Thứ Ba, 12 tháng 12, 2023

MÙA XUÂN MỚI CHO QUAN HỆ VIỆT NAM - TRUNG QUỐC!

 Hôm nay (12-12), nhân dân hai nước Việt Nam - Trung Quốc hân hoan chào đón một sự kiện mang nhiều ý nghĩa và niềm hy vọng khi Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và phu nhân thăm cấp Nhà nước đến Việt Nam theo lời mời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và phu nhân, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng và phu nhân.

Những ngày cuối cùng của năm 2023 đang dần trôi qua mang theo nhiều tín hiệu vui với Việt Nam và Trung Quốc - hai quốc gia láng giềng có tài sản chung quý giá là tình hữu nghị truyền thống lâu đời. Mặc dù chịu tác động của tình hình thế giới biến đổi nhanh và dịch Covid-19, song Trung Quốc vẫn đạt được những thành tựu mang tính lịch sử, đáng nể phục trên nhiều lĩnh vực. Sức ảnh hưởng của Trung Quốc đối với nhiều vấn đề quốc tế và tại các diễn đàn quốc tế lớn cũng được nâng cao nhờ các hình thức đối ngoại đa dạng và những sáng kiến mà nước này đưa ra.

Cùng với sự phát triển của Trung Quốc, từ đầu nhiệm kỳ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đến nay, Việt Nam cũng đạt nhiều kết quả quan trọng trên các lĩnh vực, trong đó có phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN), xây dựng, chỉnh đốn Đảng; tiếp tục đóng góp tích cực, có trách nhiệm, có uy tín ngày càng cao tại các diễn đàn khu vực và quốc tế.

Trở lại với ngày 18-1-1950, mốc son quan trọng trong lịch sử quan hệ Việt Nam-Trung Quốc. Không lâu sau khi được thành lập, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa XHCN Việt Nam). 73 năm trôi qua, hữu nghị, hợp tác vẫn là dòng chảy chính trong quan hệ song phương Việt Nam-Trung Quốc, được minh chứng bằng sự ủng hộ, giúp đỡ chí nghĩa, chí tình, to lớn và quý báu mà hai nước dành cho nhau ở mỗi giai đoạn cụ thể.

Những thành tựu to lớn mà nhân dân Việt Nam và Trung Quốc đạt được trong đổi mới, cải cách mở cửa cùng nhiều đóng góp hiệu quả của hai nước vào các vấn đề quốc tế và duy trì hòa bình, an ninh ở khu vực trong những năm gần đây càng chứng minh rằng, tiếp nối dòng chảy hữu nghị và hợp tác ấy là sự mong mỏi của cả hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước.

Trên nền tảng mối quan hệ hữu nghị truyền thống giữa hai Đảng, hai nước và tinh thần “vừa là đồng chí, vừa là anh em”, quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong những năm gần đây tiếp tục cho thấy sự gắn kết đặc biệt trên mọi lĩnh vực hợp tác, từ chính trị, ngoại giao, quốc phòng, an ninh, kinh tế, thương mại, đầu tư tới du lịch, giao lưu nhân dân, giao lưu giữa các địa phương hai nước... Kể từ sau chuyến thăm lịch sử tới Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vào năm 2022, sự gắn kết toàn diện ấy càng được thể hiện rõ nét thông qua các hoạt động tăng cường, mở rộng hợp tác, đóng góp vào việc thúc đẩy phát triển ở mỗi nước và đem lại lợi ích thiết thực cho người dân hai nước.

Năm nay, Việt Nam và Trung Quốc cũng vui mừng, phấn khởi kỷ niệm 15 năm triển khai khuôn khổ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện (2008-2023) với những bước phát triển tích cực và điểm sáng trên nhiều lĩnh vực, mà trước hết phải kể đến hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư. Hiện nay, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất, thị trường nhập khẩu lớn thứ hai của Việt Nam, đứng thứ 6/144 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam. Trong khi đó, Việt Nam là đối tác thương mại lớn thứ 4 và lớn nhất trong ASEAN của Trung Quốc.

Đây là chuyến thăm cấp Nhà nước lần thứ 3 của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đến Việt Nam. Chuyến thăm khẳng định sự coi trọng, ưu tiên hàng đầu của cả hai nước đối với nỗ lực đưa quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc phát triển vững chắc, ổn định, bền vững. Việc đón Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình thăm cấp Nhà nước đến Việt Nam cũng được xác định là hoạt động đối ngoại đặc biệt quan trọng của Đảng và Nhà nước ta, đồng thời là sự kiện có ý nghĩa hết sức quan trọng, lâu dài đối với quan hệ hai Đảng, hai nước.

Nhiệt liệt chào mừng Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và phu nhân đến thăm Việt Nam, nhân dân Thủ đô cũng như nhân dân cả nước lạc quan và tin tưởng rằng, chuyến thăm là dịp để các nhà lãnh đạo cấp cao nhất của hai Đảng, hai nước cùng nhau ôn lại chặng đường 73 năm của mối quan hệ láng giềng hữu nghị, từ đó đề ra những biện pháp nhằm tiếp tục tăng cường quan hệ giữa hai Đảng, hai nước, đưa quan hệ song phương Việt Nam-Trung Quốc bước vào một mùa xuân mới thêm nhiều niềm vui và thành tựu./.
ST.

Âm mưu, thủ đoạn của thế lực thù địch không mới nhưng được đẩy mạnh và điều chỉnh

   Khái niệm “Diễn biến hòa bình” không mới và cũng không lạ đối với mọi người. Người ta biết đến cụm từ này từ thập niên 20 của thế kỷ XX, khi chủ nghĩa đế quốc sử dụng “Diễn biến hòa bình” để chống phá các nước đối địch, nhất là nước Nga - Nhà nước Xô-viết công nông đầu tiên trên thế giới vừa ra đời từ sau Cách mạng Tháng Mười vĩ đại.

Và hiện nay, “Diễn biến hòa bình” có nhiều cách gọi khác nhau, đó là “chuyển hóa hòa bình”, “biến đổi hòa bình”,“cạnh tranh hoà bình”, “vượt trên hòa bình”, “chính sách giải phóng”, “chiến thắng không cần chiến tranh”, “chiến tranh không có tiếng súng”, “phương pháp phi vũ trang”… Có thể khẳng định “Diễn biến hòa bình” là cuộc chiến tranh - cuộc đấu tranh về hệ tư tưởng, thể chế chính trị. Chiến lược “diễn biến hòa bình” liên tục được điều chỉnh, bổ sung trở thành một chiến lược tổng hợp, dùng biện pháp “phi vũ trang” là chủ yếu nhằm chống phá, tiến tới lật đổ chế độ chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa.

Chúng ta thấy ngay từ đầu “Diễn biến hòa bình” không phải do chủ nghĩa đế quốc phát kiến, nhưng hiện là “sản phẩm” của họ và trên cơ sở tiếp thu tư tưởng quân sự cổ đại của nhân loại, vận dụng phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của từng thời điểm, từng giai đoạn, nhằm giành thắng lợi quyết định trong “cuộc chiến” sống còn với các quốc gia khác hệ tư tưởng, đối địch.

Mục tiêu của chiến lược “diễn biến hòa bình” là nhằm xóa bỏ chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn cầu. Để đạt được mục đích đó, các thế lực thù địch đặt ra những mục tiêu cụ thể như: (1) Xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, thay thế bằng hệ tư tưởng tư sản; (2) Âm mưu thực hiện “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” trong các nước xã hội chủ nghĩa; (3) Gây mâu thuẫn nội bộ, phá vỡ sự đồng thuận xã hội và khi có thời cơ thì lôi kéo, tiến hành bạo loạn chính trị; (4) Làm suy yếu, chệch hướng phát triển của nền kinh tế, tiến tới chi phối, lũng đoạn, khống chế kinh tế trong các nước xã hội chủ nghĩa; (5) Chuyển hoá văn hoá, đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa theo “giá trị Mỹ”, phương Tây; (6) Thực hiện âm mưu “phi chính trị hoá” để “vô hiệu hoá” quân đội trong các nước xã hội chủ nghĩa.

Như vậy, có thể hiểu “Diễn biến hoà bình” là chiến lược cơ bản nhằm lật đổ chế độ chính trị của các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong, chủ yếu bằng các biện pháp phi quân sự do chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động, đứng đầu là Mỹ tiến hành.

