực. Thế nên, Tuân Tử-một trong những triết gia cổ đại lừng danh của Trung Quốc đã tự răn mình và cũng là nhắc nhớ các bậc quân tử đời sau: “Người chê ta mà chê phải là thầy của ta, người khen ta mà khen phải là bạn ta, những kẻ vuốt ve, nịnh bợ chính là kẻ thù của ta vậy”.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất lên án thói tâng bốc, xu nịnh. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” viết tháng 10-1947, một trong những căn bệnh của một bộ phận cán bộ, đảng viên được Bác sớm chỉ ra và cảnh báo là: “Bệnh xu nịnh, a dua; ưa người ta tâng bốc, khen ngợi mình”. Bác cũng phê phán những cán bộ, đảng viên sống ba phải, không có lập trường, chính kiến rõ ràng: “Thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi. Theo gió bẻ buồm, không có khí khái”. Những người như thế không xứng đáng là người lãnh đạo, dìu dắt, giáo dục quần chúng.

Để không mắc vào “cạm bẫy” ưa xu nịnh và chữa trị được căn bệnh “thích được đề cao, ca ngợi”, một trong những việc cần làm hiện nay là mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp phải giữ gìn đức tính cương trực, tự trọng, khiêm nhường. Cương trực để không bị "mê hoặc" bởi “cái bả” ca tụng của nhiều cán bộ, nhân viên cấp dưới lúc nào cũng có thể “rót lời đường mật” vào tai mình. Tự trọng để biết phân biệt đâu là điều hay lẽ phải cần lắng nghe, coi trọng, đâu là lời khen vờ vĩnh, giả tạo cần tránh xa, loại bỏ. Khiêm nhường để không tự ảo tưởng về mình mà luôn có ý thức học tập, rèn luyện, bồi đắp những phẩm chất giá trị tích cực, nhân văn, nhằm không ngừng hoàn thiện nhân cách bản thân và sống giản dị, gần gũi với tập thể nơi công tác và với cộng đồng nơi cư trú.

Một việc không thể không nhắc lại là các cấp ủy, tổ chức đảng nói chung, cán bộ lãnh đạo nói riêng cần tiếp tục coi trọng và duy trì thường xuyên, nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình. Trong sinh hoạt tự phê bình và phê bình, mỗi người cần thể hiện rõ tinh thần trung thực, thẳng thắn, công tâm, đồng thời bày tỏ thái độ trân trọng, bảo vệ cái đúng, cái tốt; phê phán kịp thời cái xấu, cái sai; kiên quyết đấu tranh loại bỏ lề thói xu nịnh, a dua, “mũ ni che tai”, “mười lăm cũng ừ, mười tư cũng gật”, góp phần vừa giữ vững và nâng cao kỷ cương, kỷ luật của tổ chức đảng, vừa xây dựng môi trường văn hóa giao tiếp ứng xử lành mạnh trong tổ chức, cơ quan, đơn vị.


CÔ BA DŨNG SỸ, CHỊ HAI NĂM TẤN TRANG SỬ VẺ VANG CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC

 Cứ mỗi lần giai điệu của ca khúc “Hai chị em” vang lên, lòng tôi lại xốn xang một cảm xúc khó tả, một cái gì đó vừa bồi hồi, xúc động, lại vừa day dứt một nỗi niềm nhớ quê. "Cô Ba dũng sĩ quê ở Trà Vinh, chị Hai năm tấn quê ở Thái Bình, hai chị em trên hai trận tuyến anh hùng bất khuất - trung hậu đảm đang. Trang sử vàng chống Mỹ cứu nước, sáng ngời tên những cô gái Việt Nam... Đẹp lắm chứ, anh hùng lắm chứ".

