Thứ Năm, 4 tháng 1, 2024

XÂY DỰNG “THẾ TRẬN LÒNG DÂN” TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG ĐỂ BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 Xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ trương đúng đắn, nhất quán, thể hiện tư duy mới, tầm nhìn chiến lược của Đảng và Nhà nước ta. Để thực hiện chủ trương này một cách hiệu quả, cần kiên trì, kiên quyết, triển khai đồng bộ các giải pháp; có lộ trình cụ thể, tiến hành thận trọng, từng bước, chủ động bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật và kịp thời phát hiện, giải quyết khó khăn, vướng mắc ngay từ cơ sở.

1- Hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, nhất là sự bùng nổ của viễn thông, internet, không gian mạng trở thành môi trường đặc biệt để các quốc gia khai thác, phục vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc. Đối với Việt Nam, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin là một trong những cơ hội để đi tắt, đón đầu, phát triển đất nước nhanh và bền vững dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước. Tuy nhiên, không gian mạng cũng là môi trường để các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng để đăng tải nội dung chống phá cách mạng Việt Nam trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong đó, chúng sử dụng không gian mạng như một công cụ đắc lực để chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng bằng nhiều thủ đoạn mới ngày càng tinh vi, xảo quyệt, trắng trợn hơn.
Ngày 22-10-2018, Bộ Chính trị khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW, “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Nghị quyết xác định việc bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, trong đó lực lượng tuyên giáo các cấp là nòng cốt; là công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị - xã hội các cấp; của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, của từng cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu. Trong thực tiễn, Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành đồng bộ, toàn diện nhiều chủ trương, giải pháp để thực hiện nghị quyết này; trong đó, xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là một trong những giải pháp cơ bản, quan trọng nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Thực hiện chủ trương của Đảng, trong những năm qua, cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp đã lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai nhiều giải pháp về công tác tổ chức, lực lượng, đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp tiến hành; chú trọng phát huy tốt vai trò của các tổ chức, lực lượng, nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân; đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp trong xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Các cơ quan chức năng đã chủ động làm tốt công tác nghiên cứu chiến lược, nắm bắt, đánh giá, dự báo đúng tình hình, nhất là những vấn đề về âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước nhiều giải pháp có ý nghĩa chiến lược trong thực hiện nhiệm vụ này. Chúng ta đã phát huy sức mạnh tổng hợp của cơ quan báo chí, xuất bản, truyền thông, vận dụng tổng hợp hình thức, phương pháp tuyên truyền, đấu tranh; kết hợp chặt chẽ với đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả tuyên truyền miệng, tuyên truyền đối ngoại, tuyên truyền trên internet, mạng xã hội và các kênh truyền thông khác, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng; đồng thời, chủ động tăng cường thông tin tích cực đi đôi với phòng ngừa, tích cực đấu tranh phản bác thông tin xấu, độc, sai trái, thù địch trên không gian mạng; kết hợp phòng thủ tích cực, vững chắc với tiến công đáp trả, kịp thời ngăn chặn, xử lý các tình huống trên không gian mạng một cách linh hoạt và hiệu quả, không để bị động, bất ngờ. Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “... công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch được lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, chuyển biến tích cực”.
Cùng với đó, Nhà nước đã ban hành, sửa đổi hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm bảo đảm an toàn, an ninh mạng; đồng thời, nâng cao hiệu lực, hiệu quả việc xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng theo cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước thống nhất quản lý, các ban, bộ, ngành trung ương tham mưu, cùng các địa phương tổ chức thực hiện. Đặc biệt, Nhà nước đã kịp thời bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật để bảo đảm xử lý nghiêm tổ chức và cá nhân đưa tin sai sự thật, xấu, độc trên không gian mạng. Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các cấp đã chú trọng khơi dậy lòng yêu nước, tự hào dân tộc, củng cố niềm tin của người dân vào chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nâng cao ý thức trách nhiệm, trình độ nhận thức, ý chí của người dân; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ, quyết liệt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, mang lại hiệu quả rõ rệt; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của người dân và thường xuyên chú trọng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần quy tụ, tập hợp các tầng lớp nhân dân, tạo sự đồng thuận trong nhân dân, củng cố niềm tin của nhân dân đối với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đó là nền tảng cơ bản để xây dựng thành công “thế trận lòng dân” trên không gian mạng, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan, nhiệm vụ xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng còn có mặt hạn chế: Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của một số cấp ủy, chính quyền đối với nhiệm vụ quan trọng này chưa được quan tâm đúng mức, tổ chức thực hiện chưa quyết liệt và chưa hiệu quả. Một số cơ quan, đơn vị, địa phương chưa huy động và phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị; vẫn còn không ít cán bộ, đảng viên và người dân thờ ơ, đứng ngoài cuộc, có biểu hiện né tránh, hoặc coi đây chỉ là nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước và các cơ quan chức năng. Công tác thông tin, tuyên truyền về một số chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng chưa thường xuyên, kịp thời, chưa đáp ứng được sự mong đợi của nhân dân. “Công tác đấu tranh phản bác, ngăn chặn các thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch có lúc, có nơi còn bị động, thiếu sắc bén, tính chiến đấu chưa cao; công tác nắm bắt dư luận trước những sự kiện, tình huống bất ngờ còn chưa kịp thời”. Trước các thủ đoạn, phương thức ngày càng tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng, một bộ phận cán bộ, đảng viên và tầng lớp nhân dân có biểu hiện chủ quan, lơ là, mất cảnh giác; chưa thể hiện tinh thần trách nhiệm, chính kiến khi tham gia mạng xã hội, thiếu ý thức hành động phản bác những luận điệu xuyên tạc chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng; thậm chí, một số người còn có biểu hiện lệch lạc về quan điểm trên internet, mạng xã hội, hoặc phụ họa, vô tình tiếp tay cho các thế lực thù địch tán phát các quan điểm sai trái, phản động...
2- Dự báo trong những năm tới, các thế lực thù địch, nhất là số đối tượng phản động, phần tử cơ hội chính trị sẽ tiếp tục triệt để lợi dụng không gian mạng để chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng với phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt, trắng trợn hơn. Chúng sử dụng phổ biến nhất là các phương thức liên lạc qua giải pháp cung cấp nội dung, như hình ảnh, tin nhắn, gọi điện cho người dùng (OTT) để lập hội kín, nhóm kín trên không gian mạng, từ đó móc nối, lôi kéo thành viên tham gia. Thông qua các trang mạng xã hội, như Zalo, Facebook, Youtube... các đối tượng này tổ chức các lớp học trực tuyến về cái gọi là “xã hội dân sự”, “dân chủ, nhân quyền”, tuyên truyền về cái gọi là “phương pháp đấu tranh bất bạo động”. Chúng triệt để lợi dụng các diễn đàn trên không gian mạng nhằm tác động, chuyển hóa tư tưởng của một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân; lợi dụng các sự kiện chính trị, xã hội trong và ngoài nước để bóp méo, xuyên tạc với thủ đoạn hết sức tinh vi, hòng kích động, thúc đẩy các luồng dư luận trái chiều, lôi kéo các tầng lớp nhân dân tham gia, gây áp lực với chính quyền, từ đó thực hiện âm mưu chống phá và lật đổ chế độ... Vì vậy, cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng tiếp tục diễn ra phức tạp và ngày càng quyết liệt; trách nhiệm của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trên trận tuyến này cũng sẽ ngày càng nặng nề hơn. Theo đó, xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng vẫn là một trong những chủ trương lớn, đúng đắn, vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính thường xuyên, lâu dài; đòi hỏi toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu sau:
Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý của Nhà nước trong xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng.
Đây là vấn đề cơ bản, quan trọng, xuyên suốt để xây dựng thành công “thế trận lòng dân” trên không gian mạng, giữ vai trò định hướng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; đồng thời, là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị. Cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, cơ quan, đơn vị, địa phương cần nhận thức rõ xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là một nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài; từ đó, đề cao vai trò, trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện.
