Chủ Nhật, 10 tháng 12, 2023

RFA (ĐÀI CHÂU Á TỰ DO) THÂN LÀM PHƯỜNG KHÓC THUÊ

 


            Trong những ngày qua, sau sự việc ông Lưu Bình Nhưỡng bị cơ quan công an bắt giam vì vi phạm pháp luật về tội  “Cưỡng đoạt tài sản” được các cơ quan báo chí đưa khách quan, kịp thời. Tuy nhiên, các thế lực chống phá đã cố tình đánh tráo bản chất vụ án, định hướng dư luận theo hướng tiêu cực, biến một vụ án hình sự được điều tra như một vụ “tấn công” mang màu sắc khác. Trong đó Đài châu Á tự do (RFA) là một điển hình, tổ chức đưa tin, bình luận cổ súy cho nhưng nhận định vô căn cứ của đám “dân chủ cuội” càng thể hiện sự xảo quyệt, mưu mô trong chống phá Đảng và Nhà nước ta trong sự nghiệp xây dựng đất nước. Vậy thực hư sai trái của ông Lưu Bình Nhưỡng như thế nào? Và âm mưu của RFA ở đây là gì?

1.     Sai phạm của ông Lưu Bình Nhưỡng như thế nào?

Theo thông tin từ Công an tỉnh Thái Bình, ngày 14/11/2023, ông Lưu Bình Nhưỡng (nguyên Phó trưởng Ban Dân nguyện của Ủy ban Thường vụ Quốc hội) bị Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thái Bình ra quyết định khởi tố bị can, lệnh bắt bị can để tạm giam, lệnh khám xét nơi ở, nơi làm việc để điều tra về tội "Cưỡng đoạt tài sản", quy định tại Điều 170, Bộ luật Hình sự.

Vụ án mà cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thái Bình đang điều tra không phải là điều tra trực tiếp, từ đầu đối với ông Lưu Bình Nhưỡng. Đây là kết quả điều tra mở rộng vụ án Phạm Minh Cường (37 tuổi, thường gọi là Cường "quắt", trú tại xã Thụy Xuân, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình) về tội "Cưỡng đoạt tài sản" quy định tại khoản 4, Điều 170, Bộ luật Hình sự. Trước đó ngày 17/5/2023, cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thái Bình ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Phạm Minh Cường về tội danh trên.

Theo tài liệu điều tra, khi biết thông tin một số doanh nghiệp được UBND tỉnh Thái Bình cấp phép cho khai thác cát tại mỏ cát ven biển xã Thụy Trường, huyện Thái Thụy, Cường cùng đồng bọn đã tự ý xác lập quyền sử dụng trái phép các bãi triều nhằm gây sức ép, buộc các doanh nghiệp phải trả tiền theo khối lượng cát khai thác được, hoặc bán lại một phần cho Cường với giá rẻ hơn giá thị trường. Cơ quan điều tra nhận định, đây là vụ án đặc biệt nghiêm trọng, số tiền chiếm đoạt lớn, gây bức xúc trong nhân dân, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp và ảnh hưởng đến hình ảnh, môi trường đầu tư của tỉnh. Công an tỉnh Thái Bình đã mở rộng điều tra vụ án, tập trung làm rõ các đối tượng có hành vi tiếp tay, giúp sức cho bị can thực hiện hành vi phạm tội để xử lý theo quy định của pháp luật. Trước đó, vào năm 2022, Cường "quắt" từng bị Công an tỉnh Thái Bình khởi tố và bắt giam về tội “Cố ý gây thương tích”, “Gây rối trật tự công cộng”.

Quá trình bắt, khám xét đối với bị can Lưu Bình Nhưỡng, cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thái Bình cũng đã thu giữ nhiều đồ vật, tài liệu có dấu hiệu vi phạm pháp luật phục vụ công tác điều tra, mở rộng vụ án. Với các tài liệu có liên quan đến vụ án thu được, việc ông Nhưỡng bị bắt, khởi tố để điều tra mở rộng vụ án Phạm Minh Cường là đảm bảo đúng quy trình tố tụng. Tính chất, mức độ vi phạm, sự liên quan của bị can Lưu Bình Nhưỡng trong vụ án “Cường quắt” như thế nào, hành vi cưỡng đoạt tài sản ra sao, cơ quan CSĐT đang tiếp tục làm rõ và sẽ có kết luận cụ thể.

Tại cuộc họp báo mới đây, Phó trưởng Ban Nội chính Trung ương Nguyễn Văn Yên cho biết, vụ ông Lưu Bình Nhưỡng chưa thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực chỉ đạo, xem xét. Hiện các cơ quan chức năng đang thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, theo đúng thẩm quyền. Ông Nguyễn Văn Yên cho biết, đối với trường hợp của ông Lưu Bình Nhưỡng, là người có nhiều ý kiến đóng góp ở các diễn đàn, những đóng góp tốt của ông Lưu Bình Nhưỡng chúng ta cần ghi nhận nhưng những vi phạm của ông Nhưỡng cũng phải xử lý nghiêm.

“Khi các cơ quan bảo vệ pháp luật đã quyết định xử lý thì phải có căn cứ. Pháp luật của chúng ta rất chặt chẽ, nhất là pháp luật về hình sự và tố tụng hình sự. Vì vậy, để quyết định khởi tố một vụ án, một bị can, đặc biệt là áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam là đã đầy đủ tài liệu, chứng cứ. Bộ luật Tố tụng hình sự quy định hết sức chặt chẽ, không một cơ quan nào có thể tự ý thực hiện. Toàn bộ hoạt động của cơ quan điều tra được VKSND cùng cấp kiểm sát trực tiếp, toàn diện và chịu trách nhiệm về việc phê chuẩn” – ông Nguyễn Văn Yên nêu rõ. Theo Phó trưởng Ban Nội chính Trung ương Nguyễn Văn Yên, khi người dân chưa hiểu thì có thể còn băn khoăn nhưng hãy tin vào kết quả điều tra của các cơ quan bảo vệ pháp luật.

2.     Âm mưu của RFA ở đây là gì?

Ông Lưu Bình Nhưỡng từng là đại biểu Quốc hội Khóa XIV, được biết đến là người hay có những phát biểu tranh luận tại nghị trường, đặc biệt liên quan đến các vấn đề “nóng” của xã hội. Nhiều phát biểu trong đó đã bị số đối tượng chống đối lợi dụng bôi nhọ cơ quan Đảng, Nhà nước, trở thành “chất liệu” chống phá. Đặc biệt, ông Lưu Bình Nhưỡng cũng từng có những phát biểu trước Quốc hội về đạo đức, công lý và những thế lực xấu đã lợi dụng tung hô, lấy cớ xuyên tạc. Vì vậy không ngạc nhiên khi tin ông Lưu Bình Nhưỡng bị bắt, lập tức các đối tượng chống đối, phản động đã lợi dụng vu cáo.

 Đài Châu Á Tự do cho rằng, vì ông Lưu Bình Nhưỡng hay nói động chạm đến các vấn đề xã hội, động chạm cả đến cơ quan tiến hành tố tụng mà dẫn tới bị xử lý hình sự. Chúng còn thần thánh hóa rằng, với việc ông Nhưỡng bị bắt, dân mất chỗ dựa, mất nơi “gửi đơn kêu oan”! Có thể nói, đây là luận điệu kích động, xuyên tạc thường thấy của các thế lực xấu nhằm đánh tráo bản chất vấn đề.

