Thứ Ba, 12 tháng 12, 2023

Tiếp tục phát huy sức mạnh mềm của Việt Nam trong ngoại giao đa phương thời gian tới

 Phát huy sức mạnh mềm dân tộc là một nội hàm quan trọng làm nên thành công của đối ngoại Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và sự nghiệp đổi mới gần 40 năm qua. Trong thời gian tới, tiếp tục phát huy vai trò của sức mạnh mềm để nâng cao vị thế quốc gia, phục vụ công cuộc phát triển đất nước, nhất là trong ngoại giao đa phương, có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với Việt Nam.

Sức mạnh mềm và vai trò của sức mạnh mềm trong ngoại giao đa phương sau Chiến tranh lạnh

Khái niệm sức mạnh mềm lần đầu tiên được giáo sư Joseph Nye, nguyên Hiệu trưởng Trường Quản trị công J. F. Kennedy, thuộc Đại học Harvard (Mỹ), nguyên trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đề cập vào năm 1990 (1). Theo đó, sức mạnh mềm được hiểu là khả năng tạo sức hấp dẫn, lôi cuốn, thu hút để các nước khác “tự nguyện” thay đổi hành vi, chính sách phù hợp với điều mà quốc gia đó muốn, thay vì cưỡng bức thông qua sức mạnh kinh tế và quân sựSức mạnh mềm và sức mạnh cứng củng cố, bổ sung và tăng cường cho nhau, kết hợp thành sức mạnh tổng hợp quốc gia.

Hiện nay, có nhiều cách tiếp cận, đánh giá khác nhau về tiêu chí sức mạnh mềm. Một số tổ chức quốc tế đã xây dựng các bảng chỉ số xếp hạng về sức mạnh mềm, như Global Soft Power Index (2), Soft Power 30 (3). Mặc dù có một số khác biệt, song về cơ bản, các chỉ số này đều sắp xếp các nước, như Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Italia, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia ở vị trí cao.

Diễn giải của các nước về sức mạnh mềm tại các diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế rất đa dạng, phong phú, với nhiều chính sách, công cụ, phương thức khác nhau, như: thúc đẩy sáng kiến hoặc chuỗi sáng kiến để phát huy dấu ấn, đưa người vào các vị trí lãnh đạo của các tổ chức quốc tế lớn, quan trọng hoặc thành lập và dẫn dắt các nhóm nước đồng quan điểm về một chủ đề, lĩnh vực hợp tác... Thực tiễn cho thấy, sau Chiến tranh lạnh, hầu hết các nước đều điều chỉnh quan niệm về sức mạnh tổng hợp quốc gia, trong đó nhấn mạnh tăng cường sức mạnh mềm, phát huy sức mạnh thông minh (4), đồng thời tự chủ chiến lược trong bảo vệ và thúc đẩy lợi ích quốc gia - dân tộc, nhất là tại các diễn đàn đa phương trong khuôn khổ Liên hợp quốc và các tổ chức khu vực.

Mỗi quốc gia đều tìm cách thúc đẩy những thế mạnh riêng để phát huy sức mạnh mềm trong quan hệ đối ngoại. Đơn cử như, Trung Quốc chú trọng ngoại giao thân thiện, hợp tác cùng có lợi, phát triển hài hòa, lồng ghép văn hóa và các giá trị Trung Quốc để thúc đẩy sức mạnh mềm; đồng thời, triển khai các sáng kiến mang đậm giá trị Trung Quốc, bao gồm: “Cộng đồng chung vận mệnh nhân loại”, “Vành đai, Con đường” (BRI), thiết lập mạng lưới các Viện Khổng Tử và các sáng kiến toàn cầu mới, như Sáng kiến Phát triển toàn cầu (GDI), Sáng kiến An ninh toàn cầu (GSI) và Sáng kiến Văn minh toàn cầu (GCI). Mỹ, Anh, Pháp, Canada, các nước châu Âu đề cao các giá trị dân chủ, luật lệ và quy tắc phương Tây, quảng bá thành tựu khoa học - công nghệ và nghệ thuật. Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore phát huy thế mạnh về tài chính, giáo dục, đổi mới sáng tạo, coi xây dựng thương hiệu toàn cầu là yếu tố quan trọng để phát huy sức mạnh mềm quốc gia cả trên bình diện song phương và đa phương. Indonesia coi trọng sự kết hợp giữa nền dân chủ, Hồi giáo và tính khoan dung trong thúc đẩy sức mạnh mềm, nhất là trong thúc đẩy vai trò trung gian hòa giải, giải quyết các xung đột…

Đối với các quốc gia tầm trung và đang phát triển có nguồn lực hạn chế, việc phát huy sức mạnh mềm được tận dụng và thúc đẩy mạnh mẽ tại các diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế. Trong khoảng 5 - 10 năm gần đây, xu hướng này ngày càng được các quốc gia tầm trung và đang phát triển thúc đẩy trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược nước lớn gia tăng, cũng như sự khác biệt về quan điểm, lợi ích giữa các nước và nhóm nước diễn ra đa chiều, gay gắt hơn. Đơn cử như, Malta thúc đẩy sự hình thành và quá trình triển khai Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982; Singapore thúc đẩy Sáng kiến về quản trị toàn cầu bên lề các khóa họp cấp cao thường niên của Đại hội đồng Liên hợp quốc (Sáng kiến 3G); Colombia thúc đẩy tiến trình thảo luận về các Mục tiêu Phát triển bền vững (SDG) của Liên hợp quốc, Vanuatu và các đảo quốc Nam Thái Bình Dương thúc đẩy đưa vấn đề biến đổi khí hậu xem xét tại Tòa án Công lý quốc tế (ICJ)…

Dấu ấn sức mạnh mềm trong ngoại giao đa phương Việt Nam những năm qua

Theo giáo sư J. Nye: “Những điểm làm nên sức hấp dẫn nhất của sức mạnh mềm Việt Nam hiện nay là tinh thần tự chủ, độc lập dân tộc, chính sách phát triển kinh tế và nền văn hóa, trong đó văn hóa của Việt Nam luôn hấp dẫn và có sức lôi cuốn các nước phương Tây”(5). Bản sắc, tinh thần, nét văn hóa và con người Việt Nam, tư tưởng và phong cách Hồ Chí Minh, cùng với truyền thống ngoại giao, đặc biệt là ngoại giao “tâm công” đã được vận dụng mạnh mẽ để phát huy sức mạnh mềm trong công cuộc kháng chiến, thống nhất đất nước và sự nghiệp đổi mới. Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 16-7-1998, của Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII, “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam” đã nhấn mạnh những điểm nổi bật của bản sắc Việt Nam, đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng, gắn kết cá nhân - gia đình - làng xóm - Tổ quốc, lòng khoan dung, trọng nghĩa tình đạo lý, tính cần cù sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử và tính giản dị trong cuộc sống(6). Đây cũng là những nét đẹp về truyền thống, văn hóa, đất nước và con người Việt Nam được đông đảo các nước, bạn bè quốc tế tin cậy, đánh giá cao.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tặng Thủ tướng Đức Olaf Scholz bức thư pháp với nội dung: "Hòa bình - Hữu nghị cùng phát triển" tại đền Ngọc Sơn, Hà Nội_Ảnh: TTXVN_Nguồn: vnexpress.net

Ngày nay, việc thúc đẩy sức mạnh mềm đã trở thành một định hướng quan trọng trong đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam; được khẳng định rõ trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng: “Phát huy hiệu quả sức mạnh tổng hợp của đất nước kết hợp với sức mạnh của thời đại”(7), “phát huy mạnh mẽ lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam”(8), “không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam”(9). Nghị quyết số 22-NQ/TW, của Bộ Chính trị, ngày 10-4-2013, “Về hội nhập quốc tế” nhấn mạnh “phát huy vai trò của Việt Nam trong việc định hình các quy tắc, luật lệ trong ASEAN và các cơ chế, diễn đàn quốc tế”, “tăng cường quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam với bạn bè quốc tế”(10).

Trên cơ sở đó, trong những năm gần đây, sức mạnh mềm của Việt Nam tiếp tục được phát huy mạnh mẽ, giúp nâng cao thế và lực của đất nước trên trường quốc tế, qua đó góp phần gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia, phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Một là, giá trị địa - chiến lược của Việt Nam đã gia tăng đáng kể thông qua hệ thống quan hệ đối ngoại ngày càng rộng mở, đa tầng nấc. Cụ thể là, Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 192/193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc, trong đó có quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với 30 nước; thiết lập quan hệ với 247 chính đảng ở 111 quốc gia; có quan hệ với quốc hội, nghị viện của hơn 140 nước; là thành viên tích cực của trên 70 tổ chức khu vực và quốc tế; đóng vai trò quan trọng trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và nhiều cơ quan quan trọng của Liên hợp quốc; có 98 cơ quan đại diện tại nước ngoài… Nhiều nước lớn, đối tác quan trọng mong muốn củng cố, đưa quan hệ song phương với Việt Nam đi vào chiều sâu; vận động Việt Nam ủng hộ và tham gia các sáng kiến, chiến lược của các nước. Hầu hết các nước trên thế giới nhìn nhận giá trị chiến lược của Việt Nam là một quốc gia yêu chuộng hòa bình, hòa hiếu, nhân văn, thủy chung, có chính kiến, bản lĩnh, trọng công lý, lẽ phải và luật pháp quốc tế, không “chọn bên”, không theo bên này chống bên kia; đồng thời, là nhân tố có thể hàn gắn sự khác biệt, thúc đẩy những điểm tương đồng.

