Thứ Năm, 4 tháng 1, 2024

Có Đảng lãnh đạo cách mạng mới thành công

     Một trong những nội dung quan trọng được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập trong tác phẩm Đường Cách mệnh và Thường thức chính trị chính là về Đảng và xây dựng Đảng. Thực tế, những chỉ dẫn cụ thể của Người trong 2 tác phẩm này vẫn vẹn nguyên giá trị; không chỉ góp phần đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, mà còn có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, để Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với vai trò tiền phong

    ĐẢNG LÃNH ĐẠO SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG LÀ KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN

    Lịch sử cách mạng Việt Nam hơn 93 năm qua đã chứng minh nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam là “trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với các dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy” đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong tác phẩm Đường Cách mệnh năm 1927. Đồng thời, thực tiễn cũng đã khẳng định lời Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Muốn thắng lợi, thì cách mạng phải có một đảng lãnh đạo” như Người viết trong mục 31 của tác phẩm Thường thức chính trị.

    Bởi rằng, theo Người thì “cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt” và “sửa cái xã hội cũ đã mấy ngàn năm làm cái xã hội mới, ấy là rất khó (Đường Cách mệnh), cho nên, “cách mạng là cuộc đấu tranh rất phức tạp. Muốn khỏi đi lạc phương hướng, quần chúng phải có Đảng lãnh đạo để nhận rõ tình hình, đường lối và định phương châm cho đúng” (mục 31Thường thức chính trị). Hơn nữa, “cách mệnh trước phải làm cho dân giác ngộ” (Đường Cách mệnh). Cho nên, để tiến hành thắng lợi sự nghiệp cách mạng thì “Đảng phải làm cho quần chúng giác ngộ vì đâu mà họ bị áp bức bóc lột; phải dạy cho quần chúng hiểu các quy luật phát triển của xã hội, để họ nhận rõ vì mục đích gì mà đấu tranh; chỉ rõ con đường giải phóng cho quần chúng, cổ động cho quần chúng kiên quyết cách mạng; làm cho quần chúng tin chắc cách mạng nhất định thắng lợi”(mục 31Thường thức chính trị). Đồng thời, hiện thực cách mạng Việt Nam cũng cho thấy “cách mạng thắng lợi rồi, quần chúng vẫn cần có Đảng lãnh đạo, vì: Dù nhân dân đã nắm chính quyền, nhưng giai cấp đấu tranh trong nước và mưu mô đế quốc xâm lược vẫn còn. Vì phải xây dựng kinh tế, quốc phòng, văn hóa, xã hội cho nên Đảng vẫn phải tổ chức, lãnh đạo, giáo dục quần chúng, để đưa nhân dân lao động đến thắng lợi hoàn toàn” và để  “cách mạng và kháng chiến mới thắng lợi, kiến quốc mới thành công” (mục 31Thường thức chính trị)…

    Có thể nói, những tri thức phổ thông nhưng quan trọng và cần thiết này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày rất giản dị, cụ thể, rõ ràng trong Mục 31 của tác phẩm Thường thức chính trị không chỉ giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân hiểu được, hiểu đúng về Đảng Cộng sản và vai trò lãnh đạo của Đảng, mà còn khẳng định Đảng chính là đội tiền phong của giai cấp và dân tộc.

    Minh chứng sinh động nhất chính là ngay từ khi mới ra đời, với đường lối, chủ trương đúng đắn, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định được vai trò của mình; đã lãnh đạo quần chúng nhân dân tiến hành thắng lợi cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, sáng lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Song, đứng trước dã tâm quay trở lại xâm lược Việt Nam một lần nữa của thực dân Pháp và để bảo vệ nền độc lập vừa giành được cũng như kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng bào, chiến sĩ cả nước lại tiếp tục cuộc trường chinh vừa kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, vừa xây dựng kinh tế, quốc phòng, văn hóa, xã hội… Đó chính là thực hiện sự nghiệp vừa kháng chiến vừa kiến quốc, vừa xây dựng, bảo vệ vừa phát triển đất nước theo con đường đã chọn.

    Vì thế, để Đảng luôn giữ vững được vị thế của mình, hoàn thành được trọng trách trước Tổ quốc và nhân dân, thì trong mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm, Cộng sản Việt Nam  phải là một tổ chức của những con người ưu tú. Đó là: 1) “Đảng là bộ đội tiền tiến của nhân dân lao động (công nhân, nông dân và lao động trí óc)”; 2) “Toàn thể đảng viên phải giữ vững kỷ luật của Đảng, phải phục tùng sự lãnh đạo và chấp hành những nghị quyết của Đảng”; 3) “Đảng phải lãnh đạo tất cả những tổ chức khác của nhân dân lao động”; 4) “Đảng phải liên lạc thật chặt chẽ với quần chúng”; 5) “Đảng phải tổ chức theo nguyên tắc dân chủ tập trung”; 6) Trong Đảng, bất kỳ cấp trên hoặc cấp dưới, đảng viên cũ hoặc đảng viên mới, đều nhất định phải giữ kỷ luật của giai cấp vô sản”… Đây chính là 6 điều cơ bản, nền tảng tổ chức của Đảng để Đảng “thật mạnh mẽ, trong sạch, sáng suốt, thống nhất”(mục 32Thường thức chính trị).

    Đặc biệt, không chỉ nhấn mạnh rằng “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin” và “cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”(Đường Cách mệnh) mà ở trong mục 32 của tác phẩm Thường thức chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn khẳng định: “Chủ nghĩa của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, mỗi đảng viên đều phải nghiên cứu. Mỗi đảng viên đều phải thật thà tự phê bình và phê bình để tiến bộ mãi”; đồng thời yêu cầu “đảng viên phải toàn tâm, toàn lực phụng sự lợi ích của nhân dân, phải làm gương mẫu trong mọi công tác kháng chiến và kiến quốc”.

