Thứ Hai, 11 tháng 12, 2023

Đảng viên quân đội phấn đấu, rèn luyện đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay

 

Hiện nay, trước những tác động tiêu cực của mặt trái nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, sự chống phá của các thế lực thù địch, sự cám dỗ của lợi ích vật chất, cùng với sự buông lỏng trong quản lý, kiểm tra, giám sát của một số cấp ủy các cấp và việc thiếu ý thức tự rèn luyện, phấn đấu vươn lên, đã làm cho một bộ phận không nhỏ đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ các cương vị chủ chốt, là lãnh đạo, chỉ huy của các cơ quan, đơn vị, thậm chí có cả những đảng viên là cán bộ cấp cao, là tướng lĩnh có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân, sống thực dụng, ích kỷ, chạy theo danh lợi cá nhân, cục bộ, lãng phí..., dẫn đến vi phạm phải xử lý kỷ luật. Bên cạnh đó, do tính chất đặc thù của yêu cầu nhiệm vụ, phải thường xuyên công tác xa gia đình, điều kiện sống, sinh hoạt gặp nhiều khó khăn, khắc nghiệt, gian khổ, thậm chí cả hy sinh tính mạng..., cho nên trong một bộ phận đảng viên quân đội dễ nảy sinh tâm lý so sánh thiệt hơn, ngại tu dưỡng, rèn luyện phấn đấu, thậm chí dẫn đến những suy nghĩ lệch lạc, hành động tiêu cực.

Từ thực trạng trên, việc giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện nâng cao đạo đức cách mạng để mỗi đảng viên trong quân đội thấy được niềm vinh dự, tự hào và nghĩa vụ thiêng liêng của mình đối với Tổ quốc, với Đảng và với nhân dân là nhiệm vụ có ý nghĩa vô cùng quan trọng và cấp thiết. Để làm tốt công tác bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho đội ngũ đảng viên trong quân đội, trước hết phải tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm túc các quan điểm, chủ trương của Đảng, của Thường vụ Quân ủy Trung ương, nhất là Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng bộ Quân đội về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; kết hợp chặt chẽ giữa thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021, của Bộ Chính trị, Kết luận số 21 của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII.

Bên cạnh đó, cần tập trung thực hiện có hiệu quả những giải pháp chủ yếu sau:

Một là, tập trung giáo dục, nâng cao nhận thức cho đội ngũ đảng viên trong quân đội về tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương của Đảng về tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng.

Để xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong quân đội, vấn đề quan trọng hàng đầu là phải tuyên truyền, giáo dục sâu rộng, làm cho toàn thể đội ngũ đảng viên thấm nhuần những nội dung cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh và về đạo đức cách mạng; phải làm cho các chủ thể, các đối tượng và lực lượng tham gia xây dựng đội ngũ đảng viên nhận thức được đầy đủ vị trí, vai trò, bản chất của đạo đức cách mạng. Trên cơ sở đó, cấp ủy các cấp, cơ quan chính trị, đội ngũ chính ủy, chính trị viên trong quân đội cần cụ thể hóa những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, đề ra phương hướng, mục tiêu, nội dung, giải pháp để tuyên truyền, giáo dục cho phù hợp với đặc điểm, tình hình nhiệm vụ của từng đơn vị. Kết hợp tuyên truyền, giáo dục với tạo điều kiện cho đảng viên tự học, tự rèn, tự soi, tự sửa để hoàn thiện bản thân, đối chiếu với những chuẩn mực đạo đức của người đảng viên trong quân đội theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thường xuyên làm tốt công tác giáo dục đạo đức cách mạng cho đội ngũ đảng viên trong quân đội sẽ góp phần nâng cao nhận thức về mục tiêu, lý tưởng cộng sản, lòng trung thành đối với mục tiêu, lý tưởng của Đảng; rèn luyện bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, tình yêu thương con người; gương mẫu trong công tác, lối sống, khiêm tốn giản dị, dân chủ, đoàn kết và kỷ luật, nói đi đôi với làm; thương yêu đồng chí, đồng đội, không quan liêu, độc đoán chuyên quyền, gia trưởng...; có trình độ chuyên môn và tác phong, phương pháp công tác tốt; luôn đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc và của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân.

Hai là, đề cao tinh thần trách nhiệm, tính tiền phong gương mẫu của người đảng viên; coi trọng việc tự giáo dục, tự rèn luyện.

Tự giáo dục, tự rèn luyện đạo đức cách mạng của mỗi đảng viên là biện pháp có ý nghĩa quyết định, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của việc tự giác hóa quá trình hình thành, phát triển đạo đức cách mạng. Tự giáo dục đạo đức cách mạng, một mặt, phải gắn liền với học tập chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực tư duy lý luận, năng lực tổ chức, quản lý; mặt khác, phải gắn liền giáo dục đạo đức với giáo dục chính trị tư tưởng và giáo dục pháp luật, kết hợp giữa nâng cao nhận thức về đạo đức cách mạng với rèn luyện đạo đức cách mạng thông qua hoạt động thực tiễn.

Do đó, để nâng cao chất lượng công tác bồi dưỡng giáo dục đạo đức cách mạng cho đội ngũ đảng viên trong quân đội theo tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân tố quyết định trực tiếp chính là hình thành sự tự nỗ lực phấn đấu, rèn luyện của từng đảng viên trong thực tiễn huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, trong công tác và trong sinh hoạt đời thường. Thực tiễn cho thấy, đơn vị nào đề cao vai trò tiền phong gương mẫu, tự giác học tập, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, thì ở đó chất lượng tư tưởng chính trị của người đảng viên được giữ vững, tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh và đơn vị vững mạnh toàn diện.

Ba là, chú trọng bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ đảng viên đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đặc thù của từng đơn vị.

Để nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong quân đội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, nhất là trong bối cảnh các thế lực thù địch đẩy mạnh kết hợp thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến, tự chuyển hóa” với việc “răn đe quân sự” thông qua các cuộc chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao, đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn, liên tục, bền bỉ của các tổ chức đảng, đảng viên trong quân đội; trong đó, việc bồi dưỡng lập trường chính trị, đạo đức cách mạng cho đội ngũ đảng viên là nhiệm vụ vô cùng quan trọng. Song, để mỗi đảng viên giữ vững lòng trung thành, củng cố niềm tin vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao, thì phải chú trọng trang bị cho họ những tri thức chính trị, quân sự, văn hóa, khoa học - kỹ thuật, kỹ năng quân sự, chuyên môn cần thiết, phù hợp với đặc thù của từng đơn vị.

Bốn là, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng, thực hiện tự phê bình và phê bình, tăng cường kỷ luật, xây dựng môi trường dân chủ lành mạnh trong đơn vị.

Các cấp ủy trong quân đội cần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng, thực hiện nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình; trong đó, tự phê bình và phê bình phải trở thành nếp sinh hoạt thường xuyên với tinh thần nghiêm túc, thẳng thắn và đi đôi với thực hiện dân chủ rộng rãi; giữ vững nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng; tăng cường công tác quản lý cán bộ, đảng viên. Nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan chính trị các cấp trong việc xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, chiến sĩ là yêu cầu cấp thiết. Đồng thời, phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng và của nhân dân trong quản lý, giáo dục, kiểm tra, giám sát, phê bình, phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, qua đó, giúp đội ngũ này được rèn luyện về quan điểm, lập trường tư tưởng, tác phong, lối sống và đạo đức cách mạng.

Năm là, kết hợp giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng với đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, ngăn ngừa những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên.

“Xây” đi đôi với “chống” là nguyên tắc trong rèn luyện phẩm chất đạo đức, nhân cách của người cán bộ, đảng viên nói chung và đạo đức cách mạng cho đội ngũ đảng viên quân đội nói riêng, nhằm đạt được kết quả cao nhất.

Thực tiễn cho thấy, đội ngũ đảng viên quân đội được Đảng, Nhà nước, quân đội giao cho nhiều cương vị, chức trách khác nhau; trong đó, nhiều đồng chí được giao quản lý khối lượng cơ sở vật chất, tài sản… có giá trị kinh tế cao, nên nếu không nghiêm khắc với bản thân, cũng như thiếu chế độ kiểm tra, giám sát nghiêm ngặt sẽ dễ nảy sinh tư tưởng, hành vi tham nhũng, lãng phí. Trên thực tế, vẫn còn một số cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống, chưa nêu cao đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, không dám đấu tranh với những hiện tượng tham nhũng, tiêu cực trong đơn vị và trong xã hội; thậm chí, còn lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi cá nhân... Thực trạng này đòi hỏi công tác giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ đảng viên quân đội trên thực tế cần phải kết hợp chặt chẽ với đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, lãng phí và ngăn ngừa những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Kiên định mục tiêu lý tưởng, giữ vững lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân; luôn là lực lượng tiên phong trên mọi mặt trận, góp phần to lớn thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là vinh dự, trách nhiệm và nghĩa vụ thiêng liêng của toàn thể cán bộ, đảng viên, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, đội ngũ đảng viên luôn phải là lực lượng nòng cốt, gương mẫu, đi đầu, chịu trách nhiệm trước tiên và cao nhất trong thực hiện nhiệm vụ được giao. Do đó, việc bồi dưỡng, nâng cao đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh cho đội ngũ đảng viên quân đội là nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết, để đội ngũ này thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân tin tưởng giao phó.