Hai là, về phát triển, Việt Nam được đánh giá là quốc gia có môi trường chính trị - xã hội ổn định, an ninh và trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm, con người cần cù, sáng tạo, thân thiện, hiếu khách, tạo lợi thế hấp dẫn lâu dài về kinh tế, đầu tư, du lịch. Việt Nam cũng là một trong những quốc gia sớm đạt nhiều Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ và đang tích cực triển khai các SDG, được Liên hợp quốc và nhiều tổ chức quốc tế đánh giá là điển hình thành công của nước đang phát triển.

Ba là, trên bình diện đa phương, Việt Nam đã khẳng định mạnh mẽ bản sắc độc lập, tự chủ, hoàn thành xuất sắc nhiều vị trí quan trọng tại các diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế, như: Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2008 - 2009, 2020 - 2021), Chủ tịch ASEAN (năm 2010, 2020), đăng cai Hội nghị cấp cao Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC, năm 2017), thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2014 - 2016, 2023 - 2025), thành viên Hội đồng Chấp hành Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) nhiệm kỳ 2023 - 2027, cùng nhiều tổ chức, diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế quan trọng khác; đồng thời, thúc đẩy các cơ chế quan trọng của ASEAN, như Diễn đàn cấp cao Đông Á (EAS), Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+). Bên cạnh đó, Việt Nam đã bước đầu phát huy vai trò trung gian qua việc tổ chức Hội nghị thượng đỉnh Mỹ - Triều Tiên vào năm 2019.

Mặc dù vậy, giới chuyên gia cho rằng, về tổng thể, sức mạnh mềm của Việt Nam hiện nay mới được đánh giá ở mức độ tầm trung. Theo Chỉ số Global Soft Power năm 2021, Việt Nam đứng thứ 47/105(11). Tại các diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế, nhiều sáng kiến mà Việt Nam thúc đẩy trong thời gian qua còn mang tính đơn lẻ, chưa kết hợp lồng ghép mạnh mẽ bản sắc và hình ảnh Việt Nam để tạo nên “bản sắc thương hiệu” của quốc gia, từ đó tạo được sức hút về lâu dài. Đồng thời, công tác nghiên cứu và tham mưu về sức mạnh mềm, nhất là trong khuôn khổ ngoại giao đa phương còn hạn chế…

Phát huy sức mạnh mềm Việt Nam trong công tác ngoại giao đa phương thời gian tới 

Trong khoảng 5 - 10 năm tới, Việt Nam sẽ tiếp tục triển khai nhiều hoạt động ngoại giao đa phương quan trọng, như: đảm nhiệm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, Hội đồng Chấp hành UNESCO, tiếp tục tham gia các cơ chế APEC, Diễn đàn Hợp tác Á - Âu (ASEM), Phong trào Không liên kết, Cộng đồng Pháp ngữ, các cơ chế Tiểu vùng sông Mekong cùng nhiều diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế khác; tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, triển khai các SDG và các cam kết quốc tế, trong đó có cam kết mạnh mẽ về giảm phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.

Cán bộ, chiến sĩ Bệnh viện dã chiến cấp 2 (số 3) lên đường làm nhiệm vụ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại Nam Sudan_ Ảnh: Tư liệu

Bối cảnh tình hình khu vực và thế giới những năm tới, với xu thế chuyển đổi mạnh mẽ sau đại dịch COVID-19 và những diễn biến phức tạp trong cạnh tranh chiến lược nước lớn có thể là cơ hội để các quốc gia tầm trung, các quốc gia đang phát triển tiếp tục phát huy sức mạnh mềm, nhất là tại các diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế, nếu biết nắm bắt thời cơ phù hợp. Trong bối cảnh đó, việc phát huy vị thế, ảnh hưởng, sức mạnh mềm của Việt Nam tại các diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế đòi hỏi cần có cách tiếp cận mới, tổng thể, toàn diện, liên ngành hơn.

Trên cơ sở đó, trong quá trình hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại thời gian tới, các cơ quan liên quan của Việt Nam có thể xem xét các biện pháp sau:

Thứ nhất, thúc đẩy triển khai đồng bộ sáng kiến hoặc phát triển các sáng kiến, dự án lõi ở các diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế khác nhau để bổ trợ, tạo thành thương hiệu xuyên suốt nhằm phát huy sức mạnh mềm Việt Nam, trong đó kết hợp lồng ghép bản sắc, đặc trưng văn hóa Việt Nam. Đồng thời, xem xét lựa chọn một số vấn đề, lĩnh vực mà Việt Nam đã có sáng kiến thúc đẩy trong thời gian qua(12) để phát triển, triển khai đồng bộ tại các diễn đàn đa phương khu vực, quốc tế. Bên cạnh đó, tăng cường nắm bắt thời cơ trong thúc đẩy vai trò trung gian, hòa giải của Việt Nam trên một số vấn đề quốc tế, khu vực thông qua các cơ chế do ASEAN, Liên hợp quốc dẫn dắt, cũng như các cơ chế hợp tác giữa ASEAN và Liên hợp quốc, phù hợp với lợi ích, điều kiện và khả năng của Việt Nam.

Thứ hai, tăng cường đăng cai các hội nghị, diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế trên các lĩnh vực chuyên ngành mà Việt Nam có nhiều lợi ích hoặc thế mạnh, như chuyển đổi số, chuyển đổi năng lượng, an ninh lương thực, nông nghiệp, kết hợp các hoạt động quảng bá văn hóa Việt Nam với tư cách nước chủ nhà.

Thứ ba, tăng cường đưa cán bộ ứng cử, đảm nhiệm các vị trí lãnh đạo của tổ chức quốc tế đa phương khu vực và quốc tế ở những cấp độ khác nhau, như các vị trí cấp cao trong Ban Thư ký Liên hợp quốc, Ban Thư ký ASEAN và các tổ chức quốc tế khác mà Việt Nam đang tham gia, hoặc các vị trí cố vấn cấp cao trong các tổ chức phi chính phủ quốc tế như The Elders(13) để nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam. Trên cơ sở đó, xây dựng cơ sở dữ liệu về các vị trí việc làm cấp cao tại các diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế, đồng thời xây dựng và cập nhật danh sách các ứng cử viên tiềm năng và cơ chế đặc thù để quy hoạch, đào tạo, vận động, khuyến khích các cá nhân đương nhiệm hoặc các đồng chí nguyên lãnh đạo các ban, bộ, ngành, các chuyên gia cao cấp tham gia ứng cử vào những vị trí này.

Thứ tư, đẩy mạnh công tác nghiên cứu, dự báo, xây dựng cơ sở dữ liệu về sức mạnh mềm, các tiến trình thảo luận quan trọng tại các diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế để xác định lĩnh vực mới mà Việt Nam có thể thúc đẩy hoặc tham gia tích cực, trong đó gắn với tăng trưởng xanh, phát triển bền vững, chuyển đổi năng lượng, xử lý các thách thức an ninh phi truyền thống, chuyển đổi số, kinh tế tuần hoàn…

Thứ năm, tiếp tục củng cố, nâng cao tính hiệu quả của công tác phối hợp liên ngành để tăng cường trao đổi, triển khai thúc đẩy sức mạnh mềm Việt Nam tại các diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế, nhất là đưa ra các sáng kiến, ý tưởng nhằm phát huy vị thế, dấu ấn, tranh thủ nguồn lực hợp tác quốc tế và đóng góp giải pháp giải quyết những vấn đề toàn cầu.

Thứ sáu, thúc đẩy nhận thức đầy đủ, toàn diện ở cấp cơ sở, giúp các cơ quan, địa phương hiểu rõ về sức mạnh mềm Việt Nam và tầm quan trọng của việc phát huy sức mạnh mềm quốc gia. Đồng thời, đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về các hoạt động, sáng kiến của Việt Nam tại các diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế trên nền tảng các phương tiện truyền thông xã hội được cộng đồng quốc tế quan tâm và sử dụng nhiều (Twitter/X, Facebook, Instagram), kết hợp lồng ghép giới thiệu sinh động về đất nước, con người Việt Nam.

Tựu trung, Việt Nam có rất nhiều tiềm năng và cơ hội để nâng cao vai trò, vị thế, uy tín của đất nước trên trường quốc tế thông qua các biện pháp phát huy sức mạnh mềm, nhất là tại các diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế trong thời gian tới. Đây được xem là hướng đi thiết thực nhằm cụ thể hóa chủ trương, đường lối đối ngoại của Đại hội XIII của Đảng và góp phần thực hiện mục tiêu, tầm nhìn phát triển đất nước trong giai đoạn tiếp theo./.

ST.

