Thứ Ba, 12 tháng 12, 2023

Bản lĩnh chính trị - Yếu tố quan trọng quyết định sự thành công trong lãnh đạo của Đảng

    Bản lĩnh chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam là một yếu tố quan trọng đưa đến những thành công trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Những bài học kinh nghiệm về bản lĩnh chính trị của Đảng vẫn còn nguyên giá trị, có ý nghĩa hướng dẫn cho sự nghiệp cách mạng nước ta hiện nay. Nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên tiếp tục được Đại hội XIII của Đảng đặc biệt quan tâm và là nhiệm vụ cần được nghiêm túc thực hiện trong thời gian tới.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và đại biểu dự Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII _ Ảnh: TTXVN

Bản lĩnh chính trị và việc rèn luyện bản lĩnh chính trị của Đảng

Bản lĩnh chính trị của một cá nhân, tập thể là khả năng vượt qua những áp lực, khó khăn, thách thức; là lòng tin, sự kiên định, quyết tâm lớn lao và năng lực ứng biến với những thay đổi của thực tiễn, sự đoàn kết đồng lòng để tìm ra cách thức đúng đắn, nhằm thực hiện thành công mục tiêu chính trị của mình. Bản lĩnh chính trị dựa trên sự nắm vững tri thức khoa học và khả năng đúc rút tri thức mới từ thực tiễn hoạt động chính trị của chủ thể.

Bản lĩnh chính trị của một cá nhân, một chính đảng không tự nhiên mà có. Khả năng tự chủ, đứng vững trước áp lực, sáng suốt tìm ra con đường đúng đắn… của chủ thể chính trị chỉ có thể có được qua quá trình khổ công rèn luyện lâu dài. Rèn luyện bản lĩnh chính trị là hoạt động có mục đích, nhằm từng bước xây dựng, củng cố thái độ, quyết tâm và khả năng giữ vững, bảo vệ và phát triển quyết định của cá nhân, tập thể trong hoạt động chính trị, bất chấp những áp lực từ nhiều phía. Tuy nhiên, hoạt động chính trị của con người thường xuyên, liên tục chịu tác động bởi nhiều yếu tố bất định, khó lường; vì thế, việc tự giác rèn luyện là điều kiện cần, để tạo nên nền tảng cơ bản cho bản lĩnh chính trị của chủ thể; nhưng khả năng vượt qua áp lực, thử thách mới chính là sự khẳng định và làm dạn dày thêm bản lĩnh chính trị của chủ thể. Chỉ khi vượt qua được những thử thách, áp lực không định trước được, bản lĩnh chính trị mới trở nên ổn định, vững chắc, trở thành bản chất cố hữu của chủ thể chính trị.       

Việc rèn luyện bản lĩnh chính trị của chủ thể chính trị diễn ra trong thực tiễn chính trị, được tiến hành thông qua các hoạt động có tính mục đích chính trị rõ ràng, được tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và sự tham gia tích cực của quần chúng nhân dân.

Rèn luyện bản lĩnh chính trị bắt đầu với việc truyền bá, học tập, quán triệt và nắm vững, hiểu biết ngày càng sâu sắc về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng... Đây là kim chỉ nam soi sáng cho nhận thức và hành động của mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng, nhất là khi gặp phải những tình thế khó khăn, trở ngại, là cơ sở nền tảng để các chủ thể chính trị phân tích, đánh giá đúng tình hình, tìm ra bản chất, quy luật, tính quy luật của sự vật, hiện tượng chính trị, từ đó đưa ra được những giải pháp phù hợp, tập hợp được sức mạnh cần thiết để vượt qua khó khăn, thách thức, hoàn thành tốt nhiệm vụ, đạt được mục tiêu chính trị đề ra.

Rèn luyện bản lĩnh chính trị thông qua việc củng cố niềm tin chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Những trải nghiệm chính trị, những bài học kinh nghiệm “xương máu” được đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân rút ra từ thực tiễn và những thành tựu cách mạng dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng làm cho nhận thức chính trị của họ càng thêm sâu sắc, từ đó tình cảm, niềm tin chính trị vào Đảng càng thêm sâu nặng. Lúc này, tình cảm, niềm tin chính trị đã trở thành bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân. Điều này được V.I. Lê-nin chỉ rõ, qua thực tiễn cách mạng vô sản Nga: “… khi đụng đến một phong trào bao gồm hàng triệu quần chúng nhân dân, thì chỉ những lời nói thôi không đủ; quần chúng nhân dân phải có kinh nghiệm của bản thân họ để họ tự kiểm nghiệm những chỉ thị và tin vào kinh nghiệm của bản thân”(1).

Rèn luyện bản lĩnh chính trị thông qua việc tổ chức thành công các phong trào hành động chính trị, nhằm đạt các mục tiêu mà Đảng đề ra. Bản lĩnh chính trị không chỉ biểu hiện thông qua cuộc đấu tranh trên mặt trận lý luận chính trị, mà còn thông qua các phong trào hành động cách mạng trong thực tiễn, nhằm cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng. Kết quả thực tế của các phong trào hành động cách mạng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân là minh chứng thuyết phục nhất cho bản lĩnh chính trị của Đảng.

Những biểu hiện cụ thể, đặc điểm bản lĩnh chính trị của Đảng trong những thời điểm mang tính bước ngoặt

Một là, những biểu hiện cụ thể bản lĩnh chính trị của Đảng trong những thời điểm mang tính bước ngoặt.

Kiên định mục tiêu, giữ vững nguyên tắc, nhưng mềm dẻo về phương pháp, sách lược, nhất là ở các thời điểm khó khăn khi đưa ra các quyết định lựa chọn. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta nhiều lần thể hiện việc kiên định mục tiêu chiến lược, nhưng thực hiện mục tiêu đó bằng phương pháp, sách lược mềm dẻo, để vừa khẳng định và giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, vừa giành được những thành quả trên thực tế; đồng thời, thu hút được ngày càng nhiều quần chúng yêu nước tham gia vào phong trào cách mạng.

Một trong những điển hình cho việc Đảng kiên định mục tiêu chiến lược, nhưng thực hiện bằng phương pháp, sách lược mềm dẻo chính là thực tiễn cách mạng những năm 1936 - 1939, khi Đảng lãnh đạo thực hiện những mục tiêu cải thiện về dân chủ và nhân quyền, từ ảnh hưởng của việc Chính phủ Pháp do những đảng cánh tả nắm quyền năm 1936. Kết quả là, tập hợp được đông đảo quần chúng xung quanh Đảng thông qua các tổ chức chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng; đời sống chính trị - xã hội có những cải thiện nhất định đã ảnh hưởng tốt tới thiện cảm của quần chúng nhân dân với Đảng; qua phong trào, đội ngũ đảng viên được rèn luyện bởi thực tiễn cách mạng, được trang bị thêm kiến thức hoạt động nghị trường, vì thế, cũng có sự trưởng thành nhất định. Chính trong giai đoạn này, nhiều nhà cách mạng tiền bối của Đảng, như Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp… đã trực tiếp tham gia viết báo, tổ chức tờ báo..., vì thế đã được rèn giũa những kỹ năng nhất định, rất cần thiết cho hoạt động cách mạng sau này.

Quyết đoán quyết định ở thời điểm vô cùng khó khăn. Một điển hình của việc dũng cảm đưa ra quyết định vào thời điểm khó khăn được thể hiện trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Khi đó, thực tế chiến trường đã có những thay đổi lớn so với khi chuẩn bị phương án ban đầu là đánh nhanh, thắng nhanh; nếu cứ tiếp tục thực hiện theo phương án đã đề ra, thì chúng ta sẽ phải chịu những tổn thất to lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng tới lực lượng cách mạng. Tuy nhiên, từ những thông tin phản biện, cùng với sự cân nhắc kỹ lưỡng về tương quan giữa quân ta và quân đội Pháp ở Điện Biên Phủ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đưa ra quyết định mà theo ông là khó khăn nhất trong cuộc đời làm tướng của mình, đó là chuyển phương châm từ đánh nhanh, thắng nhanh, sang đánh chậm, tiến chắc. Như vậy, người đưa ra quyết định mang tính lịch sử đó phải có bản lĩnh lớn, xuất phát từ tài thao lược kiệt xuất, phương pháp làm việc khoa học, căn cứ vào thực tế chiến trường, khắc ghi những lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đánh khi chắc thắng, không chắc thắng không đánh.

Dám đương đầu với thách thức, quyết tâm tận dụng cơ hội, không bỏ lỡ thời cơ, biến thách thức thành cơ hội, nhất là vào các thời điểm bước ngoặt của cách mạng. Điển hình của trường hợp này chính là cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của dân tộc ta. Đảng ta đã huy động sức mạnh toàn dân tộc, quyết tâm vượt qua khó khăn, tận dụng thời cơ cách mạng để phát động Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 và đi đến thành công. Khi đó, phát xít Nhật đã đầu hàng Đồng minh, còn lực lượng Pháp chưa kịp trở lại Đông Dương; lực lượng phản cách mạng ở trong thế yếu, còn phong trào cách mạng đang lên cao chưa từng thấy. Trong tình thế đó, nếu Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên khắp cả nước và ở các thành phố lớn không diễn ra kịp thời, thì kết quả của cuộc Tổng khởi nghĩa sẽ khó đạt mục tiêu đề ra, thành quả của cách mạng sẽ không triệt để.

