Thứ Hai, 11 tháng 12, 2023

KHÔNG LÀM NGƠ TRƯỚC BIỂU HIỆN SUY THOÁI "THÍCH ĐƯỢC ĐỀ CAO, CA NGỢI"

 Cổ kim đông tây từng đúc kết, những người có chức sắc, vị thế xã hội mà bỏ ngoài tai những lời trung thực, khảng khái và lại ưa thích những lời người khác tâng bốc, tung hô, nịnh nọt mình thì rất dễ bị ảo tưởng về quyền lực, từ đó có những hành xử thiếu minh mẫn, nhân văn. Nếu thời xưa, người dân luôn “dị ứng” và oán ghét những tên quan nịnh thần làm nhiễu nhương triều chính, thì thời nay, chúng ta cũng không thể làm ngơ trước một bộ phận cán bộ, đảng viên “thích được đề cao, ca ngợi”-một trong những biểu hiện suy thoái về đạo đức lối sống mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng đã chỉ ra.

Từ những lời cảnh báo thói đời siểm nịnh của người xưa
Nhìn lại lịch sử cho thấy, xu nịnh là cách sống “vào luồn, ra cúi” của một bộ phận quan nịnh thần trong các triều đại phong kiến thuở trước. Những kẻ nịnh thần này thường tài hèn đức mọn, nhưng lại khéo ăn khéo nói, biết vuốt ve, “vỗ về” vua chúa đúng lúc, đúng chỗ bằng những lời nói mỹ miều, ngọt ngào, cốt là để lấy lòng bề trên. Nếu bề trên (ông vua, bà chúa, ông quan) nào tỉnh táo, sáng suốt và kiên quyết lánh xa, loại trừ thói xu nịnh vờ vĩnh, giả tạo thì giữ được tư thế, tác phong, nhân cách chân chính của bậc quang minh chính đại, góp phần bảo đảm cho triều chính được uy nghiêm, sơn hà xã tắc được bình an. Ngược lại, những người ở ngôi cao chức trọng và nắm giữ nhiều quyền bính mà dễ ngả lòng, a dua, thậm chí “đắm chìm” trong những lời bợ đỡ, ton hót của những kẻ “ngồi lê đôi mách” thì dễ làm cho các mối quan hệ trong triều chính trở nên rối ren, mọi người sống nghi kỵ, oán thán lẫn nhau và khiến lòng dân thêm bất an, ly tán.
Danh nho Chu Văn An (1292-1370), một vị quan thanh liêm đời Trần, tận mắt chứng kiến cảnh nhiễu nhương, suy đồi từ trong triều chính có nguyên nhân sâu xa là do những quan nịnh thần gây ra. Vì vậy, Chu Văn An đã dâng “Thất trảm sớ”, đề nghị vua Trần Dụ Tông (1336-1369) xử chém 7 tên nịnh thần để góp phần lấy lại sự nghiêm minh trong vương triều và củng cố niềm tin cho thần dân. “Thất trảm sớ” của Chu Văn An dù không được nhà vua chấp thuận, nhưng mãi là lời cảnh báo, cảnh tỉnh muôn đời đối với hậu họa khôn lường của thói gian thần, nịnh bợ.
Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm (1889-1954) là một đại thần triều Nguyễn. Khi thi đỗ đại khoa, ông được cùng các vị tiến sĩ đồng khoa triều kiến vua Thành Thái (1879-1954). Khi nhà vua đề nghị mỗi vị đề xuất góp ý kế sách để phục hưng quốc gia, Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm đã đọc 4 câu: “Tôn tộc đại quy/ Tôn lộc đại nguy/ Tôn tài đại thịnh/ Tôn nịnh đại suy”. Bốn câu này được hiểu là: “Tôn trọng nòi giống ắt đại hòa hợp/ Tôn trọng bổng lộc ắt đại nguy nan/ Tôn trọng tài năng ắt đại phồn thịnh/ Tôn trọng siểm nịnh ắt đại suy vong”.
“Tôn nịnh đại suy” hiểu rộng ra là bất cứ chỗ nào, thể chế nào, xã hội nào, nếu không loại bỏ mà lại coi trọng thói siểm nịnh thì sớm muộn chỗ đó, thể chế đó, xã hội đó cũng sẽ mục ruỗng, thối nát và đi đến bờ vực suy vong thảm hại.
Đến căn bệnh “thích được đề cao, ca ngợi” trong một bộ phận quan chức thời nay
Thực ra, đã sống trong cuộc đời này, ai cũng thích khen. Vì lời khen không chỉ là một trong những nghệ thuật giao tiếp để động viên, khích lệ nhau vươn lên trong cuộc sống mà còn là một phương thức giáo dục tinh tế, hiệu quả trong học tập, lao động, công tác. Nhưng điều quan trọng là phải khen đúng lúc, đúng chỗ, đúng mực, đúng đối tượng thì lời khen mới có giá trị. Còn nếu khen một cách tràn lan, gặp đâu khen đấy, khen không xuất phát từ tấm lòng chân thành, nhất là cấp dưới thường xuyên dành cho cấp trên những lời “ngọt như mía lùi” thì đó không phải là lời khen, mà thực chất là sự nịnh nọt, ton hót-một thái độ ứng xử không phù hợp với phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên.
Đến nhiều tổ chức, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp hiện nay, nếu ai tinh ý và chịu khó quan sát, lắng nghe thì trong các cuộc trò chuyện, có thể thấy một hiện tượng là quần chúng thích nói ý tứ cho vừa lòng lãnh đạo, cấp dưới hay “vuốt ve” cấp trên, nhân viên ưa nói tốt về thủ trưởng... Trong giao tiếp đời thường là vậy và trong sinh hoạt đảng, chính quyền, đoàn thể cũng như vậy.
Còn tồn tại hiện tượng trên một phần vì cấp dưới mang tâm lý cả nể những người có tuổi tác, chức sắc, vị thế công tác hơn mình; nhưng phần khác, cũng do tâm lý thích, thậm chí ham mê, ưa chuộng lời khen của những người có chức quyền. Mà khi cấp dưới khen thì nhiều khi là “khen cho được việc”, cố khen cho “mát mặt” cấp trên, chứ chưa hẳn là khen đúng lòng mình. Hay nói cách khác, đó là những lời khen mang tính chất “hối lộ tinh thần” hơn là lời khen thật sự ý nghĩa.
Không những vậy, một số quan chức còn lợi dụng báo chí, truyền thông để ca ngợi, tung hô mình vào những thời điểm "nhạy cảm", như: Đại hội, bầu cử, được bổ nhiệm chức vụ mới… Tinh vi hơn, có quan chức bỏ ra những khoản kinh phí “không hề nhỏ” để duy trì, “nuôi dưỡng” một bộ phận làm truyền thông chuyên nghiệp chỉ để “lăng xê”, đánh bóng tên tuổi cá nhân mình trong xã hội.
Cán bộ, đảng viên cần giữ đạo khiêm nhường, tự trọng, cương trực
Trong những năm tháng bao cấp, dư luận vẫn râm ran câu nói “Thật thà thường thua thiệt/ Lươn lẹo lại lên lương” nhằm ám chỉ những kẻ “mồm năm miệng mười", "đầu môi chót lưỡi” ngon ngọt với cấp trên thì dễ bề được ưu tiên thăng tiến, lên cấp, nâng lương. Nhưng cha ông ta cũng có câu “Mật ngọt chết ruồi” với hàm ý khuyên răn, cảnh tỉnh ai đó chỉ thích nghe những lời lẽ quyến rũ, giọng điệu ngọt ngào mà giả dối của người khác thì tự mình sa vào tình thế nguy hiểm lúc nào không hay.
Thực tế cho thấy, những cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ có chức quyền mà luôn sống, sinh hoạt, làm việc trong sự “bủa vây” của những lời khen hào phóng, mỹ miều, giả tạo của những người xung quanh và cấp dưới, thì theo ngày ngày, tháng tháng, họ rất dễ bị ảo tưởng về chính mình. Từ đó, những biểu hiện gia trưởng, quan liêu, độc đoán cũng sẽ dần “lớn lên” trong thái độ, tư tưởng, tính cách của họ. Đó cũng là tiền đề để hình thành, tạo ra “uy tín giả”-một “cái bẫy” có thể làm quan chức tự sụp đổ ngay dưới chân mình!
Cổ kim đông tây đã đúc kết, những người có chức sắc, vị thế xã hội mà bỏ ngoài tai những lời trung thực, khảng khái và lại ưa thích những lời tâng bốc, tung hô, nịnh nọt thì rất dễ bị ảo tưởng về quyền lực, từ đó có những hành xử thiếu minh mẫn, nhân văn, thậm chí vùi dập những người cương trực. Thế nên, Tuân Tử-một trong những triết gia cổ đại lừng danh của Trung Quốc đã tự răn mình và cũng là nhắc nhớ các bậc quân tử đời sau: “Người chê ta mà chê phải là thầy của ta, người khen ta mà khen phải là bạn ta, những kẻ vuốt ve, nịnh bợ chính là kẻ thù của ta vậy”.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất lên án thói tâng bốc, xu nịnh. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” viết tháng 10-1947, một trong những căn bệnh của một bộ phận cán bộ, đảng viên được Bác sớm chỉ ra và cảnh báo là: “Bệnh xu nịnh, a dua; ưa người ta tâng bốc, khen ngợi mình”. Bác cũng phê phán những cán bộ, đảng viên sống ba phải, không có lập trường, chính kiến rõ ràng: “Thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi. Theo gió bẻ buồm, không có khí khái”. Những người như thế không xứng đáng là người lãnh đạo, dìu dắt, giáo dục quần chúng.
Để không mắc vào “cạm bẫy” ưa xu nịnh và chữa trị được căn bệnh “thích được đề cao, ca ngợi”, một trong những việc cần làm hiện nay là mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp phải giữ gìn đức tính cương trực, tự trọng, khiêm nhường. Cương trực để không bị "mê hoặc" bởi “cái bả” ca tụng của nhiều cán bộ, nhân viên cấp dưới lúc nào cũng có thể “rót lời đường mật” vào tai mình. Tự trọng để biết phân biệt đâu là điều hay lẽ phải cần lắng nghe, coi trọng, đâu là lời khen vờ vĩnh, giả tạo cần tránh xa, loại bỏ. Khiêm nhường để không tự ảo tưởng về mình mà luôn có ý thức học tập, rèn luyện, bồi đắp những phẩm chất giá trị tích cực, nhân văn, nhằm không ngừng hoàn thiện nhân cách bản thân và sống giản dị, gần gũi với tập thể nơi công tác và với cộng đồng nơi cư trú.
Một việc không thể không nhắc lại là các cấp ủy, tổ chức đảng nói chung, cán bộ lãnh đạo nói riêng cần tiếp tục coi trọng và duy trì thường xuyên, nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình. Trong sinh hoạt tự phê bình và phê bình, mỗi người cần thể hiện rõ tinh thần trung thực, thẳng thắn, công tâm, đồng thời bày tỏ thái độ trân trọng, bảo vệ cái đúng, cái tốt; phê phán kịp thời cái xấu, cái sai; kiên quyết đấu tranh loại bỏ lề thói xu nịnh, a dua, “mũ ni che tai”, “mười lăm cũng ừ, mười tư cũng gật”, góp phần vừa giữ vững và nâng cao kỷ cương, kỷ luật của tổ chức đảng, vừa xây dựng môi trường văn hóa giao tiếp ứng xử lành mạnh trong tổ chức, cơ quan, đơn vị.
Báo QĐND