Ở Việt Nam, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” các thế lực thù địch đặc biệt coi trọng việc phá hoại tư tưởng, coi đó là mũi nhọn, là con đường ngắn nhất dẫn tới sự xói mòn về niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh các đặc trưng chủ yếu như: tuyên truyền xuyên tạc nhằm phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đẩy mạnh hoạt động xuyên tạc lịch sử; thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội và công an…

Đáng chú ý, thời gian gần đây, các thế lực thù địch tích cực đẩy mạnh thực hiện một số thủ đoạn chống phá mới, đó là: Tìm cách đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đưa ra những luận điệu lập lờ, lẫn lộn giữa hai mặt tích cực và tiêu cực, giữa tư tưởng xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa đến đảng viên và nhân dân. Khuyến khích những quan điểm lệch lạc và những khuynh hướng xã hội “dân chủ” kiểu Mỹ và phương Tây hòng làm cho người dân thấy hoài nghi về “xã hội Việt Nam” và mơ tưởng về một “xã hội khác” được cổ xúy là tốt đẹp hơn.

Các thế lực thù địch điều chỉnh thủ đoạn chống phá, bằng cách ngoài việc công kích trực diện vào nền tảng tư tưởng, chúng tuyên truyền kích động gây mâu thuẫn, chia rẽ trong nội bộ. Với mưu đồ gây chia rẽ nội bộ, làm cho Đảng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong, chúng ra sức tuyên truyền, bịa đặt về các phe phái trong Đảng, nhất là lợi dụng việc đấu tranh chống tham nhũng để xuyên tạc là thanh trừng nội bộ. Chúng còn thường xuyên dựng chuyện, thổi phồng những sai lầm, thiếu sót của một số cán bộ, đảng viên, qua đó gây hoang mang, tạo bức xúc trong dư luận xã hội, kích động người dân gây mất an ninh, trật tự...

Chúng còn sử dụng nhiều cách thức tác động tinh vi, xảo quyệt đối với từng đối tượng cụ thể, trong đó đối với các tầng lớp nhân dân, chúng lợi dụng việc tiếp cận thông tin còn hạn chế, đưa những thông tin sai lệch, nhằm tạo khoảng trống trong tư tưởng nhân dân, làm cho nhân dân hoài nghi, mất niềm tin với chế độ, Đảng và nhà nước, từ đó chúng kích động các hoạt động gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Âm mưu, thủ đoạn của chúng còn xuyên tạc, bóp méo các sự kiện chính trị, các vụ việc phức tạp, nhạy cảm. Lợi dụng các sự kiện chính trị quan trọng liên quan đến các vấn đề phân định biên giới, lãnh thổ, tranh chấp Biển Đông, ô nhiễm môi trường, hay những vấn đề liên quan đến công tác cứu trợ bão lụt, công tác phòng chống COVID-19 lợi dụng tung tin thất thiệt trên các trang mạng xã hội gây hoang mang trong dư luận, tạo nên sự hiểu nhầm của người dân, sự hoài nghi vào cấp ủy, chính quyền các cấp.

Những biểu hiện trên đây tuy không hoàn toàn là những thủ đoạn mới trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, nhưng về cơ bản đó là những dấu hiệu đặc trưng, nổi bật nhất, thể hiện tính chất tinh vi, xảo quyệt và sự nguy hiểm, thâm độc của nó đã và đang không ngừng tăng lên. Hiện nay, các thế lực thù địch thường xuyên thay đổi các chiến lược. Vì vậy, chúng ta phải luôn tỉnh táo, nhận diện đúng, bình tĩnh xem xét, phân tích, để vạch trần bản chất và có biện pháp phòng, chống hiệu quả. Tuyệt đối không được mơ hồ, mất cảnh giác, dẫn tới bị động, lúng túng trong cuộc chiến “không khói súng” nhưng đầy cam go, quyết liệt này.

Cuộc đấu tranh này được Đảng và nhà nước ta xác định là vẫn còn tiếp tục. Vì thế, chúng ta cần đề cao cảnh giác, chủ động tấn công, đổi mới tư duy, có phương thức, biện pháp thích hợp, tăng cường tuyên truyền sâu rộng, kịp thời, chính xác các quan điểm, tư tưởng, lý luận của Đảng, phản bác một cách mạnh mẽ, quyết liệt để kịp thời ngăn chặn sự chống phá về tư tưởng, lý luận của các thế lực thù địch dưới bất cứ hình thức nào.

Điều quan trọng là làm cho tư tưởng, lý luận của Đảng thấm sâu trong mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, nhất là với thế hệ trẻ để chính họ là những chủ thể mạnh mẽ, vững chắc làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, phương thức chống phá của các thế lực thù địch./.

ST.

Ngăn chặn luận điệu xuyên tạc, vu cáo bằng công nghệ

 Định hướng thứ tư trong phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030 được thể hiện trong Nghị quyết Đại hội XIII là “...xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đã bản sắc dân tộc để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội dung, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”. Trong phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, Đảng ta xác định:“...Hoàn thiện các cơ chế, chính sách phát triển công nghiệp văn hóa; phát triển những sản phẩm, loại hình văn hóa độc đáo, sáng tạo có sức lan tỏa để quảng bá, giới thiệu ra thế giới”.Theo đó, tuyên truyền văn hóa Việt Nam ra thế giới cần đưa ra các thông điệp vừa làm nổi bật được những nét đặc sắc của văn hóa Việt Nam, trong đó có tính khác biệt với các quốc gia khác, vừa đảm bài sự hài hòa với xu thế chung của nhân loại, đồng thời phải tác động đến tình cảm,đáp ứng được nhu cầu và thuyết phục đối tượng tiếp nhận.

Do đó, hoạt động tuyên truyền hình ảnh Việt Nam ra thế giới không thể tách rời với việc đấu tranh phản bác, chống các luận điểm xuyên tạc, bôi nho hình ảnh Việt Nam. Đây cũng chính là một trong những lĩnh vực quan trọng của công tác tư tưởng nói chung và công tác đối ngoại nói riêng.

“Đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị” là một trong những nội dung trong 12 định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030 được Đảng ta xác định trong Văn kiện Đại hội XIII. Việc tăng cường, đẩy mạnh các biện pháp đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ không chỉ nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ và sự ổn định của đất nước mà còn nhằm bảo vệ hình ảnh Việt Nam trước những thông tin không đúng sự thật.

Trong thế giới toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế hiện nay, danh tiếng và hình ảnh tích cực của một quốc gia ngày càng được coi trọng, thu hút sự quan tâm của cộng đồng quốc tế bởi hình ảnh quốc gia không chỉ ảnh hưởng đến các mối quan hệ quốc tế mà còn tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội cũng như năng lực cạnh tranh của đất nước. Do vậy, việc tạo dựng, quảng bá, nâng cao hình ảnh quốc gia ngày càng được các nước chú trọng như một chiến lược sức mạnh mềm trong môi trường quốc tế nhiều biến đổi.

Thông qua nền tảng số, bè bạn quốc tế đã biết đến Việt Nam từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, chịu hậu quả nặng nề của nhiều năm chiến tranh, lại bị bao vây cấm vận, nay trở thành một Việt Nam có quan hệ ngoại giao với hơn 180 quốc gia và vùng lãnh thổ; quan hệ kinh tế thương mại với hơn 200 nước và vùng lãnh thổ; có vai trò, vị thế ngày càng nổi bật trong khu vực và trên thế giới; là thành viên của nhiều tổ chức, diễn đàn quốc tế như ASEAN, ASEM, APEC, WTO…

Như vậy, trong thời đại khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, việc sử dụng các nền tảng công nghệ số để phục vụ tuyên truyền một mặt góp phần thúc đẩy quảng bá về một Việt Nam thân thiện, mến khách, một đất nước được coi là “điểm hẹn của hòa bình”, điểm đến an toàn cho bè bạn quốc tế, mặt khác góp phần phản bác lại các thông tin tuyên truyền sai trái, thù địch đối với Việt Nam cũng như nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam với thế giới./.

ST.

Những ý kiến xuyên tạc lạc lõng, ác ý.

 Những năm gần đây, bối cảnh quốc tế có nhiều biến động, diễn biến phức tạp như cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng quyết liệt hơn; chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa đơn phương, chủ nghĩa bảo hộ trỗi dậy. Đại dịch Covid-19 tác động nghiêm trọng và để lại hậu quả nặng nề trên mọi mặt của đời sống xã hội ở hầu hết quốc gia hơn hai năm qua.