Dũng cảm đối mặt với sai lầm, khuyết điểm và kiên quyết sửa chữa khuyết điểm, tự chỉnh đốn Đảng để hoàn thiện. Một trong những điển hình của việc Đảng thể hiện bản lĩnh chính trị, dũng cảm đối mặt với sai lầm, khuyết điểm và kiên quyết sửa chữa khuyết điểm là việc sửa chữa những sai lầm trong cải cách ruộng đất những năm 1953 - 1955. Đảng đã thẳng thắn thừa nhận “có phạm sai lầm nghiêm trọng”(2), từ đó, nghiêm túc đề ra biện pháp để sửa chữa những lỗi lầm nói trên. Chủ tịch Hồ Chí Minh có “Thư gửi đồng bào nông thôn và cán bộ nhân dịp cải cách ruộng đất ở miền Bắc căn bản hoàn thành”, đăng Báo Nhân dân, ngày 18-8-1956; qua đó, khẳng định sự thành công và ý nghĩa to lớn của cải cách ruộng đất với cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, Người cũng chỉ rõ những sai lầm đã mắc phải trong khi thực hiện và nghiêm túc chỉ ra: “Trung ương Đảng và Chính phủ đã nghiêm khắc kiểm điểm những sai lầm, khuyết điểm ấy, và đã có kế hoạch kiên quyết sửa chữa, nhằm đoàn kết cán bộ, đoàn kết nhân dân, ổn định nông thôn, đẩy mạnh sản xuất”(3).

Thái độ công khai, thẳng thắn trong đánh giá, nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, trong thực hiện nhiệm vụ chung của sự nghiệp cách mạng, cách bày tỏ chân tình, thấu đáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước quần chúng nhân dân đã khiến cho những khúc mắc được giải tỏa, lòng tin của nhân dân với sự lãnh đạo của Đảng càng được củng cố, tạo thành sức mạnh mới cho phong trào. Cách ứng xử của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trước những sai lầm xảy ra trong khi thực hiện cải cách ruộng đất chính là sự thể hiện rất rõ bản lĩnh chính trị của Đảng.

Dám đổi mới và sẵn sàng chịu trách nhiệm trước dân tộc, trước nhân dân, trước lịch sử về quyết định của mình. Với việc tiến hành đổi mới toàn diện tại Đại hội VI của Đảng (năm 1986), Đảng ta đã thể hiện rõ trách nhiệm trước dân tộc, khẳng định bản lĩnh chính trị của mình trong sự nghiệp cách mạng. Khi đó, tư duy đổi mới phải đối diện với những áp lực không hề nhỏ từ nhiều phía, trong đó có áp lực từ lối tư duy sáo mòn, kinh viện, duy ý chí gắn với cơ chế kế hoạch hóa tập trung vốn đã ăn sâu trong suy nghĩ và hành động của số đông.

Sự thống nhất giữa "ý Đảng và lòng dân" đã đưa đến thành công của Đại hội VI của Đảng - Đại hội đổi mới. Toàn bộ đánh giá, nhận định trong Văn kiện Đại hội VI toát lên tinh thần nghiêm túc nhìn nhận vấn đề, thể hiện thái độ dũng cảm trong đánh giá thực tế, phê bình và tự phê bình những sai lầm mà Đảng đã phạm phải trong quá trình lãnh đạo cách mạng từ sau năm 1975. “Những sai lầm và khuyết điểm trong công tác lãnh đạo của đảng trước hết thuộc về trách nhiệm của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Hội đồng Bộ trưởng… làm cho sự lãnh đạo của Đảng trong những năm gần đây không đáp ứng những đòi hỏi của tình hình mới. Ban Chấp hành Trung ương xin tự phê bình nghiêm túc về những khuyết điểm của mình trước Đại hội(4). Đó chính là bản lĩnh chính trị của một đảng cách mạng chân chính theo tư tưởng Hồ Chí Minh, khi không che dấu khuyết điểm, thành khẩn tự phê bình và chỉ ra phương hướng khắc phục khuyết điểm, đồng thời quyết tâm khắc phục.

Hai là, đặc điểm bản lĩnh chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Bản lĩnh chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam thể hiện bản lĩnh chính trị của đảng vô sản theo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, được Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và dìu dắt, chịu sự ảnh hưởng của truyền thống chính trị dân tộc qua nhiều thời kỳ, có dấu ấn tác động của vị trí địa - chính trị của đất nước Việt Nam.

Bản lĩnh chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam thể hiện ở việc kiên cường vượt qua những khó khăn, thử thách của phong trào cách mạng, được trui rèn để ngày càng trưởng thành, là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất về ý chí và hành động; đoàn kết, hy sinh không sờn lòng; kiên định vượt qua những trở ngại to lớn; dũng cảm tự phê bình để ngày càng trưởng thành; giữ vững bản chất của một đảng vì nước, vì dân; tiếp tục vững vàng lãnh đạo dân tộc vượt qua những thách thức trong giai đoạn cách mạng mới.

Rèn luyện bản lĩnh chính trị có quan hệ chặt chẽ với nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng. Đó chính là quan hệ gắn bó giữa việc thường xuyên giáo dục, rèn luyện, tu dưỡng đội ngũ cán bộ, đảng viên, với việc chuẩn bị khả năng thích ứng cao với mọi hoàn cảnh khó khăn, đột xuất, đòi hỏi phải đưa ra được những quyết định kịp thời, chuẩn xác.

Rèn luyện bản lĩnh chính trị có quan hệ chặt chẽ, qua lại với rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cầm quyền của Đảng và đều yêu cầu người đảng viên cần phải phấn đấu cao nhất vì lý tưởng cách mạng, vì thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sự phấn đấu đó là thường xuyên, liên tục, không có điểm dừng, bởi cuộc cách mạng nhằm đem lại hạnh phúc cho toàn thể dân tộc phải vượt qua những thử thách không thể đoán định được, đòi hỏi phải có nỗ lực cao nhất.

Các cán bộ, chiến sĩ quân đội nêu cao bản lĩnh, tinh thần trách nhiệm, khắc phục mọi khó khăn để dũng cảm cứu giúp ngư dân trong thiên tai _Ảnh: Tư liệu

Rèn luyện bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng

Làm tốt công tác giáo dục, bồi dưỡng, thử thách, tạo môi trường rèn luyện cho đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược.

Cần thường xuyên giáo dục, bồi dưỡng chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược, để họ thấm nhuần sâu sắc hệ tư tưởng của Đảng và phương pháp làm việc khoa học, từ đó có sự sáng suốt, vững vàng trước những thử thách để có thể lựa chọn và đưa ra những quyết định đúng đắn, đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn cách mạng. Muốn vậy, cần “Đổi mới căn bản nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục lý luận chính trị theo hướng khoa học, sáng tạo, hiện đại và gắn lý luận với thực tiễnđưa việc bồi dưỡng lý luận chính trị, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp đi vào nền nếp, nâng cao chất lượng, hiệu quả và phù hợp với từng đối tượng(5).

Thời gian tới, để làm tốt công tác giáo dục, bồi dưỡng, thử thách đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược, góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị của Đảng, cần thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp mà Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra. Đó là: “Đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng nâng cao năng lực dự báo, tầm nhìn chiến lược trong hoạch định đường lối, chủ trương(6); “Nâng tầm tư duy lý luận của Đảng, đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, cung cấp kịp thời cơ sở khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tổng kết thực tiễn 40 năm đổi mới để bổ sung, phát triển lý luận của Đảng. Tiếp tục bổ sung, phát triển hệ thống các quan điểm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam(7).

Để rèn luyện bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, cần tạo môi trường rèn luyện từ chính thực tiễn công tác phong phú, đa dạng hằng ngày. Chính trong môi trường đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải đối mặt với những nhiệm vụ thường xuyên, trong đó có cả những nhiệm vụ mới, khó; nếu tổ chức đảng biết cách bố trí, sắp xếp hợp lý, động viên, giúp đỡ thì khó khăn, thử thách đó lại chính là cơ hội rèn luyện bản lĩnh, giúp cán bộ có điều kiện phát huy hết năng lực.

Hiện nay, nhiều đảng bộ thực hiện việc giao nhiệm vụ mới, khó gắn với sản phẩm, kết quả cụ thể để rèn luyện, thử thách đối với đội ngũ cán bộ được đưa vào diện quy hoạch. Nhiệm vụ đó có thể là những công việc còn tồn đọng qua nhiều nhiệm kỳ, chưa giải quyết triệt để do vướng mắc về cơ chế… Đó có thể là nhiệm vụ mà nếu giải quyết được sẽ tạo ra bước tiến mạnh mẽ trong phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Thông qua kết quả thực hiện nhiệm vụ đó, tổ chức đảng sẽ đánh giá cán bộ một cách toàn diện, cả về năng lực, trình độ, khả năng tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Cách làm trên của một số địa phương, cơ quan, đơn vị thời gian qua là một biện pháp tốt để rèn luyện bản lĩnh chính trị, chuyên môn cho đội ngũ cán bộ, rất cần được đánh giá, tổng kết để rút ra bài học kinh nghiệm. 

Thực hiện công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, góp phần rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ các cấp.

Xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trên tất cả các mặt chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ một cách thường xuyên, liên tục chính là công việc quan trọng để rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng. Muốn vậy, cần phải thường xuyên “… xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín”(8); “tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, bồi dưỡng lý tưởng, nhân sinh quan cách mạng”(9). Bên cạnh đó, cần “tiếp tục tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm và quyết tâm chính trị của toàn Đảng đối với công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng… phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn khuyết điểm, vi phạm từ xa, từ sớm”(10). Kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng là biện pháp cơ bản, quan trọng để xây dựng và chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, cũng là biện pháp hữu hiệu để rèn luyện và nâng cao bản lĩnh chính trị của Đảng. Bởi, kỷ luật là sức mạnh giúp tập thể đồng lòng vượt qua những khó khăn, thử thách. Đồng thời, để rèn luyện bản lĩnh chính trị, đội ngũ cán bộ, đảng viên cần tu dưỡng, thực hành thường xuyên, nghiêm túc đạo đức cách mạng. “Đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thấy rõ bổn phận và trách nhiệm của mình, luôn vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức… Kết hợp giữa giữ vững kỷ luật, kỷ cương của Đảng, đề cao pháp luật của Nhà nước với giáo dục, bồi dưỡng nhân cách, đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên”(11).

