Thứ Hai, 11 tháng 12, 2023

 

Đội ngũ văn nghệ sĩ quân đội học tập và rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị

(LLCT) - Đội ngũ văn nghệ sĩ quân đội là những “chiến sĩ - nghệ sĩ”, có vai trò rất quan trọng trong công tác tư tưởng - văn hóa. Những năm qua, đội ngũ văn nghệ sĩ quân đội đã được quan tâm, chăm lo phát triển về mọi mặt, nhất là về bản lĩnh chính trị, nên đã có những đóng góp đáng ghi nhận, góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng và giữ vững trận địa tư tưởng - văn hóa trong xã hội. Bài viết tập trung làm rõ sự cần thiết và đề xuất nội dung, biện pháp chủ yếu để tiếp tục nâng cao bản lĩnh chính trịcủa đội ngũ này trong thời kỳ mới.


Đội ngũ văn nghệ sĩ quân đội là những tác giả, nhạc sĩ, nghệ sĩ, biên đạo múa, vũ công, diễn viên đang học tập, rèn luyện và công tác ở các cơ quan, đơn vị văn hóa, nghệ thuật trong toàn quân. Đây là lực lượng sáng tác, sáng tạo, thể hiện, trình diễn các tác phẩm và hoạt động văn hóa, văn học, nghệ thuật, trực tiếp quyết định chất lượng, hiệu quả hoạt động văn hóa, văn học, nghệ thuật trong Quân đội.

Hiện nay, toàn quân có hơn 3.000 văn nghệ sĩ, trong đó 98,5% văn nghệ sĩ là đảng viên, nhiều người là nhà giáo ưu tú, nhà giáo nhân dân, nghệ sĩ ưu tú, nghệ sĩ nhân dân, được tặng nhiều giải thưởng cao quý như: Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước. Tuyệt đại đa số văn nghệ sĩ có bản lĩnh chính trị (BLCT) vững vàng, trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân; sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH; hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao; góp phần tích cực vào việc xây dựng đời sống văn hóa, tinh thần tốt đẹp, phong phú và lành mạnh cho cán bộ, chiến sĩ, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đồng thời lên án, phê phán, đẩy lùi cái xấu, những hiện tượng tiêu cực trong Quân đội và xã hội. Các tác phẩm văn hóa, văn học, nghệ thuật gia tăng mạnh mẽ về số lượng, đa đạng, phong phú về loại hình, đề tài. Các chương trình nghệ thuật của nghệ sĩ quân đội phục vụ các sự kiện lớn của đất nước, Quân đội có giá trị tư tưởng, nghệ thuật cao.

Nhìn chung, đội ngũ văn nghệ sĩ quân đội hiện nay kế tục xứng đáng các thế hệ đi trước và có bước phát triển, trưởng thành, tích cực sáng tạo nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị phục vụ bộ đội và nhân dân. Tuy nhiên, có một số ít văn nghệ sĩ còn thiếu tích cực tự tu dưỡng, tự rèn luyện; cá biệt có văn nghệ sĩ có biểu hiện lệch chuẩn, tư tưởng “nhạt màu áo lính”, không tha thiết với đề tài về lực lượng vũ trang, chiến tranh cách mạng, chưa bám sát đời sống bộ đội để phản ánh.

Trong những năm qua, cấp ủy, tổ chức đảng, chính ủy, chính trị viên, chỉ huy các cơ quan, đơn vị trong Quân đội thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về văn hóa, văn học, nghệ thuật; xây dựng đội ngũ văn nghệ sĩ, trọng tâm là Chương trình hành động của Quân ủy Trung ương về thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 16-6-2008 của Bộ Chính trị khóa X về “Tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới”; Nghị quyết số 769-NQ/QUTW ngày 21-12-2012 của Quân ủy Trung ương về xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội giai đoạn 2013 - 2020 và những năm tiếp theo; Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09-6-2014 Hội nghị Trung ương 9 khóa XI về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”; Chỉ thị số 355-CT/QUTW ngày 20-4-2017 của Quân ủy Trung ương về việc tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác văn hóa, văn học, nghệ thuật trong Quân đội giai đoạn hiện nay; v.v..

Cơ quan chính trị các cấp đã phát huy tốt vai trò tham mưu, đề xuất với cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, chỉ huy các cơ quan, đơn vị nhiều chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng đội ngũ văn nghệ sĩ, chú trọng nâng cao BLCT của đội ngũ văn nghệ sĩ; đã triển khai thực hiện tốt nội dung, yêu cầu nhiệm vụ nâng cao BLCT gắn với công tác quy hoạch, đào tạo, bố trí, sử dụng, quản lý, kiểm tra, giám sát đội ngũ văn nghệ sĩ.

Tuy nhiên, việc giáo dục, rèn luyện BLCT cho các văn nghệ sĩ ở một số cơ quan, đơn vị còn có những hạn chế. Lãnh đạo một số đoàn nghệ thuật quân đội mới quan tâm nâng cao trình độ nghề nghiệp mà chưa chú trọng tới nâng cao BLCT cho các nghệ sĩ. Việc giáo dục BLCT cho văn nghệ sĩ ở các đơn vị trong toàn quân thường mới chỉ là các hoạt động giáo dục chính trị, nhất là học tập các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, của cấp ủy cấp trên, chưa có các nội dung và hình thức đi vào chiều sâu tư tưởng chính trị của văn nghệ sĩ.

Tình hình, nhiệm vụ mới của công cuộc đổi mới đất nước đặt ra những yêu cầu mới đối với việc xây dựng Quân đội, công tác tư tưởng trong Quân đội và công tác tư tưởng - văn hóa trong toàn xã hội. Trong khi đó, các thế lực thù địch ra sức đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm chống phá cách mạng Việt Nam; tệ nạn xã hội, mặt trái của cơ chế thị trường và sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cùng những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một bộ phận cán bộ, đảng viên ảnh hưởng và tác động không nhỏ đến nhận thức, lập trường chính trị tư tưởng của đội ngũ văn nghệ sĩ quân đội.

Trước yêu cầu mới của nhiệm vụ cách mạng, Kết luận số 1172-KL/QUTW ngày 16-6-2022 của Quân ủy Trung ương về “Tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác văn hóa, văn học, nghệ thuật trong Quân đội thời kỳ mới” yêu cầu: “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, văn nghệ sĩ Quân đội có bản lĩnh chính trị vững vàng, chuyên môn giỏi, trách nhiệm cao, luôn tâm huyết với sự nghiệp văn hóa, văn nghệ của Đảng, của Quân đội”.

Để tiếp tục nâng cao BLCT của đội ngũ văn nghệ sĩ quân đội, cần thực hiện tốt một số nội dung, biện pháp chủ yếu sau:

Một là, đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng cho đội ngũ văn nghệ sĩ

Đây là công việc có tầm quan trọng hàng đầu, là cơ sở để đội ngũ văn nghệ sĩ nâng cao nhận thức, trách nhiệm, BLCT trong thực hiện nhiệm vụ. Tri thức lý luận chính trị, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước là cơ sở để nâng cao BLCT của từng người; ngược lại, thiếu hiểu biết về lý luận chính trị sẽ không có căn cứ lý luận cho việc xây dựng BLCT. Cần giáo dục để các văn nghệ sĩ thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”(1); “để làm trọn nhiệm vụ cao quý của mình, văn nghệ sĩ cần phải rèn luyện đạo đức cách mạng, nâng cao tinh thần phục vụ nhân dân, giữ gìn thái độ khiêm tốn; phải thật sự hòa mình với quần chúng, cố gắng học tập chính trị, trau dồi nghề nghiệp”(2).

Để thực hiện có hiệu quả công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng cho đội ngũ văn nghệ sĩ, các cấp ủy, tổ chức đảng, chính ủy, chính trị viên, chỉ huy các cơ quan, đơn vị cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức tuyên truyền, giáo dục, quán triệt, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nghị quyết, chỉ thị của Đảng cho đội ngũ văn nghệ sĩ, qua đó giúp văn nghệ sĩ nắm được những nguyên lý, quan điểm cơ bản, hiểu sâu sắc bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; thấu suốt đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ của Quân đội; xây dựng nhận thức đúng, trách nhiệm cao trong sáng tác, sáng tạo, thể hiện, trình diễn các tác phẩm văn hóa, văn học, nghệ thuật.

Công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng cho đội ngũ văn nghệ sĩ cần được tiến hành với nhiều hình thức, biện pháp trên cơ sở bám sát thực tiễn, thông qua thực tiễn để định hướng nhận thức, tư tưởng và hành động cho văn nghệ sĩ. Gắn lý luận với thực tiễn sẽ giúp văn nghệ sĩ củng cố kiến thức, hiểu biết sâu sắc bản chất của lý luận, kiểm nghiệm tính đúng đắn của nội dung giáo dục chính trị, đồng thời xây dựng, củng cố niềm tin, tình cảm cách mạng trong mỗi văn nghệ sĩ.

Hai là, xây dựng động cơ phấn đấu đúng đắn, ý chí quyết tâm cao trong bồi dưỡng, rèn luyện, nâng cao BLCTcủa đội ngũ văn nghệ sĩ

Đa số văn nghệ sĩ quân đội hiện nay sinh ra và lớn lên trong thời bình, có điều kiện học tập thuận lợi, được đào tạo cơ bản, nhưng chưa được tôi luyện trong những tình huống ác liệt, gian khổ, hy sinh, nên tinh thần quyết tâm có thời điểm chưa cao, tâm lý và BLCT chưa thực sự vững vàng, thường lúng túng khi giải quyết các tình huống nảy sinh trong thực tiễn hoạt động quân sự. 

Vì vậy, việc xây dựng động cơ đúng đắn trong nâng cao BLCTcủa đội ngũ văn nghệ sĩ là rất cần thiết. Chỉ có động cơ đúng đắn, ý chí quyết tâm cao trong phấn đấu, rèn luyện mới có cơ sở để nâng cao BLCT, bảo đảm cho đội ngũ văn nghệ sĩ vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Cần quán triệt tới từng văn nghệ sĩ các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Quân ủy Trung ương, Tổng cục Chính trị về xây dựng đội ngũ văn nghệ sĩ để học nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò của BLCT, trách nhiệm đối với việc rèn luyện, nâng cao BLCT.  Trước yêu cầu mới của nhiệm vụ cách mạng, Kết luận số 1172-KL/QUTW ngày 16-6-2022 của Quân ủy Trung ương về “Tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác văn hóa, văn học, nghệ thuật trong Quân đội thời kỳ mới” yêu cầu: “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, văn nghệ sĩ Quân đội có bản lĩnh chính trị vững vàng, chuyên môn giỏi, trách nhiệm cao, luôn tâm huyết với sự nghiệp văn hóa, văn nghệ của Đảng, của Quân đội”.