    Tiếp đó, để Đảng xứng đáng với vai trò tiền phong, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ nhấn mạnh rằng “Đảng kết hợp phong trào cách mạng Việt Nam với chủ nghĩa Mác - Lênin. Đảng giác ngộ giai cấp công nhân rành mạch, lập trường giai cấp dứt khoát, tác phong giai cấp đúng đắn”, mà còn khẳng định: “Tư tưởng của Đảng là tư tưởng của giai cấp công nhân, nó đấu tranh cho lợi ích của toàn dân. Vì vậy, trong Đảng không thể có những tư tưởng, lập trường và tác phong trái với tư tưởng, lập trường và tác phong của giai cấp công nhân” (mục 33Thường thức chính trị). Để lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam, “Đảng có Chính cương rõ rệt: Hiện nay thì giai cấp công nhân lãnh đạo toàn dân chống đế quốc và phong kiến, để giải phóng dân tộc và thực hiện dân chủ mới. Ngày sau thì tiến đến chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản”. Đồng thời, “Đảng có kỷ luật rất nghiêm khắc, tất cả đảng viên đều tuân theo. Tư tưởng, chính trị và tổ chức của Đảng đều phải thống nhất. Trong Đảng không thể có những phần tử lạc hậu và đầu cơ… Trong Đảng không thể có những phần tử hèn nhát, lung lay” và “Đảng phải luôn giáo dục đảng viên về lý luận cách mạng” cũng như “Đảng phải ra sức cải tạo tư tưởng” cho những đảng viên xuất thân là trí thức, tiểu tư sản, nông dân để các đồng chí ấy “thành những chiến sĩ của giai cấp công nhân”(mục 33Thường thức chính trị).

    Tư tưởng và những chỉ dẫn quý báu của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Đảng và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam từ trong tác phẩm Đường Cách mệnh (1927) đến Thường thức chính trị (1953) đã được quán triệt, triển khai nghiêm túc, đảm bảo để Đảng luôn là một tổ chức thống nhất trong tư tưởng và hành động từ Trung ương đến địa phương, từ Ban Chấp hành Trung ương đến từng tổ chức cơ sở Đảng trên địa bàn cả nước; đảm bảo để Đảng luôn được mạnh khỏe, trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với trọng trách “kép”- vừa là người lãnh đạo vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

    ĐẢNG PHẢI THƯỜNG XUYÊN CHỈNH ĐỐN VÀ ĐỔI MỚI, XỨNG ĐÁNG VỚI VAI TRÒ TIỀN PHONG

    Được xây dựng, tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc của một Đảng Mácxít Lêninnít kiểu mới, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng và chỉnh đốn Đảng không chỉ là nhu cầu mà còn là nhiệm vụ quan trọng của Đảng, của mỗi cán bộ, đảng viên để Đảng ngày càng hoàn thiện mình. Thực tế, từ một Đảng hoạt động bí mật trở thành Đảng cầm quyền, Đảng không chỉ đứng trước những yêu cầu mới của tình hình và nhiệm vụ cách mạng, nhất là khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) đã và đang bước vào giai đoạn chuẩn bị tổng phản công để “đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi”, mà còn phải tự chỉnh đốn và đổi mới để Đảng “mạnh khỏe, chắc chắn”, đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn.

    Thời kỳ này, cùng với việc bị tinh thần và lực lượng (kinh tế, quân sự, chính trị, cán bộ,v.v..) để tổng phản công, vấn đề “coi công tác chỉnh Đảng chỉnh quân là công tác trung tâm về xây dựng Đảng và xây dựng quân đội” nhằm tăng cường sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với kháng chiến theo đúng tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa II (22-28/4/1952) đã được triển khai. Thông qua đó, “đề cao trình độ tư tưởng và ý thức chính trị của đảng viên, làm cho toàn Đảng thống nhất tư tưởng và hành động. Nâng cao tổ chức tính, kỷ luật tính, làm cho tổ chức của Đảng được trong sạch, tác phong của Đảng được đúng đắn, khiến Đảng đủ sức lãnh đạo toàn dân tiến lên giành thắng lợi cuối cùng”. Thực tế, Đảng đã “truyền bá lý luận Mác - Lênin vào trong nhân dân” vì “lý luận rất quan trọng. Không hiểu lý luận thì như người mù đi đêm. Lý luận làm cho quần chúng giác ngộ, bày cho quần chúng tổ chức, động viên quần chúng để đấu tranh cho đúng. Nhờ lý luận mà quần chúng hiểu rõ nguyên nhân vì sao mà cực khổ, thấy rõ đường lối đấu tranh để giải phóng mình, hiểu rõ phương pháp đấu tranh với địch…) và trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo thực tiễn “đã kết hợp lý luận với kinh nghiệm và thực hành của cách mạng Việt Nam”, “đã áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp Mác - Lênin mà giải quyết các vấn đề thực tế của cách mạng Việt Nam”(mục 34Thường thức chính trị).