Nếu ai chưa từng đi xa sẽ khó có cảm giác giống như tôi, hơn thế nữa tôi lại đang có mặt ở mảnh đất Trà Vinh - vùng quê kết nghĩa “chị em” với Thái Bình từ thời kháng chiến chống Mỹ. Ở Trà Vinh có nhiều “cô Ba” lắm, nếu như ngày xưa có “cô Ba dũng sĩ”, thì ngày nay là những cô "Ba tân thời" miệt mài bên những mảnh vườn sum suê trái ngọt, bên những cánh đồng bát ngát, bên những hàng dừa xanh mướt ngút ngàn. Cô Ba kháng chiến nay trở thành những “bà cố” hoặc thành thiên cổ, nhưng chiến tích của họ thì sử sách mãi còn khắc ghi. “Chị Hai” ở Thái Bình xa xôi mà kết nghĩa “chị em” được với “cô Ba” thì cũng là một kỳ tích hiếm có. Dưới thời đạn bom ác liệt, giữa hai bờ chiến tuyến mà lửa thù không đốt được dải Trường Sơn thì ở đâu đó nơi làng quê xa xôi hay nơi mặt trận khói lửa vẫn vang lên câu hát rộn ràng khí thế mà chất chứa tình yêu quê hương, đất nước.
Cô Ba dũng sĩ quê ở Trà Vinh, chị Hai năm tấn quê ở Thái Bình, hai chị em trên hai trận tuyến anh hùng bất khuất trung hậu đảm đang. Trang sử vàng chống Mỹ cứu nước sáng ngời tên những cô gái Việt Nam... Đẹp lắm chứ, anh hùng lắm chứ.
Dù rằng ở hai trận tuyến khác nhau, dù rằng cô trong Nam, chị ngoài Bắc, khác nhau địa giới hành chính, khác cả phong tục tập quán và giọng nói, tiếng cười nhưng ở họ vẫn có một điểm chung, họ vẫn là những “cô gái Việt Nam” - những cô gái được Bác Hồ khen ngợi bằng tám chữ vàng “Anh hùng, Bất khuất, Trung hậu, Đảm đang”; họ là những chiến sĩ cầm súng trên chiến trường, là những người thợ cầm cuốc cày ở lại xây dựng quê hương giúp chồng ra tiền phương đánh giặc. Dù ở vị trí nào, ở địa phương nào họ cũng đều là những người anh hùng, đều là những tấm gương sáng, là những dấu chấm đỏ tươi trên “trang sử vàng truyền thống của Phụ nữ Việt Nam”. “Cô gái Việt Nam” đẹp lắm! anh hùng lắm! Họ không chỉ đẹp bởi vóc dáng, mà còn bởi nụ cười chiến thắng, nụ cười tin tưởng vào ngày mai huy hoàng của Tổ quốc thống nhất. Nụ cười của "cô Ba" e ấp sau nón lá dừa và nụ cười của “chị Hai” hồn hậu bên sóng lúa đương thì con gái đã trở thành hình tượng đẹp nhất mỗi khi nhắc tới quê hương Việt Nam. Thời đại sinh ra những người anh hùng và những người anh hùng ấy đã làm cho thời đại bừng sáng lên, thời đại của những cô gái tay không bắt giặc, thời đại của những o du kích nhỏ giương cao súng, thằng Mỹ lênh khênh bước cúi đầu. Phụ nữ Việt Nam, người con gái Việt Nam anh hùng và dũng cảm.
Thời đại của những “bà mẹ cầm súng” trong trang văn của Anh Đức, của những “mẹ đào hầm khi tóc còn xanh” trong ý nhạc của Phạm Minh Tuấn và là thời đại của những chị Hai năm tấn, của cô Ba dũng sĩ trong nhạc Hoàng Vân, thời kỳ “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”, “những nón trắng cày ruộng thay chồng trên cánh đồng năm tấn thóc”, thời kỳ “hậu phương thi đua với tiền phương”… còn nhiều, nhiều nữa những bà, những mẹ, những chị như vậy.
