Thứ Ba, 12 tháng 12, 2023

Đề cao cảnh giác, không đăng ký tham gia vào các hoạt động trực tiếp và online của RISE

 


Từ đầu tháng 10/2023, các đối tượng cộm cán của RISE - một tổ chức ngoại vi của Việt Tân, lại lên mạng xã hội kêu gọi tham dự cái gọi là chương trình “Ngày hội trở về phong trào xã hội và một số định hướng đáng chú ý của RISE trong thời gian tới”. Chương trình được nêu sẽ tổ chức vào đầu tháng 12/2023.

Trên trang thông tin của hội nhóm, RISE đã bắt đầu quảng bá cho sự kiện các đối tượng chuẩn bị tổ chức vào tháng 12/2023. Theo quảng bá của các đối tượng thì hội thảo sẽ là bàn tròn, tạo không gian để các bên liên quan trong vấn đề xuất khẩu lao động, người lao động, môi giới, các tổ chức bảo vệ người lao động, doanh nhân ngồi lại với nhau cùng thảo luận làm sao để “xây dựng cộng đồng vững mạnh hơn”.

Rồi đến với SMF 2023, các nhà “hoạt động xã hội” và tổ chức NGOs có nhiều kinh nghiệm tại Việt Nam và Đông Nam Á sẽ cùng nhau làm việc, chia sẻ các sáng tạo và xu hướng mới trong lãnh đạo phong trào xã hội trong khu vực… Trên thực tế, việc RISE tổ chức hội thảo SMF 2022 về “Tiềm năng phong trào xã hội - Bài học từ các biến động xã hội” với sự tham gia của nhiều thành phần, tầng lớp xã hội trong và ngoài nước nhằm khuếch trương thanh thế, vinh danh tổ chức, đẩy mạnh triển khai các khoá huấn luyện về “phong trào xã hội” trên không gian mạng. Qua đó lựa chọn, từng bước thúc đẩy, kích động “phong trào chính trị”, “bất tuân dân sự” ở trong nước; hướng đối tượng là số sinh viên, học sinh, người lao động, người nghèo trong xã hội để lôi kéo tham gia, tạo dựng ngọn cờ cho phong trào xã hội… 

Đây thực chất là một trong những chương trình hoạt động trọng tâm của RISE vào năm 2023. Với hoạt động này, mục đích của các đối tượng là thu hút sự quan tâm, chú ý của những người tự nhận mình là dân chủ và các tổ chức phản động lưu vong. Khi tham gia, nhiều cá nhân không thể hiểu được mục đích sâu xa của các đối tượng, sẽ bị hướng lái, tham gia vào các hoạt động vi phạm pháp luật, phạm tội. 

13.12

Nhận diện âm mưu và hoạt động của các thế lực thù địch trong việc sử dụng video ngắn độc hại trên mạng xã hội


Khi những video ngắn độc hại lan rộng trên mạng xã hội thời gian qua như: “Có lẽ tôi sẽ từ bỏ Quân đội để được làm chính mình”; “Có nên rời khỏi ngành Quân đội để bắt đầu làm lại?,  đã có những ý kiến, bình luận mang tính a dua, cổ xuý theo nội dung mà video đề cập. Đi liền với đó là các video và bài viết xuyên tạc về tình hình nội bộ, hoạt động của lực lượng Quân đội xuất hiện khá nhiều gây nhiễu loạn thông tin cho người xem, đặc biệt với những cán bộ, chiến sĩ tuổi đời còn trẻ. Ẩn sâu đằng sau những video đó còn là âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch và các tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài.

Qua thực tiễn trào lưu video ngắn độc hại trên mạng xã hội thời gian qua, có thể nhận thấy “bàn tay đen” của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trên không gian mạng âm mưu và hoạt động chống phá tập trung vào các nội dung, như: Xuyên tạc phá hoại nền tảng tư tưởng, xuyên tạc đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước; gây mâu thuẫn nội bộ, công kích, bôi nhọ và hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, lãnh đạo, chỉ huy trong Quân đội; thông qua truyền thông mạng xã hội để kêu gọi, kích động biểu tình, gây mất an ninh, trật tự an toàn xã hội; kích động chống phá của số đối tượng chống đối chỉ trích Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, tự do Internet...

Để thực hiện âm mưu thâm độc trên, các đối tượng phản động, thù địch thường dùng các thủ đoạn: Sử dụng tài khoản mạng xã hội có tương tác lớn hoặc tổ chức các chiến dịch truyền thông phát tán thông tin. Đăng tải tài liệu, thông tin, bình luận hướng dư luận nhìn nhận theo quan điểm sai lệch; dẫn nguồn thông tin từ báo chí chính thống, pha trộn thông tin thật-giả, xuyên tạc tình hình chính trị trong nước. Tiến hành xây dựng nhiều kênh thông tin trên các nền tảng xuyên biên giới có sự liên kết với nhau. Việc sử dụng các video ngắn độc hại hướng vào vấn đề phi chính trị hóa Quân đội thực chất là muốn tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo Đảng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Về mặt hình thức, những video ngắn trên mạng xã hội trước tiên làm tổn hại đến lực lượng Quân đội, để người dân hiểu sai, hiểu không tốt về lực lượng Quân đội. Từ những vụ việc đơn lẻ, các đối tượng thổi phồng, tiến tới gây phản ứng quy kết cho cả lực lượng Quân đội, tạo ác cảm, tiến đến không ủng hộ, chống đối lực lượng Quân đội, gây ra những xung đột xã hội.

Những luận điệu xuyên tạc nêu trên nếu không phát hiện, xử lý kịp thời sẽ gây ra nhiều hệ lụy, ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của lực lượng Quân đội, giảm sút lòng tin của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự. Luận điệu xuyên tạc thông qua video trên nền tảng mạng xã hội dễ phát tán, lây lan, ảnh hưởng đến tâm lý tiêu cực trong một bộ phận nhân dân, dễ nảy sinh tâm lý tiêu cực, a dua để điều hướng dư luận nhằm thực hiện các hành vi sai trái, vi phạm pháp luật của một số đối tượng. Tình hình đó khiến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm sẽ gặp nhiều khó khăn hơn. Vì vậy, đấu tranh với các thông tin, luận điệu sai trái, xuyên tạc về lực lượng Quân đội nói riêng và lực lượng vũ trang nhân dân nói chung trên mạng xã hội là vấn đề thời sự, cấp bách hiện nay.