Vai trò của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong việc kiểm soát lợi ích nhóm hiện nay

Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam xác định cần xây dựng cơ chế phòng ngừa, ngăn chặn quan hệ “lợi ích nhóm”; chống đặc quyền, đặc lợi; đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp. Để thực hiện được việc kiểm soát “lợi ích nhóm” một cách hiệu quả, cần có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, trong đó Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đóng vai trò vô cùng quan trọng.

Về vấn đề lợi ích nhóm

Lợi ích nhóm đã được đề cập đến từ lâu ở Mỹ cũng như các nước phương Tây và đang là một vấn đề có tính thời sự ở Việt Nam hiện nay. Lợi ích nhóm theo nghĩa tiêu cực đi ngược lại với lợi ích chung của toàn xã hội. Những người thuộc nhóm lợi ích này tìm mọi cách tác động đến các cơ quan, người có thẩm quyền theo hướng có lợi cho nhóm của mình. Lợi ích nhóm tiêu cực biểu hiện dưới các hình thức như: “chạy” dự án, “chạy” vốn, “chạy” chức quyền và thậm chí “chạy” cả chính sách; tính cục bộ, địa phương; chủ nghĩa cá nhân... Nguy hại hơn, lợi ích nhóm đã có những biểu hiện vi phạm lợi ích của xã hội; làm tha hóa cán bộ, gây mất lòng tin của nhân dân; và làm tăng nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Những năm gần đây, lợi ích nhóm càng ngày càng gia tăng và phát triển, tác động tiêu cực vào quá trình thực hiện các lợi ích hợp pháp và chính đáng khác, vào hiệu quả của thực thi chính sách và gần đây, có cả những dấu hiệu cho thấy, nó tác động vào cả quá trình hoạch định chính sách... Lợi ích nhóm, tư duy nhiệm kỳ và tính cục bộ là ba rào cản lớn nhất đối với quá trình cơ cấu lại nền kinh tế nước ta.

Bên cạnh đó cũng cần thấy rằng, các nhóm lợi ích khác nhau là hệ quả của đa dạng hóa về lợi ích - một hiện tượng khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cần kịp thời ngăn chặn những sự lũng đoạn của các nhóm lợi ích tiêu cực đang hình thành, góp phần xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Vậy, làm thế nào để kiểm soát được lợi ích nhóm ở Việt Nam, công cụ nào để giúp phát huy tính tích cực và hạn chế tính tiêu cực của lợi ích nhóm? Kinh nghiệm thực tiễn của các nước trên thế giới đã chỉ ra có một số công cụ kiểm soát lợi ích nhóm, trong đó, Nhà nước pháp quyền giữ một vai trò quan trọng. Nhà nước pháp quyền với nguyên tắc thượng tôn pháp luật là cơ sở cho sự tồn tại và hoạt động của các nhóm lợi ích. Hệ thống pháp luật là căn cứ xác định các lợi ích hợp pháp và các hành vi thực hiện lợi ích hợp pháp của các nhóm. Thực tiễn cho thấy, các quốc gia phát triển đều xây dựng các bộ luật chuyên biệt hướng dẫn các hoạt động thực hiện của các nhóm lợi ích. Việc thực thi pháp luật nghiêm minh buộc các nhóm lợi ích phải xem xét, cân nhắc giữa rủi ro và lợi ích khi tiến hành các hoạt động của mình. Ở góc độ này, công cụ pháp lý tạo ra sức ép bên trong buộc các chủ thể lợi ích hoạt động mà không vi phạm tới lợi ích chung, đặc biệt là lợi ích quốc gia.

Ở Việt Nam, vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền đã được chính thức đưa vào Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VII và tiếp tục được hoàn thiện ở các đại hội sau. Đây chính là cơ sở cho việc kiểm soát lợi ích nhóm ở Việt Nam, để lợi ích nhóm có thể phát huy tính tích cực và hạn chế tính tiêu cực của nó, đặc biệt để bảo đảm cho lợi ích thuộc về số đông, đồng thời bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa.

Cơ sở cho Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam kiểm soát lợi ích nhóm

Một là, Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (từ ngày 20 đến ngày 25-01-1994), lần đầu tiên trong văn bản chính thức, Đảng ta xác định việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam có đầy đủ cơ sở để giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích, hướng đến số đông, chứ không vì thiểu số. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chính là công cụ để kiểm soát lợi ích nhóm tiêu cực - những lợi ích nhóm đi ngược lại lợi ích dân tộc, lợi ích xã hội, nhất là lợi ích nhân dân.

Hai là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam quản lý xã hội chủ yếu bằng pháp luật, không ngừng tăng cường và đổi mới công tác lập pháp, hành pháp và tư pháp; đồng thời, thường xuyên quan tâm đến việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật cho nhân dân. Hệ thống pháp luật càng hoàn chỉnh, minh bạch, tạo cơ sở cho lợi ích nhóm tích cực hoạt động hiệu quả; không để lợi ích nhóm tiêu cực “hoành hành”.

Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ngày càng khẳng định vai trò của phản biện xã hội thông qua việc ban hành một số văn bản, như Quyết định số 217- QĐ/TW, ngày 12-12-2013, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về việc ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội; Quyết định số 14/2014/QĐ-TTg, ngày 14-02-2014, của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam về hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam. Cùng với quá trình này, lợi ích công và hoạt động của các nhóm lợi ích công bước đầu có hiệu quả trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách.

Những hạn chế trong việc kiểm soát lợi ích nhóm của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Một là, chưa tạo hành lang pháp lý đầy đủ cho hoạt động của lợi ích nhóm tích cực và hạn chế lợi ích nhóm tiêu cực.

Ở Việt Nam hiện nay, lợi ích nhóm đang hoạt động trong một không gian chủ yếu phi chính thức bởi khung pháp luật, môi trường thể chế chính thức cho hoạt động của các nhóm lợi ích chưa được xác lập, mặc dù cũng đã có các hiệp hội, nhóm lợi ích có tổ chức và đăng ký hoạt động chính thức, như Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam, Hiệp hội Thép Việt Nam, Hiệp hội Cao su Việt Nam, Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam, Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam…

Hai là, hệ thống pháp luật nước ta vẫn chưa đồng bộ, thiếu thống nhất, chậm đi vào cuộc sống và chưa thực sự được tôn trọng. Bên cạnh đó, môi trường luật pháp thiếu minh bạch, hệ thống quản lý còn yếu kém, nhân dân còn thiếu thông tin; quy trình ra quyết định chính sách chưa khoa học và minh bạch, tạo nhiều kẽ hở để lợi ích nhóm tiêu cực “lách luật”, thực hiện hành vi tư lợi, tham nhũng.

Ba là, lợi ích nhóm tiêu cực nằm trong các cơ quan quyền lực là một thực tế đáng chú ý và có xu hướng gia tăng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của Đảng và Nhà nước ta. Trong thực tế, có những lợi ích nhóm bất hợp pháp lại núp bóng cơ quan công quyền, núp bóng pháp luật, hoặc mượn danh các tổ chức nhà nước, các tổ chức và nhóm hợp pháp khác để ẩn nấp, giấu mình, ngấm ngầm thực hiện lợi ích riêng, gây tổn thất lớn cho xã hội, trở thành lực lượng phá hoại ghê gớm, gây hậu quả khó khắc phục. Việc lợi ích nhóm nằm bên trong các cơ quan quyền lực khiến nó trở nên nguy hiểm và khó kiểm soát.

Vai trò của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân trong việc kiểm soát lợi ích nhóm

Thứ nhất, vai trò của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong định hướng xã hội chủ nghĩa đối với hoạt động của lợi ích nhóm.

Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong việc điều chỉnh quan hệ lợi ích giữa các nhóm phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể. Ví dụ, khi bắt đầu đổi mới cơ chế bao cấp và phân phối bình quân còn ảnh hưởng nặng nề, cần khuyến khích những người có khả năng làm giàu trước. Nhưng khi kinh tế thị trường phát triển, việc phân phối chịu tác động của các quy luật kinh tế tất yếu dẫn đến tăng mức chênh lệch thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, tăng hệ số bất bình đẳng, gây nguy cơ mất ổn định xã hội. Bởi vậy, Nhà nước cần điều tiết lợi ích thông qua phân phối lại bằng thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và thuế tài sản, kể cả thuế thừa kế. Dĩ nhiên, mức thuế cao nhất cũng chỉ ở một giới hạn nhất định sao cho không triệt tiêu động cơ và lợi ích chính đáng của các doanh nghiệp cũng như sự nỗ lực của những người có tài năng, sáng tạo.