Phát động các phong trào hành động cách mạng rộng lớn hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Các phong trào hành động cách mạng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc, chính là cơ sở thực tiễn, môi trường cho việc rèn luyện bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Để đến năm 2045, Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, chúng ta còn rất nhiều việc phải làm, đặc biệt là khắc phục những điểm nghẽn, thực hiện thành công 3 đột phá chiến lược, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh,... Muốn vậy, Đảng phải có đủ năng lực, bản lĩnh, uy tín, trí tuệ và đạo đức tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; có sự đồng thuận, ủng hộ của đông đảo quần chúng nhân dân, thông qua các phong trào hành động cách mạng rộng khắp trên mọi lĩnh vực, mọi miền đất nước, góp sức cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh quốc tế và khu vực có nhiều biến động phức tạp, khó lường.

Từ thực tiễn các phong trào hành động cách mạng, các nhân tố mới xuất hiện, đem lại hiệu quả trên nhiều mặt; đồng thời, những vấn đề khó khăn nảy sinh trong quá trình thực hiện sẽ là “đề bài” đòi hỏi tổ chức đảng và đảng viên có trách nhiệm phải tìm ra lời giải. Tất cả những điều đó đều góp phần quan trọng rèn luyện và nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, như chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh rằng, gắn bó mật thiết với nhân dân chính là cội nguồn sức mạnh của Đảng ta. Thời gian qua, do “… chưa tạo được nhiều cơ chế, chính sách, giải pháp có tính đột phá, đồng bộ để tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ người dân và doanh nghiệp, huy động mọi nguồn lực cho phát triển”(12)“các nguồn lực, tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc chưa được phát huy tốt(13)…, nên đã làm ảnh hưởng nhất định đến việc phát huy sức mạnh to lớn của các phong trào hành động cách mạng rộng khắp của các tầng lớp nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Để khắc phục những hạn chế nói trên, thời gian tới, cần “… tuyên truyền sâu rộng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước gắn với đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, hành động trong Đảng và nhân dân(14); qua đó, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc(15). Đồng thời, cần “chú trọng hơn giáo dục đạo đức, nhân cách, năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi, nhất là giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc tốt đẹp của người Việt Nam; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”(16)..../.

ST.


NHỮNG THÀNH TỰU LÝ LUẬN CHỦ YẾU CỦA ĐẢNG TRONG XÂY DỰNG, HOÀN THIỆN ĐUỜNG LỐI ĐỔI MỚI - NỘI DUNG CỐT LÕI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

  Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới 37 năm qua không chỉ là kết quả của việc vận dụng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mà còn là kết tinh của quá trình sáng tạo lý luận của Đảng, dân tộc, nhân dân ta. Những kết quả sáng tạo lý luận đó đã góp phần bổ sung, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, thể hiện trong các Cương lĩnh, nghị quyết, đường lối, chủ trương nói chung, trong đường lối đổi mới nói riêng và đó cũng là minh chứng cho thấy rõ ràng rằng, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quan trọng hàng đầu đưa cách mạng Việt Nam đạt được những thắng lợi vẻ vang.

Lý luận đổi mới Việt Nam là hệ mục tiêu, quan điểm, đặc trưng, phương hướng, các mối quan hệ lớn mang tính quy luật… xác lập mô hình phát triển Việt Nam trong thời kỳ mới, có ý nghĩa chỉ đạo toàn bộ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phấn đấu cho mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, thực hiện lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Lý luận đổi mới Việt Nam là sự bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện cụ thể Việt Nam thời kỳ mới; sự sáng tạo lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam bằng hình thức và phương pháp đổi mới, phù hợp quy luật khách quan, xuất phát từ thực tiễn dân tộc và xu thế thời đại; trên cơ sở chung đúc những bài học thành công và cả thất bại của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực trong thế kỷ XX và kế thừa có chọn lọc trên tinh thần phê phán các thành tựu, giá trị tư tưởng và khoa học của nhân loại.

Những thành tựu lý luận chủ yếu

Một làđường lối đổi mới xác định mục tiêu chủ nghĩa xã hội theo cả đặc trưng cấu trúc và chất lượng phát triển của chế độ xã hội chủ nghĩa của Việt Nam, mang bản sắc Việt Nam.

Trong quá trình đổi mới, Đảng đã xác định mô hình chủ nghĩa xã hội gồm 6 đặc trưng, rồi tiếp tục bổ sung, phát triển thành 8 đặc trưng, thể hiện những bước phát triển không ngừng trong nhận thức lý luận của Đảng về mô hình chủ nghĩa xã hội, đồng thời mục tiêu thứ nhất “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” cũng chính là mục tiêu tổng quát của chủ nghĩa xã hội Việt Nam. Từ những bài học và kinh nghiệm thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội theo đường lối đổi mới, đúng như nhận định của Đảng nêu ra tại Đại hội lần thứ X, nhận thức của chúng ta “về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ hơn; hệ thống quan điểm lý luận về công cuộc đổi mới, về xã hội xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã hình thành trên những nét cơ bản(1).

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm Công ty cổ phần giấy An Hòa tại xã Vĩnh Lợi, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang_Ảnh: TTXVN

Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) được thông qua tại Đại hội XI, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định, xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: 1- Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; 2- Do nhân dân làm chủ; 3- Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; 4- Có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; 5- Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; 6- Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; 7- Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; 8- Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.

Đánh giá chung 30 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Đại hội XIII của Đảng nhận định: “Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa”(2).

Hai là, phát triển lý luận mang tính đột phá về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Đó là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước; là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Tính hiện đại và hội nhập quốc tế của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta thể hiện ở chỗ kế thừa có chọn lọc những thành tựu phát triển kinh tế thị trường của nhân loại, kinh nghiệm tổng kết từ thực tiễn 37 năm đổi mới; hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách và các yếu tố thị trường, các loại thị trường đầy đủ, đồng bộ, vận hành thông suốt, gắn kết chặt chẽ với các nền kinh tế trên thế giới; vai trò, chức năng của Nhà nước và thị trường được xác định và thực hiện phù hợp với thông lệ, nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế phổ biến. Định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế được nhất quán xác lập và tăng cường thông qua sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, lấy con người làm trung tâm, vì con người và do con người; phát huy đầy đủ vai trò làm chủ của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác định có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố, phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển... Doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí then chốt và là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước. Phát triển doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh, trở thành nòng cốt. Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác, cạnh tranh cùng phát triển theo pháp luật. Khuyến khích làm giàu hợp pháp. Thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội.

Thực tế 37 năm đổi mới cho thấy, mối quan hệ ba bên giữa nhà nước, thị trường và xã hội ở Việt Nam luôn được Đảng, Nhà nước ta quan tâm, nhìn nhận là mối quan hệ đối tác, hợp tác, được quản lý, xây dựng, hoàn thiện từng bước nhằm góp phần phát triển nhanh, hội nhập sâu rộng và phát triển bền vững đất nước. Trong mối quan hệ này, Nhà nước có vị thế, vai trò rất quan trọng của cả một hệ thống tổ chức nhà nước gồm các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương để thực hiện quyền hành pháp, lập pháp và tư pháp, dưới sự lãnh đạo của Đảng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Trong khi đó, thị trường vận hành tuân theo quy luật, chủ yếu có vị thế, vai trò định hướng, quy định và điều tiết hành vi, hoạt động trao đổi, mua bán, giao dịch của các bên tham gia thị trường; trong đó, “nhà nước” dưới hình thức tổ chức là các cơ quan nhà nước và “xã hội” có thể đóng vai người mua, người tiêu dùng và cả người cung cấp những sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ nhất định.

Ba là, xây dựng, hoàn thiện lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là một trong những đóng góp lý luận quan trọng.

Trong quá trình đổi mới, việc chấp nhận mô hình Nhà nước pháp quyền ở nước ta cũng là một cuộc đấu tranh gay gắt trong đổi mới tư duy chính trị. Đại hội VI của Đảng mới chỉ manh nha hình thành các cụm từ “quản lý đất nước bằng pháp luật”, “từng bước bổ sung và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật để bảo đảm cho bộ máy nhà nước được tổ chức và hoạt động theo pháp luật”(3). Đến Đại hội VII, quan điểm đổi mới hoạt động của Nhà nước được bổ sung thêm nội dung: “Nhà nước Việt Nam thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, với sự phân công rành mạch  ba quyền đó”(4). Khái niệm “Nhà nước pháp quyền” lần đầu tiên được sử dụng trong Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (năm 1994). Tuy nhiên, đến Đại hội IX của Đảng (năm 2001), “xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” mới được coi là một trong những nhiệm vụ có tính chất chiến lược và xuyên suốt của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Tinh thần này được khẳng định trong Văn kiện Đại hội X, XI, XII, khi Đảng ta coi “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo” là một trong 8 đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang xây dựng. Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị”(5).

Bốn là, phát hiện và xác định các mối quan hệ lớn cần giải quyết trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Ngoài các phương hướng xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, Cương lĩnh năm 2011 còn bổ sung nội dung về việc nắm vững và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn: “Quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”(6).