Nếu ai đã từng một lần bắt gặp cái “dáng kiều thơm” bé nhỏ trong ký ức của chàng lính Tây Tiến, đã từng gặp cái “bồn chồn nhớ mắt người yêu” trong “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi sẽ thấy đâu đó trong thơ, trong nhạc Việt Nam hình ảnh của những người phụ nữ ấy. Họ cũng bé nhỏ, cũng e ấp lắm nhưng họ cũng có thể trở thành bất tử như những vọng phu thuở nào, cũng có thể trở thành những anh hùng làm nên lịch sử. Họ tiễn người yêu lên đường nhập ngũ, tiễn chồng, tiễn con và đến lúc chính họ cũng trở thành chiến sĩ, họ cũng cầm súng chiến đấu. Họ là người Việt Nam đã góp phần làm vẻ vang thêm trang sử, làm nên những bản anh hùng ca hào hùng của thời kỳ đấu tranh chống Mỹ cứu nước. Trên cánh đồng lúa chín, dưới tầm đạn thù, người phụ nữ Việt Nam vẫn cầm liềm cắt lúa, vẫn cất cao tiếng hát qua mỗi vụ được mùa, ngoài tiền phương các cô vẫn dẫn đầu đoàn binh tóc dài, áo bà ba đi “đốt đồn giặc thù”. Dù là đổ mồ hôi hay đổ máu xương đều là vì một nghĩa lớn, bởi một trái tim muốn cống hiến hết mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Chị và em tuy hai mà một, chiến công của em có mai vàng mừng công đẹp lắm, chiến công của chị có lúa thóc trĩu đòn gánh trên vai gửi vào chiến trường nuôi quân. Cả chị cả em, cả một thế hệ những người phụ nữ Việt Nam thời ấy cùng chuyển mình, cùng hiến dâng vì một lý tưởng cao đẹp, một triết lý sống còn mà dân tộc đã giao phó “vừa đảm đang vừa bất khuất”. “Hỡi ai có xa quê ta Thái Bình hỏi rằng lúa vụ mùa năm nay có đẹp không?” “Đẹp lắm chứ! Anh hùng lắm chứ!” lúa Thái Bình vẫn đẹp, gạo Thái Bình vẫn cứ trắng trong như tấm lòng của “chị Hai” dành cho “cô Ba”, dành cho quê hương đất nước. Để đến một ngày đất nước thống nhất, non sông liền một dải em sẽ lại “hát chị nghe” như ngày nào. Tình cảm sâu nặng, thủy chung son sắt chính là đặc điểm nổi bật nhất trong tâm hồn những cô gái Việt Nam.
Đã nửa thế kỷ đi qua kể từ khi ca khúc ra đời, người nghe nhạc vẫn đắm đuối, ngẩn ngơ với giai điệu vui tươi, lạc quan yêu đời tin tưởng vào chiến thắng. Nước nhà thống nhất, giang sơn thu về một mối. Để ai đó có đi trong chiến trường, hỏi rằng mùa này hoa mai đã nở chưa, đẹp lắm ấy hoa nở khắp chốn. Vâng! Mùa hoa chiến công nở rộ khắp chiến trường. Thái Bình mùa này mùa lúa bội thu. Cả hai miền thắng lớn.
Tan giặc về để em lại hát chị nghe. Chúng ta hãy dành hàng ngàn bó hoa tươi thắm nhất để trao tặng các mẹ, các chị với tình cảm thân thương và lòng quý trọng biết ơn nhất. Các mẹ, các chị chính là những bông hoa đẹp nhất đã và đang hiến dâng cho đời./.
St