“ĐI VỀ PHÍA BÌNH YÊN” - HÀNH TRÌNH BƯỚC RA KHỎI BÓNG TỐI ĐỂ ĐẾN VÙNG SÁNG BÌNH YÊN

 Sáng 8/12, Trung tâm Phụ nữ và Phát triển thuộc Hội Liên Hiệp phụ nữ Việt Nam đã chính thức ra mắt Trung tâm trợ giúp xã hội – Ngôi nhà bình yên cung cấp dịch vụ toàn diện, miễn phí hỗ trợ cho phụ nữ và trẻ em bị bạo lực.

Phát biểu tại lễ ra mắt Trung tâm trợ giúp xã hội Ngôi nhà bình yên, bà Dương Thị Ngọc Linh – Giám đốc Trung tâm Trung tâm Phụ nữ và Phát triển cho hay mô hình Ngôi nhà bình yên được Trung tâm Phụ nữ và Phát triển vận hành từ năm 2007, khi chưa có Luật về Phòng chống mua bán người và Luật Phòng chống bạo lực gia đình, với mục đích cung cấp một cơ sở tạm lánh an toàn, miễn phí cho phụ nữ và trẻ em bị bạo lực gia đình, xâm hại tình dục và mua bán người.
Đến với Ngôi nhà bình yên, các nạn nhân được hỗ trợ toàn diện trong thời gian từ 3 – 6 tháng để giúp họ ổn định về đời sống – tinh thần, giải quyết những khó khăn và xử lý các mối đe dọa đến sự an toàn của họ. Sau khi hồi gia, Ngôi nhà bình yên tiếp tục hỗ trợ về vấn đề pháp lý, hướng nghiệp và tìm việc làm, giúp họ có sinh kế bền vững.
Sau 17 năm hoạt động, Ngôi nhà bình yên đã hỗ trợ trực tiếp cho gần 1.700 phụ nữ và trẻ em bị bạo lực giới và ngày càng chứng minh tính thiết thực, hiệu quả.
Đáng chú ý, ngày 15/5/2023, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Thành phố Hà Nội đã cấp Giấy phép hoạt động cho Trung tâm Trợ giúp xã hội - Ngôi nhà Bình yên thuộc Trung tâm Phụ nữ và Phát triển.
“Việc chuyển mình từ một cơ sở tạm lánh thành một trung tâm trợ giúp xã hội sẽ tạo điều kiện thuận lợi, và cơ sở pháp lý giúp Ngôi nhà bình yên tăng cường kết nối, phối hợp trong việc chuyển tuyến, kết nối với các bộ ngành chức năng, đơn vị cung cấp dịch vụ như công an, y tế, tư pháp, luật sư, tâm lý, trợ giúp xã hội, đào tạo nghề và các tổ chức và chuyên gia liên quan khác”, bà Dương Thị Ngọc Linh nhấn mạnh.
Cũng tại sự kiện ra mắt Trung tâm trợ giúp xã hội – Ngôi nhà bình yên, Trung tâm phụ nữ phát triển và UN Women đã giới thiệu cuốn sách “Đi về phía bình yên - câu chuyện của chị em bị bạo lực, xâm hại và mua bán người” (sách do Trung tâm Phụ nữ và Phát triển chủ biên, Nxb Phụ nữ Việt Nam phát hành năm 2023). Đây là cuốn sách thứ 2 tiếp sau cuốn sách “Ngôi nhà Bình yên: tự truyện của nạn nhân bị mua bán trở về” (xuất bản năm 2013).
“Đi về phía bình yên – câu chuyện của chị em bị bạo lực, xâm hại và mua bán người” mang tới bạn đọc 12 câu chuyện của 12 người phụ nữ, cũng là 12 hành trình bước khỏi bóng tối khổ đau để đến vùng sáng bình yên và an lành hơn.
Họ là 12 trong số 1.665 mảnh đời đã đến với Ngôi nhà bình yên trong suốt 16 năm qua. Họ được chọn để viết, không phải vì trường hợp của họ đặc biệt (vì thực tế 1.665 câu chuyện đều đặc biệt theo cách khác nhau). Mà bởi chính họ chọn nói ra câu chuyện đời mình, với mong muốn lan tỏa niềm tin và hy vọng cho những người phụ nữ khác: Rằng cuộc đời vẫn còn nhiều điều tốt đẹp. Và chúng ta luôn có quyền được sống thật hạnh phúc. Chúng ta có thể vấp ngã, có thể sai lầm, có thể đã từng là nạn nhân của những điều kinh khủng nhất như bạo lực, xâm hại, mua bán người… nhưng chúng ta vẫn có thể “sống sót”, sống mạnh mẽ và tốt đẹp hơn, với sự nỗ lực của chính chúng ta, cùng sự hỗ trợ của cộng đồng và những chính sách hỗ trợ từ nhà nước hoặc từ nguồn tài trợ của các tổ chức quốc tế, tổ chức thiện nguyện.
12 câu chuyện trong cuốn “Đi về phía bình yên – câu chuyện của chị em bị bạo lực, xâm hại và mua bán người” đều là chuyện có thật, đã được lược bỏ vài chi tiết quá tiêu cực nhưng vẫn đảm bảo tính chân thực. Tên người và địa danh đã được thay đổi để đảm bảo an toàn.
Chia sẻ về cuốn sách, chị Trương Ngọc Lan đến từ Nxb Phụ nữ Việt Nam đã không khỏi xúc động khi nhắc đến công việc tổ chức bản thảo trong thời gian làm sách: “Khi lắng nghe những câu chuyện của các nạn nhân tôi thật sự ám ảnh đến mức không thể làm được gì trong suốt cả một tuần. Theo sát từng cuộc phỏng vấn, tiếp cận với sự thật, mới cảm nhận và hình dung được họ đã khốn khổ như thế nào trong hoàn cảnh ấy. Với tôi, đây là một bản thảo rất đặc biệt, và biên tập viên đã hết sức cố gắng để chuyển tải sự thật mà không quá bi lụy, làm mọi người sợ hãi và đặc biệt là không muốn làm tổn hại đến nhân vật”.
“Qua cuốn sách, chúng tôi mong rằng, cộng đồng xã hội sẽ nâng cao nhận thức về các vấn đề bạo lực giới, xâm hại tình dục và mua bán người. Các cơ quan chức năng có thể xây dựng các chính sách đồng bộ để hỗ trợ tốt hơn cho các nạn nhân thuộc nhóm đối tượng nêu trên. Bạn đọc có thể tìm được những bài học giá trị từ mỗi câu chuyện. Và đặc biệt, trong tương lai, chúng ta có quyền hi vọng về một xã hội văn minh, dân trí cao, không còn những cảnh đời bất hạnh do thiếu tri thức hay bị lệ thuộc”, Giám đốc Trung tâm Trung tâm Phụ nữ và Phát triển bày tỏ./.
Báo Người Hà Nội

Các nguồn tin bị lợi dụng để tuyên truyền các quan điểm sai trái chống Đảng, chống chế độ Việt Nam trên mạng Internet.

Qua thống kê, khảo sát, chúng tôi thấy có 4 loại nguồn tin được sử đụng, hay bị lợi dụng để tuyên truyền những quan điểm thù địch, chống đối Việt Nam:

- Nguồn tin do những kẻ phản động, chống đối tự tổ chức khai thác.

- Nguồn tin từ báo chí quốc tế.

Đối với hai loại nguồn thông tin trên, chúng ta không thể chi phối, do hoàn toàn không nắm quyền chủ động và không thể tác động trực tiếp bằng luật pháp hay quyền lực khác Vì vậy, khả năng chống lại nguồn thông tin này là bị động. Tuy nhiên, vẫn có thể hạn chế để đi đến khắc phục bằng con đường quyết định là tăng cường thông tin từ phía chúng ta để thoả mãn thông tin cho nhân dân trong nước và Kiều bào ở nước ngoài.

- Nguồn tin được cung cấp có chủ đích từ trong nước. Đây là nguồn thông tin do những nhân vật bất mãn, chống đối chủ động tung ra ngoài để gây áp lực với các cơ quan quyền lực trong nước hoặc những người được các thế lực từ ngoài biên giới "đặt hàng". Rất tiếc là một số thông tin, tài liệu mật của nội bộ ta cũng bị đưa lên mạng để cho các thế lực chống đối khai thác.

- Nguồn tin khai thác ngay trên báo chí của ta. Trong số những thông tin trên báo chí ta mà bọn chống đối lợi dụng khai thác, có những thông tin chính đáng bị chúng bóp méo. Ví dụ tin các đồng chí lãnh dạo Đảng, Nhà nước đi thăm nước ngoài, tin về đường lối chính sách mới, tin về các sự kiện thời sự, chính trị, xã hội trong nước v. v… Đây là việc ta không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, "giá trị tiêu cực của việc khai thác nguồn thông tin này cũng không cao, do khó có thể tạo được sự tin tưởng dẫn đến chấp nhận dễ dàng của nhân dân. Nguy hiểm là những thông tin có tính tiêu cực mà báo chí ta do vô tình hay không hiểu hết hậu quả của nó mà đưa ra. Ví dụ, thông tin báo chí ta đưa về việc nhân dân một số vùng dân tộc thiểu số bỏ đạo Tin Lành v. v…

Đối với hai loại nguồn tin trên, chúng ta có khả năng chủ động giảm thiểu để dẫn tới khắc phục một cách căn bản bằng các giải pháp như: giáo dục và thực hiện nghiêm luật và các quy định về giữ bí mật, hướng dẫn nghiệp vụ cho đội ngũ nhà báo, đặc biệt là những người có trách nhiệm chủ trì ở các toà soạn./.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN - CĂN BỆNH NGUY HIỂM CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN!