Đến Đại hội XII (năm 2016), Đảng ta đã bổ sung thêm mối quan hệ lớn cần giải quyết trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ, đó là quan hệ giữa Nhà nước và thị trường; đồng thời đã điều chỉnh mối quan hệ giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa thành quan hệ giữa tuân theo quy luật của thị trường với bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; đến Hội nghị Trung ương 5 khóa XII, mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường được bổ sung thành quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội. Đến Đại hội XIII (năm 2021), Đảng Cộng sản Việt Nam bổ sung thêm mối quan hệ lớn thứ mười là: mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội.

Đến nay, Đảng ta đã xác định 10 mối quan hệ lớn cần tiếp tục nắm vững và xử lý tốt trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cụ thể là “quan hệ giữa ổn định, đổi mới và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ; giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội”(7).

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng cũng nhấn mạnh, đó là những mối quan hệ lớn, phản ánh các quy luật mang tính biện chứng, những vấn đề lý luận cốt lõi về đường lối đổi mới của Đảng ta, cần tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện và phát triển phù hợp với thay đổi của thực tiễn; đòi hỏi chúng ta phải nhận thức đúng và đầy đủ, quán triệt sâu sắc và thực hiện thật tốt, có hiệu quả(8). Mười mối quan hệ lớn là sự khái quát cao nhận thức lý luận của Đảng trên con đường thực hiện quá độ lên chủ nghĩa xã hội, góp phần làm sáng rõ thêm về các quy luật xây dựng chủ nghĩa xã hội Việt Nam, quy luật cầm quyền khoa học của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Năm là, hình thành lý luận về nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, được vận hành thông qua cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”; nhân dân làm chủ thông qua chế độ dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp.

Từ lý luận của V.I. Lê-nin về hệ thống chuyên chính vô sản, Đảng ta đã phát triển thành lý luận hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, từ nền chuyên chính vô sản thành nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Trong hệ thống chuyên chính vô sản, chức năng trấn áp giai cấp thống trị, đấu tranh giai cấp được nhấn mạnh thì trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa có bản chất, mục tiêu, động lực là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Hệ thống chính trị vận hành theo cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý cũng nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào sức dân để làm lợi cho dân và đấu tranh với các thế lực thù địch âm mưu phá hoại nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Cấu trúc của hệ thống chính trị gồm Đảng Cộng sản, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Nhân dân làm chủ thông qua chế độ dân chủ đại diện và chế độ dân chủ trực tiếp. Vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước là nhân tố và điều kiện cơ bản cho phát huy quyền làm chủ của nhân dân theo phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội có vai trò quan trọng trong đoàn kết, tập hợp, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, trong giám sát và phản biện xã hội. Đại đoàn kết toàn dân tộc là động lực chủ yếu để phát triển đất nước trên cơ sở liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội, của người Việt Nam trong nước và định cư ở nước ngoài.

Sáu là, phát triển lý luận về phát triển con người toàn diện, giải phóng con người khỏi mọi áp bức, bất công; lấy con người làm trung tâm gắn với xác định phát triển giáo dục, đào tạo là quốc sách hàng đầu; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước đi và từng chính sách phát triển; chú trọng bảo vệ môi trường.

Cương lĩnh năm 2011 xác định một trong những đặc trưng của chủ nghĩa xã hội là con người được giải phóng khỏi mọi áp bức, bất công, được sống tự do, mưu cầu hạnh phúc. Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể của phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân. Chăm lo xây dựng con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân, có tri thức, sức khỏe, lao động giỏi, có văn hóa, nghĩa tình, có tinh thần quốc tế chân chính. Nâng cao dân trí, phát triển nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam. Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo nhu cầu của xã hội, phát huy năng lực và phẩm chất của con người. Khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt trong phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, bảo vệ tài nguyên và môi trường, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tốc độ phát triển và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và nghĩa vụ công dân. Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước đi của công cuộc đổi mới và từng chính sách phát triển thông qua hệ thống phúc lợi xã hội tiến bộ, bền vững, chất lượng cao và hệ thống an sinh xã hội đa tầng, linh hoạt, tiến tới bao phủ toàn dân. Xây dựng quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp hài hòa, đoàn kết, cùng phát triển, bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi; thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc; tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo quy định pháp luật; tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Nghiêm trị mọi hành động kỳ thị, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo.

Bảy là, lý luận về đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ; là bạn, là đối tác tin cậy, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

Từ quan điểm về chủ nghĩa quốc tế vô sản, về quan hệ đối ngoại là sự mở rộng quan hệ đối nội ra ngoài biên giới quốc gia, đường lối đối ngoại phục vụ cho đường lối đối nội… của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Đảng ta đã bổ sung, phát triển thành đường lối đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế trong thời kỳ đổi mới. Đa dạng hóa được xác lập không chỉ bằng chính trị, mà trên tất cả các mặt kinh tế, văn hóa; ngay trong lĩnh vực chính trị, không chỉ quan hệ ngoại giao nhà nước mà cả đối ngoại đảng, đối ngoại nghị viện, đối ngoại quốc phòng, đối ngoại an ninh; ngoại giao văn hóa góp phần tăng cường sức mạnh mềm quốc gia; ngoại giao nhân dân được thúc đẩy, tăng cường; tất cả cùng tạo nên đa tầng mặt trận đối ngoại, ngoại giao để góp phần vào giữ vững hòa bình, ổn định, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội, phát huy vai trò, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Đa phương hóa được khẳng định bằng quan hệ với tất cả các nước trên thế giới vì hòa bình, dân chủ, hợp tác, phát triển; trong các tổ chức khu vực và quốc tế và tại các diễn đàn; là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Quan hệ quốc tế phát triển với nhiều tầng nấc ưu tiên, nhất là với các nước láng giềng, các nước lớn, các nước có quan hệ hữu nghị truyền thống, các nước xã hội chủ nghĩa, các dân tộc yêu chuộng hòa bình, tiến bộ,… Đa dạng hóa, đa phương hóa giúp Việt Nam tận dụng được các thời cơ phát triển trong trật tự thế giới biến động khó lường, giữ vững và phát huy cục diện tích cực đã xác lập, giữ vững hòa bình, ổn định, ngăn chặn nguy cơ chiến tranh, nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế.

Từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về quốc tế hóa, về độc lập dân tộc, Đảng ta đã phát triển thành quan điểm chủ động, tích cực hội nhập quốc tế gắn liền với giữ vững độc lập, tự chủ. Hội nhập quốc tế trong quan điểm của Đảng ban đầu chỉ giới hạn trên lĩnh vực kinh tế dần mở rộng hội nhập toàn diện trên các lĩnh phi kinh tế trên tinh thần chủ động, tích cực. Đó là chủ động đàm phán lộ trình hội nhập hợp lý, đặt ưu tiên hội nhập từng lĩnh vực, tích cực cải thiện, nâng cao về mặt nội lực để giành được lợi ích, không bị thua thiệt khi hội nhập quốc tế, đặc biệt là sửa đổi hệ thống luật pháp, chính sách, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, tạo các nguồn lực đối ứng bên trong để sử dụng có hiệu quả nguồn lực bên ngoài. Từ chủ động, tích cực hội nhập quốc tế tiến lên phấn đấu trở thành thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, kể cả tham gia gánh vác những nghĩa vụ quốc tế như cử quân đội tham gia giữ gìn hòa bình của Liên hợp quốc ở các điểm nóng có xung đột. Cùng với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế là tinh thần giữ vững độc lập, tự chủ: Đó là giữ vững đường lối, chính sách, luật pháp độc lập, không bị can thiệp bởi bên ngoài, kể cả quá trình sửa đổi, điều chỉnh cho phù hợp yêu cầu hội nhập quốc tế cũng phải chủ động, xuất phát từ nhu cầu bảo vệ và thúc đẩy lợi ích quốc gia - dân tộc. Đó là bảo đảm độc lập, tự chủ bằng tạo ra khả năng đan cài sâu rộng lợi ích nước ta với các nước khác, nhất là các nước lớn, theo phương châm đa dạng hóa, đa phương hóa. Đó là xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ bằng lựa chọn hợp lý và có giải pháp nâng cao vai trò chủ đạo kinh tế nhà nước, nhất là ở các lĩnh vực then chốt, thiết yếu, quan trọng về quốc phòng - an ninh, bảo đảm an sinh xã hội; tạo sức cạnh tranh cao của nền kinh tế, của doanh nghiệp, của các sản phẩm chủ lực; đưa hàng hóa nước ta tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Tập trung phát triển những doanh nghiệp “đầu đàn” đủ mạnh để dẫn dắt cả vốn, quản trị, công nghệ, chiếm lĩnh thị trường nội địa, thâm nhập sâu vào thị trường thế giới; nắm giữ được công nghệ lõi của một số ngành, lĩnh vực quan trọng; doanh nghiệp của Việt Nam phải chiếm thị phần hàng hóa bán buôn và bán lẻ trong nước, không để nước ngoài thao túng; có hệ thống “phòng vệ” hợp lý để bảo vệ sản xuất trong nước phù hợp với các cam kết quốc tế.

Tám là, xây dựng, hoàn thiện lý luận về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa từ sớm, từ xa với nội hàm rộng lớn bằng sức mạnh tổng hợp cả lực lượng vũ trang và phi vũ trang, gắn với xác định “đối tác” và “đối tượng” trong các bối cảnh, tình hình cụ thể.