Xã hội ngày càng phát triển, cuộc sống ngày càng hiện đại, nền công nghiệp 4.0 tập trung vào công nghệ số với sự trợ giúp mạnh mẽ từ internet thì các thế lực thù địch sẽ gia tăng lợi dụng mạng xã hội để tung nhiều thông tin xấu độc, vu cáo, xuyên tạc, bôi nhọ lực lượng Quân đội, tác động đến cộng đồng. Việc các thế lực xấu tung video ngắn trên TikTok, Facebook, các nền tảng mạng xã hội là chiêu trò lợi dụng trào lưu người sử dụng mạng đang có thói quen xem các video ngắn, các thông tin nhanh, nóng, tức thời. Do đó, dù phương pháp, thủ đoạn có những biến tướng thì bản chất vẫn không thay đổi, cũng chỉ là “bình mới, rượu cũ”. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân, nhất là các em học sinh, sinh viên cần tỉnh táo, nhận rõ phải – trái, đúng – sai. Hơn ai hết, mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân phải nâng cao tinh thần, ý thức trách nhiệm, đề cao cảnh giác, tích cực đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực xấu.

13.12

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA!

     "Chúng ta không sợ sai lầm, chỉ sợ phạm sai lầm mà không quyết tâm sửa chữa”!
Trong tác phẩm "Đạo đức cách mạng" (tháng 12-1958), Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: "Chúng ta không sợ sai lầm, chỉ sợ phạm sai lầm mà không quyết tâm sửa chữa. Muốn sửa chữa cho tốt thì phải sẵn sàng nghe quần chúng phê bình và thật thà tự phê bình. Không chịu nghe phê bình và không tự phê bình thì nhất định lạc hậu, thoái bộ. Lạc hậu và thoái bộ thì sẽ bị quần chúng bỏ rơi. Đó là kết quả tất nhiên của chủ nghĩa cá nhân".
Đây là quan điểm thể hiện tính nghiêm túc tự phê bình và phê bình trước những sai lầm, khuyết điểm. Người chỉ rõ hậu quả của việc yếu kém trong thực hành tự phê bình và phê bình sẽ làm giảm sút lòng tin của nhân dân, làm rạn nứt khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đặc biệt, tình trạng phê bình một số cán bộ, đảng viên bị chủ nghĩa cá nhân trói buộc mà có biểu hiện kiêu ngạo, tự cao tự đại, nói không đi đôi với làm; không muốn người khác phê bình mình; không tự phê bình mình hoặc tự phê bình không trung thực… làm ảnh hưởng đến nhiệm vụ cách mạng. Trên cơ sở đó, Người chỉ ra yêu cầu phải chỉnh huấn, giáo dục đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tổ chức đảng nghiêm túc phê bình và nghe quần chúng phê bình để kiên quyết khắc phục khuyết điểm, sai lầm.

Thực hiện lời Bác Hồ dạy, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và toàn dân; kết hợp chặt chẽ việc nâng cao nhận thức về đường lối, chủ trương của Đảng và Chính phủ với kiện toàn tổ chức, mở rộng dân chủ, động viên mọi người, mọi tầng lớp xã hội, nhận rõ đúng sai, tự giác phê bình, nghiêm túc sửa chữa khuyết điểm, xây dựng tinh thần đoàn kết toàn dân, chung sức chung lòng làm theo Đảng, theo Bác, thực hiện nhiệm vụ xây dựng miền Bắc XHCN, hậu phương vững chắc cho công cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Gần 60 năm qua, lời Bác dạy không những còn nguyên giá trị lịch sử mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đi đôi với đổi mới về chính trị, tăng cường xây dựng Đảng ta vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; thực hiện đồng bộ các giải pháp, tập trung thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ.

Cán bộ, đảng viên và quần chúng trong Đảng bộ Quân đội thấm nhuần lời Bác Hồ dạy, nêu cao tinh thần tự phê bình và phê bình, đi đầu trong đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị số 05 của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ra sức học tập, rèn luyện, phấn đấu xứng danh Bộ đội Cụ Hồ./.
Yêu nước ST.

TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG CHỦ TRÌ LỄ ĐÓN TỔNG BÍ THƯ, CHỦ TỊCH TRUNG QUỐC TẬP CẬN BÌNH!

         Chiều 12/12, tại Phủ Chủ tịch, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và phu nhân chủ trì lễ đón chính thức Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và phu nhân thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam theo nghi thức trang trọng nhất.

Đúng 16h, đoàn xe chở Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và phu nhân tiến vào Phủ Chủ tịch. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và phu nhân ra tận cửa xe đón Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc và phu nhân. Thiếu nhi Hà Nội tặng hoa chào mừng Tổng Bí thư, Chủ tịch Tập Cận Bình và phu nhân.  

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bắt tay và trò chuyện với Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, trước khi hai nhà lãnh đạo giới thiệu các quan chức trong đoàn. 

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng mời Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc bước lên bục danh dự. Quân nhạc cử quốc thiều Trung Quốc và Việt Nam. Cùng lúc này tại Hoàng Thành Thăng Long, 21 loạt đại bác rền vang được bắn lên chào mừng Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và đoàn đại biểu Trung Quốc./.





Yêu nước ST.

Quan điểm về chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng trong tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng - Giá trị thực tiễn đối với nước ta hiện nay

Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng là định hướng chiến lược lớn của Đảng, được đề cập toàn diện, có hệ thống trong tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” cùng nhiều bài viết, bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Việc nghiên cứu, quán triệt và vận dụng đúng đắn, sáng tạo quan điểm này có ý nghĩa quan trọng nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hội nhập quốc tế của nước ta trong bối cảnh, tình hình mới, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã xác định.

Nhận thức về quan điểm chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng trong tác phẩm của Tổng Bí thư

Trên cơ sở tổng kết lý luận thời kỳ đổi mới, bằng ngôn ngữ khoa học, giàu hình ảnh, cách diễn đạt dung dị, gần gũi, dễ hiểu, tác phẩm đã đề cập đến những vấn đề cốt lõi của chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Xung quanh quan điểm về hội nhập quốc tế, tác phẩm đã làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn; khái quát và xác định rõ tư tưởng chỉ đạo, nguyên tắc, phương hướng và nhiệm vụ cơ bản nhằm thực hiện thắng lợi chủ trương của Đảng ta về chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng trong tình hình mới.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính phát biểu tại Phiên thảo luận chung cấp cao Khóa 78 Đại hội đồng Liên hợp quốc_Nguồn: vietnam.vnanet.vn

Về cơ sở lý luận, thực tiễn của quan điểm, theo Tổng Bí thư, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng là sự kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, truyền thống ngoại giao của dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại và kinh nghiệm, thực tiễn hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế của Đảng ta trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, nhất là trong thời kỳ đổi mới. “Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên cơ sở vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, kế thừa và phát huy truyền thống, bản sắc đối ngoại, ngoại giao và văn hoá dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới và tư tưởng tiến bộ của thời đại, chúng ta đã xây dựng nên một trường phái đối ngoại và ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo của thời đại Hồ Chí Minh, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam(1).

Tổng Bí thư đặc biệt nhấn mạnh vai trò to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh về hội nhập quốc tế đối với quá trình hình thành, phát triển, hoàn thiện đường lối đối ngoại của Đảng nói chung, quan điểm về tích cực, chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng nói riêng.