Xây dựng cho mỗi văn nghệ sĩ ý thức nghiêm túc “tự soi, tự sửa”, nhìn nhận rõ thực chất ưu điểm, hạn chế về BLCT của bản thân; tích cực tự học tập để không ngừng nâng cao trình độ lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ, phấn đấu sáng tạo nhiều tác phẩm văn hóa, văn học, nghệ thuật có giá trị tư tưởng, nghệ thuật cao, đáp ứng nhu cầu của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân, góp phần tô thắm phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới; rèn luyện ý chí, tinh thần khắc phục khó khăn, vượt qua áp lực công việc và cuộc sống; đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ đồng chí, đồng đội; gương mẫu nói đi đôi với làm; chấp hành nghiêm pháp luật của Nhà nước và kỷ luật quân đội.

Các cấp ủy, tổ chức đảng, chính ủy, chính trị viên, chỉ huy các cơ quan, đơn vị cần thường xuyên tạo mọi điều kiện thuận lợi để văn nghệ sĩ thể hiện BLCT của mình qua các sáng tác, sáng tạo, thể hiện, trình diễn các tác phẩm văn hóa, văn học, nghệ thuật; đồng thời chủ động theo dõi, đánh giá, chấn chỉnh quá trình tự bồi dưỡng, tự rèn luyện của văn nghệ sĩ; đề ra chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao BLCTcho đội ngũ văn nghệ sĩ sát với yêu cầu, nhiệm vụ và thực tiễn của đơn vị; có cơ chế, chính sách động viên, khen thưởng kịp thời đối với những nhân tố điển hình tiên tiến; gắn kết quả tự bồi dưỡng, tự rèn luyện của văn nghệ sĩ với đánh giá, xếp loại, khen thưởng tập thể, cá nhân hằng năm.

Trên thực tế, một số văn nghệ sĩ quân đội giảm sút ý chí, quyết tâm trong rèn luyện, nâng cao BLCTlà do văn nghệ sĩ có biểu hiện chủ quan, thỏa mãn, dừng lại. Vì vậy, việc đánh giá những ưu điểm, hạn chế; xây dựng động cơ đúng đắn, ý chí quyết tâm cao trong bồi dưỡng, rèn luyện nâng cao BLCTcần gắn liền với đấu tranh phòng, chống các biểu hiện coi nhẹ vấn đề BLCT, lười biếng, ngại học tập, ngại rèn luyện của văn nghệ sĩ.

Ba là, xây dựng môi trường văn hóa ở các cơ quan, đơn vị trong sáng, lành mạnh

Môi trường văn hóa quân đội có vai trò quan trọng trong xây dựng, hoàn thiện nhân cách quân nhân. Hoạt động của đội ngũ văn nghệ sĩ vừa là loại hình lao động nghệ thuật sáng tạo, vừa là hình thức lao động nghệ thuật dày công khổ luyện, rất vất vả, với sự hao tổn rất lớn về thể lực và trí lực. Do vậy, các cấp ủy, tổ chức đảng, chính ủy, chính trị viên, chỉ huy các cơ quan, đơn vị cần xây dựng môi trường văn hóa cơ quan, đơn vị dân chủ, lành mạnh trên cơ sở tôn trọng, lắng nghe, thấu hiểu và tin tưởng văn nghệ sĩ; thường xuyên bồi dưỡng, giúp đỡ văn nghệ sĩ; tạo môi trường cho họ cống hiến, trưởng thành.

Lãnh đạo, chỉ huy giao nhiệm vụ cụ thể, phù hợp với chuyên môn, khả năng, sở trường của từng văn nghệ sĩ để họ có cơ hội thể hiện, khẳng định bản thân, quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Tạo điều kiện để văn nghệ sĩ đi học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đi thực tế ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa, đơn vị chủ lực để văn nghệ sĩ tiếp nhận hơi thở của cuộc sống, trải nghiệm khó khăn, từ đó nâng cao BLCT, chất lượng sáng tạo, tuyên truyền, biểu diễn, quảng bá văn hóa, văn học, nghệ thuật.

Đồng thời, thường xuyên quan tâm động viên đội ngũ văn nghệ sĩ tích cực tham gia các ban nhạc, nhóm hát, cuộc thi, liên hoan, hội thi, hội diễn, tổng kết, giao lưu văn hóa, biểu diễn nghệ thuật trong Quân đội, trong nước và nước ngoài để đội ngũ văn nghệ sĩ không ngừng học hỏi, nâng cao BLCT.

Các cấp ủy, tổ chức đảng, chính ủy, chính trị viên, chỉ huy các cơ quan, đơn vị cần tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng cơ quan, đơn vị, phát huy, làm đẹp thêm phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” theo tinh thần Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương gắn với tiêu chuẩn con người mới XHCN; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Nâng cao chất lượng, hiệu quả các cuộc vận động, phong trào thi đua về văn hóa, văn học, nghệ thuật; đẩy mạnh phong trào: “Cán bộ, chiến sĩ Quân đội thi đua thực hiện văn hóa công sở, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”.

Phát huy vai trò làm chủ của văn nghệ sĩ trong xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của cơ quan, đơn vị. Thực hiện tốt quy chế dân chủ, vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, người chủ trì trong xây dựng môi trường văn hóa. Chú trọng xây dựng văn hóa trong lãnh đạo, chỉ huy, quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới, quan hệ đồng chí, đồng đội, văn hóa giao tiếp, ứng xử trong và ngoài cơ quan, đơn vị. Thực hiện hiệu quả “Quy hoạch hệ thống thiết chế văn hóa trong Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030”; quy chế tổ chức hoạt động của hệ thống thiết chế văn hóa trong Quân đội. Khai thác, phát huy tốt công năng của các thiết chế văn hóa; nghiên cứu đầu tư xây dựng một số công trình văn hóa quân đội có quy mô, giá trị văn hóa nghệ thuật cao. Chủ động, kịp thời đấu tranh đẩy lùi cái xấu, cái lạc hậu; chống các hành vi sai trái, tiêu cực gây ảnh hưởng xấu đến văn hóa, lối sống trong cơ quan, đơn vị.

Bốn là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả, kịp thời chấn chỉnh những lệch lạc trong BLCTcủa văn nghệ sĩ

Công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá rèn luyện, nâng cao BLCT của đội ngũ văn nghệ sĩ có vai trò hết sức quan trọng, là trách nhiệm của mọi tổ chức, mọi lực lượng trong cơ quan, đơn vị. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Tăng cường quản lý, kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp để kịp thời phát hiện, ngăn chặn từ xa, từ đầu, giải quyết từ sớm, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn, kéo dài và lan rộng”(3).

Cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp cần chủ động xây dựng và triển khai thực hiện nghiêm kế hoạch kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, đảng viên hằng năm; tổ chức kiểm tra, giám sát phải gắn với thực hiện nhiệm vụ của đảng viên, bảo đảm khách quan, toàn diện, nhưng có trọng tâm, trọng điểm và sát thực tiễn. Nội dung kiểm tra, giám sát đội ngũ đảng viên  văn nghệ sĩ hiện nay cần tập trung vào việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, giữ gìn phẩm chất của người đảng viên; việc thực hiện Kết luận số 01-KL/TW ngày 18-5-2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị khóa XII "Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" gắn với thực hiện Cuộc vận động Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới; Kết luận số 21-KL/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương  khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới…

Trong quá trình thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp cần phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan để bảo đảm tính khách quan, chính xác, đúng người, đúng việc; cần chỉ ra được những ưu điểm, hạn chế, khuyết điểm và nguyên nhân của những hạn chế, khuyết điểm để văn nghệ sĩ kịp thời khắc phục, sửa chữa và điều chỉnh kế hoạch tự bồi dưỡng, rèn luyện nâng cao BLCT.

Cơ quan chính trị các cấp chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan, đơn vị quản lý văn nghệ sĩ tổ chức kiểm tra kế hoạch, đánh giá kết quả tự bồi dưỡng, tự rèn luyện của các văn nghệ sĩ; trong đó, cần kiểm điểm, đánh giá sự chuyển biến của văn nghệ sĩ về lập trường chính trị tư tưởng, sự kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, tin tưởng vào vai trò lãnh đạo của Đảng, công cuộc đổi mới; nhạy bén về chính trị; ý chí quyết tâm và khả năng giải quyết các tình huống trong thực tiễn; trách nhiệm với hoạt động sáng tạo, quảng bá, biểu diễn văn hóa, văn học, nghệ thuật; học tập, tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống và năng lực chuyên môn nghiệp vụ của bản thân; đấu tranh với mọi hiện tượng tiêu cực trong Quân đội và đời sống xã hội; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Qua kiểm tra, giám sát phải chỉ rõ mức độ trưởng thành của từng văn nghệ sĩ; hướng khắc phục những hạn chế, thiếu sót trong thời gian tiếp theo.

Chính ủy, chính trị viên, chỉ huy các cơ quan, đơn vị cần thường xuyên gần gũi, sâu sát kiểm tra, giao nhiệm vụ, động viên văn nghệ sĩ trong thực hiện kế hoạch tự bồi dưỡng, tự rèn luyện; kịp thời nắm bắt diễn biến tư tưởng và những vấn đề này sinh để định hướng cho văn nghệ sĩ học tập, rèn luyện và công tác; quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho văn nghệ sĩ; tạo mọi điều kiện thuận lợi để từng người phấn đấu, trưởng thành.