         Giải quyết mối quan hệ giữa lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân chính là giải quyết mâu thuẩn giữa cái chung và cái riêng, tuy nhiên đây không phải là mâu thuẫn đối kháng. Do đó, yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên cần có sự điều chỉnh mối quan hệ của mình để giải quyết hài hòa giữa hai lợi ích trên để không sa vào chủ nghĩa cá nhân.
Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc giải quyết hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể. Người nói: “Mọi người nhận rõ lợi ích chung của dân tộc phát triển và củng cố thì lợi ích riêng của cá nhân mới có thể phát triển và củng cố. Cho nên lợi ích cá nhân ắt phải phục tùng lợi ích của dân tộc, chứ quyết không thể đặt lợi ích cá nhân trên lợi ích dân tộc. Đó là một tiến bộ”.
Thực tế cho thấy chủ nghĩa cá nhân, lối sống ích kỷ, thực dụng là nguồn gốc của những “căn bệnh”: quan liêu, tham nhũng, lãng phí, cục bộ, địa phương, nhũng nhiễu,... làm suy yếu tổ chức đảng, tha hóa đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đối với những cán bộ, đảng viên bị nhiễm “căn bệnh” này, luôn lấy “cái tôi” của mình để xử lý các mối quan hệ và giải quyết công việc; coi thường pháp luật, kỷ cương, đạo đức cách mạng bị suy thoái, xuống cấp.
Những người mang chủ nghĩa cá nhân, lối sống ích kỷ, thực dụng luôn lợi dụng những sơ hở trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, chính sách để tiến thân, phục vụ cho tham vọng chính trị, lợi ích của mình; công kích, chống phá, cấu kết, bè phái gây mất đoàn kết nội bộ, làm suy yếu, hạ uy tín của Đảng. Khi không thực hiện được ý đồ cá nhân của mình, không thăng tiến được, không kiếm nhiều lợi lộc hoặc bị kỷ luật, thì sinh ra bất mãn. Thậm chí, các phần tử này dễ trở thành lực lượng đối lập chống lại Đảng và chế độ, khi có sự móc nối, lôi kéo của các thế lực thù địch.
Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, lối sống ích kỷ, thực dụng là một cuộc đấu tranh đầy khó khăn, phức tạp, vì nó là “con vi rút”, là kẻ thù vô hình, nằm trong chính bản thân mỗi con người chúng ta. Những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ mà Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng chỉ ra, cũng đã có những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, lối sống ích kỷ, thực dụng.
Vì thế, chống chủ nghĩa cá nhân, lối sống ích kỷ, thực dụng trong cán bộ, đảng viên trong tình hình hiện nay, nhất thiết phải gắn chặt với đấu tranh làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình”, làm thất bại, phá sản mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng chủ nghĩa cá nhân, lối sống ích kỷ, thực dụng trong cán bộ, đảng viên để mua chuộc, lôi kéo, kích động, chia rẽ Đảng với dân và sự đồng thuận xã hội; lợi dụng việc chúng ta đấu tranh để xuyên tạc, chống phá Đảng và chế độ.
Trong cuộc đấu tranh này, yêu cầu mọi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ chủ chốt trong các cơ quan lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, các tổ chức quần chúng phải tự phê bình và phê bình trên tinh thần đồng chí trong sáng, tôn trọng, hiểu biết lẫn nhau; nghiêm túc, khoan dung, thấu tình đạt lý; tự giác, tự nguyện, trung thực, khách quan, xuất phát từ cái tâm trong sáng; kiên quyết chống tư tưởng cục bộ, kèn cựa, bản vị hẹp hòi, địa phương chủ nghĩa làm tổn hại đến tình cảm đồng chí, làm suy yếu sức mạnh đoàn kết, thống nhất trong Đảng, v.v.
Bên cạnh đó, mọi cán bộ, đảng viên cần phải thực hiện nghiêm Quy định 08-QĐi/TW ngày 25-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ cấp cao. Vì, “Một tấm gương sống còn giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”.
Cùng với đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân trong chính mỗi con người, việc nêu gương trước quần chúng phải là việc làm hàng ngày của mỗi cán bộ, đảng viên. Đó là việc làm cần thiết và thực chất, nhằm làm cho mỗi cán bộ, đảng viên hoàn thiện phẩm chất, năng lực, phong cách của mình; làm cho Đảng ta mạnh lên cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ, làm tốt trọng trách của mình trước dân tộc và nhân dân./.


Yêu nước ST.

KHẲNG ĐỊNH VỊ THẾ VÀ UY TÍN NGÀY CÀNG CAO CỦA VIỆT NAM

 Điều này được thể hiện trong việc Việt Nam lần thứ hai được tín nhiệm bầu vào vị trí Phó Chủ tịch liên Chính phủ Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể (Công ước 2003) của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO), đại diện cho khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Việc này diễn ra hôm 8/12 (giờ địa phương), tại TP Kasane, Cộng hòa Boswana, trong khuôn khổ Kỳ họp lần thứ 18 Ủy ban liên Chính phủ Công ước 2003. Nhiệm kỳ đầu tiên của Việt Nam từ năm 2006-2010.
Việc Việt Nam thêm một lần nữa được tín nhiệm bầu vào vị trí Phó Chủ tịch tại một trong những cơ quan chuyên môn then chốt của UNESCO đã khẳng định vị thế và uy tín ngày càng cao của Việt Nam trên trường quốc tế, cho thấy sự ủng hộ, tin tưởng của cộng đồng quốc tế đối với khả năng đóng góp và năng lực điều hành của chúng ta tại UNESCO, cũng như ghi nhận đóng góp tích cực của Việt Nam trong lĩnh vực hợp tác văn hóa nói chung và di sản văn hóa phi vật thể nói riêng, góp phần vào thúc đẩy vai trò của văn hóa, di sản cho sự phát triển bền vững, bao trùm và tự cường ở tầm quốc gia, khu vực và toàn cầu.
Đây cũng chính là một minh chứng nữa về việc triển khai thành công đường lối đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa và hội nhập quốc tế toàn diện của Việt Nam như tinh thần Nghị quyết lần thứ XIII của Đảng, Chỉ thị 25-CT/TW của Ban Bí thư về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030.
Với tư cách là Phó Chủ tịch Ủy ban liên Chính phủ Công ước 2003, Việt Nam sẽ có điều kiện thuận lợi hơn trong việc hoàn thiện, triển khai các mục tiêu và ưu tiên của Công ước 2003, nâng tầm quan trọng của di sản văn hóa phi vật thể như động lực cho phát triển bền vững, đa dạng văn hóa, sáng tạo và đối thoại giữa các nền văn hóa, gắn kết xã hội, tăng cường sự tham gia của cộng đồng, phụ nữ và giới trẻ.
Trong năm 2023, Việt Nam đã ghi nhận nhiều thành công trong hợp tác với Tổ chức UNESCO, tiêu biểu như Việt Nam được tín nhiệm bầu vào vị trí Phó Chủ tịch Đại hội đồng UNESCO và vào Ủy ban Di sản Thế giới; Vịnh Hạ Long - Quần đảo Cát Bà được ghi danh là di sản thiên nhiên thế giới; TP Đà Lạt, Hội An tham gia Mạng lưới các thành phố sáng tạo; Danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác được UNESCO ra “Nghị quyết vinh danh”, ngày 21/11/2023, cùng kỷ niệm 300 năm ngày sinh…
Hương Sen Việt

PHÁT TRIỂN QUAN HỆ VIỆT NAM - TRUNG QUỐC ỔN ĐỊNH VÀ BỀN VỮNG

 Nhận lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Ðảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng và Phu nhân, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Võ Văn Thưởng và Phu nhân, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Ðảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Tập Cận Bình và Phu nhân thăm cấp Nhà nước đến Việt Nam từ ngày 12 đến 13/12/2023.