Việc một số tổ chức, cá nhân thù địch, phản động như RFA, VOA, RFI… cố tình đánh tráo bản chất vụ án liên quan ông Lưu Bình Nhưỡng là thủ đoạn không mới. Các đối tượng cố tình định hướng dư luận theo hướng tiêu cực, biến một vụ án hình sự được điều tra như một vụ “tấn công người bảo vệ công lý”, miệt thị rằng “sống dưới chế độ độc tài cộng sản thì không có quyền cất lên tiếng nói tự do ngôn luận”; “lợi dụng pháp luật để áp tội tùy tiện, trù dập những người khiến họ không hài lòng”… Các đối tượng tung hô cá nhân vi phạm, miệt thị cơ quan tiến hành tố tụng để chống phá, hạ bệ, bôi nhọ hệ thống pháp luật Việt Nam; làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với cơ quan công quyền, tiến tới quy kết, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, chia rẽ nội bộ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc ở Việt Nam. Những luận điệu trên vốn dĩ không phải là thủ đoạn mới bởi từ trước đến nay, lợi dụng nhiều đối tượng bị bắt, các tổ chức, hội nhóm phản động như Việt Tân, Hội Anh em dân chủ, các hãng truyền thông hải ngoại thù địch với Việt Nam như RFA, RFI, VOA… đã đưa ra nhiều bài viết, hình ảnh có nội dung xuyên tạc, cố tình công kích Đảng, Nhà nước, các cơ quan chức năng. Do vậy, người dùng mạng xã hội phải thật tỉnh táo trước những luận điệu xuyên tạc bởi mạng xã hội là miếng đất màu mỡ để các thế lực thù địch, phản cách mạng, phần tử cơ hội chính trị sử dụng thực hiện những thủ đoạn xấu chống phá Đảng, Nhà nước.

Qua việc khởi tố ông Lưu Bình Nhưỡng một lần nữa cho thấy việc xử lý vi phạm không có vùng cấm, dù đó là người có chức vụ, quyền hạn hay một người dân bình thường. Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng chia sẻ khi tiếp xúc với cử tri rằng, không hay ho gì khi phải xử lý cán bộ, đồng chí của mình nhưng vì sự tồn vong của chế độ, của Đảng, đòi hỏi phải làm nghiêm, xử lý nghiêm. Đây cũng là một bài học đối với các cán bộ, đảng viên có chức quyền dù to hay nhỏ đều phải sống và làm theo pháp luật. Mọi sai phạm đều sẽ bị xử lý nghiêm, công bằng trước pháp luật, không có ngoại lệ.

                                                                                                                                                BT

 

VÌ SAO GỌI LÀ CHIẾN THẮNG “HÀ NỘI - ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG?”


Cách đây 51 năm, đế quốc Mỹ điên cuồng mở cuộc tập kích đường không chiến lược bằng máy bay B.52 oanh tạc, hủy diệt vào Thủ đô Hà Nội, Thành Phố Hải Phòng, Thái Nguyên với dã tâm biến Miền Bắc Việt Nam trở về “thời kỳ đồ đá”, nhưng đã bị quân và dân ta trừng trị phải nhận thất bại thảm hại. Trận chiến này được coi là chiến thắng Điện Biên Phủ thứ 2 của quân dân Việt Nam.
Năm 1954, với thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ đã làm sụp đổ chế độ thực dân kiểu cũ, buộc thực dân Pháp phải ngồi vào đàm phán với Việt Nam, ký Hiệp định Giơ-ne-vơ (tháng 7/1954), chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam và rút hết quân đội về nước.
Còn chiến thắng 12 ngày đêm cuối năm 1972 đã khởi nguồn cho sự sụp đổ chế độ thực dân kiểu mới, buộc đế quốc Mỹ phải ngồi lại đàm phán với ta ở Hội nghị Pa-ri và ký “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” (ngày 27/01/1973).
Hai sự kiện giống nhau về tầm vóc và ý nghĩa, đều giành thắng lợi và buộc kẻ thù phải ngồi đàm phán, ký kết hiệp định công nhận độc lập chủ quyền của Dân Tộc ta; đều là đỉnh cao của khoa học và nghệ thuật quân sự Việt Nam.
Chiến thắng 12 ngày đêm cuối năm 1972 của quân dân miền Bắc và Thủ đô Hà Nội có giá trị lịch sử, ý nghĩa sâu sắc trên nhiều lĩnh vực quân sự, chính trị, ngoại giao,… như trận toàn thắng trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 đã “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” nên gọi đó là chiến thắng “HÀ NỘI – ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG”.
Tất cả cảm xúc:
3

"BÂY GIỜ GIỮ NỀN ĐỘC LẬP CÀNG CẦN ĐOÀN KẾT HƠN"


Phát biểu tại Hội nghị đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam, ngày 3-12-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nhờ sức đoàn kết tranh đấu chung của tất cả các dân tộc, nước Việt Nam ngày nay được độc lập, các dân tộc thiểu số được bình đẳng cùng dân tộc Việt Nam, tất cả đều như anh chị em trong một nhà, không còn có sự phân chia nòi giống, tiếng nói gì nữa.
Trước kia các dân tộc để giành độc lập phải đoàn kết, bây giờ để giữ lấy nền độc lập càng cần đoàn kết hơn nữa”. Lời căn dặn của Người được đăng trên Báo Cứu quốc, số 108, ra ngày 4-12-1945.
Đây là thời điểm nước ta vừa mới giành được nền độc lập, phải thực hiện nhiều nhiệm vụ cấp bách, như: Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm, mở rộng quan hệ với các nước tiến bộ trên thế giới ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam... Lời căn dặn của Bác có ý nghĩa sâu sắc, là sự nhắc nhở ân cần đối với đồng bào các các dân tộc hãy xóa bỏ mọi bất hòa, thành kiến, phải thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, phải đoàn kết chặt chẽ như anh em một nhà để bảo vệ nền độc lập đã giành được.
Hiện nay, các thế lực thù địch đang quyết liệt thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, kích động ý thức về tộc người và lợi dụng sự chênh lệnh về trình độ phát triển giữa các dân tộc để tạo mâu thuẫn, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên giá trị, là nền tảng lý luận cho chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta; định hướng, dẫn dắt cho hoạt động thực tiễn nhằm giải quyết tốt vấn đề dân tộc trong tình hình mới. Thực hiện lời dạy của Người, Đảng và Nhà nước ta chủ trương tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách, bảo đảm các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số; nâng cao chất lượng giáo dục-đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực và chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số.
Gần 80 năm qua, bằng những việc làm thiết thực như tham gia phát triển kinh tế-xã hội, giúp dân xóa đói, giảm nghèo, xóa mù chữ, phòng, chống thiên tai, bão lũ, hỏa hoạn, chăm sóc sức khỏe nhân dân, bài trừ hủ tục mê tín, dị đoan, tệ nạn xã hội… cán bộ, chiến sĩ quân đội đã góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước. Trong giai đoạn mới, phát huy bản chất và truyền thống tốt đẹp Bộ đội Cụ Hồ, mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội nguyện kề vai sát cánh với đồng bào các dân tộc vượt qua mọi khó khăn, thử thách, xây dựng miền núi, vùng các dân tộc ngày càng vững mạnh, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.
QĐND

VÌ SAO NHIỀU ĐỐI TƯỢNG CỐT CÁN TỪ BỎ “CHÍNH PHỦ QUỐC GIA VIỆT NAM LÂM THỜI ”?