Năm là, phát huy vai trò tự rèn luyện, phấn đấu nâng cao BLCT của đội ngũ văn nghệ sĩ

Xây dựng kế hoạch tự bồi dưỡng, tự rèn luyện, phấn đấu nâng cao BLCTlà trách nhiệm của mỗi văn nghệ sĩ. Kế hoạch tự bồi dưỡng, tự rèn luyện của từng văn nghệ sĩ cần phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị và chức trách, nhiệm vụ được giao, đồng thời thực hiện tốt phương châm “thiếu gì học đó, yếu gì rèn đó”. Theo đó, hằng năm, từng văn nghệ sĩ phải xây dựng kế hoạch và báo cáo kế hoạch tự bồi dưỡng, rèn luyện với các cấp ủy, tổ chức đảng, người chỉ huy cấp mình. Trong kế hoạch cần xác định rõ mục tiêu, yêu cầu, chỉ tiêu, nội dung, hình thức, biện pháp tự bồi dưỡng, tự rèn luyện và thời gian thực hiện.

Mục tiêu xác định phải có cơ sở khoa học; chỉ tiêu đặt ra không quá cao, nhưng cũng không quá thấp. Nội dung tự bồi dưỡng, tự rèn luyện phải toàn diện cả về nhận thức chính trị, lập trường tư tưởng; động cơ, ý thức trách nhiệm; việc chấp hành Điều lệ Đảng, pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ gắn với rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống; nâng cao trình độ, năng lực, kỹ năng, phương pháp, tác phong công tác; giải quyết đúng đắn các mối quan hệ; công tác tuyên truyền, vận động nhân dân xây dựng đời sống văn hóa. Việc xác định thời gian trong kế hoạch tự bồi dưỡng, tự rèn luyện cũng cần tránh các biểu hiện nôn nóng, chung chung, hình thức.

Để thực hiện quá trình tự bồi dưỡng, tự rèn luyện nâng cao BLCTcó hiệu quả, đội ngũ văn nghệ sĩ cần học tập ở mọi lúc, mọi nơi, trong công việc cũng như trong cuộc sống; phải biết lựa chọn các hình thức phù hợp, như gắn với thực hiện các phong trào thi đua; học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; thông qua thực hiện các nền nếp, chế độ công tác hằng ngày, hằng tuần, hằng tháng; các hội thi, cuộc thi, liên hoan; viết cam kết của đảng viên; tự nghiên cứu các nghị quyết, chỉ thị, quy chế, quy định của các cấp ủy đảng; tham gia các hoạt động sinh hoạt chuyên môn, hoạt động chính trị, xã hội; qua các mối quan hệ với đồng nghiệp, với xã hội; bằng các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội; thực tiễn hoạt động quân sự, việc sáng tạo, biểu diễn,quảng bá văn hóa, văn học, nghệ thuật; v.v..

Trong sinh hoạt đảng, cơ quan, đơn vị, từng văn nghệ sĩ cần nghiêm túc tự phê bình và phê bình để phát huy những ưu điểm, kịp thời rút kinh nghiệm những việc chưa làm được trong triển khai thực hiện kế hoạch tự bồi dưỡng, tự rèn luyện nâng cao BLCT. Trong bản tự kiểm điểm của cá nhân hằng năm nhất thiết phải có đánh giá kết quả, chỉ ra nguyên nhân, đề ra phương hướng khắc phục những hạn chế, khuyết điểm trong tự bồi dưỡng, tự rèn luyện nâng cao BLCTgắn với đánh giá, xếp loại và khen thưởng tập thể, cá nhân.

_________________

Ngày nhận bài: 24-7-2-23; Ngày bình duyệt: 27-7-2023; Ngày duyệt đăng: 10-8-2023.

 

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.246.

(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.13, Sđd, tr 505.

(3) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.189-190.

nguồn: Thạc sĩ NGUYỄN THÀNH VINH

Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội


 

Phát triển đội ngũ nghiên cứu lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật trong bối cảnh hiện nay

TS NGUYỄN HUY PHÒNG
Viện Văn hóa và Phát triển,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

(LLCT) - Sau 15 năm thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 16-6-2008 của Bộ Chính trị khóa X về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới, đội ngũ nghiên cứu lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật ngày càng trưởng thành, lớn mạnh, có nhiều đóng góp quan trọng vào sự phát triển nền văn học, nghệ thuật nước nhà. Tuy nhiên, trong bối cảnh mới, đội ngũ này gặp nhiều khó khăn, thách thức. Nhận diện đúng thực trạng để có giải pháp khắc phục là việc làm cần thiết để văn học, nghệ thuật ngày càng phát triển, đáp ứng niềm mong đợi của công chúng và đời sống nghệ thuật hiện nay.
 


1. Vai trò của đội ngũ nghiên cứu lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật

Trong đời sống văn học, nghệ thuật (VHNT), bên cạnh đội ngũ văn nghệ sĩ giữ vai trò nòng cốt trong sáng tạo, thực hành, gìn giữ và phát triển nền văn học nghệ thuật thì đội ngũ những nhà nghiên cứu lý luận, phê bình (NCLLPB) là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời, định hướng và thúc đẩy sự phát triển của VHNT.

Vai trò của đội ngũ NCLLPB thể hiện nổi bật ở các phương diện:

Định hướng sự phát triển của VHNT. Bằng những nghiên cứu chuyên sâu về nền tảng lý luận VHNT, đặc biệt là ở những nước có nền nghệ thuật phát triển cũng như thông qua thực tiễn đời sống VHNT, kinh nghiệm sáng tác của các nghệ sĩ lớn, người làm NCLLPB sẽ đúc kết để tìm ra quy luật vận động, bản chất, chức năng của nghệ thuật, thiên chức của người nghệ sĩ. Qua đó, góp phần định hướng về mặt lý luận, tạo phông nền tri thức cơ bản để người sáng tác, đặc biệt là những nghệ sĩ trẻ mới vào nghề nhận thức đúng và rõ bản chất và những nét độc đáo, riêng biệt của nghệ thuật so với các loại hình ý thức xã hội khác.

Lý giải những hiện tượng nghệ thuật mới, cảnh báo những hiện tượng lệch lạc trong đời sống nghệ thuật. Nghệ thuật gắn liền với quá trình sáng tạo, với những hiện tượng mới, cây bút mới, tác phẩm mới không ngừng xuất hiện. Bằng nghiên cứu lý luận có tính vượt trước, mở đường, người làm NCLLPB sẽ góp phần tích cực để những cái mới được ra đời, khẳng định. Cái mới trong nghệ thuật, trong nhiều trường hợp không dễ được công chúng, cộng đồng đón nhận, thậm chí nhận được nhiều ý kiến trái chiều. Do đó, người làm NCLLPB bằng góc nhìn khách quan, biện chứng, trong sự đối sánh, tương quan đa chiều sẽ góp phần chỉ ra được cái hay, cái đẹp, mặt tích cực, tiến bộ, đặc biệt là tính phát hiện của những tác phẩm mới.

Mặt khác, bên cạnh những tín hiệu tích cực, những tác phẩm hay, xuất sắc thì trong đời sống VHNT luôn tiềm ẩn những hiện tượng phức tạp, đặc biệt là những khuynh hướng cực đoan, những biểu hiện chệch hướng của một số cây bút thiếu lập trường tư tưởng và bản lĩnh nghề nghiệp, bị dụ dỗ, lôi kéo, sẵn sàng “bẻ cong ngòi bút”, viết nên những tác phẩm có nội dung gây bất lợi đến tình hình an ninh chính trị, xuyên tạc lịch sử, bôi đen hiện thực cuộc sống, chạy theo thị hiếu tầm thường và nhu cầu giải trí thuần túy của một bộ phận công chúng mà xao nhãng chức năng, nhiệm vụ chính yếu của văn học, nghệ thuật là đề cao chân, thiện, mỹ. Những hiện tượng đó cần tiếng nói thẳng thắn, kịp thời của những nhà NCLLPB nhằm phê phán, ngăn chặn, đẩy lùi, bảo đảm môi trường nghệ thuật lành mạnh, trong sạch với những giá trị nhân văn, nhân bản được thực thi, lan tỏa.

Định hướng thẩm mỹ của công chúng. Trong đời sống nghệ thuật, người làm NCLLPB vừa là người đồng hành hoặc có thể xuất hiện sau khi quá trình sáng tác của người nghệ sĩ đã hoàn tất. Họ chính là cầu nối giữa nghệ sĩ, tác phẩm với công chúng nghệ thuật. Vì thế cùng với đội ngũ phát hành, kinh doanh dịch vụ văn hóa phẩm, người làm lý luận phê bình góp phần quảng bá, giới thiệu và lan tỏa giá trị của những tác phẩm nghệ thuật đến với công chúng.

Hiện nay, bên cạnh mô hình VHNT truyền thống diễn ra trong đời thực là sự xuất hiện của loại hình VHNT hiện đại thông qua mạng internet, mở ra những cơ hội mới cho người sáng tạo và cơ hội lựa chọn, tiếp cận nghệ thuật của công chúng. Tuy nhiên, trên không gian mạng, bên cạnh những tác phẩm hay, có chất lượng, không ít tác phẩm có nội dung xấu, độc, tác động tiêu cực đến nhận thức, hành vi của bạn đọc. Vì thế, việc đội ngũ NCLLPB nhanh nhạy, kịp thời với những bình luận sắc sảo, hấp dẫn sẽ góp phần khẳng định cái hay, cái đẹp của những tác phẩm mới; đồng thời cảnh báo những tác phẩm kém chất lượng, có nội dung lệch lạc, phản văn hóa, từ đó định hướng thị hiếu nghệ thuật của công chúng, giúp công chúng lựa chọn được những tác phẩm có giá trị, phù hợp.

Không chỉ đồng hành với đội ngũ văn nghệ sĩ trong quá trình sáng tạo, với công chúng bạn đọc khi lựa chọn, tiếp nhận tác phẩm mà hành trình NCLLPB cũng là quá trình sáng tạo với những kiến giải, phát hiện mới, thú vị. Mỗi công trình NCLLPB là một sáng tạo độc đáo, làm phong phú và bổ sung thêm những giá trị, góc nhìn đa chiều về tác phẩm nghệ thuật, tôn vinh vẻ đẹp và những giá trị của tác phẩm đó trong đời sống.

2. Tình hình phát triển đội ngũ nghiên cứu lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật

Những kết quả đạt được

Những năm qua, cùng với những chuyển biến tích cực của đội ngũ sáng tác, đội ngũ NCLLPB từng bước trưởng thành, lớn mạnh; số lượng và chất lượng các công trình NCLLPB ngày càng được nâng cao.