Cần tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng; sự quản lý của chính quyền và vai trò trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong triển khai, tổ chức thực hiện nhiệm vụ xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Tập trung xây dựng, bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách; kiện toàn tổ chức, bộ máy của các cơ quan quản lý nhà nước về không gian mạng và thực hiện nhiệm vụ xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng. Coi trọng việc thực thi pháp luật về công nghệ thông tin, viễn thông, an toàn thông tin mạng từ Trung ương đến địa phương; xây dựng và hoàn thiện cơ chế trao đổi, chia sẻ thông tin và quy trình phối hợp xử lý thông tin chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng.
Hai là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn xã hội và từng người dân đối với nhiệm vụ xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng.
Cấp ủy, chính quyền các cấp, cơ quan, đơn vị cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về vị trí, vai trò, tầm quan trọng; cơ sở lý luận, thực tiễn của nhiệm vụ xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng. Tuyên truyền về kết quả đạt được và hạn chế, bất cập; nắm chắc nội dung, yêu cầu, thấy rõ thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đang đặt ra... Trên cơ sở đó, làm cho mọi tổ chức, lực lượng và toàn xã hội nhận thức rõ đây là chủ trương lớn, lâu dài, nhất quán của Đảng và Nhà nước ta; là yêu cầu khách quan để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện mới; là nghĩa vụ, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và của cả hệ thống chính trị.
Công tác tuyên truyền, giáo dục cần được tiến hành thường xuyên, liên tục, đồng bộ, toàn diện và có chiều sâu; chú trọng đổi mới nội dung, vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức, phương pháp tuyên truyền, giáo dục phù hợp với từng đối tượng; gắn với phong trào thi đua yêu nước và các phong trào, cuộc vận động của các cấp, các ngành để thu hút đông đảo mọi người tham gia, tạo ra các hoạt động sôi nổi, có sức lan tỏa mạnh mẽ. Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục thường xuyên với giáo dục chuyên đề gắn với các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước. Tận dụng thế mạnh không gian mạng và phát huy vai trò của cơ quan báo chí, xuất bản, truyền thông, đội ngũ giảng viên, báo cáo viên, tuyên truyền viên, các thiết chế văn hóa ở cơ sở để đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức của tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đoàn thể nhân dân, doanh nghiệp và toàn xã hội; xác định rõ và thực hiện tốt nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Ba là, phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng trong xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng.
Trước hết, cần nhận thức rõ xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức, lực lượng; từ đó, tăng cường phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng, trong đó cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp, đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là lực lượng tuyên giáo các cấp, lực lượng quân đội và công an đóng vai trò tiên phong, nòng cốt, xung kích đi đầu. Cùng với đó, cần phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp; khơi dậy tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, tinh thần cảnh giác, hình thành phong trào hành động cách mạng sâu rộng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trong xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị, giữa Trung ương và địa phương nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, các “binh chủng” cùng tham gia. Xây dựng và hoàn thiện cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các hoạt động báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền hình, văn hóa, văn nghệ...; nâng cao vai trò trách nhiệm của cơ quan thông tấn, báo chí; đồng thời, khai thác ưu thế và phát huy sức mạnh tổng hợp của các công cụ, phương tiện tiến hành công tác tư tưởng - văn hóa của toàn xã hội trong xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Đặc biệt, cần tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ này thường xuyên, liên tục và rộng khắp từ Trung ương đến địa phương, ở mọi cấp, mọi ngành, cơ quan, đơn vị. Quan tâm xây dựng các lực lượng chuyên trách, mà nòng cốt là các chuyên gia, nhà khoa học, ban chỉ đạo 35 các cấp, lực lượng đấu tranh trên không gian mạng. Phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp... cùng tham gia xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Bốn là, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng.
Các cơ quan chức năng cần chủ động nghiên cứu, dự báo, đánh giá và nhận diện đúng bản chất, âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng của các thế lực thù địch; đồng thời, thường xuyên quán triệt, thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ, quan điểm, phương châm, giải pháp của Đảng, Nhà nước về đấu tranh phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình”; vạch trần những quan điểm sai trái, thù địch, những luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị trên không gian mạng hòng chống phá Đảng, Nhà nước và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.
Tập trung xây dựng và đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng, bồi đắp niềm tin, sự kiên định, vững vàng về chính trị, tư tưởng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, không để sơ hở khiến các thế lực thù địch lợi dụng kích động. Nâng cao năng lực phòng, chống, “tự đề kháng”, “tự miễn dịch” trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân trước âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên không gian mạng; nâng cao trình độ khai thác, sử dụng internet, mạng xã hội một cách hiệu quả, thiết thực và lành mạnh.
Chủ động nắm bắt, đánh giá và dự báo chính xác tình hình tư tưởng, dư luận trong cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân; chỉ đạo, xử lý kịp thời các vấn đề bức xúc nảy sinh ở từng địa bàn để giữ vững ổn định chính trị - xã hội, không để hình thành các “điểm nóng”, tạo cớ cho các thế lực thù địch chống phá. Chú trọng tới thông tin trái chiều, tăng cường đối thoại, lắng nghe thông tin từ cơ sở. Thường xuyên lãnh đạo, quản lý, nắm chắc và phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống thông tin đại chúng, kịp thời cung cấp thông tin, định hướng nhận thức, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, tạo dư luận tích cực và đồng thuận trong xã hội, lấy cái đẹp dẹp cái xấu; đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng theo hướng chủ động, có tính thuyết phục cao, hấp dẫn. Tăng cường công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, làm sáng tỏ hơn nữa cơ sở khoa học và thực tiễn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng... Xây dựng các luận cứ, luận điểm mang tính khoa học, sắc bén, thuyết phục trong đấu tranh tư tưởng, lý luận.
Năm là, thường xuyên làm tốt công tác sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm trong xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng.
Thực tiễn, kinh nghiệm tổ chức hoạt động này trong những năm qua cho thấy: Cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, cơ quan, đơn vị, địa phương nào làm tốt công tác sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm thì việc xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ở nơi đó có được hiệu quả thiết thực. Ngược lại, nơi nào làm không tốt thì có nhiều hạn chế, yếu kém.
Để phát huy ưu điểm và khắc phục kịp thời những hạn chế, yếu kém, một mặt, các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, cơ quan, đơn vị, địa phương cần coi trọng làm tốt công tác sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm, đánh giá đúng ưu điểm cũng như hạn chế, khuyết điểm và chỉ rõ nguyên nhân của khó khăn, vướng mắc, bất cập trong quá trình tổ chức thực hiện; phát hiện tập thể, cá nhân và những nơi làm tốt, có cách làm tốt, mô hình hay, sáng tạo, hiệu quả nhằm kịp thời biểu dương, phổ biến, nhân rộng trên phạm vi cả nước để tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương và mọi người học tập, làm theo; mặt khác, kiên quyết chấn chỉnh, nhắc nhở tập thể, cá nhân có nhận thức lệch lạc, có khuyết điểm và biểu hiện vi phạm các quy định, hướng dẫn, hoặc những nơi làm chưa tốt, hiệu quả chưa cao, chưa tạo thành phong trào rộng khắp trong mỗi tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương. Cấp ủy, chính quyền các cấp cần đề cao vai trò, trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện công tác sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm. Tuyệt đối tránh những biểu hiện hình thức, làm qua loa, đại khái; đồng thời, qua sơ kết, tổng kết phải đúc rút thành những bài học kinh nghiệm quý để tiếp tục vận dụng vào công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, hướng dẫn và tổ chức thực hiện ở các cấp, tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, cơ quan, đơn vị, địa phương và từng cá nhân trong xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Thực hiện tốt những nhiệm vụ và giải pháp nói trên là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta, của cả hệ thống chính trị, mà trước hết và chủ yếu là của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, cơ quan, đơn vị, địa phương và của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu./.
ST