Khi tìm hiểu về nguyên nhân những đối tượng từng là các thành viên cốt cán của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” từ bỏ tổ chức, chúng ta sẽ thấy được sự mục rỗng của tổ chức phản động lưu vong này và bản chất lừa đảo của Đào Minh Quân.
Có lẽ không ai hiểu Đào Minh Quân bằng chính những người “đồng hội, đồng thuyền”. Song đến thời điểm này, những kẻ từng là “anh em cây khế”, số cốt cán thân cận được ông ta tự phong chức vụ, cấp bậc lại rời xa Quân. Vì sao lại có sự việc này? Tiếng nói của những người trong cuộc sẽ là lời lẽ đanh thép nhất vạch trần bản chất của Quân.
Có thể khẳng định rằng, căn nguyên của “sự ra đi” này là do lòng tham và bản chất lừa đảo của Quân đã bị các đối tượng trong nhóm phát hiện. Những người quan tâm đến Quân ở Mỹ có lẽ đều biết rằng đến thời điểm này, ông ta đã tuyên bố phá sản. Song thực chất, đây chỉ là “chiêu trò” của Quân nhằm chiếm đoạt tài sản từ các thành viên cốt cán của tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”. Tài sản của Quân không hề mất đi mà nó được chuyển sang đứng tên vợ ông ta. Việc xây dựng cái được gọi là “Tụ nghĩa đường”, nơi Quân vẫn ra rả tuyên truyền rằng đó là căn cứ hoạt động của tổ chức sau này là một minh chứng. Với lý do xây dựng “Tụ nghĩa đường”, Quân đã “bỏ túi” một khoản tiền không nhỏ.
Cụ thể, để chiếm đoạt tiền của các thành viên trong tổ chức, kẻ “tâm thần chính trị” tuyên truyền, vận động các thành viên cốt cán đóng tiền xây dựng với mục đích tái hiện lại dinh Độc Lập ở đó… Sau đó, để lấy được tiền trong túi của các thành viên cốt cán, Quân đã nghĩ ra một chiêu trò rất tinh quái, đó là ký kết hợp đồng, mua cổ phiếu và cổ tức nhằm xây dựng “Tụ nghĩa đường”. Với mánh khoé này, ông ta đã tàn nhẫn lấy đi cả những đồng lương hưu ít ỏi của các thành viên cốt cán, khiến nhiều người rơi vào cảnh nợ nần… Và rồi, sau khi chiếm đoạt được tiền của họ, Quân sử dụng để tiêu xài cá nhân.
Trần Trưng Nguyệt Ánh, một trong những đối tượng cộm cán của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” cũng rời bỏ tổ chức từ năm 2020, sau khi nhận ra bản chất lừa đảo của Đào Minh Quân và tổ chức này. Trước đó, chồng Nguyệt Ánh là Nguyễn Huy Hoàng cũng từng tham gia tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” và được phong là chuẩn tướng. Để ủng hộ việc xây dựng “Tụ nghĩa đường”, Nguyệt Ánh tôn “tôn sùng” Đào Minh Quân đến mức dỡ cả cửa nhà mình để đưa cho ông ta. Về sau này, do những mâu thuẫn về tiền bạc, lại cay đắng vì biết bị Quân lợi dụng, Nguyệt Ánh đã đến dỡ chiếc cửa mang về nhà.
Trong sự việc này, Quân đã lợi dụng danh nghĩa của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” để kêu gọi đóng góp và vay mượn tiền của các thành viên, trong đó có Nguyệt Ánh nhưng số tiền này, sau đó chỉ được dùng vào việc tiêu xài cá nhân. Không dừng lại ở đó, hiện nay bà Nguyệt Ánh cũng đang phải trả một khoản cước phí với số tiền không nhỏ cho Quân. Trước đó, theo đề nghị của Quân, bà ta từng đứng tên một thuê bao điện thoại để người dân trong nước liên hệ, đăng ký tham gia cái gọi là “Trưng cầu dân ý”. Ban đầu, Quân hứa sẽ trả số tiền trên nhưng sau đó thì phó mặc cho Nguyệt Ánh. Vì thế, hiện nay gia đình Nguyệt Ánh đang phải trả số tiền trên…
Hứa hẹn phong chức, phong hàm, cung cấp việc làm theo ý muốn và được trả tiền lương cao để hoạt động
Bản chất lừa đảo của Quân cũng có thể được nhìn rõ bởi chỉ nói mà không làm. Việc cụ thể nhất là hứa hẹn về nước. Khoảng vài năm trở lại đây, năm nào Quân cũng hứa sẽ hồi hương về Việt Nam để chia đất, chia tài sản cho những người tham gia “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”; tham gia “Trưng cầu dân ý”, thế nhưng cho đến thời điểm này thì tất cả chỉ là lời hứa hẹn…
Tiếp đó, để đánh vào lòng tin của một số người dân trong nước, đặc biệt là những gia đình từng có quá khứ từng tham gia Việt Nam cộng hoà; những người gặp khó khăn trong cuộc sống…, tin rằng “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” là một tổ chức chính danh, được công nhận, Quân đã thuê một số người Mỹ, người da màu tham dự các cuộc họp. Đối tượng giới thiệu họ là nghị sĩ, những người “có tiếng nói” ở các tiểu bang trong chính quyền Mỹ ủng hộ tổ chức. Đối tượng còn tự vẽ, viết rồi ký vào các văn bản, giả mạo rằng giới chức Mỹ có “quan tâm” và giúp đỡ tổ chức này. Trên thực chất, tất cả chỉ là “chiêu trò” của Quân để lừa bịp, lôi kéo những người nhẹ dạ, cả tin ở cả trong và ngoài nước tham gia vào tổ chức.
Nhưng “đi đêm cũng có ngày gặp ma”, sự thật này đã được “tiết lộ” bởi chính những người “quay xe” khi họ từ bỏ “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”. Một số người sau khi bí mật xác minh thì biết rằng những người được Quân giới thiệu là chính khách và nghị sĩ này thực chất chỉ là những kẻ không có nghề nghiệp ổn định, được anh ta thuê đến dự. Đó là lý do vì sao, Quân tránh không để các thành viên trong tổ chức tiếp xúc với các nghị sĩ giả này.
Với thủ đoạn này, Quân dễ dàng “qua mặt” một số người dân trong nước thiếu thông tin; khiến họ lầm tưởng rằng “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” là một tổ chức chính danh; tin tưởng vào các chương trình cấp nhà miễn phí; “Trưng cầu dân ý”… Sự thực đã và đang diễn ra đã cho thấy sự lừa đảo và bản chất của Quân. Chương trình xây, cấp nhà miễn phí được Quân và “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” triển khai từ năm 2019, đến thời điểm này đã tròn 4 năm, thế nhưng cho đến nay, vẫn chưa có một người dân nào ở trong nước được cấp nhà. Quân cứ nói rằng sắp có và chuẩn bị có nhưng thực tế là sẽ chẳng bao giờ có.
Tiếp đó là việc đánh tráo khái niệm về cái gọi là “Trưng cầu dân ý” nhằm thực hiện mục đích cá nhân của ông ta. Thực tế cho thấy, trưng cầu dân ý của Việt Nam khác hoàn toàn với cái gọi là “Trưng cầu dân ý” do Quân nghĩ ra. Chỉ là một tổ chức bất hợp pháp, “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” có tư cách gì để tiến hành trưng cầu dân ý? Đối tượng đã vin vào Luật trưng cầu dân ý của Việt Nam; sau đó lập lờ nói rằng, hiến pháp quy định mỗi người đều được trưng cầu dân ý và Luật trưng cầu dân ý đã có, việc bầu Quân là đúng luật nên không có sai phạm. Sau đó, Quân kêu gọi và hứa hẹn mọi người rằng khi tham gia “Trưng cầu dân ý” sẽ có tiền và nhà.
Khi tìm hiểu về tổ chức này, tôi khá ngạc nhiên bởi có những câu chuyện vô cùng hoang đường do Quân tự vẽ ra nhưng vẫn có thể “đánh” vào lòng tham của không ít người. Cụ thể, Quân từng tuyên bố rằng “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” đã thắng tại Toà án môi trường quốc tế, xử phạt được 18 nghìn tỷ USD do thắng kiện sau sự cố môi trường tại một tỉnh ở miền Trung. Số tiền sau khi thu hồi được sẽ phát cho người dân trong nước để xây nhà… Nếu đủ tỉnh táo thì chắc chắn nhiều người sẽ biết, đây là một điều không tưởng vì thực tế chẳng có một toà án quốc tế nào xử vụ án đó. Trong khi đó “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” chỉ là một tổ chức phản động thì có tư cách gì để khởi kiện?.
Bằng việc làm này, Quân muốn lấy sự thù hận để đi sâu, lôi kéo người dân tham gia vào tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” và thực hiện việc “Trưng cầu dân ý”… Về phía người dân, khi tham gia “Trưng cầu dân ý”, họ đã vô tình cung cấp các thông tin cá nhân như CCCD, địa chỉ nhà cho đối tượng mà không biết đồng thời cũng vô tình tiếp tay cho tội phạm “mạng”. Họ không hề biết rằng, chỉ cần bán thông tin cá nhân của một người, Quân cũng có thể “đút túi” 1 USD; mà như ông ta rêu rao trên mạng xã hội thì đang có trong tay khoảng 20 triệu phiếu thông tin. Nếu các dữ liệu này được bán ra bên ngoài, dĩ nhiên Quân sẽ ung dung “bỏ túi” khoảng 20 triệu USD.
Tự nhận mình là vua nhưng khi những thành viên trong nước của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời bị bắt và xử lý do vi phạm pháp luật của Việt Nam, Quân liền “phủi tay”. Trong các cuộc hỏi FCC, khi mọi người đặt vấn đề hỏi đến vấn đề trên thì Quân nói rằng những người ở trong nước đều tự ý hoạt động; không thừa nhận lệnh của “tổng thống” nên phải chịu trách nhiệm về hành vi đã gây ra. Lúc này, một câu hỏi đặt ra là các trường hợp ở trong và nước ngoài đã và đang tham gia tổ chức đã bao giờ được Quân giúp đỡ?
Đến thời điểm này, tất cả những người đứng sau Quân là là Quách Thế Hùng, Nguyễn Đức Thắng, Kelly Triệu Thanh Hoa…, đều rời khỏi tố chức, thay vào đó là một nhân vật mà nhiều người biết đến, đó là Lâm Ái Huệ. Vậy Lâm Ái Huệ là ai? Lâm Ái Huệ người Việt gốc Hoa. Bản thân Quân đang tuyên truyền chống Trung Quốc nhưng lại trọng dụng Lâm Ái Huệ. Được biết, Huệ là người Trung Quốc, trước đây gia đình chị ta sang sinh sống tại Kiên Giang. Năm 1989, Huệ di cư, vượt biên sang Canada, làm kế toán cho một công ty dầu khí. Khi nền kinh tế thế giới suy sụp, Huệ mất việc làm, chuyển sang bán hàng đa cấp bị thua lỗ một khoản tiền rất lớn. Trong lúc này, đối tượng biết đến Quân và đã tham gia vào tổ chức này với hy vọng có thể kiếm tiền…
Huệ là người đầu tiên đề xuất, đưa Quân lên làm “Vua” vào năm 2019 nhưng bị Hùng và một số đối tượng gạt đi. Cũng vì thế, Huệ tìm mọi cách gạt những người bất đồng ý kiến với chị ta ra bên ngoài và bây giờ người đứng quyền lực cao nhất của tổ chức, sau Quân chính là Huệ…
Với những phân tích ở trên đã cho thấy, từ những mâu thuẫn; việc tranh quyền, đoạt vị và hành vi lừa đảo của Quân đã dẫn đến việc các đối tượng cộm cạn từng tham gia tích cực đã từ bỏ “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”. Từ thực tiễn cho thấy, trong xã hội trước những vấn đề bất cập, tiêu cực dẫn đến một bộ phận nhân dân mất lòng tin nên đã nhẹ dạ, tin theo kẻ xấu.
Một số lại cho rằng chỉ là tham gia trên mạng, nếu nhận được nhà và tiền thì tốt, chẳng có thì cũng không mất gì nên đã tham gia mà không biết rằng đây là hành vi vi phạm pháp luật. Với phương châm “đánh kẻ chạy đi, không đánh người chạy lại”, trong thời gian qua, cơ quan An ninh đã tuyên truyền, vận động nhiều trường hợp ở trong nước, để họ hiểu hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Từ đó, nhiều người đã “quay đầu là bờ”.

TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH LÀ NGUYÊN TẮC SINH HOẠT, LÀ QUY LUẬT TỒN TẠI, PHÁT TRIỂN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM


Bài học đắt giá từ sự từ bỏ nguyên tắc tự phê bình và phê bình của Đảng Cộng sản Liên xô dẫn đến sự sụp đổ Liên bang Xô viết cho thấy sự cần thiết phải trung thành với lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, kiên định nguyên tắc tổ chức và xây dựng của Đảng.
V.I.Lênin khẳng định, muốn tồn tại và phát triển, Đảng phải thường xuyên tự phê bình và phê bình; “Nếu một chính đảng nào mà không dám nói thật bệnh tật của mình ra, không dám chẩn đoán bệnh một cách thẳng tay, và tìm phương cứu chữa bệnh đó, thì đảng đó sẽ không xứng đáng được người ta tôn trọng” (1). Theo lời chỉ dạy của V.I.Lênin, hơn 90 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã luôn coi tự phê bình và phê bình là nguyên tắc sinh hoạt, là quy luật tồn tại và phát triển của mình.
Đảng Cộng sản Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là kim chỉ nam cho mọi hành động. Bản chất của Đảng thể hiện trước hết ở mục tiêu, lý tưởng và các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng. Đảng lãnh đạo xã hội, đồng thời cũng là một thực thể tồn tại trong xã hội, cho nên Đảng phải được xây dựng và phát triển trên cơ sở tuân thủ những nguyên tắc tổ chức và quy luật khách quan.
Thực tiễn cho thấy, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, bất cứ đảng nào cũng có lúc phạm phải sai lầm. Vấn đề là, đứng trước những sai lầm, mỗi đảng có thái độ ứng xử và cách thức xử lý khác nhau. Theo Ph.Ăngghen: “Giai cấp vô sản, cũng như tất cả các đảng khác, sẽ học tập nhanh nhất qua những sai lầm bản thân, những sai lầm này không ai có thể tránh hoàn toàn cho họ được” (2). Vì vậy, nghiêm túc nhìn nhận ra sai lầm và thành thật sửa chữa khuyết điểm, là cách tốt nhất để Đảng ta rút ra bài học kinh nghiệm quý giá từ chính những sai lầm của mình, giúp cho Đảng hoàn thiện chính mình và trở lên mạnh mẽ.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vấn đề tự phê bình và phê bình. Người cho rằng mục đích tự phê bình và phê bình đều nhằm giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm, cùng nhau tiến bộ. Theo Người, Đảng phải vận động để tự phê bình và phê bình trở thành một thói quen, một nếp sinh hoạt; không nên duy trì theo kiểu “đóng cửa bảo nhau” trong nội bộ, mà phải vận động quần chúng cùng tham gia phê bình cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng.
Tuân thủ những nguyên tắc chủ nghĩa Mác - Lênin và chỉ dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn coi trọng tự phê bình và phê bình, coi đây là nguyên tắc sinh hoạt quan trọng để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng. Nhất là từ khi thực hiện đường lối đổi mới, nhiều nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng được ban hành và đã đạt nhiều kết quả tích cực. Trong đó, tự phê bình và phê bình luôn là nhóm giải pháp quan trọng hàng đầu.
Tự phê bình và phê bình là quy luật tồn tại, phát triển của Đảng
V.I.Lênin đã chỉ rõ: “Tất cả những đảng cách mạng đã bị tiêu vong cho tới nay, đều bị tiêu vong vì tự cao tự đại, vì không biết nhìn rõ cái gì tạo nên sức mạnh của mình, và vì sợ sệt không dám nói lên những nhược điểm của mình. Còn chúng ta, chúng ta sẽ không bị tiêu vong, vì chúng ta không sợ nói lên những nhược điểm của chúng ta, và những nhược điểm đó, chúng ta sẽ học được cách khắc phục” (3). Trong thực tiễn, khi phát hiện những hạn chế, tồn tại, Đảng ta đều công khai thừa nhận và đề ra biện pháp sửa chữa nghiêm túc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính” (4). Do đó, Người yêu cầu các tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu cao tính đảng, tiến hành kiểm tra nghiêm ngặt công tác thực hiện nghị quyết, tự phê bình và phê bình nghiêm túc, rõ ràng, thiết thực, ngay thẳng, chân thành để sửa chữa và cùng nhau tiến bộ.
Thực hiện lời di huấn đó, hơn 90 năm qua, bất cứ khi nào, phát hiện ra những hạn chế trong lãnh đạo cách mạng, Đảng đều nghiêm túc kiểm điểm và nhanh chóng có biện pháp khắc phục. Nhờ đó, đã góp phần củng cố, tăng cường khối đoàn kết trong Đảng; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, đủ khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Trong thời kỳ Xô Viết Nghệ Tĩnh, nhận thấy chủ trương “thanh Đảng” của Xứ ủy Trung Kỳ ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc tập hợp lực lượng, Trung ương Đảng đã nghiêm khắc phê bình; đồng thời, yêu cầu Xứ uỷ Trung Kỳ phải nghiêm mật khảo xét lại từng địa phương, từng bộ phận, từng cá nhân, người nào sai, bộ phận nào sai, Xứ ủy cần trực tiếp lãnh đạo việc tự chỉ trích, nhận lỗi trước quần chúng, trước đảng viên và nhanh chóng khắc phục khuyết điểm. Vì lẽ đó, Đảng đã nhanh chóng giành được niềm tin và huy động sự ủng hộ của đông đảo các tầng lớp trung gian tham gia vào các cao trào cách mạng.
Trong giai đoạn 1953 - 1956, phát hiện những điểm không phù hợp trong lãnh đạo thực hiện cải cách ruộng đất, Trung ương Đảng đã nghiêm túc, thẳng thắn thừa nhận, chỉ rõ nguyên nhân, yêu cầu, biện pháp sửa sai và xử lý nghiêm đối với các trường hợp thực hiện không đúng đường lối lãnh đạo của Đảng. Sự thành thật nhận khuyết điểm và kiên quyết sửa chữa của Đảng và Chính phủ đã góp phần củng cố mối đoàn kết toàn dân, ổn định nông thôn, hăng hái đẩy mạnh sản xuất phục vụ công cuộc kháng chiến.
Thời kỳ bước vào công cuộc đổi mới, trang nhất báo Nhân dân liên tục trong nhiều năm luôn có chuyên mục “Nói và làm” để công khai những hạn chế của bộ máy chính trị, vạch rõ hướng sửa chữa khắc phục, tạo niềm tin cho nhân dân. Với quyết tâm làm cho tự phê bình và phê bình, nhất là phê bình từ dưới lên, thật sự trở thành “vũ khí sắc bén”, có thể thấy Đảng ta luôn nghiêm túc nhận thức rõ những tồn tại, hạn chế trong lãnh đạo kinh tế xã hội, những khuyết điểm trong công tác xây dựng Đảng, yêu cầu tự phê bình và phê bình ở các cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng luôn được duy trì nghiêm túc, hiệu quả và đảm bảo chất lượng.
Làm rõ cơ sở lý luận nguyên tắc tự phê bình và phê bình sẽ giúp cho toàn Đảng thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lênin, giữ vững vai trò là đội tiền phong của giai cấp công nhân, đồng thời là vũ khí đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, hòng phủ nhận bản chất của Đảng và xuyên tạc các nguyên tắc tổ chức, xây dựng Đảng./.

QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ “VỊ THẾ CÔNG BỘC” CỦA NGƯỜI CÁN BỘ LÃNH ĐẠO VÀ GIÁ TRỊ THAM KHẢO TRONG CÔNG TÁC CÁN BỘ HIỆN NAY

 