Từ lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về quốc gia - dân tộc và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã bổ sung, phát triển nội hàm bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích chiến lược của đất nước phù hợp luật pháp quốc tế; bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ nhân dân; bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc. Tinh thần, ý chí là kiên trì, kiên quyết đấu tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Quan niệm về “đối tác” và “đối tượng” trong quan hệ quốc tế là bước phát triển mới từ quan niệm “đồng minh” và “kẻ thù” trong lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Đối tác và đối tượng đan xen nhau, chuyển hóa nhau, có khi trong đối tác có mặt đối tượng phải đấu tranh, có khi trong đối tượng có mặt đối tác cần phải hợp tác. Phương pháp đấu tranh bảo vệ Tổ quốc là đấu tranh bằng phương pháp hòa bình, phù hợp luật pháp quốc tế; đồng thời, nêu cao cảnh giác, tăng cường tiềm lực mọi mặt, sẵn sàng cho chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, đủ khả năng đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược. Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa bằng phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh tổng hợp của đất nước, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, lấy quân đội nhân dân và công an nhân dân làm nòng cốt. Sức mạnh tổng hợp được tạo ra bởi nền kinh tế mạnh, thế chiến lược trong cục diện khu vực và thế giới, khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững chắc, lực lượng vũ trang đủ khả năng răn đe để ngăn chặn chiến tranh, giữ vững hòa bình, sẵn sàng đánh bại mọi cuộc chiến tranh xâm lược. Kết hợp cả đấu tranh ngoại giao, tăng cường thực lực bên trong, kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng - an ninh, quốc phòng - an ninh với đối ngoại, triệt tiêu các nhân tố bên trong có khả năng gây mầm mống cho bên ngoài lợi dụng chống phá và xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, giữ vững môi trường hòa bình để phát triển bền vững đất nước. Ra sức tranh thủ mọi lực lượng tiến bộ trên thế giới, theo phương châm “thêm bạn bớt thù”. Không để chúng ta bị “kẹt” trong quan hệ giữa các nước lớn, nhất là khi có cạnh tranh quyết liệt; không để bị hiểu lầm liên kết với nước này chống nước khác. Thực hiện nền quốc phòng hòa bình tự vệ theo nguyên tắc “bốn không”: Không tham gia liên minh quân sự, không liên kết với nước này chống nước khác, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ nước ta, không sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực.

Một số bài học kinh nghiệm chủ yếu

Thứ nhất, phải luôn ý thức sâu sắc rằng, vấn đề giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong đường lối đổi mới dựa trên nền tảng học thuyết  Mác - Lê-nin có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, quyết định sự thành bại của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đó là bài học sâu sắc được rút ra từ chính thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta qua 37 năm đổi mới; cũng là bài học xương máu từ thất bại của các đảng cộng sản cầm quyền tại các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu trong những thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, khi chệch hướng về đường lối chính trị. Chính sự phát triển phức tạp và khó khăn của thực tiễn cách mạng cho thấy, vai trò và ý nghĩa to lớn của một lý luận khoa học và cách mạng dẫn đường. Ở đâu và lúc nào, công tác lý luận không được coi trọng đúng mức thì ở đó và khi đó, sẽ xảy ra tình trạng lạc hậu về lý luận, không đủ sức dẫn dắt thực tiễn, trước sau sẽ dẫn đến thất bại, đổ vỡ. Thực tiễn xác nhận, chỉ có xuất phát từ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tăng cường thực hành dân chủ, kịp thời và thường xuyên tổng kết kinh nghiệm thực tiễn cách mạng mới là con đường duy nhất đúng để phát triển và bảo vệ đường lối đổi mới, tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng không ngừng tiến lên.  

Diện mạo Thành phố Hồ Chí Minh sau 37 năm đổi mới_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn 

Thứ hai, tăng cường công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, bổ sung, hoàn thiện và phát triển đường lối đổi mới của Đảng trong bối cảnh mới. Chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc và có hệ thống những di sản tư tưởng, lý luận của các nhà kinh điển mác-xítcần khẳng định rõ những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời cũng phải xác định, làm rõ những luận điểm mới cần được phát triển, nhận thức lại hay bổ sung thêm vào đường lối đổi mới. Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện hệ thống lý luận, cung cấp những luận cứ khoa học, những dự báo cho quá trình phát triển đất nước, đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Phát hiện những mâu thuẫn, những vấn đề thực tiễn đang đặt ra, phân tích, chỉ rõ những xu hướng, tìm kiếm những bước đi phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam. Vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào thực tiễn Việt Nam; đồng thời, tiếp thu những thành tựu lý luận mới, tìm tòi những cơ sở lý luận để giải thích một cách khoa học những vấn đề thực tiễn nóng bỏng đang đặt ra trong giai đoạn phát triển tiếp theo. Đặc biệt là, trong quá trình bổ sung, phát triển đường lối đổi mới phải có tư duy phê phán và sáng tạo, dám đổi mới vượt qua những rào cản của tư duy lối mòn, cũ kỹ, cản trở sự phát triển của lý luận và thực tiễn.

Rõ ràng, đổi mới tư duy và lý luận là nhu cầu cấp thiết, nhưng phải trên cơ sở những nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Như C. Mác, Ph. Ăng-ghen đã chỉ rõ, cần tránh hai thái cực: hoặc đổi mới nhưng không kiên định lập trường, đổi mới vô nguyên tắc hoặc biến học thuyết của các ông trở thành giáo điều, tín điều nhất thành bất biến, coi đó chỉ là những chân lý có sẵn.  

Thứ ba, tiếp tục phát huy những kinh nghiệm quý báu mà Đảng ta đã đúc kết qua thực tiễn hơn 93 năm lãnh đạo cách mạng. Đó là: 1- Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ chặt chẽ với nhau; 2- Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Chính nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử. Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân. Quan liêu, tham nhũng, xa rời nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa và của Đảng; 3- Không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: Đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Đó là truyền thống quý báu và là nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng nước ta, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công; 4- Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế. Trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng kiên định ý chí độc lập, tự chủ, nêu cao tinh thần hợp tác quốc tế, phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ ngoại lực, kết hợp yếu tố truyền thống với yếu tố hiện đại; 5- Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng không có lợi ích nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phấn đấu vì hạnh phúc của nhân dân. Đảng phải nắm vững, vận dụng sáng tạo, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng làm giàu trí tuệ, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực tổ chức để đủ sức giải quyết các vấn đề ngày càng nặng nề, phức tạp mà thực tiễn cách mạng, sự phát triển của đất nước đang đặt ra trong bối cảnh mới.

Thứ tư, kiên quyết đấu tranh, vạch trần và bác bỏ những luận điệu sai trái, xuyên tạc về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, về mô hình chủ nghĩa xã hội, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta. Trong cuộc đấu tranh này, chúng ta cần cảnh giác, không rơi vào giáo điều, nhưng cũng cần phải tỉnh táo, chống lại những mưu toan nhằm xét lại, bác bỏ những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những nội dung cốt lõi trong đường lối đổi mới của Đảng ta. Ngày nay, trong khi tiếp tục đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới cả bề rộng lẫn chiều sâu, với tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp mới, tiềm ẩn nhiều bất trắc khó lường, những vấn đề mới đặt ra ngày càng nhiều, đòi hỏi cần phải làm sáng tỏ, thì việc tổng kết thực tiễn, vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận càng trở nên cấp bách. Mặt khác, các thế lực thù địch vẫn ráo riết thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” hòng làm chúng ta đi chệch hướng, mưu toan thay đổi chế độ chính trị ở nước ta, thì việc đấu tranh bảo vệ, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ đường lối đổi mới của Đảng càng trở thành nhiệm vụ hàng đầu và thường xuyên trong công tác chính trị, tư tưởng và lý luận của Đảng ta.

Thứ năm, bảo đảm tính độc lập, tự chủ, sáng tạo trong xây dựng, bổ sung, phát triển, hoàn thiện đường lối đổi mới. Kinh nghiệm lãnh đạo cách mạng nước ta của Đảng Cộng sản Việt Nam cho thấy, cần giữ vững được tính độc lập, tự chủ, sáng tạo trong việc vận dụng, bổ sung, phát triển đường lối, trên cơ sở tiếp thu một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán những thành quả văn minh của nhân loại, những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học vào thực tiễn đất nước thì cách mạng thu được thắng lợi. Đây cũng là vấn đề quan trọng hàng đầu trong việc giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, để “tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường đồng thuận xã hội, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, niềm tin, khát vọng cống hiến và xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, hạnh phúc; góp phần thực hiện thành công mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(9)./.

ST.

