Thứ Hai, 11 tháng 12, 2023

Nhiều thành tựu sau 15 năm Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện


Kể từ khi hai bên thiết lập khuôn khổ quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện đến nay, quan hệ hai Đảng, hai nước đã phát triển ngày càng thực chất, vững chắc và toàn diện trên mọi lĩnh vực.

Quan hệ chính trị phát triển mạnh mẽ, trao đổi cấp cao và các cấp được tăng cường với nhiều chuyến thăm lẫn nhau.

Hợp tác kinh tế thương mại và đầu tư ngày càng đi vào chiều sâu. Trung Quốc 20 năm liền là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam và hiện nay Việt Nam là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc trong ASEAN, đối tác thương mại lớn thứ 4 của Trung Quốc trên thế giới.

Kim ngạch thương mại song phương tăng 9 lần từ mức 20 tỉ USD năm 2008 lên gần 180 tỉ USD năm 2022. Qua 15 năm, đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam tăng hơn 10 lần từ mức lũy kế 2 tỉ USD vào năm 2008 lên 25 tỉ USD hiện nay.

Riêng năm 2023, Trung Quốc đã vươn lên vị trí thứ tư trong các quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam.

Giao lưu nhân dân và hợp tác giữa các địa phương diễn ra sôi động, đạt nhiều thành quả thiết thực. Đến nay, đã có gần 60 tỉnh/thành của Việt Nam thiết lập quan hệ hợp tác hữu nghị với các địa phương Trung Quốc.

Trước khi dịch COVID-19 bùng phát, Trung Quốc nhiều năm liên tục dẫn đầu về lượng du khách đến Việt Nam. Trung bình cứ ba khách quốc tế đến Việt Nam thì có một khách Trung Quốc.

Theo ông Nguyễn Minh Vũ, Việt Nam và Trung Quốc đạt nhiều thành quả trong việc xây dựng đường biên giới trên bộ.

Trên biển, cả hai nước đều nỗ lực duy trì đàm phán, tăng cường hợp tác, nhằm cùng các bên liên quan kiểm soát bất đồng, quản lý khác biệt phù hợp với quy định của luật pháp quốc tế, bao gồm UNCLOS 1982, góp phần bảo đảm hòa bình, ổn định ở Biển Đông và khu vực.

 

 

Trung Quốc sẵn sàng cung cấp viện trợ không hoàn lại để kết nối đường sắt

Khi được hỏi về ý nghĩa của quan hệ song phương Việt - Trung với khu vực và thế giới, Đại sứ Hùng Ba cho rằng chuyến thăm lần này sẽ nhận được sự quan tâm đặc biệt của cộng đồng quốc tế.

Theo ông, quan hệ giữa hai nước có nhiều cơ hội hơn thách thức, trong đó cơ hội lớn nhất chính là sự tin cậy chính trị lẫn nhau, nhu cầu hợp tác ngày càng mở rộng, văn hóa tương đồng..

Đại sứ Trung Quốc khẳng định nước này không chủ trương theo đuổi hay không có chính sách xuất siêu sang Việt Nam.

Theo ông, cán cân thương mại hiện nay là kết quả của phân công công nghiệp quốc tế, thị trường chứ không phải hữu ý từ Trung Quốc.

Dẫn số liệu từ Tổng cục Hải quan Trung Quốc, ông Hùng Ba cho biết xuất khẩu từ Việt Nam sang Trung Quốc trong 11 tháng qua đã tăng so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi nhập khẩu lại giảm.

Ông khẳng định Trung Quốc luôn sẵn sàng mở cửa nhập khẩu hàng hóa từ Việt Nam, đặc biệt là nông sản.

Điển hình như sầu riêng Việt Nam đang rất được ưa chuộng ở Trung Quốc, với kim ngạch nhập khẩu đã gần đạt mức 2 tỉ USD chỉ trong 10 tháng đầu năm 2023.

Trong thời gian tới, Trung Quốc sẽ đẩy nhanh các thủ tục để nhập khẩu dừa tươi từ Việt Nam, xem đây là một mặt hàng nông sản đầy hứa hẹn nữa.

"Tôi cho rằng cả hai nước chúng ta cũng cần phải tăng cường kết nối và liên thông trên đường bộ, đường biển, hàng không cũng như trên mạng Internet", ông Hùng Ba nêu vấn đề.