Sự kiện Nga thực hiện chiến dịch quân sự đặc biệt ở Ukraine cũng tác động nhiều mặt đến đời sống chính trị và an ninh quốc tế. Khu vực châu Á-Thái Bình Dương có vị trí chiến lược ngày càng quan trọng. Môi trường an ninh, tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông của một số quốc gia Đông Nam Á tiếp tục diễn biến phức tạp.

Lợi dụng bối cảnh đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ráo riết tung ra những luận điệu xuyên tạc nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước Việt Nam; trong đó, đường lối đối ngoại là một mặt trận mà họ quyết liệt chống phá nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với ngành ngoại giao Việt Nam.

Thời gian qua, trên một số trang mạng xã hội, nổi cộm như: “Chân trời mới media”, “Hội anh em dân chủ”... đã xuất hiện những quan điểm, ý kiến của cái gọi là “luật sư độc lập”, “nhà báo tự do”, “nhà dân chủ”, “nhà nghiên cứu”, “người Việt yêu nước”... dưới các hình thức “thư góp ý”, “lời kêu gọi”, “tư vấn cho Nhà nước Việt Nam”, “phản biện”, “kiến nghị”... nhằm phê phán, xuyên tạc, phủ nhận đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta.

Một số hãng truyền thông nước ngoài có phiên bản tiếng Việt như: RFA, VOA, RFI, BBC... còn bịa đặt rằng “đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay là “đu dây”, “tự sát”, bị lệ thuộc, chi phối bởi các cường quốc. Rồi họ đưa ra "lời khuyên" Việt Nam nên bỏ chính sách quốc phòng “4 không” để nghiêng về phương Tây, gắn với thực hiện “dân chủ hóa Việt Nam”...

Sự nguy hại của những luận điệu phản động nêu trên dễ gây ra sự hoang mang, dao động, chia rẽ từ bên trong, ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước, khiến dư luận trong và ngoài nước hiểu sai lệch về Việt Nam../.
ST.

Cơ động giỏi, thực hành tốt

 

Sau khi đưa bộ đội và phương tiện từ Trường bắn Quốc gia khu vực 3 về đến doanh trại, Ban chỉ huy Tiểu đoàn Thiết giáp, Bộ tư lệnh TP Hồ Chí Minh tổ chức kiểm tra cụ thể, tỉ mỉ các bộ phận, bảo đảm đúng, đủ lực lượng, vũ khí, trang bị.

Huấn luyện sát địa bàn, phương án tác chiến

 

Vừa hoàn thành nhiệm vụ diễn tập phòng thủ điểm cấp huyện năm 2023, trở về đơn vị, cán bộ, chiến sĩ dân quân huyện Cần Giờ đã bắt tay ngay vào huấn luyện thực hành phối hợp xạ kích tiêu diệt các mục tiêu trên biển.

Tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh với con đường độc lập, tự do, hạnh phúc của dân tộc Việt Nam

 Những phẩm chất thiên tài kết hợp với hoạt động thực tiễn phong phú, sinh động của Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành cơ sở quan trọng trong việc lựa chọn con đường độc lập, tự do, hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam, đồng thời thể hiện rõ tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo của Người, tiếp tục soi sáng con đường phát triển bền vững cho dân tộc Việt Nam hiện nay.

Bác Hồ thăm lớp học vỡ lòng (tranh của họa sĩ Đỗ Hữu Huề) _Nguồn: nhandan.vn

Tư duy độc lập, tự chủ trong việc lựa chọn con đường cách mạng đúng đắn và triệt để cho dân tộc Việt Nam

Mặc dù vô cùng kính trọng và rất khâm phục các bậc tiền bối, nhưng người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành không tán thành các con đường cách mạng của họ. Các cuộc khởi nghĩa, các phong trào đấu tranh theo những khuynh hướng khác nhau với tinh thần “lớp trước ngã xuống, lớp sau tiến lên” nhưng đều đi đến thất bại. Sự nghiệp cứu nước và giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc và bế tắc về đường lối. Người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã không tư duy theo lối mòn, rập khuôn, máy móc, mà xuất phát từ lòng yêu nước chân chính, tính mẫn cảm với thời cuộc, có tư duy tự chủ, nhạy bén nên quyết tâm đi tìm một con đường cách mạng mới, đầy táo bạo cho dân tộc Việt Nam. Trả lời nhà thơ, nhà báo người Nga Osip Mandelstam, Người nhấn mạnh: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế. Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy”(1).

Ngay từ khi gia nhập Đảng Xã hội Pháp, Nguyễn Tất Thành đã thể hiện tính độc lập, chủ động khi tranh luận và đặt vấn đề với các đồng chí của mình là: “Nếu các đồng chí không lên án chủ nghĩa thực dân, nếu các đồng chí không đoàn kết với các dân tộc thuộc địa, thì các đồng chí làm thứ cách mạng gì?”(2). Ngày 18-6-1919, thay mặt những người yêu nước Việt Nam ở Pháp, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đã gửi tới Hội nghị Hòa bình Véc-xây (Versailles) bản “Yêu sách của nhân dân An Nam”, yêu cầu Chính phủ Pháp phải thừa nhận các quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của nhân dân Việt Nam và các nước Đông Dương. Mặc dù không được các nhà chức trách chấp nhận, nhưng hành động này của Người đã gây ra tiếng vang lớn trong dư luận nước Pháp và trên thế giới.

Trong hành trình tìm tòi, khảo nghiệm, Nguyễn Ái Quốc đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ để nhìn nhận thấu đáo những xu hướng, con đường cách mạng khác nhau trên thế giới. Độc lập, tự do của Trung Quốc sau Cách mạng Tân Hợi (năm 1911) cũng là một thứ độc lập, nhưng chưa phải là độc lập thực sự và triệt để, vì giai cấp tư sản dân tộc Trung Quốc chưa thể đưa nhân dân Trung Quốc thoát khỏi nanh vuốt của chủ nghĩa đế quốc lúc này. Còn cách mạng Mỹ, cách mạng Pháp (bao gồm cả Cách mạng tư sản Pháp năm 1789 và cách mạng vô sản - Công xã Paris năm 1871) cũng đã bộc lộ rõ những hạn chế. Người giải đáp một cách ngắn gọn và rõ ràng về vấn đề này: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hoà và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa. Cách mệnh đã 4 lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức. Cách mệnh An Nam nên nhớ những điều ấy”(3). Người nhận thấy chế độ tư bản có nhiều khuyết tật cố hữu và đánh giá đúng bản chất của cách mạng tư sản là không triệt để, không đến nơi.

Xuất phát từ tư duy độc lập, tự chủ để dân tộc độc lập hoàn toàn, nhân dân hạnh phúc thật sự, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”(4). Người xác định chỗ dựa cho cách mạng Việt Nam phải là cách mạng vô sản thế giới, là Cách mạng Tháng Mười Nga và Quốc tế Cộng sản: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam. Cách mệnh Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ rồi, lại ra sức cho công, nông các nước và dân bị áp bức các thuộc địa làm cách mệnh để đập đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa và tư bản trong thế giới”(5). Người luôn khẳng định vai trò quyết định của yếu tố nội sinh, đề cao tính tự lực trong mọi hoàn cảnh và nhấn mạnh “phải có tinh thần dân tộc vững chắc”. Những yếu tố nội sinh trở thành động lực quan trọng, khi được phát huy và kết hợp với con đường cách mạng đúng đắn thì cách mạng sẽ thành công triệt để.

Việc nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn cách mạng vô sản thế giới đã tạo ra bước chuyển biến căn bản trong nhận thức tư tưởng của Người, để đi đến kết luận: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản. Sau đó, Người “trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”(6).

Tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo được kết tinh trong lý luận soi đường giải phóng dân tộc, đem lại hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam

Nguyễn Tất Thành có nền tảng gốc rễ là giá trị truyền thống về chủ nghĩa yêu nước, tinh thần nhân ái, hiếu học của dân tộc. Người sớm phát lộ nhân cách đạo đức, tư chất trí tuệ và mẫn cảm chính trị, cho nên trong quá trình bôn ba 30 năm, Người luôn có tư duy cầu thị, gạn lọc để học hỏi và tiếp tục bồi đắp tư tưởng của riêng mình mà không bị “đồng hóa”, hay “rập khuôn” máy móc theo tư tưởng và phong cách phương Tây. Từ việc giữ vững vốn văn hóa đặc sắc của dân tộc, Người có được suy nghĩ độc lập trước những lối rẽ phức tạp của nhiều hệ tư tưởng để thâu thái những giá trị tinh hoa thời đại, trong đó có sự kiện lịch sử khi Người bắt gặp lý luận của V.I. Lê-nin năm 1920. Từ đó, Nguyễn Ái Quốc đã giải quyết cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc kéo dài 2/3 thế kỷ. Được Luận cương của V.I. Lê-nin và đường lối của Quốc tế Cộng sản soi sáng, Nguyễn Ái Quốc tích cực hoạt động trong phong trào công nhân và Đảng Cộng sản Pháp, sau đó công tác tại Quốc tế Cộng sản. Ở Người, về cơ bản hình thành hệ thống quan điểm lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc đi theo con đường cách mạng vô sản; về bản chất bóc lột, dã man của chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc; về mối quan hệ giữa cách mạng thuộc địa và cách mạng chính quốc; về khả năng thắng lợi trước của cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa; về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và về vị trí, vai trò của giai cấp công nhân trong cách mạng; về chủ nghĩa xã hội,...

Chủ nghĩa Lê-nin và đường lối của Quốc tế Cộng sản là nhân tố quan trọng nhất, có vai trò quyết định đến việc hình thành nhận thức về con đường cách mạng giải phóng dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Con đường này càng được Chủ tịch Hồ Chí Minh cụ thể và hoàn thiện hơn ở những giai đoạn sau, khi Người không chỉ hoạt động với tư cách là nhà yêu nước Việt Nam, mà còn là người cộng sản sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Chính Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, 40 năm sau nhìn lại sự kiện này, đã viết: “Riêng về cá nhân tôi, từ lúc đầu nhờ được học tập truyền thống cách mạng oanh liệt và được rèn luyện trong thực tế đấu tranh anh dũng của công nhân và của Đảng Cộng sản Pháp, mà tôi đã tìm thấy chân lý chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đã từ một người yêu nước tiến bộ thành một chiến sĩ xã hội chủ nghĩa”(7).

Hòa mình trong dòng chảy của cách mạng thế giới theo nhiều xu thế khác nhau, nhưng với vốn tri thức phong phú và tư duy khoa học, Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm nhận định chỉ có chủ nghĩa Mác - Lê-nin là cẩm nang quý giá, là lý luận soi đường cho cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi hoàn toàn. Người khẳng định: “Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi: Chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi”(8); và chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ. Đây là sự lựa chọn vô cùng quan trọng, mang tính tất yếu, đúng đắn và phù hợp về con đường giải phóng dân tộc, định vị con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Với tư duy độc lập, tự chủ và bằng những cách thức tuyên truyền hết sức phong phú và đa dạng, gần gũi, dễ hiểu, Nguyễn Ái Quốc từng bước truyền bá một cách có hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào trong nước và tích cực chuẩn bị về chính trị, tư tưởng, đạo đức và tổ chức cho sự ra đời của một chính đảng vô sản ở Việt Nam. Sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 là bước ngoặt lịch sử đưa dân tộc thoát khỏi “tình hình đen tối như không có đường ra”, chấm dứt sự khủng hoảng, bế tắc về đường lối lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Có Đảng lãnh đạo là dấu mốc quan trọng trong bước phát triển về chất của cách mạng Việt Nam. Với Cương lĩnh, đường lối chính trị đúng đắn dựa trên nền tảng tư tưởng, lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đáp ứng đòi hỏi về lợi ích của quốc gia, dân tộc và quyền sống của nhân dân, Đảng đã tập hợp, đoàn kết lực lượng của giai cấp công nhân, nông dân và toàn thể dân tộc thành một khối, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo trong việc xác lập tư tưởng phát triển vì sự tự do của con người

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kiên định, nỗ lực thực hiện khát vọng cháy bỏng vì độc lập cho Tổ quốc, tự do cho dân tộc. Người khẳng định: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đây là tất cả những điều tôi hiểu”(9). Và khi tìm thấy con đường cách mạng và lý luận soi đường, Người đã dành toàn bộ tâm huyết để hiện thực hóa con đường giải phóng và phát triển đất nước.

Tinh thần tự tôn dân tộc, ý chí đấu tranh cho độc lập, tự do không chỉ biểu hiện trong thực tiễn cách mạng, mà còn được Chủ tịch Hồ Chí Minh nâng lên thành nền tảng tinh thần trường tồn của dân tộc và phát triển từ độc lập dân tộc tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trên tinh thần tự chủ, sáng tạo, Người đã nâng tầm tư duy nhân quyền và dân quyền của cách mạng tư sản, để khẳng định giá trị phổ quát cho toàn thể nhân loại là “tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”(10). Đó là chân lý của thời đại mà mỗi dân tộc đều khát khao thực hiện. Người nhấn mạnh, ý chí đấu tranh cho độc lập và lòng khát khao tự do mới là nhân tố quyết định làm nên những chiến thắng vẻ vang, chứ không phải là nhờ quân đông sức mạnh; tự do độc lập là quyền trời cho của mỗi dân tộc, cần được tôn trọng, bảo vệ; và điều đó chỉ có thể phát huy, phát triển trong chế độ xã hội chủ nghĩa. Thấm nhuần sâu sắc lý luận về sự phát triển từ hình thái kinh tế - xã hội ở bậc thấp lên bậc cao của C. Mác, Nguyễn Ái Quốc khẳng định tính tất yếu về sự tiến bộ của xã hội loài người. Theo Người: “Không có lực lượng gì ngăn trở được mặt trời mọc. Không có lực lượng gì ngăn trở được lịch sử loài người tiến lên. Cũng không có lực lượng gì ngăn trở được chủ nghĩa xã hội phát triển”(11). Và, chỉ có cách mạng xã hội chủ nghĩa mới có thể xóa bỏ mọi chế độ người bóc lột người, đem lại cuộc sống no ấm cho toàn thể nhân dân. Đó là một cuộc cách mạng vĩ đại và vẻ vang nhất trong lịch sử loài người, nhưng đồng thời cũng là một cuộc cách mạng cam go, phức tạp và khó khăn nhất. Người nhấn mạnh, mỗi người dân Việt Nam phải chuẩn bị tư tưởng và nghị lực để vượt qua mọi thử thách và hoàn thành thắng lợi cuộc cách mạng này. Người đặc biệt quan tâm và nỗ lực thực hiện các cấp độ của sự giải phóng, đó là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người; quan trọng nhất là giải phóng lực lượng lao động và giải phóng giai cấp công nhân để tạo ra động lực quan trọng trong xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Tư tưởng Hồ Chí Minh có sự nhất quán cao, khi khẳng định nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập đó cũng chẳng có nghĩa lý gì; do đó, “công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân”(12). Xuất phát từ truyền thống “trọng dân” của dân tộc, Người khẳng định vai trò rất quan trọng của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng của đất nước; bởi lẽ, có lực lượng dân chúng thì việc dù to tát mấy, khó khăn mấy cũng làm được. Các giai tầng trong xã hội khi được tập hợp, đoàn kết “ủng hộ” và “tin theo” Đảng thì sẽ tạo thành sức mạnh “dời non, lấp biển”, sẽ vượt qua mọi khó khăn, thách thức trong mọi hoàn cảnh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về đổi mới “là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi. Để giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ này cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”(13). Nhưng để xây dựng và phát triển đất nước, theo Người, cần phải xác định những động lực cần thiết cho con người Việt Nam. Đó là, động lực lợi ích (trước mắt và lâu dài, vật chất và tinh thần, chính đáng và công bằng) để xứng đáng với mục tiêu đất nước độc lập và nhân dân được tự do, hạnh phúc. Người luôn luôn khích lệ, động viên toàn Đảng, toàn dân phát huy tinh thần yêu nước trong mọi hoàn cảnh của đất nước, từ giai đoạn khó khăn của chiến tranh với kẻ thù, cho đến giai đoạn chiến thắng, bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ngay từ năm 1948, Người viết “Lời kêu gọi thi đua ái quốc” nhằm chăm lo, phát huy mạnh mẽ phong trào thi đua yêu nước. Người quan tâm xây dựng nền dân chủ trong chính trị và dân chủ trong xã hội, bởi dân chủ có thực chất thì mới tạo ra đoàn kết và đồng thuận thực chất.

Tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo trong việc kế thừa những giá trị của thời đại để làm giàu trí tuệ cho mình

Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định, con đường phát triển và mục tiêu chiến lược của cách mạng Việt Nam là làm cho đất nước được hoàn toàn độc lập và để đi tới xã hội cộng sản, muốn vậy phải tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân để thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và người cày có ruộng, từng bước đưa đất nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hai giai đoạn cách mạng này có quan hệ biện chứng; trong đó: 1- Để xây dựng chủ nghĩa xã hội thì trước hết phải giành được độc lập dân tộc; 2- Đi lên chủ nghĩa xã hội chính là điều kiện tiên quyết để giữ vững được độc lập dân tộc và xây dựng được cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Tư duy giải phóng dân tộc của Người phát triển thành chiến lược cách mạng không ngừng, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Nhưng theo Người, muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì toàn dân nhất định phải có học thức, phải không ngừng nâng cao trình độ văn hóa, chính trị, khoa học, kỹ thuật; đồng thời, đề cao tầm quan trọng của việc nhận thức lý luận, học tập toàn diện để tiến bộ.

Thiếu nhi tham gia cuộc thi thiết kế áo dài, hưởng ứng Tuần lễ Áo dài cộng đồng Huế 2023_Ảnh: TTXVN

Trong mọi hoàn cảnh, tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo đã giúp Chủ tịch Hồ Chí Minh có sự thống nhất biện chứng giữa tình cảm cách mạng và lý trí khoa học, khẳng định trí tuệ mẫn tiệp của Người. Người đánh giá: “Chỉ có những người cách mạng chân chính mới thu thái được những điều hiểu biết quý báu của các đời trước để lại”(14). Người tâm niệm rằng, để không ngừng làm giàu trí tuệ của mình, việc học hỏi phải được diễn ra mọi lúc, mọi nơi và ở mọi người. Vì vậy, Người cho rằng cần phải biết tiếp thu những tri thức của nhân loại, cả tinh hoa văn hóa phương Tây cũng như phương Đông để tạo dựng nền văn hóa mới. Tư duy độc lập, tự chủ không có nghĩa là rập khuôn, khép kín, tự huyễn hoặc mình, mà phải được đặt trên nền tảng khoa học, hiện đại, nhân văn, hấp thụ những cái mới, những giá trị tiến bộ của văn minh thế giới; từ đó, xây dựng một nền văn hóa Việt Nam có yếu tố dân tộc, khoa học và đại chúng; đồng thời, cần phải lĩnh hội những cái hay, cái đẹp, chắt lọc cái tiến bộ cho phù hợp với Việt Nam để xây dựng một dân tộc thông thái. Cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh là hình ảnh kết tinh của việc làm giàu trí tuệ của mình bằng vốn trí tuệ của thời đại, phương Đông và phương Tây, vừa thâu thái, vừa gạn lọc để có thể từ tầm cao của tri thức nhân loại mà suy nghĩ và lựa chọn, kế thừa để đổi mới, vận dụng và phát triển một cách phù hợp, sáng tạo với thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã soi sáng, dẫn dắt, đưa dân tộc Việt Nam đi đến bến bờ độc lập, tự do, hạnh phúc; mở ra một trang sử mới của dân tộc, “đó là thời đại Hồ Chí Minh, thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử quang vinh của dân tộc”, với đặc trưng lớn nhất là: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, nhất quán trong hành trình đi tới mục tiêu vì một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

ST.

Để không là “phép cộng cơ học”

 

Hôm qua (10-12), tại Nghệ An diễn ra Hội nghị đánh giá một năm thực hiện Bản ghi nhớ hợp tác phát triển giữa 3 tỉnh Thanh Hóa-Nghệ An-Hà Tĩnh, giai đoạn 2022-2025.

Xóa bỏ bức tường vô hình

 

Mới đây, chính quyền phường Thạch Thang (quận Hải Châu, TP Đà Nẵng) đã triển khai lực lượng phá bỏ bức tường ngăn cách giữa kiệt 211 và kiệt 225 từ đường Đống Đa đi vào. Sự kiện này mang đến niềm vui cho hàng chục hộ dân, bởi bức tường đã tồn tại gần 50 năm nay. Trong khoảng thời gian ấy, người dân nhiều lần kiến nghị chính quyền phá bỏ bức tường chia cắt này, nhưng chẳng hiểu vì lý do gì mà không được thực hiện.

Đấu tranh chống âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội - một nhiệm vụ quan trọng, cấp bách hiện nay

 “Phi chính trị hóa” quân đội là một trong những âm mưu thâm độc, nham hiểm của các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam, nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với quân đội, làm thay đổi bản chất giai cấp công nhân của quân đội, làm cho quân đội từng bước xa rời phương hướng chính trị giai cấp, xa rời mục tiêu chiến đấu, phai nhạt lý tưởng, không còn là lực lượng chính trị tin cậy, công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, Nhà nước. Vì vậy, việc đề cao cảnh giác, chủ động nhận diện và đấu tranh làm thất bại những thủ đoạn, nhất là thủ đoạn mới của các thế lực thù địch là nhiệm vụ quan trọng, mang tính thời sự cấp bách, cần có hệ thống giải pháp đồng bộ, hiệu quả.

“Phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam là âm mưu trong tổng thể chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam. Đây là một âm mưu không mới, nhưng cực kỳ thâm độc, nguy hiểm của các thế lực thù địch, phản động ngoan cố chống phá cách mạng nước ta trong suốt thời gian qua. Vì vậy, đấu tranh phòng, chống âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội là tất yếu khách quan, một nhiệm vụ quan trọng, mang tính thời sự cấp bách hiện nay. Thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động sử dụng những thủ đoạn ngày càng đa dạng, tinh vi và thâm hiểm hơn. Các thế lực thù địch tìm mọi cách xuyên tạc, phủ nhận hệ tư tưởng của Đảng, của quân đội là chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước ta; triệt để “khoét sâu” vào những hạn chế, yếu kém trong các lĩnh vực quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội trong nước để phủ nhận những thành tựu đạt được của công cuộc đổi mới ở nước ta; lợi dụng tình trạng quan liêu, tham nhũng, thoái hóa biến chất ở một bộ phận cán bộ, đảng viên nhằm kích động, gây chia rẽ, làm mất lòng tin của nhân dân, của quân đội vào Đảng; kêu gọi “đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 2013”, đòi thực hiện “đa nguyên, đa đảng”(?!)...

Thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội. Họ kêu gọi xóa bỏ hệ thống tổ chức đảng và cán bộ tham gia phụ trách công tác Đảng trong quân đội, kêu gọi xây dựng quân đội “trung lập”, quân đội “quốc gia”, không lệ thuộc một khuynh hướng chính trị, một đảng phái nào; tung hô ca ngợi mô hình quân đội một số nước để chứng minh quân đội không liên quan đến chính trị; kêu gọi Quân đội nhân dân Việt Nam nên liên minh với quân đội một số nước để tiến lên hiện đại, trở thành quân đội “nhà nghề”(?!). Họ cho rằng, các vấn đề liên quan đến quân sự, quốc phòng phải được nhân dân bàn bạc công khai và quyết định thông qua những "diễn đàn dân chủ"; lợi dụng chủ trương tinh giản biên chế, cơ cấu, sắp xếp lại quân đội đã và đang thực hiện để xuyên tạc, kích động, quy chụp cho rằng đó là biểu hiện của tham nhũng, lợi ích nhóm, đặc quyền, đặc lợi của một bộ phận cán bộ, đảng viên trong quân đội...

Thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động tiếp tục đẩy mạnh chống phá trên cả lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, đạo đức, truyền bá lối sống thực dụng, buông thả, thờ ơ, lãnh đạm, không quan tâm đến các vấn đề chính trị - xã hội của đất nước, của quân đội, nhằm thúc đẩy nhanh các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tạo ra khoảng trống về ý thức hệ, hòng “pha loãng”, làm “nhạt dần” bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của quân đội, tạo “mảnh đất màu mỡ” cho tư tưởng phi vô sản thâm nhập vào đời sống tinh thần của cán bộ, chiến sĩ trong quân đội.