    Song vì “Đảng có trách nhiệm vô cùng to lớn”, cho nên Đảng cần phải căn cứ vào tình hình trong nước và trên thế giới để không chỉ linh hoạt, chủ động “đề ra những khẩu hiệu, mục đích và kế hoạch đấu tranh”, mà còn phải đồng thời “quy định ở giai đoạn nào thì phải dựa vào lực lượng nào, đoàn kết lực lượng nào, cô lập và phân hóa lực lượng nào, để tiêu diệt kẻ thù của giai cấp, của nhân dân”. Điều đó cũng có nghĩa là việc đề ra “khẩu hiệu chính trị đúng, thì toàn dân thấy rõ phương hướng, nhận rõ ai là bạn, ai là thù, đoàn kết chặt chẽ xung quanh Đảng, để đánh thắng kẻ thù của cách mạng”. Tuy nhiên, cũng theo chỉ dẫn của Người thì “có khẩu hiệu chung, cũng chưa đủ, Đảng còn phải căn cứ theo lợi ích của nhân dân trong giai đoạn đó, đề ra những khẩu hiệu mới, để động viên quần chúng, để làm mục đích và vạch đường lối cho quần chúng đấu tranh; đồng thời để huấn luyện, giáo dục quần chúng” (mục 35Thường thức chính trị). Đồng thời, để Đảng xứng đáng với vị thế của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ khẳng định “xây dựng Đảng là một nhiệm vụ quan trọng”, mà Người còn nhấn mạnh nhiệm vụ của đảng viên và cán bộ là “nhất định phải làm cho quần chúng thấm nhuần tư tưởng cách mạng… Nhất định phải làm gương mẫu trong mọi công việc kháng chiến kiến quốc. Nhất định phải vào sâu trong quần chúng, hết lòng hết sức phục vụ quần chúng, làm cho quần chúng mến Đảng, tin Đảng, ra sức ủng hộ Đảng và tự giác tự nguyện chịu Đảng lãnh đạo”(mục 35Thường thức chính trị). Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong quá trình lãnh đạo và chỉ đạo thực tiễn, “đảng viên và cán bộ phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu” và “phải nắm vững chính sách của Đảng và của Chính phủ, đi đúng đường lối quần chúng” thì “mới xứng đáng là đảng viên và cán bộ của Đảng, như thế mới lãnh đạo được quần chúng”(mục 35Thường thức chính trị).

    Là một Đảng lãnh đạo, Đảng cần phải mạnh mẽ, trong sạch, kiểu mẫu. Toàn Đảng phải tư tưởng nhất trí, hành động nhất trí, đoàn kết nhất trí mới làm tròn nhiệm vụ của Đảng. Việc hiểu rõ, hiểu đúng về Đảng, về mục đích của xây dựng và “chỉnh Đảng” chính là nhằm nâng cao tư tưởng, trình độ chính trị, đạo đức cách mạng của đảng viên và cán bộ, làm cho đảng viên và cán bộ theo đúng quan điểm và lập trường vô sản. Vì thế, trong mục 36, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh yêu cầu “xây dựng Đảng, có ba mặt: tư tưởng, chính trị và tổ chức”, cho nên Đảng “phải nâng cao trình độ độ lý luận và chính trị của đảng viên. Phải tăng cường tính tổ chức và tính kỷ luật của đảng viên. Phải phát triển tính hăng hái và hoạt động chính trị của đảng viên”(mục 38). Cụ thể, “Đảng cần phải phát triển và củng cố. Cần phải phát triển thêm thành phần công nhân. Cần phải giáo dục đảng viên mới. Cần phải cải tạo tư tưởng cho đảng viên nông dân và tiểu tư sản”; trong đó, “về tư tưởng, nhất định phải học tập lý luận Mác - Lênin” vì “không phải chỉ học thuộc lòng vài bộ sách Mác - Lênin mà làm được”. Theo Người, công tác “giáo dục tư tưởng và lãnh đạo tư tưởng là việc quan trọng nhất của Đảng, phải kiên quyết chống cái thói xem nhẹ tư tưởng” và “Đảng phải chống cái thói xem nhẹ học tập lý luận. Vì không học lý luận thì chí khí kém kiên quyết, không trông xa thấy rộng, trong lúc đấu tranh dễ lạc phương hướng, kết quả “mù chính trị”, thậm chí hủ hóa, xa rời cách mạng”. Đồng thời, “mỗi đảng viên cần phải luôn luôn thực hành thật thà tự phê bình và phê bình. Đảng thì dung cách chỉnh Đảng, chỉnh huấn để giáo dục đảng viên” vì “nâng cao trình độ lý luận chính trị, cải tạo mình là một việc trường kỳ và gian khổ” (mục 37Thường thức chính trị)

    Cũng trong tác phẩm Thường thức chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kết luận: “Đảng là gồm các đảng viên mà tổ chức nên. Mọi công việc đều do đảng viên làm. Mọi nghị quyết đều do đảng viên chấp hành. Mọi chính sách đều do đảng viên mà thấu đến quần chúng. Mọi khẩu hiệu, mọi kế hoạch của Đảng đều do đảng viên cố gắng thực hiện”, cho nên” Đảng cần phải làm cho thành phần đảng viên trong sạch, phải bồi dưỡng và hấp thụ vào Đảng những người tốt trong giai cấp lao động”/phải “lựa chọn đảng viên” đúng tiêu chuẩn, vì đó là “nền tảng của tổ chức Đảng” (mục 38). Đồng thời, nguyên tắc của Đảng là toàn thể các cấp ủy các cấp, toàn thể đảng viên đều phải tổ chức và hoạt động theo một nguyên tắc thống nhất - Đó chính là “dân chủ tập trung”- là “tập trung trên nền tảng dân chủ” và “dân chủ dưới sự chỉ đạo tập trung” và “để làm cho Đảng mạnh, thì phải mở rộng dân chủ (thật thà tự phê bình và phê bình), thực hành lãnh đạo tập trung, nâng cao tính tổ chức và tính kỷ luật” (mục 42). Điều đó cũng có nghĩa là, để đưa sự nghiệp cách mạng đến thành công, thì Đảng không chỉ phải “có kỷ luật rất nghiêm. Kiên quyết chống những hiện tượng phớt kỷ luật, phớt tổ chức”, mà còn luôn “phải giữ vững chế độ dân chủ tập trung. Phải luôn luôn chỉnh đốn tổ chức, loại bỏ những phần tử xấu ra khỏi Đảng. Phải bồi dưỡng, lựa chọn và dùng cán bộ một cách đúng đắn”…