KHÔNG PHẢI XUẤT TRÌNH SỔ HỘ KHẨU, SỔ TẠM TRÚ KHI LÀM THỦ TỤC BẢO HIỂM XÃ HỘI

 Khi thực hiện thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của ngành bảo hiểm xã hội Việt Nam, người dân không phải nộp, xuất trình sổ hộ khẩu hay sổ tạm trú.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam vừa ban hành Công văn số 4144/BHXH-VP gửi bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc không yêu cầu công dân nộp, xuất trình sổ hộ khẩu, sổ tạm trú khi thực hiện thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của ngành bảo hiểm xã hội Việt Nam.
Theo đó, thực hiện Nghị định số 104/2022/NĐ-CP ngày 21/12/2022 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến việc nộp, xuất trình sổ hộ khẩu, sổ tạm trú giấy khi thực hiện thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã thực hiện rà soát các thủ tục hành chính, dịch vụ công thuộc thẩm quyền giải quyết của ngành và bãi bỏ thành phần hồ sơ là “sổ hộ khẩu, sổ tạm trú giấy” trong các thủ tục hành chính lĩnh vực thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, cấp sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế.
Hiện nay, các thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Bảo hiểm xã hội Việt Nam không còn thủ tục hành chính nào quy định về việc cung cấp, xuất trình sổ hộ khẩu, sổ tạm trú.
Đồng thời, Bảo hiểm xã hội Việt Nam cũng đã hoàn thành việc kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, bảo đảm phục vụ việc tra cứu, đối soát thông tin của công dân và hướng dẫn triển khai, thực hiện.
Nhằm triển khai, thực hiện quy định nêu trên, Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố trong quá trình tiếp nhận hồ sơ, giải quyết, trả kết quả thủ tục hành chính không yêu cầu công dân cung cấp, xuất trình sổ hộ khẩu và lưu ý các nội dung sau.
Trước hết, chấp hành nghiêm Quy chế tổ chức và hoạt động của Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong ngành bảo hiểm xã hội Việt Nam; bảo đảm các thành phần hồ sơ theo đúng quy định tại các quyết định công bố thủ tục hành chính của Bảo hiểm xã hội Việt Nam hiện hành; không được yêu cầu thêm hồ sơ ngoài quy định.
Tiếp đó, việc xác thực danh tính cá nhân áp dụng đối với tất cả các trường hợp nộp hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính để giải quyết đúng người, đúng quy định. Thông tin xác thực được tra cứu, khai thác thông qua một trong các hình thức sau:
Thứ nhất, thông qua chức năng tra cứu thông tin công dân từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư trên phần mềm Thu và quản lý sổ, thẻ theo hướng dẫn tại Công văn số 1796/CNTT-PM ngày 19/9/2023 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
Thứ hai, thông qua tài khoản định danh điện tử của công dân được hiển thị trong ứng dụng VNeID (trường hợp người dân cung cấp thông tin qua ứng dụng VNeID) theo hướng dẫn tại Công văn số 2048/BHXH-VP ngày 5/7/2023 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam về việc sử dụng thông tin, giấy tờ tích hợp trên VNeID trong tiếp nhận hồ sơ, trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính.
Thứ ba, sử dụng thiết bị đầu đọc đã được kết nối trực tuyến với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, bao gồm thiết bị đọc mã QR, hoặc thiết bị đọc chíp trên thẻ căn cước công dân gắn chip (trường hợp đã được Bảo hiểm xã hội Việt Nam trang bị thiết bị đọc mã QR hoặc thiết bị đọc chíp trên thẻ căn cước công dân gắn chip).
Thêm vào đó, đối với trường hợp đã tra cứu thông tin theo các phương thức trên nhưng không có dữ liệu để xác thực, cán bộ tiếp nhận hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính được yêu cầu công dân nộp bản sao hoặc xuất trình giấy tờ có giá trị chứng minh thông tin về cư trú: Giấy xác nhận thông tin về cư trú, giấy thông báo số định danh cá nhân và thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Cùng với đó, đối với thủ tục hành chính có yêu cầu nộp hồ sơ tại nơi cư trú nhưng người dân lại nộp hồ sơ tại nơi khác nơi cư trú ghi trên căn cước công dân hoặc chứng minh nhân dân (còn giá trị sử dụng) thì chỉ yêu cầu các thành phần hồ sơ theo đúng quy định tại các quyết định công bố thủ tục hành chính của Bảo hiểm xã hội Việt Nam hiện hành; xác thực danh tính cá nhân để giải quyết đúng người, đúng quy định.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam cũng yêu cầu bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố có trách nhiệm công khai văn bản này trên Cổng thông tin của bảo hiểm xã hội địa phương. Đồng thời, niêm yết tại Bộ phận tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả thủ tục hành chính để thông tin rộng rãi, tạo thuận lợi, đem tới sự hài lòng cho công dân trong việc giải quyết thủ tục hành chính theo tinh thần chỉ đạo của Chính phủ.
Toàn ngành bảo hiểm xã hội Việt Nam đang có gần 30 hệ thống ứng dụng; quản lý cơ sở dữ liệu của khoảng 100 triệu người dân; hơn 20 nghìn tài khoản công chức, viên chức và người lao động trong ngành thường xuyên truy cập, khai thác và sử dụng để thực hiện các nghiệp vụ của ngành.
Hệ thống cũng kết nối liên thông với hơn 13.000 cơ sở khám, chữa bệnh, hơn 620 nghìn tổ chức, doanh nghiệp và các bộ, ngành; cung cấp dịch vụ công trực tuyến cho toàn bộ các thủ tục hành chính của ngành.
Mỗi năm, hệ thống của Bảo hiểm xã hội Việt Nam tiếp nhận và xử lý gần 300 triệu lượt hồ sơ giao dịch điện tử./.
ST