Nguy hiểm hơn, thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động triệt để sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội để phát tán những bài viết, clip với cường độ, tần suất ngày càng tăng nhằm thổi phồng, xuyên tạc sự thật, khoét sâu mâu thuẫn, kích động tư tưởng công thần, địa vị, bè phái, cục bộ địa phương, đòi hưởng thụ đãi ngộ; gây hận thù, mâu thuẫn giữa các dân tộc, tôn giáo, vùng miền; vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân. Họ lợi dụng quân đội tham gia phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, lợi dụng những sự việc xảy ra trong quân đội để suy diễn, chia rẽ quân đội với nhân dân, với Đảng, nhằm chia rẽ tinh thần đoàn kết “quân với dân như cá với nước”, xuyên tạc chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam, bôi xấu hình ảnh và bản chất tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”…

Lý luận và thực tiễn đã khẳng định, quân đội là công cụ bạo lực của Nhà nước, do Nhà nước tổ chức và nuôi dưỡng, do vậy bản chất giai cấp của Nhà nước như thế nào thì bản chất giai cấp của quân đội cũng như thế; không có quân đội siêu giai cấp, đứng ngoài giai cấp, trung lập về chính trị. Tuy nhiên, chúng ta không được một phút lơ là, chủ quan, bởi trên thực tế, các thế lực thù địch đã từng thực hiện thành công “phi chính trị hóa” đối với quân đội Liên Xô, quân đội các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu trong những năm 80 của thế kỷ XX; và gần đây là những sự kiện bất ổn chính trị - xã hội liên miên, kéo dài làm suy yếu đất nước đang diễn ra ở một số nước châu Á, châu Âu và hàng loạt nước theo thể chế đa nguyên, đa đảng ở Trung Đông, Bắc Phi.

Đối với sự nghiệp cách mạng nước ta, nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội trong những năm qua luôn được coi trọng. Trong lực lượng quân đội, ở tất cả các cơ quan, đơn vị trong toàn quân, cán bộ, chiến sĩ được giáo dục tinh thần cảnh giác với âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động; đã có những chủ trương, biện pháp tổ chức thực hiện mang lại hiệu quả trong đấu tranh phòng, chống “phi chính trị hoá” quân đội. Song, thực tế vẫn còn những hạn chế, có mặt chưa theo kịp với diễn biến của tình hình thực tiễn. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, chiến sĩ hiểu chưa sâu sắc và chưa đầy đủ về âm mưu “phi chính trị hoá” quân đội của các thế lực thù địch, phản động. Do vậy, còn có những biểu hiện thiếu cảnh giác, bị động, lúng túng khi phải đối mặt với những tình huống khó khăn, phức tạp, nhất là đấu tranh trực diện với những thủ đoạn mới của các thế lực thù địch. Trước những thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt của âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội đã làm cho một bộ phận cán bộ, chiến sĩ, ở những mức độ nhất định xuất hiện tư tưởng, tâm lý dao động về chính trị, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Những hiện tượng này đã và đang gây tác hại không nhỏ đến bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp của quân đội ta, ảnh hưởng trực tiếp đến việc xây dựng lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về mọi mặt, lấy xây dựng vững mạnh về chính trị làm cơ sở trong giai đoạn cách mạng mới. Bởi vậy, việc đề cao cảnh giác, chủ động nhận diện và đấu tranh, làm thất bại những thủ đoạn, nhất là những thủ đoạn mới của các thế lực thù địch luôn là nhiệm vụ quan trọng, mang tính cấp bách, cần có hệ thống giải pháp phòng, chống đồng bộ, hiệu quả.

Để làm vô hiệu hóa và đập tan âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch, phản động, cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội.

Từ khi quân đội ta ra đời đến nay, Đảng ta luôn khẳng định vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội. Sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội là nhân tố có ý nghĩa quyết định đến mọi sự trưởng thành và chiến thắng của quân đội ta. Trong khi đó, âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch là nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, làm thay đổi bản chất giai cấp công nhân của quân đội, làm cho quân đội từng bước xa rời phương hướng chính trị giai cấp. Do vậy, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội là giải pháp có ý nghĩa quyết định làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch.

Để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội, vấn đề cơ bản, cấp bách hiện nay là phải xây dựng hệ thống tổ chức đảng trong quân đội thật sự trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao. Theo đó, phải thường xuyên chăm lo xây dựng tổ chức đảng các cấp trong quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ, kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện tiêu cực, sự suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, nhất là cấp ủy, chỉ huy các cấp; hết sức tránh mọi biểu hiện hạ thấp vai trò lãnh đạo của cấp ủy, chi bộ, đảng bộ đối với cơ quan, đơn vị.

Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thăm khu trưng bày sản phẩm của Đoàn Thanh niên các quân, binh chủng, nhà trường trong toàn quân tại Đại hội đại biểu Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Quân đội lần thứ X, nhiệm kỳ 2022 - 2027_Ảnh: TTXVN

Tổ chức đảng các cấp trong quân đội cần tiếp tục quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện nghiêm túc Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo đi đôi với phân công cá nhân phụ trách, thực hiện nghiêm túc tự phê bình và phê bình, trọng tâm là thực hiện tốt các quy định của Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương về trách nhiệm nêu gương gắn với thực hiện sinh hoạt chuyên đề “tự soi, tự sửa”. Kết hợp chặt chẽ xây dựng tổ chức đảng các cấp trong quân đội trong sạch, vững mạnh với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Xây dựng được đội ngũ cán bộ các cấp có trình độ cao, phẩm chất và năng lực toàn diện đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội trong những năm tới. Giải quyết tốt mối quan hệ giữa lãnh đạo với chỉ huy, giữa tổ chức đảng với các tổ chức trong đơn vị, giữa đảng viên với quần chúng, cán bộ với chiến sĩ. Xây dựng các tổ chức trong đơn vị thực sự đoàn kết nhất trí cao, trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào, luôn bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng được thông suốt từ trên xuống dưới, tới từng đơn vị, từng cán bộ, chiến sĩ. Kiên quyết đấu tranh với mọi biểu hiện buông lỏng xây dựng tổ chức đảng, thiếu gắn kết việc xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện.

Hai là, tăng cường giáo dục, giác ngộ bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của quân đội; tinh thần cảnh giác với âm mưu “phi chính trị hoá” quân đội cho cán bộ, chiến sĩ.

Đây là giải pháp quan trọng trong đấu tranh chống âm mưu “phi chính trị hoá” quân đội. Bởi, sự giác ngộ sâu sắc về bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của cán bộ, chiến sĩ trong quân đội sẽ trực tiếp góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, ngăn chặn sự xâm nhập của những luồng tư tưởng phi vô sản, góp phần làm thất bại âm mưu “phi chính trị hoá” quân đội của các thế lực thù địch. Vì vậy, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng phải làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội nhận thức sâu sắc rằng, quân đội ta do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, giáo dục và rèn luyện, nhất thiết phải lấy chính trị của Đảng làm gốc, làm cốt; phải mang trong mình bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và dân tộc sâu sắc, thực hiện mục tiêu cao cả là chiến đấu vì độc lập dân tộc, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân.

Theo đó, cần tăng cường giáo dục về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, mục tiêu lý tưởng, quan điểm, đường lối của Đảng, nhiệm vụ của cách mạng, nhiệm vụ của quân đội và âm mưu, thủ đoạn mới của các thế lực thù địch cho cán bộ, chiến sĩ. Trên cơ sở đó, củng cố niềm tin cho cán bộ, chiến sĩ vào sự lãnh đạo của Đảng, quyết tâm thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đồng thời với việc coi trọng giác ngộ bản chất giai cấp công nhân, cần giáo dục chủ nghĩa yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, bồi dưỡng tình cảm đối với quê hương, đất nước, con người Việt Nam cho cán bộ, chiến sĩ trong quân đội. Có như vậy mới bảo đảm cho quân đội ta gắn bó với Tổ quốc, với nhân dân, với chế độ xã hội chủ nghĩa, sẵn sàng nhận và hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ mà Đảng, nhân dân giao phó.

Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cần đặc biệt chú trọng giáo dục nâng cao tinh thần cảnh giác cho cán bộ, chiến sĩ về chiến lược “Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ, nhất là âm mưu “phi chính trị hoá” quân đội của các thế lực thù địch, phản động. Từ đó, không ngừng nâng cao ý thức cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu cao, đối phó có hiệu quả trước sự chống phá của các thế lực thù địch với các thủ đoạn và tính chất khác nhau. Hình thức, phương pháp giáo dục cần được tiến hành phù hợp, linh hoạt, sáng tạo; trong đó, hết sức coi trọng các hình thức, như: Huấn luyện chính trị, giáo dục thông qua thực tiễn thực hiện nhiệm vụ, thông qua phong trào hành động cách mạng của cán bộ, chiến sĩ và các hoạt động khác của công tác tư tưởng, văn hoá...