Cần chú ý đến lợi ích của những nhóm yếu thế. Khi Nhà nước chủ trương hỗ trợ những nhóm dân cư yếu thế, cần phải nghiên cứu những giải pháp khả thi để lợi ích đến đúng đối tượng cần hỗ trợ. Trong điều kiện kinh tế thị trường thì sự phân hóa giàu nghèo giữa các nhóm xã hội là tất yếu, kéo theo đó là sự mâu thuẫn về lợi ích. Chính sách của Đảng, Nhà nước phải ưu tiên cho việc giải quyết lợi ích của các tầng lớp đông đảo những người lao động, đặc biệt là tầng lớp dân nghèo ở thành thị và nông thôn; mặt khác, động viên, khuyến khích đúng mức, kịp thời các tầng lớp xã hội, có vai trò quan trọng đối với phát triển sức sản xuất, tiến bộ kinh tế - xã hội. Cần giải quyết mối quan hệ lợi ích này theo nguyên tắc hiệu suất kinh tế và tăng trưởng, kết hợp với bảo đảm công bằng và ổn định xã hội để đại đa số nhân dân được hưởng lợi từ thành tựu của kinh tế thị trường và phát triển, khuyến khích mọi người cống hiến và hưởng thụ tương xứng với thành quả sản xuất kinh doanh, nâng đỡ những người nghèo, thu nhập thấp.

Thứ hai, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa cần xây dựng và từng bước hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật.

Trên cơ sở thống nhất về nhận thức, cần sớm xây dựng hành lang pháp lý về các nhóm lợi ích và hoạt động của các nhóm lợi ích theo những giá trị chuẩn chung trên cơ sở điều chỉnh của luật pháp.

Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, quá trình vận động chưa được công khai và luật hóa, nên nhóm lợi ích ở Việt Nam rất đa dạng, phức tạp và chưa được xác định rõ ràng, khiến tính tích cực của lợi ích nhóm chưa được phát huy, đồng thời cũng tạo điều kiện cho những lợi ích nhóm tiêu cực phát triển, ảnh hưởng không tốt trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, càng không thể tạo ra một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Bởi vậy, cần có những đầu tư nghiên cứu một cách bài bản để xác định bản chất, hình thức, phạm vi hoạt động của các loại nhóm lợi ích khác nhau để giúp xã hội nhìn nhận một cách toàn diện hơn những “lỗ hổng” của luật pháp mà các nhóm lợi ích tiêu cực đã và đang lợi dụng, từ đó tìm cách khắc phục; xây dựng và phát huy hoạt động của các tổ chức xã hội bảo vệ quyền và lợi ích của nhóm cộng đồng mà nó đại diện.

Để phát huy tính tích cực của lợi ích nhóm, cần xây dựng một môi trường chính sách, pháp luật minh bạch, đầy đủ thông tin và được thực thi một cách có tổ chức.

Thực tế đã chứng tỏ rằng, trong điều kiện của một chính quyền tốt, vững mạnh, những người ra quyết định chính sách tận tâm phục vụ quốc gia thì việc ảnh hưởng của các nhóm lợi ích cũng giúp những nhà hoạch định chính sách có những thông tin đầy đủ và toàn diện hơn để ra các quyết định chính sách tốt hơn. Tuy nhiên, khi các hoạt động xã hội phát triển (đặc biệt trong kinh tế), những lợi ích to lớn bắt đầu xuất hiện từ các chính sách phát triển thì hoạt động của các nhóm lợi ích trở nên mạnh mẽ và tinh vi hơn. Đặc biệt là trong môi trường luật pháp thiếu minh bạch, các quy trình ra quyết định chính sách không rõ ràng, thiếu thông tin… thì các nhóm lợi ích sẽ ảnh hưởng, cấu kết, mua chuộc những người ra quyết định để hướng chính sách về phía có lợi cho lợi ích của nhóm mình, bất chấp lợi ích của các nhóm khác, của số đông và lợi ích quốc gia.

Vì thế, để các nhóm lợi ích không thể “lũng đoạn”, “thao túng”, cần có một hệ thống luật pháp và cơ chế ra quyết định công bằng và minh bạch. Điều này dựa trên cơ chế đối thoại, tương tác cần thiết giữa các nhóm lợi ích có liên quan trong quá trình phát triển thông qua đối thoại, phản biện khoa học.

Hướng tới một sự phát triển đất nước thực sự bền vững trong điều kiện ghi nhận sự hiện diện và vận động của lợi ích nhóm, cần có các cơ chế giám sát để bảo đảm sự tách bạch giữa hoạch định chính sách và thực thi chính sách. Để thực hiện được mục tiêu này, những đại biểu của nhân dân ở các cơ quan dân cử và các cơ chế giám sát cần phát huy đầy đủ vai trò, nghĩa vụ của mình và phải có đủ năng lực để thực sự bảo vệ những lợi ích chính đáng và hợp pháp của những người có liên quan. Cơ chế lên tiếng của người dân cũng cần được hoàn thiện và bảo đảm để người dân nói lên tiếng nói của mình khi lợi ích của họ bị xâm phạm. Ở đây, cần nâng cao năng lực cho các nhóm lợi ích có tổ chức (các hội và hiệp hội thương mại, nghề nghiệp, xã hội…) trong việc thực sự đại diện và bảo vệ cho lợi ích hợp pháp, chính đáng của các thành viên của mình.

Bên cạnh đó, từ hai phân tích trên, cần xem xét ban hành luật về vận động hành lang, luật về trưng cầu dân ý, luật về hội:

Luật về vận động hành lang tạo nên hành lang pháp lý để mọi chủ thể cùng tiếp cận và vận động được lợi ích chính đáng của nhóm mình và làm rõ ranh giới giữa vận động hành lang và tham nhũng.

Luật về trưng cầu dân ý là một trong các công cụ để nhân dân có ý kiến, phản ánh đầy đủ tiếng nói của toàn dân đối với những vấn đề trọng đại của quốc gia.

Luật về hội để bảo đảm quyền lập hội của công dân và xây dựng hành lang pháp lý cho tổ chức và hoạt động của hội để các tổ chức này hoạt động phù hợp với pháp luật, đồng thời để Nhà nước có cơ sở quản lý hoạt động; qua đó giúp hình thành lợi ích nhóm hợp pháp, có tổ chức và hạn chế lợi ích nhóm tiêu cực.

Để kiểm soát lợi ích nhóm một cách có hiệu quả, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam cần xây dựng hệ thống pháp luật hoàn thiện, bảo đảm cho khả năng hóa giải xung đột nhóm lợi ích, đạt tới cách thức phân bổ lợi ích thỏa đáng, làm cho lợi ích phát huy giá trị động lực, kích thích tối đa khả năng đóng góp, hạn chế tối đa khả năng gây hại của các nhóm lợi ích cho xã hội./.

ST.

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân

 Báo cáo Chính trị tại Đại hội XII của Đảng (01-2016) xác định phương hướng hoàn thiện thể chế, chức năng, nhiệm vụ, phương thức và cơ chế vận hành, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, việc triển khai thực hiện phương hướng này có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc bảo đảm quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013.

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

Ở nước ta, khái niệm “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”, lần đầu tiên, được nêu ra tại Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII (ngày 29-11-1991) và tiếp tục được khẳng định tại Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng (năm 1994) cũng như trong các văn kiện khác của Đảng và Nhà nước. Với Hiến pháp năm 2013, bản chất và đặc điểm của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã được thể chế hóa rõ hơn. Về bản chất, đó là Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân (Điều 2 Hiến pháp năm 2013). Từ bản chất đó, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam có 5 đặc điểm cơ bản sau:

Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp (Điều 2 Hiến pháp năm 2013). Văn kiện Đại hội XII của Đảng yêu cầu phải: Xác định rõ cơ chế phân công, phối hợp thực thi quyền lực nhà nước, nhất là cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở quyền lực nhà nước là thống nhất; xác định rõ hơn quyền hạn và trách nhiệm của mỗi quyền. Đồng thời, quy định rõ hơn cơ chế phối hợp trong việc thực hiện và kiểm soát các quyền ở các cấp chính quyền. Tiếp tục phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm giữa các cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương và của mỗi cấp chính quyền địa phương.

Thượng tôn Hiến pháp và pháp luật: Hiến pháp quy định những điều luật nền tảng cho toàn bộ nền luật pháp của chế độ xã hội; và những điều luật này vừa được thực hiện một cách trực tiếp, vừa có thể được cụ thể hóa thành bộ luật hoặc luật để thực hiện tùy theo sự đòi hỏi của thực tế đời sống xã hội. Cần nhấn mạnh rằng, nếu Hiến pháp không được thực hiện trực tiếp trong xã hội, và nếu Hiến pháp không được liên thông với các bộ luật và luật của đất nước thì Hiến pháp rất khó được thực hiện trực tiếp, và nền tảng luật pháp của đất nước bị hạn chế căn bản.

Hiến pháp quy định cấu trúc (khuôn mẫu) cho nền quản trị của luật trong xã hội. Với vị trí, vai trò như vậy của Hiến pháp, nên quyền lập hiến phải trực tiếp thuộc về toàn thể nhân dân, để thể hiện một cách căn bản tư tưởng “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”. Chỉ với tính chất như vậy, Hiến pháp mới giữ vị trí tối cao trong hệ thống thể chế pháp quyền.

Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp nói riêng và luật pháp nói chung. Các cơ quan, cán bộ, công chức, viên chức và tổ chức, hoạt động của Nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân; liên hệ chặt chẽ với nhân dân; lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân (Điều 8 Hiến pháp năm 2013). Và mọi chủ thể trong xã hội (Nhà nước, các tổ chức chính trị và xã hội, tập thể và cá nhân) đều phải tuân thủ nền pháp trị hay quản trị của luật (luật pháp) mà Hiến pháp là bộ luật gốc và quy định khuôn khổ cho nền luật pháp.

Sự bình đẳng của mọi cá nhân và thể nhân (Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội,…) trong thụ hưởng và phát triển quyền, không có sự phân biệt đối xử, trước tiên và chủ yếu trong việc tham gia vào công tác quản lý nhà nước và xã hội. Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Nhà nước và các thể nhân, cá nhân đều bình đẳng trước pháp luật. Tức là Nhà nước pháp quyền phải xác lập được thể chế bảo đảm cho mọi thể chế nhà nước và xã hội, tập thể và cá nhân, không (và không thể) đòi hỏi cái ở ngoài hoặc ở trên những điều được quy định trong Hiến pháp và luật pháp nói chung. Các thể chế, nhất là thể chế hành pháp, tồn tại, hoạt động không rời rạc, mà là một thể thống nhất, chế ước lẫn nhau. Bởi vì, tính hiệu lực, hiệu quả của mỗi thể chế chỉ có được khi thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ, thực hiện và thúc đẩy tính hiệu lực, hiệu quả của thể chế liền sát bên trên và liền sát bên dưới, cũng như tất cả các thể chế khác. Trong điều kiện, môi trường thể chế như vậy, chỉ tòa án mới có quyền phán xử việc tuân thủ luật pháp. Việc thực hiện pháp luật được bảo đảm bằng một hệ thống tòa án độc lập. Hệ thống tòa án độc lập bảo đảm cho công dân có đủ khả năng và điều kiện chống lại sự tùy tiện hay sự lạm quyền của Nhà nước; và từ đó hình thành, phát triển một cơ chế chặt chẽ để kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp của luật pháp và các hoạt động, kể cả hành vi, của bộ máy lập pháp và hành pháp, ở ba khía cạnh: tổ chức; văn bản pháp luật (Hiến pháp, luật, văn bản quản lý hành chính các cấp); đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

Sự cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Điều 4 Hiến pháp năm 2013 chế định Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Các tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; tức là trong khuôn khổ luật pháp.

Bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân. Quyền và nghĩa vụ của tất cả mọi người, mọi công dân và của mỗi người, mỗi công dân, được pháp luật và các chủ thể trong xã hội, đặc biệt Nhà nước, thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm thực hiện và thúc đẩy trong khuôn khổ luật pháp.

Với 5 đặc điểm nêu trên, thể chế pháp quyền xã hội chủ nghĩa bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân đồng thời chế ước quyền lực của nhà nước và xã hội trong khuôn khổ thể chế pháp quyền hay trong khuôn khổ luật pháp. Vì thế, nó có năng lực kết nối chặt chẽ và cũng thể hiện cho thể chế dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong quá trình xây dựng nền tảng để sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, định hướng xã hội chủ nghĩa.

Bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay

Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, nội dung bảo đảm quyền con người, quyền công dân của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta, gồm(1):

Công nhận (obligation to recognition): Các chủ thể có trách nhiệm bảo đảm quyền, trước hết và chủ yếu là Nhà nước, công nhận, tức là phải thừa nhận đồng thời phải ghi nhận, ngày càng đầy đủ, cơ bản bằng các thể chế pháp luật và đạo đức (nhất là đối với các tổ chức xã hội), các quyền dân sự, chính trị và kinh tế, xã hội, văn hóa của con người.

- Tôn trọng (obligation to respect): Các chủ thể có trách nhiệm bảo đảm quyền, trước hết và chủ yếu là Nhà nước, phải kiềm chế không can thiệp, kể cả trực tiếp và gián tiếp, vào việc thừa nhận, bảo vệ, bảo đảm thực hiện và thúc đẩy các quyền con người, quyền công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật. Đồng thời, phải chủ động xây dựng và triển khai thực hiện có hiệu quả các thể chế, chiến lược, kế hoạch, chương trình phát triển và biện pháp quản lý cụ thể để mọi người được thụ hưởng và phát triển các quyền của mình trong thực tế.

Bảo vệ (obligation to protect): Nhà nước phải ngăn chặn sự vi phạm quyền con người, quyền công dân từ phía các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp, các tổ chức chính trị, xã hội và cá nhân; ngăn chặn tình trạng phân biệt đối xử, hoặc sự hình thành các thế lực đe dọa quyền con người, quyền công dân trên các lĩnh vực; điều tra, trừng trị và phục hồi các quyền đã bị vi phạm hoặc bồi thường khi có sai phạm từ phía cơ quan, người có thẩm quyền.

Thực hiện (obligation to fulfil): Nhà nước chủ động xây dựng thể chế (pháp luật, quy chế và thiết chế) cũng như các chiến lược, kế hoạch, chương trình phát triển, biện pháp quản lý cụ thể để bảo đảm cho mọi người được hưởng thụ đến mức cao nhất có thể các quyền con người, quyền công dân.

Việc thực hiện chỉ được bảo đảm (bảo đảm thực hiện) khi các thể chế, chiến lược, kế hoạch, chương trình phát triển và biện pháp quản lý được đề ra (hay xây dựng) phải mang tính khả thi và hiệu quả, chứ không phải chúng được đề ra một cách hình thức, đặc biệt trong quá trình thực thi các quyền con người, quyền công dân của các nhóm yếu thế. Nói cách khác, việc bảo đảm thực hiện không chỉ coi trọng khâu đề ra (hay xây dựng) các thể chế, chiến lược, kế hoạch, chương trình, phát triển và biện pháp quản lý cụ thể, mà đặc biệt coi trọng khâu tổ chức, triển khai thực hiện, nhằm đạt được kết quả thực tế trong việc thụ hưởng các quyền con người, quyền công dân. Cần phải nhấn mạnh phương châm này, vì một đặc trưng của việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân là coi trọng quá trình tổ chức, triển khai thực hiện thể chế, chiến lược, kế hoạch, chương trình phát triển không kém việc đạt được mục tiêu đề ra.

Thúc đẩy (obligation to promote) là tạo lập điều kiện và môi trường kinh tế nói riêng và xã hội nói chung, mang tính hỗ trợ, thuận lợi cho việc tiếp cận quyền con người, quyền công dân của các nhóm xã hội, đặc biệt các nhóm yếu thế; đồng thời thiết lập và duy trì một cơ chế minh bạch, hiệu quả để giám sát quyền con người ở cả khu vực công và tư, theo thể chế pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Thúc đẩy quyền con người, quyền công dân đòi hỏi Nhà nước và các chủ thể có trách nhiệm bảo đảm quyền không chỉ thụ động, kiềm chế không can thiệp vào công tác bảo đảm quyền của các cá nhân và tập thể, mà quan trọng hơn, là phải chủ động xây dựng và triển khai, thực hiện các thể chế, chiến lược, kế hoạch, chương trình, biện pháp quản lý cụ thể, để hỗ trợ các cá nhân và tập thể có điều kiện và môi trường thuận lợi cho việc thụ hưởng và phát triển các quyền của mình.

Bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong thực tế

Từ những nội dung bảo đảm quyền con người, quyền công dân của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nêu trong Hiến pháp năm 2013, trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, công tác bảo đảm quyền con người, quyền công dân đã và đang được thực hiện trong thực tế theo các phương hướng sau:

Một là, đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trên cơ sở tiếp tục hoàn thiện, phát triển thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế tri thức, phát huy vai trò quốc sách hàng đầu của giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, và xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, nhằm phát triển nhanh, bền vững trong điều kiện hội nhập quốc tế.

Hai là, xây dựng nền văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học; xây dựng văn hoá thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội; xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện.

Ba là, hoàn thiện, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; không ngừng củng cố, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tăng cường sự đồng thuận xã hội.

Bốn là, tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, trong sạch, vững mạnh; hoàn thiện hệ thống pháp luật, đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tệ nạn xã hội và tội phạm; nâng cao hiệu lực, hiệu quả, kỷ luật, kỷ cương, tính công khai, minh bạch trong hoạt động quản lý của Nhà nước, nhất là quản lý kinh tế.

Năm là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, và tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Tiếp tục cụ thể hoá phương thức lãnh đạo của Đảng đã được xác định trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) ở tất cả các cấp bằng những quy chế, quy định, quy trình cụ thể. Coi trọng xây dựng văn hoá trong các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, trong hệ thống chính trị. Đổi mới phương pháp, phong cách, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo của Đảng từ Trung ương tới cơ sở, xây dựng phong cách làm việc khoa học, tập thể, dân chủ, gần dân, trọng dân, vì dân, bám sát thực tiễn, nói đi đôi với làm. /.

ST.

Tiếp tục gìn giữ, vun đắp và phát triển quan hệ Việt Nam - Campuchia lên tầm cao mới

Tiếp nối cuộc gặp giữa lãnh đạo cấp cao của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng Nhân dân Campuchia và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (tháng 9-2023), chuyến thăm chính thức Việt Nam của Chủ tịch Quốc hội Campuchia Khuon Sudary (từ ngày 30-11 đến 2-12-2023) và Thủ tướng Chính phủ Campuchia Hun Manet (từ ngày 11-12 đến 12-12-2023) lần đầu tiên trên cương vị mới, tiếp tục khẳng định sự coi trọng và dành ưu tiên hàng đầu cho mối quan hệ Việt Nam - Campuchia của lãnh đạo Đảng, Nhà nước hai bên. Đây đồng thời là nền tảng vững chắc, tạo đà thúc đẩy mối quan hệ hữu nghị truyền thống lâu đời Việt Nam - Campuchia lên tầm cao mới, vì sự trường tồn của mỗi dân tộc.

Thiếu nhi Thủ đô chào đón Thủ tướng Campuchia Samdech Hun Manet sang thăm chính thức Việt Nam_ Ảnh: TTXVN

Những thành tựu nổi bật trong quan hệ Việt Nam - Campuchia

Việt Nam và Campuchia là hai nước láng giềng cùng nằm trên bán đảo Đông Dương, thuộc vùng hạ lưu sông Mekong, đều có nguồn gốc nền văn minh lúa nước với lịch sử lâu đời ở khu vực Đông Nam Á, đặc biệt đều có vị trí địa - chính trị hết sức quan trọng, là tâm điểm kết nối khu vực Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Với nhiều điểm tương đồng, hai nước luôn gần gũi, gắn bó, chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước trước đây, cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.

Từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương được thành lập vào năm 1930 đến nay, mối quan hệ Việt Nam - Campuchia đã trải qua các giai đoạn lịch sử quan trọng; nhân dân hai nước luôn đoàn kết, ủng hộ, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Đặc biệt, Việt Nam đã ủng hộ, giúp đỡ Campuchia lật đổ chế độ diệt chủng Khmer Đỏ (ngày 7-1-1979), hồi sinh dân tộc, tìm giải pháp chính trị toàn diện cho vấn đề Campuchia; xây dựng quan hệ láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài từ năm 1993 đến nay.

Thực tiễn đã minh chứng, mối quan hệ giữa hai Đảng, hai Nhà nước dù trải qua không ít thăng trầm vẫn luôn gắn bó chặt chẽ, mật thiết và được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, tùy vào từng bối cảnh, tình hình và từng thời điểm lịch sử cụ thể. Việc tăng cường sự đoàn kết, gắn bó, giúp đỡ lẫn nhau giữa hai Đảng, hai Nhà nước là tất yếu khách quan, quy luật sống còn và nhân tố quan trọng hàng đầu đối với cách mạng mỗi nước, góp phần bảo đảm môi trường hòa bình, an ninh và phát triển trong khu vực.

Trong bối cảnh Việt Nam thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ; chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, yêu cầu tăng cường quan hệ Việt Nam - Campuchia luôn là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Các chuyến thăm ngoại giao của lãnh đạo cấp cao hai nước diễn ra thường xuyên. Thông qua các chuyến thăm, hai bên nhất trí khẳng định lại những nguyên tắc chỉ đạo quan hệ giữa hai nước, thỏa thuận những phương hướng củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác nhiều mặt, hình thành cơ chế cụ thể, từng bước đàm phán giải quyết những vấn đề còn tồn tại, tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy quan hệ hai nước bước vào giai đoạn phát triển mới.

Bước sang thế kỷ XXI, hai bên tiếp tục tăng cường các chuyến thăm ngoại giao và tiếp xúc thường xuyên giữa lãnh đạo cấp cao hai nước. Trong các cuộc gặp cấp cao, hai bên đều nhấn mạnh tầm quan trọng và quyết tâm củng cố mối quan hệ hợp tác truyền thống giữa hai Đảng, hai Nhà nước. Đáng chú ý, tháng 11-2000, hai bên đã ra tuyên bố xác định nguyên tắc trong quan hệ hai nước, trong đó nhấn mạnh ưu tiên hợp tác trên các lĩnh vực quốc phòng - an ninh, kinh tế - thương mại, giáo dục - đào tạo, văn hóa, y tế, mở rộng các hoạt động giao lưu hữu nghị, văn hóa, thể thao và giúp đỡ lẫn nhau giữa các bộ, ngành, ủy ban của Quốc hội, đoàn thể, tổ chức nhân dân và các địa phương hai nước… Năm 2005 tiếp tục là một dấu mốc quan trọng khi hai bên nhất trí quyết tâm phát triển quan hệ hai nước theo phương châm 16 chữ “láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài”, thúc đẩy nâng tầm từ “hợp tác nhiều mặt” lên “hợp tác toàn diện”. Trên cơ sở đó, quan hệ giữa hai nước vừa phát triển theo chiều rộng, diễn ra trên nhiều lĩnh vực từ chính trị - đối ngoại, quốc phòng - an ninh đến kinh tế, văn hóa - xã hội, vừa từng bước đi vào chiều sâu, hướng tới các thỏa thuận mang tính chiến lược, lâu dài ở cấp quốc gia.

Trong những năm gần đây, các cấp, các ngành, địa phương và doanh nghiệp hai bên đã chủ động phối hợp tích cực triển khai thực hiện các hiệp định, thỏa thuận hợp tác giữa hai Chính phủ và chương trình hợp tác giữa các ban, bộ, ngành, địa phương. Kết quả đạt được trên các lĩnh vực góp phần quan trọng vào việc giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh ở mỗi nước; tiếp tục củng cố và tăng cường mối quan hệ láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài Việt Nam - Campuchia; đồng thời, góp phần nâng cao vị thế của hai Đảng, hai Nhà nước, đóng góp tích cực vào hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực cũng như trên thế giới. Cụ thể:

Thứ nhất, quan hệ chính trị tiếp tục được tăng cường, phát huy vai trò nòng cốt, định hướng trong quan hệ hai nước.

Hai bên khẳng định quan hệ Việt Nam - Campuchia đang phát triển tốt đẹp, ngày càng đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả trên các lĩnh vực, trở thành tài sản chung quý báu của hai dân tộc và là nhân tố quan trọng bảo đảm thắng lợi trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của mỗi nước, cũng như quyết tâm giữ gìn, không ngừng phát huy, truyền tiếp cho thế hệ mai sau tình đoàn kết hữu nghị, truyền thống, hợp tác toàn diện Việt Nam - Campuchia.

Hai bên thường xuyên duy trì truyền thống trao đổi các đoàn cấp cao của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội cũng như giữa các bộ, ngành, địa phương. Năm 2020 và 2021, trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 bùng phát và diễn biến hết sức phức tạp, hoạt động trao đổi đoàn cấp cao trực tiếp giữa hai nước không thể thực hiện được, song hai bên vẫn thường xuyên duy trì quan hệ chính trị thông qua các kênh tiếp xúc, như: điện đàm, hội đàm trực tuyến, gửi thư thăm hỏi, tích cực chia sẻ, hỗ trợ các trang thiết bị, vật tư y tế để phòng, chống dịch bệnh COVID-19. Bên cạnh đó, các cơ chế hợp tác song phương được duy trì tốt đẹp và phát huy hiệu quả, nhất là Cuộc gặp giữa lãnh đạo cấp cao Đảng Cộng sản Việt Nam với lãnh đạo cấp cao Đảng Nhân dân Campuchia (CPP); Kỳ họp Ủy ban Hỗn hợp về hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật; Hội nghị các tỉnh có chung đường biên giới… Thông qua các chuyến thăm, hai bên đã đạt được nhiều thỏa thuận chiến lược, vừa định hướng cho tổng thể quan hệ hai nước, vừa kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc; các hình thức trao đổi thông tin kinh nghiệm được đẩy mạnh; nhiều văn kiện pháp lý được ký kết làm cơ sở cho việc phát triển quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai nước.

Bên cạnh đó, hai bên tích cực phối hợp tổ chức nhiều hoạt động kỷ niệm trang trọng, có ý nghĩa trong quan hệ giữa hai nước, như: Ngày chiến thắng chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc và cùng quân dân Campuchia đánh đổ chế độ diệt chủng Khmer Đỏ (ngày 7-1-1979), 55 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Campuchia (24-6-1967 - 24-6-2022)...; tuyên truyền sâu rộng về tình đoàn kết hữu nghị truyền thống và sự hợp tác toàn diện Việt Nam - Campuchia, phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động chống phá mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước.

Cùng với việc tăng cường quan hệ cấp cao, hai nước đặc biệt quan tâm thúc đẩy hoạt động ngoại giao nhân dân, xem đây là nền tảng vững chắc để gắn kết, làm sâu sắc hơn mối quan hệ hữu nghị truyền thống vốn có giữa hai nước. Các cơ chế hợp tác, như: Ủy ban Hỗn hợp về hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật; Hội nghị Hợp tác phát triển các tỉnh biên giới Việt Nam - Campuchia; Hội nghị Xúc tiến đầu tư;... được hai nước thực hiện hiệu quả.