    Cùng với đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên không chỉ cần: “Tự mình phải: Cần kiệm. Hoà mà không tư. Cả quyết sửa lỗi mình. Cẩn thận mà không nhút nhát. Hay hỏi. Nhẫn nại (chịu khó). Hay nghiên cứu, xem xét. Vị công vong tư. Không hiếu danh, không kiêu ngạo. Nói thì phải làm. Giữ chủ nghĩa cho vững. Hy sinh. Ít lòng tham muốn về vật chất. Bí mật. Đối người phải: Với từng người thì khoan thứ. Với đoàn thể thì nghiêm. Có lòng bày vẽ cho người. Trực mà không táo bạo. Hay xem xét người. Làm việc phải: Xem xét hoàn cảnh kỹ càng. Quyết đoán. Dũng cảm. Phục tùng đoàn thể” như yêu cầu trong tác phẩm Đường Cách mệnh, mà còn phải thực hiện “kỷ luật nghiêm khắc, thật thà tự phê bình và phê bình”; đồng thời “liên hệ chặt chẽ với nhân dân và không một phút nào xa rời nhân dân, cùng nhân dân kết thành một khối. Chống bộp chộp, nóng nảy, quan liêu, mệnh lệnh” như Người chỉ rõ tại mục 37 và phải “ra sức phụng sự nhân dân, củng cố mối liên hệ giữa nhân dân với Đảng, kịp thời cho Đảng biết những nhu cầu của nhân dân, giải thích cho nhân dân thấm nhuần và thực hiện chính sách của Đảng” (mục 40Thường thức chính trị) để được nhân dân tin tưởng, ủng hộ, đi theo, góp ý kiến...

    Tư tưởng và những chỉ dẫn trong tác phẩm Đường Cách mệnh và Thường thức chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh là những điều căn cốt về Đảng, về vai trò lãnh đạo của Đảng và xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đứcThực hiện theo đúng những chỉ dẫn của Người, Đảng Cộng sản đã không chỉ chú trọng xây dựng Đảng về mọi mặt mà còn thường xuyên chỉnh đốn để “sữa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm. Quyết tâm vượt khó khăn gian khổ, làm tròn nhiệm vụ” để xứng đáng là một Đảng cách mạng chân chính, “là đạo đức, là văn minh”; là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội như đã hiến định tại Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013!

Sưu tầm

Thầy cô sính ngoại - nguy hại khôn lường

        Mở rộng hợp tác trong lĩnh vực giáo dục giúp những người làm công tác giáo dục ngày càng có nhiều điều kiện, cơ hội đi nước ngoài giao lưu, học tập, nghiên cứu để tiếp thu tinh hoa tri thức nhân loại, làm giàu thêm kho tri thức của bản thân, phục vụ tốt hơn công tác giảng dạy.

Tuy nhiên, do “sức đề kháng” kém nên không ít người đã quay lưng, trở nên tôn sùng, ngợi ca một cách chủ quan những giá trị bề ngoài, hào nhoáng của xã hội, lối sống của nước sở tại, quay lại chê bai đất nước, nhất là ở trên bục giảng, với học trò của mình. Tuy chỉ là số ít nhưng sự nguy hại từ những thầy cô sính ngoại này là rất lớn vì thông qua bài giảng của mình, họ có thể tiêm nhiễm, "đầu độc" tư tưởng sùng ngoại tới hàng trăm, hàng nghìn học sinh, sinh viên...

Sùng ngoại - bài nội

Thầy, cô giáo sính ngoại vì nhiều lý do: Có người do nhận thức chính trị, thiếu kiến thức, thiếu hiểu biết nên bị lợi dụng, kích động; có người chỉ là vô tình; nhưng cũng có người có tư tưởng phản động, chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa... Dù vô tình hay cố ý, những thầy, cô giáo sính ngoại đều chẳng khác nào là trung gian tiếp sức, “nối giáo cho giặc”, giúp các thế lực thù địch, phản động thực hiện những chiến dịch tuyên truyền, chống phá, hủy hoại thế hệ tương lai của nước nhà.

Biểu hiện chung của thầy, cô giáo mắc bệnh sính ngoại là: Muốn khoe khoang, chứng tỏ ta đây học rộng biết nhiều, được đi đây đi đó... nên quá trình giảng bài, họ thường kể về những điều được thấy, được trải nghiệm ở nước ngoài như phát hiện mới về một nền văn minh, “đỉnh cao” của xã hội loài người với giọng điệu đầy tán dương, ca ngợi, thán phục. Nhằm thuyết phục thêm, họ lại chỉ lấy những ví dụ và đề cập đến một số hạn chế, bất cập về tình hình kinh tế-xã hội đất nước bằng giọng chê bai, chế giễu hoặc buông một câu lấp lửng “Việt Nam ta thì...” với thái độ bất mãn, tiêu cực. Nhiều người còn ra sức tuyên truyền, quảng bá, tô vẽ, khuếch trương nền giáo dục phương Tây, coi đó là điểm đến lý tưởng, con đường duy nhất để thế hệ trẻ Việt Nam có điều kiện làm “rạng rỡ tương lai, mở mang tiền đồ của đất nước”. Từ đó từng bước nhồi nhét, cài đặt tư tưởng sùng ngoại, bài nội, dần tác động thay đổi tận gốc nhân cách, tạo ra một tầng lớp trí thức mới đề cao chủ nghĩa tư bản, lối sống phương Tây, lệch lạc về giá trị đạo đức và lối sống, đề cao hưởng thụ, sống thực dụng, ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa, thiếu trách nhiệm với cộng đồng.