CHỈ THỊ 27-CT/TW CỦA BỘ CHÍNH TRỊ: XỬ LÝ NẠN LÃNG PHÍ TỪ... GỐC!

 Tham nhũng đang được Đảng, Nhà nước “xử lý” rất mạnh tay, không có vùng cấm, còn lãng phí tuy đã có nhiều quy định cụ thể nhưng việc thực hiện thì nhiều nơi lại chưa nghiêm. Lãng phí vẫn xảy ra phổ biến trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, gây những thiệt hại khó đo đếm được. Thế nên mới đây, việc Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được dư luận đồng tình ủng hộ.

Trước hết phải nói rằng, chủ trương tiết kiệm, chống lãng phí vốn là việc không mới. Sinh thời, Hồ Chủ tịch đã khẳng định “cần, kiệm, liêm, chính” là yêu cầu nhất thiết phải có, là “tứ đức” cơ bản làm nên “gốc” của người cách mạng. Chỉ rõ tác hại của nạn lãng phí, là “Tham ô có hại, nhưng lãng phí có khi còn hại hơn nhiều, nó tai hại hơn tham ô vì lãng phí rất phổ biến...”, Người nghiêm khắc yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên với tư cách là một công dân của xã hội mới “phải thực hiện cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phải lấy phê bình và tự phê bình mà tiêu diệt chủ nghĩa cá nhân và bồi dưỡng chủ nghĩa tập thể”.
Thực tiễn thời gian qua đã cho thấy, công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được Đảng, Nhà nước hết sức quan tâm. Đại hội lần thứ VI của Đảng đưa ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, với trọng tâm là đổi mới kinh tế và trong quá trình đó, Đảng luôn coi trọng việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Đảng xác định, “tiết kiệm là chính sách lớn phải được thực hiện trong tất cả các hoạt động sản xuất, xây dựng và tiêu dùng xã hội…”.
Năm 1987, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành quyết định về triệt để tiết kiệm. Năm 1993, Quốc hội khóa IX ban hành Nghị quyết về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng, chống buôn lậu. Đến năm 1998, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa X ban hành Pháp lệnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Năm 1998, Chính phủ đã ban hành nghị định quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Năm 2005 Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Hội nghị Trung ương 3 (khóa X) đã ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí…
Chủ trương thực hành tiết kiệm, chống lãng phí của Đảng, Nhà nước đã tạo những chuyển biến rõ rệt. Mới đây, tại Kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XV, báo cáo của Đoàn giám sát của Quốc hội về việc thực hiện chính sách, pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí giai đoạn 2016-2021 đã chỉ rõ: Việc thực hiện chính sách, pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đã đạt được những kết quả rất quan trọng, tích cực, song hành với kết quả to lớn của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội, tài chính, ngân sách; huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực.
Việc quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, các nguồn vốn nhà nước khác bảo đảm chặt chẽ, tiết kiệm và hiệu quả hơn. Cơ cấu chi ngân sách nhà nước chuyển biến tích cực, tăng tỷ trọng chi đầu tư phát triển, giảm dần tỷ trọng chi thường xuyên theo đúng mục tiêu đề ra, nhưng vẫn bảo đảm kinh phí thực hiện các nhiệm vụ về an sinh xã hội, các lĩnh vực quan trọng.
Việc sắp xếp tinh gọn bộ máy, quản lý biên chế, tinh giản biên chế, cải cách thủ tục hành chính đạt được nhiều kết quả tích cực, là một thành tựu và kết quả nổi bật nhất giai đoạn 2016 - 2021. Việc quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên, đất đai, khoáng sản được tăng cường. Một số địa phương đã chú trọng, quyết liệt xử lý thu hồi được nhiều dự án treo, dự án chậm tiến độ, yêu cầu đưa vào sử dụng gần 100 nghìn ha đất của các dự án chậm triển khai. Nhiều vụ án kinh tế gây thất thoát nghiêm trọng vốn, tài sản nhà nước được xử lý nghiêm, có tác dụng cảnh báo, răn đe, hạn chế các hành vi tiêu cực, tham nhũng, lãng phí trong quản lý, sử dụng các nguồn lực của đất nước.
Song thẳng thắn nhìn nhận, việc thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế. Báo cáo của Đoàn giám sát của Quốc hội đã chỉ rõ: Việc lập, thẩm định dự toán ngân sách nhà nước chưa sát thực tế. Nợ đọng thuế, thất thu, chậm thu, thu không đúng, không đủ. Vi phạm các quy định về định mức, tiêu chuẩn, chế độ còn diễn ra tương đối phổ biến. Kỷ luật, kỷ cương trong lập, chấp hành, tổ chức thực hiện kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm chưa nghiêm.
Công tác chuẩn bị đầu tư, lập, thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư các dự án còn nhiều tồn tại, bất cập. Hàng nghìn dự án chậm tiến độ và có xu hướng tăng lên qua các năm. Tổng hợp báo cáo chưa đầy đủ của các bộ, ngành, địa phương năm 2016 có 1.448 dự án chậm tiến độ thì đến năm 2021 là 1.962 dự án, trong đó hầu hết dự án quan trọng quốc gia, các dự án trọng điểm đều chậm tiến độ. Công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch còn nhiều hạn chế. Quy hoạch treo, dự án treo còn khá phổ biến…
Nhìn trong đời sống xã hội cũng có thể thấy sự lãng phí đang xảy ra rất phổ biến trong nhiều lĩnh vực. Điển hình như tại Hà Nội, nhiều cơ sở nhà đất công bị bỏ hoang sau sáp nhập đơn vị hành chính. Rồi “đến hẹn lại lên”, vỉa hè lại bị bới tung lên để sửa chữa khiến dư luận băn khoăn, có hay không việc thi công chỉ để tiêu tiền? Rồi ở nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước là những dự án treo, quy hoạch treo, những công trình kéo dài cả thập kỷ. Đường cao tốc chưa nghiệm thu có những đoạn đã phải sửa chữa. Hay tình trạng đầu tư hạ tầng không hiệu quả vẫn đang tồn tại theo kiểu “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”.
Và hậu quả của nạn lãng phí là hàng ngàn tỉ đồng đã “bốc hơi”!
Nhức nhối trước tình trạng này, dư luận đã bức xúc nêu rõ: Tham nhũng và lãng phí là đôi bạn cùng đường với nhau, có tác động qua lại nhau. Tham nhũng núp bóng lãng phí để hoành hành, lợi dụng khe hở của pháp luật của cơ chế, chính sách để vô trách nhiệm dẫn đến lãng phí, tham nhũng. Tệ hại hơn là tham nhũng còn có thể thu hồi được, còn lãng phí hoàn toàn mất đi.
Tiếp xúc cử tri trước kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XV, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đã thắng thắn chỉ rõ: “Nhiều khi lãng phí còn nhiều hơn cả tham nhũng”.
Nói như vậy để thấy rằng, lãng phí rõ ràng đang gây nên những hậu quả khôn lường, tạo rào cản vô hình trong phát triển kinh tế - xã hội. Nghiêm trọng hơn, lãng phí và tham nhũng chính là mối đe dọa kìm chế khát vọng đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045 như Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định.
Thế nên mới đây, việc Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị 27-CT/TW được dư luận đồng tình, ủng hộ. Nhất là khi Bộ Chính trị đã yêu cầu xem đây là văn hóa ứng xử của mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và mỗi người dân, nhất là người đứng đầu, cán bộ lãnh đạo, quản lý. Bộ Chính trị đã yêu cầu rất rõ phải chú trọng các lĩnh vực dễ xảy ra thất thoát, lãng phí, tiêu cực như đấu thầu, đấu giá, quản lý, sử dụng đất đai, tài nguyên, tín dụng, quản lý tài sản công, đầu tư công, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại doanh nghiệp.
Đặc biệt, khi ban hành Chỉ thị 27, Bộ Chính trị đã yêu cầu có phương án giải quyết dứt điểm tồn tại kéo dài đối với các dự án quan trọng quốc gia, dự án trọng điểm, dự án sử dụng vốn ODA, dự án BOT, BT hiệu quả thấp, gây thất thoát, lãng phí lớn; các ngân hàng thương mại yếu kém; các dự án ngừng triển khai theo kết luận của các cơ quan chức năng, sớm đưa các tài sản này vào phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội.
Không khó để thấy, Đảng đã kê đúng đơn, bắt đúng “bệnh” lãng phí và đưa ra những biện pháp rất quan trọng, cần thiết, triệt để đặc trị nạn lãng phí. Đảng đã xử lý vấn đề lãng phí từ gốc khi yêu cầu coi thực hành tiết kiệm, chống lãng phí “là văn hóa ứng xử của mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và mỗi người dân, nhất là người đứng đầu, cán bộ lãnh đạo, quản lý”.
Đây là chủ trương, biện pháp hết sức đúng của Đảng để khắc phục những tồn tại, hạn chế đã phần nào trở thành “căn bệnh” đâu đó trong đời sống xã hội. Tiết kiệm, chống lãng phí cần phải trở thành văn hóa, thành thói quen, nếp sống.
Điều quan trọng lúc này là các bộ, ban, ngành và từng địa phương cũng như những người đứng đầu mỗi đơn vị nhanh chóng đưa Chỉ thị của Bộ Chính trị vào cuộc sống và tổ chức triển khai thực hiện hiệu quả./.
St

YÊU NƯỚC BẰNG HÀNH ĐỘNG THIẾT THỰC

 Trải qua ngàn đời, lòng yêu nước của nhân dân ta được Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết: “Mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”.

Thời đại Hồ Chí Minh, tinh thần yêu nước được thể hiện qua hình ảnh lớp lớp thanh niên “xếp bút nghiên lên đường ra trận”, sẵn sàng “quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”. Tinh thần sục sôi ấy đã tạo khí thế, niềm tin để toàn dân đánh giặc, làm nên những chiến công hiển hách, mang đến mùa xuân thống nhất cho dân tộc, Bắc-Nam sum họp một nhà.
Chiến tranh đã lùi xa, đất nước ta bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do. Toàn Đảng, toàn quân và toàn dân đã, đang ra sức thi đua lập thành tích, dựng xây đất nước Việt Nam giàu đẹp, phồn vinh. Khi cuộc sống ngày càng no đủ, nhiều người luôn tự hỏi làm gì mới thể hiện tinh thần yêu nước? Phần nào trả lời câu hỏi này, năm 2023, Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông tổ chức Cuộc thi “Tìm hiểu về lịch sử truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam”. Chỉ sau hai tháng phát động, cuộc thi nhận gần 22.000 tác phẩm tham dự của nhiều thành phần, lứa tuổi trong xã hội. Ngoài số lượng gây ấn tượng, chất lượng các bài dự thi đều tâm huyết, công phu.
Thể hiện tình yêu với môn Lịch sử, tác giả đoạt giải nhì cuộc thi-em Hoàng Bảo Châu, học sinh Lớp 8A1, Trường THCS Phan Đình Giót, quận Thanh Xuân (Hà Nội) đã sáng tác và thể hiện một bài rap “Kiên cường nước Việt” để tóm tắt lịch sử dựng nước và giữ nước. Em Hoàng Bảo Châu tâm niệm: “Yêu nước là bản thân em phải nỗ lực học tập tốt để sau này trở thành công dân có ích, góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh”.
Với tác giả đoạt giải nhất-cô Nguyễn Thị Thiên Sinh, Trường Phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Bắc Kạn, yêu nước là bản thân luôn nỗ lực lan tỏa niềm tự hào với những chiến công hiển hách của cha ông, tình yêu nước đến thế hệ trẻ, thắp lên ngọn lửa nhiệt huyết cống hiến cho các chủ nhân tương lai của nước nhà qua những bài giảng. Ở tuổi 66, bà Nguyễn Ngọc Thu (thị trấn Trảng Bom, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai) luôn lưu giữ như báu vật bộ sưu tập những lời huấn thị, câu nói nổi tiếng của Chủ tịch Hồ Chí Minh dày hơn 600 trang. Nhiều năm qua, bà Nguyễn Ngọc Thu thường xuyên lan tỏa những lời dạy của Bác tới con cháu, thế hệ trẻ khu dân cư nơi bà đang sinh sống.
Cuộc thi “Tìm hiểu về lịch sử truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam” đã phần nào giúp chúng ta cảm nhận tinh thần yêu nước nồng nàn trong lòng mỗi con dân đất Việt. Thực tế đã chứng minh, cùng với sự phát triển của đất nước, xã hội đã ghi nhận nhiều tấm gương lao động sản xuất giỏi, các điển hình tiên tiến trong phong trào thi đua yêu nước, các bạn trẻ "gen Z" không ngại lội xuống những con kênh bị ô nhiễm để dọn rác với mong muốn hướng tới một cuộc sống xanh... Họ yêu nước theo cách riêng và thể hiện điều đó bằng những hành động thiết thực, hiệu quả./.
St

THƯỢNG TƯỚNG HOÀNG CẦM - VỊ TƯỚNG KHIÊM TỐN, GIẢN DỊ

 Trong ký ức của đồng đội, đồng chí, những người từng có cơ hội gặp gỡ, làm việc, chiến đấu cùng Thượng tướng Hoàng Cầm, ông là một người vô cùng khiêm tốn, giản dị, không thích nói về mình, về những thành tích của bản thân.