Ðây là chuyến thăm cấp Nhà nước thứ ba của đồng chí Tập Cận Bình đến Việt Nam trên cương vị Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc và được thực hiện vào thời điểm một năm sau chuyến thăm có ý nghĩa lịch sử của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tới Trung Quốc năm 2022. Chuyến thăm là hoạt động đối ngoại có ý nghĩa hết sức quan trọng và lâu dài đối với quan hệ hai Ðảng, hai nước.
Chuyến thăm diễn ra trong bối cảnh trên thế giới xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển được thúc đẩy, tuy nhiên, tình hình quốc tế có nhiều biến động nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Khó khăn, thách thức nhiều hơn, lớn hơn so với thời cơ và thuận lợi. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gay gắt, quyết liệt và toàn diện. Những điểm nóng xung đột tiếp diễn phức tạp. Kinh tế thế giới phục hồi chậm, bấp bênh và tiềm ẩn rủi ro. Thách thức an ninh phi truyền thống phức tạp hơn. Khu vực châu Á-Thái Bình Dương và Ấn Ðộ Dương, trong đó có Ðông Nam Á, duy trì vị thế là một trong những trung tâm kinh tế, chính trị của thế giới và cũng là một trọng điểm cạnh tranh, tập hợp lực lượng của các nước lớn.
Từ sau Ðại hội XX của Ðảng Cộng sản Trung Quốc (tháng 10/2022), Trung Quốc cơ bản giữ ổn định chính trị và vai trò của Ðảng Cộng sản Trung Quốc trong xã hội; củng cố vị trí “hạt nhân lãnh đạo” của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Kinh tế Trung Quốc phục hồi ở mức tích cực; khoa học-công nghệ đạt thành tựu mới; tiềm lực, sức mạnh quốc phòng, an ninh được duy trì và phát triển.
Về đối ngoại, Trung Quốc triển khai nhiều hình thức đa dạng, phát huy cả đối ngoại Ðảng và ngoại giao Nhà nước, đưa ra nhiều sáng kiến, nâng cao ảnh hưởng trong nhiều vấn đề và tại nhiều diễn đàn quốc tế lớn. Các sáng kiến của Trung Quốc thu hút sự ủng hộ, tham gia của nhiều nước, qua đó Trung Quốc tăng cường ảnh hưởng đối với việc định hình trật tự khu vực và quốc tế.
Từ đầu nhiệm kỳ Ðại hội Ðảng lần thứ XIII đến nay, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trong nhiều lĩnh vực, trong đó có phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng-an ninh, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng Ðảng…
Quan hệ giữa Việt Nam với các nước láng giềng, các nước Ðông Nam Á được củng cố, phát triển cả trong khuôn khổ song phương và đa phương. Quan hệ giữa Việt Nam với các nước lớn quan trọng được tăng cường. Việt Nam tiếp tục đóng góp tích cực, có trách nhiệm và có uy tín ngày càng cao tại ASEAN, Liên hợp quốc và nhiều diễn đàn, tổ chức quốc tế khác. Các hoạt động đối ngoại được triển khai đồng bộ, toàn diện trên cả ba trụ cột là đối ngoại Ðảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân, trong đó có ngoại giao nghị viện, đối ngoại quốc phòng-an ninh.
Quan hệ Việt Nam-Trung Quốc duy trì xu thế phát triển tích cực. Sau 15 năm triển khai khuôn khổ quan hệ Ðối tác hợp tác chiến lược toàn diện, quan hệ Việt Nam-Trung Quốc về tổng thể phát triển tích cực trong các lĩnh vực, với nhiều điểm sáng, nhất là sau chuyến thăm lịch sử tới Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Hiểu biết và tin cậy chính trị giữa hai bên được nâng cao, góp phần củng cố quan hệ giữa hai Ðảng, hai nước, trước hết thông qua các chuyến thăm, trao đổi cấp cao, đặc biệt là giữa hai đồng chí Tổng Bí thư, cũng như giữa các cấp từ Trung ương tới địa phương và giao lưu nhân dân.
Hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư tiếp tục được mở rộng. Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất, thị trường nhập khẩu lớn thứ hai của Việt Nam và Việt Nam là đối tác thương mại lớn thứ tư trên thế giới và lớn nhất trong ASEAN của Trung Quốc. Trung Quốc đứng thứ sáu trong 144 quốc gia, vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam. Hợp tác quốc phòng-an ninh phát triển với nhiều hình thức mới. Hai nước nhất trí xây dựng hợp tác quốc phòng-an ninh thành một trong những trụ cột của quan hệ song phương. Hợp tác hai nước tại các diễn đàn quốc tế được mở rộng; hai bên ủng hộ một số sáng kiến của nhau.
Chuyến thăm cấp Nhà nước đến Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Phu nhân có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quan hệ Việt Nam-Trung Quốc; thể hiện sự coi trọng và ưu tiên hàng đầu của cả hai nước đối với việc củng cố và nâng tầm hơn nữa quan hệ Ðối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc.
Dành sự đón tiếp trọng thị và thân tình với Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Phu nhân, Việt Nam khẳng định đường lối đối ngoại của Ðại hội XIII của Ðảng là độc lập, tự chủ; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại, trong đó ưu tiên hàng đầu quan hệ với các nước láng giềng; nhất quán coi trọng phát triển quan hệ ổn định, lâu dài với Trung Quốc trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng, cùng có lợi; phát huy xu thế tích cực, điểm tương đồng, gắn kết giữa hai nước láng giềng, cũng như quan hệ hữu nghị truyền thống giữa hai Ðảng, hai nước.
Chúc chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Phu nhân đến Việt Nam thành công tốt đẹp, đưa quan hệ láng giềng hữu nghị truyền thống và Ðối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc bước vào giai đoạn phát triển mới, tiếp tục vững chắc, ổn định và bền vững, vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới./.
Theo Báo Nhân dân

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM!

         Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đã chứng minh, đồng bào miền núi đã sát cánh cùng các dân tộc khác trên đất nước Việt Nam chiến đấu chống kẻ thù chung, đưa cách mạng Việt Nam và kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn. Ngày nay trong công cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đồng bào các dân tộc thiểu số càng cố gắng góp phần xứng đáng của mình và sự nghiệp chung của toàn dân tộc. 
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành tình cảm và sự quan tâm chăm sóc của mình đối với đồng bào các dân tộc thiểu số Việt Nam. Ba tháng sau ngày nước nhà độc lập, tại Hội nghị đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam, mùng 3 tháng 12 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến sự thành công của cách mạng Việt Nam, đó là nhờ sức đoàn kết tranh đấu chung của tất cả các dân tộc, nước Việt Nam được độc lập. Các dân tộc thiểu số được bình đẳng cùng dân tộc Việt Nam. Tất cả đều như anh chị em trong một nhà, không còn có sự phân chia nòi giống, tiếng nói gì nữa. Trước kia để giành độc lập các dân tộc phải đoàn kết, bây giờ để giữ lấy nền độc lập càng cần phải đoàn kết hơn nữa. Người cũng nêu lên những nhiệm vụ mà đồng bào miền núi cần phải thực hiện. Đó là: 
“1- Đoàn kết hơn nữa để chống xâm lăng. 
2 - Hết sức tăng gia sinh sản. 
3- Ra sức cứu giúp đồng bào dưới xuôi về nạn đói và ủng hộ Chính phủ để kháng chiến và cứu đói”... 
Bác cũng chỉ ra những quyền lợi mà đồng bào các dân tộc thiểu số sẽ được hưởng. Trước hết là: 
“1 - Dân tộc bình đẳng: Chính phủ sẽ bãi bỏ hết những điều hủ tệ cũ, bao nhiêu bất bình trước sẽ sửa chữa đi. 
2- Chính phủ sẽ gắng sức giúp cho các dân tộc thiểu số về mọi mặt: 
a) Về kinh tế, sẽ mở mang nông nghiệp cho các dân tộc được hưởng. 
b) Về văn hoá, Chính phủ sẽ chú ý trình độ học thức cho dân tộc”. 
Bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc là vấn đề mà Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm. Có đoàn kết và bình đẳng giữa các dân tộc thì chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội của miền núi mới phát triển. Đời sống của nhân dân miền núi được nâng lên thì mới xoá bỏ dần những khoảng cách giữa các vùng, miền, miền núi mới có thể từng bước tiến kịp miền xuôi. Ngày 19 tháng 4 năm 1946, trong thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại Plây-ku, Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò của đoàn kết các dân tộc, Người khẳng định: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau”. Đồng thời Người khẳng định trách nhiệm của các dân tộc trong việc giữ gìn sự toàn vẹn, thống nhất toàn lãnh thổ: “Giang sơn và Chính phủ là giang sơn và Chính phủ chung của chúng ta. Vậy nên tất cả các dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non ta, để ủng hộ Chính phủ ta”. 
Miền núi nước ta tài nguyên rất phong phú, có nhiều khả năng để mở mang các ngành nông nghiệp và công nghiệp. Những điều đó cho thấy rằng miền núi có một vị trí cực kỳ quan trọng về kinh tế, chính trị và quốc phòng của cả nước. Đảng và Chính phủ ta đã có chính sách rất đúng đắn đối với miền núi, trong đó có hai điều quan trọng nhất là: Đoàn kết dân tộc và nâng cao đời sống của đồng bào. Đó cũng là những điều mà khi gặp gỡ và nói chuyện với đại biểu người dân tộc hay về thăm cán bộ và nhân dân các tỉnh miền núi Bác thường nhắc nhở và căn dặn. 
Tình cảm và sự quan tâm của Bác dành cho đồng bào miền núi càng được thể hiện cụ thể qua những lần Bác về thăm các tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang, Cao Bằng, Hà Giang, Lai Cai, Quảng Ninh, v.v... Bác gặp gỡ đại biểu các dân tộc thiểu số về dự lễ ở Thủ đô; Bác tiếp đồng bào các dân tộc thiểu số miền Nam tập kết, các anh hùng lực lượng vũ trang người dân tộc ; Bác chụp ảnh lưu niệm với phụ nữ và thiếu nhi các dân tộc; Bác nghe giới thiệu về đời sống sinh hoạt của đồng bào các dân tộc thiểu số trong cuộc kháng chiến chống Pháp tại triển lãm “Hình ảnh đoàn kết đấu tranh của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Nam” v.v.. 
Tình cảm và sự quan tâm, chăm sóc của Bác với đồng bào miền núi còn được thể hiện qua những bài viết, bài nói chuyện, những bức thư, như: Bài nói chuyện với Đoàn đại biểu các dân tộc thiểu số tỉnh Tuyên Quang; Lời phát biểu tại Hội nghị đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam; Thư gửi học sinh các trường Sư phạm miền núi Trung ương nhân dịp khai giảng; Bài nói chuyện tại Hội nghị Tuyên giáo miền núi; Bài nói chuyện tại Hội nghị cán bộ phụ nữ các dân tộc miền núi toàn miền Bắc; Thư gửi Đại hội hợp tác xã và đội sản xuất nông nghiệp tiên tiến miền núi và trung du; Bài nói tại Hội nghị cán bộ miền núi; Chính sách dân tộc, v.v. Đó là những lời căn dặn vô cùng qúi giá của Bác, vị Chủ tịch nước dành cho đồng bào các dân tộc thiểu số Việt Nam. Trong các bài nói, bài viết đó, Bác chỉ ra những mặt còn tồn tại, những khuyết điểm cần phải khắc phục trong công tác lãnh đạo, công tác đoàn thể, tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm, trong việc xây dựng đời sống văn hoá mới. Những thành tích mà đồng bào miền núi đã đạt được trong sản xuất, chăn nuôi, trồng trọt, trong xây dựng hợp tác xã và phát triển văn hoá, nâng cao dân trí… đã được Bác khen ngợi và động viên kịp thời. Bác khen miền núi đã tiến bộ khá và có những kiểu mẫu tốt, như: "Hải Ninh vừa chú trọng trồng lúa, vừa trồng hoa màu. Các huyện Quỳ Châu và Nghĩa Đàn (Nghệ An) làm nghề rừng khá. Thái Nguyên đã có 30 cơ sở công nghiệp địa phương và 67 hợp tác xã thủ công, phần nhiều để phục vụ nông nghiệp...
 Ở Đại hội anh hùng và chiến sĩ thi đua toàn quốc lầ thức 2 năm 1958, Bác nói: “Ở Đại hội lần thứ nhất có 7 anh hùng, trong đó có 4 anh hùng quân đội… Đại hội lần này, chúng ta có 26 anh hùng Lao động và 69 Anh hùng Quân đội… có anh hùng và chiến sĩ lao động chân tay và trí óc, đủ các ngành và các dân tộc anh em…, có 5 anh hùng là phụ nữ… có 6 anh hùng là đồng bào miền Nam tập kết…”. Bác khen tỉnh Hoà Bình, tỉnh miền núi đầu tiên xoá xong nạn mù chữ và đồng bào xã Bản Phố, Lào Cai, xã dân tộc Mèo đầu tiên xoá xong nạn mù chữ. 
Những lời nói của Bác lúc sinh thời về bình đẳng dân tộc, về sự giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc để đồng bào các dân tộc thiểu số có đời sống vật chất và tinh thần ngày càng cao hơn có giá trị lịch sử và thời đại, đã và đang được Đảng Nhà nước, Quân đội ta tiếp tục phát huy. 
Trong những năm qua, cụ thể hóa chủ trương của Đảng, là một địa phương miền núi, nằm ở khu vực Nam Tây Nguyên, có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh; để xây dựng “thế trận lòng dân vững chắc”, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội của địa phương, tỉnh Lâm Đồng đã có những chủ trương, biện pháp thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc gắn với địa bàn tỉnh, như thành lập Ban chỉ đạo 502 về chỉ đạo thực hiện công tác dân vận trên địa bàn tỉnh, các chương trình: “Chung tay xây dựng nông thôn mới”, “Cả nước chung tay vì người nghèo, không để ai bị bỏ lại phía sau”, “Quân đội chung tay xây dựng nôi thôn mới”, thành lập quỹ “Xoá đói, giảm nghèo”, xây dựng thêm nhiều trường học, trong đó có các trường dân tộc nội trú, chế độ cử tuyển ưu tiên dành cho học sinh các dân tộc thiểu số vào các trường đại học, đào tạo những cán bộ tương lai cho tỉnh nhà… Những mô hình, chủ trương, cách làm của Tỉnh ủy, UBND tỉnh và các ban, ngành, địa phương đã và đang đem lại hiệu quả thiết thực, củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng niềm tin sắc son, tuyệt đối của Nhân dân đối với cấp ủy, chính quyền địa phương. Đó chính là thực hiện mong muốn của Bác Hồ “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của Nhân dân”, bởi vì “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Lai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các DTTS khác đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau… Chúng ta phải thương yêu nhau, kính trọng nhau, phải giúp nhau để mưu cầu hạnh phúc. Sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt” và đó chính là lời khẳng định đanh thép “Trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, 54 dân tộc anh em như “cây một cội, như con một nhà”, luôn tương thân, tương ái giúp nhau cùng phát triển, xây dựng một quốc gia vững mạnh”./.


Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHĂM LO BỒI DƯỠNG THẾ HỆ CÁCH MẠNG CHO ĐỜI SAU!

     Trong toàn bộ cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Bác Hồ luôn dành sự quan tâm, chăm lo đến thế hệ trẻ, đặc biệt là công tác giáo dục đào tạo, bồi dưỡng họ thành lớp người thừa kế, tiếp tục sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, của nhân dân. Trong bản “Di chúc”, Người viết: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là việc làm rất quan trọng và cần thiết”, “…đoàn viên, thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn có chí tiến thủ, Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng”, vừa “chuyên”!

Sớm nhận rõ vị trí, vai trò của thế hệ trẻ đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, Bác đã coi việc thức tỉnh thanh niên, kêu gọi họ đứng lên cùng đồng bào cả nước đánh đuổi quân xâm lược bằng việc đẩy mạnh công tác giáo dục đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ. Bởi vì, theo Bác, thế hệ trẻ không những là lớp người kế tục, tiếp bước các thế hệ già, mà còn là tương lai, tiền đồ tươi sáng của dân tộc. Với ưu thế là lớp người trẻ tuổi, có sức khỏe, nhiệt tình, hăng hái, ham hiểu biết, ham tiếp thu cái mới, giầu sức sáng tạo; thế hệ trẻ có đủ các điều kiện để “dời non, lấp bể”, làm nên sự nghiệp cách mạng. Bác đã ví thanh thiếu niên là “mùa xuân của tuổi trẻ”, “mùa xuân của xã hội”, “là tương lai, tiền đồ của nước nhà”. Vì thế, sự phát triển lâu dài của đất nước rất cần có sự giúp đỡ của thanh niên; phụ thuộc một phần lớn vào thanh niên và công tác thanh niên của Đảng, Nhà nước ta. Không ít lần, Bác khẳng định: Thanh thiếu niên là người làm chủ tương lai của nước nhà, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh thiếu niên và sự tiến bộ của họ. Cũng vì thế, Bác luôn căn dặn các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và khuyên bảo thanh thiếu niên: Các cháu muốn thực sự làm chủ tương lai nước nhà thì ngay hiện tại “phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải ra làm việc để chuẩn bị cho cái tương lai đó”.

Vì vậy, ngay sau khi nước nhà giành được độc lập, tháng 9 - 1945, Bác đã viết thư gửi học sinh, sinh viên toàn quốc. Trong thư có đoạn viết: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”.

Bác khuyên nhủ thanh thiếu niên phải ra sức học tập, rèn luyện để tự mình có đủ sức mạnh để tham gia kháng chiến, kiến quốc, gìn giữ hòa bình, xây dựng đất nước mạnh giầu, phồn vinh. Đối với thiếu niên, Bác dạy: Tuổi nhỏ làm việc nhỏ; tùy theo sức của mình; để tham gia kháng chiến; và gìn giữ hòa bình. Đối với thanh niên: “…b) các việc đáng làm thì khó mấy cũng cố chịu quyết tâm làm cho kỳ được. c) ham làm những việc ích quốc lợi dân, không ham địa vị và công danh phú quý. d) đem lòng chí công vô tư mà đối với người, đối với việc. e) quyết tâm làm gương về mọi mặt: siêng năng, tiết kiệm, trong sạch. f) chớ kiêu ngạo, tự mãn, nói ít làm nhiều, thân ái, đoàn kết… ”. Bác rất tin tưởng thanh niên, tin vào ý chí, nghị lực và quyết tâm đánh thắng “giặc ngoại xâm”, “giặc đói”, “giặc dốt”; làm rạng danh dân tộc, giống nòi Việt Nam. Với tuổi trẻ, óc sáng tạo và sự dồi dào sức lực, thanh niên có thể vượt qua mọi khó khăn thử thách, hoàn thành trách nhiệm vẻ vang mà cả dân tộc giao phó. Bác viết: “Không có việc gì khó; chỉ sợ lòng không bền; đào núi và lấp biển; quyết chí ắt làm nên”.

Để làm tốt công tác giáo dục đào tạo, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau, Bác đề cao vai trò, trách nhiệm, sự nêu gương, mẫu mực, mẫn cán của đội ngũ cán bộ và các thế hệ cha, anh, những người đi trước. Theo Bác, thế hệ đi sau phải tiến bộ hơn thế hệ đi trước mới tốt, nếu thế hệ đi sau không bằng thế hệ đi trước, như thế là thụt lùi, là đáng phê bình. Và đó cũng là khuyết điểm của người lớn tuổi, thế hệ cha anh. Vì vậy, dù bận trăm công ngàn việc, Bác đều dành thời gian quan tâm đến các cơ sở giáo dục và đội ngũ cán bộ, nhân viên làm công tác giáo dục đào tạo; coi đó là một trong những nhiệm vụ quan trọng, chiếm vị trí hàng đầu của việc phát huy nhân tố con người. Theo Bác, chống “giặc dốt”, “giặc đói” cũng cấp bách, hệ trọng như chống giặc ngoại xâm. Trong suy nghĩ và việc làm của Bác, vấn đề nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài đều là những công việc cần thiết, nên làm vì nó phục vụ cho sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc; vì “cả hai việc đó đều cần phải có nhân tài”. Nếu không làm như vậy thì phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quân sự, quốc phòng… sẽ không có người đảm đương, đứng ra gánh vác. Vậy là, từ khi thành lập “Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội”, viết tác phẩm “Đường Kách mệnh” (1927) cho tới khi viết bản “Di chúc” thiêng liêng để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta (1969); trọn vẹn cuộc đời, Bác luôn quan tâm đến sự nghiệp giáo dục đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ - người thừa kế, tiếp tục sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, của nhân dân. Vì lẽ đó, Bác luôn yêu cầu cán bộ của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể quần chúng phải thực sự quan tâm, chăm lo đến thanh thiếu niên; dành mọi ưu tiên và những gì là tốt đẹp nhất, có thể làm được để chăm lo, giáo dục, bồi dưỡng các thế hệ thanh thiếu niên, coi đó là “cái vốn quý nhất” của cách mạng.

Với chủ trương giáo dục đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ để họ có đủ “đức” và “tài” đứng ra gánh vác nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Bác yêu cầu công tác giáo dục, bồi dưỡng thế hệ trẻ phải toàn diện, đầy đủ các mặt: Đạo đức, lối sống, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hóa, kỹ thuật, công nghệ… Trong đó, Bác đặc biệt chú ý tới công tác giáo dục, bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho thanh niên; coi đó là cái “gốc rất quan trọng”. Đồng thời, coi trọng công tác giáo dục, bồi dưỡng mục tiêu, lý tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ; giúp thế hệ trẻ thực hiện ước mơ, hoài bão của mình, đi đúng con đường cách mạng mà Đảng đã vạch ra. Vì thế, Bác đã nêu câu hỏi: “Mục tiêu, lý tưởng phấn đấu của thanh niên là gì?”. Người tự trả lời: Học tập, rèn luyên đạo đức cách mạng, nhận thức rõ ràng mục tiêu, lý tưởng phấn đấu để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, để làm cho dân giàu, nước mạnh. Theo Bác, có đạo đức cách mạng, mục tiêu, lý tưởng phấn đấu là tốt nhưng như thế là chưa đủ để thanh niên trở thành chủ nhân thật sự của một đất nước tự do, độc lập. Vì thế, họ cần được giáo dục, bồi dưỡng kỹ càng về mọi mặt để nâng cao trình độ chính trị, học vấn, khoa học, kỹ thuật, công nghệ, quân sự, ngoại ngữ… cũng như cách đối nhân, xử thế của người cách mạng. Đó không chỉ là điều kiện để biến khả năng hoạt động của họ thành hiện thực trong đời sống mà còn là hành trang cần thiết để họ vững tin bước vào đời, lập thân lập nghiệp.