Theo đại sứ Trung Quốc, ưu tiên nhất và quan trọng nhất chính là hai bên cần phải mở rộng và tăng cường hợp tác về cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, ví dụ như đường sắt và đường bộ cao tốc.

Hiện nay Trung Quốc đang thúc đẩy xây dựng ba tuyến đường sắt xuyên Á, gồm các tuyến phía tây, trung tâm và phía đông. Trong đó tuyến phía đông đi qua Việt Nam sẽ là tuyến có nhu cầu lớn nhất và điều kiện xây dựng tốt nhất.

Ông khẳng định Trung Quốc sẵn sàng cung cấp khoản viện trợ không hoàn lại để Việt Nam nâng cấp và cải tạo tuyến đường từ Quảng Tây đến Hà Nội và đẩy nhanh quy hoạch xây dựng một số dự án đường sắt khác như Hà Khẩu (tỉnh Vân Nam, Trung Quốc) - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng.

"Nếu các dự án trên được hoàn thành, mức độ liên thông giữa hai nước sẽ được nâng lên, và chắc chắn hiệu suất thông quan, vận chuyển hàng hóa giữa hai nước, không có tình trạng ùn tắc hàng hóa tại biên giới", ông Hùng Ba nhấn mạnh.

Đồng thời, một khi hoàn thành, các tuyến đường sắt này sẽ mở đường cho hàng hóa Việt Nam đi xa hơn vào khu vực Trung Á thông qua Trung Quốc.

 

 

Ông Tập Cận Bình rất mong gặp Tổng bí thư

Nhắc lại mối quan hệ giữa các lãnh đạo hai nước, Đại sứ Hùng Ba đặc biệt chia sẻ về tình cảm giữa Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình.

Hai nhà lãnh đạo gặp nhau lần đầu tiên vào năm 2011 khi Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sang thăm Trung Quốc.

Hai tháng sau chuyến thăm này, ông Tập Cận Bình, khi đó là Phó chủ tịch nước Trung Quốc, đã sang thăm Việt Nam và đến chào người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam.

Kể từ đó, hai nhà lãnh đạo đều đặn hội đàm, điện đàm và nhiều lần trao đổi thư, điện nhân các sự kiện chính trị quan trọng của mỗi bên.

Trong đó, Tổng bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình đã bảy lần điện đàm với Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng kể từ khi trở thành người đứng đầu Đảng và Nhà nước Trung Quốc.

Theo Đại sứ Hùng Ba, có thể nói những lần trao đổi giữa hai Tổng bí thư đều là những cuộc giao lưu tư tưởng và trao đổi chiến lược quan trọng giữa hai nhà chính trị, nhà lý luận, nhà chiến lược chủ nghĩa Marx đương đại và phát huy vai trò định hướng mang tính quyết định đối với sự phát triển quan hệ hai Đảng, hai nước.

"Tôi nhớ có lần Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chia sẻ rằng mỗi lần trao đổi, nói chuyện với Tổng bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình thì càng nói càng cảm thấy rất hợp nhau và có rất nhiều nội dung có thể nói chuyện cùng nhau. Điều đó làm cho tôi cảm thấy rất cảm động", ông Hùng Ba bày tỏ.

Đại sứ Trung Quốc khẳng định quan hệ hữu nghị giữa hai nước hiện nay có sự xây dựng và vun đắp của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông, là tài sản chung quý báu của hai Đảng, hai nước.

"Tôi cho rằng mối quan hệ nồng thắm, hữu nghị mang tính đồng chí của Tổng bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình và Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng là tài sản chung quý báu của hai nước", ông Hùng Ba chia sẻ.

Chuyến thăm lần này của Tổng bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình là một sự kiện mà cả hai Tổng bí thư đều "rất mong chờ, vì hai Tổng bí thư đều rất nhớ nhau và mong được sớm gặp nhau", theo đại sứ Trung Quốc.

Vì lẽ đó, ông Hùng Ba tin tưởng chuyến thăm lần này "sẽ tràn đầy tình hữu nghị và đạt được nhiều thành quả phong phú".

 

 

Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc là đặc biệt hiếm có trên thế giới


Tại cuộc gặp, ông Hùng Ba đã trả lời 10 câu hỏi về ý nghĩa của chuyến thăm sắp tới, những lĩnh vực mà lãnh đạo hai bên sẽ thảo luận và hợp tác.