HAIVAN

Yêu cầu, nhiệm vụ của đảng viên quân đội rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm tới việc giáo dục, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cho đội ngũ đảng viên trong quân đội, trước hết là lý tưởng cách mạng, lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân, giữ vững bản chất giai cấp công nhân, kiên định mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Chỉ có giác ngộ sâu sắc lý tưởng đó, người đảng viên trong quân đội mới đủ khả năng hoàn thành nhiệm vụ nặng nề, dám hy sinh quyền lợi của bản thân và gia đình, đặt lợi ích của Tổ quốc, của dân tộc lên trên hết, trước hết. Để rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, Người yêu cầu cán bộ, đảng viên: “Thấy khuyết điểm có gan sửa chữa. Cực khổ khó khăn, có gan chịu đựng. Có gan chống lại những sự vinh hoa, phú quý, không chính đáng. Nếu cần, thì có gan hy sinh cả tính mệnh cho Đảng, cho Tổ quốc, không bao giờ rụt rè, nhút nhát”. Đồng thời, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đội ngũ đảng viên trong quân đội ở bất kỳ hoàn cảnh nào cũng phải nâng cao kiến thức toàn diện. Người căn dặn: “Phải cố gắng học tập về mọi mặt chính trị, quân sự. Phải học tập chính trị: Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”; và muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ trên cương vị, chức trách đảm nhiệm, đòi hỏi người đảng viên trong quân đội “Phải đoàn kết nội bộ, giữa cán bộ và chiến sĩ, đoàn kết quân dân, đoàn kết với các nước anh em”.

Từ những nội dung trên, có thể thấy, để rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh, người đảng viên quân đội cần phải thấm nhuần, thực hiện nghiêm túc những yêu cầu, nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, nói đi đôi với làm.

Đây là hành động cơ bản nhất thể hiện uy tín và để rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức của người đảng viên. Tuy nhiên, đối với người đảng viên trong quân đội, hành động đó phải được biểu hiện ở mức độ cao hơn, phải “Triệt để thi hành mệnh lệnh cấp trên. Mệnh lệnh cấp trên đưa xuống thì phải tuyệt đối phục tùng và triệt để thi hành”. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu, đội ngũ đảng viên trong quân đội phải nói ít làm nhiều, thân ái, đoàn kết đồng chí, đồng đội, phải là tấm gương trong rèn luyện ý chí chiến đấu kiên quyết và bền bỉ, thắng không kiêu, bại không nản, dù gian lao khổ hạnh cũng không sờn lòng, vào sống ra chết cũng không nản chí. Người cũng dành mối quan tâm đặc biệt đến việc giáo dục, rèn luyện phẩm chất, nhân cách của các tướng lĩnh trong quân đội. Người nhắc nhở: “Trong quân đội, nhiệm vụ của người tướng là phải: trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung”, đây vừa là mục tiêu để rèn luyện, tu dưỡng, vừa là phẩm chất đặc trưng nhất của người đảng viên là lãnh đạo trong quân đội.

Thứ hai, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức suốt đời.

Đây là yêu cầu cốt lõi trong rèn luyện, tu dưỡng đạo đức của người cách mạng, bởi theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, mọi lúc, mọi nơi. Đảng viên giữ cương vị càng cao thì càng phải tích cực, liên tục học tập, rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng. Khi gặp việc thuận lợi không tự cao, tự đại, thỏa mãn dừng lại, khi gặp việc khổ, việc khó thì không chùn bước, nản chí; phải dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm để hoàn thành nhiệm vụ. Thực tiễn cho thấy, có những cán bộ, đảng viên giữ cương vị lãnh đạo, quản lý cấp cao, là tướng lĩnh, trong lúc gian khổ thì không sợ nguy hiểm, cực khổ, có công với cách mạng, song đến khi có quyền hạn trong tay thì nảy sinh kiêu ngạo, tự mãn, xa xỉ, phạm vào tham ô, lãng phí, quan liêu, phải xử lý kỷ luật.

Thứ ba, “xây” đi đôi với “chống”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu người đảng viên trong quân đội phải luôn rèn luyện, tu dưỡng lối sống trong sạch, lành mạnh; thực sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; luôn gương mẫu trong việc giữ gìn vũ khí, trang bị, tài sản của quân đội; trong quan hệ với nhân dân, không được lấy dù là cái kim, sợi chỉ của nhân dân; mua bán với nhân dân phải công bằng, sòng phẳng; mượn cái gì của dân phải hỏi, dùng xong phải trả, làm hỏng, làm mất phải đền. Đồng thời, Người khẳng định phải kiên quyết chống lại những tệ nạn tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, xa rời quần chúng. Theo đó, việc rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cho đội ngũ đảng viên trong quân đội phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền, giáo dục những phẩm chất, tấm gương tốt để lan tỏa, nhân rộng, với xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm để ngăn chặn sự lây lan của chúng.

HAIVAN

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng của người đảng viên quân đội

 

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng vấn đề giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Vấn đề này được Người đề cập tới trong nhiều tác phẩm quan trọng như: Đường cách mệnh (năm 1927), Sửa đổi lối làm việc (năm 1947), Đời sống mới (năm 1947), Cần kiệm liêm chính (năm 1949), Đạo đức cách mạng (năm 1958), Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân (năm 1969) và bản Di chúc hoàn chỉnh lần cuối cùng (tháng 5-1969). Trong các tác phẩm ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi đạo đức là “gốc của người cách mạng”. Người chỉ rõ: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Bên cạnh đó, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phẩm chất đạo đức của người cán bộ, đảng viên được biểu hiện cụ thể ở các nội dung, như trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân; yêu thương con người; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; tinh thần quốc tế trong sáng. Những nội dung của đạo đức cách mạng có mối quan hệ biện chứng với nhau, chỉ cần thiếu một nội dung thì người cán bộ, đảng viên không thể làm tròn nhiệm vụ do Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

Đối với đội ngũ đảng viên trong quân đội, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, đạo đức cách mạng được biểu hiện cụ thể ở những điểm như sau:

Trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân. Đây là biểu hiện cao nhất ý thức đạo đức của người đảng viên nói chung, đặc biệt với những đảng viên là cán bộ, sĩ quan, công nhân viên, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng. Đó còn là biểu hiện cao nhất của lòng trung thành đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, là cơ sở để định hướng nhận thức và hành động, tạo thành niềm tin vững chắc và sức mạnh to lớn để mỗi đảng viên luôn hoàn thành chức trách, nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước giao phó. Người chỉ rõ: “Nước ta là nước dân chủ, nghĩa là nước nhà do nhân dân làm chủ” và “Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời cũng là đội tiên phong của dân tộc” lãnh đạo sự nghiệp cách mạng; đảng viên cũng là con, em của nhân dân và cũng chính “nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội”; do đó, đối với mỗi đảng viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam, trung với nước phải luôn gắn liền với trung với Đảng, hiếu với dân.

Đoàn kết, yêu thương đồng chí, đồng đội, gắn bó mật thiết với nhân dân. Đoàn kết, nhân ái luôn là truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam. Ở thời đại Hồ Chí Minh, truyền thống đó được hun đúc và phát triển lên một tầm cao mới, là cơ sở để tạo thành sức mạnh vô địch của dân tộc, giúp Quân đội nhân dân Việt Nam đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược. Đối với cán bộ, chiến sĩ quân đội, Người căn dặn: “...cần phải đoàn kết hơn nữa, đoàn kết chặt chẽ giữa chiến sĩ với nhau, giữa cán bộ với nhau, giữa chiến sĩ và cán bộ, giữa quân và dân. Đoàn kết là một lực lượng vô địch của chúng ta để khắc phục khó khăn, giành lấy thắng lợi. Người còn căn dặn: “Người đội trưởng, người chính trị viên phải là người anh, người chị, người bạn của đội viên”, bởi trong quân đội, người đội trưởng, người chính trị viên là những người đảng viên trực tiếp, hằng ngày tiến hành công tác giáo dục, rèn luyện và quản lý bộ đội; vì thế, có tình cảm gắn bó đó mới lan tỏa tinh thần đoàn kết, xây dựng được sự tin tưởng, thương yêu của đồng chí, đồng đội, mới sẵn sàng sẻ chia và giúp đỡ nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đây là một phẩm chất quan trọng, là nền tảng đạo đức của người quân nhân cách mạng nói chung, của người đảng viên trong quân đội nói riêng. Người chỉ rõ: “Cần, Kiệm, Liêm, Chính của ta là đạo đức của người quân nhân cách mạng. Các chú phải thực hiện đạo đức đó”; đồng thời, phải “Tu sửa mình cho kỳ giữ được chí công vô tư, đối với việc phải sáng suốt, đối vật không tham lam, gắng làm kiểu mẫu, làm kiểu mẫu cho bộ đội, cho nhân dân”. Người luôn đặt niềm tin và yêu cầu đội ngũ đảng viên trong quân đội phải rèn luyện toàn diện các phẩm chất đạo đức của người quân nhân cách mạng: “Phải làm sao cho trong quân đội ta không có tham ô lãng phí”.