Hoàng Cầm tên thật là Đỗ Văn Cầm, quê Cao Sơn, Ứng Hòa, Hà Đông (nay thuộc TP Hà Nội). Ông sớm mồ côi cả cha lẫn mẹ từ năm 12 tuổi, sau đó phải lưu lạc kiếm sống tại Hà Nội.
Trong một lần phỏng vấn báo chí, Thượng tướng Hoàng Cầm từng trải lòng về những ngày thơ ấu nhiều khó khăn của bản thân. “Bố mẹ tôi đều mất sớm. Mẹ mất khi tôi 3,4 tuổi đến năm 12 tuổi thì bố mất. Sau khi bố mẹ mất, tôi đi làm con nuôi, đi ở. Ở quê tôi ngày đó, thanh niên mà tới 20 tuổi chưa có vợ con là chuyện lạ, bởi khi đó vẫn còn tục tảo hôn. Nhưng mà mình nghèo quá, có gì để lấy được vợ. Những năm 1930-1940 cũng là những năm mà dân quê tôi chịu sự áp bức nặng nề của cường hào, đế quốc. Không chịu nổi ách áp bức đó nên tôi bỏ làng ra đi”.
Theo ghi chép lịch sử, năm 21 tuổi, Hoàng Cầm đi lính khố xanh cho chính quyền thuộc địa Pháp để kiếm sống và tham gia quân đồn trú ở Lai Châu. Sau 2 năm thì được chuyển về Hà Nội và ông đào ngũ, nhờ đó thoát nạn trong vụ đảo chính của Nhật vào ngày 9 tháng 3 năm 1945. Được sự vận động của cán bộ Việt Minh, tháng 7 năm 1945 ông tham gia Đoàn Thanh niên Cứu quốc Hà Nội. Khi Cách mạng Tháng Tám nổ ra, ông tham gia Cứu quốc quân Hà Nội và lấy tên mới là Hoàng Cầm.
Cuộc đời binh nghiệp của Thượng tướng Hoàng Cầm gắn với những dấu mốc lịch sử quan trọng trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Ông luôn ở tuyến đầu, ghi dấu chiến công trên khắp chiến trường Đông Dương, ở đâu cũng là người xung kích, người chỉ huy kiên cường. Do có nhiều công lao, cống hiến cho sự nghiệp cách mạng, Thượng tướng Hoàng Cầm đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh và nhiều phần thưởng cao quý khác.
Trong Chiến dịch Biên giới 1950, Hoàng Cầm khi đó là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 130 đã được gặp gỡ trực tiếp, lắng nghe những lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chia sẻ về lần gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh trong phóng sự “Thượng tướng Hoàng Cầm” do Đài Truyền hình HTV9 thực hiện, Thượng tướng Hoàng Cầm cho biết: “Khi đó, Bác Hồ hỏi muốn gặp một cán bộ tiểu đoàn trưởng có kinh nghiệm chiến đấu, lúc đó các anh chỉ huy mặt trận chọn mình. Lúc đó Bác hỏi tỉ mỉ về công tác chuẩn bị chiến đấu. Bác cũng hỏi nếu đánh Cao Bằng thì như thế nào, Đông Khê như thế nào. Tôi trả lời có thể đánh Đông Khê được vì nó chỉ là cụm cứ điểm lại ở xa Thất Khê, Cao Bằng. Nếu mình đánh Đông Khê như quyết tâm của Bác sẽ cắt đứt lực lượng của địch trên đường số 4 từ Lạng Sơn đến Cao Bằng. Trên cơ sở đó tiêu diệt lực lượng của địch. Bác bảo được, nhất trí với quyết tâm của Trung ương, giờ phải chuẩn bị lực lượng bộ đội cho thật tốt”.
Thượng tướng Hoàng Cầm là vị tướng rất có duyên với những trận đánh lớn. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ông là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 209 (Đại đoàn 312) trực tiếp bắt sống tướng Đờ Cát.
Đến Chiến dịch Hồ Chí Minh, Hoàng Cầm là Tư lệnh Quân đoàn 4 đánh mở “cánh cửa thép” Xuân Lộc, tiêu điểm quan trọng nhất, ác liệt nhất trên đường đại quân tiến vào giải phóng Sài Gòn; rồi chịu trách nhiệm tiếp quản Dinh Độc Lập cùng nội các Tổng thống Dương Văn Minh của Việt Nam Cộng hòa. Chiến tranh biên giới Tây Nam xảy ra, Tư lệnh Hoàng Cầm là vị chỉ huy cao nhất có mặt đầu tiên ở thủ đô Phnôm Pênh khi cùng Quân đoàn 4 tiến sang giải phóng nước bạn khỏi ách diệt chủng Pôn Pốt-Iêng Sary…
Mặc dù dạn dày kinh nghiệm chiến đấu là thế, nhưng Thượng tướng Hoàng Cầm không bao giờ khoe khoang mà trái lại, ông luôn lắng nghe ý kiến của đồng chí, đồng đội.
Thời bắt đầu vào nhận nhiệm vụ ở Sư đoàn 9, khi được giới thiệu là người từng tham gia trận đánh quan trọng trong chiến dịch Điện Biên Phủ, chưa là tướng nhưng đã bắt sống tướng, được cán bộ, chiến sĩ vỗ tay rần rần nhưng Hoàng Cầm cũng khiêm tốn chia sẻ, đánh Pháp khác với đánh Mỹ, nhưng cũng có những kinh nghiệm có thể vận dụng, ông cũng khẳng định: “Tôi mới nhận nhiệm vụ mới nên cần học tập các đồng chí, cho nên làm gì tôi cũng sẽ trao đổi để thống nhất”.
Là vị chỉ huy mưu trí, gan dạ từng đồng cam cộng khổ, vào sinh ra tử với chiến sĩ, Thượng tướng Hoàng Cầm trong ký ức của Trung tướng Lê Văn Tưởng, nguyên Chính ủy Sư đoàn 9 không chỉ là một tài năng quân sự mà còn là một vị tướng rất có nhân cách, đậm tính nhân văn, khiêm tốn, giản dị.
Trong một lần chia sẻ với báo chí cảm nhận về Thượng tướng Hoàng Cầm, Trung tướng Lê Văn Tưởng cho biết “Anh Cầm trong mỗi cuộc nói chuyện không bao giờ đưa thành tích của mình ra nói chuyện, khoe khoang. Ấy là điều tôi học được đầu tiên ở anh”. Theo lời nguyên Chính ủy Sư đoàn 9, Thượng tướng Hoàng Cầm còn là người rất quan tâm đến việc xây dựng sự đoàn kết trong đơn vị.
Thượng tướng Hoàng Cầm còn được biết đến là một người cương trực, thẳng thắn, khi chỉ huy thật sự quyết đoán. Ông cũng đặc biệt quan tâm đến công tác bồi dưỡng đào tạo sĩ quan, cán bộ trẻ. Sống chân tình, thương cấp dưới, nhất là chiến sĩ nên ông rất được mọi người kính nể. Thời đã nghỉ hưu, không còn tại vị nhưng ông luôn có khách đến thăm. Khách của ông phần đông là đồng đội cũ...
Trong một bài viết về cảm nhận con người Thượng tướng Hoàng Cầm của tác giả Đặng Phan Quỳnh, ông chia sẻ, có cơ hội được tiếp xúc gần gũi với vị tướng trận mạc, ông đã học tập được ở Thượng tướng Hoàng Cầm rất nhiều điều có tính nhân bản, bổ ích. Gia đình Thượng tướng Hoàng Cầm sống trong một căn biệt thự nhưng ông bà luôn dạy bảo các con quan hệ ứng xử hòa đồng, gắn bó với bà con láng giềng.
“Thượng tướng Hoàng Cầm không chỉ là một tài năng quân sự mà còn là một vị tướng rất có nhân cách, đậm tính nhân văn. Ông là người gieo mầm yêu thương vào trái tim của bà, của con cháu, của đồng đội,…Ông sống chân chất, giản dị, khiêm tốn. Khi ông không đeo quân hàm thì người xa lạ dễ nhầm tưởng ông là một người nông dân ra chơi thăm con cháu ở thị thành”, tác giả Đặng Phan Quỳnh nhấn mạnh trong bài viết của mình./.
St

NHẬN DIỆN ĐÚNG BIỂU HIỆN “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN HỆN NAY

 “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã và đang diễn ra ở nước ta và là một trong những vấn đề đe dọa trực tiếp đến sự sống còn của dân tộc, của chế độ xã hội chủ nghĩa cũng như sự lãnh đạo của Đảng. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” diễn ra một cách âm thầm trong mỗi cá nhân, con người cán bộ, đảng viên, khó nhận thấy. Vì thế, nhận diện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên cần tập trung và hướng đến cách thức phòng, chống là cơ bản.