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng nhiệm vụ rèn luyện tư cách, tác phong, phẩm chất của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, thể hiện trong hệ thống quan điểm, chỉ dẫn của Người về công tác cán bộ; trong đó, nội dung “vị thế công bộc” của người cán bộ lãnh đạo vẫn còn nhiều giá trị tham khảo cả về lý luận và thực tiễn. Thời gian tới, cần tiếp tục vận dụng linh hoạt, sáng tạo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “vị thế công bộc” của người cán bộ lãnh đạo, góp phần xây dựng Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân và vì dân.
Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “vị thế công bộc” của người cán bộ lãnh đạo
Về nội hàm, thuật ngữ “công” nghĩa là thuộc về nhà nước, việc chung cho mọi người, “bộc” có nghĩa là “đầy tớ”; như vậy, cụm từ “công bộc của dân” dùng để mô tả “người đầy tớ chung của dân”.Thực tế, công bộc của dân thường được hiểu như một triết lý, tư duy quản lý gắn trách nhiệm và nghĩa vụ của quan chức, người nắm quyền lãnh đạo (hoặc mở rộng là đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước) trong thực hiện nhiệm vụ vì lợi ích của nhân dân. Trên thế giới, khái niệm công bộc của dân (servant of the people) xuất hiện khá sớm, có nguồn gốc từ tiếng La-tinh “servus” với nghĩa là nô lệ. Ở nước ta thời phong kiến, người thực hiện điều hành cơ quan công quyền là “quan” và “lại”, khi đó, khái niệm “công bộc của dân” chưa xuất hiện. Đến năm 1945, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thành lập, các khái niệm cán bộ, công chức, viên chức lần lượt ra đời, được Chủ tịch Hồ Chí Minh gói gọn trong thuật ngữ “công bộc của dân”.
Thực tế, lợi ích của đảng cộng sản cầm quyền luôn gắn bó, thống nhất với lợi ích giai cấp, như C. Mác và Ph. Ăng-ghen chỉ rõ: “Họ tuyệt nhiên không có một lợi ích nào tách khỏi lợi ích của toàn thể giai cấp vô sản”. Theo đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng ngoài lợi ích của nhân dân và của giai cấp công nhân, Đảng ta không có lợi ích nào khác và chính bản thân Người là một tấm gương sáng về đạo đức, tác phong của người cán bộ trong vai trò “người công bộc”; là hình ảnh đẹp, vĩ đại để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân noi theo. Trong hệ thống quan điểm của Người về công tác cán bộ, “vị thế công bộc” của người cán bộ lãnh đạo đất nước là nội dung nổi bật; các phát biểu, bài viết của Người đã nhiều lần nhấn mạnh chức vụ, quyền lực của mỗi cán bộ lãnh đạo là do nhân dân tín nhiệm, ủy thác, cho nên, cùng với việc Đảng cầm quyền, được giao đảm nhiệm các vị trí trọng yếu trong cơ quan Nhà nước, khi thực thi các quyền lực đó, cán bộ lãnh đạo là những người đại diện cho nhân dân, là “công bộc của dân”, chứ không phải “làm quan cách mạng, ăn trên ngồi trốc. Cán bộ Đảng cũng như cán bộ chính quyền, ngay cả Bác là cán bộ cao nhất đều là đày tớ của nhân dân”, điều này cũng có nghĩa,“tất cả các cán bộ, từ Trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ ở cấp nào và ngành nào - đều phải là người đầy tớ trung thành của nhân dân. Tất cả cán bộ đều phải một lòng một dạ phục vụ nhân dân” và làm cán bộ chính là “suốt đời làm đày tớ trung thành của nhân dân”,...
Trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng đất nước, Người chỉ rõ: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật. Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”. Người tin tưởng và đề cao vai trò của đội ngũ cán bộ lãnh đạo giữ trọng trách lèo lái đất nước; coi họ là người có trách nhiệm chính định hình chính sách, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm sự thống nhất, đoàn kết của nhân dân. Nhìn chung, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “vị thế công bộc” của người cán bộ lãnh đạo được thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất, “vị thế công bộc” của cán bộ lãnh đạo biểu hiện ở lòng trung thành với Đảng, với nhân dân. Sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một nhà nước của dân, do dân, vì dân được thành lập vào năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân... Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra”. Theo đó, vị thế công bộc, đầy tớ của cán bộ bắt nguồn từ bản chất của chế độ dân chủ, cụ thể: “Dân chủ là thế nào? Là dân làm chủ. Dân làm chủ thì Chủ tịch, bộ trưởng, thứ trưởng, ủy viên này khác là làm gì? Làm đày tớ. Làm đày tớ cho nhân dân, chứ không phải là làm quan cách mạng”. Như vậy, nhân dân là chủ thể đích thực của chế độ, người dân chỉ trao cho Đảng, Nhà nước quyền thực thi quyền lực lãnh đạo, quản lý xã hội theo ý tưởng và lợi ích của dân. Do đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải là công bộc, là đầy tớ cho người đã giao quyền cho mình và có quyền phế truất mình; nhân dân là ông chủ nắm chính quyền, bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấyvà nếu “Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”. Để giữ được “vị thế” trong lòng dân, Người căn dặn đội ngũ cán bộ lãnh đạo, những đại biểu thay mặt nhân dân thi hành quyền lực nhà nước phải yêu thương và trung thành tuyệt đối với Đảng và lợi ích dân tộc, không ngừng tạo dựng niềm tin, sự ủng hộ từ nhân dân.
Thứ hai, “vị thế công bộc” của cán bộ lãnh đạo được thể hiện ở sự tận tụy và trách nhiệm với nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, nhiệm vụ của chính quyền và các đoàn thể là phụng sự nhân dân, là làm đầy tớ cho dân. Tuy nhiên,từ “đầy tớ” ở đây không có nghĩa là “tôi tớ”, “tay sai” mà là tinh thần tận tâm, tận lực phụng sự, mang lại lợi ích cho nhân dân. Người yêu cầu: “Đã phụng sự nhân dân, thì phải phụng sự cho ra trò”, tức là “việc gì lợi cho dân, thì phải làm cho kỳ được. Việc gì hại cho dân, thì phải hết sức tránh”; rằng “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi”. Theo đó, Người yêu cầu cán bộ lãnh đạo phải ghi nhớ rằng họ đang phục vụ lợi ích của nhân dân, đất nước với tinh thần “Trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân”. Thực tế, sứ mệnh phụng sự nhân dân chính là phụng sự chân lý lớn nhất, nên dù người cán bộ thực hiện vai trò gì, công việc gì, nhưng có lòng tận tụy vì dân thì đều là điều cao quý; đồng thời, cần xác định có làm tốt chức năng của “người lãnh đạo” mới có cơ sở làm tốt chức năng của “người đầy tớ” và chỉ khi làm tốt chức năng “người đầy tớ” thì mới có thể làm tốt chức năng “người lãnh đạo”. Thêm vào đó, người đầy tớ tận tâm, tận lực với dân thì sẽ được dân tin yêu, ủng hộ và quyền lãnh đạo của người làm lãnh đạo, cũng như “vị thế công bộc” được Đảng và nhân dân giao phó sẽ được bảo đảm. Như vậy, “vị thế công bộc” của cán bộ lãnh đạo được thể hiện ở việc luôn đặt quyền lợi của nhân dân lên trên hết, đó cũng là phương pháp, tiêu chí đánh giá năng lực của chính người cán bộ lãnh đạo.