Nhận thức của toàn xã hội, đặc biệt là công chúng nghệ thuật về vai trò, vị thế của công tác NCLLPB ngày càng sâu sắc và toàn diện. Một số công trình NCLLPB chuyên sâu gây được tiếng vang lớn trong đời sống nghệ thuật; nhiều nhà nghiên cứu, lý luận phê bình trẻ xuất hiện và khẳng định được bản lĩnh, uy tín và trình độ chuyên môn.

Có được những kết quả đó, ngoài sự nỗ lực, cố gắng của đội ngũ NCLLPB là sự quan tâm, đầu tư của Đảng, Nhà nước, các cấp chính quyền đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách tạo môi trường thuận lợi cho VHNT phát triển, trong đó có lĩnh vực NCLLPB.

Từ đổi mới đến nay, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết liên quan đến lĩnh vực NCLLPB, như: Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 28-11-1987 của Bộ Chính trị khóa VI về đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ thuật và văn hóa, phát huy khả năng sáng tạo, đưa VHNT và văn hóa phát triển lên một bước mới; Chỉ thị số 52-CT/TW ngày 8-6-1989 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về đổi mới và nâng cao chất lượng phê bình văn học, nghệ thuật; Nghị quyết số 04-NQ/HNTW ngày 14-01-1993 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII về một số nhiệm vụ văn hóa, văn nghệ những năm trước mắt; Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 16-7-1998 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 16-6-2008 của Bộ Chính trị khóa X về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới; Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9-6-2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

Việc lần đầu tiên Đảng ta ban hành nghị quyết chuyên đề về VHNT vào năm 2008, cho thấy sự quan tâm đặc biệt của Đảng ta với VHNT - một lĩnh vực rất quan trọng của văn hóa; là nhu cầu thiết yếu, thể hiện khát vọng chân, thiện, mỹ của con người; là một trong những động lực to lớn, trực tiếp góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội và sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam.

Đánh giá về những kết quả nổi bật trong công tác NCLLPB văn học, nghệ thuật thời kỳ đổi mới, Đảng ta khẳng định: “Công tác lý luận văn học nghệ thuật có bước đổi mới, lý giải khoa học hơn quan hệ giữa văn học, nghệ thuật với chính trị, giữa hiện thực và nghệ thuật. Tư tưởng văn học, nghệ thuật truyền thống của cha ông được quan tâm nghiên cứu. Các thành tựu văn học, nghệ thuật thế kỷ XX được đánh giá lại thỏa đáng. Một số phương pháp nghiên cứu văn học, nghệ thuật phi truyền thống được vận dụng, bước đầu đem lại kết quả tốt. Phê bình văn học, nghệ thuật trong thời kỳ đổi mới có tác dụng tích cực đối với sáng tác, phát hiện cái tốt, ủng hộ cái mới, tiến bộ trong hoạt động sáng tạo”(1).

Nhằm thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển NCLLPB, Quốc hội, Chính phủ xây dựng, ban hành nhiều cơ chế, chính sách, tạo điều kiện về vật chất, tinh thần và môi trường làm việc thuận lợi để đội ngũ NCLLPB yên tâm công tác và cống hiến. Các chính sách của Nhà nước tập trung vào công tác đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ NCLLPB chuyên nghiệp; hỗ trợ quảng bá, giới thiệu, tôn vinh những công trình NCLLPB văn học, nghệ thuật có giá trị; bảo đảm quyền tác giả và các quyền liên quan; về chế độ thù lao, nhuận bút đối với các công trình NCLLPB; về tiền lương và bảo hiểm xã hội, tiêu biểu như: Quyết định số 316/QĐ-TTg ngày 01-3-2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án xây dựng và rà soát các chế độ chính sách đối với hoạt động VHNT và văn nghệ sĩ; chế độ tài trợ, đặt hàng đối với các tác phẩm VHNT; chính sách khuyến khích sáng tác trong các hoạt động VHNT thực hiện theo Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị; Quyết định số 650/QĐ-TTg ngày 25-4-2016 phê duyệt Đề án tiếp tục hỗ trợ hoạt động sáng tạo tác phẩm, công trình văn học, nghệ thuật, báo chí ở Trung ương và các Hội văn học, nghệ thuật địa phương, hỗ trợ tác phẩm báo chí chất lượng cao ở các Hội Nhà báo địa phương giai đoạn 2016 - 2020; Nghị định số 90/2014/NĐ-CP ngày 29-9-2014 của Chính phủ về “Giải thưởng Hồ Chí Minh”, “Giải thưởng Nhà nước” về văn học, nghệ thuật được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 133/2018/NĐ-CP ngày 01-10-2018 của Chính phủ.

Theo đó, tác giả có tác phẩm thuộc các thể loại văn học; công trình nghiên cứu lý luận, phê bình về văn học đạt tiêu chuẩn theo quy định tại Nghị định được Chủ tịch nước tặng “Giải thưởng Hồ Chí Minh”, “Giải thưởng Nhà nước”; tặng Bằng Chứng nhận “Giải thưởng Hồ Chí Minh”, “Giải thưởng Nhà nước” về văn học, nghệ thuật.

Để tập hợp đội ngũ, tạo môi trường làm việc thuận lợi cho các nhà NCLLPB, Đảng, Nhà nước và các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương đã quan tâm, hỗ trợ về cơ sở vật chất, đầu tư xây dựng các thiết chế văn hóa, văn nghệ; thành lập các Hội đồng nghệ thuật chuyên ngành ở Trung ương và địa phương. Hiện nay, cơ cấu tổ chức của Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam gồm có các Hội Văn học nghệ thuật chuyên ngành Trung ương, các Hội Văn học nghệ thuật tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Quỹ Hỗ trợ sáng tạo Văn học nghệ thuật Việt Nam. Trong các hội VHNT chuyên ngành đều có các phòng ban, bộ phận chuyên trách về lĩnh vực NCLLPB.

Nhằm nâng cao chất lượng hoạt động NCLLPB cũng như tư vấn cho Đảng, Nhà nước trong công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ những người hoạt động trong lĩnh vực VHNT; kịp thời phát hiện, biểu dương, nhân rộng các nhân tố mới trong hoạt động lý luận, phê bình, góp phần xây dựng đời sống VHNT phong phú, lành mạnh, xây dựng nhân cách, đạo đức con người Việt Nam; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, lệch lạc trong VHNT, bảo vệ đường lối văn nghệ của Đảng, ngày 10-9-2003, Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa IX đã ban hành Quyết định số 81-QĐ/TW về việc thành lập Hội đồng Lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương. Đến nay, Hội đồng đã trải qua 4 nhiệm kỳ, có nhiều đóng góp quan trọng vào công tác NCLLPB văn học, nghệ thuật.

Bên cạnh đó, nhằm cung ứng và tạo nguồn nhân lực có chuyên môn, trình độ NCLLPB, các cơ sở đào tạo chuyên ngành về VHNT, trong đó có lĩnh vực NCLLPB đã tuyển sinh, đào tạo, bồi dưỡng những cây bút lý luận phê bình trẻ, có tài năng. Cùng với đó, lực lượng NCLLPB trẻ đang công tác tại các viện nghiên cứu chuyên ngành, các cơ quan thông tấn báo chí thường xuyên được cử đi học tập các lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức về lý luận, phê bình nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của những công trình, bài viết.

Những bất cập, hạn chế

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác phát triển đội ngũ NCLLPB văn học, nghệ thuật ở nước ta có những khó khăn, bất cập. Nghiên cứu lý luận, phê bình nghệ thuật vẫn chưa được xem là một nghề chuyên nghiệp, một bộ phận công chúng và cơ quan ban ngành chưa thực sự coi trọng, đánh giá đúng vai trò, vị trí của công tác NCLLPB. Nhiều cây bút NCLLPB trẻ không gắn bó với nghề khi mức lương, nhuận bút cho một tác phẩm, công trình lý luận, phê bình còn quá khiêm tốn so với thời gian, công sức mà họ bỏ ra.

So với lĩnh vực sáng tác, quảng bá tác phẩm, lĩnh vực NCLLPB những năm qua có sự trầm lắng. Đội ngũ các nhà lý luận, phê bình chuyên nghiệp ngày thưa vắng dẫn đến thiếu những công trình lý luận, phê bình để dẫn dắt, định hướng thị hiếu thẩm mỹ của công chúng. Hiện nay, đội ngũ NCLLPB chủ yếu là các nhà lý luận, phê bình “tay ngang”, “phê bình kiêm nhiệm” hoặc làm nghề “tay trái”.

Đối với các công trình NCLLPB, hiện đang thiếu vắng những công trình có tính lý luận chuyên sâu, chuyên ngành và mới dừng lại ở những bài nghiên cứu nhỏ lẻ, những bài báo mang tính chất thông tin, giới thiệu về tác giả, tác phẩm do các nhà báo, phóng viên mảng văn hóa, văn nghệ đưa tin, bình luận.

Do thiếu tính chuyên nghiệp nên khi đời sống VHNT có những hiện tượng mới, phức tạp nảy sinh, có nhiều luồng dư luận đánh giá trái chiều trước giá trị, nội dung của một tác phẩm thì lại thiếu vắng tiếng nói và sự định hướng kịp thời của các chuyên gia, nhà NCLLPB. Vì thế, NCLLPB chưa bắt nhịp được với thực tiễn sáng tác, sự kiện văn hóa và sự phát triển của đời sống VHNT.

Phê bình VHNT là một chuyên ngành hẹp, khó, đòi hỏi sự sắc sảo về lý luận và am hiểu thực tiễn, tính chuyên nghiệp, chuyên sâu, nhạy bén với cái nhìn mang tính phát hiện để giúp công chúng có thêm những góc nhìn khi đánh giá, cảm nhận vẻ đẹp và sức hấp dẫn của tác phẩm. Do tính chất đặc thù nên lĩnh vực NCLLPB nghệ thuật, nhất là với các loại hình nghệ thuật truyền thống, phê bình nghệ thuật hậu hiện đại là các chuyên ngành rất khó để tuyển sinh và thu hút người học. Ở nhiều cơ sở đào tạo nghệ thuật, hiện đang thiếu hụt lượng lớn các chuyên gia đầu ngành, các nghệ sĩ, giảng viên có trình độ, tiêu biểu là trong lĩnh vực phê bình âm nhạc. “Số lượng hội viên nghiên cứu âm nhạc chỉ khoảng 100 trong hơn 1.000 hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam; còn lĩnh vực phê bình trên báo chí - truyền thông thì hiện tượng khen chê tùy tiện, PR, quảng bá trá hình thay vì tìm kiếm giá trị, vẻ đẹp đích thực của tác phẩm đã làm nhiễu loạn hệ giá trị tác phẩm trong mắt công chúng”(2). Điều này đặt ra nhiều thách thức trong công tác đào tạo, bồi dưỡng, trao truyền tri thức, kinh nghiệm cho đội ngũ các nhà NCLLPB kế cận.