Tinh thần quốc tế trong sáng là một nội dung không thể thiếu của đạo đức cách mạng. Trong Thư gửi các đơn vị bộ đội ta có nhiệm vụ tác chiến ở Thượng LàoNgười chỉ rõ “giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình”. Đồng thời, Người nhắc nhở mỗi cán bộ, chiến sĩ, trong đó có đội ngũ đảng viên trong quân đội, phải luôn biết ơn sự giúp đỡ to lớn của nhân dân, chính phủ và quân đội các nước anh em trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Thấm nhuần tư tưởng đó, nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ tình nguyện Việt Nam đã không quản ngại hy sinh, gian khổ, vượt qua mọi khó khăn, tham gia chiến đấu, công tác trên các chiến trường Lào và Campuchia, viết nên những trang sử sáng ngời về đạo đức cách mạng của người cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam.

HAIVAN

XEM LẠI CÁCH NHÌN, QUAN NIỆM VỀ TỰ DO TÔN GIÁO

 

Những năm gần đây, sự sôi động trong đời sống tôn giáo ở Việt Nam được thể hiện ở việc liên tục gia tăng số lượng các cơ sở thờ tự trong tôn giáo và tín đồ. Bất chấp điều đó, các thế lực thù địch vẫn vu cáo Việt Nam ngăn cản tự do tôn giáo, không công nhận các tổ chức tôn giáo.

Theo số liệu từ Ban Tôn giáo Chính phủ, nếu như năm 1985, số lượng tín đồ các tôn giáo ở Việt Nam vào khoảng 14 triệu, thì đến năm 2021 đã tăng lên hơn 26,5 triệu. Thành tựu trong bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam còn được thể hiện qua sự gia tăng số lượng các trường đào tạo chức sắc.

Tính đến tháng 4/2022, các tôn giáo ở Việt Nam có 66 cơ sở đào tạo chức sắc với 10.000 học viên đang theo học, riêng Giáo hội Phật giáo Việt Nam có 47 cơ sở đào tạo, trong đó có 4 học viện Phật giáo. Các cơ sở thờ tự cũng được quan tâm sửa chữa, xây mới. Tính đến ngày 31/12/2021, cả nước có 29.800 cơ sở thờ tự của các tôn giáo, tăng thêm 5.800 cơ sở so với năm 2008.

Hiện ở Việt Nam cũng có nhiều hệ thống tổ chức giáo hội có tầm hoạt động quốc tế, đặc biệt là Công giáo, Phật giáo và một số tổ chức tôn giáo có nguồn gốc nước ngoài du nhập vào Việt Nam, thể hiện thông qua việc mở rộng quan hệ với các tổ chức tôn giáo các nước và tiến hành các hoạt động thiện nguyện ở nước ngoài. Chẳng hạn như giữa tháng 6 vừa qua, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã tổ chức lễ trao tặng tài trợ, giúp đỡ nhân dân Sri Lanka vượt qua khó khăn do cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị tại đất nước này.

Không chỉ phát triển mạnh mẽ về số lượng, các tổ chức tôn giáo, tín đồ, chức sắc ở Việt Nam đã chứng tỏ tầm ảnh hưởng tích cực đối với đời sống, sẵn sàng đóng góp cho cộng đồng thông qua các hoạt động thiện nguyện và đồng hành với các hoạt động của đất nước, mà những gì diễn ra trong giai đoạn đại dịch COVID-19 phức tạp là một ví dụ điển hình.

Những con số và ví dụ nói trên một mặt phản ánh sự quan tâm của Nhà nước Việt Nam trong thực hiện nhất quán quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; mặt khác khẳng định Việt Nam không phân biệt giữa người có tín ngưỡng, tôn giáo hay không; không phân biệt hay kỳ thị bất kỳ tôn giáo nào dù nội sinh hay được truyền từ nước ngoài, dù là tôn giáo đã ổn định lâu dài hay mới được công nhận.

Thực tế cũng cho thấy, các tín đồ tôn giáo ở Việt Nam ngày càng đông và họ được tự do hành lễ dù ở nhà riêng hay nơi thờ tự. Mỗi người Việt Nam cũng thường có tín ngưỡng riêng, chẳng hạn như thờ cúng tổ tiên, ngày rằm mùng một thắp hương... nhưng vẫn có thể theo tôn giáo. Ngoài ra, nhiều lễ hội tôn giáo diễn ra hằng năm không còn là chuyện riêng của từng tôn giáo mà đã có sức lan tỏa lớn trong cộng đồng xã hội, qua đó làm giàu thêm đời sống tinh thần của nhân dân. 

Qua đó để thấy rằng, việc một số cá nhân, tổ chức nước ngoài thường xuyên bóp méo hoặc có cái nhìn sai lệch về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam có thể do mưu đồ rắp tâm chống phá Việt Nam thông qua vấn đề dân chủ, tôn giáo và nhân quyền, hoặc cũng có thể do sự khác biệt trong cách nhìn và quan niệm của họ về vấn đề này. 

Can thiệp sâu vào tình hình tự do nhân quyền cũng như tự do tín ngưỡng, tôn giáo của các quốc gia khác và cố bắt các quốc gia ấy phải mặc “bộ cánh tự do tôn giáo” mang màu sắc phương Tây là điều không thể chấp nhận được. Bộ cánh ấy qua mô tả thì rất mỹ miều và hợp thời, nhưng liệu đã có ai thừa nhận sự chuẩn mực của nó?

HAIVAN

Đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc về chính sách đất đai

 

Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nội dung này được đông đảo người dân đồng tình, ủng hộ. Bất chấp thực tế đó, các thế lực thù địch, phản động, cực đoan thường xuyên tuyên truyền những luận điệu sai trái, xuyên tạc chính sách đất đai của Việt Nam, âm mưu làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Điều 53 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Xét từ góc độ lý luận và thực tiễn cho thấy chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam hiện nay thể hiện tính đúng đắn, phù hợp điều kiện cụ thể của nước ta cũng như định hướng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta lựa chọn.

Trong thời kỳ quá độ, Việt Nam phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chấp nhận đa thành phần kinh tế, đa hình thức sở hữu để phù hợp trình độ không đồng đều của lực lượng sản xuất nhằm giải phóng sức sản xuất, thúc đẩy kinh tế phát triển. Tuy nhiên, ngay từ đầu, mục tiêu phát triển kinh tế của Việt Nam là bảo đảm kết quả tăng trưởng kinh tế phục vụ cho lợi ích của tất cả mọi giai tầng trong xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Trong nền kinh tế Việt Nam, chế độ công hữu tư liệu sản xuất chủ yếu giữ vai trò chủ đạo bởi như vậy mới giúp tạo ra sự bình đẳng về kinh tế, tạo cơ sở để người dân thực hiện quyền bình đẳng và quyền làm chủ của mình trên các lĩnh vực khác của đời sống. Do đó, đất đai với tư cách là một trong những loại tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng có tính chất quyết định trong phát triển kinh tế cũng thuộc quyền sở hữu toàn dân.

Từ đây có thể thấy, quan điểm cho rằng Việt Nam phát triển kinh tế đa thành phần, nhiều hình thức sở hữu thì phải thừa nhận chế độ đa sở hữu về đất đai (tức là thừa nhận sở hữu tư nhân về đất đai) như nhiều nước trên thế giới mới phù hợp và bảo đảm dân chủ, công bằng là hết sức võ đoán và phi lý. Ở nhiều nước tư bản hiện nay thực hiện chế độ đa sở hữu về đất đai gồm: sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể, sở hữu của các cơ quan nhà nước, tuy nhiên đa phần diện tích đất ở và đất sản xuất, kinh doanh đều thuộc sở hữu tư nhân, mà chủ yếu là các nhà tư bản.

Đây là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tình trạng phân hóa giàu nghèo, phân hóa xã hội ngày càng sâu sắc tại các quốc gia này. Tất nhiên, theo quy định pháp luật khi cần Nhà nước cũng có thể thu hồi đất của tư nhân để phục vụ phát triển kinh tế-xã hội hay thực hiện nhiệm vụ quốc phòng-an ninh. Nhưng Nhà nước tư sản do giai cấp tư sản lập nên và sử dụng để bảo vệ tối đa cho quyền và lợi ích của mình, do đó, nếu có thu hồi, trưng dụng đất tư vì bất cứ mục đích gì thì cũng không nằm ngoài phạm vi bảo vệ và phục vụ tốt hơn cho lợi ích cho giai cấp tư sản.

Cho nên, sở hữu tư nhân, đa sở hữu về đất đai không thể trở thành cơ sở để bảo đảm mục tiêu phát triển kinh tế vì con người, gắn tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội như chế độ công hữu về đất đai, tất cả mọi người dân đều là chủ sở hữu của đất đai như ở Việt Nam hiện nay. Điều này đồng nghĩa với việc đòi hỏi từ bỏ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai để thừa nhận sở hữu tư nhân hay chế độ đa sở hữu về đất đai là nhằm mưu đồ đòi hỏi từ bỏ những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa, theo đúng ý đồ của các thế lực thù địch.

Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Theo đó, Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu có thể thực hiện vai trò kiểm soát, quản lý và điều tiết các quan hệ đất đai trên cơ sở bảo đảm sự bình đẳng của người dân trong việc thực hiện các quyền với tư cách là chủ sở hữu thật sự đối với tài nguyên đất nhằm hưởng lợi tối đa từ nguồn tài nguyên này một cách công bằng; khắc phục và hạn chế ở mức thấp nhất những vấn đề liên quan đến sự phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng về thu nhập từ đất đai. Hơn nữa, việc đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý cũng tạo điều kiện thuận lợi cho Nhà nước Việt Nam có thể sử dụng nguồn tài nguyên này phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội.

Như vậy, Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý về đất đai là nhằm mục đích để tài nguyên đất được sử dụng một cách hợp lý và hiệu quả nhất phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì lợi ích của nhân dân. Do đó, việc các thế lực thù địch đưa ra luận điệu cho rằng “sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam là thực hiện quyền làm chủ của nhân dân trên hình thức còn thực tế đã tước quyền sở hữu của nhân dân bởi thực chất, đất đai thuộc quyền sở hữu, quản lý của Nhà nước, của các cơ quan, tổ chức và những người trong bộ máy Nhà nước” là đánh tráo khái niệm nhằm mục đích dẫn đến cách hiểu sai lầm về bản chất của chế độ sở hữu đất đai ở Việt Nam.

Bên cạnh đó, với chế độ sở hữu toàn dân về đất đai do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, luật pháp Việt Nam nhất là Luật Đất đai năm 2013 đã cung cấp những căn cứ để phân định rõ ràng quyền hạn cũng như trách nhiệm của người sử dụng đất (người được giao đất và người thuê đất) và người đại diện chủ sở hữu toàn dân, thống nhất quản lý đất (cơ quan nhà nước các cấp). Cụ thể: Điều 5 của Luật Đất đai năm 2013 quy định: Người sử dụng đất gồm: tổ chức trong nước; hộ gia đình, cá nhân trong nước; cộng đồng dân cư; cơ sở tôn giáo; tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Điều 7, 8 của Luật Đất đai cũng quy định rõ cá nhân nào có đủ tư cách là đại diện pháp lý trong các giao dịch đất đai của các chủ thể sử dụng đất theo Điều 5; đồng thời luật cũng phân định rõ ràng các quyền hạn và trách nhiệm của Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai (từ Điều 13 đến Điều 21).

Như vậy, không có chuyện như các thế lực thù địch vẫn rêu rao, xuyên tạc đó là sở hữu đất đai toàn dân thì “mù mờ về pháp lý”, không tìm thấy các chủ thể trong các quan hệ pháp lý về đất đai, đặc biệt khi có những tranh chấp, xung đột, mâu thuẫn… về đất đai xảy ra thì không có cơ sở pháp lý để giải quyết đúng đắn, công bằng. Và càng không thể có chuyện phải chuyển từ sở hữu toàn dân sang đa sở hữu về đất đai, thừa nhận sở hữu tư nhân thì mới giải quyết được tình trạng này.

Ở các nước trên thế giới khi thực hiện chế độ đa sở hữu về đất đai, thừa nhận sở hữu tư nhân thì những tiêu cực, mâu thuẫn, tranh chấp, xung đột vẫn xảy ra khá phổ biến vì nhiều lý do mà một trong số đó là bởi Nhà nước vẫn có quyền thu hồi, trưng dụng đất tư trong những trường hợp cần thiết. Điều đó cũng rất dễ nảy sinh tình trạng lạm quyền, tiêu cực dẫn đến các tranh chấp, mâu thuẫn, xung đột đất đai gây bức xúc trong dư luận xã hội. Thực tế, ở nhiều nước chính quyền đã mang xe ủi đi cưỡng chế giải tỏa đất đai cho mục tiêu phát triển kinh tế của mình.

Điều này đồng nghĩa với việc sở hữu toàn dân không phải là căn nguyên của tình trạng tiêu cực, mâu thuẫn, tranh chấp, xung đột hay những điểm nóng về đất đai ở nước ta hiện nay. Muốn giải quyết những tiêu cực, bức xúc, tranh chấp, điểm nóng về đất đai thì phải bắt đầu từ sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính sách, pháp luật, quy định về quản lý, sử dụng đất; có những biện pháp tổ chức thực hiện hiệu quả chứ không phải là nằm ở việc thay đổi chế độ sở hữu.

Có thể thấy, tất cả những quan điểm phê phán chế độ sở hữu đất đai toàn dân ở Việt Nam hiện nay là mục đích thu hẹp dần và tiến tới loại bỏ vai trò của Nhà nước Việt Nam trong quản lý đất đai, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng với hoạt động đất đai để làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Do đó, đòi hỏi chúng ta phải tỉnh táo nhận diện, cảnh báo người dân không bị lôi kéo, tin nghe theo các thông tin sai sự thật liên quan đến vấn đề đất đai; kịp thời đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc chế độ sở hữu toàn dân về đất đai.

HAIVAN

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH: LẤY TRUNG THỰC LÀM CỐT LÕI

 

Phẩm chất trung thực cần trở thành giá trị cốt lõi trong hệ thống chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên. Bởi trung thực không những là thước đo giá trị con người, mà còn có khả năng hội tụ, lan tỏa những giá trị văn hóa, đạo đức phổ quát khác.

1. Phẩm chất trung thực luôn được tôn vinh ở ngôi đầu nhân cách con người. Trung thực càng có ý nghĩa bao nhiêu thì không trung thực càng tai hại bấy nhiêu. Đối với cá nhân, không trung thực cũng có nghĩa là giả dối, mà giả dối để lợi mình, hại người thì mất đạo đức. Mất đạo đức là mất tất cả. Đối với cộng đồng, xã hội, nếu gian dối nổi lên chiếm số đông, đẩy trung thực trở thành thứ yếu thì đã đến lúc đạo đức xã hội suy đồi, đáng báo động.

Với cán bộ, đảng viên, đức tính trung thực càng có ý nghĩa quan trọng. Bởi cán bộ, đảng viên trung thực trước là cho mình, sau còn làm gương cho quần chúng. Thực tiễn đời sống cho thấy, những cán bộ đánh mất tính trung thực, vừa mất lòng tin của nhân dân, vừa lạc hướng, nhẹ thì bị kỷ luật, nặng thì lâm vào vòng lao lý.

Chỉ lấy hai ví dụ gần nhất là thấy rõ tác hại của không trung thực. Một là trường hợp Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre Lê Đức Thọ vừa bị cách tất cả các chức vụ trong Đảng mà một trong những vi phạm là kê khai tài sản không trung thực. Hai là trường hợp Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Bắc Ninh Nguyễn Công Thắng bị đề nghị kỷ luật vì dùng giấy công nhận văn bằng trình độ thạc sĩ giả... Rõ ràng, từ không trung thực, cán bộ mất cả công danh, sự nghiệp và nặng nhất là mất danh dự.

Thế nhưng, thực tế cho thấy, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên vẫn có biểu hiện thiếu trung thực, gian dối. Báo cáo mới nhất của Chính phủ về tình hình kê khai tài sản từ tháng 2-2022 đến tháng 4-2023 cho thấy, qua xác minh, các cơ quan có thẩm quyền đã phát hiện 2.664 người có sai sót... Đặc biệt, các cơ quan đã xử lý 54 người do không trung thực trong kê khai tài sản, thu nhập và giải trình nguồn gốc tài sản tăng thêm.

Không chỉ trong lĩnh vực kê khai tài sản, các biểu hiện về thiếu trung thực trong cán bộ, đảng viên còn rất đa dạng, như: Khai gian tuổi, khai man hoặc cố tình che giấu tình tiết khi kê khai lý lịch; tung tin đồn thất thiệt về người nọ, người kia, làm rối loạn lòng người, gây mất đoàn kết nội bộ; “tham mưu láo, báo cáo sai”; giấu giếm khuyết điểm, khoe khoang thành tích; lo lót, chạy chọt, mua bán bằng cấp, chức quyền; nói nhiều, làm ít; nói hay, làm dở; nói một đằng, làm một nẻo; nói trong hội nghị khác ngoài hội nghị, nói trước tập thể khác với cá nhân, nói với cấp trên khác với cấp dưới, nói với đảng viên khác với quần chúng; thiếu công bằng, hay thiên vị; “yêu nên tốt, ghét nên xấu”...

Không ít trường hợp từ thiếu trung thực chuyện nhỏ dẫn đến vi phạm to; từ ăn gian, nói dối để thủ lợi ít, lâu quen thành tham ô, tham nhũng, tiêu cực. Hàng chục cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý bị kỷ luật, bị xét xử thời gian qua đều có điểm chung là thiếu trung thực.

2. Thấu hiểu giá trị to lớn của đạo đức mà tính trung thực là cốt lõi, thước đo, từ nhiệm kỳ Đại hội XII, Trung ương Đảng đã chủ trương tăng cường xây dựng Đảng về đạo đức. Để xây dựng Đảng về đạo đức, nhất định phải quan tâm đến hai chiều: Một là xây dựng được văn hóa trung thực trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, từ đó lan tỏa ra xã hội; hai là chăm lo xây dựng xã hội trung thực, trong đó có cán bộ, đảng viên.

Để làm tốt chiều thứ nhất, cần tiếp tục thực hiện hiệu quả nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng, gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; thực hiện tốt phương châm “trên trước, dưới sau”, “trong trước, ngoài sau”, “học đi đôi với làm theo”.

Vừa qua, Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì nghiên cứu xây dựng “chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới”. Đây là việc làm cần thiết, qua đó tạo thêm tấm gương để mỗi cán bộ, đảng viên tự soi, tự sửa hằng ngày; để ai cũng thực hành và coi "danh dự là điều thiêng liêng nhất".

Giải pháp quan trọng nữa là phải tiếp tục siết chặt kỷ cương, kỷ luật và trách nhiệm trong hệ thống chính trị, nhất là trong giải quyết công việc của dân, doanh nghiệp; khắc phục triệt để tình trạng đùn đẩy, né tránh, sợ sai, sợ trách nhiệm. Các cấp, ngành cần hoàn thiện hệ thống quy chế làm việc, quy trình nội bộ; tăng cường kiểm tra, giám sát; nâng cao chất lượng đánh giá cán bộ, đảng viên; kịp thời phát hiện vi phạm; thưởng phạt phân minh, có lý, có tình, bảo đảm kỷ luật không có vùng cấm, không có ngoại lệ, đi đôi với khen thưởng kịp thời, xứng đáng... Một giải pháp quan trọng không kém là phải sớm thực hiện cải cách tiền lương, nâng cao thu nhập cho cán bộ, công chức, viên chức...

Để làm tốt chiều thứ hai, điều quan trọng là phải tập trung đổi mới công tác giáo dục - đào tạo thế hệ trẻ, đặt giáo dục phẩm chất trung thực là ưu tiên hàng đầu; xây dựng triết lý giáo dục xoay quanh phẩm chất cốt lõi này. Muốn giáo dục phẩm chất trung thực để hình thành một thế hệ trung thực, một xã hội trung thực, một đất nước trung thực cần huy động được sự chung sức, đồng lòng, cùng nhau gánh vác của gia đình, nhà trường và xã hội. Quá trình này phải thực hiện từng bước chắc chắn, cùng với vai trò quyết định của nhà trường, phải lấy gia đình làm hạt nhân, lấy cộng đồng làm nơi nuôi dưỡng.

Lựa chọn làm một cán bộ, đảng viên trung thực đòi hỏi bản lĩnh, lòng dũng cảm, đức hy sinh.

Sống trung thực chịu nhiều khó khăn, nhưng đổi lại, làm người trung thực có những giá trị quý báu không mua được bằng tiền. Bởi có câu: Trung thực là chương đầu tiên trong cuốn sách về sự khôn ngoan. Còn người xưa nói: Những người tính nết thật thà/Đi đâu cũng được người ta tin dùng./. 



NHẬN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH VỚI CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ TÌNH HÌNH NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM


Bản “Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền” ra đời cách đây 75 năm là dấu mốc quan trọng khẳng định khát vọng, mục tiêu chung và nhu cầu phổ quát của nhân loại về quyền con người. Ở Việt Nam, những tư tưởng và giá trị của Tuyên ngôn nhân quyền luôn được Đảng và Nhà nước ta coi trọng, thực thi đầy đủ, nghiêm túc, trách nhiệm. Thế nhưng, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại thường xuyên đưa ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc, vu cáo tình hình nhân quyền để chống phá.

Lấy cớ diễn trò lố

Nhân quyền hay quyền của con người là những quyền tự nhiên của con người và không bị tước bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ chính thể nào. Nhân quyền là danh từ trong sáng, dùng để chỉ một trong những giá trị căn cốt của loài người. Kỷ niệm Ngày Nhân quyền quốc tế (10/12) là dịp để Liên hợp quốc và các quốc gia thành viên tôn vinh những giá trị cao cả cùng những thành tựu đạt được trong thúc đẩy, bảo vệ quyền con người.

Với Việt Nam, những thành tựu ấy được minh chứng cụ thể qua việc không ngừng nâng cao đời sống, bảo vệ các quyền hợp pháp của người dân, đồng thời tích cực đóng góp cho nỗ lực thúc đẩy quyền con người trên toàn thế giới.

Song bất chấp thực tế mà nước ta đạt được trong bảo đảm, thúc đẩy quyền con người, hội nhóm, cá nhân phản động lưu vong ở nước ngoài, những tổ chức mượn danh “nhân quyền”, hãng truyền thông hải ngoại định kiến với Việt Nam lại dùng những chiêu bài xảo trá để đả phá. Trong đó cần nhận diện, đấu tranh qua những vấn đề sau:

Thứ nhất, mượn ngày Nhân quyền quốc tế, một số tổ chức thường ra thông báo, cáo trình bày tỏ quan điểm đánh giá sai sự thật về bảo đảm nhân quyền ở Việt Nam. Trong đó, tổ chức Giám sát nhân quyền (HRW) “kêu gọi Việt Nam cải tổ gấp quyền con người trước kỳ kiểm định phổ quát sắp đến” nhằm xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm các luật lệ quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Mặc dù mang cái tên rất mỹ miều là “Giám sát nhân quyền” nhưng mọi hoạt động của tổ chức này đều thể hiện rõ tâm địa xấu xa, mưu đồ và động cơ chính trị đen tối, thấp hèn. Dù không có mặt ở Việt Nam, không khảo sát thực tiễn, không có những tài liệu chính thống, không hiểu được tình hình nhân quyền ở nước ta nhưng HRW lại luôn tự cho mình quyền phán xét về nhân quyền Việt Nam, kêu gọi Việt Nam “cần khẩn cấp cải tổ quyền con người”. Các thông tin mà HRW có được thực chất từ một vài tổ chức, cá nhân bất mãn, cơ hội chính trị cung cấp. Điều này cho thấy rõ âm mưu, thủ đoạn bôi nhọ hình ảnh đất nước, con người Việt Nam của HRW.

Thứ hai, trao giải thưởng nhân quyền cho các đối tượng có hoạt động chống phá Tổ quốc, xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc. Vào ngày 18/11/2023, tổ chức Mạng lưới nhân quyền Việt Nam (tiếng Anh: Vietnam Human Rights Network – VHRN) có trụ sở tại bang California (Mỹ) công bố cái gọi là “Báo cáo nhân quyền 2022-2023” để xuyên tạc kỳ thị tôn giáo, dân tộc đồng thời cổ vũ cho những đối tượng lợi dụng quyền tự do dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc tiến hành các hoạt động trái pháp luật, phá hoại đất nước. Đều đặn hằng năm, mạng lưới này còn tiến hành xét họp, bình chọn, công bố “Giải thưởng nhân quyền Việt Nam” để “tuyên dương thành tích tranh đấu bất bạo động cho lý tưởng nhân quyền tại Việt Nam”. Đối tượng nào có “thành tích” chống phá đất nước càng nhiều thì tỷ lệ được trao giải thưởng càng cao. Năm nay, các đối tượng Trần Văn Bang, Y Wô Niê, Lê Trọng Hùng – những kẻ đang phải chấp hành án phạt tù về các hoạt động chống phá đất nước được tổ chức này “vinh danh”, tán dương.

Cùng với tổ chức ngoại vi của mình là VHRN, lợi dụng ngày Nhân quyền quốc tế, tổ chức phản động Việt Tân cũng đăng đàn trên mạng xã hội tiến hành trao giải thưởng nhân quyền với tên gọi “Giải thưởng nhân quyền Lê Đình Lượng” cho các đối tượng vi phạm pháp luật Việt Nam để ca ngợi, cổ xúy cho các hoạt động chống phá Việt Nam. Năm nay Việt Tân đã tổ chức bình chọn, trao giải và xướng tên đối tượng Trương Văn Dũng.

Điểm chung của trò lố “Giải thưởng nhân quyền” là các đối tượng được các tổ chức này trao giải đều có các hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc, phỉ bảng, nói xấu chính quyền, thông tin sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân, thể hiện thái độ thù ghét, bất mãn đối với Đảng, Nhà nước, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Đằng sau trò lố đó là tìm kiếm nguồn tài chính hỗ trợ, đồng thời để cho các đối tượng trong nước bấu víu, tiếp tục tiến hành các hoạt động phá hoại Tổ quốc, nhân dân.

Thứ ba, không dừng lại ở trao “Giải thưởng nhân quyền”, các thế lực thù địch còn lồng ghép với thủ đoạn đòi thả tự do cho các đối tượng được gọi là “tù nhân lương tâm”. Thực chất, đây là các đối tượng có hành vi phạm tội, đối tượng phải chịu sự điều tra, truy tố, xét xử công khai, bị tuyên án và phải chấp hành án phạt tù khi có hành vi tuyên truyền, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, phỉ báng chính quyền nhân dân, xâm hại đến quyền, lợi ích chính đáng của các tổ chức, cá nhân; thường xuyên kích động nhân dân chống đối chính quyền; soạn thảo, phát tán nhiều tài liệu bôi xấu chế độ. Ngoài ra, họ còn tổ chức khảo sát, lấy ý kiến về tình hình nhân quyền ở Việt Nam trên mạng xã hội; tự cho mình có sứ mệnh giải quyết những khó khăn, vướng mắc của người dân trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, kêu gọi các tổ chức quốc tế, chính phủ các nước can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam; phủ nhận những nỗ lực trong thúc đẩy quyền con người Việt Nam; đòi thay đổi thể chế chính trị…

Những âm mưu, thủ đoạn trên được tiến hành đều đặn và bung nở mạnh mẽ khi Liên hợp quốc, các tổ chức trực thuộc và các quốc gia thành viên tiến hành các hoạt động hướng đến kỷ niệm ngày Nhân quyền quốc tế. Các thế lực thù địch đã triệt để khai thác các tính năng của Internet, truyền thông, mạng xã hội nhằm làm méo mó bản chất, giá trị ngày Nhân quyền quốc tế. Mục đích của họ nhằm gây mất ổn định tình hình an ninh, trật tự; quy kết, vu cáo “Việt Nam không có nhân quyền”, “chính quyền không bảo đảm quyền con người”, từ đó muốn đưa Việt Nam đi theo các lối nhân quyền kiểu phương Tây; phớt lờ những sáng kiến đóng góp của Việt Nam cho các hoạt động nhân quyền của Liên hợp quốc…

Nhân quyền không phải là tuyệt đối

Quyền con người là những quyền tự nhiên của con người mà không có bất cứ ai, tổ chức, thể chế chính trị nào có thể tước bỏ. Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc đã đưa ra quan niệm về quyền con người, đó là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những tự do cơ bản của con người.


Như vậy, quyền con người được xác định như là những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ. Những chuẩn mực này kết tinh những giá trị nhân văn của toàn nhân loại, chỉ áp dụng với con người và dành cho tất cả mọi người. Nhờ có những chuẩn mực này, mọi thành viên trong gia đình nhân loại mới được bảo vệ nhân phẩm và mới có điều kiện phát triển đầy đủ các năng lực của cá nhân với tư cách là một con người. Cho dù cách nhìn nhận có những khác biệt nhất định, một điều rõ ràng là quyền con người đều mang tính phổ quát, là những giá trị cao cả cần được tôn trọng và bảo vệ trong mọi xã hội và trong mọi giai đoạn lịch sử.


Tuy nhiên, dưới mọi góc độ nghiên cứu quyền con người đều không có tính tuyệt đối, trong lĩnh vực nhân quyền, giữa quyền và nghĩa vụ luôn song hành, thống nhất với nhau, không tách rời nhau. Trong bất kỳ thể chế chính trị nào hiện nay, quyền con người không được xem là quyền tuyệt đối mà bị giới hạn bởi các quy định của pháp luật để ngăn cản, điều chỉnh, xử lý những hành vi lạm dụng quyền của cá nhân, tổ chức này xâm hại đến quyền lợi của cá nhân, tổ chức, Nhà nước. Một số tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực nhân quyền nhưng thiếu thiện chí với Việt Nam đã không hiểu hoặc cố tình phớt lờ các mối quan hệ trên nên thường có cái nhìn phiến diện, sai lệch, thiếu khách quan đối với vấn đề nhân quyền ở nước ta.


Bàn về vấn đề quyền và nghĩa vụ, tại khoản 1, Điều 29, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 quy định: “Tất cả mọi người đều có những nghĩa vụ với cộng đồng mà ở đó nhân cách của bản thân họ có thể phát triển một cách tự do và đầy đủ”. Theo khoản 2 điều này thì mỗi người trong khi hưởng thụ các quyền và tự do cá nhân đều phải chịu những hạn chế do luật định nhằm bảo đảm sự thừa nhận và tôn trọng các quyền và tự do của người khác…


Ở Việt Nam, khái niệm về quyền con người được thể hiện đậm nét trong bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, được Chủ tịch Hồ Chí Minh long trọng công bố tại Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Năm 1945, ngay sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được khai sinh (nay là Cộng hòa XHCN Việt Nam), quyền con người, quyền công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1946 và sau đó tiếp tục được khẳng định, mở rộng trong các Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992, 2013. Hiến pháp năm 2013 là đạo luật gốc, là văn kiện pháp lý cao nhất của Nhà nước Việt Nam đã ghi nhận một cách toàn diện, cụ thể các quyền con người và nội dung các quyền này đã được trình bày xuyên suốt trong các chương, mục của Hiến pháp.


Theo đó, tại Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Đồng thời, cũng tại Điều 14 nêu rõ: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Tại Điều 15, Hiến pháp 2013 quy định rõ nghĩa vụ, trách nhiệm của công dân: “Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân; mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác; công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội; việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”.


Trên cơ sở Hiến pháp, xuất phát từ quan điểm không ngừng thúc đẩy quyền con người, Nhà nước Việt Nam đã từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật để bảo đảm các quyền con người được tôn trọng và thực thi một cách trọn vẹn nhất. Hệ thống pháp luật Việt Nam đã thể hiện đầy đủ tất cả các quyền cơ bản, phổ biến của con người được nêu trong Tuyên ngôn Nhân quyền thế giới năm 1948 và các công ước quốc tế khác của Liên hợp quốc về quyền con người.


Mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước Việt Nam đều lấy con người là trung tâm, phấn đấu cho mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, phát triển đất nước phồn vinh, tất cả vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Điều này đã được các văn kiện qua các kỳ đại hội Đảng chỉ rõ, đặc biệt Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”./.



CÁI GÌ TỒN TẠI LÀ HỢP LÝ VÀ CÁI GÌ HỢP LÝ SẼ TỒN TẠI”


Trong thời đại công nghệ thông tin, lướt trên mạng xã hội, chúng ta được tiếp nhận một lượng thông tin đa dạng, khổng lồ. Chỉ cần nhập một từ khóa là đã “nhảy ra” hàng loạt nội dung thông tin gợi ý. Rõ ràng, những tiện ích của kỷ nguyên công nghệ thông tin sẽ làm cho cuộc sống chúng ta tốt hơn nếu đó là những thông tin tích cực.


Tuy nhiên, có những người luôn tung ra những thông tin thất thiệt gây nhiễu loạn, đánh lừa tư duy nhận thức xã hội, tạo scandal tiêu cực, phản cảm... Lượng thông tin “hạ cám” này như “trăm hoa đua nở” nhằm mục đích giựt gân, câu like... nhằm kiếm thù lao từ nhà mạng. Dạng thông tin này đang được khai thác khá đậm đặc, bao phủ nhiều lĩnh vực trong đời sống.


Bên cạnh đó, không ít người nhân danh dân chủ, nhân quyền, tôn giáo... để chống phá, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Những chiêu trò này không mới, được các thế lực thù địch tận dụng thực hiện trên hầu hết các kênh, mạng xã hội, hòng làm suy giảm niềm tin của nhân dân ta, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.


Triết gia duy tâm siêu hình Hegel từng nói: “Cái gì tồn tại là hợp lý, cái gì hợp lý sẽ tồn tại”. Trong thế giới vật chất, mọi hiện tượng xã hội tồn tại đều có cái lý hợp lý của nó. Nếu nó không thỏa cái lý nhân và quả hợp lý tất yếu nó sẽ không tồn tại. Và nhân loại đã tồn tại, phát triển đúng cái lý tồn tại như Hegel tổng kết.


Lịch sử dân tộc Việt Nam từng trải qua những giai đoạn lịch sử đầy bi thương nhưng rất đỗi hào hùng. Tất cả mất mát, đau thương đó được dân tộc ta đẩy lùi vào quá khứ, vững bước tiến lên dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong gần 1 thế kỷ qua. Từ đêm trường nô lệ, nhân dân ta đã vùng lên chiến đấu, thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ! Thành quả rực rỡ là chỉ sau 15 năm có Đảng, cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại thành công đã khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 02/9/1945.


Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu, nước ta đã làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu ngày 07/5/1954. Tiếp đó là 21 năm trường kỳ đánh Mỹ, kết thúc bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử làm nên Đại thắng ngày 30/4/1975. Từ đây, đất nước ta thực sự được giải phóng, cởi bỏ ách nô dịch thực dân, đế quốc. Tổ quốc Việt Nam liền một dải, dân tộc Việt Nam được sống trong độc lập, hòa bình, vững bước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.