Với tư tưởng “Cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới”(2), Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức rõ rằng, hội nhập với thế giới, với phong trào cách mạng trên thế giới là một trong những nhân tố làm nên thành công của sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc. Người đã đưa cách mạng Việt Nam đi vào quỹ đạo quốc tế, gắn cách mạng Việt Nam vào phong trào cách mạng thế giới. Hợp tác quốc tế, theo Người, chính là đoàn kết quốc tế, “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”(3); tranh thủ nguồn lực bên ngoài phục vụ công cuộc đấu tranh giành và củng cố độc lập dân tộc; kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Hội nhập quốc tế phải trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi.

Khẳng định “Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã đặt nền móng, trực tiếp chỉ đạo và dẫn dắt sự phát triển của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam”, tác phẩm đã khái quát, hệ thống hóa một cách sâu sắc nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại và hội nhập quốc tế, qua đó nhấn mạnh: “Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quán triệt quan điểm chỉ đạo là “phải nhìn cho rộng, suy cho kỹ” để biết mình, biết người, luôn làm chủ tình thế; hiểu rõ vị trí chiến lược của Việt Nam trong mối quan hệ giữa các nước lớn. Người đặc biệt coi trọng việc xử lý khéo léo quan hệ với các nước, nhất là các nước láng giềng và các nước lớn; chủ trương tôn trọng và giữ thể diện cho nước lớn; luôn luôn phải “biết mình, biết người”, “biết thời, biết thế” để “cương nhu kết hợp” vì lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc”(4). Có thể khẳng định, tư tưởng Hồ Chí Minh về hội nhập quốc tế đã tạo nền tảng lý luận cho đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng và trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay.

Tổng Bí thư đã khái quát, phân tích quá trình phát triển tư duy lý luận, thành tựu và kinh nghiệm hoạt động hội nhập quốc tế trên các lĩnh vực của Việt Nam trong hơn 35 năm đổi mới, coi đó là cơ sở quan trọng, trực tiếp xác định chủ trương của Đảng về chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng trong giai đoạn hiện nay.

Hội nhập quốc tế là chủ trương nhất quán của Đảng, được điều chỉnh, bổ sung, mở rộng cả về phạm vi, cấp độ và tâm thế qua mỗi kỳ Đại hội, phù hợp với sự phát triển của đất nước và bối cảnh thế giới. Từ khởi đầu bằng cách tiếp cận mới về chủ trương tham gia phân công lao động quốc tế (Đại hội VI của Đảng), mở rộng, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ kinh tế đối ngoại (Đại hội VII), tới chủ trương từng bước hội nhập kinh tế khu vực, lấy hội nhập khu vực làm tiền đề để hội nhập thế giới (Đại hội XIII); không chỉ xác định “chủ động” mà còn “tích cực” hội nhập quốc tế (Đại hội X); từ việc lấy lĩnh vực kinh tế làm trọng tâm đến chủ động, tích cực hội nhập quốc tế trên tất cả các lĩnh vực (XI), từ hội nhập quốc tế ở mức độ thấp đến hội nhập toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả (Đại hội XIII).

Định hướng chiến lược về hội nhập quốc tế được xác định rõ trong Đại hội XII của Đảng (năm 2016): “Triển khai mạnh mẽ định hướng chiến lược chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”; tiếp tục khẳng định và mở rộng phạm vi, lĩnh vực và tính chất hội nhập quốc tế của nước ta, đó là hội nhập quốc tế sâu rộng trên nhiều cấp độ, đa đạng về hình thức, từng bước thích ứng với nguyên tắc và chuẩn mực của thị trường toàn cầu, thực hiện hiệu quả các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới trong một kế hoạch tổng thể với lộ trình hợp lý, phù hợp với lợi ích của đất nước. “Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới”(5). Đến Đại hội XIII của Đảng (năm 2021), yếu tố toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả trong hội nhập quốc tế đã được xác định rõ hơn: “Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam”(6).

Tính toàn diện thể hiện ở lĩnh vực, địa bàn, phương thức, chủ thể; trong đó gắn kết nhuần nhuyễn giữa hội nhập kinh tế quốc tế, hội nhập chính trị, hội nhập quốc phòng - an ninh, hội nhập văn hóa - xã hội. Tính sâu rộng thể hiện ở mức độ tham gia hội nhập, đa dạng hóa lợi ích. Tính sâu rộng còn có nghĩa  khi tiến vào trong quỹ đạo hội nhập, phải chấp nhận, cam kết tuân thủ “luật chơi”, đan xen lợi ích chặt chẽ nhằm thúc đẩy hợp tác sâu rộng hơn nữa giữa các thành viên. Hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng là hội nhập đầy đủ, bao trùm trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh, văn hóa, xã hội, khoa học, công nghệ và các lĩnh vực khác; các tầng nấc khác nhau với các cấp độ, các hình thức; tất cả các chủ thể tham gia, hướng tới đóng góp thực chất hơn, cam kết và đan xen lợi ích cao hơn, gắn kết ngày càng chặt chẽ quốc gia với cộng đồng quốc tế. Trong đó, kinh tế là lĩnh vực đi đầu, là trọng tâm và là cơ sở vững chắc cho hội nhập trong các lĩnh vực khác, đồng thời, hội nhập trong các lĩnh vực cũng tạo ra một môi trường thuận lợi thúc đẩy hội nhập kinh tế sâu rộng hơn.

Tuy nhiên, sự toàn diện và sâu rộng không có nghĩa là dàn trải, thiếu nguyên tắc, tiếp thu dễ dãi, thiếu chọn lọc, định hướng cụ thể, mà là có định hướng, lựa chọn, có nguyên tắc, ưu tiên, có trọng tâm, trọng điểm, là sự kết hợp giữa bề rộng và chiều sâu, giữa lượng và chất, giữa cái chung và cái riêng; cũng không phải là sự cứng nhắc, rập khuôn, máy móc mà là sự sáng tạo, linh hoạt.

Hiện nay, Việt Nam đã tiến rất sâu vào quỹ đạo hội nhập quốc tế. Quan hệ với các nước trên thế giới ngày càng được mở rộng, đi vào chiều sâu, hiệu quả, cân bằng, hài hòa, thông qua xác lập những khuôn khổ đối tác toàn diện và đối tác chiến lược; tham gia ký kết các hiệp định song phương, đa phương không chỉ trong khu vực mà còn trên bình diện toàn cầu, trong đó có các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới; chủ động tham gia vào định hình các luật chơi, đóng góp tích cực vào tiến trình hội nhập và phát triển trên thế giới; vai trò, vị thế, uy tín của Việt Nam ngày một gia tăng, góp phần tạo lập, giữ vững, củng cố vững chắc cục diện đối ngoại hòa bình, ổn định để phát triển của đất nước. Điều đó cho thấy, hội nhập quốc tế là một quá trình không ngừng tìm tòi, thử nghiệm, phát triển, hoàn thiện cả về tư duy lý luận và thực tiễn của Đảng qua từng thời kỳ.  