Một là, nhận diện đúng nguyên nhân của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên hiện nay.
Về nguyên nhân của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên mang tính tổng hợp, có cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan, trong đó nguyên nhân chủ quan là chính. Sự xuất hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên là do tác động từ khách quan, bên ngoài, đặc biệt là từ mặt trái cơ chế, của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; sự mua chuộc, lôi kéo, v.v., của các thế lực thù địch hoặc những người mất mãn chính trị, v.v.. Vốn từ cái khách quan tác động, mà chủ quan của cán bộ, đảng viên không đủ sức đẩy lùi, loại bỏ diễn ra “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Không ít cán bộ, đảng viên vốn là trung kiên cách mạng trong chiến tranh, trong gian khổ, hết lòng vì Đảng, vì dân, nhưng trước tác động từ mặt trái của cơ chế kinh tế thị trường không cưỡng lại được và rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa cống hiến được bao nhiêu, nhưng với mục đích, động cơ cá nhân chủ động thực hiện tham nhũng, tiêu cực…và trượt dài, rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Cũng có những trường hợp, cán bộ, đảng viên bị lôi kéo, thậm chí là bị khống chế, đe dọa khi đã vướng vào đường dây tham nhũng và cũng trượt vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, trường hợp Phạm Trung Kiên (cựu Thư ký Thứ trưởng Bộ Y tế) nhận hối lộ 253 lần với tổng số tiền là 42,6 tỷ đồng là một ví dụ điển hình của sự suy thoái, tha hóa, biến chất người cán bộ, đảng viên.
Với các nội dung trên cho thấy nguyên nhân chủ quan là chủ yếu và tập trung nhất là ở động cơ chạy theo lợi ích cá nhân. Bởi vì, tác động từ khách quan đến tất cả cán bộ, đảng viên, nhưng không phải ai cũng bị “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Những cán bộ, đảng viên không vượt lên, tự chiến thắng chủ nghĩa cá nhân, sự cám dỗ của lợi ích cá nhân; coi lương tâm, danh dự là dẻ mạt thì sẽ trượt vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Vì thế, cách thức phòng, chống cũng tập trung vào giải quyết vấn đề nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, trong đó suy đến cùng là vấn đề gạt bỏ lợi ích cá nhân, ham muốn vật chất tầm thường.
Hai là, nhận diện đúng hiện tượng và bản chất của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên hiện nay
“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên hiện nay là phản ánh tính chất đấu tranh gay go, phức tạp trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở lĩnh vực tư tưởng chính trị, văn hóa. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là quá trình diễn ra bên trong mỗi của cán bộ, đảng viên một cách “thầm kín, khó nhận thấy” do được che giấu, ngụy trang che mắt rất kỹ. Giữa “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” có quan hệ với nhau, nhưng không đồng nhất. Hai mặt này quan hệ với nhau với nghĩa là cùng trong quá trình vận động. Sự khác nhau là ở “tự diễn biến” phải đến một mức độ nhất định mới xuất hiện “tự chuyển hóa”. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiêp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, lực lượng sản xuất thấp, lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề; các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại cho nên lại càng khó khăn, phức tạp, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen nhau, có sự đấu tranh giữa cái cũ và cái mới”.
Bản chất của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên là cuộc đấu tranh giằng xé rất quyết liệt để giải quyết mâu thuẫn bên trong bản thân họ. Mâu thuẫn giữa giữ vững lương tâm trong sáng, danh dự với chấp nhận đánh mất danh dự mâu thuẫn giữa kiên định giữ vững mục tiêu, lý tưởng là cống hiến cho Đảng, cho nhân dân với chấp nhận xa rời, từ bỏ lý tưởng sống; mâu thuẫn giữa giữ vững, phát huy vai trò trách nhiệm, nghĩa vụ, cống hiến của người công bộc của dân (cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh) với sự cám dỗ của hưởng thụ, sa đọa. Những mâu thuẫn trên trong tính chỉnh thể thống nhất và cùng là biểu hiện mâu thuẫn cơ bản giữa lợi ích xã hội, tập thể, cộng đồng với lợi ích cá nhân như trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng đã xác định: “Sinh trưởng trong xã hội cũ, chúng ta ai cũng mang trong mình hoặc nhiều hoặc ít vết tích xấu xa của xã hội đó về tư tưởng, về thói quen…vết tích xấu nhất và nguy hiểm nhất của xã hội cũ là chủ nghĩa cá nhân”.
Ba là, nhận diện quá trình vận động từ thay đổi dần về lượng đến thay đổi về chất của “tự diễn biến”,“tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên hiện nay
“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên là quá trình vận động đi từ thấp lên cao. Quá trình đó đi từ sự đơn giản trong nhận thức đến sự thỏa hiệp, nhượng bộ; đến động cơ có tính chủ đích vì lợi ích cá nhân; đến hành vi suy thoái, thậm chí là làm tay sai cho các thế lực thù địch phản lại Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa.
Quá trình vận động của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên còn ở lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm. Quá trình này đi từ đơn giản trong nhận thức về nhận quà biếu; ăn chia vặt đến chủ động liên thủ giữa các thành viên thực hiện lợi ích lớn hơn và hình thành “thói quen nhận phong bì”, bảo vệ lợi ích nhóm có chủ đích bằng các hình thức khác nhau và đến bị ràng buộc “cùng thuyền”, “có lợi mới làm” trong thực hiện tham nhũng.
Quá trình vận động của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên còn ở lĩnh vực chính trị, xã hội thường bắt đầu từ chạy cấp, chạy chức, chạy nơi công tác, thậm chí chạy bằng, cấp đào tạo đến tham nhũng quyền lực và đến thực hiện lợi ích cá nhân bù đắp lại những chi phí tiêu cực trước đó. Ngoài ra, còn biểu hiện từ sự mất mãn chính trị, sự kèn cựa, đố kỵ cá nhân đến bắt mối, tiếp tay với những người tiêu cực, thậm chí còn tiếp tay cho thế lực thù địch để chống chế độ xã hội chủ nghĩa, chống Đảng, Nhà nước.
Quá trình vận động của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên ở lĩnh vực tư tưởng, văn hóa thường đi từ đơn giản trong tiếp nhận thông tin trên mạng xã hội đến sự hoài nghi, dao động trong tư tưởng đến tiếp tay tuyên truyền không công cho địch bằng cách nói xấu Đảng, chế độ,v.v và đến bị ràng buộc, bị khống chế làm việc cho thế lực thù địch chống chế độ xã hội chủ nghĩa.
Bốn là, nhận diện, đánh giá đúng tính chất phức tạp, nguy hiểm của quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên hiện nay.
“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên hiện nay rất khó phát hiện ra. Khi phát hiện ra thì quá muộn, bắt buộc phải xử lý theo đúng pháp luật của Nhà nước; kỷ luật của Đảng. Vì thế “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên hiện nay rất nguy hiểm, một trong những nội dung then chốt của nguy cơ đối với cách mạng Việt Nam; của sự nghiệp đổi mới; sự lãnh đạo của Đảng cũng như sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Tổng hợp những nội dung trên tạo nên đặc điểm cũng như tính chất phức tạp của quá trình vận động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên hiện nay. Mặc dù điểm xuất phát cho quá tình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” khác nhau, nhưng đều bắt đầu từ nhận thức đến tình cảm, thái độ, niềm tin bị phai nhạt, đến hành vi tiêu cực, tham nhũng thực hiện lợi ích cá nhân, thậm chí là chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ ta./.
St

VIỆT NAM KHÔNG CÓ TỰ DO DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN - LUẬN ĐIỆU CẦN BÁC BỎ

 Đã từ lâu, vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” luôn được các thế lực thù địch triệt để lợi dụng, nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt. Vì vậy, nhận rõ bản chất và kiên quyết đấu tranh bác bỏ các luận điệu vu cáo, xuyên tạc, làm thất bại mưu đồ nham hiểm, thâm độc của chúng là nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết.