Sự thật về “ngày hội trở về” của RISE

Đến hẹn lại lên, những ngày cuối năm 2023, các đối tượng cộm cán của RISE – một tổ chức ngoại vi của Việt Tân, lại lên mạng xã hội kêu gọi tham dự cái gọi là chương trình “Ngày hội trở về phong trào xã hội và một số định hướng đáng chú ý của RISE trong thời gian tới”. Chương trình được nêu sẽ tổ chức vào đầu tháng 12/2023. Để quảng bá cho hoạt động của chương trình, trên các trang mạng xã hội, RISE đưa đậm các hình ảnh sự kiện “Ngày hội trở về phong trào xã hội và một số định hướng đáng chú ý của RISE trong thời gian tới” (gọi tắt là SMF) sẽ diễn ra tại Nhật Bản và online; đồng thời đưa ra nhiều thông tin để đánh bóng sự kiện này nhằm thu hút nhiều người tham gia. Đây là lần thứ 2 RISE tổ chức cái gọi là “Ngày hội trở về phong trào xã hội và một số định hướng đáng chú ý của RISE trong thời gian tới”. Liên quan đến RISE, trước đó Báo CAND đã đăng tải các thông tin về tổ chức này. Là “sân sau” của tổ chức phản động lưu vong Việt Tân, mục đích, ý đồ của RISE và các đối tượng cộm cán sẽ không thay đổi. Đó là việc triệt để khai thác các vấn đề, vụ việc được dư luận xã hội quan tâm nhằm kích động tư tưởng, quan điểm phản kháng đối với các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước; từng bước hình thành các điểm “nóng” về an ninh, trật tự, làm tiền đề cho các cuộc “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”… Đây cũng chính là ý đồ, phương thức, thủ đoạn nằm trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Để thấy rõ được mục đích sâu xa của RISE khi thực hiện chương trình này, cần nhìn lại chương trình lần đầu tiên do các đối tượng tổ chức vào cuối năm 2022 với tên gọi “Ngày hội trở về phong trào xã hội”. Chương trình diễn ra từ ngày 5 đến 6/11/2022 do RISE phối hợp với các cơ quan, tổ chức Open Culture. Theo tìm hiểu của chúng tôi, chương trình này được tổ chức thành 3 phiên gồm: Hội thảo công khai bằng hình thức trực tuyến thông qua ứng dụng zoom dành cho cái gọi là “các nhà hoạt động dân sự” ở trong và ngoài nước với chủ đề “Tiềm năng phong trào xã hội: Bài học từ các biến động xã hội”. Tại phiên hội thảo công khai có khoảng 50 đối tượng tham gia, tập trung trao đổi về các chủ đề như chính sách, pháp luật, tình hình chính trị, xã hội ở Việt Nam và chia sẻ kinh nghiệm thúc đẩy “phong trào xã hội”. Trong phiên họp này, đã có một số dự án của một số hội, nhóm, tổ chức xã hội dân sự ở trong nước được trình bày. Đồng thời, các đối tượng cũng lên kế hoạch xây dựng các mô hình hỗ trợ đối với “phong trào địa phương” mới nổi lên ở Đông Nam Á. Trong chương trình này, còn có một hoạt động là “Bàn tròn NGO – CSO” do Trinh Nguyễn – thành viên cốt cán của RISE điều phối cùng sự tham gia của một số trường hợp khác. Trong quá trình này, các đối tượng đã lên kế hoạch hỗ trợ đối với “phong trào địa phương” mới nổi ở Đông Nam Á. Chương trình có sự tham gia của các đối tượng cốt cán của Việt Tân như Hoàng Tứ Duy, đối tượng tự phong là “Tổng Bí thư Việt Tân”; Hà Đông Xuyên là “phát ngôn viên Việt Tân”… tham gia điều phối chương trình, đồng thời giám sát chỉ đạo trực tuyến từ xa. Hoàng Tứ Duy, bí danh Đoàn Quốc Huy, sinh ngày 29/11/1971, quốc tịch Mỹ, hiện giữ vai trò “Tổng Bí thư Việt Tân”. Hoàng Tứ Duy xuất thân trong gia đình có người thân là các đối tượng cầm đầu Việt Tân (bố của y là Hoàng Cơ Định, nguyên “Ủy viên trung ương Việt Tân”) nên có ý thức chống đối sâu sắc, đối tượng đã sớm gia nhập Việt Tân và tham gia tích cực vào các hoạt động chống phá Việt Nam. Quá trình tham gia Việt Tân, Hoàng Tứ Duy có nhiều hoạt động chống Đảng, Nhà nước Việt Nam hết sức cực đoan, nguy hiểm; cầm đầu các tổ chức ngoại vi của Việt Tân như: “Ủy ban vận động chính trị người Mỹ gốc Việt”, “Liên minh Việt Nam tự do”, “Diễn đàn tuổi trẻ và tương lai Việt Nam”…, lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo, cản trở các hoạt động ngoại giao của Việt Nam. Hà Đông Xuyến, bí danh Nguyễn Duy Nhiên, sinh ngày 23/9/1965, quốc tịch Mỹ, hiện giữ vai trò là phát ngôn viên Việt Tân. Tham gia Việt Tân từ năm 1997, Hà Đông Xuyên có tư tưởng chống đối sâu sắc, giữ vai trò quan trọng trong tổ chức, thường xuyên liên lạc, chỉ đạo số đối tượng trong nước tiến hành các hoạt động chống phá Việt Nam. Thực chất, mục đích của các đối tượng khi thực hiện chương trình này là nhằm tăng cường tổ chức các khoá đào tạo về phong trào xã hội cho giới hoạt động dân sự; đánh bóng vai trò, xây dựng hình ảnh RISE như là tổ chức hoạt động nổi bật, hiệu quả. Từ đó, gia tăng khả năng thu hút vận động tài trợ từ Chính phủ Mỹ, phương Tây và các tổ chức NGO quốc tế… Sau đó, sẽ tổ chức khóa đào tạo để lôi kéo người tham gia mở rộng quy mô và tổ chức. Trong năm 2022, có hai đối tượng tham gia là N.X.H, người đồng sáng lập hiệp hội lái xe tại một tỉnh; trường hợp khác là một người lao động tự do tại Hà Nội. Song sau một thời gian tham gia, đến thời điểm này, hai trường hợp trên đã hiểu được bản chất của chương trình, tự nguyện từ bỏ tham gia vào các hoạt động của RISE. Không ít đối tượng vì nhẹ dạ, cả tin, tham gia vào hoạt động này đã phải trả giá đắt về hành vi phạm tội đã gây ra. Điển hình như trường hợp của Lê Quốc Anh (SN 1991, ngụ phường 9, TP Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang). Liên quan đến sự việc trên, ngày 28/11, Công an tỉnh Tiền Giang cho biết, Cơ quan An ninh điều tra đã ra quyết định truy nã đặc biệt đối với Lê Quốc Anh về hành vi “Làm, tàng trữ, phát tán, tuyên truyền thông tin, tài liệu nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” theo Điều 117, Bộ luật Hình sự 2015. Trước đó, Lê Quốc Anh đã bị số cầm đầu RISE móc nối tham gia các khóa huấn luyện trực tuyến về “xã hội dân sự”, từng bước lôi kéo Lê Quốc Anh tham gia tổ chức. Sau đó, Lê Quốc Anh thường xuyên liên lạc, nhận tiền tiến hành các hoạt động chống Đảng, Nhà nước theo chỉ đạo của số cầm đầu RISE. Đề cao cảnh giác, không đăng ký tham gia vào các hoạt động trực tiếp và online của RISE Từ đầu tháng 10/2023, trên trang thông tin của hội nhóm, RISE đã bắt đầu quảng bá cho sự kiện các đối tượng chuẩn bị tổ chức vào tháng 12/2023. Theo quảng bá của các đối tượng thì hội thảo sẽ là bàn tròn, tạo không gian để các bên liên quan trong vấn đề xuất khẩu lao động, người lao động, môi giới, các tổ chức bảo vệ người lao động, doanh nhân ngồi lại với nhau cùng thảo luận làm sao để “xây dựng cộng đồng vững mạnh hơn”. Rồi đến với SMF 2023, các nhà “hoạt động xã hội” và tổ chức NGOs có nhiều kinh nghiệm tại Việt Nam và Đông Nam Á sẽ cùng nhau làm việc, chia sẻ các sáng tạo và xu hướng mới trong lãnh đạo phong trào xã hội trong khu vực… Trên thực tế, việc RISE tổ chức hội thảo SMF 2022 về “Tiềm năng phong trào xã hội – Bài học từ các biến động xã hội” với sự tham gia của nhiều thành phần, tầng lớp xã hội trong và ngoài nước nhằm khuếch trương thanh thế, vinh danh tổ chức, đẩy mạnh triển khai các khoá huấn luyện về “phong trào xã hội” trên không gian mạng. Qua đó lựa chọn, từng bước thúc đẩy, kích động “phong trào chính trị”, “bất tuân dân sự” ở trong nước; hướng đối tượng là số sinh viên, học sinh, người lao động, người nghèo trong xã hội để lôi kéo tham gia, tạo dựng ngọn cờ cho phong trào xã hội… Đây thực chất là một trong những chương trình hoạt động trọng tâm của RISE vào năm 2023. Với hoạt động này, mục đích của các đối tượng là thu hút sự quan tâm, chú ý của những người tự nhận mình là dân chủ và các tổ chức phản động lưu vong. Khi tham gia, nhiều cá nhân không thể hiểu được mục đích sâu xa của các đối tượng, sẽ bị hướng lái, tham gia vào các hoạt động vi phạm pháp luật, phạm tội.

Lật tẩy bản chất của tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”