Về biện pháp giáo dục, bồi dưỡng thế hệ trẻ, theo Bác, vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật. Do vậy, trong giáo dục đào tạo, bồi dưỡng thanh thiếu niên, phải “khéo” kết hợp giữa học tập với vui chơi, giải trí; dạy từ dễ đến khó. Một trong những biện pháp quan trọng, có ý nghĩa thời sự đối với công tác giáo dục, bồi dưỡng thế hệ trẻ hiện nay là sự nêu gương của các thế hệ đi trước, của thầy giáo, cô giáo. Muốn vậy, phải ra sức xây dựng đội ngũ thầy giáo tốt, trường lớp tốt, làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên gương mẫu, mô phạm để thanh thiếu niên nhìn vào đó học tập, làm theo. Thực hiện tốt lời căn dặn và những điều mong muốn của Bác đối với sự nghiệp giáo dục đào tạo, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau, cũng là ý thức, trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi chính đáng của mỗi cán bộ, đảng viên và người dân Việt Nam yêu nước./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: DỰNG NƯỚC GẮN LIỀN VỚI GIỮ NƯỚC!

     Lịch sử dân tộc Việt Nam từ khi ra đời tới nay là lịch sử dựng nước và giữ nước gắn bó với nhau. Phải xây dựng được đất nước hùng mạnh về mọi mặt mới có điều kiện, khả năng chiến thắng các thế lực thù địch và phải giữ được nước mới có điều kiện để xây dựng đất nước. Kế tục truyền thống quý báu này, trong những năm qua, nhất là 10 năm gần đây thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 (Khóa XI) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã phát huy tinh thần yêu nước, đoàn kết, nỗ lực phấn đấu, đạt được những thành tựu rất quan trọng, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật. 

Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa là tổng thể các hoạt động của Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang, của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong việc chuẩn bị đất nước mọi mặt từ trước, ngay trong thời bình để xây dựng tiềm lực quốc phòng; chủ động ngăn ngừa, xử lý, đẩy lùi, triệt tiêu các nhân tố có thể phát triển thành các nguy cơ, thách thức đe dọa đối với độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, sự ổn định chính trị của đất nước, lợi ích quốc gia - dân tộc, cũng như môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước. 

Lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam đã khẳng định một chân lý: Dựng nước phải đi đôi với giữ nước. Chân lý đó đã trở thành truyền thống quý báu của dân tộc, đồng thời là một quy luật nội tại của quá trình xây dựng và phát triển bền vững đất nước. Lúc đất nước yên bình, hiển nhiên là phải tập trung vào nhiệm vụ dựng nước, chăm lo làm giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng, bảo tồn được văn hóa dân tộc, xã hội phồn vinh. “Ngụ binh ư nông” (gửi binh lính ở nhà nông) là một chính sách đặc sắc của các triều đại Lý, Trần, Lê… Quân chủ lực triều đình không nhiều, chủ yếu là quân địa phương tập trung theo từng phiên, nuôi quân đỡ tốn kém, bảo đảm sức lao động cho nông nghiệp, mà khi có chiến tranh, huy động được tối đa trai tráng cầm súng đánh giặc.

“Động binh tĩnh dân”, “bách tính giai binh”, “tận dân vi binh”… là những kế sách độc đáo của cha ông ta để “giữ nước từ lúc nước chưa nguy”, chăm lo quốc phòng, an ninh, giữ vững chủ quyền, bờ cõi, răn đe, ngăn chặn các hành vi xâm hại chủ quyền lãnh thổ của đất nước.

Thực tiễn trong quá trình hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam hàng ngàn năm qua cho thấy, thời đại nào, triều đại nào mà gắn chặt dựng nước đi đôi với lo giữ nước, xây dựng đất nước theo quan điểm dân giàu, nước mạnh, “quốc phú, binh cường”, “biên cường quốc thịnh”, bảo vệ đất nước từ sớm, từ xa, “giữ nước từ khi nước chưa nguy” thì độc lập dân tộc và chủ quyền lãnh thổ được giữ vững; thời đại nào, triều đại nào không gắn chặt giữa dựng và giữ nước, không lo giữ nước từ lúc nước chưa nguy, để nước nghèo, dân đói, xã hội lạc hậu, quốc phòng và an ninh không được củng cố, nội bộ mâu thuẫn, sẽ tạo ra điều kiện thuận lợi để kẻ thù tiến công xâm lược.

Trần Quang Khải (1241-1294) nhà chính trị, quân sự thời Trần đã từng nói: “Thái bình tu trí lực. Vạn cổ thử giang sơn” (có nghĩa là: Thái bình nên tu dưỡng trí lực, vật lực. Đất nước vững nghìn thu). Vua Lê Thái Tổ (1385-1433) căn dặn muôn dân trăm họ: “Biên phòng hảo vị trù phương lược. Xã tắc ung tu kế cửu an” (có nghĩa là: Biên phòng cần có phương án, chiến lược tốt. Đất nước phải có kế lâu dài).

Bài học kết hợp chặt chẽ dựng nước đi đôi với lo giữ nước trong lịch sử dân tộc được Ðảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh phát triển lên một bước mới, thành tư tưởng chỉ đạo chiến lược, kết hợp giữa kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, kết hợp giữa kháng chiến với kiến quốc. 
 
 Ngay sau nước nhà giành được độc lập, Ðảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi toàn dân hăng hái lao động sản xuất, chăm lo xây dựng và củng cố quốc phòng. Do đó, đất nước đã nhanh chóng vượt qua nạn đói khủng khiếp nhất trong lịch sử (năm 1945), hệ thống chính quyền từ Trung ương đến địa phương được củng cố, lực lượng vũ trang ngày càng trưởng thành tạo nền tảng quan trọng để quân và dân ta tiến hành cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ đất nước. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Ðảng ta và Bác Hồ chủ trương: Vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, vừa chặn đánh làm chậm tốc độ tiến công của kẻ thù ở phía Nam đất nước, vừa xây dựng tiềm lực và chuẩn bị hậu phương kháng chiến lâu dài. 

Ngay sau chiến thắng Ðiện Biên Phủ, kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, tại Ðền thờ các Vua Hùng ở Phú Thọ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ân cần căn dặn cán bộ, chiến sĩ Ðại đoàn 308 trước khi về tiếp quản Thủ đô: "Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Ðây là tư tưởng chỉ đạo rất quan trọng của Bác với quân và dân ta.

Bước vào cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, tư tưởng chỉ đạo dựng nước đi đôi với lo giữ nước lại được Ðảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh phát triển lên một bước cao hơn thành hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội và giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà. Trong đó, Bác Hồ xác định rõ: "Xây dựng miền Bắc là cái nền, cái gốc để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước". Nhờ có tư tưởng, đường lối và nhiệm vụ chiến lược đúng đắn của Ðảng, quân và dân ta đã xây dựng miền Bắc vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Tiềm lực chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học, quốc phòng và an ninh ngày càng phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao. Quân đội và công an được xây dựng chính quy, có trang bị ngày càng hiện đại, các công trình quốc phòng được xây dựng và củng cố, tạo sức mạnh bảo vệ miền Bắc và giải phóng miền Nam... Có sự chi viện to lớn của nhân dân miền Bắc, sự ủng hộ và giúp đỡ của bạn bè quốc tế, quân và dân ta đã đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội và bước vào công cuộc đổi mới, bài học dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc tiếp tục được Ðảng ta phát triển lên một tầm cao mới. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 chỉ rõ: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam. Trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất nước, nhân dân ta luôn luôn nâng cao cảnh giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Tổ quốc và các thành quả cách mạng”.

Trong Diễn văn tại Lễ kỷ niệm 90 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930/3-2-2020), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc ta đã chứng minh rằng, yêu nước và giữ nước, kiên quyết chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập, chủ quyền và thống nhất đất nước là truyền thống cực kỳ quý báu của dân ta”.

Quan điểm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa của Đảng ta được thể hiện rõ nét trong Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới (Nghị quyết số 28- NQ/TW). Nghị quyết số 28- NQ/TW được ban hành vào năm 2013. Trong 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới vừa qua, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã phát huy tinh thần yêu nước, đoàn kết, nỗ lực phấn đấu, đạt được những thành tựu rất quan trọng, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.

Đặc biệt, trong 10 năm qua, Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng đã tiếp tục thực hiện tốt chức năng tham mưu với Đảng, Nhà nước các vấn đề có tầm chiến lược về quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Chúng ta đã giữ vững được thế chủ động chiến lược, không để bị động, bất ngờ; khôn khéo, mềm dẻo, linh hoạt trong xử trí các tình huống, ngăn ngừa nguy cơ xung đột, nhất là các tình huống trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo; đề xuất rất sát những chủ trương, đối sách, giải pháp cơ bản, lâu dài; trước những tác động, ảnh hưởng của tình hình thế giới đối với Quân đội và giải pháp xây dựng Quân đội trong tình hình mới, nhất là xây dựng nhân tố chính trị, tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ. Xây dựng tiềm lực kinh tế của nền quốc phòng toàn dân theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; giữ vững độc lập, tự chủ trong mở rộng hợp tác kinh tế; phát triển kinh tế nhanh, bền vững, tăng lượng dự trữ quốc gia; gắn phát triển kinh tế với bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực, sẵn sàng huy động các nguồn lực cho quốc phòng. Tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế, bảo đảm không phụ thuộc vào một thị trường, một đối tác cụ thể; chủ động ứng phó hiệu quả với tác động tiêu cực, gây sức ép thông qua kinh tế từ bên ngoài./.

Yêu nước ST.

Khẳng định thành tựu nhân quyền, lan tỏa với thế giới

 


Xuyên suốt các giai đoạn cách mạng, nguyên tắc “lấy dân làm gốc”, tất cả vì con người, vì nhân dân và lấy con người làm trung tâm, là chủ thể, nguồn lực, động lực quan trọng nhất và là mục tiêu của sự phát triển…  được thể hiện, chứng minh trong mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước và thực tế thành tựu nước ta đạt được.

Không ngừng củng cố quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện Việt Nam - Campuchia

 

 

Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng khẳng định Việt Nam luôn coi trọng và mong muốn không ngừng củng cố quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện với Campuchia.