Ba là, quản lý chặt chẽ mọi mặt và làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; xây dựng môi trường văn hoá trong sạch, lành mạnh ở các cơ quan, đơn vị trong toàn quân.

Phát huy vai trò các tổ chức, lực lượng quản lý chặt chẽ mọi mặt của các tổ chức, từng con người và làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ nhằm nắm chắc diễn biến tư tưởng chính trị hằng ngày, hằng giờ của từng cán bộ, chiến sĩ; từ đó kịp thời phát hiện, có những biện pháp ngăn chặn những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, không tạo những sơ hở để kẻ thù lợi dụng chống phá. Muốn vậy, phải thường xuyên nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị, quản lý chặt chẽ mọi mặt và làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong từng cơ quan, đơn vị. Cần quản lý về lịch sử chính trị, lập trường, quan điểm, thái độ chính trị, trình độ giác ngộ chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, quan hệ của mọi quân nhân. Thực hiện tốt chế độ phân công, phân cấp quản lý; phát huy vai trò của cấp ủy, hệ thống chỉ huy các cấp; tăng cường quản lý đội ngũ cán bộ; thường xuyên củng cố, kiện toàn các tổ chức trong đơn vị; kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục với quản lý hành chính theo điều lệnh quân đội; chủ động phối hợp với chính quyền địa phương và các cơ quan, đơn vị trên địa bàn đóng quân giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, góp phần xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc.

Môi trường văn hoá trong sạch, lành mạnh trong quân đội là bức tường thành vững chắc vô hiệu hóa sự tấn công của chiến lược “Diễn biến hòa bình” nói chung, âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch nói riêng. Trong tình hình hiện nay, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú trong quân đội” gắn với đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”; Nghị quyết số 847-NQ/QUTW, ngày 28-12-2021, của Quân ủy Trung ương, “Về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới”. Các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần đẩy mạnh tổ chức các hoạt động thể thao, văn hoá, văn nghệ, đọc báo, nghe đài, hội thao, hội thi, nhất là trong các ngày nghỉ, giờ nghỉ nhằm tạo ra đời sống tinh thần phong phú, vui tươi, lành mạnh, đồng thời góp phần phòng ngừa, đẩy lùi sự xâm nhập của các loại ấn phẩm độc hại. Người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên ở các cơ quan, đơn vị cần đổi mới phương pháp, tác phong công tác, triệt để khắc phục lối quản lý hành chính đơn thuần, áp đặt, thiếu tính thuyết phục, thiếu trách nhiệm trong tổ chức đời sống vật chất, tinh thần của đơn vị, không tạo ra “khoảng trống” để các thế lực thù địch lợi dụng thực hiện các hoạt động chống phá. Cán bộ, chiến sĩ phải gương mẫu trong thực hiện các quy định về việc cưới, việc tang, lễ hội, bài trừ các hủ tục, tệ nạn xã hội; xây dựng lối sống văn minh, ứng xử có văn hóa, giải quyết hài hòa các mối quan hệ, đề cao tình đồng chí, đồng đội, tình đoàn kết quân - dân, yêu thương, giúp đỡ nhau cùng hoàn thành tốt nhiệm vụ. Xây dựng và phát huy lối sống “mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”; hình thành lối sống có ý thức tự trọng, tự chủ, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật.

Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao tinh thần cảnh giác với âm mưu “phi chính trị hoá” quân đội cho cán bộ, chiến sĩ_Nguồn: dangcongsan.vn

Bốn là, tổ chức có hiệu quả đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, vạch trần bản chất phản động, phản khoa học trong âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch, phản động.

Đây là giải pháp mang tính thời sự cấp bách hiện nay, bởi đấu tranh trực diện trên mặt trận tư tưởng, lý luận chống âm mưu “phi chính trị hoá” quân đội luôn có tầm quan trọng đặc biệt và là mặt trận cam go, quyết liệt hiện nay. Trong cuộc đấu tranh này, phải tổ chức thực hiện có hiệu quả việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng quân đội cách mạng; vạch trần bản chất phản động, phản khoa học của những luận điệu “quân đội trung lập về chính trị”, “quân đội phi giai cấp”,... của các thế lực thù địch. Đồng thời, tiếp tục khẳng định, quân đội ta ra đời từ phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng, mang trong mình bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, dân tộc sâu sắc đã làm nên truyền thống tốt đẹp “trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”(1). Thời gian tới, mặc dù tình hình chính trị thế giới, khu vực còn nhiều diễn biến phức tạp, khó dự báo; các thế lực thù địch dùng mọi thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt chống phá, nhưng quân đội ta vẫn luôn là lực lượng chính trị tin cậy, công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, Nhà nước, kiên định và tuyệt đối trung thành với mục tiêu chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, sự nghiệp đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Để tổ chức đấu tranh có hiệu quả trên mặt trận tư tưởng, lý luận, chống âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội, phải chú trọng hơn nữa nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tinh thần chủ động nhận diện và kiên quyết đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên các phương tiện truyền thông xã hội cho cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân. Thường xuyên tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp trong định hướng nhận diện và đấu tranh kịp thời, có trọng tâm với các quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, phát huy vai trò cơ quan thường trực ban chỉ đạo 35 của đảng ủy các cấp thực hiện tốt việc tham mưu, xây dựng, ban hành đồng bộ hệ thống quy chế, quy định, chương trình hành động cụ thể; thường xuyên nghiên cứu, nắm chắc tình hình, cung cấp thông tin và định hướng đấu tranh kịp thời, có trọng tâm. Phát huy sâu, rộng vai trò của lực lượng 47 ở các cơ quan, đơn vị toàn quân tham gia đấu tranh vạch trần bản chất phản động trong âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch, phản động. Chú trọng và thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tư tưởng, lý luận có đủ phẩm chất và năng lực, nhạy bén trong đấu tranh và tham gia đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận. Phát huy vai trò của các cơ quan thông tấn, báo chí và các đơn vị văn hóa, nghệ thuật quân đội, kết hợp chặt chẽ, nhịp nhàng với hệ thống truyền thông, văn hóa, nghệ thuật của cả nước để làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động. Thực hiện tốt việc tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, sớm kết luận những vấn đề mới, còn có ý kiến khác nhau từ thực tiễn tạo cơ sở vững chắc để đấu tranh với âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội./.

ST.

ĐỪNG ĐỂ BỊ BIẾN THÀNH "CON TIN" TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG!