Nhận định về những hạn chế trong công tác lý luận, phê bình VHNT thời kỳ đổi mới, Nghị quyết của Đảng chỉ rõ: “Hoạt động lý luận văn học, nghệ thuật còn lạc hậu về nhiều mặt, chưa giải đáp được nhiều vấn đề của đời sống, còn xa rời thực tiễn sáng tác, có biểu hiện xơ cứng, kém năng động, giảm sút tác dụng tích cực đối với sáng tác. Lý luận văn nghệ và mỹ học mácxít chưa được nghiên cứu và phát huy tương xứng với vai trò và giá trị của nó. Hoạt động phê bình văn học, nghệ thuật có biểu hiện tụt hậu so với yêu cầu, thực hiện chưa tốt chức năng hướng dẫn, điều chỉnh và đồng hành với sáng tác. Chất lượng khoa học và tính chuyên nghiệp của phê bình bị xem nhẹ; xuất hiện lối phê bình cảm tính, thiếu một hệ thống tiêu chí tin cậy để đánh giá tác giả và tác phẩm, văn hóa phê bình bị hạ thấp...” (3).

Những bất cập, hạn chế trên cần được nhìn nhận, đánh giá một cách toàn diện, khách quan để thấy được nguyên nhân, từ đó tìm kiếm những giải pháp nâng cao chất lượng công tác NCLLPB nghệ thuật trong giai đoạn hiện nay.

3. Giải pháp tăng cường đội ngũ nghiên cứu lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật

Để tăng cường số lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ NCLLPB văn học, nghệ thuật đáp ứng tốt yêu cầu mới cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó có những giải pháp cơ bản sau:

Một là, tiếp tục nâng cao nhận thức của toàn xã hội về vai trò, vị trí của công tác NCLLPB và đội ngũ NCLLPB đối với sự vận động, phát triển của nền VHNT nước nhà cũng như định hướng nhu cầu, thị hiếu của công chúng nghệ thuật với khát vọng không ngừng vươn tới những giá trị chân, thiện, mỹ. Việc phê bình kịp thời, chính xác những hiện tượng nghệ thuật mới, phức tạp nảy sinh bằng lý luận sắc bén và những lập luận chặt chẽ sẽ tạo sự thống nhất trong nhận thức, hành động của công chúng; bảo đảm đời sống VHNT trong sạch, lành mạnh, nhân văn, khoa học.

Hai là, đổi mới cơ chế, chính sách bằng việc xây dựng, ban hành những chính sách đặc thù, dành riêng cho lĩnh vực NCLLPB. Hiện các chính sách mới tập trung vào hỗ trợ, phát triển đội ngũ văn nghệ; khuyến khích hoạt động sáng tạo nghệ thuật, quảng bá tác phẩm, chứ chưa có chính sách riêng về lý luận phê bình. Việc hoàn thiện chính sách về lý luận phê bình với những quy định cụ thể về xây dựng, phát triển đội ngũ; về tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng; chính sách về tiền lương, bảo hiểm xã hội; xây dựng quỹ hỗ trợ hoạt động NCLLPB; vấn đề bản quyền với những tác phẩm NCLLPB... sẽ góp phần hình thành đội ngũ NCLLPB chuyên nghiệp, yên tâm công tác và tận tâm với nghề.

Ba là, quan tâm, chú trọng công tác tuyển sinh, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ NCLLPB trẻ, bảo đảm tính liên tục giữa các thế hệ, tránh hụt hẫng. Rà soát và tăng cường chất lượng, hiệu quả các cơ sở đào tạo chuyên sâu về lý luận phê bình nghệ thuật, nhất là đối với các loại hình nghệ thuật truyền thống và nghệ thuật đương đại.

Thiết lập mạng lưới các cơ sở đào tạo về NCLLPB ở các trường đại học, các học viện, các viện nghiên cứu chuyên ngành, bảo đảm sự cân đối giữa các vùng, miền, các lĩnh vực nghệ thuật. Khắc phục tình trạng nhiều lĩnh vực nghệ thuật thiếu vắng các chuyên gia, nhà lý luận phê bình có chuyên môn, trình độ và bản lĩnh nghề nghiệp.

Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, Hội đồng Lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương, các hội văn học, nghệ thuật địa phương cần tham mưu xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù trong việc phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ NCLLPB từ đội ngũ hội viên của hội; đồng thời phát huy tinh thần chủ động, tích cực tham gia NCLLPB văn học, nghệ thuật của các phóng viên, biên tập viên báo chí. Các cơ quan truyền thông đại chúng cần xây dựng những chuyên trang, chuyên mục về NCLLPB với dung lượng, thời lượng tương xứng, cần thiết.

Bốn là, phát huy tinh thần trách nhiệm của các cây bút lý luận, phê bình. Trong khi chưa có chính sách cụ thể đối với lĩnh vực đặc thù này, mỗi nhà NCLLPB cần nỗ lực vươn lên, khắc phục những khó khăn, phát huy trách nhiệm xã hội, trách nhiệm công dân và tình yêu nghệ thuật để góp phần nâng cao tính chuyên nghiệp và chất lượng của lý luận, phê bình nghệ thuật. Người làm NCLLPB cần dấn thân, am hiểu sâu sắc thực tiễn, trau dồi bản lĩnh chính trị, đề cao dũng khí, bảo vệ chân lý, bảo vệ cái đúng, cái hay, cái đẹp; kiên quyết đấu tranh, phê phán những biểu hiện lệch lạc, sai trái, bảo đảm môi trường, đời sống VHNT thực sự trong sạch, lành mạnh. Người sáng tác và người phê bình phải làm chủ ngòi bút của mình, không ngừng rèn luyện bản lĩnh, nâng cao trình độ, chịu trách nhiệm trước Đảng và nhân dân về công việc của mình... Nâng cao tính lý luận, trình độ khoa học, trình độ thẩm mỹ, hiểu biết thực tế sáng tác và thực tế cuộc sống sâu sắc hơn nữa trong công tác phê bình văn học, nghệ thuật. Các nhà nghiên cứu, phê bình cần lắng nghe và coi trọng dư luận. Phê bình phải khách quan, trong sáng, nghiêm túc và có tính chiến đấu cao, khắc phục tình trạng nể nang hoặc thô bạo, lối phê bình một chiều, hời hợt, hình thức, sách vở.

Năm là, bố trí nguồn lực cần thiết để đầu tư, xây dựng hệ thống các thiết chế văn hóa nghệ thuật (như bảo tàng, nhà hát, cung văn hóa, câu lạc bộ); hình thành các không gian sáng tạo, gặp gỡ, đối thoại để người làm NCLLPB có điều kiện, môi trường làm việc thuận lợi, từ đó thể hiện năng lực, sở trường và có những cống hiến, đóng góp cho sự phát triển của lĩnh vực NCLLPB nghệ thuật.

Có chính sách tôn vinh, khen thưởng và đãi ngộ xứng đáng với những cây bút lý luận phê bình trẻ, tài năng, có những công trình, tác phẩm lý luận, phê bình hay, xuất sắc, gây được tiếng vang và có tác động lớn tới sự vận động, phát triển của nền nghệ thuật nước nhà.

Là bộ phận hữu cơ, không thể tách rời với quá trình sáng tạo của đội ngũ nghệ sĩ, những người làm NCLLPB cần đi trước, đón đầu, dự báo được những tình huống, kịch bản có thể xảy ra để định hướng sáng tác cũng như định hướng nhu cầu, thị hiếu của công chúng nghệ thuật.

Bối cảnh mới với nhiều khuynh hướng, trường phái, trào lưu nghệ thuật xuất hiện, bên cạnh những hiện tượng tích cực là sự xâm lăng của những tác phẩm có nội dung xấu, độc. Bằng trí tuệ, tài năng; tinh thần trách nhiệm và tình yêu nghệ thuật, các nhà lý luận, phê bình cần nỗ lực, vươn lên để khẳng định mình, có nhiều đóng góp, cống hiến, thúc đẩy VHNT phát triển, thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội, góp phần giáo dục, bồi dưỡng và hình thành nhân cách, lối sống tốt đẹp cho con người - nguồn lực quan trọng nhất để xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 545 (tháng 7-2023)

Ngày nhận bài: 5-6-2023; Ngày bình duyệt: 10-7-2023; Ngày duyệt đăng: 24-7-2023.

(1), (3) ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập, t.67, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr.646, 648-649.

(2) Mai Lữ: “Chuyên nghiệp hóa đội ngũ lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật”, https://nhandan.vn, truy cập ngày 02-6-2023.

Tham mưu, hướng dẫn tổ chức tốt các phong trào của tuổi trẻ Quân đội

 

Chiều 11-12, Ban Thanh niên Quân đội tổ chức Hội nghị tổng kết nhiệm vụ và phong trào Thi đua quyết thắng năm 2023.

Năm 2023, Ban Thanh niên Quân đội hoàn thành toàn diện các nội dung, chương trình, kế hoạch các mặt công tác, nhiều nhiệm vụ hoàn thành tốt, một số nhiệm vụ hoàn thành xuất sắc; nội bộ đoàn kết thống nhất cao, đơn vị an toàn về mọi mặt.

Công tác thi đua - khen thưởng và Phong trào Thi đua Quyết thắng bám sát tình hình, nhiệm vụ chính trị của cơ quan; cấp ủy, chỉ huy quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai toàn diện, hiệu quả, có chiều sâu, nhiều đổi mới, sáng tạo.