Tạo dấu ấn mới trong quan hệ Việt Nam - Campuchia

 

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đánh giá cao chuyến thăm của Thủ tướng Hun Manet có ý nghĩa quan trọng, góp phần củng cố và tạo dấu ấn mới trong quan hệ Việt Nam - Campuchia; chúc mừng đồng chí Hun Manet được bầu làm Thủ tướng Chính phủ, Phó Chủ tịch CPP và những thành tựu to lớn, quan trọng mà Campuchia đã đạt được trong thời gian qua.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình bắt đầu thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam

 

 

Nhận lời mời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Phu nhân, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng và Phu nhân, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình và Phu nhân thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam ngày 12-13/12.

CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG THÔNG TIN XUYÊN TẠC, PHẢN ĐỘNG CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN FACEBOOK!

         Cùng với sự phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, việc tiếp cận và tham gia sử dụng facebook là điều hết sức bình thường của mọi lứa tuổi và mọi đối tượng... Tuy nhiên, đây cũng chính là điều kiện để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc những thông tin sai sự thật bằng nhiều hình thức, thủ đoạn khác nhau. Trong đó, chúng có thể đưa lên mạng xã hội những thông tin sai lệch, nói xấu Đảng, Nhà nước, bôi nhọ danh dự, uy tín một số đồng chí lãnh đạo (nguyên lãnh đạo) Đảng, Nhà nước,Tướng lĩnh Quân đội, làm cho quần chúng Nhân dân hiểu sai vấn đề, gây mất ổn định về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Để đẩy lùi hiện tượng này, mỗi cán bộ, chiến sĩ và quần chúng Nhân dân cần có kỹ năng tiếp cận, xử lý đúng thông tin trên mạng xã hội. Mỗi người phải tìm hiểu, sàng lọc khi tiếp cận thông tin, không được tùy tiện (like, share...) chia sẽ hay bình luận với những thông tin chưa được kiểm chứng. Trong thực tế cho thấy, có những người dùng facebook chia sẽ thông tin, nhưng khi được hỏi về bản chất và nguồn gốc của thông tin thì không rõ nguồn gốc thông tin từ đâu (trên trang chính thống hay không chính thống). Bên cạnh đó, các thế lực thù địch, phản động, cực đoan đã có nhiều hoạt đông cấu kết, tuyên truyền kích động, chống phá, phát tán những thông tin xuyên tạc,bịa đặt về tình hình sức khỏe, phẩm chất đạo đức, phong cách làm việc của một số đồng chí lãnh đạo (nguyên lãnh đạo) Ðảng, Nhà nước, Quân đội, tạo sự bǎn khoǎn trong tư tưởng cán bộ, đảng viên; hoài nghi trong quần chúng Nhân dân.
Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang và mọi người dân phải luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mang, có quan điểm nhất quán và bản lĩnh chính trị vững vàng; không nghe theo luận điệu xuyên tạc của các đối tượng phản động, cực đoan, tránh tiếp tay cho các phần tử chống phá, đối lập với quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước, phẩm chất, đạo đức, lối sống, truyền thống của Quân đội và dân tộc ta. Ðồng thời, cần có biện pháp kiên quyết hơn nữa để đấu tranh ngǎn chǎn và nghiêm trị mọi hành vi vi phạm pháp luật, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở mọi lúc, mọi nơi; góp phần xây dựng nước ta đi theo con đường xā hội chủ nghĩa mà Ðảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn./.
Yêu nước ST.

TIẾP TỤC KIÊN ĐỊNH, GIỮ VỮNG NGUYÊN TẮC TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH TRONG ĐẢNG!

     Thành tựu của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong thời gian vừa qua đã khẳng định sự đúng đắn, nhất quán trong chủ trương, quan điểm của Đảng, được dư luận trong và ngoài nước đánh giá cao. Tiếp tục kiên định, kiên trì nguyên tắc tự phê bình và phê bình có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay!

Có thể thấy thời gian qua, với việc tiếp tục thực hiện tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 các khóa XI, XII, XIII, nội dung Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, hoạt động tự phê bình và phê bình trong Đảng đã đạt nhiều kết quả quan trọng, tạo sự chuyển biến tích cực trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã gương mẫu, nghiêm túc thực hiện kiểm điểm tự phê bình và phê bình; đồng thời tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tăng cường kiểm tra, chú trọng gợi ý kiểm tra, chú trọng gợi ý kiểm điểm đối với những tập thể, cá nhân có biểu hiện vi phạm”. Đại bộ phận các cấp ủy, đảng viên đã gương mẫu, nghiêm túc thực hiện kiểm điểm tự phê bình và phê bình. “Các cấp ủy, tổ chức đảng đã dành thời gian thỏa đáng để kiểm điểm ở cấp mình, trực tiếp dự, chỉ đạo, gợi ý kiểm điểm đối với tập thể, cá nhân thuộc quyền quản lý, coi trọng theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc sửa chữa, khắc phục hạn chế, khuyết điểm sau tự phê bình và phê bình”. Nhờ đó, đã góp phần khắc phục các khuyết điểm tồn lại kéo dài, đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ, củng cố sự đoàn kết thống nhất trong Đảng.

Tuy nhiên, việc thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong Đảng hiện còn những hạn chế nhất định. Nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên về tự phê bình và phê bình chưa sâu sắc hoặc thiếu tự giác nhận khuyết điểm, trách nhiệm trong công việc; ở một số nơi nền nếp, chế độ tự phê bình và phê bình chưa được thực hiện nghiêm: “Tự phê bình và phê bình ở không ít nơi còn hình thức; tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm còn diễn ra ở nhiều nơi; một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tự giác nhận khuyết điểm và trách nhiệm của mình đối với nhiệm vụ được giao”. Việc thực hiện các nội dung, quy trình tự phê bình và phê bình ở một số tổ chức đảng chưa thật sự nghiêm túc, ảnh hưởng đến chất lượng tự phê bình và phê bình. Một số cấp ủy chưa coi trọng và thiếu kiên quyết trong chỉ đạo thực hiện tự phê bình và phê bình; chưa nhìn nhận đúng khuyết điểm và trách nhiệm của mình trước những hạn chế, khuyết điểm của tập thể. Có tình trạng, tổ chức đảng, người có nhiều ưu điểm chưa được động viên khen thưởng thỏa đáng; trái lại, người có khuyết điểm nhưng vẫn được đánh giá là hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được khen thưởng, đưa vào quy hoạch… Những điểm này ít nhiều đã làm hạn chế chất lượng, hiệu quả thực hiện tự phê bình và phê bình trong Đảng.

Hiện nay, yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và chỉnh đốn Đảng đang đòi hỏi từng tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn kiên định nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Đây cũng là cơ sở để ngăn chặn suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên, góp phần làm trong sạch Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng ngang tầm nhiệm vụ. Cấp ủy, tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở cần kiên quyết, kiên trì thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, khóa XII, khóa XIII) gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng các giải pháp mạnh mẽ, quyết liệt, đồng bộ “để ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình từ Trung ương đến chi bộ,…”.

Thấm nhuần bài học đắt giá của việc từ bỏ nguyên tắc tự phê bình và phê bình, nguyên nhân chủ yếu đưa đến sự tan rã Đảng Cộng sản Liên Xô gắn với yêu cầu công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, đòi hỏi toàn Đảng cần kiên định nguyên tắc tự phê bình và phê bình.

Để nâng cao hiệu quả tự phê bình và phê bình trong Đảng hiện nay, trước hết cần tăng cường công tác giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về tự phê bình và phê bình. Theo đó, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải đẩy mạnh giáo dục cho mọi cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc vị trí, ý nghĩa của tự phê bình và phê bình đối với công tác xây dựng Đảng; thường xuyên giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy trí tuệ sáng tạo của cán bộ, đảng viên tham gia xây dựng nghị quyết và lãnh đạo tổ chức thực hiện thắng lợi nghị quyết của đảng bộ, chi bộ và nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị. Mọi tổ chức đảng và đảng viên cần có thái độ đúng đắn, trách nhiệm trước khuyết điểm của mình và của người khác, nghiêm túc thực hiện tự phê bình và phê bình để không dẫn đến vi phạm những khuyết điểm lớn hơn.

Đồng thời, các tổ chức đảng cần duy trì nghiêm nền nếp, chế độ sinh hoạt tự phê bình và phê bình. Theo đó, cần “thực hiện nghiêm túc, hiệu quả tự phê bình và phê bình, đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên hàng năm”; “cấp ủy chủ động gợi ý nội dung để đảng viên kiểm điểm, tự phê bình và phê bình, thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình từ trung ương đến cơ sở”. Tổ chức đảng, mọi đảng viên cần thực hiện tự phê bình và phê bình một cách thực chất; các cấp ủy, tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở cần chủ động xây dựng kế hoạch, duy trì, thực hiện nghiêm nền nếp, chế độ tự phê bình và phê bình. Qua đó, ngăn ngừa, đẩy lùi biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, trong từng cán bộ, đảng viên hiện nay.

Bên cạnh đó, để phòng, chống các biểu hiện lệch lạc trong sinh hoạt Đảng, các cấp ủy, tổ chức đảng phải quán triệt rõ mục đích, ý nghĩa và nghiêm túc chỉ đạo, tổ chức thực hiện tự phê bình và phê bình theo đúng tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 các khóa XI, XII, XIII và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; đồng thời, từng cấp ủy viên phải coi trọng kiểm điểm ở cấp mình, trực tiếp dự, chỉ đạo, gợi ý kiểm điểm đối với tập thể, cá nhân thuộc quyền quản lý; coi trọng theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc sửa chữa, khắc phục hạn chế, khuyết điểm sau tự phê bình và phê bình; khuyến khích đấu tranh với những quan điểm và hành vi sai trái nhằm cảnh tỉnh, răn đe, từng bước ngăn chặn, đẩy lùi biểu hiện thoái hóa, biến chất.

Đặc biệt, cần thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức tự phê bình và phê bình; phát huy tính tích cực, chủ động tự phê bình và phê bình của cán bộ, đảng viên. Qua đó, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, trình độ, năng lực, phương pháp, tác phong công tác; khắc phục sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên hiện nay./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: HỌC TẬP VÀ LÀM THEO LỜI BÁC DẠY VỀ CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN!