QUÂN ĐỘI LÀ MÔI TRƯỜNG ĐỂ RÈN LUYỆN THANH NIÊN

 Hàng năm, vào đầu xuân mới hàng vạn thanh niên cả nước lại lên đường nhập ngũ. Đây vừa là nghĩa vụ, là vinh dự cũng là trách nhiệm của thanh niên Việt Nam.

Được học tập, rèn luyện trong quân đội là điều kiện tốt để thanh niên tô luyện những phẩm chất nhân cách cần thiết đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước. Có thể nói, môi trường quân đội với kỷ luật nghiêm minh, nhưng sẽ giúp cho thanh niên hình thành và phát triển những phẩm chất mà môi trường khác khó có thể mang lại. Khi mới nhập ngũ, thanh niên phải tuân thủ nghiêm khắc với những quy định, điều lệnh, điều lệ quân đội, phải chấp hành mệnh lệnh của người chỉ huy. Thực tế, thanh niên bước vào quân đội với nhiều đặc điểm tâm lý khác nhau, hội tụ từ nhiều vùng miền khác nhau, những thói quen cũ như sự tùy tiện, buông lỏng, tự do vô kỷ luật thì nay vào quân đội họ phải chuyển hóa một cách nhanh chóng theo yêu cầu quân đội. Đó cũng chính là sự thay đổi từ nhận thức, thói quen, ngôn ngữ, cử chỉ, tác phong… đạt ở mức độ chuẩn hóa và thống nhất trong một tập thể quân sự. Môi trường quân đội cũng giúp cho thanh niên chuyển biến nhanh chóng về mặt nhận thức, đó chính là sự vững vàng về phẩm chất chính trị, về lập trường quan điểm…, từ đó hình thành nên sự đề kháng tốt giúp cho thanh niên luôn có ý thức được nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong môi trường quân đội, thanh niên cũng được hình thành lối sống mới như quan hệ đồng chí, đồng đội, ý thức tập thể, quan hệ quân - dân, giải quyết các vấn đề lợi ích phù hợp theo chuẩn mực xã hội.
Bên cạnh đó, khi thanh niên vào quân đội cũng được hình thành những phẩm chất chuyên môn nghề nghiệp theo các lĩnh vực cụ thể, điều đó sẽ làm cơ sở để mỗi quân nhân có thể vận dụng kiến thức vào cuộc sống sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự của mình. Trong môi trường quân đội, với đội ngũ cán bộ các cấp, họ vừa là người chỉ huy, vừa là nhà giáo dục có thể giúp quân nhân hình thành những tính cách tốt đẹp như sự trung thực, thẳng thắn, tính kiên cường…, điều này cũng giúp ích cho thanh niên có thể vững bước trong cuộc sống sau này. Có thể nói, được học tập, rèn luyện ở môi trường quân đội là điều kiện tốt cho thanh niên phát huy trên nhiều lĩnh vực./.
St