        PGS, TS Hà Huy Phượng, giảng viên cao cấp Học viện Báo chí và Tuyên truyền cho rằng: “Đây là “căn bệnh” không chỉ của riêng một số ít thầy, cô giáo khi được ra nước ngoài học tập, công tác. Nhiều cán bộ, công chức, viên chức được cơ quan cử đi học tập, công tác nước ngoài cũng dễ “nhiễm bệnh” sính ngoại. Họ dễ bị choáng ngợp với những giá trị công cộng mà nước họ đến đạt được, rồi đem so sánh với đất nước mình và chê bai đường lối lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và những thành tựu từ mồ hôi, xương máu của nhân dân. Nguyên nhân lớn nhất để nảy sinh "căn bệnh" sính ngoại lại bắt đầu từ khâu tổ chức các đoàn cán bộ đi công tác. Thường thì có những đoàn cán bộ khi đi nước ngoài chỉ họp đoàn bàn về nội dung chương trình, việc ăn ở, đi lại chứ ít quan tâm quán triệt những vấn đề liên quan đến tư tưởng chính trị, văn hóa... cho các thành viên khi đi ra nước ngoài, nên chuyện phát ngôn chưa chuẩn mực hoặc bị nhiễm “bệnh” sùng ngoại xảy ra là điều dễ hiểu...”.

        Chính vì sùng bái, mải mê ca ngợi một chiều các giá trị bề nổi, hào nhoáng của xã hội tư bản nên những thầy cô này chỉ “thấy cây mà không thấy rừng”; họ không giúp học sinh, sinh viên thấy rõ những điều còn hạn chế của nước ngoài, nhất là ở các nước tư bản như sự bất công trong xã hội, khoảng cách giàu-nghèo...; họ cũng chưa thấy hết những thành quả, thành tựu đổi mới, xây dựng và phát triển của đất nước; vai trò, sự lãnh đạo của Đảng; chưa phân tích rõ những mặt tích cực, tiêu cực và nguyên nhân của nó; chưa nghiên cứu kỹ các chủ trương, giải pháp của Đảng trong khắc phục, giải quyết những vấn đề còn hạn chế, yếu kém... để từ đó giúp học sinh, sinh viên nhận thức đầy đủ vai trò, trách nhiệm trước những vấn đề thời cuộc và với sự nghiệp cách mạng của Đảng ta. Rơi vào tay những người thầy này thì ít hay nhiều, sớm hay muộn học sinh, sinh viên cũng dễ bị gieo rắc, "đầu độc" và có thể hình thành tư tưởng thực dụng, quay lưng với lịch sử, truyền thống dân tộc, chạy theo những cám dỗ vật chất tầm thường. Nguy hiểm hơn nữa là những học sinh, sinh viên bị tiêm nhiễm tư tưởng xấu sẽ lây nhiễm suy nghĩ, cái nhìn lệch lạc tới bạn bè, người thân như vết dầu loang rất khó phòng ngừa. Xin dẫn chứng một vài trường hợp:

        Đó là một giáo sư, tiến sĩ từng giảng dạy trong lĩnh vực xây dựng, nhưng khi về hưu, ông này đã viết, tán phát nhiều bài viết trên các trang mạng hải ngoại, cá nhân, núp bóng chiêu bài “phản biện” các chính sách để chống Đảng, phủ nhận những thành quả từ sự lãnh đạo của Đảng, phê phán Chủ nghĩa Mác-Lênin, kêu gọi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập... Song, đó chỉ là bề nổi, điều mà nhiều người quan tâm, lo ngại qua trường hợp này là liệu có phải chỉ sau khi nghỉ hưu ông này mới có những tư tưởng, quan điểm lệch lạc này hay nó đã nảy sinh, tích tụ từ bao giờ? Và suốt thời gian đứng trên bục giảng, ông này có “lồng ghép”, truyền bá những suy nghĩ lệch lạch của mình vào các bài giảng hay không? 

        Một trường hợp nữa là giáo viên âm nhạc ở tỉnh Đắk Lắk vừa bị Tòa án Nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tuyên y án 8 năm tù giam và 4 năm quản chế về tội danh “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, quy định tại Điều 117 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Được biết đến là thầy giáo dạy nhạc hát hay và có kiến thức tốt về âm nhạc, thế nhưng thay vì vận dụng kiến thức, hiểu biết đã học được để truyền tải những lời hay ý đẹp, kiến thức âm nhạc cho các thế hệ học trò thì ông này lại lợi dụng ngay cả diễn đàn dạy học để xuyên tạc, nói xấu Đảng, Nhà nước, đả kích chế độ.

        Tu tài phải gắn chặt với dưỡng đức

        Hội nhập giáo dục là một phần tất yếu trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của đất nước ta. Nó mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra không ít nguy cơ, thách thức. Thực tế là đã có những âm mưu lợi dụng hợp tác quốc tế về giáo dục-đào tạo để hòng tạo ra một lớp người Việt Nam có quan điểm, tư tưởng không phù hợp với những đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta. Chiêu trò này nhằm vào đối tượng là thanh niên, sinh viên để tiêm nhiễm, kích động tư tưởng chống đối trong giới trẻ thông qua đội ngũ giáo viên, giảng viên thoái hóa về tư tưởng chính trị. Vì vậy, người làm công tác giảng dạy cần thấy được vinh dự lớn của bản thân khi được tổ chức tin tưởng, tín nhiệm cử đi giao lưu, học tập, nghiên cứu ở nước ngoài; lấy đó làm động lực để nỗ lực phấn đấu, trách nhiệm hơn với công việc của mình, của đơn vị mình; ra sức học tập, nghiên cứu, tiếp thu tinh hoa tri thức nhân loại, làm giàu hơn kho tri thức của bản thân, từ đó phụng sự sự nghiệp giáo dục-đào tạo của đất nước. Chỉ có không ngừng tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất, nhân cách, tiếp thu tri thức thì người thầy mới có cái nhìn toàn diện, sâu sắc; mới phân biệt rõ cái hay, cái dở để từ đó có thái độ ứng xử phù hợp, nhân rộng cái hay, thu hẹp cái dở, giúp học sinh, sinh viên của mình luôn có cái nhìn tiến bộ, tích cực.