Nhà máy Đạm Cà Mau với công suất khoảng 800.000 tấn/năm, sản phẩm chiếm hơn 60% thị phần tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long và đang phát triển mạnh mẽ tại thị trường Campuchia_Ảnh: TTXVN

Thứ hai, hợp tác quốc phòng - an ninh tiếp tục được thúc đẩy hiệu quả, trở thành trụ cột quan trọng trong quan hệ Việt Nam - Campuchia; sự phối hợp trong công tác đối ngoại được tăng cường.

Hai bên phối hợp chặt chẽ, hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng - an ninh và trật tự, an toàn xã hội ở mỗi nước; tích cực triển khai Nghị định thư về hợp tác quốc phòng giai đoạn 2020 - 2024 và Kế hoạch hợp tác về quốc phòng, an ninh hằng năm giữa Bộ Quốc phòng và Bộ Công an Việt Nam với Bộ Nội vụ Campuchia; duy trì cơ chế đối thoại chính sách quốc phòng cấp thứ trưởng; tổ chức giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới lần thứ nhất do Bộ trưởng Quốc phòng hai nước đồng chủ trì.

Hai bên khẳng định nguyên tắc không cho phép bất kỳ lực lượng nào dùng lãnh thổ của nước này để chống phá nước kia; hợp tác xây dựng tuyến biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển, phối hợp chặt chẽ trong trao đổi thông tin, giải quyết các vụ, việc phát sinh trên biên giới, đẩy mạnh công tác tuần tra, kiểm soát chặt chẽ biên giới, cửa khẩu, lối mở, ngăn chặn triệt để các hoạt động xuất, nhập cảnh trái phép; duy trì tuần tra chung trên biển; đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và các loại tội phạm xuyên quốc gia…

Các cấp, các quân khu, tổng cục, quân chủng hải quân, Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển hai bên đã trao đổi nhiều đoàn nhằm thúc đẩy triển khai kế hoạch hợp tác; tăng cường chia sẻ kinh nghiệm chuyên môn, nghiệp vụ, như đấu tranh chống nguy cơ “cách mạng màu”, chống khủng bố, tăng cường đào tạo, tập huấn. Đáng chú ý, với sự quyết tâm và nỗ lực từ cả hai phía, Việt Nam và Campuchia đã hoàn thành phân giới, cắm mốc 84% biên giới trên đất liền. Tháng 10-2019, hai nước đã ký kết Hiệp ước bổ sung năm 2019 và Nghị định thư phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Campuchia. Đến nay, Việt Nam và Campuchia đã xây dựng 315 cột mốc chính, 1.511 cột mốc phụ và 221 cọc dấu, phân giới 1.044km trên tổng số 1.258km. Hai bên đang tích cực phối hợp chặt chẽ để hoàn thành công việc phân giới, cắm mốc 16% đường biên giới đất liền còn lại. Hai bên cũng tích cực triển khai Thỏa thuận về tìm kiếm quy tập và hồi hương hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện Việt Nam hy sinh tại Campuchia(1) và thực hiện công tác tôn tạo, tu bổ các đài hữu nghị Việt Nam - Campuchia tại các tỉnh, thành phố ở Campuchia.

Không chỉ hợp tác trong khuôn khổ song phương, hai nước còn thường xuyên thực hiện tham vấn chính trị, chia sẻ thông tin kịp thời và phối hợp chặt chẽ, hiệu quả, ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, nhất là trong các khuôn khổ hợp tác của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM), Liên hợp quốc và các cơ chế hợp tác ba nước Campuchia - Lào - Việt Nam (CLV), hợp tác bốn nước Campuchia - Lào - Myanmar - Việt Nam (CLMV), Chiến lược hợp tác kinh tế ba dòng sông Ayeyawady - Chao Phraya - Mekong (ACMECs), Hợp tác tiểu vùng sông Mekong mở rộng (GMS),... góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định  hợp tác, phát triển ở khu vực và toàn cầu.

Thứ ba, hợp tác kinh tế, giáo dục - đào tạo, văn hóa, khoa học - kỹ thuật có bước phát triển tích cực.

Trên nền tảng quan hệ chính trị tốt đẹp, hai bên chủ động, tích cực đẩy mạnh các lĩnh vực hợp tác song phương một cách thiết thực, hiệu quả. Kể từ khi ký kết Hiệp định kinh tế - thương mại Việt Nam - Campuchia (năm 1998) đến nay, quan hệ thương mại, đầu tư giữa hai nước phát triển mạnh mẽ, đóng vai trò hết sức quan trọng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước, đồng thời tạo điều kiện củng cố, tăng cường mối quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai bên. Về lĩnh vực thương mại, nếu như năm 1998 - thời điểm Hiệp định thương mại Việt Nam - Campuchia được ký kết - kim ngạch xuất, nhập khẩu của hai nước chỉ đạt 117 triệu USD, thì đến năm 2021, mặc dù tình hình dịch bệnh COVID-19 diễn biến hết sức phức tạp, song kim ngạch thương mại hai chiều đạt gần 10 tỷ USD; năm 2022, đạt 10,57 tỷ USD(2). Trong 9 tháng đầu năm 2023, kim ngạch xuất, nhập khẩu giữa hai nước đạt gần 5 tỷ USD, tăng nhẹ so với cùng kỳ năm 2022. Hiện nay, Việt Nam là đối tác thương mại quốc tế lớn thứ ba của Campuchia (sau Trung Quốc và Mỹ) và là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Campuchia (sau Mỹ)(3).

Trong lĩnh vực đầu tư, tính đến nay, Việt Nam có 205 dự án đầu tư còn hiệu lực ở Campuchia với tổng số vốn đăng ký đạt 2,94 tỷ USD, đứng đầu ASEAN và trong top năm nước có đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lớn nhất tại Campuchia. Đặc biệt, Campuchia đứng thứ hai trong số 79 quốc gia, vùng lãnh thổ mà Việt Nam có đầu tư ra nước ngoài(4). Hoạt động đầu tư của Việt Nam tại Campuchia đã có mặt ở 18/25 tỉnh, thành cũng như hầu hết lĩnh vực quan trọng, như: nông nghiệp, viễn thông, ngân hàng, dịch vụ tài chính, công nghiệp chế biến, chế tạo, khai khoáng, hàng không, du lịch…, qua đó giúp tăng thu ngân sách, thúc đẩy phát triển hạ tầng và tạo việc làm cho số lượng lớn người lao động Campuchia. Hai bên thường xuyên tổ chức nhiều sự kiện quan trọng để thúc đẩy hợp tác thương mại, đầu tư song phương, như Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam - Campuchia, Hội nghị xúc tiến đầu tư Việt Nam - Campuchia, Hội chợ du lịch, mở khu kinh tế cửa khẩu,... nhằm thúc đẩy hợp tác đầu tư giữa hai nước ngày càng đi vào chiều sâu và hiệu quả.

Hợp tác và kết nối giao thông được đẩy mạnh thông qua việc hai bên ký kết Biên bản ghi nhớ về Chiến lược hợp tác giao thông vận tải giai đoạn 2018 - 2025, tầm nhìn 2030; Hiệp định vận tải đường bộ giữa Chính phủ hai nước; Hiệp định vận tải thủy Việt Nam - Campuchia, mở đường bay từ Phnom Penh, Sihanouville, Siem Reap đến Thủ đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Đà Nẵng; Thỏa thuận về địa điểm nối ray đường sắt giữa Thành phố Hồ Chí Minh đến Thủ đô Phnom Penh…

Đối với lĩnh vực nông nghiệp, Việt Nam hỗ trợ Campuchia đào tạo nguồn nhân lực, chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật trong các ngành trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản. Hai bên phối hợp chặt chẽ trong công tác kiểm dịch động thực vật, bảo vệ rừng, chống khai thác, vận chuyển buôn bán gỗ, động vật hoang dã trái phép qua khu vực biên giới hai nước, góp phần quản lý rừng bền vững và bảo tồn đa dạng sinh học.

Về lĩnh vực du lịch, số lượng khách du lịch Campuchia đến Việt Nam đứng thứ 15 trong tổng số khách du lịch quốc tế đến Việt Nam. Số lượng khách du lịch Việt Nam đến Campuchia trung bình đạt 900.000 lượt/năm, đứng thứ hai sau Trung Quốc. Năm 2023, Việt Nam trở thành một trong ba quốc gia có số lượng lớn khách du lịch đến Campuchia với hơn 880.000 người trong 10 tháng đầu năm, trong khi số lượng khách du lịch Campuchia sang thăm Việt Nam đạt hơn 300.000 người(5).

Hợp tác giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là lĩnh vực được hai bên quan tâm, coi đây là vấn đề trọng yếu mang tầm chiến lược. Hằng năm, Việt Nam dành cho Campuchia hàng trăm suất học bổng đào tạo dài hạn và ngắn hạn. Campuchia cũng dành cho phía Việt Nam 35 suất học bổng, bao gồm 15 suất học bổng đại học và sau đại học, 20 suất học bổng đào tạo ngôn ngữ, văn hóa Khmer trong vòng hai năm. Ngoài ra, hai bên tăng cường hợp tác trong lĩnh vực dạy nghề thông qua việc tổ chức các hoạt động phát triển nguồn nhân lực. Đây thực sự là nguồn bổ sung nhân lực chất lượng cao, phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước của mỗi nước.