Với các hoạt động chống phá nhằm lật đổ chính quyền, phá hoại sự ổn định phát triển của đất nước bằng bạo động, vũ trang, tháng 1/2018, Bộ Công an đã thông báo “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” là một tổ chức khủng bố. Cùng với công tác đấu tranh, xử lý, các đơn vị nghiệp vụ của Bộ Công an phối hợp với Công an các đơn vị, địa phương đã tuyên truyền, giải thích để người dân hiểu được bản chất của tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”. Đến thời điểm này, nhiều đối tượng từng là thành viên cốt cán của tổ chức và một số người từng bị lôi kéo đã từ bỏ, không tham gia vào tổ chức. Bài 1: Khi những người trong cuộc bỏ “cuộc chơi” Trong khoảng 4 năm (từ năm 2015-2019) những người theo dõi tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” chắc hẳn đều biết các đối tượng cốt cán, đứng sau Đào Minh Quân là những cái tên như Quách Thế Hùng; Kelly Triệu (Triệu Thanh Hoa) và Nguyễn Đức Thắng… Song đến thời điểm này, các đối tượng này đều đã từ bỏ tổ chức. Quy y cửa Phật, nhận ra sai lầm Một trong số đó là Kelly Triệu hay Kelly Triệu Thanh Hoa. Kelly Triệu còn có tên là Nguyễn Thị Ngọc Huỳnh (SN 1968, sống tại Westminster, California, Mỹ). Sau một thời gian hoạt động, đến thời điểm này, Huỳnh đã từ bỏ tổ chức, tìm đến cửa Phật như một sự giải thoát!. Vì sao một đối tượng cầm đầu, cốt cán của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” lại tự rời bỏ nếu tổ chức này có “thực lực” như những lời Đào Minh Quân vẫn ra rả tuyên truyền trên mạng xã hội. Để lý giải cho vấn đề này, trước hết phải lật ngược lại thời gian khi Huỳnh tham gia vào tổ chức. Khoảng tháng 2/2012, trong quá trình làm từ thiện tại một số thành phố ở bang California, Huỳnh quen biết và được Sloan Trương, đại biểu của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” tại Garden Grove, kiêm phụ trách cái gọi là “Ban tài chính” tuyên truyền, giới thiệu, lôi kéo tham gia vào tổ chức. Trước đó, bố Huỳnh từng là đại uý cảnh sát của chế độ Việt Nam cộng hoà nên khi nhận thấy tôn chỉ, mục đích hoạt động của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” là lật đổ chế độ cộng sản ở Việt Nam, khôi phục chế độ Việt Nam Cộng hoà, phù hợp với mong muốn và nguyện vọng của Huỳnh nên bà ta đã đồng ý tham gia tổ chức này. Sau đó, Huỳnh được Nguyễn Đức Thắng (SN 1951, sống tại Mỹ), đối tượng được phong là Thiếu tướng, Tổng Cục trưởng Tổng cục tiếp vận của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”, nguyên Chánh văn phòng “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” hướng dẫn cách viết đơn và hoàn tất các thủ tục gia nhập tổ chức, với bí danh “Kelly Triệu Thanh Hoa”; phân công làm “Đại biểu của Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” tại Westminter. Tháng 7/2016, Huỳnh được “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” phong cấp hàm chuẩn tướng, phân công nhiệm vụ phụ trách thanh niên. Không lâu sau đó, đối tượng được bổ nhiệm giữ chức vụ Giám đốc Nha nhân viên – Bộ Quốc phòng. Dưới sự chỉ đạo của Đào Minh Quân, Huỳnh đã thực hiện hàng loạt các hoạt động chống phá quyết liệt. Cụ thể, đối tượng sử dụng mạng xã hội, móc nối, lôi kéo hơn 30 người tham gia vào tổ chức này; đồng thời thường xuyên sử dụng 2 tài khoản Facebook “Kelly Trieu” và “Thanh Hoa Trieu” để đăng tải, chia sẻ các bài viết, vi deo, hình ảnh có nội dung tuyên truyền về đường lối hoạt động của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”; ca ngợi, suy tôn hình ảnh Đào Minh Quân; kêu gọi người dân đăng ký tham gia “Trưng cầu dân ý”; bầu Đào Minh Quân làm “Tổng thống Đệ tam Việt Nam cộng hoà”. Chìm đắm trong “giấc mộng” do Quân và một số đối tượng dựng lên trong khoảng 10 năm, khoảng năm 2018, Huỳnh phát hiện Quân và số cốt cán của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” lập các công ty giả để kêu gọi thành viên đóng góp cổ phần chỉ nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản. Cùng với đó là những bức xúc, bất mãn âm ỉ đã dồn góp lâu ngày do đã đóng góp nhiều tiền, công sức cho hoạt động của tổ chức nhưng không được ghi nhận công trạng nên đối tượng đã chủ động chấm dứt liên hệ, gặp gỡ với các thành viên của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” và xuất gia, đi tu. Năm 2022, dưới tên được “cha sinh, mẹ đẻ” đặt là Huỳnh, đối tượng tìm về quê hương, đất nước. Gần đây nhất, vào ngày 29/8, Huỳnh tiếp tục về Việt Nam để tham dự lễ ” Tự tứ kế khoá an cư kiết hạ” (lễ ra hạ/làm từ thiện tại TP Hồ Chí Minh). Để tránh bị liên luỵ do Bộ Công an đã công bố tên Kelly Triệu là thành viên tổ chức khủng bố “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” trên cổng thông tin điện tử; đồng thời cũng muốn quên đi quá khứ, đối tượng đã sử dụng tên là Huỳnh làm thủ tục nhập cảnh về nước. Dẫu là muộn nhưng “có vẫn còn hơn không”! Ngoài Huỳnh, một số đối tượng từng là thành viên cốt cán trong bộ máy của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” trước đây cũng tuyên bố ly khai khỏi tổ chức như Quách Thế Hùng, Đại tướng, Chủ tịch hội đồng quốc lão, kiêm Phó tổng Tư lệnh quân lực Việt Nam Cộng hoà; Nguyễn Đức Thắng, Thiếu tướng, Tổng cục trưởng Tổng cục tiếp vận “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” (nguyên Chánh văn phòng “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”); Trần Trưng Nguyệt Ánh, Chuẩn tướng, Thứ trưởng Bộ An sinh xã hội; Nguyễn Huy Hoàng, Đại tá, Chánh Văn phòng “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”; Đỗ Đức T, Đại tá, tuỳ viên quân sự; Tuệ Lan, Chủ tịch hội đồng tôn giáo. Còng lưng trả nợ vì nghe theo kẻ “tâm thần chính trị” Đó là câu chuyện của Quách Thế Hùng (SN 1948), một đối tượng cốt cán từng chống cộng quyết liệt. Hùng mang quốc tịch Mỹ, là bác sĩ, đi du học ở Mỹ năm 1974. Đối tượng từng tham gia lễ kỷ niệm “Ngày thành lập quân lực Việt Nam cộng hoà” tại “Tụ nghĩa đường” Mỹ nhằm “Tưởng niệm quân đội Việt Nam cộng hoà đã hy sinh vì lý tưởng tự do”. Thông qua đó, Hùng và các đối tượng đã tuyên truyền, khuyếch trương về hoạt động của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”; kêu gọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước tham gia chương trình “Trưng cầu dân ý” đợt 2 bầu Quân về nước làm Tổng thống “Đệ tam Việt Nam cộng hoà” nhằm “giải thể” Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Hùng còn tham gia tuyên truyền cái gọi là “Thi đua truyền thống quốc tế” với nội dung gồm thuyết trình các phim, ảnh, tư liệu về tiểu sử Quân; xây dựng các bài viết ca ngợi tinh thần “đấu tranh” của các thành viên trong nước; biên soạn tài liệu, sách, báo giới thiệu về “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”… Không dừng lại ở đó, Hùng còn cùng đồng bọn xây dựng tượng đài Hoàng đế Quang Trung – Nguyễn Huệ tại “Tụ nghĩa đường”; xuyên tạc chính quyền Việt Nam “hèn nhát” không dám đề cập đến sự kiện lịch sử liên quan đến các cuộc xâm lược của Trung Quốc; ủng hộ Quân và “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” về Việt Nam tiếp quản chính quyền, lật đổ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Hùng cùng các đối tượng cốt cán đẩy mạnh công tác tuyên truyền; phá hoại tư tưởng. Đối tượng còn triệt để lợi dụng việc trong nước tiến hành Đại hội Đảng lần thứ XIII; bầu cử quốc hội khoá XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026; tình hình dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp để tán phát hàng nghìn tài liệu, bài viết, video nói xấu lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tuyên truyền, xuyên tạc tình hình bầu cử, tình hình chống dịch tại Việt Nam; kêu gọi nhân dân tẩy chay bầu cử, tẩy chay việc tiêm vaccine của Trung Quốc. Song đến thời điểm này, Hùng đã không tham gia tổ chức. Từng là những đối tượng hoạt động tích cực; tham gia với vai trò điều hành, cốt cán, vì sao các đối tượng cầm đầu tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” lại từ bỏ tổ chức”?

 NHẬN DIỆN VÀ PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CHÍNH SÁCH QUỐC PHÒNG CỦA VIỆT NAM 

     Trong thời gian qua, các thế lực thù địch đã công kích, xuyên tạc chính sách quốc phòng – không liên minh quân sự của Đảng, Nhà nước ta. Đặc biệt, chúng còn nêu những “đề xuất”, “kiến nghị” đòi thay đổi chính sách quốc phòng của Việt Nam.

     1. Nhận diện các quan điểm sai trái, xuyên tạc chính sách bốn không của các thế lực thù địch.

     Về nội dung: Những quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch về chính sách không liên minh quân sự của Việt Nam. Các thế lực thù địch cho rằng, chính sách “không liên minh quân sự là tự trói mình” không chỉ dẫn đến mất lãnh thổ, đe dọa đến an ninh tổng thể của Việt Nam. Họ cho rằng, Việt Nam cần liên minh với một nước lớn như: Mỹ, Nga, Nhật,.... thì sẽ được sự hỗ trợ tối đa về quân sự, vũ khí, lực lượng quân đội đến trợ giúp bảo về chủ quyền lãnh thổ, biên giới, biển, đảo quốc gia.

     Các thế lực thù địch cho rằng, Đảng và Nhà nước Việt Nam thực hiện chính sách quốc phòng không liên minh quân sự thì chúng ta dễ bị cô lập trước những tình huống nguy hiểm.

     Về bản chất của các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch

     Có thể nói, không thuần túy là kêu gọi liên minh quân sự cho Việt Nam, mà mục đích sâu xa là kích động dư luận xã hội gây áp lực với Đảng, Nhà nước và Quân đội nhân dân Việt Nam nhằm tạo nên những bất ổn, tiêu cực về quốc phòng, an nin, gây mất ổn định chính trị, phá vỡ nền hòa bình, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đó mới chính là mục đích thực sự chúng.

     2. Luận cứ phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch về chính sách quốc phòng – “không liên minh quân sự” của Việt Nam.