        Thời nào cũng vậy, thanh niên, học sinh, sinh viên luôn là thành phần tiên phong trong tiếp thu cái mới, hăng hái, nhiệt tình trong hoạt động thực tiễn. Họ cũng là đội ngũ có kiến thức nên càng năng động, nhạy cảm với cái mới, khát khao đổi mới. Thế nhưng họ lại chưa đủ "độ chín" về tư tưởng chính trị, dễ bị cảm xúc lấn át nên thường thiếu sâu sắc khi phân tích, nhận định những vấn đề về chính trị-xã hội, cái tích cực-tiêu cực trong xã hội đa chiều, phức tạp. Vì vậy, nếu không được định hướng kỹ càng, sâu sát, rất có thể họ sẽ phạm sai lầm trong nhận thức và hành động. Do đó, họ rất cần được những người thầy vừa có tâm trong sáng vừa có tầm cao trình độ kiến thức dìu dắt, định hướng để thực sự trở thành những chủ nhân tương lai của đất nước.

Sưu tầm

Đâu phải chọn bên!

          Nghe tiếng chó sủa râm ran ngoài cửa, ông Đậu chân tập tễnh bước ra:- Ô, ông Nam đấy à! Mới sáng sớm, ông tìm tôi có chuyện gì thế?

Chưa kịp mở cửa, ông Nam đã nói vọng vào:

- Ông ơi, chúng ta đều biết chuyến thăm cấp Nhà nước đến Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình kết thúc tốt đẹp. Bản tuyên bố chung của hai nước cũng ghi rõ như vậy. Ấy thế mà trên các trang mạng xã hội, không ít kẻ xấu, đối tượng cơ hội vẫn bình luận loạn cả lên...

 - Tôi xem thời sự và đọc báo suốt nên hiểu rõ chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đến Việt Nam rất thành công, mang lại nhiều lợi ích không chỉ cho hai nước mà còn trong khu vực và thế giới. Thế nhưng, cũng chính vì thế mà các thế lực thù địch, phản động càng tức tối, cố tình xuyên tạc để chống phá. Mời ông vào làm miếng nước đã rồi ta nói chuyện, bà nhà tôi vừa pha bình nước vối ngon lắm!

Đón chén nước từ ông bạn già, ông Nam thong thả nói:

- Tôi biết ông hay nghiên cứu, hiểu sâu hơn tôi nên mới sang hỏi ông đấy. Chẳng là, thằng út nhà tôi đọc trên mạng xã hội thấy thông tin “Việt Nam đang ngấm ngầm bắt tay với Trung Quốc, bị lệ thuộc vào Trung Quốc, rồi các nước khác sẽ quay lưng với Việt Nam", ông ạ! Đáng buồn là nó cũng có vẻ tin theo luận điệu suy diễn, xuyên tạc của bọn phản động mà tôi không biết cách để phân tích cho nó hiểu.

Nghe đến đây, ông Đậu hiểu phần nào những băn khoăn của ông Nam.

- Ông Nam này, ông cũng biết thông tin trên mạng xã hội giờ tràn lan, nhiều nội dung bị các thế lực xấu đưa lên hòng bôi nhọ, nói xấu, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta. Mục đích của chúng là cố tình thổi phồng theo hướng kích động, chia rẽ kiểu “bắt tay bên này để chống bên kia”, từ đó lấy cớ xuyên tạc, bóp méo đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam.

Nhấp thêm ngụm nước vối, ông Đậu nói tiếp:

- Hôm trước dự ngày truyền thống hội cựu chiến binh, anh Sơn là Phó chủ tịch hội giải thích rất rõ về chính sách đối ngoại của Việt Nam không phải chọn bên này, bên kia, mà là thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại với các nước. Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy với tất cả quốc gia trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc. Tuy nhiên, Việt Nam cũng kiên định thực hiện nguyên tắc “4 không”: Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Chăm chú nghe ông bạn già phân tích, ông Nam gật gù:

- Ông phân tích tôi thấy đúng quá, chứ cứ đọc thông tin trên mạng rồi nghe người nọ, người kia tuyên truyền thì vô tình tiếp tay cho kẻ xấu, ông ạ.

Ông Đậu vỗ vai người bạn già rồi nói tiếp:

- Việt Nam đạt được những thành tựu trong công cuộc đổi mới cũng là nhờ chính sách ngoại giao đúng đắn, nhiều nước mong muốn hợp tác với Việt Nam cũng chính vì vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được củng cố đấy ông ạ.

Ông Nam uống nốt chén nước rồi đứng dậy nói:

- Cảm ơn ông, tôi về nhà xem thằng út nhà tôi nó đọc thông tin ở đâu, rồi nói cho nó hiểu, không là rất nguy hiểm ông ạ.

Ông Đậu đứng dậy đưa ông Nam ra cửa và dặn:

- Ông nói và phân tích nhẹ nhàng thôi thì con nó mới hiểu nhé! 