Ông cũng đưa ra những chia sẻ về mối quan hệ thắm tình hữu nghị giữa lãnh đạo Việt Nam và Trung Quốc, trong đó có mối quan hệ đã bước sang năm thứ 12 giữa Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình.

Theo Đại sứ Hùng Ba, quan hệ hai Đảng, hai nước Việt Nam - Trung Quốc là "rất đặc biệt và có thể nói là rất hiếm thấy trên thế giới".

Ông giải thích cả hai nước đều là nước xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo, là hai nước núi sông liền một dải và là hai nước láng giềng hữu nghị.

Đại sứ Trung Quốc kế đó nhắc lại những thành tựu và tiến triển của quan hệ hai nước trong thời gian qua, đặc biệt sau chuyến thăm lịch sử đến Trung Quốc của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng vào cuối tháng 10 đầu tháng 11-2022.

Chuyến thăm của Tổng bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình lần này, theo ông Hùng Ba, sẽ là dịp để lãnh đạo hai nước duy trì trao đổi và tiếp xúc chiến lược, xác định phương hướng củng cố hơn nữa quan hệ hai nước trên tinh thần "tình hình mới, phương hướng mới, triển vọng mới, động lực mới".

Dự kiến trong khuôn khổ chuyến thăm, hai bên cũng sẽ ký kết hàng chục văn kiện hợp tác trên nhiều lĩnh vực, góp phần tăng cường tin cậy chính trị, mở rộng hợp tác thực chất đem lại lợi ích cho nhân dân hai nước và khu vực cũng như thế giới.

Khi được hỏi về ấn tượng lớn nhất trong suốt năm năm qua ở Việt Nam, Đại sứ Hùng Ba nhớ lại chuyến đi cùng Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đến cửa khẩu Hữu Nghị - Hữu Nghị Quan giữa Việt Nam và Trung Quốc hồi tháng 8 vừa qua.

Ông kể trong chuyến đi đó, Tổng bí thư đã trồng cây "hữu nghị" và nhắc lại lịch sử tên gọi của cửa khẩu này.

Người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam cũng nhắc lại việc ngày xưa, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng qua cửa khẩu này để thăm Trung Quốc và chính Người đã đề xuất đặt tên "Hữu Nghị - Hữu Nghị Quan".

 

 

 

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục lý luận chính trị và sự vận dụng vào nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị ở Trường Chính trị tỉnh Quảng Nam

ThS TRẦN NGỌC NHIỀU
Trường Chính trị tỉnh Quảng Nam

(LLCT) - Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục lý luận chính trị là hệ thống quan điểm toàn diện, sâu sắc về hoạt động truyền thụ và tiếp thu tri thức lý luận chính trị nhằm phát triển thế giới quan, phương pháp luận khoa học, bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng. Bài viết làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục lý luận chính trị và sự vận dụng vào nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị ở Trường Chính trị tỉnh Quảng Nam 


Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao tầm quan trọng của giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Đây là một trong những nội dung quan trọng trong công tác giáo dục của Đảng, có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp cách mạng. Người trích lại câu nói của V.I.Lênin: “Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng, chỉ đảng nào được một lý luận tiền phong hướng dẫn mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong”(1). Bởi theo Người, “Lý luận như kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế”(2). Người thường xuyên nhắc nhở cán bộ phải không ngừng học tập lý luận cách mạng và vận dụng sáng tạo lý luận đó vào trong hoạt động thực tiễn, chống bệnh lười học, coi khinh lý luận.

Những quan điểm trên của Người có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với công tác giáo dục lý luận chính trị ở các trường chính trị tỉnh, thành phố trong cả nước nói chung, Trường Chính trị tỉnh Quảng Nam nói riêng.

1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục lý luận chính trị

Tầm quan trọng của giáo dục lý luận chính trị (GDLLCT) đối với sự nghiệp cách mạng được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ:

Đối với sự nghiệp cách mạng, lý luận như “ngọn đuốc” soi đường thắng lợi cho sự nghiệp cách mạng. Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử. Vì vậy, “không hiểu lý luận như người mù đi đêm”(3). Như vậy, theo Người, lý luận chỉ ra đường hướng đúng đắn cho sự nghiệp cách mạng, do đó, nếu không có lý luận cách mạng soi đường thì sự nghiệp cách mạng sẽ rơi vào bế tắc, sai lầm, thậm chí thất bại.