Thứ ba, cán bộ lãnh đạo cần giữ gìn chuẩn mực đạo đức cách mạng. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, những phẩm chất đạo đức của cán bộ lãnh đạo, như “công tâm, trung thành, sốt sắng với quyền lợi dân chúng, có năng lực làm việc, được đông đảo dân làng tín nhiệm” là phẩm chất căn cốt của người “đầy tớ” nhân dân. Để khẳng định “vị thế công bộc” của mình, người cán bộ phải tuân theo những chuẩn mực nhất định, như “Phải thiết thực quan tâm đến đời sống của nhân dân. Phải cần, kiệm, liêm, chính. Phải gương mẫu. Phải có tinh thần trách nhiệm cao độ. Phải chống quan liêu, mệnh lệnh, hình thức. Chống tham ô, lãng phí. Phải làm đúng những điều đó mới xứng đáng là người đày tớ trung thành của nhân dân”; mặt khác, luôn sẵn sàng đi đầu trong công việc, nỗi lo của dân, nhưng thành quả, niềm vui đạt được thì nhân dân phải được thụ hưởng trước; tránh biến quyền lực dân trao thành quyền lực cá nhân.
Thứ tư,“vị thế công bộc” còn được biểu hiện ở những đức tính, như cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư và phong cách ứng xử văn hóa, nhân văn, trọng nghĩa tình, nói đi đôi với làm, sống giản dị,... Bên cạnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn có một đặc điểm rất nổi bật là sự khiêm tốn, giản dị. Trong một chế độ mà ngay cả vị Chủ tịch nước luôn coi mình là đầy tớ của dân và khiêm tốn, dám nhận sai, không ngừng học tập, trau dồi để đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước thì chế độ ấy đích thực là của dân, do dân làm chủ. Theo Người, đức tính khiêm tốn, giản dị là một trong những đức tính quan trọng nhất của con người, do đó người cán bộ lãnh đạo phải luôn lắng nghe, cập nhật kiến thức, phục vụ nhân dân một cách tận tâm, tránh lối sống tự phụ, xa cách với cuộc sống khó khăn, cực nhọc của người dân.
Ngoài ra, người cán bộ lãnh đạo phải có tinh thần tiên phong, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Mặt khác, cần học hỏi và bàn bạc, giải thích với dân chúng về mọi việc, nhưng “tuyệt đối không nên theo đuôi quần chúng”, dân chúng nói gì cũng làm theo, mà phải có bản lĩnh vững vàng để vừa nâng cao trình độ giác ngộ, dân trí của quần chúng, vừa tránh “sợ sai”, “sợ khuyết điểm”; phải có tư duy độc lập, không bị ảnh hưởng bởi mọi yếu tố ngoại lai; tuyệt đối tránh tư duy cá nhân, thái độ kiêng kỵ, vừa tạo ra sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của một bộ phận quần chúng “chậm tiến”, vừa thực hiện tốt vai trò “cầm lái” của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, chính tư tưởng bảo thủ, duy ý chí, không chịu đổi mới là sợi dây cột chân cột tay người ta, kìm hãm sự tiến bộ, phát triển nên phải tháo bỏ nó đi. Theo Người, muốn cán bộ công tác giỏi, muốn sự nghiệp đổi mới tiến lên, gặt hái được nhiều thành tựu năm sau to hơn năm trước thì nhất định phải dám nghĩ, dám làm, có gan phụ trách; bởi “Nếu đào tạo một mớ cán bộ nhát gan, dễ bảo “đập đi, hò đứng” không dám phụ trách. Như thế là một việc thất bại cho Đảng”. “Vị thế công bộc” của người lãnh đạo chính là ở ý chí kiên định và dám làm, dám chịu trách nhiệm như vậy.
Thứ năm, duy trì tinh thầnluôn học hỏi, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kinh nghiệm và tự cải thiện bản thân để có năng lực đáp ứng công việc. Thực tế, năng lực để “phục vụ nhân dân” được thể hiện qua các yếu tố, như tri thức, kỹ năng, thái độ, hành vi,... Trong đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi việc học hỏi, tự cải thiện là điều cần thiết cho người cán bộ lãnh đạo, phải “học tập, học tập nữa, học tập mãi” để nâng cao trình độ và khả năng lãnh đạo của mình. Người cũng đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng một đội ngũ cán bộ lãnh đạo chất lượng, tận tụy, có đủ tri thức, khả năng thích nghi với tình hình và giải quyết các vấn đề phức tạp - yếu tố quan trọng để bảo đảm sự phát triển bền vững của dân tộc. Người xem xét vị thế công bộc của người cán bộ lãnh đạo như một sứ mệnh lớn, phải đảm nhận trách nhiệm cao cả để thực hiện mục tiêu của cuộc cách mạng và phục vụ cho lợi ích của nhân dân, đất nước.
Dựa trên quan điểm của Chủ tịchHồ Chí Minh về “vị thế công bộc” của đội ngũ cán bộ và quá trình đúc kết kinh nghiệm trong thực tiễn, đến nay, đã có nhiều chủ trương, chính sách được Đảng và Nhà nước ban hành nhằm bảo đảm xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh gắn với nâng cao năng lực, phẩm chất, trách nhiệm cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, công chức, như Quy định số 101-QĐ/TW, ngày 7-6-2012, của Ban Bí thư, “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, chủ chốt các cấp”; Quy định số 55-QĐ/TW,ngày 19-12-2016, của Bộ Chính trị, “Về một số việc cần làm ngay để tăng cường trách nhiệm nêu gương”; Quy định số 08-QĐi/TW,ngày 25-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương, về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”, trong đó, đề cao tinh thần hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, tránh tình trạng độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, thờ ơ, vô cảm trước những khó khăn, bức xúc của nhân dân; đặc biệt, Quy định số 214-QĐ/TW, ngày 2-1-2020, của Bộ Chính trị, về “Khung tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý” xác định rõ đội ngũ cán bộ, quản lý phải đáp ứng đủ các tiêu chuẩn về phẩm chất năng lực và đạo đức cách mạng. Đại hội XIII của Đảng cũng nhấn mạnh, phải xây dựng “đội ngũ cán bộ, trước hết là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong, gương mẫu, là hạt nhân đoàn kết”.