Sưu tầm

Đừng để điển hình tiên tiến trở thành “ngôi sao cô đơn sợ nói về mình”

        Thi đua là để đào tạo, rèn luyện và xây dựng con người mới, khen thưởng của người này là “cú hích” cho người khác cố gắng khắc phục khó khăn, cùng “chạy đua” để tiếp tục đi lên. Nên có thể ví thi đua là gieo trồng thì khen thưởng là gặt hái, cả hai đều là động lực thúc đẩy nhau cùng tiến bộ. Nếu chỉ thi đua mà không khen thưởng thì phong trào thi đua không thể phát triển mạnh. Vậy nên, nếu việc bầu chọn danh hiệu thi đua không đúng, không có giá trị nêu gương, sẽ hình thành tư tưởng bình quân chủ nghĩa, làm cho phong trào thi đua trở thành hình thức, không thực chất, còn những điển hình tiên tiến (ĐHTT) thì trở thành “ngôi sao cô đơn” sợ và ngại khi nói ra những thành tích của mình, vì chưa thực sự xứng đáng. Đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến mất đoàn kết nội bộ.

          Xuất phát từ việc “gieo trồng” chưa đúng hướng

        Việc phát hiện, bồi dưỡng, xây dựng và nhân rộng ĐHTT là biện pháp thực tiễn, lấy quần chúng để động viên quần chúng, lấy phong trào để nuôi dưỡng, thúc đẩy phong trào. Phong trào thi đua nếu không có ĐHTT thì phong trào đó không có sức sống và ngược lại, có ĐHTT mà không có phong trào thi đua thì những điển hình đó cũng không có cơ hội được tôn vinh, nhân rộng để mọi người biết và học tập. 

        Việc phát hiện, nhân rộng các ĐHTT trong tất cả mọi lĩnh vực đời sống xã hội, học tập lao động sản xuất, chiến đấu… là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu không thể thiếu trong các phong trào thi đua yêu nước. 

        Tuy nhiên, do chưa nhận thức sâu sắc quan điểm này, nên vẫn còn những cấp ủy, tổ chức Đảng, địa phương, cơ quan, đơn vị xây dựng ĐHTT mới chỉ để ở mức tuyên dương, chứ chưa phải để mọi người noi theo mà học tập, phấn đấu vượt lên.

        Cụ thể là quan niệm về ĐHTT của nhiều địa phương, đơn vị hiện vẫn chưa rõ ràng, còn nhầm lẫn giữa điển hình với người có thành tích, giữa xây dựng điển hình với xây dựng đơn vị điểm, do vậy, có đơn vị đặt ra yêu cầu quá cao cho điển hình, cứ nghĩ điển hình thì phải toàn diện, phải liên tục đạt được Danh hiệu Chiến sĩ Thi đua, thế là cấp ủy, người cán bộ chủ trì dồn sức lãnh đạo, chỉ đạo, nhân lực, vật lực cho đơn vị được chọn, cho những cá nhân có điều kiện thuận lợi để xây dựng điển hình. 

        Nhưng thực tế của phong trào thi đua cho thấy, có thể có điển hình toàn diện, nhưng cũng có điển hình từng mặt, vì không nhất thiết phải toàn diện, điển hình không phải là tích lũy, là phép cộng tất cả các danh hiệu thi đua, khen thưởng hay thành tích.

        Cùng với đó, vẫn còn tình trạng lựa chọn điển hình chưa thật sự xứng đáng, không thực chất, nhưng vì “bó đũa chọn cột cờ”, vì thành tích chung của cơ quan, nên cố tôn lên, tô vẽ thêm cho thành điển hình, mà bỏ qua quan điểm “lấy hiệu quả công việc làm thước đo phẩm chất năng lực của tập thể, cá nhân”, thay vào đó là cả nể, cảm tính, nên thiếu sức thuyết phục. 

        Thế nên ở đâu đó, nơi này nơi kia vẫn còn hiện tượng bình bầu, khen thưởng luân phiên hoặc tập trung ưu tiên cho một số cá nhân sắp đến kỳ nâng lương trước thời hạn, mà không quan tâm đến kết quả công việc thực tế, dẫn đến nhiều cá nhân nhận Danh hiệu Chiến sĩ Thi đua xong, không muốn nhắc đến vì ngại, vì chưa thực sự xứng đáng. 

        Những tấm bằng khen được trao mang về cất kỹ, với mục tiêu “méo mó” là dùng làm báo cáo, khai hồ sơ, có ý nghĩa trong việc đề bạt, bổ nhiệm, tăng lương. Thậm chí có những đơn vị đạt được danh hiệu ĐHTT, sau một thời gian ngắn thì người đứng đầu ở đơn vị đó bị bắt do vi phạm pháp luật, như trường hợp nguyên Giám đốc Bệnh viện Tim Hà Nội là một ví dụ.

        Với cách tổ chức phong trào thi đua rồi bình xét khen thưởng kiểu đó, thì đương nhiên là không đem lại hiệu quả, không phát hiện và nhân rộng được những “hạt giống đỏ”, không làm cho những bông hoa đẹp trong vườn hoa thi đua được nở rộ, không tạo ra động lực năng lượng tích cực cho đất nước.

        Đây cũng là nguyên nhân lý giải về câu hỏi và những băn khoăn, trăn trở của rất nhiều nhà báo, cơ quan truyền thông báo chí hiện nay là: “Tìm tòi để viết, để phê phán, đấu tranh những thói hư tật xấu của con người trong cuộc sống hàng ngày đã khó, nhưng để tìm viết và tuyên truyền được những ĐHTT còn khó hơn”, bởi vì họ luôn từ chối, rất sợ và ngại nói về bản thân mình, lý do không phải vì ĐHTT khiêm tốn, không muốn nói về bản thân, mà chính những hành động việc làm của ĐHTT chưa có gì nổi bật, nên dù có muốn cũng khó có cái để nói, để chia sẻ và lan tỏa rộng ra cộng đồng. 