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh chống kẻ thù xâm lược để bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, người dân Việt Nam thấu hiểu những giá trị to lớn của độc lập, tự do, hiểu rõ quyền con người và cũng nhận rõ ai là bạn, ai là thù, đâu là đối tác, đối tượng. Sau hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Việt Nam đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên nhiều lĩnh vực; vị thế, uy tín quốc tế của đất nước ngày càng được nâng lên, đời sống của người dân ngày càng được cải thiện. Bạn bè và du khách quốc tế đến Việt Nam đều nhận thấy sự đổi thay từng ngày và coi đây là điểm đến an toàn, thân thiện, mến khách, một đất nước có chính trị - xã hội ổn định, kinh tế phát triển mạnh mẽ, quốc phòng, an ninh được giữ vững và tăng cường, quyền tự do, dân chủ của người dân luôn được tôn trọng và phát huy. Đặc biệt, vấn đề dân chủ, nhân quyền được Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo với nhiều chủ trương, chính sách và giải pháp đúng đắn, phù hợp và đạt được nhiều kết quả thiết thực, không thể phủ nhận. Thế nhưng, với bản chất phản động, thù nghịch cố hữu, các thế lực thù địch vẫn điên cuồng chống phá cách mạng Việt Nam, hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa; trong đó, lĩnh vực dân chủ, nhân quyền là chiêu bài được chúng triệt để lợi dụng.
Vì vậy, nhận diện, đấu tranh, phòng, chống, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch xuyên tạc về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam là nhiệm vụ thường xuyên, hệ trọng, có ý nghĩa sống còn, đòi hỏi cả hệ thống chính trị và toàn dân, nòng cốt là lực lượng chuyên trách phòng, chống “diễn biến hòa bình” và đội ngũ cán bộ, đảng viên cần phát huy trách nhiệm, đề cao cảnh giác cách mạng, có quyết tâm chính trị cao, nội dung toàn diện, đồng bộ, giải pháp khoa học, thiết thực.
Trước hết, cần nhận rõ “dân chủ”, “nhân quyền” là mũi tấn công chủ yếu của các thế lực thù địch
Sau thành công của những xung đột chính trị nhằm lật đổ chế độ chính trị ở một số quốc gia Đông Âu, Trung Đông và Bắc Phi bằng các cuộc “cách mạng màu”, “cách mạng cam”, “cách mạng đường phố”,… các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình” ở Việt Nam với những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hơn, trong đó có chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”. Họ cho rằng, học thuyết “dân chủ”, “nhân quyền” cần áp dụng với Việt Nam là: xóa bỏ nền tảng tư tưởng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản. Đây là một trong những mũi tấn công chủ yếu của các thế lực thù địch thông qua các luận điệu xuyên tạc, hòng bóp méo sự thật, phủ nhận quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về dân chủ, nhân quyền.
Mục đích của các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” nhằm thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; tuyên truyền, xuyên tạc làm rối loạn tình hình chính trị ở Việt Nam, v.v. Những phương thức cụ thể mà họ vẫn thường sử dụng là: lợi dụng danh nghĩa “nhà dân chủ”, “đấu tranh vì nhân quyền” để xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; lợi dụng vấn đề chống tham nhũng, những hạn chế trong quản lý xã hội của chính quyền cơ sở, thiếu sót trong quản lý, điều hành đất nước hoặc những vấn đề bức xúc, khiếu kiện kéo dài chưa được giải quyết để lôi kéo, kích động những phần tử bất mãn với chế độ đẩy mạnh các hoạt động gây rối, biểu tình, gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Mặt khác, họ chủ động tác động vào nhận thức, tư tưởng, tình cảm của một bộ phận nhân dân thông qua những chiêu trò, như: “hỗ trợ kinh phí để thực hiện việc khiếu kiện”; hỗ trợ nhân đạo kèm theo những điều kiện bắt buộc như tham gia các hội, nhóm, diễn đàn, hội thảo; lợi dụng sai phạm của một số cán bộ, đảng viên để đánh đồng, quy chụp thành bản chất, bôi nhọ, nói xấu lãnh đạo Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các cấp, từng bước hạ thấp làm mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng, chế độ.
Cùng với đó, họ ra sức tuyên truyền, cổ xúy, cường điệu hóa các giá trị dân chủ tư sản phương Tây, tuyệt đối hóa tính toàn cầu, tính phổ cập của quyền con người với luận điểm “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, “lợi ích cá nhân cao hơn lợi ích quốc gia, dân tộc”; xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm quyền cơ bản của con người, tự do tôn giáo, v.v. Đặc biệt, chúng đẩy mạnh các “chiến dịch” phá hoại tư tưởng, hạ thấp uy tín Việt Nam trên trường quốc tế khi chúng ta đăng cai tổ chức những sự kiện chính trị quan trọng hay tham gia các hội nghị, diễn đàn đa phương, song phương, nhất là của Liên hợp quốc.
Các thế lực thù địch còn lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” làm điều kiện để gây sức ép, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Việt Nam. Một số tổ chức, cá nhân còn tìm cách gắn vấn đề viện trợ, hợp tác kinh tế với các điều kiện về dân chủ, nhân quyền trong quan hệ với Việt Nam, đòi Việt Nam phải chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, cải cách chính trị, dân chủ và pháp luật theo kiểu phương Tây. Họ gây sức ép, buộc Việt Nam phải có những tiến bộ cụ thể về dân chủ, nhân quyền, phải đưa ra các lộ trình cụ thể trong thực hiện các điều ước quốc tế về dân chủ, nhân quyền, v.v. Các đối tượng này còn gửi thư, bản kiến nghị tới một số quốc gia, tổ chức quốc tế để phản đối việc cơ quan chức năng Việt Nam bắt giữ, xét xử các phần tử lợi dụng “dân chủ”, “nhân quyền” để vi phạm pháp luật, đòi trả tự do cho cái gọi là “tù nhân lương tâm”; đồng thời, vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, đàn áp người bất đồng chính kiến, người yêu nước, từ đó kêu gọi sự can thiệp của cộng đồng quốc tế. Ngoài ra, họ còn sử dụng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” để thúc đẩy, hình thành hội, nhóm, tổ chức chính trị đối lập, thúc đẩy sự ra đời của các khuynh hướng dân chủ cực đoan, phát triển “xã hội dân sự”,… để chống phá từ bên trong với lý lẽ cho rằng, chế độ độc đảng ở Việt Nam là trở ngại lớn nhất trong tiến trình dân chủ hóa, muốn có dân chủ thực sự thì Việt Nam phải xóa bỏ chế độ độc đảng.
Chủ động đấu tranh, phản bác có hiệu quả mọi luận điệu xuyên tạc về tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam
Trên cơ sở nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn chống phá trong lĩnh vực dân chủ, nhân quyền của các thế lực thù địch, các cấp, ngành, địa phương và cả hệ thống chính trị cần tập trung thực hiện đồng bộ, quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp, nhằm đập tan âm mưu, thủ đoạn của chúng, giữ vững ổn định chính trị đất nước.
1. Tiếp tục đặt công tác phòng, chống hoạt động lợi dụng dân chủ, nhân quyền xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, thường xuyên, toàn diện của Đảng và sự quản lý, điều hành thống nhất của Nhà nước. Đây là giải pháp cơ bản, quan trọng và có ý nghĩa quyết định trong triển khai công tác đấu tranh, phòng, chống làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” để chống phá; đồng thời, khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta: dân chủ là bản chất, là mục tiêu, là động lực xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Với phương châm chỉ đạo, công tác lý luận, tư tưởng phải đi trước, đón đầu, không tạo “khoảng trống thông tin” để các thế lực thù địch lợi dụng, xuyên tạc chống phá, các cơ quan chức năng phải không ngừng nâng cao nhận thức, kỹ năng, xây dựng kế hoạch chiến lược, sách lược, tổ chức lực lượng một cách bài bản, khoa học trong đấu tranh, phản bác; thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu, tính thuyết phục và hiệu quả của công tác tư tưởng. Để thực hiện có hiệu quả giải pháp này cần có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân; trong đó, đi đầu là đội ngũ cán bộ, đảng viên, với lực lượng nòng cốt là Ban Chỉ đạo 35 các cấp, nhất là Ban Chỉ đạo 35 của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng; Bộ Công an; Bộ Thông tin và Truyền thông; Ban Tuyên giáo Trung ương; Bộ Ngoại giao; Hội đồng Lý luận Trung ương cùng hệ thống các cơ quan truyền thông, báo chí, xuất bản và đội ngũ các nhà nghiên cứu khoa học, tuyên truyền viên,… tạo thành mạng lưới đấu tranh ngày càng đông đảo và hiệu quả.
2. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” chống phá cách mạng Việt Nam. Đây là giải pháp tạo sự đồng thuận, thống nhất về nhận thức và hành động của cả hệ thống chính trị, các cấp, ngành trong thực hiện nhiệm vụ đấu tranh làm thất bại mưu đồ chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền. Theo đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao lập trường tư tưởng, có bản lĩnh chính trị vững vàng để nhận diện và kiên quyết đấu tranh chống các quan điểm, sai trái thù địch, xuyên tạc, vu khống, phủ nhận thành tựu dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Thường xuyên tuyên truyền, vận động nhân dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu vùng xa nắm chắc âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, nhận diện rõ các bài viết, những luận điệu sai trái đăng tải trên các trang mạng xã hội; không để thế lực thù địch kích động, lôi kéo vào các hoạt động biểu tình, khiếu kiện đông người hoặc vô tình bị các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá Đảng và Nhà nước. Cùng với đó, cấp ủy, chính quyền các cấp, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị từ Trung ương tới địa phương cần chỉ đạo các cơ quan truyền thông, báo chí, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, thường xuyên tuyên truyền các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thành tựu về dân chủ, nhân quyền mà Việt Nam đạt được. Không ngừng củng cố nhận thức chính trị cho đội ngũ cán bộ đảng viên và nhân dân, giữ vững “thế trận lòng dân”; làm tốt công tác vận động quần chúng, tăng cường và nâng cao hiệu quả từ phong trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc, thực hiện mỗi cán bộ, đảng viên là chiến sĩ trên mặt trận bảo vệ nền tảng tư tưởng, thực hành phát huy dân chủ, nhân quyền.
3. Đổi mới nội dung, đa dạng các hình thức, biện pháp đấu tranh, bảo vệ vững chắc nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và nhân quyền ở Việt Nam. Đổi mới, bổ sung nội dung đấu tranh trên cơ sở giữ vững quan điểm và nguyên tắc của Đảng và Nhà nước; mềm dẻo, linh hoạt, nhân văn trong phương pháp; công khai, minh bạch, dân chủ, góp phần tạo dư luận xã hội lành mạnh, đồng thuận. Trong đó, sử dụng các kênh truyền thông chính thống và các mạng xã hội để tiếp cận đông đảo quần chúng nhân dân, vừa tuyên truyền, vừa bóc trần những xuyên tạc vô căn cứ của các thế lực thù địch lợi dụng những vấn đề chính trị, xã hội để chống phá. Cùng với đấu tranh “trực diện” cần không ngừng nâng cao ý thức cảnh giác, tăng cường ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đa dạng hóa các hoạt động đấu tranh, thiết lập và sử dụng các biện pháp kỹ thuật, ngăn chặn một cách có hiệu quả. Kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng và quy định của tổ chức, cơ quan, đơn vị. Ngoài ra, thường xuyên tuyên truyền những thành tựu về dân chủ, nhân quyền mà Việt Nam đạt được để nhân dân và bạn bè quốc tế thấy được chính sách, bản chất ưu việt của chế độ xã hội ở Việt Nam.
4. Kết hợp phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, xóa đói, giảm nghèo với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao trình độ dân trí, tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, bảo đảm ổn định chính trị, trật tự xã hội để các thế lực thù địch không còn “đất” diễn. Cấp ủy, chính quyền các địa phương cần nắm bắt tâm tư nguyện vọng của nhân dân, nhanh chóng giải quyết các vụ khiếu kiện gây bức xúc trong nhân dân. Tăng cường các biện pháp định hướng dư luận, đưa thông tin đúng, chính thống đến nhân dân, không để xảy ra những tình huống bị động, bất ngờ gây mất ổn định chính trị ở cơ sở; chú trọng khoanh vùng, giải quyết dứt điểm các “điểm nóng”, không để lan rộng, kéo dài gây bức xúc dư luận. Thường xuyên chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, đặc biệt là đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo, đồng bào dân tộc thiểu số; tạo điều kiện để nhân dân được thực hiện quyền tự do tín ngưỡng theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, các cấp, các ngành quan tâm chăm lo xây dựng “thế trận lòng dân”, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên mọi lĩnh vực, nhất là môi trường mạng, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa.
5. Thường xuyên nắm chắc tình hình, dự báo sớm âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” để chống phá của các thế lực thù địch; chủ động có biện pháp đấu tranh phù hợp. Dân chủ, nhân quyền là vấn đề nhạy cảm, phức tạp mà các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá, hòng thực hiện mưu đồ chính trị đen tối. Vì vậy, chúng ta cần chủ động, nhạy bén nắm chắc các đối tượng phản động, thù địch, cũng như các thủ đoạn chống phá “từ trong trứng nước” để có các biện pháp ngăn chặn, phòng ngừa sớm, không để ăn sâu bám rễ trong nhân dân. Thường xuyên triển khai các biện pháp nắm và phòng ngừa bảo đảm linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với pháp luật Việt Nam cũng như luật pháp và quy định, thông lệ quốc tế, không để xảy ra sai sót dẫn đến các thế lực thù địch có thể lợi dụng chống phá. Quá trình triển khai các hoạt động đấu tranh không nên dàn trải mà phải có trọng tâm, trọng điểm, trực diện vào vấn đề phức tạp, điểm nóng, đối tượng cầm đầu, chủ mưu; đồng thời, chủ động, phê phán, phản bác, ngăn chặn những luận điệu phủ nhận thành tựu về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam./.
St