Hiện nay với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ và sự phủ sóng dày đặc của các trang mạng xã hội, người dân dễ dàng tiếp cận với thế giới bên ngoài rộng lớn - một “xã hội ảo” không ranh giới, không rào cản. Đây là một trong những kênh thông tin để Đảng và Nhà nước tổ chức tuyên truyền chủ trương, chính sách. Tuy nhiên, mạng xã hội phát triển đã trở thành một trong những thách thức an ninh quốc gia khi các thế lực thù địch lợi dụng các kênh truyền thông này để xuyên tạc, vu khống, chống phá Đảng và Nhà nước hòng làm cho người dân mất niềm tin, hoang mang, dao động, hoài nghi sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước dẫn đến những hệ luỵ khôn lường.
Tỉnh táo khi sử dụng mạng xã hội
Theo thống kê từ Statista, Việt Nam là quốc gia đứng thứ 12 thế giới về tỷ lệ tăng trưởng người sử dụng mạng xã hội,với khoảng 73,6 triệu người sử dụng mạng xã hội, 65,56 triệu người sử dụng Facebook, 66,63 triệu người sử dụng YouTube,... Mạng xã hội có độ phủ sóng rộng, tốc độ lan truyền nhanh đã thực sự trở thành “mảnh đất màu mỡ” để các thế lực thù địch phát tán thông tin xuyên tạc, bịa đặt, chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam.
Các blogger như Nguyễn Ngọc Như Huỳnh (biệt danh mẹ Nấm), hay Bùi Thanh Hiếu (biệt danh Hiếu buôn gió), luật sư Nguyễn Văn Đài… thường xuyên sử dụng facebook, youtube đưa tin bịa đặt, xuyên tạc những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Khoác “chiếc áo” dân chủ, những đối tượng phản động dùng nhiều thủ đoạn để lèo lái dư luận xã hội theo ý đồ của chúng. Điển hình như vụ việc xảy ra trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk khi một nhóm đối tượng có tổ chức, manh động, được trang bị vũ khí, tấn công vào trụ sở UBND xã Ea Ktur và UBND xã Ea Tiêu, huyện Cư Kuin vào ngày 11/6/2023 đã làm 9 người thiệt mạng (4 cán bộ công an, 2 cán bộ xã, 3 người dân) và làm bị thương một số người. Trong khi công tác điều tra, xác định nguyên nhân đang được các lực lượng chức năng thực hiện đúng trình tự thì lúc này đối tượng Nguyễn Văn Đài ra sức bóp méo, xuyên tạc, kích động người dân. Đối tượng vu khống Việt Nam đàn áp tôn giáo, gây chia rẽ các dân tộc Tây nguyên. Bên cạnh đó hàng loạt các cá nhân, tổ chức phản động (Uỷ ban cứu người vượt biển (BPSOS), RFA…) thừa cơ hội này đăng tin vu cáo, xuyên tạc chính quyền đàn áp người Thượng.
Trước những lời lẽ phân tích bên ngoài là đứng về phe dân chủ, đấu tranh để đòi quyền lợi cho người dân nhưng thực chất sâu xa bên trong là chia rẽ, kích động người dân gây rối, chống đối chính quyền. Vì vậy, mỗi người dân tham gia mạng xã hội cần tỉnh táo khi tiếp cận, chia sẻ, bình luận, không tham gia các hội nhóm không rõ ràng. Đó cũng là một cách để bảo vệ mình trên không gian mạng, tránh sử dụng mạng xã hội sai quy định của pháp luật, dẫn đến vi phạm pháp luật như nhiều trường hợp đã bị xử lý thời gian vừa qua, thậm chí một số trường hợp bị bắt giam vì tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”, theo Điều 331 Bộ luật hình sự và “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” quy định tại Điều 117 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tỉnh táo nhận định “đỏ” và “đen”
Phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái là một trong những biểu hiện suy thoái mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII đã chỉ ra. Đó là căn bệnh “a dua”, chạy theo số đông mà không cần biết đúng sai, không tìm hiểu rõ bản chất vấn đề.
Lợi dụng thói a dua, tâm lý thích nổi bật, những phần tử phản động, thù địch triệt để lợi dụng căn bệnh này để chống phá Đảng, Nhà nước ta. Chúng tổng hợp, nhào nặn nhằm tạo ra những thông tin nghe qua tưởng chừng có cơ sở khách quan nhưng trên thực tế là đã khéo léo cài cắm những thông tin xuyên tạc, bịa đặt, bóp méo nhằm đánh lạc hướng dư luận. Chúng triệt để lợi dụng những người có ảnh hưởng tới cộng đồng (KOLS) lan truyền những thông tin trái sự thật được thu lượm từ những phát ngôn bừa bãi, từ những kẻ a dua gây nhiễu thông tin khiến dư luận hoang mang.
Thời gian qua, trên mạng xã hội xuất hiện nhiều thông tin sai trái, xuyên tạc mà một bộ phận đảng viên, nhân dân đã đọc, đã nghe nhưng thiếu tỉnh táo, không phân biệt được đúng sai, thật giả mà bấm like, bình luận, chia sẻ. Thậm chí, nhiều người có biểu hiện dao động, mất lòng tin, dẫn tới hùa theo và xa hơn là “tự diễn biến”, rơi vào bẫy “không chiến tranh mà chiến thắng” của các thế lực thù địch.
Tỉnh táo trước cám dỗ
Thông qua mạng xã hội, thế lực phản động ra sức tuyên truyền phá hoại tư tưởng của cán bộ, đảng viên, chia rẽ nội bộ Đảng; xuyên tạc, bịa đặt, bôi nhọ, hạ uy tín, danh dự của Đảng, Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh gây dư luận xấu trong xã hội. Các đối tượng này đều sử dụng mạng xã hội, đặc biệt là facebook để tập hợp, mở rộng lực lượng kết nối giữa các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước.
Đồng thời, chúng lập ra các trang có tên và giao diện tương tự các trang mạng chính thống của Đảng và Nhà nước để gây nên sự nhầm lẫn của người dân. Qua các nội dung tương tác chúng kêu gọi tập hợp lực lượng, để bày tỏ quan điểm đối lập, chống phá; dụ dỗ các đối tượng cơ hội, sai phạm, thoái hóa biến chất tham gia viết bài xuyên tạc, phát tán tài liệu, văn hóa phẩm có nội dung chính trị xấu, độc. Thực tế đã có nhiều trường hợp cán bộ, đảng viên bị lôi kéo, tham gia tụ tập biểu tình gây mất an ninh trật tự…
Chẳng hạn, năm 2019, tổ chức khủng bố “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” có trụ sở tại Mỹ do Đào Minh Quân - quốc tịch Mỹ cầm đầu, chỉ huy đã lôi kéo những người nhẹ dạ cả tin bằng cách tổ chức chiến dịch trưng cầu dân ý. Hắn hứa hẹn sẽ hỗ trợ tài chính, cấp đất, xây nhà để dụ dỗ một số người nhẹ dạ, thiếu hiểu biết. Đổi lại những ai đăng ký nhận hỗ trợ sẽ phải tham gia “trưng cầu dân ý” thể hiện quan điểm chống đối chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Vì lòng tham và sự nhẹ dạ, cả tin nhiều người đã mắc bẫy và vướng vào vòng lao lý.
Tỉnh táo trước những sự kiện, điểm nóng
Những thông tin trên “không gian ảo” - mạng xã hội, rất khó kiểm chứng nên dễ dàng bị các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lợi dụng để “tung hoả mù”. Cách thức các chúng sử dụng là tạo dựng, phát tán các thông tin, hình ảnh, video về các vụ việc có nội dung lập lờ, suy diễn về các sự kiện mang tính thời sự, biến những vụ việc không thành có, hay khếch đại những thông tin chưa kiểm chứng, hòng lẫn lộn thật giả để lôi kéo, kích động, định hướng dư luận theo ý đồ đen tối của chúng. Mục đích của chúng là kêu gọi cộng đồng mạng, những người nhẹ dạ cả tin, những phần tử cơ hội, bất mãn tham gia bình luận, chia sẻ, tạo “điểm nóng”. Các đối tượng này triệt để lợi dụng các kênh youtube, facebook, blog cá nhân để “thổi phồng” các vấn đề nhạy cảm của đất nước như dịch Covid-19, vụ Việt Á, các vụ tranh chấp đất đai, vụ tấn công trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk… hòng gây ra sự bức xúc và ác cảm của người dân đối với chính quyền. Điều này tác động tiêu cực tới nhận thức, quan điểm, tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Từ đó, gây tâm lý hoang mang, hoài nghi, làm suy giảm lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với xã hội.
Đừng trở thành “con tin” trên mạng của các thế lực thù địch
Hiện nay, các cá nhân, tổ chức phản động trong và ngoài nước ngày càng ráo riết, quyết liệt hơn trong việc sử dụng mạng xã hội để hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước ta với mức độ ngày càng thường xuyên, liên tục, tần suất cao, phạm vi ngày càng mở rộng, tính chất ngày càng phức tạp. Đặc biệt đối tượng chúng hướng đến là giới trí thức trẻ, học sinh, sinh viên. Họ bị xúi giục, kích động đăng tải những nội dung xuyên tạc, sai trái, bịa đặt,… mà không biết đã mắc bẫy của các thế lực thù địch, phản động. Hành động này đã vô tình “nối giáo cho giặc” và nhiều trường hợp đã bị pháp luật xử lí nghiêm minh.
Nhận thức rõ tầm quan trọng, lợi ích và cả những nguy cơ, thách thức của mạng xã hội, Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách phù hợp nhằm phát triển và quản lý internet, mạng xã hội. Đồng thời, chúng ta cũng triển khai những biện pháp hữu hiệu ngăn chặn sự chống phá của các thế lực thù địch trên mạng xã hội. Song, quan trọng hơn cả, mỗi người dân cần tỉnh táo, sáng suốt khi tham gia mạng xã hội. Mỗi công dân mạng cần trở thành nhân tố nòng cốt, là “chiến sĩ” trên không gian mạng; phải thể hiện trí tuệ, bản lĩnh, sự khôn khéo khi đấu tranh trên mạng xã hội, luôn phải tỉnh táo tránh để các thế lực thù địch lợi dụng, biến thành “con tin” trên không gian mạng để chống phá Đảng, Nhà nước./.
ST