        Chúng ta phải thừa nhận rằng thành tích là điều tốt đẹp, nên thi đua để đạt thành tích cao hơn không phải là điều xấu. Vấn đề ở chỗ, thành tích đạt được phải là thành tích thật, kết quả của những nỗ lực phấn đấu không mệt mỏi, những trăn trở, suy tư không ngừng nghỉ, cùng cả những hy sinh lợi ích cá nhân để đem lại lợi ích cho cộng đồng và tập thể, có như thế động lực thi đua mới nảy nở, đơm hoa kết trái bằng hành động tự giác của mỗi người. Để làm được điều đó, cần phải khắc phục được tình trạng nhân rộng ĐHTT chung chung, mà cần có kế hoạch cụ thể, cách làm bài bản, thực chất.

        Phải thực chất trong xây dựng và nhân rộng điển hình tiên tiến

        Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng công tác thi đua. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, 3 năm sau, trong bộn bề công việc, giữa lúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang ở vào giai đoạn gay go, quyết liệt nhưng ngày 11/6/1948, Người đã viết “Lời kêu gọi thi đua ái quốc”. Khoảng bốn tháng sau, tháng 10/1948, trong một phiên họp Hội đồng Chính phủ, Người nhắc nhở, trong cuộc vận động thi đua phải tránh xu hướng “bàn giấy”, “công chức hoá". 

        Người căn dặn, công việc hàng ngày chính là nền tảng thi đua, từ đó mà phấn đấu làm tốt. Vậy nên, để tránh các biểu hiện hình thức trong thực hiện phong trào thi đua, trước tiên các cơ quan, đơn vị, địa phương phải xác định đổi mới nội dung và hình thức theo hướng thực chất hơn, trước hết các phong trào thi đua chỉ được phát động, triển khai khi đã xác định rõ mục tiêu, chỉ tiêu, đối tượng, nội dung, biện pháp, phạm vi tổ chức phong trào. 

        Trong đó, nội dung quan trọng nhất để tổ chức phong trào thi đua là phải bám sát nhiệm vụ chính trị địa phương, đơn vị để đề ra các phong trào thi đua hoàn thành toàn diện, vượt mức các nhiệm vụ, chỉ tiêu trong chương trình, kế hoạch đề ra hàng năm hoặc từng thời điểm cụ thể. Phong trào thi đua cần hướng về cơ sở và người trực tiếp công tác, học tập, lao động, sản xuất và chiến đấu, là lực lượng đông đảo thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ quan, tổ chức, đơn vị. 

        Với các phong trào lớn, phong trào mới, nhiệm vụ đề ra nhiều cần nghiên cứu, xem xét việc chọn, chỉ đạo đơn vị thực hiện điểm trong thời gian nhất định, để rút kinh nghiệm từ chỉ đạo điểm trước khi nhân rộng phong trào.

        Để tổ chức phong trào thi đua đạt hiệu quả, cần coi trọng việc phát hiện, bồi dưỡng xây dựng các tập thể, cá nhân ĐHTT. Soi chiếu vào lời chỉ dạy của Bác để tìm những gương ĐHTT trong cuộc sống hàng ngày đâu có khó? Họ chính là những con người lao động thầm lặng, cần mẫn ngày đêm, giản dị nhưng lại làm công việc rất có ý nghĩa, tô đẹp cho bức tranh cuộc sống, như những người công nhân vệ sinh môi trường, những thầy cô giáo cần mẫn với học sinh thân yêu, những y, bác sỹ tận tụy với người bệnh, những người nông dân cần mẫn trên cánh đồng để cho mùa vàng bội thu, hay những chiến sĩ Quân đội, Công an ngày đêm chắc tay súng để bảo vệ sự bình yên cho Tổ quốc… rất phong phú và đa dạng, bao trùm trên tất cả các lĩnh vực các ngành nghề. 

     Tuy nhiên để phát hiện những nhân tố nổi trội, xây dựng, nhân rộng được những ĐHTT, cơ quan, đơn vị, địa phương phải gắn với các phong trào thi đua trong các lĩnh vực cụ thể, xây dựng kế hoạch rõ ràng. Nội dung của kế hoạch phải thể hiện rõ được các tiêu chuẩn, tiêu chí gương ĐHTT, như hiệu quả thực tế công việc, sự tích cực tham gia hoạt động của các tổ chức đoàn thể, chính trị-xã hội; khi đã phát hiện được cá nhân hoặc tập thể có thành tích xuất sắc, tiêu biểu, cần thường xuyên theo dõi, để bồi dưỡng điển hình. 

       Đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra, kiểm chứng các mô hình, nhân tố mới, kịp thời tháo gỡ, giải quyết những vấn đề phát sinh, vướng mắc; tổ chức đánh giá, lựa chọn những mô hình tiêu biểu, xuất sắc có hiệu quả cao, có sức lan tỏa trên các lĩnh vực của đời sống xã hội để biểu dương, khen thưởng. 

      Thường xuyên tổ chức học tập, trao đổi kinh nghiệm giữa các cơ quan, đơn vị, địa phương để nghe ĐHTT báo cáo kinh nghiệm, phương pháp, cách làm đạt hiệu quả trong phong trào thi đua để học tập làm theo. 

         Cùng với đó, tiến hành sơ kết, tổng kết, đánh giá đúng những kết quả đã đạt được, chỉ ra những mặt còn tồn tại, hạn chế và hướng khắc phục. Qua đó rút ra cách làm hay, kinh nghiệm tốt để bồi dưỡng, nhân rộng các ĐHTT. Có như thế, ĐHTT sẽ không trở thành những “ngôi sao cô đơn”, sợ và ngại khi nói về thành tích của bản thân mình.


Sưu tầm