     Thứ nhất, Xét về tính hai mặt của vấn đề liên minh quân sự với nước khác. Liên minh quân sự là sự liên kết hoạt động quân sự giữa hai hoặc nhiều nước hay tập đoàn chính trị trên cơ sở thống nhất về mục đích và lợi ích. Liên minh quân sự có thể tổ chức thành khối quân sự hoặc chỉ là đơn vị chiến đấu chung. Tùy thuộc vào mục đích chính trị, liên minh quân sự có thể là tiến bộ hay phản động, tự vệ hay xâm lược. Nhân loại đã từng biết đến nhiều kiểu loại và cấp độ liên minh quân sự khác nhau: Có liên minh nhằm bảo vệ hòa bình, tự vệ, chống xâm lược; có liên minh để xâm lược, nô dịch quốc gia khác; có liên minh giữa các lực lượng, các dân tộc hoặc giữa các quốc gia, các khu vực; có liên minh ở dạng gián tiếp, hỗ trợ, răn đe; có liên minh dạng trực tiếp tham chiến. Ngoài ra, còn có cả liên minh quân sự dựa trên sự hòa hoãn tạm thời, thậm chí trong một số tình huống cụ thể, liên minh còn là “vỏ bọc” để nước này bất ngờ tấn công một nước khác.

     Chúng ta thấy rằng, không liên minh quân sự là chủ trương đúng đắn, quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Đó là cơ sở quan trọng để chúng ta đấu tranh bác bỏ ý kiến sai trái kêu gọi Việt Nam phải liên minh quân sự để bảo vệ Tổ quốc.

Xét về tính hai mặt của vấn đề liên minh quân sự, mặt tích cực, liên minh quân sự có thể làm gia tăng sức mạnh quân sự, quốc phòng; tạo sự chuyển hóa về thế trận và lực lượng quân sự trên chiến trường để thực hiện các chiến lược chiến tranh hay chiến dịch quân sự cả trong tiến công và phòng ngự; tạo thêm uy tín, vị thế và sức mạnh cho quốc gia tham gia liên minh.

     Tuy nhiên, xét về mặt tiêu cực, liên minh quân sự trực tiếp khiến căng thẳng gia tăng, làm xuất hiện tình trạng đối đầu giữa các nước trong và ngoài liên minh, nhất là khi giữa các nước, các khối quân sự vốn có những mâu thuẫn về lợi ích. Khi hai quốc gia cùng tham gia một liên minh có thể bị một nước thứ ba coi đó là hành động thù địch và hệ quả rất khó lường. Đây là nguyên nhân dẫn đến việc các nước, các khối quân sự công khai hoặc ngầm gia tăng tiềm lực, thực lực, chạy đua vũ trang, tăng cường sự hiện diện quân sự, đẩy mạnh các hoạt động khiêu khích, tạo cớ; kéo quốc gia, khu vực và cả nhân loại đến gần hiểm họa chiến tranh. Ngoài ra, nếu tham gia liên minh quân sự có thể dẫn đến nguy cơ bị tấn công bất ngờ bởi chính các đồng minh nếu chủ quan, lơ là, mất cảnh giác. Trong khi thực tế không có nước nào chấp nhận hy sinh lợi ích của dân tộc mình vì lợi ích của nước khác, kể cả nước đó là đồng minh chiến lược của mình. Thêm nữa, nguyên nhân dẫn đến xung đột, leo thang quân sự ở nhiều nơi trên thế giới xuất phát từ việc chính phủ và người dân ở những nơi này không đề cao nguyên tắc độc lập dân tộc, quyền tự quyết của quốc gia, mà lại trông chờ sự cứu giúp của các lực lượng bên ngoài. Đằng sau sự giúp đỡ tưởng như vô tư đó là hàng loạt toan tính, mưu đồ, tham vọng về lợi ích, quyền lực của các cường quốc.

     Thứ hai, sức mạnh của bảo vệ Tổ quốc của một dân tộc không phải dựa vào liên minh quân sự mà phải dựa vào sức mạnh dân tộc đoàn kết, có nền quốc phòng toàn dân, sức mạnh độc lập, tự lực, tự cường. Lịch sử đã chứng minh, Việt Nam chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược bởi chúng ta có một thứ “vũ khí” vô cùng quan trọng, đó là nhân tố chính trị - tinh thần to lớn, lòng yêu nước nồng nàn với niềm tin bất duyệt “toàn dân là lính” của dân tộc.

     Có thể nói, Việt Nam xây dựng nền quốc phòng dựa trên sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị, lấy sức mạnh nội lực của dân tộc là chính, coi trọng xây dựng nhân tố chính trị, tinh thần, sự đoàn kết thống nhất, cả nước đồng lòng, toàn dân một ý chí. Đó chính là việc quy tụ “ý Đảng, lòng dân”, xây dựng “thế trận lòng dân”, “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc là thượng sách giữ nước”. Phát huy sức mạnh chính nghĩa thống nhất với bản chất tốt đẹp của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc và lòng nhân ái, khoan dung của người Việt Nam được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử. Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam là một minh chứng điển hình cho việc phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường trong đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc.

     Hiện tại, chúng ta thấy được mối nguy hại khi dựa vào liên minh quân sự từ cuộc chiến của Ukraina với Nga. Chiến sự xảy ra, tổng thống Volodymyr Zelensky không thể phát huy tiềm lực quốc phòng nội tại của quốc gia, mà ông trông chờ sự giúp đỡ của khối liên minh quân sự (Tổ chức hiệp ước Bắc Đại Tây Dương - NATO). Từ đó dẫn đến nước Ukraina thảm hại.

     Qua vấn đề Ukraina hiện tại, chúng ta có quyền khẳng định sách quốc phòng của Việt Nam hoàn toàn đúng đắn, chúng ta không trông chờ vào sự liên minh sự với các quốc gia, nước lớn trên thế giới mà Việt Nam phải khẳng định được sức mạnh nội lực của một nền quốc phòng toàn dân trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.

     Thứ ba, không tham gia liên minh quân sự, bởi quốc phòng Việt Nam mang tính chất hòa bình, tự vệ.

     Việt Nam kiên trì đường lối quốc phòng với mục đích tự vệ và tính chất hòa bình, chính nghĩa, tiến bộ, phù hợp với quyền cơ bản của các quốc gia theo nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc.

Đồng thời, Việt Nam cũng quyết lên án, phán đối các hành động gây hấn, xung đột, chạy đua vũ trang của các nước. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng chủ trương không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, tránh những va chạm không cần thiết, giữ vững quan điểm, không để các đối tượng bên ngoài kích động, thỏa hiệp với nhau để xâm phạm lợi ích quốc gia – dân tộc.

     Từ những luận cứ phản bác nêu trên, chúng ta thấy, chính sách quốc phòng của Đảng, Nhà nước ta hoàn toàn đúng đắn, phù hợp, bảo đảm vùa giữ vững độc lập, tự chủ, tự cường, vừa bảo được thế cân bằng trong quan hệ quốc tế, không để đất nước rơi vào tình trạng cạnh tranh, giành ảnh hưởng của các nước lớn, nhất là không để bị rơi vào thế phải liên minh với một quốc gia để chống lại quốc gia khác dẫn đến những tác động tiêu cự đến quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, Việt Nam phải tranh thủ tối đa sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế trong sự nghiệ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.



TÌM HIỂU GIÚP BẠN: MỘT CÂU CHUYỆN NHỎ, NHIỀU Ý NGHĨA LỚN!

     Hồ Chí Minh là tấm gương ngời sáng về nhân sinh quan cách mạng. Người không chỉ là người thầy của giai cấp công nhân Việt Nam, là nhà văn hóa lớn của dân tộc Việt Nam, mà còn là nhà văn hóa lớn của nhân loại!

Tôi đã được đọc, được nghe kể rất nhiều câu chuyện về tấm gương đạo đức cách mạng của Bác, nhưng có một câu chuyện mà tôi luôn nhớ. Câu chuyện này tôi được nghe kể lại từ một cụ cán bộ cách mạng lão thành, về một trong vài lần hiếm hoi ông được trực tiếp làm việc với Bác.

Chuyện kể rằng: “Một lần ông được làm việc trực tiếp với Bác. Trong lúc làm việc, ông thèm hút thuốc lá vì thói quen không bỏ được. Ông đã xin phép và được Bác bằng lòng. Sau khi hút xong điếu thuốc, tiện tay ông liệng luôn mẩu thuốc vào góc phòng. Thấy vậy, Bác nhẹ nhàng đứng dậy nhặt mẩu thốc bỏ vào gạt tàn trên bàn và ôn tồn nói: Vậy là chú chưa tôn trọng công lao động của các chị lao công”.

Chỉ một lời nhắc nhẹ nhàng, một câu chuyện nhỏ, song trong đó chứa đựng những bài học có ý nghĩa to lớn.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Bác luôn quan tâm tới công tác cán bộ, vì theo Người: “Cán bộ là gốc của cách mạng, công tác cán bộ là công việc gốc của Đảng” nên Người yêu cầu phải xây dựng cho được một đội ngũ cán bộ, công chức có chất lượng trong công tác, có trình độ chuyên môn và tính chuyên nghiệp cao. Đồng thời, Người cũng luôn nhắc nhở cán bộ rèn luyện đạo đức cách mạng, nâng cao ý thức tổ chức, nâng cao tinh thần và ý thức phục vụ nhân dân. Do vậy, trong suốt cuộc đời hoạt động, Bác luôn nhắc nhở, giáo dục, dù đó chỉ là những sai sót nhỏ, những hành vi xấu của những cán bộ làm việc bên Bác. Bởi vì một sai sót nhỏ, nếu không sửa chữa ngay sẽ gây hậu của lớn./.
Yêu nước ST.