Từ thực tiễn phát triển tư duy lý luận cũng như thực hiện hội nhập quốc tế trong quá trình đổi mới, Tổng Bí thư khái quát: “Trong hơn 35 năm đổi mới vừa qua, kế thừa và phát huy truyền thống đối ngoại vẻ vang của dân tộc, nhất là tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đặt nền móng cho nền ngoại giao thời đại Hồ Chí Minh, Đảng ta đã kế thừa và không ngừng bổ sung, phát triển, hoàn thiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở vì hoà bình, hợp tác và phát triển, thực thi chính sách đối ngoại đa phương hoá, đa dạng hoá, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”(7), đạt được những kết quả quan trọng.

Những vấn đề lý luận, thực tiễn trên đây chính là cơ sở quan trọng để “toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã thống nhất rất cao về nhận thức và quyết tâm “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại…, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”(8) theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng.

Về nội hàm quan điểm chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, tác phẩm đã đề cập ở nhiều chiều cạnh: Hội nhập quốc tế vừa là một xu thế khách quan trong thời đại toàn cầu hóa, đang “tiếp tục tiến triển, nhưng cũng bị đe dọa bởi sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, cạnh tranh chiến lược, cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại diễn ra gay gắt”(9), vừa là yếu tố tác động mạnh mẽ, xuyên suốt đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đồng thời là một đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam - một “nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”(10).

Tuy nhiên, cách tiếp cận xuyên suốt, bao trùm trong tác phẩm là coi chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng là một chủ trương, định hướng chiến lược lớn của Đảng, nhằm góp phần trả lời cho vấn đề mà Tổng Bí thư đã đặt ra ngay trong phần đầu của tác phẩm: Làm thế nào và bằng cách nào để từng bước xây dựng được chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam? Theo Tổng Bí thư, để thực hiện được mục tiêu chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, ngoài việc thực hiện thắng lợi các định hướng lớn về kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng - an ninh…, chúng ta phải “thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”(11). Đây là một quá trình tất yếu khách quan, bởi trong thế giới toàn cầu hóa hiện nay, “sự phát triển của mỗi quốc gia - dân tộc không thể biệt lập, đứng bên ngoài những tác động của thế giới và thời đại, của thời cuộc và cục diện của nó”. Hơn nữa, tính bất định, khó dự báo của cục diện thế giới và khu vực cùng với những xu thế mới đang manh nha hình thành; sự bấp bênh của môi trường kinh tế toàn cầu, sự phức tạp trong quan hệ nước lớn, sự đảo chiều, khó đoán định của những tập hợp lực lượng, với các mô hình liên minh ba bên, bốn bên… là những nhân tố mà chúng ta phải tính đến, phải thể hiện tính chủ động, tích cực khi tham gia hội nhập quốc tế.

Thực chất, tính chủ động, tích cực hội nhập quốc tế phản ánh khả năng, mức độ sẵn sàng và sự chuẩn bị tâm thế, chuẩn bị các nguồn lực vật chất, tinh thần phục vụ quá trình hội nhập một cách toàn diện, đồng bộ và hiệu quả. Thực tiễn hội nhập quốc tế trong những năm qua cho thấy, Việt Nam đã tích cực, chủ động hội nhập quốc tế, từng bước tham gia tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội quốc tế, trở thành thành viên tích cực, có trách nhiệm, có vị trí, vai trò và ảnh hưởng ngày càng gia tăng trong khu vực và trên thế giới. Đó không chỉ là minh chứng cho sự hội nhập toàn diện, sâu rộng của Việt Nam vào đời sống quốc tế, mà còn cho thấy Việt Nam đã bước vào giai đoạn mới của sự hội nhập với việc bước đầu định vị vị trí của mình trong dòng chảy của tiến trình hội nhập, trở thành một bộ phận cấu thành của chỉnh thể thế giới; xác định đúng đắn và rõ ràng vị trí, vai trò của mình trong hợp tác và phân công lao động quốc tế, cải thiện vị trí trong chuỗi giá trị, chuỗi sản xuất và cung ứng trong khu vực và toàn cầu. Đường lối, chính sách và mục tiêu trước sau như một của Việt Nam luôn phù hợp với xu thế lớn đó của thời đại. Mặt khác, giai đoạn mới trong tiến trình hội nhập cũng đặt ra những yêu cầu mới, đòi hỏi Việt Nam phải chủ động, tích cực hơn.

Đối với yêu cầu hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, tác phẩm đề cập toàn diện cả “bề rộng” và “chiều sâu” của hội nhập quốc tế, bao gồm phạm vi, mức độ tham gia và vị thế của Việt Nam trong các mặt đời sống của cộng đồng quốc tế. Theo đó, yêu cầu hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng đòi hỏi Việt Nam phải vừa tham gia tất cả các lĩnh vực, ở các quy mô và phạm vi, vừa phải khẳng định vị trí, vai trò “là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”; có ảnh hưởng đáng kể đến việc hình thành và phát triển các quy tắc, luật chơi chung. Chính vì vậy, Tổng Bí thư yêu cầu cần xây dựng vị thế và tâm thế mới của Việt Nam trong ứng xử và xử lý mối quan hệ với các nước, song phương cũng như đa phương. Thế và lực của nước ta trên các tiêu chí quan trọng như kinh tế, dân số, quốc phòng và đối ngoại đã khác nhiều sau 35 năm đổi mới. Đặc biệt, các vấn đề thuộc lợi ích cốt lõi, mang tầm chiến lược của Việt Nam đòi hỏi chúng ta phải thể hiện tiếng nói mạnh mẽ hơn và lập trường đối ngoại tích cực hơn, trước hết ở trong khu vực.

Tính toàn diện, sâu rộng của hội nhập quốc tế trong tác phẩm còn đòi hỏi tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước, sự vào cuộc của các cấp, các ngành và toàn dân. Bởi theo Tổng Bí thư, đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng của cả hệ thống chính trị, trong đó ngành ngoại giao là những lực lượng đi đầu, đồng thời, cũng là một trong những bài học kinh nghiệm quan trọng của Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế. Do đó, cần “Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; thúc đẩy hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả vì lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia. Gắn kết chặt chẽ quá trình chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng với việc nâng cao sức mạnh tổng hợp, huy động tiềm năng của toàn xã hội; đổi mới, hoàn thiện thể chế trong nước, nâng cao năng lực tự chủ, cạnh tranh và khả năng thích ứng của đất nước”(12)đóng góp xứng đáng vào việc thực hiện mục tiêu bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định, tạo những thời cơ và điều kiện thuận lợi nhất để phát triển đất nước.