Đối với công tác xây dựng Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định GDLLCT giữ vị trí quan trọng hàng đầu đối với thực hiện sứ mệnh của Đảng. Người khẳng định: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”(4). Người cho rằng: “Đảng ta tổ chức trường học lý luận cho cán bộ là để nâng cao trình độ lý luận của Đảng ta đặng giải quyết sự đòi hỏi của nhiệm vụ cách mạng và tình hình thực tế của Đảng ta, để Đảng ta có thể làm tốt hơn công tác của mình, hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ cách mạng vĩ đại của mình”(5) .

Để xây dựng được chủ nghĩa xã hội, điều quan trọng là phải nâng cao trình độ lý luận cho toàn thể cán bộ, đảng viên, nhất là các cán bộ cốt cán của Đảng. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Muốn cải tạo xã hội mà đảng viên không tự cải tạo mình, không tự nâng cao mình thì không thể được…vì chủ nghĩa xã hội chỉ có thể xây dựng được với sự giác ngộ đầy đủ và lao động sáng tạo của hàng chục triệu người. Muốn thế phải nâng cao trình độ lý luận chung của Đảng, phải tổ chức học tập lý luận trong Đảng, trước hết là trong những cán bộ cốt cán của Đảng”(6).

Đối với cán bộ, đảng viên, học tập lý luận chính trị giữ vai trò hàng đầu trong việc hoàn thiện nhân cách và định hướng tư tưởng của mỗi người. Theo Hồ Chí Minh, làm cách mạng cũng là một “nghề” đặc biệt nên lực lượng nòng cốt của sự nghiệp cách mạng càng phải học tập, tu dưỡng, rèn luyện một cách bài bản, hệ thống để vừa “hồng”, vừa “chuyên”, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công việc thực tiễn. Do đó, GDLLCT cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trở thành nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là “việc cần kíp của Đảng”.

Người căn dặn: “Đảng phải chống thói xem nhẹ học tập lý luận. Vì không học tập lý luận thì chí khí kém kiên quyết, không thấy xa trông rộng, trong lúc đấu tranh dễ lạc phương hướng, kết quả là “mù chính trị”, thậm chí hủ hóa, xa rời cách mạng”(7). Chỉ trên cơ sở thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin mới có thể hoàn thành nhiệm vụ được giao. Chủ nghĩa xã hội chỉ có thể xây dựng được với sự giác ngộ đầy đủ và lao động sáng tạo của hàng chục triệu người. Thông qua học tập lý luận chính trị giúp cán bộ, đảng viên cải tạo tư tưởng, phát triển lập trường cách mạng và thế giới quan khoa học, tạo cơ sở tiền đề để phát triển năng lực hoạt động thực tiễn, chủ động, tích cực và sáng tạo trong hoạt động cách mạng vì mục tiêu, lý tưởng đã xác định.

Nội dung GDLLCT được Người đề cập ở nhiều bài viết, đặc biệt trong bài “Nói chuyện tại Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất về công tác huấn luyện và học tập”. Để trả lời câu hỏi “Huấn luyện gì?”, theo Người, nội dung GDLLCT rất rộng, do đó cần căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh, yêu cầu của cách mạng mà bố trí, sắp xếp cho phù hợp với đặc điểm, nhiệm vụ cụ thể của từng đối tượng. Trong đó, tập trung giáo dục các nội dung chủ yếu là:

Trước hết, phải giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin. Theo Hồ Chí Minh, “Phải dạy lý luận Mác - Lênin cho mọi người”(8), bởi lẽ, “Chủ nghĩa Mác - Lênin soi phương hướng, đường lối cho chúng ta đi. Có phương hướng đúng thì làm việc mới đúng. Hết lòng hết sức phụng vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc; bất kỳ việc to việc nhỏ cũng nhằm mục đích ấy”(9). Giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin là nội dung cơ bản nhất nhằm trang bị cho người học những nguyên lý, quy luật phổ biến, phát triển thế giới quan và phương pháp luận, đó “không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”(10).

Tuy nhiên, lý luận Mác - Lênin rất rộng lớn, nên tùy vào từng đối tượng, nhiệm vụ cụ thể mà học “những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin”, học những điều thiết thực nhất, để học xong có thể dùng được ngay, không học “mênh mông” mà không dùng được.