Một trong những điểm nổi bật là Ban Thanh niên Quân đội đã tham mưu, hướng dẫn tổ chức tốt các phong trào hành động cách mạng của tuổi trẻ Quân đội gắn với các phong trào, cuộc vận động lớn của Đảng, Nhà nước, Quân đội và Trung ương Đoàn bảo đảm chặt chẽ, sáng tạo với nhiều hoạt động có ý nghĩa chính trị xã hội sâu sắc; tặng quà, nhà, sổ tiết kiệm, xe đạp, sân chơi, thiết bị trường học, khám bệnh và cấp thuốc miễn phí… giúp các đối tượng chính sách, học sinh vượt khó học giỏi, có sức lan tỏa sâu rộng trong toàn quân, toàn quốc. Tổng nguồn lực của tuổi trẻ Quân đội tại các chương trình hơn là 90 tỷ đồng.

Tham mưu, hướng dẫn tổ chức tốt các phong trào của tuổi trẻ Quân đội

 Năm 2023, Ban Thanh niên Quân đội hoàn thành toàn diện các nội dung, chương trình, kế hoạch các mặt công tác, nhiều nhiệm vụ hoàn thành tốt, một số nhiệm vụ hoàn thành xuất sắc. 

 

Cùng với đó, Ban Thanh niên Quân đội phối hợp với các cơ quan chức năng nghiên cứu, đề xuất sửa đổi Thông tư 164/BQP ban hành quy chế tổ chức, hoạt động Giải thưởng Tuổi trẻ sáng tạo trong Quân đội và Quy chế số 294/QĐ-CT của Tổng cục Chính trị về bình chọn Gương mặt trẻ tiêu biểu toàn quân. Tổ chức tốt cuộc thi tìm hiểu “Thanh niên Quân đội thượng tôn pháp luật” và cuộc thi viết tiểu phẩm với chủ đề “Tuổi trẻ Việt Nam xung kích, sáng tạo vận động nhân dân chấp hành pháp luật”.

Tuổi trẻ Quân đội đã tham gia hiệu quả các cuộc thi và giành nhiều giải cao cấp toàn quốc, như: Giải Nhất tập thể và cá nhân tại Hội thi “Ánh sáng soi đường”; giải Nhất, Nhì Olympic tiếng Anh toàn quốc; giải Ba và giải Khuyến khích Hội thi Bí thư đoàn cơ sở giỏi toàn quốc lần thứ nhất...

Hoạt động giao lưu sĩ quan trẻ với Quân đội các nước được triển khai tích cực, chủ động, chặt chẽ, hiệu quả thiết thực, bảo đảm an toàn tuyệt đối, góp phần giữ vững và tăng cường vị thế, uy tín quốc tế của đất nước, Quân đội trên trường quốc tế.

Tham mưu, hướng dẫn tổ chức tốt các phong trào của tuổi trẻ Quân đội
 
Tham mưu, hướng dẫn tổ chức tốt các phong trào của tuổi trẻ Quân đội
 Lãnh đạo Ban Thanh niên Quân đội trao thưởng tặng các cá nhân.

Từ trong phong trào thi đua và kết quả xây dựng, nhân điển hình tiên tiến, 100% cán bộ, quân nhân chuyên nghiệp của Ban Thanh niên Quân đội được thủ trưởng Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam và Trung ương Đoàn khen thưởng. Ban Thanh niên Quân đội được Bộ Quốc phòng tặng 3 bằng khen, Trung ương Đoàn tặng 3 bằng khen, Tổng cục Chính trị tặng 3 bằng khen.

Khơi dậy tinh thần ham học

 

“Xây dựng tốt quyết tâm để nỗ lực vượt khó, vươn lên hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng là Bộ đội Cụ Hồ...”, đó là chia sẻ của Thượng úy QNCN Phạm Trọng Phước, một tấm gương sáng trong học tập và rèn luyện, một điển hình tiên tiến của Đại đội 7, Tiểu đoàn 3, Trường Cao đẳng Kỹ thuật (CĐKT) Thông tin, Binh chủng Thông tin liên lạc.

Tốt nghiệp Trung học phổ thông năm 2014, với khát khao được trở thành Bộ đội Cụ Hồ, Phước viết đơn tình nguyện xin nhập ngũ và được rèn luyện ở Tiểu đoàn 5, Trường Cao đẳng Trinh sát thuộc Tổng cục II. Quá trình huấn luyện, rèn luyện, Phước đạt được nhiều thành tích nổi bật, được đồng đội tin yêu, cấp trên tin tưởng và cử đi học lớp Trung cấp Kỹ thuật thông tin tại Trường CĐKT Thông tin vào tháng 9-2015.

Sau khi ra trường, Phước được điều động công tác tại Cục 75, Tổng cục II. Ở bất cứ cương vị công tác nào, đồng chí đều không ngừng tu dưỡng, rèn luyện bản thân và đã gặt hái được nhiều thành tích, được Thủ trưởng các cấp đánh giá cao, đồng nghiệp tin tưởng, yêu mến. Tháng 9-2022, Phước thi đỗ Trường CĐKT Thông tin và vinh dự được quay lại học tập, công tác tại Nhà trường trên cương vị mới là học viên Liên thông Cao đẳng khóa 3.

Khơi dậy tinh thần ham học
Thượng úy QNCN Phạm Trọng Phước (ở giữa) cùng đồng đội trao đổi về bài học chuyên ngành. 

Phạm Trọng Phước là học viên luôn xác định rõ nhiệm vụ; chủ động, tích cực học tập lý luận chính trị, kiến thức quân sự, nhất là kiến thức chuyên ngành. Chính vì vậy, Phước nhanh chóng hòa nhập và vượt qua những khó khăn, vất vả của quá trình học tập, rèn luyện tại Nhà trường. Ngoài việc học tập từ những bài giảng của thầy cô, sự chia sẻ của bạn bè, đồng đội, Phước thường sử dụng thời gian rảnh rỗi để lên thư viện đọc sách, nghiên cứu giáo trình tài liệu liên quan đến các nội dung bài học.

Với những kiến thức học được, Phước là thành viên tích cực trong “Tổ học phụ” của lớp, đối với những môn học khó, Phước không ngần ngại dành thời gian để hướng dẫn đồng chí, đồng đội về nội dung và phương pháp nghiên cứu, học tập. Thái độ nhiệt tình và niềm đam mê trong học tập của đồng chí đã lan tỏa và khơi dậy được tinh thần, ý thức phấn đấu cho nhiều học viên. Ngoài ra Phước còn được phân công kèm cặp trực tiếp một số thành viên trong lớp, điều này đã góp phần tích cực vào kết quả chung của lớp. Tổng kết năm học 2022-2023, Thượng úy QNCN Phạm Trọng Phước là học viên giỏi, được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở.

Trung tá Lê Tuấn Anh, Chính trị viên Tiểu đoàn 3, Trường CĐKT Thông tin cho biết: “Thượng úy QNCN Phạm Trọng Phước vừa là tấm gương sáng trong học tập, rèn luyện, vừa là người cán bộ đoàn nhiệt tình, năng nổ; luôn gương mẫu, tích cực tham gia các phong trào và hoạt động tập thể. Vừa qua tham gia Hội thi “Dân vận khéo và Cán bộ Hội phụ nữ giỏi” năm 2023 do Nhà trường tổ chức với vai trò là đội trưởng, Phước đã cùng với đội của mình vượt qua các đội thi và giành giải Nhất”.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 12 THÁNG 12 NĂM 1953!

     "… Sau đây tôi có mấy lời dặn đồng bào và cán bộ ghi nhớ và làm cho đúng:        
(1) Đoàn kết, thân ái giúp đỡ lẫn nhau. 
(2) Giúp đỡ bộ đội diệt phỉ, trừ gian, giữ gìn trật tự. 
(3) Ra sức tăng gia sản xuất để mọi người được ấm no. (4) Hết sức trung thành với Tổ quốc và Chính phủ Việt Nam dân chủ Cộng hòa. Còn đối với những người trước đây đã lầm đường theo giặc nếu trở về Tổ quốc thì Chính phủ sẽ khoan hồng.
Cán bộ thì phải thật sự gần gũi giúp đỡ nhân dân, đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết.
Chúc đồng bào và cán bộ mạnh khỏe và cố gắng"!

Là nội dung Thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ, gửi lời hỏi thăm đồng bào và cán bộ tỉnh Lai Châu, Người viết ngày 12 tháng 12 năm 1953. Ngay sau ngày tỉnh Lai Châu được giải phóng; thể hiện lòng thương xót, đồng cảm với đồng bào trong hơn 80 năm bị thực dân Pháp và Việt gian phản động áp bức, bóc lột. Đồng thời dặn dò, mong muốn đồng bào, cán bộ tỉnh Lai Châu phải ghi nhớ để luôn tin tưởng, thực hiện tốt đường lối của Đảng, chủ trương của Chính phủ, thi đua đoàn kết, thân ái; ra sức tăng gia sản xuất, xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc cho nhân dân; tích cực giúp đỡ bộ đội diệt phỉ, trừ gian, giữ gìn trật tự; cùng với đồng bào miền Bắc tích cực chuẩn bị cho Chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi, xây dựng miền Bắc đi lên Chủ nghĩa xã hội, góp sức cùng cả nước đấu tranh giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước.

Khắc sâu lời dạy của Bác, Đảng bộ, nhân dân và lực lượng vũ trang tỉnh Lai Châu hiện nay luôn tin tưởng tuyệt đối vào vai trò lãnh đạo của Đảng, vào chế độ xã hội chủ nghĩa, phát huy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, đoàn kết gắn bó giữa các dân tộc anh em trong tỉnh, ra sức thi đua đẩy mạnh công cuộc đổi mới, tiếp tục duy trì và triển khai đồng bộ Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, cùng với các địa phương trong cả nước, phấn đấu thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Tiếp tục học tập và làm theo Bác, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang hôm nay, luôn nhất trí cao với với đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân; yêu thương đồng chí đồng đội, gắn bó máu thịt với nhân dân, không ngại khó khăn gian khổ, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân; kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu "diễn biến hòa bình", thực hiện "phi chính trị hóa" quân đội của các thế lực thù địch, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao./.
Môi trường ST.

Hoàn thiện công tác quản lý nhà nước để tăng cường kết hợp phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh

 

Để phát huy những tác động tích cực, hạn chế tối đa những tác động tiêu cực của phát triển KTTT đối với quốc phòng, an ninh, kết hợp hài hòa và bảo đảm thực hiện thành công hai mục tiêu chiến lược xây dựng đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, cần có một hệ thống các quan điểm, giải pháp đồng bộ. Trong đó, giải pháp đặc biệt quan trọng là hoàn thiện công tác quản lý nhà nước.

Hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với nền KTTT, đáp ứng yêu cầu kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, cần xuất phát từ quan điểm chủ đạo của Đảng về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc được thể hiện trong Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị và được hoàn thiện qua các kỳ đại hội Đảng, nhất là Đại hội XIII của Đảng.

Đồng thời, cần quán triệt một số quan điểm sau:

Một là, Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Cương lĩnh, Điều lệ Đảng và các văn kiện đại hội Đảng nêu bật nguyên tắc: Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với sự nghiệp quốc phòng và an ninh. Đây là nguyên tắc cơ bản, quy định chức năng lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp quốc phòng, an ninh, từ việc xây dựng, hoạch định đ­ường lối, chủ trương chiến lược về quốc phòng, an ninh đến tổ chức thực hiện.

Hai là, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia có mối quan hệ biện chứng, tác động, hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau. Đây là quan điểm xuyên suốt trong lãnh đạo, chỉ đạo sự nghiệp cách mạng của Đảng, nhất là trong bối cảnh, tình hình mới. Đảng ta tiếp tục khẳng định nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, củng cố quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Trong đó, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh để tạo môi trường, tiền đề vững chắc cho phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; ngược lại, mỗi thành quả của nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội sẽ tạo điều kiện vững chắc cho sự nghiệp củng cố quốc phòng, an ninh của đất nước.

Ba là, hệ thống pháp luật, chính sách phát triển kinh tế - xã hội và quốc phòng, an ninh phải đồng bộ, hiệu quả. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật. Vì vậy, Nhà nước cần phải có một hệ thống pháp luật, chính sách phát triển kinh tế - xã hội và pháp luật, chính sách về quốc phòng, an ninh đồng bộ; được tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc trong mọi tình huống.

Bốn là, thực hiện nhất quán chính sách quốc phòng, an ninh mang tính chất hòa bình, tự vệ. Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong các quan hệ quốc tế, giải quyết mọi bất đồng và tranh chấp với các quốc gia khác bằng biện pháp hòa bình. Xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh dựa trên sức mạnh tổng hợp của cả nước, khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh của lực lượng vũ trang và thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân.

Trên cơ sở quán triệt quan điểm chủ đạo và các quan điểm nêu trên, trong thời gian tới, để tăng cường kết hợp phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh, hoàn thiện công tác quản lý nhà nước cần tập trung vào các giải pháp chủ yếu sau:

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong thực hiện kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh. Quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng, xây dựng và thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển nền kinh tế, ngành, địa phương gắn với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh một cách phù hợp. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện chủ trương, đường lối về kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh. Xử lý kỷ luật nghiêm cán bộ, công chức vi phạm, không hoàn thành nhiệm vụ trong tham mưu, hoạch định chính sách phát triển kinh tế làm nguy hại đến tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước.

Thứ hai, hoàn thiện hệ thống pháp luật về KTTT, bảo đảm kết hợp phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh. Mọi chủ trương, đường lối của Đảng có liên quan đến kết hợp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc, phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh đều phải được thể chế hoá thành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật một cách đồng bộ, thống nhất để quản lý và tổ chức thực hiện hiệu lực, hiệu quả trong cả nước. Cơ chế, chính sách bảo đảm kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh cần được xây dựng theo quan điểm quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân. Việc phân bổ ngân sách đầu tư cho kết hợp phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh theo hướng tập trung cho những mục tiêu chủ yếu, những công trình có tính lưỡng dụng cao đáp ứng cả cho phát triển kinh tế  - xã hội và củng cố quốc phòng, an ninh, cả trước mắt và lâu dài. Xây dựng chính sách khuyến khích lợi ích vật chất và tinh thần đối với các tổ chức, cá nhân, các nhà đầu tư có các đề tài khoa học, các dự án công nghệ có ý nghĩa lưỡng dụng cao, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thứ ba, hoàn thiện chiến lược tổng thể kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh trong thời kỳ mới. Muốn kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh trong suốt quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước một cách cơ bản và thống nhất trên phạm vi cả nước và từng địa phương, phải tiếp tục hoàn thiện chiến lược tổng thể quốc gia, các quy hoạch và kế hoạch về kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh. Đây cần được coi là một trong những căn cứ quan trọng hàng đầu để lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động quản lý nhà nước hiệu lực, hiệu quả. Trong hoàn thiện chiến lược tổng thể, quy hoạch, kế hoạch về kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong thời kỳ mới, phải có sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ, ngành, địa phương từ khâu khảo sát, đánh giá các nguồn lực (cả bên trong và bên ngoài), trên cơ sở đó, xác định mục tiêu, phương hướng phát triển và đề ra các giải pháp chính sách, như: Chính sách khai thác các nguồn lực; chính sách đầu tư và phân bổ đầu tư; chính sách điều động nhân lực, bố trí dân cư; chính sách ưu đãi khoa học và công nghệ lưỡng dụng.

Thứ tư, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước của chính quyền các cấp trong kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh. Trước hết, mỗi ngành, mỗi cấp phải làm đúng chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật và Nghị định số 119/2004/NĐ-CP của Chính phủ; đồng thời, nghiên cứu xây dựng Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định này cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ trong điều kiện mới (sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế mạnh mẽ; sự xuất hiện của các vấn đề quốc phòng, an ninh phi truyền thống). Xây dựng và chỉ đạo thực hiện tốt các quy hoạch, kế hoạch kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh ở ngành, địa phương, cơ sở. Đổi mới phương pháp quản lý, điều hành của chính quyền các cấp từ khâu lập quy hoạch, kế hoạch đến công tác nắm tình hình, thu thập xử lý thông tin, định hướng hoạt động, tổ chức hướng dẫn và thanh tra, kiểm tra ở mọi khâu, mọi bước của quá trình thực hiện kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh. Tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị, xã hội.

Thứ năm, đổi mới, nâng cao chất lượng bồi dưỡng kiến thức, kinh nghiệm kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh cho công chức, đặc biệt là công chức lãnh đạo quản lý các cấp. Căn cứ vào đối tượng bồi dưỡng, yêu cầu nhiệm vụ đặt ra để chọn lựa nội dung, chương trình bồi dưỡng cho phù hợp và thiết thực nhằm nâng cao cả kiến thức, kinh nghiệm và năng lực thực tiễn sát với cương vị đảm nhiệm với từng loại đối tượng cán bộ. Kết hợp bồi dưỡng kiến thức lý luận với thực hành thông qua các cuộc diễn tập thực nghiệm, thực tế ở các bộ, ngành, địa phương, cơ sở để nâng cao hiểu biết và năng lực tổ chức thực hiện của đội ngũ cán bộ và của toàn dân, toàn quân về kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh trong tình hình mới.

Thứ sáu, củng cố, kiện toàn và phát huy vai trò tham mưu của cơ quan chuyên trách quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh các cấp. Cần nghiên cứu, bổ sung chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan chuyên trách quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh nói chung và về kết hợp phát triển kinh tế gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh nói riêng. Kết hợp giữa chấn chỉnh, kiện toàn tổ chức với chăm lo bồi dưỡng, nâng cao năng lực và trách nhiệm của các cơ quan và cán bộ chuyên trách làm công tác tham mưu về thực hiện kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới.

HAIVAN

Thực trạng quản lý nhà nước về kết hợp phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh

 

Từ yêu cầu kết hợp phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh, thời gian qua, công tác quản lý nhà nước đạt được những kết quả khá toàn diện.

Trong xây dựng thể chế, Nhà nước đã ban hành hệ thống thể chế phát triển KTTT, tạo hành lang pháp lý thuận lợi để giải phóng năng lực sản xuất trong xã hội, khai thác tiềm năng đất nước đi đôi với thu hút vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý từ bên ngoài, giúp nền kinh tế có những chuyển biến hết sức to lớn. Tăng trưởng GDP trung bình hằng năm của nước ta giai đoạn 2016 - 2019 đạt trên dưới 7%, mức cao trên thế giới. Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không ngừng được phát triển. Đây là những điều kiện thuận lợi để Đảng, Nhà nước đầu tư toàn diện cho lực lượng vũ trang nhân dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt, từ phương tiện, trang thiết bị kỹ thuật hiện đại đến con người nhằm củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước.

Bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế - xã hội và bộ máy quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh ở Trung ương và địa phương được kiện toàn với các nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm đối với công tác quốc phòng, an ninh theo quy định của Luật Quốc phòng và Luật An ninh quốc gia, trong đó, xác định rõ nhiệm vụ: Tổ chức thực hiện các quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước về quốc phòng trong thời bình và thời chiến theo nhiệm vụ được giao; thực hiện việc kết hợp chặt chẽ quốc phòng với kinh tế, kinh tế với quốc phòng trong xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch của bộ, ngành, lĩnh vực được giao phụ trách; bảo vệ an ninh trong các lĩnh vực kinh tế, quốc phòng, đối ngoại và các lợi ích khác của quốc gia; bảo vệ bí mật nhà nước và các mục tiêu quan trọng về an ninh quốc gia.

Các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch trung và dài hạn đầu tư phát triển kinh tế - xã hội luôn được nghiên cứu, xây dựng và tổ chức thực hiện trong mối quan hệ với chiến lược quốc phòng, an ninh. Đây là bước tiến quan trọng, thể chế hóa một cách đồng bộ các quan điểm của Đảng, nhất là những tư duy, quan điểm mới về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc bằng các văn bản quy phạm pháp luật - cơ sở pháp lý quan trọng để tăng cường sức mạnh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Đồng thời, cũng là căn cứ để chỉ đạo các cấp, các ngành, các lực lượng và địa phương triển khai thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc.

Trong hoàn thiện các chính sách phân phối thu nhập, lĩnh vực văn hóa - xã hội, Nhà nước chủ động giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội. Nhờ đó, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện; hạn chế một phần sự phân hóa giàu nghèo cũng như khoảng cách về mức sống và cơ hội phát triển giữa các vùng, miền, các dân tộc, giữa nông thôn và thành thị. Chế độ, chính sách đối với cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang và gia đình họ được đặc biệt quan tâm để cán bộ, chiến sĩ yên tâm phục vụ và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Cơ chế, chính sách phát triển khoa học - công nghệ và môi trường không chỉ nhằm nâng cao trình độ công nghệ, cải thiện năng suất lao động mà còn ưu tiên cho các mục tiêu hiện đại hóa nhanh chóng lực lượng quân đội và công an, đặc biệt là trình độ phòng vệ quốc gia trước các nguy cơ an ninh truyền thống và phi truyền thống (chiến tranh mạng, vũ khí sinh học, hóa học, ô nhiễm môi trường...).

Trong triển khai các chính sách hội nhập quốc tế, Đảng và Nhà nước chủ động đưa nền KTTT mà Việt Nam xây dựng trở thành một bộ phận hữu cơ của nền KTTT thế giới, “kế thừa có chọn lọc những thành tựu phát triển kinh tế thị trường của nhân loại”, “hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách và các yếu tố thị trường, các loại thị trường đầy đủ, đồng bộ, vận hành thông suốt, gắn kết chặt chẽ với các nền kinh tế trên thế giới”, tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực chung của thế giới để phát triển. Các chính sách hội nhập quốc tế, mở rộng thị trường để, một mặt, phát triển nhanh và bền vững kinh tế của đất nước; mặt khác, tạo sự hiểu biết lẫn nhau, tăng cường gắn bó lợi ích kinh tế, quan hệ ngoại giao hữu nghị giữa nước ta với các nước trên thế giới, góp phần hình thành trật tự thế giới mới theo xu hướng bảo đảm an ninh, hòa bình chung cho phát triển, bình đẳng trong quan hệ quốc tế. Đồng thời, trên cơ sở quan hệ hợp tác về đầu tư và thương mại, có chính sách lựa chọn các đối tác hợp tác về quốc phòng, an ninh để tăng cường vũ khí, trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ quốc phòng, an ninh hiện đại và đào tạo nhân lực, phục vụ hiện đại hóa các lực lượng vũ trang.

Sự kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh trong chiến lược phát triển kinh tế được thể hiện ngay trong việc hoạch định mục tiêu phát triển quốc gia, trong huy động nguồn lực, trong lựa chọn và thực hiện các giải pháp chiến lược. Tuy nhiên, một số chính sách vẫn chưa xác định cụ thể các giải pháp để tổ chức thực hiện. Vì vậy, một số quy hoạch, kế hoạch, dự án kinh tế, một số khu kinh tế, khu công nghiệp được bố trí ở các địa bàn không bảo đảm yêu cầu của chiến lược quốc phòng, an ninh. Mặt khác, khi xây dựng các quy hoạch, kế hoạch đầu tư phát triển kinh tế, các cơ quan ở Trung ương và địa phương dành sự quan tâm chủ yếu đến phương diện lợi ích kinh tế, chưa xem xét đầy đủ tác động của các dự án đó đến vấn đề bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Nguyên nhân của hạn chế này xuất phát từ việc cán bộ, công chức một số cơ quan Trung ương và địa phương chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của việc kết hợp nhiệm vụ phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh; không nắm vững các yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh trong xây dựng một số dự án đầu tư. Còn các cơ quan có trách nhiệm phối hợp thẩm tra, thẩm định các dự án đầu tư do thiếu trách nhiệm, không đủ năng lực, hoặc do cả hai nguyên nhân trên, không phát hiện được những nguy cơ tiềm ẩn trong các dự án đầu tư đó đối với quốc phòng, an ninh. Không loại trừ khả năng, vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ của ngành, địa phương, hoặc bị mua chuộc, mà cơ quan hoặc công chức chủ trì xây dựng, thẩm định dự án, công chức có thẩm quyền phê duyệt, tổ chức thực hiện dự án đã cố tình bỏ qua các nguy cơ tác động tiêu cực của dự án đối với quốc phòng, an ninh đất nước.

Công tác phối hợp giữa các bộ, ngành trong việc xây dựng thể chế, chính sách, các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, ngành, lĩnh vực gắn với quốc phòng, an ninh chưa chặt chẽ. Cơ quan quản lý nhà nước ở nhiều địa phương chỉ tập trung nỗ lực để kinh tế địa phương tăng trưởng, tăng nguồn thu mà chưa thật sự chú trọng đến vấn đề quốc phòng, an ninh.

HAIVAN

Kinh tế thị trường đối với quốc phòng, an ninh

 

Quá trình phát triển nền KTTT định hướng XHCN có tác động hai mặt đến việc củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh đất nước. Về tác động tích cực:

Thứ nhất, tiềm lực quốc phòng, an ninh của một quốc gia phụ thuộc rất lớn vào trình độ phát triển kinh tế của quốc gia đó. Kinh tế phát triển tạo nền tảng vật chất, kỹ thuật, công nghệ và nhân lực cho quốc phòng, an ninh. Khi kinh tế phát triển, nguồn vốn tích lũy, nguồn thu ngân sách không ngừng được tăng lên chính là điều kiện để phát triển đất nước về mọi mặt. Từ đó, góp phần củng cố và tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh. Kinh tế phát triển gắn với đổi mới kỹ thuật, công nghệ là cơ sở để đổi mới kỹ thuật, công nghệ trong công nghiệp quốc phòng, sản xuất ra các loại vũ khí, phương tiện kỹ thuật phục vụ quốc phòng, an ninh. Kinh tế phát triển cũng là cơ sở để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tăng cường cho các lực lượng vũ trang.

Thứ hai, phát triển KTTT góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, từ đó củng cố và tăng cường lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường ổn định xã hội và tiềm lực quốc phòng, an ninh. Khi cuộc sống về mọi mặt của người dân được nâng cao, tiến bộ, công bằng, dân chủ được tăng cường thì người dân, các lực lượng xã hội yên tâm, tin tưởng vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vững vàng trước sự lôi kéo, xúi bẩy, kích động của các thế lực thù địch. Cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có cơ hội phát triển toàn diện của nhân dân là nền tảng chính trị vững chắc để tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh.

Thứ ba, KTTT phát triển khơi thông các tiềm lực kinh tế, tác động đến việc tăng cường sức mạnh của lực lượng quân đội và công an cả về vật chất và tinh thần. Về vật chất, kinh tế phát triển, đời sống của cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang và gia đình họ sẽ được cải thiện và nâng cao, là cơ sở để nâng cao năng lực thể chất và trí tuệ mọi mặt của cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang. Về tinh thần, kinh tế phát triển, đời sống của nhân dân, trong đó có gia đình cán bộ, chiến sĩ thuộc lực lượng vũ trang được cải thiện, giúp cán bộ, chiến sĩ yên tâm phục vụ quân đội, công an; đồng thời, tạo cơ hội để họ tập trung vào công tác huấn luyện, rèn luyện, học tập nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật, đủ kiến thức và kỹ năng làm chủ các phương tiện, vũ khí, khí tài hiện đại, nâng cao sự sẵn sàng, khả năng chiến đấu và chiến thắng.

Thứ tư, KTTT gắn với việc mở cửa, hội nhập quốc tế thúc đẩy sự phát triển kinh tế trong nước thông qua phát huy các lợi thế, tạo tiền đề vật chất cho tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh. Đồng thời, mở cửa, hội nhập quốc tế tạo sự hiểu biết, sự gắn kết và ràng buộc lẫn nhau về lợi ích kinh tế, đầu tư, thương mại, hạn chế nguy cơ chiến tranh. Bên cạnh đó, xu hướng hội nhập quốc tế đặt ra khả năng và yêu cầu khách quan liên kết các quốc gia trong các thể chế khu vực và toàn cầu. Chủ động hội nhập quốc tế theo yêu cầu phát triển của KTTT, sự tham gia có trách nhiệm vào hoạt động của các tổ chức quốc tế, bên cạnh mở rộng quan hệ kinh tế và ngoại giao song phương, còn góp phần củng cố thế và lực của đất nước trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Sự phát triển KTTT cũng có những tác động tiêu cực đến tiềm lực quốc phòng, an ninh đất nước, cụ thể:

Một là, phát triển KTTT dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo, phân tầng xã hội. Đây là một tất yếu do có sự hoạt động và phát huy tác dụng của các quy luật kinh tế khách quan. Sự phân hóa giàu nghèo làm phát sinh những biểu hiện tiêu cực, bất mãn - cơ hội, điều kiện để các thế lực thù địch, tội phạm có thể lợi dụng để dụ dỗ, lôi kéo, mua chuộc, kích động người dân gây tình huống phức tạp về an ninh, trật tự xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm ảnh hưởng xấu tới việc xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân.

Hai là, phát triển KTTT tác động đến tư tưởng, tình cảm của cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang. Kinh tế thị trường tạo điều kiện cho mọi cá nhân trong xã hội làm giàu hợp pháp và đang có nhiều người, bằng tài năng, sức lực và nguồn lực của mình trở nên giàu có. Nhưng cũng có không ít cá nhân làm giàu bất chính và một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức lợi dụng vị trí công tác có hành vi tham nhũng, nhận hối lộ, có nhiều tài sản bất hợp pháp. Điều này tác động đến nhận thức chính trị, tư tưởng, tình cảm, tâm lý, đạo đức của mỗi con người trong đó có cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang, đặc biệt là đối với những người có hoàn cảnh gia đình khó khăn.

Ba là, đầu tư và thương mại quốc tế bên cạnh những kết quả tích cực mang lại cho nền kinh tế cũng có những tác động tiêu cực tới lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Thông qua con đường hợp tác đầu tư, thương mại, các thế lực thù địch, phản động có thể lợi dụng để thâm nhập vào trong nước, móc nối với các nhân vật bất mãn, phản động, tổ chức các hoạt động chống phá. Cũng thông qua hoạt động đầu tư, thương mại, các thế lực thù địch tìm cách mua chuộc, khống chế cán bộ, công chức trong các cơ quan trọng yếu của Đảng và Nhà nước để cung cấp cho chúng các thông tin liên quan đến quốc phòng, an ninh, phục vụ âm mưu phá hoại, lật đổ. Thông qua đầu tư, đặc biệt là đầu tư vào lĩnh vực giáo dục, đào tạo, văn hóa, nghệ thuật... để truyền bá tư tưởng, văn hóa độc hại, thực hiện chiến lược diễn biến hòa bình.

HAIVAN