Thứ tư, hợp tác giữa các ban, bộ, ngành, các ủy ban của Quốc hội, đoàn thể và tổ chức nhân dân tiếp tục được đẩy mạnh và đi vào thực chất hơn.

Hai bên trao đổi các đoàn, trao đổi kinh nghiệm, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau, đặc biệt là các địa phương có chung đường biên giới, tiếp tục mở rộng xây dựng kết cấu hạ tầng, chăm sóc y tế, đào tạo phát triển nguồn nhân lực, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn tại các khu vực biên giới hai nước.

Việt Nam - Cambodia hợp tác xây dựng tuyến biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển (tác giả: Nguyễn Hoàng Nam)_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Tiếp tục đồng hành, hội nhập và phát triển

Cùng với những thành tựu đạt được trong chặng đường hơn 55 năm qua, trong thời gian tới, trước những biến động phức tạp và khó lường của tình hình thế giới, khu vực và nhu cầu phát triển của mỗi nước, để tình đoàn kết hữu nghị bền chặt, sắt son giữa nhân dân hai nước Việt Nam - Campuchia phát triển lên tầm cao mới, theo phương châm chất lượng và hiệu quả thực sự, góp phần giữ vững ổn định chính trị - quốc phòng - an ninh, tăng trưởng kinh tế bền vững, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và nâng cao vị thế trên trường quốc tế, hai nước cần tập trung ưu tiên một số nội dung sau:

Một là, tiếp tục quán triệt sâu sắc, nâng cao nhận thức hơn nữa về tầm quan trọng chiến lược, ý nghĩa sống còn của mối quan hệ Việt Nam - Campuchia đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Campuchia là nước láng giềng có vị trí địa - chiến lược đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam. Mối quan hệ với Campuchia là ưu tiên đặc biệt trong chính sách đối ngoại của Việt Nam và là một trong những nhân tố quan trọng nhất, nguồn sức mạnh to lớn nhất cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ độc lập và xây dựng đất nước của mỗi Đảng, mỗi nước. Hiện nay, cả hai nước đều triển khai đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước; tuy nhiên, an ninh, phát triển của nước này luôn có tác động trực tiếp đến an ninh, phát triển của nước kia. Việc các cấp, ngành, đoàn thể, tổ chức nhân dân hai nước phối hợp chặt chẽ, hiệu quả sẽ vun đắp cho mối quan hệ tốt đẹp với hai nước ngày càng phát triển mạnh mẽ, qua đó góp phần bảo đảm môi trường khu vực hòa bình, ổn định và thịnh vượng.

Hai là, tiếp tục nỗ lực phát triển và làm sâu sắc, toàn diện hơn nữa để đưa quan hệ chính trị hai nước ngày càng đi vào chiều sâu. Phối hợp chặt chẽ trong các vấn đề chiến lược, chủ trương, chính sách liên quan đến an ninh, phát triển ở mỗi nước. Thực hiện hiệu quả các thỏa thuận, duy trì và tổ chức tốt các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao hai nước để tăng cường sự hiểu biết, tin cậy và tạo động lực thúc đẩy hợp tác trên các lĩnh vực. Tăng cường trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm giữa các cấp, các ngành. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền lịch sử truyền thống quan hệ Việt Nam - Campuchia, cũng như giữa ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ biết trân trọng, giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp Việt Nam - Campuchia. Đồng thời, nêu cao tinh thần cảnh giác, đấu tranh chống các luận điệu của các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc, kích động chia rẽ quan hệ tốt đẹp giữa hai nước.

Ba là, tăng cường hợp tác về quốc phòng - an ninh, trên cơ sở coi trọng, phối hợp chặt chẽ và hỗ trợ nhau để bảo đảm chính trị, an ninh, trật tự và an toàn xã hội của mỗi nước, coi an ninh nước này cũng chính là an ninh của nước kia. Phối hợp chặt chẽ và hỗ trợ lẫn nhau đối phó với các thách thức an ninh ngày càng đa dạng, phức tạp. Thực hiện hiệu quả Nghị định thư về hợp tác quốc phòng và Kế hoạch hợp tác hằng năm giữa Bộ Quốc phòng Việt Nam và Bộ Quốc phòng Campuchia, giữa Bộ Công an Việt Nam và Bộ Nội vụ Campuchia. Tăng cường trao đổi thông tin, tình hình, phối hợp chặt chẽ trong ứng phó với các diễn biến, không để bị động trước mọi tình huống; kiên quyết không để nước thứ ba hoặc lực lượng chính trị quân sự nào sử dụng lãnh thổ của nước này đe dọa an ninh của nước kia; tăng cường phối hợp tuần tra, giữ gìn an ninh, trật tự, cứu hộ, cứu nạn ở khu vực biên giới trên bộ và trên biển. Tiếp tục phối hợp chặt chẽ, hiệu quả trong công tác tìm kiếm và hồi hương hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam tại Campuchia, cũng như trong xây dựng, tôn tạo, trùng tu các đài hữu nghị Campuchia - Việt Nam. Đẩy mạnh hợp tác xây dựng tuyến biên giới hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển bền vững, nâng cao cảnh giác trước các âm mưu phá hoại, chia rẽ quan hệ Việt Nam - Campuchia, ngăn chặn đấu tranh hiệu quả các loại tội phạm xuyên quốc gia.

Bốn là, tăng cường hợp tác về đối ngoại, trong đó duy trì thường xuyên cơ chế trao đổi thông tin, tham vấn, phối hợp chặt chẽ, ủng hộ lợi ích chính đáng của nhau tại các diễn đàn quốc tế và khu vực, nhất là trong khuôn khổ Liên hợp quốc, ASEAN và các cơ chế hợp tác Tiểu vùng sông Mekong, góp phần giữ vững hòa bình, ổn định hợp tác, phát triển ở khu vực và trên thế giới. Triển khai hiệu quả các thỏa thuận giữa hai Đảng, hai Nhà nước và kế hoạch hành động kết nối giữa hai nền kinh tế. Tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các nước, các tổ chức liên quan để quản lý, sử dụng hiệu quả, bền vững nguồn nước sông Mekong và các nguồn tài nguyên liên quan, bảo đảm lợi ích hài hòa của các nước trong lưu vực sông Mekong.

Năm là, tiếp tục mở rộng và nâng cao hiệu quả, chất lượng hợp tác kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học - kỹ thuật. Đẩy mạnh kết nối hai nền kinh tế Việt Nam - Campuchia phát triển bền vững, lâu dài trên nguyên tắc bổ sung, tương trợ lẫn nhau và cùng có lợi. Chủ động thúc đẩy các hoạt động đầu tư, thương mại song phương gắn với chiến lược phát triển kinh tế của mỗi nước để tạo lợi ích đan xen; xác định quan hệ hợp tác kinh tế - xã hội giữa hai nước là nhiệm vụ chính trị lâu dài, mang tính chiến lược và vì lợi ích của mỗi nước. Duy trì và nâng cao tính thiết thực, hiệu quả của các cơ chế hợp tác hiện có, nhất là cơ chế họp Ủy ban hỗn hợp hai nước về hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật và Hội nghị hợp tác và phát triển các tỉnh biên giới; phối hợp thực hiện nghiêm những cam kết, điều ước quốc tế, thỏa thuận hợp tác về kinh tế, đầu tư, thương mại; tích cực rà soát bổ sung, sửa đổi hoặc đàm phán, ký kết các văn kiện hợp tác để tạo hành lang pháp lý trong hợp tác kinh tế, đầu tư; coi trọng kết nối hai nền kinh tế, đặc biệt là kết nối giao thông, năng lượng, viễn thông, du lịch. Đồng thời, có các biện pháp cải thiện môi trường đầu tư; phối hợp nghiên cứu, xây dựng chiến lược tổng thể về hợp tác kinh tế Việt Nam - Campuchia. Tăng cường các hoạt động giao lưu hữu nghị, văn hóa, nghệ thuật, thể thao, hợp tác chia sẻ kinh nghiệm về chuyên môn, nghiệp vụ giữa các bộ, ngành, địa phương, nhất là giữa thanh thiếu niên, quân đội, công an hai nước.

Sáu là, các cấp, ngành và địa phương, nhất là các địa phương có chung biên giới của hai nước coi trọng các hình thức hợp tác trực tiếp, trao đổi thông tin, kinh nghiệm, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn an ninh, ổn định và trật tự khu vực biên giới, kịp thời giải quyết những vấn đề nảy sinh trên tinh thần đoàn kết, láng giềng hữu nghị.  

Với những phương hướng và khuôn khổ quan hệ trong thời kỳ mới, cùng sự quyết tâm của lãnh đạo và nhân dân hai nước, trên tinh thần tích cực, chủ động, linh hoạt, sáng tạo và hiệu sẽ góp phần củng cố, thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Campuchia lên tầm cao mới, vì sự phồn vinh của mỗi quốc gia, vì cuộc sống ấm no của nhân dân mỗi nước, vì hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực và trên thế giới./.

ST.