     Bác dạy: Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Phải dạy lý luận, công tác, chuyên môn cho cán bộ, đảng viên. Nếu không đạt được mục đích đó, là tuyên truyền thất bại. Chúng ta phải đánh thắng địch về mặt tuyên truyền cũng như bộ đội ta đã đánh thắng địch về mặt quân sự! 

NHIỆM VỤ TUYÊN TRUYỀN VÀ CÁCH TUYÊN TRUYỀN
Tuyên truyền được hiểu là tuyên truyền cách mạng. Tuyên truyền cái gì? Tuyên truyền như thế nào? Tuyên truyền để làm gì? Tuyên truyền cho ai? Ai có thể tuyên truyền? v.v.. là những câu hỏi mà những người làm công tác tuyên giáo phải luôn luôn nắm vững để trả lời có chất lượng mọi lúc, mọi nơi, mọi hoàn cảnh. Những câu hỏi này được Hồ Chí Minh nêu lên từ thập kỷ bốn mươi và thông qua lý luận - thực tiễn, Người đã đem lại những câu trả lời thuyết phục, đến nay vẫn vẹn nguyên giá trị soi sáng công tác tuyên truyền nói riêng, tuyên giáo nói chung.

Công cuộc đổi mới đã đem lại những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Thế giới và đất nước ngày nay đang diễn ra những biến đổi lớn lao. Nhưng trong mọi biến đổi cũng có một số điều quan trọng không hề thay đổi. Đó là nhận thức của chúng ta về mô hình chủ nghĩa xã hội với ba trụ cột là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Ba trụ cột được “xây” trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh gắn với hai nhân tố quyết định thành công của công cuộc đổi mới là sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và lấy dân làm gốc. Nhiệm vụ tuyên giáo và cách tuyên truyền hiện nay là làm cho nhân dân và cán bộ hiểu được những vấn đề lý luận và thực tiễn đó; làm rõ hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ chặt chẽ với nhau là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Để hoàn thành nhiệm vụ công tác tuyên giáo, tuyên truyền phải giản đơn, rõ ràng, cụ thể, thiết thực, đúng chỗ, đúng lúc. Tuyên truyền là để người dân hiểu, dân tin và làm được. Phải tuyên truyền cả lý luận và công tác. Tuyên truyền lý luận là dạy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước. Tuyên truyền công tác là làm cho người dân hiểu vì sao phải làm những công việc đó? Làm những gì? Làm như thế nào? Tất cả nhằm đem lại lợi cho dân và tránh hại cho dân. Những câu hỏi nêu trên phải được cụ thể hóa, hiện thực hóa. Bác dạy: “Các chú phải tự hỏi, tự trả lời. Chứ không phải chờ trên gửi tài liệu xuống, rồi theo một, hai, ba, bốn mà làm”(1).

Bác phê bình những người làm công tác tuyên truyền chỉ nói nào là làm “cách mạng xã hội chủ nghĩa”, nào là “tiến lên chủ nghĩa xã hội”, nào là “xây dựng chủ nghĩa xã hội” làm cho đồng bào khó hiểu, ít người hiểu. Bác nhắc lại câu chuyện đồng chí Đimitơrốp kể: Khi ở Đức có bãi công, Đảng cử người đến tuyên truyền. Đáng lẽ người tuyên truyền phải nói bãi công thế nào, thì lại nói chủ nghĩa Mác là gì, thặng dư giá trị là gì. “Như thế là nói không đúng chỗ, không thiết thực. May mà đồng chí đó không bị quần chúng ném đá. Tuyên truyền như thế không ăn thua gì cả”(2).

Hiện nay, những chứng bệnh đó vẫn tồn tại với những biểu hiện, mức độ đậm nhạt, cao thấp khác nhau. Điểm giống nhau của các căn bệnh trước và nay là tuyên truyền không đúng lúc, đúng nơi, không cụ thể, không thiết thực, không tỏ rõ được tư tưởng, tâm tư, nguyện vọng và đòi hỏi của các tầng lớp nhân dân. Chẳng hạn, "khơi dậy khát vọng phát triển đất nước” là một điểm nhấn trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Nhưng nếu tuyên truyền chỉ nhắc lại hai từ “khát vọng” thì không “thuộc bài”, “đúng bài” tuyên giáo. Đó là cách nói chung chung, kiểu “hội trường” mà Bác đã nhiều lần phê bình: “Không phải tuyên truyền để mà tuyên truyền, huấn luyện để mà huấn luyện”(3). Cái người dân cần là phải nói làm sao thiết thực, dễ hiểu, để người ta hiểu được, hiểu để làm. Tức là phải biết cách tuyên truyền. Nhiều tỉnh nói về tiềm năng, khát vọng phát triển, phải đạt tỉnh khá, tỉnh giàu, kiểu mẫu là cần thiết, nhưng tuyên truyền là phải cắt nghĩa, phân tích được vì sao hiện nay nói và nhấn mạnh những điều đó? Phát triển cái gì? Phát triển đến đâu? Theo hướng nào, bằng cách nào? Tuyên truyền phải rất thực tiễn thì mới thực hiện được khát vọng. Tuyên truyền đừng để người dân hiểu sai về cái đúng, hiểu xấu về cái tốt, cái đẹp của khát vọng thành “phong trào khát vọng”, “hội chứng khát vọng”.

Tuyên truyền không phải nhắc lại Văn kiện của Đảng, Nhà nước, mà phải làm cho quan điểm của Đảng, Nhà nước thấm sâu vào tim óc người dân, khẳng định niềm tin, khơi dậy quyết tâm và hành động. Tuyên truyền ở những vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào còn nhiều khó khăn thiếu thốn về cơm ăn áo mặc, điện, nước, trường học, bệnh xá, đường sá…, càng phải rất thiết thực. Ý định của những người làm công tác tuyên truyền là tốt, muốn khẳng định đường lối lãnh đạo sáng suốt của Đảng và chính sách đúng đắn của Chính phủ, bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, tính đột phá về lý luận của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, v.v.. Ý định tốt nhưng khi tuyên truyền phải xuất phát từ thực tế, không thể xuất phát từ ý muốn chủ quan của người tuyên truyền, tuyên truyền để mà tuyên truyền, tuyên truyền “lấy được”. Tuyên truyền không thiết thực, không đúng lúc, đúng chỗ, có thể biến ý định tốt thành không tốt, biến cái hay thành cái dở, làm giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.

Tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng vậy. Bác dạy: “Nói thế nào cho đồng bào hiểu được, đồng bào làm được, đó là nói được chủ nghĩa Mác - Lênin. Nói thiết thực, nói đúng lúc, đúng chỗ mới là hiểu được chủ nghĩa Mác - Lênin. Nếu nói không đúng chỗ không phải là chủ nghĩa Mác - Lênin”(4). Người chỉ rõ: “Các chú dạy cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về chủ nghĩa Mác – Lênin, chắc có nhiều người thuộc, nhưng các chú có làm cho mọi người hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin là thế nào không. Theo Bác, hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin tức là cách mạng phân công cho việc gì, làm Chủ tịch nước hay nấu ăn, đều phải làm tròn nhiệm vụ. Không nên đào tạo những con người thuộc sách làu làu, cụ Mác nói thế này, cụ Lênin nói thế kia, nhưng nhiệm vụ của mình được giao quét nhà lại để cho nhà đầy rác… Hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin”(5). Lời Bác dạy vẹn nguyên giá trị đối với công tác tuyên giáo hiện nay.

NGƯỜI TUYÊN TRUYỀN PHẢI THƯỜNG XUYÊN TU DƯỠNG, CHỐNG THÓI BA HOA
Một trong những yêu cầu đối với người tuyên truyền, đó là phải hội đủ những phẩm chất về tri thức, phương pháp và đạo đức. Phải “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong, gương mẫu”(6). Phải rèn luyện cách nói giản đơn, rõ ràng, thiết thực, có đầu, có đuôi, có hồn, truyền cảm hứng, niềm tin, sao cho ai cũng hiểu được, nhớ được, làm được.

Bác dạy bảo những người tuyên truyền khi nói, viết phải chống thói ba hoa, biểu hiện ở chỗ dài dòng, rỗng tuếch; cầu kỳ; khô khan, lúng túng; báo cáo giả dối, thành công ít suýt ra nhiều, còn khuyết điểm thì giấu đi không nói đến; bệnh theo “sáo cũ”; nói không ai hiểu; bệnh hay nói chữ như tục ngữ có câu “xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ”, v.v..

Theo Bác, người tuyên truyền phải hiểu rằng mỗi khẩu hiệu của Đảng phải là ý nguyện và mục đích của hàng triệu đảng viên và của hàng triệu quần chúng. Mà muốn như thế, phải làm cho dân chúng đều hiểu, phải học cách nói của dân chúng “học ăn, học nói, học gói, học mở”, chớ nói như cách giảng sách. Mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết, phải tỏ rõ cái tư tưởng và lòng ước ao của quần chúng. Nếu không hàng vạn khẩu hiệu cũng vô ích. Người dạy: “Trước khi nói, phải nghĩ cho chín, phải sắp đặt cẩn thận. Phải nhớ câu tục ngữ: Chó ba quanh mới nằm. Người ba năm mới nói”(7).

Bác thẳng thắn phê bình người đi tuyên truyền tưởng mình là công chức, làm việc theo cách bàn giấy mà quên nhiệm vụ của mình là tuyên truyền, cổ động, giải thích và huấn luyện cho nhân dân. Người chỉ rõ: “Các cấp thông tin tuyên truyền thường thi hành chỉ thị cấp trên một cách máy móc, không biết áp dụng theo hoàn cảnh thiết thực trong địa phương mình. Tuyên truyền không chủ trương thực tế mà hay nói những lý luận viễn vông. Chưa có một chương trình, một kế hoạch thiết thực và đầy đủ về công tác cũng như kiểm tra”(8). Nói về người tuyên truyền - xét tận cùng và quan trọng nhất, quyết định nhất - phải có cái tâm, đạo đức trong sáng, xuất phát từ nhận thức về bổn phận phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội và đường lối đổi mới.

Ngẫm lại những lời dạy sâu sắc của Bác lúc sinh thời về công tác tuyên truyền đến bây giờ vẫn thấy thấm thía, vẹn nguyên giá trị để mỗi cán bộ tuyên giáo học và làm theo./.
--------------------
(1) (2) (3) (4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, t.14, tr.159, 161, 159, 161
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.668.
(6) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, H, 2021, t.I, tr.187.
(7) (8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.346, 480.
Yêu nước ST.