Một số vấn đề đặt ra:
Hiện nay, dưới tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, như mặt trái của nền kinh tế thị trường, quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, sự phát triển của khoa học - công nghệ,... đã hướng sự quan tâm của con người đến lợi ích vật chất, khiến một số người quá đề cao các yếu tố vật chất, hình thành, phát triển lối sống thực dụng, bỏ qua những giá trị, chuẩn mực đạo đức, nhân cách con người, văn hóa xã hội; trong đó có một bộ phận không nhỏ nằm trong hàng ngũ “công bộc của dân”. Mặt khác, nhiệm vụ đổi mới tư duy chính trị và đổi mới tư duy kinh tế chưa có sự đồng bộ, thống nhất nên còn diễn ra tình trạng “đánh trống bỏ dùi”, “đầu voi đuôi chuột”. Thêm vào đó, công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên có nơi, có lúc chưa thường xuyên; tính trung thực (cả trong tư tưởng, chính trị và đạo đức) của không ít cán bộ, đảng viên bị suy giảm nghiêm trọng; vấn nạn tham nhũng ngày càng diễn biến phức tạp và tinh vi, gây nhức nhối về đạo đức trong Đảng, làm suy giảm nghiêm trọng niềm tin của nhân dân và xã hội,...
Bên cạnh đó, căn bệnh “sợ trách nhiệm” đang có dấu hiệu ngày càng xuất hiện phổ biến và dễ lây lan, khó chữa trị; là biểu hiện tâm lý sợ bị liên lụy, thiếu tinh thần, trách nhiệm trong hoạt động công vụ, lo rằng lợi ích cá nhân bị ảnh hưởng, thiệt thòi... của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Những người mắc bệnh “sợ trách nhiệm” sẽ không dám đương đầu với khó khăn, thách thức, không dám đổi mới, sáng tạo; thường rụt rè, do dự, chỉ muốn làm việc cầm chừng cho “đủ bổn phận”, mong tránh phạm phải khuyết điểm; ngại “va chạm” trong quan hệ công việc, cơ quan, nhất là với cấp trên, thậm chí, lấy lý do làm việc tập thể, tôn trọng tập thể để dựa dẫm vào tập thể,... Từ thực tiễn đó, Đảng ta đã ban hành Kết luận số 14-KL/TW, ngày 22-9-2021, của Bộ Chính trị, “Về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung” nhằm chấn chỉnh những đối tượng đang “mắc phải” bệnh sợ trách nhiệm, đồng thời, bảo vệ đội ngũ cán bộ chính trực, dám nghĩ, dám làm.
Vận dụng quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong xây dựng “vị thế công bộc” của người cán bộ lãnh đạo ngày nay
Thứ nhất, nghiêm túc quán triệt, thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ cũng như phát huy dân chủ trong quần chúng nhân dân. Bên cạnh đó, chú trọng nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí của vấn đề xây dựng Đảng về đạo đức, phong cách, lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, xem đây là nhiệm vụ thường xuyên, căn bản và trọng yếu trong việc mở rộng các khía cạnh trong công tác xây dựng Đảng trên tinh thần “phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”.
Thứ hai, nâng cao trách nhiệm, tinh thần cống hiến vì mục tiêu mang lại lợi ích của nhân dân, coi lợi ích của nhân dân là trên hết. Từ tấm gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người lãnh đạo ngày nay cần đặt lợi ích của nhân dân lên cao nhất, theo đó trong công việc, nhiệm vụ, phải có sự tận tâm, lo lắng, quyết tâm xử lý, giải quyết những vấn đề nảy sinh liên quan đến cuộc sống và sinh kế của người dân. Bên cạnh đó, luôn giữ gìn phẩm chất đạo đức cách mạng, nhất là đức tính trung thực, kiên định, khiêm tốn, minh bạch. Cụ thể, người lãnh đạo cần giữ lời hứa, thực hiện các cam kết, từ đó, tạo niềm tin vững chắc cũng như sự tôn trọng từ nhân dân. Mặt khác, cần đổi mới để có các biện pháp xử lý phù hợp, đủ mạnh, đủ sức răn đe hơn, tránh kẽ hở, yếu kém để các đối tượng vị lợi, thoái hóa, biến chất lợi dụng hòng tham nhũng, trục lợi, chà đạp lên lợi ích, vô trách nhiệm với đời sống người dân.
Thứ ba, chú trọng đúng mức nhiệm vụ đổi mới, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Theo đó, đội ngũ lãnh đạo cần nhanh chóng nghiên cứu, ban hành cơ chế, chính sách khuyến khích sáng tạo và đổi mới phương thức quản lý và phát triển xã hội. Mặt khác, nâng cao ý thức học hỏi và tự phát triển, cập nhật kiến thức và phát triển kỹ năng lãnh đạo của mình để có khả năng đối phó với thách thức của tình hình mới; tạo điều kiện kết hợp giáo dục rèn luyện trong tập thể với phát huy tính chủ động, tự giác trong rèn luyện và tu dưỡng cá nhân. Bên cạnh đó, Đảng và Nhà nước cần tăng cường giáo dục, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng lãnh đạo, quản lý cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Thứ tư, biết lắng nghe, thương yêu, có trách nhiệm với đời sống người dân. Người cán bộ lãnh đạo ngày nay cần lắng nghe ý kiến của cộng đồng, đồng thời tạo cơ hội cho người dân được tham gia vào quá trình ra quyết định về các vấn đề chung. Ngoài ra, “vị thế công bộc” cần được đi kèm với trách nhiệm và lòng tự trọng; tuân thủ nguyên tắc đạo đức và dám chịu trách nhiệm trong tất cả quyết định và hành động của mình. Hiện nay, để tránh tình trạng không dám nghĩ, dám làm, “sợ sai”, “sợ trách nhiệm”, đội ngũ cán bộ, lãnh đạo vừa phải không ngừng trau dồi bản lĩnh, ý chí kiên định thực hiện mục tiêu cách mạng, vừa luôn học hỏi và lắng nghe nhân dân; dám nghĩ, dám làm và dám ra quyết định ở những thời điểm khó khăn, có tính bước ngoặt; gần gũi, chân thành, tin tưởng đồng chí, đồng bào,... để quy tụ được mọi người, kiến tạo nguồn sức mạnh của khối đoàn kết trong chính quyền và nhân dân.
Thứ năm, phát huy vai trò của các cơ quan truyền thông trong việc phát hiện những biểu hiện thoái hóa, biến chất cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo cấp cao nhằm trục lợi, tham ô, tham nhũng, gây hậu quả nghiêm trọng. Mặt khác, kiên trì giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức về đức tính liêm khiết, chính trực; xây dựng văn hóa tiết kiệm; cấp ủy, đảng viên phải luôn luôn dựa vào dân, lắng nghe dân, gắn bó máu thịt với nhân dân,... Cán bộ, đảng viên, trước hết là người lãnh đạo cần giữ gìn đức tính trong sạch, trọng liêm sỉ, danh dự, biết xấu hổ khi bản thân và người thân có hành vi tham nhũng, tiêu cực, ỷ lại, vô trách nhiệm với nhân dân, đất nước./.
Nguồn: Tạp chí Cộng sản