Gần nửa thế kỷ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đi qua với biết bao thăng trầm, thách thức trong thế bị bao vây cấm vận; hậu quả nặng nề của chiến tranh, nạn thiên tai, địch họa dồn dập ập tới những năm 1978-1979 ở 2 đầu biên giới như “3 xôi nhồi 1 chõ” càng làm cho nền KT-XH tưởng chừng như không thể vượt qua được. Tuy nhiên, “đá thử vàng, gian nan thử sức”, một lần nữa, dân tộc ta lại “chung lưng đấu cật” gắn bó thành một khối dưới sự lãnh đạo của Đảng, đổi mới tư duy và hành động bắt đầu từ “những việc cần làm ngay”, “những việc cần đột phá”...


Đặc biệt, qua 37 năm thực hiện đường lối đổi mới, nước ta đã bứt phá ngoạn mục. Tốc độ đô thị hóa, xây dựng nông thôn mới, kết cấu hạ tầng giao thông, trường học, mạng lưới chăm sóc sức khỏe nhân dân ngày càng hiện đại. Trong đại dịch Covid-19, Việt Nam cũng được thế giới đánh giá cao về công tác phòng, chống, kiểm soát dịch bệnh.


Rõ ràng không có sự phản biện, phản bác nào tốt nhất, hiệu quả nhất bằng thực tiễn cuộc sống. Những thành quả KT-XH sau gần 1 thế kỷ dưới sự lãnh đạo của Đảng là minh chứng hùng hồn, đập tan mọi luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, những lời rêu rao mị dân của những người nhân danh “dân chủ”.


Gần 1 thế kỷ dẫn dắt dân tộc Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giương cao ngọn cờ chính nghĩa, sáng suốt hoạch định chiến lược, sách lược cho từng giai đoạn cách mạng. Tất nhiên, trong từng giai đoạn, có lúc, có nơi và cũng có một số cán bộ suy về thoái tư tưởng chính trị, tha hóa về đạo đức, lối sống, tham nhũng, lạm quyền gây búc xúc, suy giảm lòng tin của nhân dân.


Từ những “con sâu làm rầu nồi canh” này, các thế lực thù địch đã lợi dụng khoét sâu, khuếch đại để xuyên tạc, chống phá. Nhìn nhận đúng tình hình, Đảng ta luôn xem công tác xây dựng Đảng là then chốt, xây dựng chính quyền của dân, do dân, vì dân. Thời gian qua, nhiều tập thể, cá nhân vi phạm đã bị xử lý thích đáng dù ở bất cứ cấp nào, không có vùng cấm, không có ngoại lệ.


Đảng ta kiên quyết loại bỏ những kẻ “sâu dân, mọt nước”; đề bạt cán bộ có đức, có tài, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, luôn đặt lợi ích của Tổ quốc và nhân dân lên trên hết. Đây là cuộc đấu tranh kiên trì, lâu dài và phải tập trung quyết liệt như lời Tổng Bí thư Nguyễn Phú trọng đã nêu.


Trong gần 100 năm có Đảng lãnh đạo, dân tộc Việt Nam đã vượt bao thác ghềnh, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác một cách vẻ vang, nâng cao uy tín, vị thế trên trường quốc tế. Quốc tế đã có tổng kết về Việt Nam với 3 cốt lõi: Là quốc gia có nền chính trị - xã hội ổn định nhất, kiên trì mục tiêu Độc lập - Tự do - Hạnh phúc cho nhân dân; là quốc gia thân thiện, có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế, luôn liên kết mở rộng ban giao vì lợi ích chung hòa bình, hữu nghị, cùng hợp tác phát triển bền vững; công tác phòng, chống tiêu cực, tham nhũng ngày càng hiệu quả, tạo môi trường lành mạnh đáng sống.


“Dù ai nói ngả nói nghiêng/Lòng ta vẫn vững như kiềng 3 chân”. Câu ca dao của cha ông luôn nhắc nhớ chúng ta phải kiên định lập trường, khẳng định con đường đi lên của dân tộc. Đó chỉ có thể là con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Và chỉ có con đường này mới giữ vững độc lập, chủ quyền, bảo vệ toàn vẹn Tổ quốc, xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, xây dựng xã hội ưu việt quyền lực thuộc về nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng./. 




Khẳng định thành tựu nhân quyền, lan tỏa với thế giới

 Xuyên suốt các giai đoạn cách mạng, nguyên tắc “lấy dân làm gốc”, tất cả vì con người, vì nhân dân và lấy con người làm trung tâm, là chủ thể, nguồn lực, động lực quan trọng nhất và là mục tiêu của sự phát triển…  được thể hiện, chứng minh trong mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước và thực tế thành tựu nước ta đạt được.

Gia tăng luận điệu sai trái, xuyên tạc trong dịp kỷ niệm ngày quốc tế về nhân quyền

 Bản “Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền” ra đời cách đây 75 năm là dấu mốc quan trọng khẳng định khát vọng, mục tiêu chung và nhu cầu phổ quát của nhân loại về quyền con người. Ở Việt Nam, những tư tưởng và giá trị của Tuyên ngôn nhân quyền luôn được Đảng và Nhà nước ta coi trọng, thực thi đầy đủ, nghiêm túc, trách nhiệm. Thế nhưng, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại thường xuyên đưa ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc, vu cáo tình hình nhân quyền để chống phá.

Khi tự do cá nhân gắn với lợi ích cộng đồng

 Trong tiến trình thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, cán bộ lãnh đạo, quản lí ở một số cơ quan, đơn vị… được trao cho nhiều quyền, được tự do quyết định toàn bộ công việc được giao. 

Chủ trương nói trên là hoàn toàn đúng, bởi nó đã thực hiện một bước tiến mới trong sự nghiệp canh tân đất nước: Xóa bỏ tận gốc cơ chế quan liêu bao cấp, tạo ra một chân trời rộng mở cho từng địa phương, từng đơn vị và mỗi cá nhân, tạo cơ hội để tự do sáng tạo, tự chủ, tự quyết định, dám nghĩ dám làm và tự chịu trách nhiệm. 

Tự do - năng lực tự quyết định một cách có hiểu biết

Con người, bất cứ ai, ngay từ lúc mới bắt đầu phôi thai, ra đời, lớn lên, học tập, lao động và mưu sinh… đều bị chi phối bởi những hoàn cảnh nhất định. Không ai có thể tự chọn cho mình một người mẹ, một làng quê, một dân tộc, một Tổ quốc.

Ngược lại, khi ra đời, thiên nhiên đã có sẵn tất cả những hoàn cảnh, những điều kiện, không gian, trời, biển, đất đai, ruộng đồng, sông núi. Dân tộc từ ngàn đời đã định hình phong tục, tập quán đến cách thức sản xuất, lao động… và kèm theo đó là vô vàn các mối quan hệ xã hội của con người, của cộng đồng người (gia đình, làng xóm, phố phường, dân tộc, nhà nước, quốc gia và quốc tế), trong đó quan hệ kinh tế, sức sản xuất, chế độ sở hữu và truyền thống văn hóa giữ vai trò nền tảng chi phối và quyết định. Tất cả những cái đó là hoàn cảnh khách quan, tất yếu.

Hầu hết các nhà tư tưởng, văn hóa lớn của loài người, trong đó có C. Mác và Ph. Ăng-ghen, đều khẳng định: Khách quan vốn bướng bỉnh, dù vật vã thế nào thì cũng từ hoàn cảnh của mình mà đi lên, có nghĩa là con người phải có hiểu biết, có nhận thức để nắm bắt được qui luật khách quan của tự nhiên và xã hội. Càng hiểu biết, càng nhận thức được cái tất yếu thì con người càng tự do. Do vậy, tự do suy cho cùng là ở sự nhận thức được cái tất yếu.

Hoàn cảnh khách quan không đứng im, không đông cứng, ngược lại nó biến đổi không ngừng. Vì vậy, nhận thức của con người về tự nhiên và xã hội, về thế giới cũng như về chính bản thân nó cũng phải không ngừng biến đổi, đổi mới, nâng cao. Nhưng muốn có nhận thức đúng nghĩa là hiểu và nắm bắt được qui luật của tự nhiên, xã hội và hiểu được khuynh hướng phát triển của nó thì chỉ có một con đường, một phương pháp là giáo dục và tự giáo dục, tự rèn luyện. Chính Ph. Ăng-ghen (và sau này là Hồ Chí Minh) đã nêu một gương sáng cho nhân loại: học - tự học - học suốt đời - học trong sách vở, trong trường lớp và học trong trường đời.

Xã hội ta đang coi giáo dục là quốc sách hàng đầu. Người người, nhà nhà nô nức đi học và ra sức cố gắng đạt được tấm bằng, học vị, học hàm, càng cao càng tốt. Nhưng vấn đề đặt ra là học lấy bằng cấp để làm gì? Có lẽ cũng chính Ph. Ăng-ghen là người đầu tiên trong lịch sử những nhà khoa học cách mạng đã nêu ra tư tưởng: Học là để giành lấy tự do.

Ph. Ăngghen

Ph. Ăng-ghen là người đầu tiên trong lịch sử những nhà khoa học cách mạng đã nêu ra tư tưởng: Học là để giành lấy tự do.

Bởi theo ông: “Tự do không phải là ở sự độc lập tư tưởng đối với các qui luật tự nhiên mà là nhận thức được các qui luật đó và ở các khả năng - có được nhờ sự nhận thức này - buộc những qui luật đó tác động một cách khoa học nhằm những mục đích nhất định”1. Ông cũng đã nhấn mạnh rằng luận điểm trên đúng với cả đời sống xã hội lẫn ý chí, tư duy của con người.

Ông viết: “… Như vậy, tự do của ý chí chẳng qua chỉ là cái năng lực quyết định một cách có hiểu biết. Do đó, sự phán đoán của một người về một vấn đề nhất định, càng tự do bao nhiêu thì nội dung của sự phán đoán sẽ được quyết định với một tính tất yếu càng lớn bấy nhiêu; còn sự không giải quyết, do không hiểu biết mà ra… chứng tỏ nó không có tự do, nó bị chi phối bởi đối tượng mà lẽ ra nó phải chi phối.

Vì vậy, tự do là sự chi phối được chính bản thân và tự nhiên bên ngoài, một sự chi phối dựa trên sự nhận thức được những tất yếu của tự nhiên; do đó nó là tất yếu của một sản phẩm của lịch sử” và ông kết luận: “mỗi bước tiến lên trên con đường văn minh lại là một bước tiến tới tự do”2.

Tất cả những vụ “quan tham, lại nhũng” vừa qua chứng tỏ rằng người ta, bất cứ ai, cũng đều phải trả giá cho sự ngu dốt của mình như Ph. Ăng-ghen đã từng cảnh báo. Sự ngu dốt ở đây chính là không có nhận thức đúng về tự do, không hiểu tự do là sự nhận thức được cái tất yếu của lịch sử phát triển xã hội và tự do là sự nhận thức để chi phối được đối tượng chứ không để đối tượng (tiền bạc, danh vọng, sự sa đọa…) chi phối lại mình. 

Thực hiện phân cấp, giao nhiều quyền cho cấp dưới và cơ sở, dành ưu tiên cho cán bộ lãnh đạo, quản lí, người đứng đầu cơ quan, tổ chức được tự do trong thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của họ. Đó là một bước tiến dài trong cơ chế quản lí của Đảng và Nhà nước ta. Đó là nhận thức về tính tất yếu của sự phát triển xã hội hợp quy luật. “Xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người” như C. Mác và Ph. Ăng-ghen đã dự báo.

Không để lợi ích cá nhân “cầm tù”

Xã hội dân chủ, công bằng, văn minh thực chất là một xã hội tự do mà chúng ta đang dựng xây, kiến tạo. Nhưng rất tiếc là trong khi thực hiện cơ chế quản lí mới, không ít người đã không nhận thức được cái tất yếu nên đã mắc khá nhiều khuyết điểm, tội lỗi như lạm quyền, phớt lờ cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lí, vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tập trung dân chủ, vi phạm qui chế dân chủ, độc đoán chuyên quyền, coi thường kỉ luật Đảng và pháp luật của Nhà nước…

Có phải họ đều là những người ít được đào tạo về lí luận, chuyên môn, nghiệp vụ không? Hoàn toàn không phải. Qui chế bầu cử và bổ nhiệm cán bộ bắt buộc người được giao nhiệm vụ đã phải qua những trường lớp nhất định, mỗi chức danh đều có tiêu chuẩn rõ ràng. Nhiều người nói vanh vách về dân chủ, về tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, về kỉ luật và pháp luật…Nhưng họ nói một đằng làm một nẻo. Vì sao vậy? Theo chúng tôi, một số người được học hành tử tế, lại đã qua thực tế rèn luyện, trước khi được giao chức quyền họ cũng đã được quần chúng tín nhiệm nhưng khi thi hành công vụ họ đã lầm lạc, bị “chủ nghĩa cá nhân cầm tù” như Bác Hồ đã nhiều lần chỉ rõ. Do vậy, họ đã không có nhận thức đầy đủ về mối quan hệ giữa cá nhân với xã hội, giữa lợi ích của cái tôi riêng lẻ và lợi ích của tập thể, của Nhà nước. Vì cá nhân chủ nghĩa, họ u tối trong nhận thức về lợi ích và tà tâm trong hành động khiến họ mất “năng lực quyết định một cách hiểu biết”, họ không có tự do “nó bị chi phối bởi đối tượng mà lẽ ra nó phải chi phối”, và nguy hại nhất là nó không “chi phối được chính bản thân”.

Những người đó quên mất rằng con người bao giờ cũng là con người xã hội. Xã hội không phải là một cá nhân riêng lẻ. Nó là tập hợp của nhiều cộng đồng lớn, nhỏ trong mối quan hệ đan xen, tác động lẫn nhau giữa cá nhân - gia đình - dòng tộc - dân tộc - Tổ quốc - nhà nước… Song trong sự vận động và phát triển của cộng đồng bao giờ cũng do những cá nhân sống và hoạt động theo đuổi những lợi ích khác nhau nhằm thỏa mãn những nhu cầu khác nhau.

Nhưng chính những nhu cầu - lợi ích - mục đích hoạt động ấy của mỗi cá nhân lại bị ràng buộc trong mối quan hệ với những người khác, với xã hội, thành ra nó luôn luôn bị chi phối bởi cái tất yếu trong mối quan hệ nhân quả: Cá nhân - xã hội mà trong đó dẫn dắt sự hoạt động của cá nhân và thúc đẩy sự phát triển xã hội luôn luôn do lợi ích đóng vai trò là nhân tố quan trọng nhất trong đời sống xã hội. Giải quyết thỏa đáng giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội luôn luôn là động lực của sự phát triển của mỗi cá nhân và của xã hội.

Xã hội càng phát triển, nhu cầu lợi ích của cá nhân càng cao. Nhưng xã hội phát triển bao giờ cũng thông qua hành động của các cá nhân. Và như vậy, động lực thúc đẩy con người trong hoạt động để thỏa mãn nhu cầu, lợi ích của họ cũng chính là động lực thúc đẩy xã hội. Nhận thức về lợi ích như trên cần phải được soi sáng bởi chân lí mà Ph. Ăng-ghen đã chỉ ra là: Động lực thúc đẩy xã hội tuy là động lực của các cá nhân nhưng không phải là động lực của một số cá nhân riêng lẻ mà là động lực lao động, thôi thúc hàng triệu, hàng chục triệu con người của cả xã hội (quốc gia, dân tộc…) trong những thời điểm lịch sử nhất định. Động lực của xã hội ta ngày nay là ai cũng được tự do phát triển, được làm giàu chính đáng, là dân giàu, nước mạnh, là công bằng, dân chủ, văn minh cho tất cả mọi người.

Xã hội lành mạnh luôn luôn hướng dẫn, thúc đẩy, khích lệ, cổ vũ động lực đúng đắn của mỗi cá nhân và mỗi cá nhân khi hoạt động với động cơ phù hợp với lợi ích chung của cộng đồng thì khi ấy xung đột giảm thiểu, tạo ra sự hài hòa, đồng thuận cùng phát triển. Ngược lại sẽ dẫn tới một trong hai khả năng sau: Phá vỡ cấu trúc xã hội, đòi hỏi thiết lập một cấu trúc mới, một thiết chế mới; hoặc là, những cá nhân đi ngược dòng với sự phát triển chung sẽ bắt buộc phải “dừng lại”, “quay lại” và “nhận thức lại”, “xác định lại” nhu cầu lợi ích để hành động hợp qui luật chung của sự tiến hóa. Nếu không, cá nhân đó sẽ bị đào thải, bị cầm tù trước cái tất yếu, tức là họ đã không có tự do.

Giao quyền hành và trách nhiệm cho cá nhân người đứng đầu, Đảng và Nhà nước ta cũng đồng thời trao quyền và trách nhiệm cho những người khác trong cơ quan, đơn vị, cho tất cả mọi người. Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được bảo đảm bằng các văn bản chính trị, pháp lí nhằm điều chỉnh để ai cũng được tự do sáng tạo, tự do mưu cầu lợi ích và hạnh phúc cá nhân.

Như vậy, suy cho cùng, tự do là ai muốn làm gì thì làm nhưng tuyệt đối không được vi phạm tự do của người khác, của cộng đồng, dân tộc và xã hội.

Để có tự do không thể chỉ chạy theo bằng cấp mà nhất thiết phải bằng giáo dục của kỉ luật Đảng và pháp luật của Nhà nước, quan trọng hơn là bằng tự học, tự tu dưỡng và rèn luyện của mỗi người. Tự do không thể chỉ là lời nói suông, là sự thuyết giáo, răn dạy mà là trầm tĩnh của suy tư, tự vấn lương tâm, tự biết mình và biết rõ thời cuộc, biết tiến, biết dừng và phải biết xấu hổ như Bác Hồ từng răn dạy.