Hai là, giáo dục chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đây là nội dung cơ bản bởi “Những chỉ thị, nghị quyết, luật, lệnh của Đoàn thể và Chính phủ”(11) là sự quán triệt, vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Theo Người, “có nắm vững đường lối cách mạng mới thấy rõ phương hướng tiến lên của cách mạng, mới hiểu rõ mình phải làm gì và đi theo phương hướng nào để thực hiện mục đích của Đảng trong giai đoạn cách mạng hiện nay”(12). Nắm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước chính là nắm phương hướng, cách thức hành động.

Ba là, giáo dục đạo đức cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi đạo đức là “cái gốc”, nền tảng của người cách mạng, “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”(13). Mỗi cán bộ, đảng viên phải chú trọng nâng cao đạo đức cách mạng với các phẩm chất cơ bản: trung với nước, hiếu với dân; cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; yêu thương con người, có tinh thần quốc tế trong sáng. Trong đó, theo Người, “tính tốt ấy gồm có năm điều: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm”(14).

Bốn là, giáo dục truyền thống yêu nước, đoàn kết được hun đúc trong lịch sử dựng nước và giữ nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng giáo dục truyền thống, lịch sử dân tộc. Người nói: “Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”(15). Trong đó, trước hết phải chú trọng giáo dục truyền thống yêu nước của dân tộc, bởi yêu nước là dòng chảy xuyên suốt lịch sử dân tộc, trở thành giá trị, chuẩn mực văn hóa, tài sản tinh thần vô giá, hun đúc nên cốt cách của con người Việt Nam, tạo nên động lực, sức mạnh tinh thần to lớn của dân tộc ta.

Theo Người, phải khơi dậy và phát huy giá trị truyền thống của dân tộc, biến sức mạnh tinh thần thành sức mạnh vật chất, tạo sức mạnh to lớn cho công cuộc kháng chiến, kiến quốc. Người cách mạng phải phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, niềm tự hào, tự tôn dân tộc. Cán bộ, đảng viên không những phải am hiểu lịch sử, truyền thống mà còn phải quan tâm tuyên truyền, giáo dục cho quần chúng, nhân dân để gìn giữ và phát huy tài sản quý báu của dân tộc.

Năm là, giáo dục chuyên môn, nghiệp vụ. Trong khi nhấn mạnh đến việc phải học tập chủ nghĩa Mác - Lênin để phát triển, bồi dưỡng nhân sinh quan cộng sản, thế giới quan cách mạng, Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ phải giáo dục chuyên môn, nghiệp vụ. Người khẳng định: Chính trị là linh hồn, chuyên môn là cái xác. Có chuyên môn mà không có chính trị thì chỉ còn cái xác không hồn. Phải có chính trị trước rồi có chuyên môn. Nếu thầy giáo, cô giáo bàng quan thì lại đúc ra một số công dân không tốt, cán bộ không tốt. Nói tóm lại, chính trị là đức, chuyên môn là tài. Có tài mà không có đức là hỏng. Có đức mà chỉ i, tờ thì dạy thế nào? Đức phải có trước tài. Người cho rằng: “Phải cố gắng học tập chính trị, văn hóa, nghề nghiệp để tiến bộ mãi, để sẵn sàng trở thành cán bộ tốt, đảng viên tốt”(16). Đặc biệt, nhiệm vụ cách mạng ngày càng phức tạp, xã hội không ngừng phát triển, đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu của cách mạng.

Như vậy, GDLLCT tác động toàn diện, sâu sắc đến nhân cách của người cán bộ, đảng viên, làm cho họ trưởng thành, vững vàng về mọi mặt, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng. Do vậy, cán bộ, đảng viên không chỉ nỗ lực học tập, nghiên cứu lý luận chính trị mà còn phải chủ động, tích cực phổ biến, tuyên truyền cho quần chúng nhân dân, từ đó đưa lý luận vào thực tiễn phong trào cách mạng, biến lý luận thành hành động cách mạng, khắc phục tình trạng kém lý luận, khinh lý luận hoặc lý luận suông.

2. Nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị ở Trường Chính trị tỉnh Quảng Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Những năm qua, công tác nghiên cứu khoa học, học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị trong đội ngũ cán bộ, giảng viên và học viên được Đảng ủy, Ban Giám hiệu Trường Chính trị tỉnh Quảng Nam quan tâm, đã có những giải pháp cụ thể sát thực tiễn. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Trường Chính trị tỉnh Quảng Nam lần thứ VII nhiệm kỳ 2020 - 2025 đã xác định hai nhiệm vụ trọng tâm là: “Tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp về quản lý đào tạo, bồi dưỡng, nhất là quản lý, nâng cao chất lượng giảng dạy của giảng viên và động cơ thái độ, chất lượng học tập của học viên để không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo, dồi dưỡng; Đổi mới công tác quản lý, nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn, xem đây là nhiệm vụ trọng tâm, góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu, năng lực giảng dạy của giảng viên”.

Để nâng cao chất lượng GDLLCT, Trường Chính trị tỉnh Quảng Nam cần thực hiện những giải pháp cơ bản sau:

Xác định “đối tượng nào, giáo án đó”; giảng viên thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng; thực hiện Kết luận số 01-KL/TW ngày 18-5-2021 của Bộ Chính trị khóa XIII về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05 - CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, cụ thể hóa nội dung chuyên đề năm 2023 của tỉnh Quảng Nam “Đổi mới, sáng tạo, phát huy ý chí tự lực tự cường, khơi dậy khát vọng phát triển tỉnh Quảng Nam theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” vào thực tiễn Trường Chính trị tỉnh Quảng Nam, Đảng ủy, Ban Giám hiệu, đội ngũ cán bộ, giáo viên xác định việc học tập và làm theo phải trở thành nhu cầu tự thân, việc làm thường xuyên của mỗi cán bộ, đảng viên trong nhà trường.

Đảng ủy, Ban Giám hiệu nhà trường chỉ đạo tập trung quản lý, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng, đổi mới đa dạng các hình thức thi cử, tăng cường công tác quản lý sĩ số học viên(16), thực hiện đúng nội quy, quy chế của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh nên chất lượng đào tạo, bồi dưỡng được nâng lên, thực hiện nghiêm túc các nhiệm vụ khoa học, tổng kết thực tiễn, tổ chức các Hội thảo khoa học, tham gia thi viết chính luận Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng theo tinh thần Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị; lãnh chỉ đạo triển khai các nội dung về xây dựng trường chính trị chuẩn theo Quy định số 11-QĐ/TW ngày 19-5-2021 của Ban Bí thư và Quyết định số 381-QĐ/TU ngày 3-12-2021 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về phê duyệt Đề án trường chính trị chuẩn.

Đảng ủy, Ban Giám hiệu nhà trường quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ lý luận cho đội ngũ cán bộ, giảng viên, xác định đây là việc làm thường xuyên, có tính quyết định đến công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng giảng dạy của nhà trường. Trong 7 năm qua (2016 - 2023), Nhà trường đã cử 03 người đi học trung cấp lý luận chính trị - hành chính, 10 người đi học cao cấp lý luận chính trị. Động viên, khuyến khích 04 cán bộ, giảng viên tham gia đào tạo tiến sĩ; cử 10 người đi học thạc sĩ; tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ 53 lượt người; bồi dưỡng các lớp ngạch chuyên viên, chuyên viên chính 26 lượt. Đầu năm 2023, cử 16 người tham gia lớp bồi dưỡng kinh điển Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; cử 07 lượt cán bộ, giảng viên tham gia các lớp tập huấn do Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và các cơ quan trung ương tổ chức.

Đối với cán bộ, giảng viên, những người trực tiếp làm công tác nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị luôn quan tâm tự học, tự nâng cao trình độ, “làm mới mình” bằng khả năng tự nghiên cứu, tổng kết thực tiễn để có những giáo án, những tiết giảng bảo đảm chất lượng, đáp ứng yêu cầu đặt ra trong giảng dạy lý luận chính trị hiện nay. Các giảng viên thể hiện sự luôn khiêm tốn, có tinh thần cầu thị, đam mê, yêu nghề trong nghiên cứu, học tập. Những vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn nghiên cứu, giảng dạy được trao đổi, làm rõ, có kết luận chính xác trước khi thông tin đến người học.

Để việc học tập và làm theo Bác có hiệu quả thiết thực, nhà trường, khoa, phòng tăng cường tổ chức sinh hoạt chuyên đề liên quan đến cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt, các chuyên đề hàng năm do Ban Tuyên giáo Trung ương hướng dẫn thực hiện. Mỗi cán bộ, giảng viên tùy theo vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ được giao mà đăng ký nội dung phù hợp, việc đăng ký phải hướng đến nội dung học tập thiết thực, cụ thể, hiệu quả.