CHIẾN THẮNG "HÀ NỘI - ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG" - CHIẾN THẮNG CỦA Ý CHÍ VÀ TRÍ TUỆ VIỆT NAM.

 

Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972 là một trong những chiến thắng vĩ đại của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX; biểu tượng rực rỡ về sức mạnh của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, của ý chí kiên cường, của tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam. Với chiến thắng lịch sử này, quân và dân ta đã đập tan huyền thoại “pháo đài bay B52” của Mỹ, buộc Chính phủ Mỹ phải quay lại bàn đàm phán và ký Hiệp định Pa-ri, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, góp phần vào công cuộc giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” năm 1972 trở thành khúc tráng ca bất tử của thời đại Hồ Chí Minh, nó kết tinh và tỏa sáng truyền thống văn hóa giữ nước hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam. Đó là thắng lợi của đường lối chính trị, đường lối quân sự đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta, thể hiện đặc sắc nghệ thuật chiến tranh nhân dân của Đảng “lấy ít địch nhiều”, “lấy nhỏ thắng lớn”, “lấy phương tiện, vũ khí kém hiện đại thắng phương tiện, vũ khí hiện đại”, kết hợp nhuần nhuyễn các yếu tố lực, thế, thời, mưu. Thắng lợi đó biểu hiện sức mạnh chính trị - tinh thần của toàn dân tộc được nhân lên gấp bội, với ý chí quyết đánh, biết đánh và quyết thắng kẻ thù xâm lược trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào.
Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” biểu hiện sinh động thế trận hiệp đồng chiến đấu, phục vụ chiến đấu chặt chẽ, hiệu quả của quân dân miền Bắc, lấy lực lượng Phòng không - Không quân làm nòng cốt để tạo nên sức mạnh tổng hợp của lực lượng phòng không ba thứ quân. Phong trào thi đua bắn rơi máy bay Mỹ diễn ra rất sôi động, lan tỏa trong tất cả các thành phần, các lực lượng, các đơn vị. Thực tiễn chiến đấu 12 ngày đêm, tất cả các thành phần lực lượng phòng không của dân quân tự vệ, các đơn vị phòng không, không quân chủ lực đều bắn rơi máy bay địch, có nhiều B 52 rơi tại chỗ trên bầu trời Hà Nội. Đó còn là thế trận hiệp đồng phối hợp tuyệt đẹp với các chiến trường miền Nam, đặc biệt của hai thành phố kết nghĩa Huế - Sài Gòn, sẵn sàng chia lửa để bảo vệ Thủ đô Hà Nội thân yêu, với tinh thần quyết tử “Giặc Mỹ đụng đến Thủ đô Hà Nội, đến miền Bắc một, thì quân dân miền Nam đánh trả chúng gấp 5, gấp 10 lần”.
Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” còn là thắng lợi của lương tri quốc tế, với sự đồng tình ủng hộ, giúp đỡ của bè bạn quốc tế và nhân loại tiến bộ, đặc biệt là của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Hành động tàn bạo của Chính quyền Ních-xơn cho máy bay ném bom rải thảm Hà Nội và một số địa phương ở miền Bắc Việt Nam trong dịp Lễ Giáng sinh đã khiến lương tri của cả nhân loại nổi giận. Làn sóng phản đối chiến tranh nhanh chóng bùng lên, lan rộng khắp nơi trên thế giới, kể cả ngay tại nước Mỹ, đã sục sôi biểu tình lên án mạnh mẽ hành động tội ác man rợ của Nhà Trắng; người dân biểu tình xông vào bao vây đại sứ quán Mỹ, đốt hình nộm và cờ Mỹ. Tờ Thời báo Niu Yoóc, ngày 26/12/1972, đã cảnh cáo: “Mỹ có nguy cơ trở lại một kiểu dã man của thời kỳ đồ đá?”. Tòa án lương tri quốc tế được lập ra để xét xử các tội ác chiến tranh của đế quốc Mỹ tại Việt Nam; kêu gọi nhân dân các nước, các tổ chức quốc tế đấu tranh đòi Chính phủ Mỹ chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình cho Việt Nam. Chứng kiến quân dân Thủ đô Hà Nội sống và chiến đấu anh dũng trong những ngày cuối năm 1972, bạn bè đã bày tỏ lòng mến phục và nhận xét: “Chúng tôi gọi Hà Nội là Thủ đô của các giá trị loài người... Các bạn đứng đầu ở chiến hào tiền tuyến vì nhân phẩm và vì các quyền dân tộc của mỗi dân tộc. Không ai được phép quên điều đó”.
Thắng lợi to lớn của chiến dịch 12 ngày đêm “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” không những góp phần tạo ra bước ngoặt của cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược trên mặt trận ngoại giao, buộc Chính phủ Mỹ phải ký kết Hiệp định Pa-ri ngày 27/01/1973 và rút hết quân Mỹ về nước, mà còn góp phần tạo cơ sở vững chắc để quân và dân ta tiếp tục thực hiện lời di huấn của Bác Hồ là “đánh cho ngụy nhào”, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975 lịch sử để thống nhất đất nước.
Hơn 50 năm đã trôi qua, nhưng âm hưởng của chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” năm 1972 vẫn vang vọng mãi như một khúc tráng ca bất tử của thế kỷ XX. Những bài học kinh nghiệm quý báu Đảng ta về chỉ đạo chiến lược, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật, về phát huy sức mạnh chính trị - tinh thần, về phối hợp và hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ giữa các lực lượng, về đấu tranh quân sự để hậu thuẫn kịp thời, đắc lực cho mặt trận đấu tranh ngoại giao, về tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ quốc tế... để làm nên chiến thắng lịch sử vẻ vang này, vẫn giữ nguyên giá trị trong nghiên cứu, vận dụng vào thực tiễn xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững mạnh, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới./.