Như vậy, trong tác phẩm Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, quan điểm về tích cực, chủ động hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng là nội dung quan trọng của công tác đối ngoại, vừa là thành quả của quá trình phát triển tư duy lý luận của Đảng trong hơn 35 năm đổi mới, vừa là yêu cầu cấp thiết, là định hướng chiến lược của Việt Nam trong điều kiện mới. Hội nhập quốc tế là hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực, có sự tham gia của nhiều chủ thể, lực lượng; đa dạng, phong phú về nội dung, hình thức; bao hàm trên nhiều lĩnh vực, nhiều cấp độ, phạm vi khác nhau. Song, dù ở cấp độ nào, lĩnh vực và phạm vi nào, thì vẫn luôn bảo đảm nguyên tắc đối ngoại là: “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi”(13) và “Mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”(14).

Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân cùng Hoàng Thái tử Nhật Bản Akishino và Công nương Kiko thăm Nhà sàn Bác Hồ trong Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch_Ảnh: nhandan.vn

Những giá trị và định hướng từ tác phẩm của Tổng Bí thư đối với nước ta hiện nay

Cùng với nhiều bài viết, bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng giai đoạn trước, trong và sau Đại hội lần thứ XIII của Đảng, tác phẩm Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam “có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện cả tầm tư tưởng, lý luận và thực tiễn”(15). Tác phẩm đã đề cập những vấn đề lý luận và thực tiễn ở tầm quốc gia, dân tộc và quốc tế với tư duy lý luận sâu sắc, biện chứng, khách quan, mang tính lịch sử - cụ thể, được diễn đạt khúc chiết, rành mạch, dung dị, dễ hiểu, thể hiện rõ bản lĩnh, trí tuệ, danh dự, đạo đức, nhân cách trong sáng và trái tim sục sôi bầu nhiệt huyết cách mạng, luôn đau đáu vì Đảng, vì nước, vì dân của vị lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước ta. Đối với quan điểm chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, từ những tổng kết, phân tích, đánh giá khách quan, khoa học, những định hướng đúng đắn được đề cập trong tác phẩm, có thể rút ra một số giá trị lý luận và thực tiễn cơ bản sau:

Thứ nhất, quan điểm về tích cực, chủ động hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng trong tác phẩm góp phần bổ sung, phát triển tư duy lý luận của Đảng ta về hội nhập quốc tế. Bổ sung, phát triển lý luận là vấn đề có tính quy luật, là yêu cầu thường xuyên của Đảng ta, nhằm không ngừng hoàn thiện lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội nói chung, về hội nhập quốc tế nói riêng. Tác phẩm cũng khẳng định: “Chúng ta cần tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống”(16)Thực tiễn quá trình phát triển tư duy lý luận của Đảng về hội nhập quốc tế trong gần 40 năm đổi mới cũng cho thấy, quan điểm về tích cực, chủ động hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng không chỉ là sự bổ sung, làm sâu sắc hơn, khoa học hơn lý luận về hội nhập quốc tế của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là quan điểm của Đảng ta từ khi thực hiện đường lối đổi mới, mà còn có bước phát triển toàn diện, sâu rộng, phù hợp với tính chất, yêu cầu của thực tiễn hội nhập quốc tế của Việt Nam trong điều kiện hiện nay.

Thứ hai, trực tiếp định hướng, chỉ đạo, nâng cao chất lượng, hiệu quả hội nhập quốc tế ở nước ta trong giai đoạn mới. Với tính cách là định hướng chiến lược, chủ trương lớn của Đảng, sự kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại và hội nhập, quốc tế được đúc kết từ thực tiễn hội nhập quốc tế sinh động của nước ta, quan điểm về tích cực, chủ động hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng trong tác phẩm có giá trị thực tiễn to lớn, trực tiếp định hướng, chỉ đạo quá trình tổ chức thực hiện hội nhập quốc tế của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động hội nhập của nước ta trong những năm tới. Đồng thời, cung cấp những luận cứ khoa học, làm cơ sở để Đảng ta tiếp tục hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách đối ngoại, hội nhập quốc tế, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ tạo lập và giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của đất nước.

Thứ ba, là cơ sở để các cấp, các ngành quán triệt, tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và đông đảo nhân dân về hội nhập quốc tế, tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc thực hiện những mục tiêu chiến lược mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra, cụ thể hóa thành chương trình hành động và quyết tâm tổ chức thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng trong bối cảnh mới của đất nước và thế giới. Tác phẩm là tài liệu quý báu phục vụ việc nghiên cứu, học tập, giáo dục chính trị, tư tưởng và nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, nhân dân ta và bạn bè yêu chuộng hòa bình, tiến bộ trên thế giới về quan điểm, chủ trương trong hội nhập quốc tế của Việt Nam; củng cố, tăng cường niềm tin, khơi dậy và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành một nước phát triển, thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa như Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra.

Thứ tư, là cơ sở để đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, phủ nhận, xuyên tạc đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta hiện nay. Đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta nói chung, sự nghiệp hội nhập quốc tế trong thời kỳ đổi mới nói riêng là thành quả chung của sự nghiệp cách mạng, hơn nữa “Đối ngoại ngày nay không chỉ là sự nối tiếp của chính sách đối nội, mà còn là một động lực mạnh mẽ cho sự phát triển của các quốc gia, dân tộc”(17). Do đó, việc bảo vệ, phát triển quan điểm, chính sách đối ngoại và hội nhập quốc tế của Đảng; tăng cường đấu tranh phê phán, phản bác các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch là đòi hỏi khách quan, nhiệm vụ cấp bách, đồng thời cũng là nhiệm vụ thường xuyên, cơ bản, lâu dài. Những luận cứ khoa học về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong tác phẩm nói chung, về quan điểm chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng nói riêng là cơ sở lý luận - thực tiễn vững chắc để bác bỏ các quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch hòng xuyên tạc chủ trương, đường lối đối ngoại và hội nhập quốc tế của Đảng, Nhà nước ta.

Những giá trị tư tưởng trong tác phẩm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội nói chung, quan điểm về hội nhập quốc tế nói riêng là những đóng góp có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam, không chỉ góp phần khẳng định sự lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, xuyên suốt của Đảng đối với sự nghiệp hội nhập quốc tế của đất nước, mà còn là định hướng chiến lược nhằm huy động mọi nguồn lực của cả nước, quyết tâm thực hiện thắng lợi nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về chủ động tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả trong thời kỳ mới./.

ST.

Nâng cao hiệu quả “quản trị bản thân” của người cán bộ lãnh đạo, quản lý gắn với xây dựng Đảng về đạo đức trong tình hình mới

Trước bối cảnh tình hình mới, việc “quản trị bản thân” của người cán bộ lãnh đạo, quản lý đứng trước không ít khó khăn, thử thách và cần được nhận diện một cách đầy đủ hơn để có các giải pháp căn cơ, hữu hiệu nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu, cán bộ chủ chốt, cán bộ cấp chiến lược có đủ đức, đủ tài, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ cách mạng.

Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Đinh Tiến Dũng khảo sát thực địa công tác giải phóng mặt bằng đường vành đai 4 - vùng Thủ đô Hà Nội đoạn qua địa phận tỉnh Bắc Ninh_Nguồn: tuoitre.vn

“Quản trị bản thân” của người cán bộ lãnh đạo, quản lý là sự tự giáo dục, tự rèn luyện, thường xuyên giữ gìn và nâng cao đạo đức cách mạng; tự tạo ra năng lực đề kháng và đấu tranh với các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong và tác động tiêu cực từ môi trường bên ngoài. Đó là những hoạt động mang tính tự giác, chủ động, thường xuyên của bản thân người cán bộ lãnh đạo, quản lý trong các mối quan hệ: Đối với mình, đối với công việc và đối với người, gắn với các hoạt động của công tác xây dựng Đảng về đạo đức, bằng việc tự học tập, rèn luyện nâng cao đạo đức cách mạng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được Đảng và nhân dân tin tưởng giao phó. Phương thức lãnh đạo và “quản trị bản thân” của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong cơ chế vận hành “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” có quan hệ trực tiếp và toàn diện đến các mặt của công tác xây dựng Đảng nói chung, trong đó có xây dựng Đảng về đạo đức trong thời kỳ mới.

“Quản trị bản thân” của người cán bộ lãnh đạo, quản lý gắn với xây dựng Đảng về đạo đức, cùng với xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức, cán bộ tạo thành một chỉnh thể của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Việc “quản trị bản thân” của người cán bộ lãnh đạo, quản lý chỉ thực sự có hiệu quả khi gắn chặt với các nội dung xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Sự kết hợp chặt chẽ giữa các thành tố đó bảo đảm cho quá trình xây dựng, củng cố, phát triển đạo đức cách mạng của Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên có hiệu quả; góp phần quan trọng để Đảng xây dựng được đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý có phẩm chất, năng lực và uy tín ngang tầm nhiệm vụ; xứng đáng “là người lãnh đạo và là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Bối cảnh tình hình mới tác động đến “quản trị bản thân” của người cán bộ lãnh đạo, quản lý gắn với xây dựng Đảng về đạo đức hiện nay

Sau gần 40 năm đổi mới, cùng với những thuận lợi cơ bản, công cuộc xây dựng, phát triển đất nước cũng đứng trước không ít khó khăn, thách thức. Tình hình quốc tế “tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột Nga - Ukraine ngày càng gay gắt; nhiều quốc gia tăng trưởng chậm lại; thương mại và đầu tư toàn cầu sụt giảm; lạm phát ở mức cao dẫn đến việc nhiều nền kinh tế lớn vẫn duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt, lãi suất cao. Nợ công toàn cầu tăng mạnh, nhiều quốc gia phải đối mặt với khủng hoảng nợ, thậm chí đứng trước nguy cơ vỡ nợ. Các thị trường tài chính, tiền tệ, bất động sản quốc tế còn tiềm ẩn nhiều rủi ro, bất cập. Thiên tai, biến đổi khí hậu gây hậu quả nghiêm trọng; an ninh năng lượng, lương thực, an ninh mạng ngày càng gặp nhiều khó khăn, thách thức...”(1). Tình hình đó làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế, cũng như công cuộc xây dựng, phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa của Việt Nam.

Về tình hình trong nước, nước ta đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, vị thế, uy tín và sức mạnh tổng hợp của đất nước được nâng cao. Thành tựu đó có sự đóng góp không nhỏ của đội ngũ cán bộ, đảng viên, trong đó có đội ngũ cán bộ là người lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu các cấp. Tuy vậy, một trong bốn nguy cơ đe dọa vai trò cầm quyền của Đảng vẫn còn hiện hữu, đó là tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp... làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, đe dọa sự ổn định, phát triển của đất nước.

Trong bối cảnh mới, Đảng chủ trương “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”(2) là nhân tố quyết định, là điều kiện sống còn để khơi dậy và hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Sau hơn 25 năm thực hiện Nghị quyết số 03-NQ/HNTW, ngày 18-6-1997, của Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII, “Về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, hơn 5 năm thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19-5-2018, của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII, “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”, đội ngũ cán bộ các cấp có bước trưởng thành, phát triển về nhiều mặt, chất lượng ngày càng được nâng lên, từng bước đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Thông qua việc “quản trị bản thân” của người cán bộ lãnh đạo, quản lý gắn với xây dựng Đảng về đạo đức, Đảng đã xây dựng được đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý có lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống giản dị, gương mẫu, có ý thức tổ chức kỷ luật, luôn tu dưỡng, rèn luyện, trình độ, năng lực được nâng lên, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ được giao. Đa số cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở các cấp có năng lực, phẩm chất, uy tín. Cán bộ cấp chiến lược có bản lĩnh chính trị, kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có tư duy đổi mới, có khả năng hoạch định đường lối chiến lược và lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện...

Tuy nhiên, nhìn tổng thể, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp đông nhưng chưa mạnh… Thiếu những cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, nhà khoa học và chuyên gia đầu ngành trên nhiều lĩnh vực. Năng lực của đội ngũ cán bộ chưa đồng đều, có mặt còn hạn chế, yếu kém; nhiều cán bộ, trong đó có cả cán bộ cấp cao thiếu tính chuyên nghiệp, làm việc không đúng chuyên môn, sở trường; trình độ ngoại ngữ, kỹ năng giao tiếp và khả năng làm việc trong môi trường quốc tế còn nhiều hạn chế... Một bộ phận cán bộ phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, làm việc hời hợt, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong đó có cả cán bộ cấp chiến lược, thiếu gương mẫu, uy tín thấp, năng lực, phẩm chất chưa ngang tầm nhiệm vụ, quan liêu, xa dân, cá nhân chủ nghĩa, vướng vào tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm(3).

Sự trưởng thành, lớn mạnh và phát triển của đội ngũ cán bộ qua gần 40 năm đổi mới là nhân tố then chốt, quyết định làm nên những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Song, những khuyết điểm, yếu kém của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý và những hạn chế, bất cập trong công tác cán bộ sẽ tiếp tục tác động mạnh, gây ra nhiều khó khăn đối với việc thực hiện “quản trị bản thân” của người cán bộ lãnh đạo, quản lý gắn với xây dựng Đảng về đạo đức trong tình hình mới hiện nay.

Giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả “quản trị bản thân” của người cán bộ lãnh đạo, quản lý gắn với xây dựng Đảng về đạo đức hiện nay

Một là, tiếp tục đề cao việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu.

Sự trong sạch, vững mạnh của Đảng và hệ thống chính trị biểu hiện tập trung và sinh động ở đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý. Vì vậy, cùng với việc chú trọng xây dựng cơ chế phù hợp và tổ chức bộ máy trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, phải đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý có phẩm chất đạo đức cách mạng, “xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(4).

Vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, trách nhiệm nêu gương của người cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu, các cấp ủy, tổ chức đảng, các tổ chức trong hệ thống chính trị phải không ngừng chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý thật sự là “công bộc” của nhân dân, suốt đời “Làm đày tớ cho nhân dân, chứ không phải là làm quan cách mạng”(5). Bởi vậy, một mặt, Đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị không chỉ quan tâm giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, mà còn phải tiếp tục định hướng xây dựng được hệ tiêu chí đạo đức cách mạng đối với đội ngũ này đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới hiện nay, bảo đảm đội ngũ đó vừa có đức, vừa có tài, trong đó “đức là gốc”.

Mặt khác, yêu cầu đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp phải không ngừng nâng cao năng lực công tác, tu dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng, trung thành, tận tụy, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, phải có tinh thần “phụng công thủ pháp” (làm việc công phải tuyệt đối tuân thủ pháp luật), không ngừng đấu tranh với mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, ít lòng tham muốn về vật chất, không hiếu danh, không kiêu ngạo, không quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, tha hóa quyền lực... Như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Làm việc nước bây giờ là hy sinh, là phấn đấu, quên lợi riêng mà nghĩ lợi chung. Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không nên bầu”(6). Từ đó, trong công tác cán bộ, chú ý xây dựng chế độ tuyển dụng, bổ nhiệm vào các ngạch, bậc theo các tiêu chuẩn hiện đại, có phẩm chất đạo đức cách mạng, tính chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa ngày càng cao.

Đồng thời, bản thân người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải không ngừng tự tu dưỡng, tự rèn luyện để gương mẫu về tinh thần trách nhiệm phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, luôn đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Để nâng cao hiệu quả “quản trị bản thân” gắn với xây dựng Đảng về đạo đức, người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải đề cao trách nhiệm trước Tổ quốc, trước Đảng, trước nhân dân, không vì lợi ích cá nhân mà không dám hành động. Trách nhiệm cá nhân của người lãnh đạo, quản lý, nhất là của người đứng đầu là nhân tố quyết định cho sự thành công hay thất bại của các hoạt động, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức. Điều đó giúp cho các cán bộ lãnh đạo, quản lý nỗ lực trong việc cụ thể hóa chủ trương, đường lối thành kết quả thực tiễn thuyết phục. Chính trong khó khăn, thử thách và qua hoạt động thực tiễn, nhân dân mới đánh giá chính xác phẩm chất và tài năng của người cán bộ lãnh đạo, quản lý, chứ không chỉ dựa vào cương vị của họ.

Cán bộ, chiến sĩ quân đội giúp nhân dân cứu lúa ở đồng bằng sông Cửu Long _Nguồn: tienphong.vn

Hai là, đề cao dân chủ và kiên trì thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng trong thực thi quyền lực chính trị của người cán bộ lãnh đạo, quản lý trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng là những quy định về cách thức xây dựng tổ chức và hoạt động của Đảng, bảo đảm sự thống nhất của tổ chức, sự nghiêm minh của kỷ cương, sự vững mạnh của tổ chức đảng và hoạt động của đội ngũ cán bộ, đảng viên; do đó, phải được đề cao, hiểu rõ, kiên trì và thực hiện nghiêm. Hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam quy định 5 nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng là: Tập trung dân chủ; tự phê bình và phê bình; đoàn kết thống nhất; Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân; Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đây không phải là những nguyên tắc riêng rẽ, mà có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong xây dựng tổ chức và hoạt động của Đảng, trong sinh hoạt đảng.

Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp xem nhẹ hay cố tình vi phạm các nguyên tắc xây dựng Đảng trong thời gian qua là do nhận thức chưa đầy đủ, sâu sắc nội dung, yêu cầu của các nguyên tắc đó; do đó, để kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng hiện nay phải làm cho cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ lãnh đạo, quản lý, cán bộ chủ chốt, người đứng đầu có nhận thức đầy đủ, đúng đắn về nội dung, yêu cầu để từ đó thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng trong điều kiện mới.

Cần tiếp tục đẩy mạnh việc cụ thể hóa, thể chế hóa các nguyên tắc xây dựng Đảng thành quy chế, quy định trong Đảng và pháp luật của Nhà nước và có những biện pháp tuyên truyền, học tập phù hợp nhằm nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý về các nguyên tắc này.

Cấp ủy, tổ chức đảng cần có chương trình kiểm tra, giám sát cán bộ lãnh đạo, quản lý về thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng. Thông qua kiểm tra, giám sát kịp thời phát hiện những thiếu sót để bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp, đồng thời giáo dục, uốn nắn, ngăn chặn kịp thời các khuyết điểm, vi phạm nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng của cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Ba là, tăng cường giám sát, phản biện xã hội đối với việc “quản trị bản thân” của người cán bộ lãnh đạo, quản lý gắn với xây dựng Đảng về đạo đức hiện nay.

Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội để tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện tốt dân chủ, giám sát và phản biện xã hội, tăng cường đồng thuận xã hội, tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức chính trị - xã hội tăng cường hoạt động giám sát, vận động nhân dân tham gia giám sát, phối hợp với cơ quan quyền lực nhà nước cùng giám sát hoặc độc lập giám sát theo chức năng, nhiệm vụ của mình với cơ chế theo dõi, phát hiện, nhận xét và kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết những vấn đề liên quan tới đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong quá trình tham gia xây dựng Đảng về đạo đức. Hoạt động giám sát, phản biện xã hội đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý được tiến hành thường xuyên, đúng nguyên tắc sẽ góp phần bảo vệ Cương lĩnh chính trị, đường lối, chiến lược, các nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bảo vệ và xây dựng đội ngũ cán bộ trong sạch, vững mạnh, có sức chiến đấu cao.

Mặc dù không mang tính quyền lực nhà nước, nhưng giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức chính trị - xã hội đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý có tính linh hoạt, rộng mở, năng động, khách quan, bảo đảm “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”. Giám sát xã hội vừa góp phần nâng cao chất lượng lãnh đạo, quản lý, vừa làm cho sự lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ gắn với thực tiễn hơn; đồng thời, bảo đảm tính thống nhất giữa nghị quyết và sự chấp hành, giữa lời nói và việc làm của người cán bộ lãnh đạo, quản lý, từ đó, giúp khắc phục có hiệu quả bệnh quan liêu, chủ quan, duy ý chí, thiếu trách nhiệm, hành chính hóa... trong một số tổ chức và một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý hiện nay, bảo đảm cho nguyên tắc tập trung dân chủ được thực hiện nghiêm túc trong hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước.

Giám sát, phản biện xã hội còn nâng cao hiệu quả sự thẩm định, đánh giá, nhận xét đối với người cán bộ lãnh đạo, quản lý, khi được đưa ra lấy ý kiến trước tổ chức và quần chúng nhân dân. Mục đích của phản biện xã hội là nhằm thực thi dân chủ, phát huy trí tuệ của toàn xã hội, từ đó làm cho các quyết sách chính trị của người cán bộ lãnh đạo, quản lý thêm đúng đắn, đáp ứng lợi ích của các đối tượng chịu sự tác động của quyết sách đó.

Phát huy vai trò của nhân dân là một giải pháp hữu hiệu để thực hiện giám sát việc quản trị bản thân của người cán bộ lãnh đạo, quản lý gắn với xây dựng Đảng về đạo đức. Đây là một nhiệm vụ rất quan trọng trong hoạt động lãnh đạo của Đảng, để xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp ngày càng trong sạch, vững mạnh, để Đảng ta thực sự “là đạo đức, là văn minh”. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Thành công của Đảng ta là ở nơi Đảng ta đã tổ chức và phát huy lực lượng cách mạng vô tận của nhân dân”(7). Phát huy vai trò của nhân dân trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, “quản trị bản thân” người cán bộ lãnh đạo, quản lý gắn với xây dựng Đảng về đạo đức, một mặt đòi hỏi đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý phải đề cao trách nhiệm trước nhân dân và tăng cường mối quan hệ “máu thịt” với nhân dân, luôn tâm niệm mình vừa là người lãnh đạo, vừa là công bộc, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân; mặt khác, phải làm cho nhân dân hiểu về vai trò của mình đối với việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, từ đó tham gia giám sát cán bộ, đảng viên các cấp thực chất và hiệu quả; phát huy vai trò của báo chí trong tổng kết, cổ vũ, nhân rộng các gương điển hình tiên tiến, phê bình, phản biện phong cách quan liêu, hách dịch, chưa thật sự tận tâm vì lợi ích của nhân dân của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu.

Bốn là, tiếp tục đẩy mạnh tự phê bình và phê bình một cách thực chất nhằm nâng cao hiệu quả “quản trị bản thân” của người cán bộ lãnh đạo, quản lý gắn với xây dựng Đảng về đạo đức.

Cán bộ lãnh đạo, quản lý phải là tấm gương trong thực hiện tự phê bình và phê bình để cấp dưới làm theo. Tự phê bình và phê bình phải thực sự cầu thị, tự giác, chân thành, khách quan, có lý, có tình, đúng và khéo, trên tình đồng chí thương yêu; khi có khuyết điểm phải tự giác nhận khuyết điểm và có kế hoạch sửa chữa.

Để thực sự nêu gương tự phê bình và phê bình, đòi hỏi mỗi tổ chức đảng, mỗi người cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu cần tự giác, trung thực, thật nghiêm túc, khách quan tự phê bình và phê bình; thực hiện phương châm “phòng bệnh hơn chữa bệnh”, khi “có bệnh” thì phải kiên quyết “trị bệnh cứu người”, không được có tư tưởng dễ dãi, bao che. Cùng với đó, cần xử lý nghiêm minh những biểu hiện thành kiến, trù dập người dám phê bình và có những hình thức kỷ luật thích đáng đối với những người lợi dụng phê bình để gây chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ.

Năm là, đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đề cao trách nhiệm nêu gương trong “quản trị bản thân” của người cán bộ lãnh đạo, quản lý gắn với xây dựng Đảng về đạo đức.

Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021, của Bộ Chính trị, “Về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh””, yêu cầu: “… cần phải quán triệt, tập trung làm tốt ba nội dung: Học tập, làm theo Bác và nêu gương của cán bộ, đảng viên(8). Quan điểm trên thể hiện rõ quyết tâm của Đảng yêu cầu người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải ra sức học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Để “quản trị bản thân” tốt, người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải nghiêm túc thực hiện các quy định của Đảng về những điều đảng viên không được làm; quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, thường xuyên và tự giác “tự soi”, “tự sửa”. Đại hội XIII của Đảng xác định: “Tập trung xây dựng Đảng về đạo đức… Thực hiện nghiêm các quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương. Đảng viên tự giác nêu gương để khẳng định vị trí lãnh đạo, vai trò tiên phong, gương mẫu, tạo sự lan tỏa, thúc đẩy các phong trào cách mạng”(9). Đồng thời, cần “xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong, gương mẫu, là hạt nhân đoàn kết”(10). Việc “quản trị bản thân” “chẳng những phải ra sức rèn luyện và tu dưỡng, trong lúc gian khổ khó khăn, trong lúc thất bại, mà còn và càng phải rèn luyện và tu dưỡng trong lúc thuận lợi, trong lúc thành công”(11).

Để thực hiện có hiệu quả “quản trị bản thân”, nhất là việc nêu gương của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, cần tiếp tục bổ sung, hoàn thiện các quy định chuẩn mực về phong cách làm việc của cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, ngành, đơn vị… làm cơ sở cho đánh giá, giám sát, quản lý đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu. Tiếp tục cụ thể hóa “Khung tiêu chuẩn chức danh, định hướng khung tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp” theo Quy định số 89-QĐ/TW, ngày 4-8-2017, của Bộ Chính trị, để đo lường được lề lối, phong cách của từng cán bộ lãnh đạo, quản lý ở từng cấp, từng ngành, từng đơn vị một cách phù hợp, làm cơ sở cho đánh giá, phân loại và giám sát cán bộ hằng năm. Như vậy, việc đánh giá sự nêu gương của người cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu các cấp sẽ được đo lường cụ thể theo vị trí việc làm, nhiệm vụ và năng lực lãnh đạo, quản lý.

Sáu là, các cấp ủy, các tổ chức trong hệ thống chính trị tăng cường đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, kiểm điểm, đánh giá hiệu quả “quản trị bản thân” của người cán bộ lãnh đạo, quản lý gắn với xây dựng Đảng về đạo đức theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, tạo niềm tin trong Đảng và nhân dân đối với người cán bộ cách mạng trong giai đoạn mới.

Coi trọng công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng, kết hợp với “phát huy vai trò giám sát của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, báo chí và nhân dân đối với cán bộ, đảng viên trong thực hiện quy định nêu gương. Xử lý kiên quyết, nghiêm minh các tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên vi phạm. Khen thưởng, biểu dương, động viên kịp thời những mô hình hay, các điển hình tiên tiến, tấm gương tiêu biểu”(12).

Bên cạnh đó, phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về vấn đề “quản trị bản thân” của người cán bộ lãnh đạo, quản lý gắn với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; tăng cường bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới về rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là người đứng đầu. Đồng thời, đổi mới căn bản chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý theo tinh thần khoa học, thực tiễn, sáng tạo, thiết thực và hiện đại.

Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thông tin, tuyên truyền về “quản trị bản thân” của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý; chú trọng tuyên truyền gương người tốt, việc tốt trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, lấy nhân tố tích cực để đẩy lùi tiêu cực; đồng thời, phê phán, đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, thiếu trách nhiệm, vụ lợi cá nhân, vi phạm những chuẩn mực đạo đức, lối sống, uy tín thấp, không còn được nhân dân tín nhiệm... Tập trung chấn chỉnh, quản lý thông tin trên internet, các phương tiện truyền thông xã hội; kịp thời phản bác những thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch, góp phần bảo vệ cán bộ, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng./.

ST.