Thường xuyên đánh giá chất lượng nghiên cứu khoa học, giảng dạy của đội ngũ giảng viên nhà trường trong từng năm. Nghiên cứu khoa học và giảng dạy có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại với nhau, bổ sung cho nhau. Muốn hoàn thành tốt công tác giảng dạy thì đòi hỏi phải có nổ lực trong công tác nghiên cứu khoa học, đây là nhiệm vụ thường xuyên, cơ bản được nhà trường quan tâm. Nghiên cứu khoa học tốt, tức là luôn tư duy động trong quá trình nghiên cứu. Từ đó, hình thành khả năng nghiên cứu thường xuyên, luôn tìm ra cái mới, sáng tạo trong quá trình nghiên cứu. Qua đó, giảng viên có môi trường và điều kiện rèn luyện tư duy, cách viết đơn giản, dễ hiểu nhất, hiệu quả nhất. Muốn đánh giá chất lượng nghiên cứu khoa học, giảng viên phải có sản phẩm khoa học cụ thể trong từng năm.

Việc đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn giúp cán bộ, giảng viên có tư duy độc lập, sáng tạo trong nghiên cứu, có thêm những kinh nghiệm, kiến thức lý luận và thực tiễn bổ sung vào bài giảng. Đây là tiêu chí quan trọng đánh giá mức độ hoàn thành công việc của giảng viên và cũng là động lực tự thân để giảng viên khẳng định mình trong nghiên cứu, giảng dạy. Để giảng dạy tốt, bài giảng có tính thuyết phục cao, mỗi giảng viên phải có sự chuẩn bị, bảo đảm đủ các bước lên lớp, nghiên cứu các thông tin liên quan bài giảng, phong cách đứng lớp, từ ngữ diễn đạt phù hợp với đối tượng phục vụ. Chính sự chuẩn bị chu đáo, chi tiết quyết định thành công trong quá trình giảng dạy. Hằng năm, thường xuyên tổ chức thao giảng, dự giờ cấp khoa, trường để đánh giá chất lượng giảng viên.

Hiện nay, với đối tượng người học đa dạng, việc xác định đối tượng để phục vụ giúp giảng viên giảng dạy lý luận xác định phương pháp, cách thức truyền đạt tri thức phù hợp đạt hiệu quả cao nhất. Bên cạnh đó, tấm gương mẫu mực, tận tụy, đạo đức trong sáng của thầy giáo, cô giáo có ý nghĩa quan trọng trong phương pháp nêu gương, giúp người học tin tưởng, tạo sự nhất quán trong giảng dạy và thực tiễn đời sống hằng ngày.

Qua nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về GDLLCT, mỗi cán bộ, giảng viên Trường Chính trị tỉnh Quảng Nam nhận thức sâu sắc, thấm nhuần nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về GDLLCT, không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, phát huy ý chí tự lực tự cường trong nghiên cứu, giảng dạy, góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng, phát triển Trường Chính trị đạt chuẩn trong những năm đến. Thực hiện đồng bộ, hiệu quả nhiều giải pháp, tạo sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi quan điểm, mục tiêu, phương hướng đã đề ra.

_________________

Ngày nhận bài: 13-11-2023; Ngày bình duyệt: 20-11-2023; Ngày duyệt đăng: 26-11-2023.

(1), (5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.11, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.93, 90.

(2), (13), (14) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t. 5, Sđd, tr.273, 292, 291.

(3), (7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.8, Sđd, tr.276, 280.

(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.2, Sđd, tr.289.

(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.11, Sđd, tr.93.

(8), (11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.6, Sđd, tr.357, 360.

(9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.10, Sđd, tr.290.

(10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.12, Sđd, tr.563.

(12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.15, Sđd, tr.113, 115.

(15) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.3, Sđd, tr.259.

(16) Năm 2023, Ban Tổ chức Tỉnh ủy Quảng Nam đã phối hợp với Trường Chính trị tỉnh và các đơn vị, địa phương mở 7 lớp trung cấp lý luận chính trị cho 360 học viên, một lớp trung cấp lý luận chính trị cho cán bộ tỉnh Sê Kông (Lào) với số lượng 30 học viên.