QUÀ TẾT HAY "NỊNH" TẾT?

 

Năm cũ sắp qua đi, năm mới sắp đến, người Việt Nam có phong tục tặng quà. Con cái tặng quà cha, mẹ, ngược lại cha mẹ tặng quà con cái; học trò tặng quà thầy, cô… nhỏ thì hộp mứt, gói kẹo, tập sách, cuốn vở, lớn hơn là bộ quần áo kèm theo những lời chúc tốt lành. Đó thực sự là một nét đẹp văn hóa đáng trân trọng. Nếu quà tặng cuối năm cứ giữ đúng phong cách, ý nghĩa ấy thì chẳng có gì đáng bàn. Tết Giáp Thìn đang đến ngày một gần và chuyện tặng quà cuối năm đang nóng từng ngày.
Đâu đó đã có những cách tặng quà khác nhau như: tặng vé tàu cho sinh viên về quê ăn Tết hay ở nhiều địa phương có chính sách tặng quà cho người nghèo, trẻ em lang thang cơ nhỡ và những người khuyết tật… Hàng tỉ đồng, hàng trăm ngôi nhà đã được dành cho người nghèo trên cả nước. Những nghĩa cử cao đẹp đó là rất đúng với bản chất của xã hội ta, đáng được hoan nghênh và cần được nhân rộng.
Tuy nhiên, chuyện quà Tết, dù chẳng nói ra nhưng lâu nay xã hội đã ngầm hiểu với nhau, Tết là dịp để "cảm ơn, chạy chọt, xin xỏ"... Một phong tục tốt đẹp của dân tộc từ lâu rồi đã bị một số phần tử lợi dụng để mưu cầu tư lợi. Thế mới có cảnh, cứ gần Tết là dân thường được phen trố mắt thấy xe con nườm nượp ra vào nhà một sếp này, sếp nọ.
Dư luận đã không ít lần “phát hoảng” khi một vài vị lãnh đạo cấp tỉnh, thành phố công khai đem sung công quỹ hàng tỉ đồng quà Tết để làm từ thiện... Đấy là những con số, những người dám công khai, còn những con số “bí mật” thì chắc là không biết đằng nào mà lần. Đây cũng là một trong những nguyên nhân tạo nên sự mất đoàn kết nội bộ, vì rằng anh được đi chúc Tết, tôi không được đi, trưởng được tặng quà, phó lại không, ngành này có Tết, ngành kia không... Quà cáp, biếu xén đầy âm mưu, sự toan tính cũng chính là mảnh đất tốt cho tham nhũng, lãng phí sinh sôi.
Tết năm nào cũng vậy, lãnh đạo Đảng, Nhà nước thường có chỉ thị, công văn, chủ trương nhắc nhở yêu cầu, mọi tổ chức Đảng, chính quyền các cấp phải quán triệt tổ chức Tết cho nhân dân một cách vui tươi, lành mạnh và tiết kiệm; Không được dùng công quỹ để đi thăm và tặng quà, biếu xén cấp trên và cá nhân.
Báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng luôn luôn đề cập, chống việc tặng quà Tết bị biến tướng thế nhưng xem ra việc thực hiện rất khó. Mấy ngày qua, trên các trang mạng, dư luận thêm những kinh ngạc, băn khoăn khi quà Tết được không ít người lựa chọn ở mức giá trị hàng chục, thậm chí hàng trăm triệu đồng… Chỉ với một món quà có giá trị như thế, người nghèo đã có Tết to!
Đất nước đang bước vào thời kỳ hội nhập, mọi vấn đề đang được minh bạch hóa, công khai dân chủ. Nhân dân mong rằng mọi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu mọi tổ chức, địa phương, đơn vị hãy gương mẫu thực hiện tốt, để củng cố lòng tin của nhân dân.
Sự giám sát của dư luận xã hội, của các cơ quan truyền thông, sự chuyển biến về ý thức, sự cải thiện chế độ thu nhập cho công chức là rất cần thiết, nhưng đi cùng với nó là những chế tài nghiêm khắc. Nếu không động từ “cấm” chỉ là để trang trí cho một khẩu hiệu nhàm tai nào đó.
Vì vậy, cần tăng cường công tác kiểm tra, kiểm toán, giám sát, phát hiện và xử lý nghiêm người nào cố tình vi phạm. Cần phát động nhân dân tố giác, phát hiện người cho và nhận quà quá mức bình thường trong dịp Tết, để từ đó có chế độ khen thưởng người phát hiện, kỷ luật nặng những người vi phạm.

Làm kiên quyết triệt để như thế cũng là tự làm sạch nội bộ, làm trong sạch đạo đức cán bộ, đảng viên và bồi dưỡng đạo đức, nếp sống tốt đẹp của dân tộc, củng cố lòng tin của nhân dân. Đừng để năm nào cũng có chỉ thị, công văn nhưng chưa được như mong muốn./.
St

XÂY DỰNG ĐẢNG VỀ ĐẠO ĐỨC THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 Sinh thời, một trong những điều Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn trăn trở là xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, để Đảng xứng đáng là đạo đức, là văn minh, mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng khẳng định “Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; coi đó là công việc thường xuyên của các tổ chức đảng, các cấp chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội, địa phương, đơn vị gắn với chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Trong đó, nhấn mạnh, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, nhất là về tư tưởng chính trị và các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Lần đầu tiên trong Văn kiện Đại hội XII của Đảng khẳng định xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh không chỉ về chính trị, tư tưởng, tổ chức, mà còn nhấn mạnh xây dựng Đảng về đạo đức.

Trong thời gian qua, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã chỉ đạo và yêu cầu các cấp ủy đảng, địa phương, đơn vị tổ chức quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm các chỉ đạo của Trung ương. Trong đó, công tác xây dựng Đảng về đạo đức của cán bộ, đảng viên xem là một trong những nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng hiện nay nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống đáp ứng yêu cầu cách mạng trong tình hình mới. Qua đó, tiếp tục kế thừa và khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, về đạo đức cách mạng không chỉ có giá trị lý luận mà còn có giá trị thực tiễn sâu sắc đối với công tác xây dựng Đảng hiện nay.
1. Xây dựng Đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh về đạo đức - yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng
Để xác định mục tiêu của đảng cộng sản ở từng nước, C.Mác từng chỉ rõ, trước hết phải giành lấy chính quyền, khi đã giành được chính quyền thì đảng phải lãnh đạo nhà nước của dân, do dân và vì dân để xây dựng xã hội mới. Do vậy, vai trò lãnh đạo của đảng lại càng cần thiết. Bảo vệ và phát huy thành quả cách mạng, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội là sứ mệnh cao cả mà nhân dân trao cho đảng. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh theo tư tưởng Hồ Chí Minh là nhu cầu phát triển của Đảng. Mỗi bước phát triển của cách mạng đòi hỏi phải giải quyết các mâu thuẫn cơ bản một cách sâu sắc, toàn diện và triệt để, khi ấy tất yếu phải tiến hành những biện pháp để xốc lại đội ngũ, chấn chỉnh lực lượng, tăng thêm sức mạnh của Đảng.
Để Đảng làm tròn sứ mệnh của mình trước những chuyển biến của cách mạng, của đời sống xã hội, tất yếu Đảng phải thường xuyên làm trong sạch đội ngũ của mình, phải nâng mình lên ngang tầm với lịch sử, phải chỉnh đốn và xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Tiếp thu tư tưởng của C.Mác, V.I.Lê-nin về đổi mới, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng vào hoàn cảnh thực tế của Việt Nam và đưa ra những quan điểm hết sức sâu sắc. Người nhận định, “trong hàng chục vạn cán bộ và đảng viên xứng đáng, còn lẫn vào một số người thấp kém về tinh thần và đạo đức cách mạng. Họ còn mang nặng chủ nghĩa cá nhân trong mình. Đứng trong hàng ngũ chiến đấu của Đảng mà họ không có dũng khí cách mạng, ít lo nghĩ về trách nhiệm của mình, không quyết tâm vươn lên phía trước. Họ hững hờ như những người không có lý tưởng, đến đâu hay đó, qua tháng qua ngày. Đối với công việc của cách mạng, không có thái độ người làm chủ tập thể, dám nghĩ dám làm, mà thường bị động ngồi chờ”.
Vì những lý do trên mà Đảng phải thường xuyên đổi mới, chỉnh đốn. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về đạo đức là đòi hỏi khách quan và cũng là yêu cầu sống còn để bảo đảm giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng trong bất kỳ giai đoạn lịch sử nào, nâng cao bản lĩnh chính trị và sức chiến đấu của Đảng, khắc phục những hạn chế, sai lầm khuyết điểm; tạo môi trường và điều kiện để mỗi đảng viên và cán bộ hoàn thiện nhân cách, trở thành người cộng sản chân chính, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.
2. Nội dung xây dựng Đảng về đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm, đạo đức cách mạng là gốc của người cách mạng. Trong tác phẩm Đường cách mệnh năm 1927, ngay trang đầu tiên của tác phẩm, Người đã nêu lên 23 điều về tư cách của người cách mạng, tập trung giải quyết ba mối quan hệ cơ bản, đó là với mình, với người, với việc. Trong Di chúc, Người nhấn mạnh: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”. Đảng phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho đoàn viên và thanh niên, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng”, vừa “chuyên”.
Người coi đạo đức như gốc của cây, như nguồn của sông: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hoá, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”.
Vai trò nền tảng của đạo đức được Người khẳng định: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa”, “Mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng, hay là không”, “Tuy năng lực và công việc của mỗi người khác nhau, người làm việc to, người làm việc nhỏ; nhưng ai giữ được đạo đức đều là người cao thượng”.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đạo đức còn có ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp đổi mới xã hội cũ thành một xã hội mới và xây dựng thuần phong mỹ tục. Người cho rằng: “Có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại, cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước… khi gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”; lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ; không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hóa”.
Qua nghiên cứu các quan niệm của Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, có thể khái quát lại thành những chuẩn mực đạo đức cơ bản sau: Trung với nước, hiếu với dân; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; yêu thương con người, sống có tình, có nghĩa; tinh thần quốc tế trong sáng. Phẩm chất “trung”, “hiếu” là những khái niệm đã có trong tư tưởng đạo đức truyền thống của người phương Đông, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng và đưa vào những nội dung mới, tiến bộ hơn, phù hợp hơn, vượt qua những hạn chế trước đây. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, thì trung với nước là trung thành với sự nghiệp cách mạng, với sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Nước ở đây là nước của dân, còn dân chính là chủ nhân đích thực của nước. Từ chỗ “trung với vua, hiếu với cha mẹ” chuyển thành “trung với nước, hiếu với dân”. Bác đã chỉ ra: Nhân dân từ chỗ là kẻ nghèo hèn, phải được chăn dắt, sai khiến trở thành lực lượng làm nên lịch sử, sáng tạo ra lịch sử. Trước kia quan là phụ mẫu của dân, thì nay Đảng, cán bộ, đảng viên là “’đầy tớ trung thành của nhân dân”. Theo Người, trung với nước, hiếu với dân là phải suốt đời đấu tranh cho cách mạng, ra sức làm việc giữ vững kỷ luật, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lấy dân làm gốc, tiếp thu trí tuệ của dân, học hỏi dân, phải biết làm học trò của dân mới làm được thầy của dân. Như thế, sự nghiệp cách mạng mới thành công.
“Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” là phẩm chất đạo đức thể hiện rõ qua hệ thống phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhất là các hoạt động hằng ngày của Người. Trong các tác phẩm mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại nói về đạo đức cách mạng như: Đường cách mệnh 1927, Đạo đức cách mạng 1958…, những phẩm chất trên được Người đề cập nhiều nhất, thường xuyên nhất. Bác không những giải thích nghĩa của cần, kiệm, liêm, chính mà Người còn nêu lên mối quan hệ giữa 4 phẩm chất đó: Cần, kiệm, liêm là gốc rễ của chính. Một con người phải cần, kiệm, liêm nhưng còn phải chính mới là người hoàn toàn. So với bốn mùa của trời, bốn phương của đất, Người cho rằng: “Thiếu một mùa, thì không thành trời. Thiếu một phương, thì không thành đất. Thiếu một đức, thì không thành người”. Cần, kiệm, liêm, chính đối với cán bộ, đảng viên lại rất cần thiết, bởi vì “cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút”. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, càng có chức, có quyền càng phải cần, kiệm, liêm, chính “Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân”.
Chí công vô tư là không nghĩ đến mình trước, hưởng thụ đi sau, là “lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào”. Thực hành chí công vô tư là phải quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng. Bởi vì, chủ nghĩa cá nhân là trái với chủ nghĩa tập thể, trái với đạo đức cách mạng, trái với nhân cách, phẩm chất của một người cộng sản chân chính. Vì vậy, đạo đức cách mạng là vô luận trong hoàn cảnh nào, cũng phải quyết tâm đấu tranh, chống mọi kẻ địch, bởi “Chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cho nên thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân”.
Tuy nhiên, cần nhận thức về sự thống nhất giữa lợi ích chung và lợi ích riêng, cần phân biệt giữa chủ nghĩa cá nhân và lợi ích cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân thì việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết. Họ không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”, chỉ lo “mình béo mặc thiên hạ gầy”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”. Mỗi người đều có tính cách riêng, đời sống riêng của bản thân và gia đình mình. Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích tập thể thì không phải là xấu. Con người không phải thánh thần, có tốt, có xấu. Chúng ta cần làm cho phần tốt của mỗi con người nẩy nở như hoa mùa xuân và phần xấu mất dần đi.
Đạo đức của Đảng hàm chứa tình nhân ái, rộng lớn, bao la. Tình yêu thương con người ở Chủ tịch Hồ Chí Minh không chung chung trừu tượng, mà trước hết giành cho những người mất nước, người cùng khổ. Yêu thương con người với một tình cảm sâu sắc, vừa bao la, vừa gần gũi, bao trùm cả cộng đồng đến từng số phận con người, đánh thức những gì tốt đẹp nhất trong mỗi con người, tạo điều kiện cho họ đứng dậy vươn lên hoàn thành nhiệm vụ. Tình yêu thương con người ở Chủ tịch Hồ Chí Minh vượt ra ngoài phạm vi dân tộc, mang tính nhân loại, vừa bốn biển năm châu, vừa bốn phương vô sản. Đó chính là tinh thần quốc tế trong sáng, thủy chung.
Có thể khẳng định, tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, về đạo đức cách mạng là tài sản tinh thần vô cùng quý báu của Đảng và dân tộc ta, việc vận dụng và phát triển các giá trị tư tưởng đó vào sự nghiệp xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ của đất nước trong điều kiện hiện nay là việc làm không chỉ có giá trị lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn vô cùng to lớn./.
St

Nguy hại của sự dối trá

 


Dối trá là một thói xấu nhưng vẫn có ở nhiều người, trong cả cán bộ, đảng viên, gây ra những hậu quả khó lường. Người dối trá cố tình cung cấp thông tin sai sự thật, dẫn đến nhìn nhận, đánh giá không đúng sự việc, vấn đề, con người và nghiêm trọng hơn là sự dối trá gây bức xúc, mất đoàn kết nội bộ, niềm tin, kìm hãm sự phát triển của cá nhân, tập thể và đất nước... Đấu tranh, ngăn chặn thói dối trá là việc rất cần thiết để phòng, chống “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay.