Thứ Năm, 4 tháng 1, 2024

Nâng cao chất lượng học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng trong tình hình hiện nay

 

    Trong các kỳ đại hội và hội nghị của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhiều nghị quyết đã ra đời. Nghị quyết ra đời là kết tinh tư duy lý luận, tính thực tiễn sâu sắc, đồng thời thể hiện tầm trí tuệ, bản lĩnh chính trị, ý chí và nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Để thực hiện thắng lợi nghị quyết của Đảng và tinh thần của nghị quyết sớm đi vào cuộc sống, đòi hỏi phải được học tập, quán triệt sâu rộng trong cán bộ, đảng viên và quần chúng. Thời gian qua, bên cạnh những mặt đã làm tốt còn bộc lộ không ít những hạn chế, yếu kém xung quanh vấn đề này. Nâng cao chất lượng học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng là vấn đề hệ trọng, không những là yêu cầu thường xuyên, mà còn mang tính cấp thiết trong tình hình hiện nay.

    Các kênh thông tin đại chúng như báo viết, báo điện tử, đài truyền hình, đài phát thanh đều đăng tải, tuyên truyền nội dung nghị quyết. Tuy nhiên, hình thức cơ bản và phổ biến là tổ chức các lớp học tập, quán triệt nghị quyết ở các cấp, các ngành và đơn vị. Thông qua đó, mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng lĩnh hội được tinh thần cơ bản của nghị quyết, nắm vững quan điểm, chủ trương, mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp lớn, trên cơ sở đó xây dựng nghị quyết, kế hoạch, chương trình hành động của cấp mình và tổ chức thực hiện thắng lợi nghị quyết đã đề ra. Nhiều cấp, ngành, đơn vị thời gian qua đã tổ chức tốt việc học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng. Chú trọng xây dựng kế hoạch học tập, quán triệt nghị quyết, lựa chọn và bồi dưỡng báo cáo viên, tăng cường trang bị và sử dụng hiệu quả phương tiện kỹ thuật hiện đại trong các đợt học tập, quán triệt nghị quyết. Báo cáo viên thực sự tâm huyết, có phẩm chất chính trị và đạo đức tốt, hiểu biết sâu rộng, kỹ năng và phương pháp truyền đạt tốt, phù hợp với từng đối tượng. Vì vậy, nghị quyết của Đảng “thấm sâu” vào người nghe, tạo sự đồng thuận cao về nhận thức, tư tưởng và hành động. Tuy nhiên, nhiều nơi chất lượng học tập, quán triệt nghị quyết còn thấp, “khô, cứng”, mang tính hình thức. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này, trong đó, nguyên nhân cơ bản là chưa chú trọng xây dựng đội ngũ báo cáo viên có phẩm chất và năng lực tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ; không ít báo cáo viên hạn chế về năng lực, trình độ, chưa tích cực đầu tư thời gian, công sức và trí tuệ để nghiên cứu thấu đáo nội dung nghị quyết và các tư liệu, tài liệu, thông tin liên quan. Báo cáo viên thường chỉ nêu những vấn đề cơ bản, ít lý giải, chứng minh làm rõ nội dung nghị quyết; các thuật ngữ mới, các quan điểm, chủ trương, giải pháp, sự nhất quán và phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng chưa được làm rõ. Để nâng cao chất lượng học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng trong tình hình hiện nay, theo chúng tôi cần làm tốt những nội dung, biện pháp cơ bản sau đây.

    Một làxây dựng và thực hiện kế hoạch học tập, quán triệt nghị quyết chặt chẽ, nghiêm túc

    Xây dựng và thực hiện đúng kế hoạch đề ra là thể hiện phương pháp làm việc khoa học, mang lại chất lượng, hiệu quả trong mọi lĩnh vực; khác với kiểu làm việc tùy tiện, ngẫu hứng. Theo đó, xây dựng và thực hiện kế hoạch học tập, quán triệt nghị quyết ở mỗi cấp, mỗi ngành, địa phương, đơn vị là việc làm quan trọng, không thể xem nhẹ. Kế hoạch học tập, quán triệt nghị quyết cần chặt chẽ, khoa học. Cụ thể, trong kế hoạch phải xác định rõ mục đích, yêu cầu, nội dung, thời gian, địa điểm, đối tượng được học tập, quán triệt, báo cáo viên, ban tổ chức và công tác phục vụ, bảo đảm. Sau khi đã có kế hoạch phải phổ biến đến các đối tượng và tổ chức thực hiện nghiêm túc theo kế hoạch đã đề ra. Nếu có tình huống phát sinh ngoài kế hoạch cần giải quyết kịp thời, hợp lý.

    Hai là, lựa chọn, xây dựng và bồi dưỡng nâng cao phẩm chất, năng lực đội ngũ báo cáo viên

    Chất lượng đội ngũ báo cáo viên ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng ở mỗi cấp, ngành, mỗi đơn vị. Vì vậy, lựa chọn, xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên là công việc hệ trọng của các cấp, các ngành và đơn vị. Thực tế cho thấy, ở cấp, ngành, đơn vị nào quan tâm thích đáng đến vấn đề này thì chất lượng học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng được nâng lên và ngược lại. Do đó, các cấp, ngành, đơn vị cần làm tốt việc lựa chọn, bồi dưỡng nâng cao phẩm chất, năng lực đội ngũ báo cáo viên, nhằm xây dựng đội ngũ báo cáo viên “vừa hồng, vừa chuyên”, có phẩm chất và năng lực tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ, làm nòng cốt tuyên truyền, quán triệt nghị quyết của Đảng.

    Ba là, báo cáo viên nêu cao tinh thần trách nhiệm, làm tốt công tác chuẩn bị và thực hành quán triệt nghị quyết của Đảng

    Báo cáo viên cần đầu tư thời gian, công sức, trí tuệ để nghiên cứu thấu đáo nội dung nghị quyết. Chuẩn bị kỹ lưỡng đề cương, thu thập thông tin (tư liệu, số liệu) liên quan đến nội dung nghị quyết. Tham khảo Tài liệu học tập, nghiên cứu, quán triệt nghị quyết của Đảng do Ban Tuyên giáo Trung ương biên soạn, các bài viết được đăng tải trên Tạp chí Xây dựng Đảng, Nghiên cứu Lý luận, Tư tưởng Văn hóa, Tạp chí Cộng sản, Báo Nhân dân, Báo Quân đội nhân dân, trang Website Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam.., để cập nhật thông tin, làm phong phú nội dung trình bày. Trong nội dung chuẩn bị và buổi thuyết trình chính thức, báo cáo viên cần trình bày rõ tính cấp thiết ra đời của nghị quyết; luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn của nghị quyết; làm rõ sự nhất quán và phát triển mới trong tư duy của Đảng; giải thích các thuật ngữ mới trong nghị quyết; đưa ra những tư liệu, số liệu minh chứng cho vấn đề trình bày; khái quát và làm rõ những quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp cơ bản trong nghị quyết. Ví dụ: Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi”. Báo cáo viên cần làm rõ đường lối, quan điểm, chủ trương đối ngoại của Đảng ta lần đầu tiên được đề cập trong văn kiện nào, đại hội nào? Sự nhất quán của Đảng về đối ngoại ra sao? Sự phát triển và những nội dung mới trong tư duy của Đảng ta về đối ngoại là gì? Những thành tựu nổi bật và hạn chế, bất cập, bài học kinh nghiệm rút ra trong quá trình thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng ta thời gian qua?.

    Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII đã thảo luận và thông qua “Nghị quyết về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” (Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19/5/2018)Theo lôgic trên, những nội dung cơ bản trong nghị quyết sẽ được làm sáng tỏ, người nghe hiểu đúng đắn, đầy đủ và sâu sắc hơn nghị quyết của Đảng.

    Trước khi quán triệt nghị quyết của Đảng cho các đối tượng, báo cáo viên phải thông qua trước tập thể và cán bộ phụ trách, trên cơ sở đó bổ sung, hoàn thiện nội dung, phương pháp trình bày.

    Bốn làsử dụng hợp lý phương tiện kỹ thuật hiện đại phục vụ học tập, quán triệt nghị quyết

    Các phương tiện kỹ thuật hiện đại có vai trò quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng học tập, quán triệt nghị quyết. Các phương tiện kỹ thuật hiện đại được sử dụng phổ biến hiện nay như máy chiếu đa năng (Projector), phần mềm trình chiếu Power point, Video Clip. Báo cáo viên làm chủ nội dung, lựa chọn phương pháp thích hợp, kết hợp với phát huy hiệu quả các phương tiện kỹ thuật hiện đại trong học tập, quán triệt nghị quyết. Khi thiết kế các slide trình chiếu cần khái quát những nội dung cơ bản của nghị quyết, nhất là những vấn đề lý luận, quan điểm, chủ trương mới của Đảng. Lựa chọn hợp lý hình ảnh tư liệu, số liệu, sơ đồ, biểu đồ minh họa; không lạm dụng phương tiện kỹ thuật hiện đại dẫn đến xa rời mục đích, yêu cầu, nội dung chính đã đặt ra. Thực hiện tốt yêu cầu này sẽ làm cho buổi học tập, quán triệt nghị quyết sinh động, hứng thú, nội dung nghị quyết trở nên dễ hiểu, dễ nhớ, “thấm sâu” vào đối tượng người nghe.

    Năm là, gắn chặt tinh thần nghị quyết của Đảng với tình hình, nhiệm vụ của từng cấp, từng ngành, đơn vị

    Quán triệt học tập nghị quyết của Đảng không chỉ dừng lại ở việc làm rõ các quan điểm, chủ trương, giải pháp được nêu ở từng nghị quyết, điều quan trọng hơn là phải vận dụng, hiện thực hóa nghị quyết ở từng cấp, từng ngành, đơn vị. Quá trình quán triệt nghị quyết của Đảng cần gắn chặt tình hình, nhiệm vụ của từng cấp, từng ngành, đơn vị; liên hệ, vận dụng làm sâu sắc tinh thần, nội dung của nghị quyết, nhất là những thành tựu, yếu kém, khuyết điểm, nguyên nhân chủ quan ở cấp mình. Trên tinh thần đó, từng cấp, từng ngành, đơn vị xây dựng nghị quyết, kế hoạch, chương trình hành động sát đúng với cấp mình, nhằm hiện thực hóa quan điểm, chủ trương của Đảng đã nêu trong nghị quyết.

    Sáu làtăng tính đối thoại với người nghe trong học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng

    Lâu nay, học tập, quán triệt nghị quyết thường mang tính một chiều. Báo cáo viên cố gắng thuyết trình hết nội dung đã chuẩn bị, ít đối thoại, trao đổi hai chiều. Vì vậy, chất lượng, hiệu quả học tập, quán triệt nghị quyết còn hạn chế. Tăng tính đối thoại đối với người nghe cả trong và sau buổi học tập, quán triệt nghị quyết sẽ góp phần nâng cao chất lượng học tập, quán triệt nghị quyết và ý thức chính trị của mỗi người. Báo cáo viên cần kịp thời giải đáp những băn khoăn, vướng mắc trong nhận thức, tư tưởng của cán bộ, đảng viên, quần chúng xung quanh nội dung nghị quyết và những vấn đề thực tiễn đặt ra, qua đó củng cố, giữ vững niềm tin của cán bộ, đảng viên và quần chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    Học tập, quán triệt nghị quyết là một khâu quan trọng trong quá trình lãnh đạo, tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng ta. Theo đó, tinh thần cơ bản của nghị quyết được phổ biến, thấm sâu trong mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng, từ đó biến thành sức mạnh tinh thần và vật chất to lớn nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng đặt ra. Nâng cao chất lượng học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng là trách nhiệm chính trị của các cấp, các ngành và đơn vị mà trực tiếp là các cấp ủy đảng. Thực hiện tốt những nội dung, biện pháp nêu trên sẽ góp phần nâng cao chất lượng học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng trong tình hình mới. Đồng thời, cần tiếp tục nghiên cứu đổi mới hình thức, phương pháp học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng nhằm mang lại hiệu quả thiết thực hơn.

Sưu tầm

Nhận diện, vạch trần một số luận điệu vu khống, bịa đặt trước thềm Đại hội XIII của Đảng

 

    Vừa qua, trên một số trang mạng Facebook Việt Tân và Tiếng dân có những lời lẽ vu khống, bịa đặt, sặc mùi phản động như: Đấu đá trước thềm Đại hội XIII; trước thềm Đại hội XIII của Đảng một bầu không khí ngột ngạt lan khắp cả nước. Đây là những luận điệu không mới, nhưng lại rất thâm độc, cái thâm độc nhất ở chỗ, nó cứ cố tình rêu rao, lặp đi lặp lại từ ngày này, sang ngày khác.

    Trong thời gian qua, Đảng, Nhà nước Việt Nam đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, bắt giữ và xử lý rất kiên quyết, thậm chí xử lý hình sự những cán bộ, đảng viên, kể cả những cán bộ cấp cao vi phạm kỷ luật, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

    Lợi dụng vấn đề này, những thế lực cơ hội, phản động thù địch, những người bất mãn chế độ đã bịa đặt ra rằng Đảng đang lợi dụng phòng, chống tham nhũng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để bắt bớ, trấn áp, khai trừ những đảng viên không thuộc phe, nhóm. Không những thế, chúng cố tình không nhìn vào sự thật và không từ bất cứ thủ đoạn nào để bóp méo những vụ việc khách quan diễn ra trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội diễn ra tại Việt Nam như là gần đây, lợi dụng báo chí Việt Nam đưa tin Bộ Công an đã vào cuộc điều tra nhiều dự án bất động sản ở tỉnh Bình Dương thì một số đối tượng đã cố tình xuyên tạc cho rằng những sai phạm ấy cách đây đã 5-6 năm, nhưng chỉ đến bây giờ khi quy hoạch nhân sự cho Đại hội Đảng thì Bộ Công an mới quan tâm và chỉ đạo cho Cục cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu điều tra, xử lý.

    Tất cả những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc, vu khống của các thế lực thù địch nêu trên, mục đích nhằm chia rẽ khối đoàn kết thống nhất trong Đảng, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, mà quan trọng hơn nữa nó làm xói mòn lòng tin của Nhân dân vào Đảng, vào Nhà nước, làm cho hệ thống chính trị dần suy yếu từ bên trong, tạo điều kiện cho các thế lực thù địch tấn công trên mọi lĩnh vực, nhất là “Phi chính trị hóa Quân đội”, dẫn đến sụp đổ nếu không chấn chỉnh kịp thời.

    Chúng ta biết rằng, tham nhũng là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử, gắn liền với sự ra đời và tồn tại của Nhà nước. Nó hiện hữu ở tất cả các quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị, giàu, nghèo, phát triển, đang phát triển hoặc kém phát triển.

    Đối với Việt Nam, tệ tham nhũng hiện hữu trong tất cả các lĩnh vực, từ lĩnh vực kinh tế cho đến chính trị với quy mô nhiều vụ án lớn, tính chất nghiêm trọng, diễn biến phức tạp, thủ đoạn ngày càng tinh vi, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển bền vững của đất nước, sự tồn, vong của chế độ; làm cho kinh tế chậm phát triển, thất thoát, lãng phí tài sản của dân, thiệt hại ngân sách, gây rối loạn nền kinh tế, gia tăng khoảng cách giàu, nghèo. Chính vì vậy, Đảng ta đã xác định tham nhũng, lãng phí, quan liêu là một trong bốn nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ và phòng, chống tham nhũng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là đòi hỏi cấp thiết, là việc làm thường xuyên của Đảng, Nhà nước và Quân đội, chứ không phải chỉ đến trước thềm Đại hội XIII chúng ta mới làm mạnh mẽ và hoàn toàn không có việc mượn việc này để loại trừ những cán bộ không thuộc phe cánh.

    Việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng; phê bình và tự phê bình; chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là cả một quá trình diễn ra sâu rộng trong hoạt động chính trị tại các tổ chức cơ sở Đảng; đồng thời, đó cũng là trách nhiệm của các tổ chức đảng và từng cán bộ đảng viên, qua đó Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh, luôn luôn xứng đáng với vai trò Đảng cầm quyền. Thực tiễn, trong các hội nghị ở nhiều bộ, ngành, các cấp, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng thường xuyên nhấn mạnh về việc phải xử lý nghiêm những trường hợp đảng viên, cán bộ có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và vi phạm các quy định của pháp luật, không có ngoại lệ, không có vùng cấm.

    Những ai am hiểu pháp luật đều biết việc điều tra, chống tham nhũng không phải cứ phát hiện ra là làm ngay được. Để phanh phui sự việc và chỉ đúng người, đúng tội thì cơ quan chức năng và người làm công tác điều tra phải mất rất nhiều thời gian và công sức thu thập đầy đủ các bằng chứng. Đây là việc thường gặp đối với các vụ án, nhất là các vụ án về kinh tế, tham nhũng. Bởi vậy, cho rằng Đảng cộng sản Việt Nam đang lợi dụng vụ việc chống tham nhũng để thanh trừng phe cánh là một việc làm vô cùng lố bịch, vô lý. Thực tế cũng cho thấy, đối với việc điều tra, xét xử các vụ án đều phải tuân thủ theo quy định của pháp luật, đảm bảo phải công bằng, khách quan, đúng người, đúng tội.

    Đại hội lần thứ XIII của Đảng đang đến gần, Đảng đã chuẩn bị những phương án nhân sự tốt nhất để thực hiện sứ mệnh xây dựng, phát triển đất nước đi theo đúng con đường xã hội chủ nghĩa, tất cả vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Bởi vậy, mỗi người dân chúng ta khi tiếp cận thông tin, phải chọn lọc và luôn luôn tỉnh táo, nhận diện đâu là thông tin thật và đâu là những luận điệu vu khống, bịa đặt do các thế lực phản động, thù địch thêu dệt lên. Trong thời đại thông tin không biên giới như hiện nay, mỗi người đều có trong tay một chiếc điện thoại thông minh, thường xuyên làm việc với máy tính và Internet, chúng ta hãy thận trọng cân nhắc trước khi like, share, coment bất cứ thông tin nào để không là phương hại, ảnh hưởng đến lợi ích của Đảng và quốc gia, dân tộc./.

Sưu tầm

Sắt son niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

 

    Ngày 03/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Kể từ đây, dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, dân tộc Việt Nam đại đã từ đêm trường nô lệ, lầm than bước ra ánh sáng “Đem sức ta mà giải phóng cho ta”. Suốt dặm trường chinh tiến hành cách mạng, đánh đuổi thực dân, đế quốc, giành độc lập, tự do cho dân tộc, hạnh phúc và ấm no cho Nhân dân, Đảng ta luôn thể hiện rõ vai trò lãnh đạo, trí tuệ sáng suốt, bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và mục tiêu, lý tưởng cao đẹp đã xác định, luôn gắn bó mật thiết với Nhân dân, thủy chung, trong sáng với bạn bè quốc tế. Rất nhiều cán bộ, đảng viên ưu tú của Đảng đã cống hiến trọn đời mình cho Tổ quốc và Nhân dân, anh dũng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng, thực sự là những tấm gương sáng để mọi người noi theo.

    Đất nước bước vào thời kỳ mới, bối cảnh thế giới và khu vực vừa tạo ra cơ hội thuận lợi và khó khăn thách thức đan xen, hội nhập quốc tế sâu rộng và cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư tác động đa chiều đến sự phát triển của đất nước. Các thế lực phản động, thù địch, cơ hội chính trị chống phá nước ta quyết liệt, trực diện hơn. Đại dịch Covid – 19 bùng phát trên thế giới và trong nước rất nghiêm trọng, ảnh hưởng nặng nề đến mọi mặt đời sống xã hội, sức khỏe và tính mạng của Nhân dân. Tình trạng tham nhũng, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ còn diễn biến rất phức tạp…

    Dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng, thời gian qua, nước ta đã và đang gặt hái được những thành tựu to lớn, đáng trân trọng và tự hào trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đại hội đảng các cấp, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng Nhân dân các cấp thành công rất tốt đẹp đã cho thấy niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, Chính phủ và chế độ Xã hội chủ nghĩa được nâng cao. Nền kinh tế liên tục tăng trưởng cao so với thế giới và khu vực; chính trị ổn định; văn hóa – xã hội có bước phát triển mới; quốc phòng – an ninh được củng cố ngày càng vững chắc; đối ngoại được mở rộng và tăng cường… Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, sự quản lý và điều hành của Nhà nước, Chính phủ, cả hệ thống chính trị chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi mục tiêu kép. Vừa phòng chống dịch khá hiệu quả, vừa phát triển kinh tế – xã hội, năm 2021  tổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt mốc 2,58%, nằm trong TOP 20 nền kinh tế đứng đầu thế giới về thương mại, là điểm sáng trong bức tranh kinh tế toàn cầu. Trong thời gian qua, chúng ta đã đấu tranh làm thất bại mọi mưu đồ đen tối của các thế lực phản động, thù địch, cơ hội chống đối chính trị; tình trạng suy thoái, tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từng bước được kiềm chế, ngăn chặn và đẩy lùi. Có thể khẳng định rằng, chưa bao giờ đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Những thành tựu đó càng củng cố niềm tin của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vào mục tiêu, lý tưởng, con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn; tạo động lực, khí thế mới đưa nước ta bước vào kỷ nguyên phát triển mới.


Sưu tầm

VIỆT NAM TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ ẤN TƯỢNG 2023

 

    Trên báo Chân Trời Mới Media, ngày 02 tháng 01 năm 2024 có đăng bài viết của tác giả Hạnh Nhân: “Báo cáo tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam chỉ là hư cấu. Tổng sản phẩm trong nước GDP cả năm 2023 ước tính tăng 5,05% so với năm trước, chỉ số giá tiêu dùng CPI tăng 3,25% so với năm trước, đạt mục tiêu Quốc hội đề ra. (theo VTC News). Nền kinh tế đang có quá nhiều bất ổn...” thực chất đây là chiêu trò nhằm phủ nhận tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, phủ nhận những kết quả mà Chính phủ và nhân dân ta đã nỗ lực cố gắng đạt được về lĩnh vực kinh tế năm 2023 gây mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng với chính phủ trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.



Trên báo điện tử VTV đài truyền hình Việt nam, ngày 30 tháng 12 năm 2023 có tin bài “Kinh tế Việt Nam năm 2023: Vượt thách thức, tăng trưởng tích cực. GDP cả năm 2023 của Việt Nam đạt mức tăng trưởng 5,05% thấp hơn mục tiêu, nhưng rất tích cực trong bối cảnh kinh tế thế giới khó khăn và cao hơn nhiều nước trong khu vực. Cũng theo báo điện tử, Theo dự báo của ADB, tăng trưởng cả năm của Indonesia là 5%, Singapore là 1%, Malaysia là 4,2%, hay Thái Lan là 2,5%. Trong bối cảnh chung như vậy cũng dễ hiểu khi lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thực hiện tại Việt Nam năm 2023 ghi nhận mức cao nhất trong 5 năm qua, đạt 23,18 tỷ USD”.

Theo Báo quốc tế, “Sáng 29/12 Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) tổ chức họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội quý IV/2023 và năm 2023.

Phát biểu tại họp báo, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê Nguyễn Thị Hương cho hay, năm 2023, kinh tế thế giới tiếp tục gặp nhiều khó khăn, thách thức. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, toàn diện, gia tăng căng thẳng địa chính trị; xung đột Nga-Ukraine diễn biến phức tạp, giao tranh ở khu vực Trung Đông đã tác động tiêu cực tới quá trình phục hồi kinh tế thế giới sau dịch Covid-19.

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý IV/2023 ước tính tăng 6,72% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn quý IV các năm 2012-2013 và 2020-2022. Kinh tế Việt Nam tăng trưởng với xu hướng tích cực, quý sau cao hơn quý trước.

Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,13%, đóng góp 7,51% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 7,35%, đóng góp 42,58%; khu vực dịch vụ tăng 7,29%, đóng góp 49,91%.

Về sử dụng GDP quý IV/2023, tiêu dùng cuối cùng tăng 4,86% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 53,18% vào tốc độ tăng chung của nền kinh tế; tích lũy tài sản tăng 6,21%, đóng góp 44,18%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 8,68%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 8,76%; chênh lệch xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ đóng góp 2,64%. “GDP năm 2023 ước tính tăng 5,05% so với năm trước, chỉ cao hơn tốc độ tăng 2,87% và 2,55% của các năm 2020 và 2021 trong giai đoạn 2011-2023”, bà Nguyễn Thị Hương nhấn mạnh.

Trong mức tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,83%, đóng góp 8,84%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 3,74%, đóng góp 28,87%; khu vực dịch vụ tăng 6,82%, đóng góp 62,29%.

Các hoạt động thương mại, du lịch duy trì đà tăng trưởng cao, đóng góp tích cực vào tăng trưởng của khu vực dịch vụ. Giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ năm 2023 tăng 6,82% so với năm trước, cao hơn mức tăng 2,01% và 1,75% của các năm 2020-2021.

Một số ngành dịch vụ thị trường có tỷ trọng lớn, đóng góp nhiều vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế như: bán buôn và bán lẻ tăng 8,82% so với năm trước, đóng góp 0,86 điểm phần trăm; ngành vận tải, kho bãi tăng 9,18%, đóng góp 0,55 điểm phần trăm; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 6,24%, đóng góp 0,37 điểm phần trăm; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 12,24%, đóng góp 0,31 điểm phần trăm.

Về cơ cấu nền kinh tế năm 2023, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 11,96%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 37,12%; khu vực dịch vụ chiếm 42,54%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,38% (Cơ cấu tương ứng của năm 2022 là 11,96%, 38,17%, 41,32%, 8,55%).

Về sử dụng GDP năm 2023, theo bà Hương, tiêu dùng cuối cùng tăng 3,52% so với năm 2022, đóng góp 41,04% vào tốc độ tăng chung của nền kinh tế; tích lũy tài sản tăng 4,09%, đóng góp 26,64%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ giảm 2,54%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ giảm 4,33%; chênh lệch xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ đóng góp 32,32%.

Quy mô GDP theo giá hiện hành năm 2023 ước đạt 10.221,8 nghìn tỷ đồng, tương đương 430 tỷ USD. GDP bình quân đầu người năm 2023 theo giá hiện hành ước đạt 101,9 triệu đồng/người, tương đương 4.284 USD, tăng 160 USD so với năm 2022.

Năng suất lao động của toàn nền kinh tế năm 2023 theo giá hiện hành ước đạt 199,3 triệu đồng/lao động (tương đương 8.380 USD/lao động, tăng 274 USD so với năm 2022); theo giá so sánh, năng suất lao động tăng 3,65% do trình độ của người lao động được cải thiện (tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ năm 2023 ước đạt 27%, cao hơn 0,6 điểm phần trăm so với năm 2022)”.

Như vậy, có thể nói Kinh tế Việt Nam năm 2023 vượt qua thách thức, tăng trưởng tích cực. GDP cả năm 2023 của Việt Nam đạt mức tăng trưởng 5,05% thấp hơn mục tiêu, nhưng rất tích cực trong bối cảnh kinh tế thế giới khó khăn và cao hơn nhiều nước trong khu vực. Trong bối cảnh đó, với sự lãnh đạo của Đảng; sự phối hợp kịp thời, chặt chẽ, hiệu quả của Quốc hội và các cơ quan trong hệ thống chính trị; sự chỉ đạo, điều hành chủ động, linh hoạt, quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; sự phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành, các địa phương; sự đoàn kết, tin tưởng, ủng hộ của nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp; tình hình kinh tế - xã hội nước ta năm 2023 tiếp tục xu hướng phục hồi, kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát trong tầm kiểm soát, các cân đối lớn được bảo đảm, nhiều kết quả quan trọng trên các lĩnh vực đạt được mục tiêu đề ra và tiếp tục là điểm sáng về kinh tế trong khu vực và trên thế giới.

Do đó chúng ta có thể khẳng định rằng những quan điểm đưa ra của tác giả Hạnh Nhân trên báo Trân Trời Mới Media ngày 02/01/2024 là không đúng sự thật, đây là chiêu trò nhằm phủ nhận tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, phủ nhận những kết quả mà Chính phủ và nhân dân ta đã nỗ lực cố gắng đạt được về kinh tế trong năm 2023 gây mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng với chính phủ, do đó chúng ta cần nhìn nhận một cách sâu sắc khách quan đúng thực tế, tin tưởng vào những kết quả phát triển kinh tế mà chúng ta đã đạt được trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước./.

                                                                                                BT

Tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật trong Quân đội nhân dân Việt Nam

 

    Sống và làm việc theo hiến pháp, pháp luật là một trong những yêu cầu quan trọng của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Muốn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thành công thì điều kiện cần là ban hành một hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, phù hợp với điều kiện thực tế của xã hội nước ta; bên cạnh đó còn phải có điều kiện đủ là đưa hệ thống pháp luật vào cuộc sống, làm cho mọi công dân trong xã hội đều nhận thức đúng các quy định của pháp luật, xây dựng được lòng tin và ý thức tự giác tham gia vào các lĩnh vực đời sống pháp luật, tạo điều kiện cho Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật.

    Trong nhiều năm qua, Đảng bộ Quân đội đã rất tích cực trong việc tổ chức thực hiện mọi biện pháp để nâng cao chất lượng về công tác giáo dục pháp luật trong Quân đội. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau nên công tác giáo dục pháp luật chưa đạt được những bước đột phá cần thiết trong nhận thức và tư tưởng. Đặc biệt trong bối cảnh kinh tế, chính trị trong nước và quốc tế hiện nay: Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), bên cạnh những thuận lợi, chúng ta còn gặp không ít khó khăn và những thách thức mới. Các thế lực thù địch thường xuyên lợi dụng chủ trương đổi mới và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế của nước ta để đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, kích động quần chúng gây bạo loạn chống lại chính quyền Nhà nước với những âm mưu thủ đoạn ngày càng tinh vi xảo quyệt hơn. Việc tranh chấp chủ quyền biển đảo, vùng đặc quyền kinh tế trên Biển Đông giữa các quốc gia đã và đang đang diễn ra ngày càng phức tạp... Trước tình hình đó, đòi hỏi đội ngũ cán bộ, chiến sĩ càng phải nắm vững các quy định của pháp luật nói chung, chủ động thực hiện tốt, kiên định lập trường chính trị, tuyên truyền vận động nhân dân cùng thực hiện tốt các quy định của pháp luật nói riêng.

    “Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất năng lực như yêu cầu đặt ra”. Khái niệm giáo dục pháp luật thường được hiểu ở hai cấp độ khác nhau: Theo nghĩa rộng, giáo dục pháp luật là quá trình hình thành ý thức pháp luật và văn hóa pháp lý của các thành viên xã hội, quá trình đó chịu sự tác động của những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan, trong đó điều kiện khách quan (chế độ chính trị, điều kiện kinh tế, văn hóa xã hội, môi trường sống...) là nhân tố ảnh hưởng, nó có thể tác động tự phát theo chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực, còn nhân tố chủ quan bao giờ cũng là sự tác động tự giác, tích cực, có ý thức, có chủ định theo chiều hướng xác định nhằm đạt được mục đích của chủ thể tác động.

    Về tăng cường năng lực pháp luật tại Việt Nam - giai đoạn II, các hình thức giáo dục pháp luật bao gồm: giáo dục pháp luật trực tiếp (tuyên truyền miệng); giáo dục pháp luật qua phương tiện thông tin đại chúng; giáo dục pháp luật qua biên soạn và phát hành các tài liệu giáo dục pháp luật; giáo dục pháp luật trong nhà trường; giáo dục pháp luật qua tổ chức cuộc thi tìm hiểu pháp luật; giáo dục pháp luật qua sinh hoạt câu lạc bộ; giáo dục pháp luật qua xây dựng, quản lý, khai thác tủ sách pháp luật; giáo dục pháp luật qua tư vấn và dịch vụ pháp lý; giáo dục pháp luật qua hoạt động xét xử ở Toà án và hoà giải ở cơ sở; giáo dục pháp luật qua hoạt động văn hóa, văn nghệ.

    Đối tượng giáo dục pháp luật trong Quân đội là quân nhân tại ngũ; bộ đội địa phương; dân quân - tự vệ; công nhân viên chức quốc phòng; hạ sĩ quan, binh sĩ đang thực hiện nghĩa vụ quân sự.

    Quân đội nhân dân Việt Nam là một tổ chức mang tính đặc thù có cơ cấu tổ chức theo hệ thống chặt chẽ từ trên xuống dưới, có tính thống nhất cao về cả ý chí và hành động. Hoạt động của quân đội, ngoài việc phải chấp hành nghiêm pháp luật của Nhà nước còn phải thực hiện nghiêm điều lệnh, điều lệ và các chế độ quy định của Quân đội; đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng cộng sản Việt Nam. Các tổ chức đảng trong Đảng bộ Quân đội được thành lập đồng bộ theo sự thống nhất về cơ cấu tổ chức từ thấp đến cao. Kỷ luật quân đội là tự giác, nghiêm minh. Mặt khác, các hoạt động thường xuyên của bộ đội thể hiện tính đặc thù, chịu nhiều cam go, vất vả, căng thẳng cả về thể lực và trí lực… Lao động trong hoạt động quân sự  khác hẳn so với các lao động khác ở ngoài xã hội; họ không trực tiếp tạo ra của cải vật chất, sản phẩm, dịch vụ hay lợi nhuận mà chủ yếu làm tăng khả năng phát triển trình độ kỹ, chiến thuật và khả năng tác chiến của bộ đội; họ tích cực học tập, rèn luyện nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị, quân sự, phát triển sức mạnh về tiềm lực quân sự, quốc phòng. Vì vậy, để xây dựng nguồn nhân lực quốc phòng vững mạnh, người quân nhân cách mạng cần phải được phổ biến, giáo dục pháp luật đầy đủ nhằm đáp ứng các nhiệm vụ về quân sự, quốc phòng trong tình hình mới. Do đó, đề nghị các cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng cần phối hợp chặt chẽ với các Bộ, Ban, Ngành chức năng của Nhà nước chỉ đạo chặt chẽ các cơ quan, ban ngành cấp dưới phối hợp với các đơn vị trong toàn quân triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án: “Củng cố, kiện toàn và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đáp ứng yêu cầu đổi mới, phát triển của đất nước”. Tiếp tục xây dựng, kiện toàn đội ngũ cán bộ làm công tác giáo dục pháp luật trong quân đội thành ba nhóm: nội dung xây dựng; cơ chế hoạt động và nhiệm vụ của từng nhóm chủ thể cần rõ ràng, cụ thể hơn.

    Xuất phát từ đặc thù của đối tượng giáo dục, hoạt động quân sự cũng như mục đích của giáo dục pháp luật trong Quân đội mà nội dung của giáo dục pháp luật dành cho đối tượng cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội cũng có những nét đặc thù riêng khác với các đối tượng khác. Đó là ngoài việc phải trang bị những kiến thức pháp luật cơ bản như: hiến pháp, luật dân sự, luật hình sự, luật hôn nhân và gia đình, luật an toàn giao thông đường bộ... thì còn phải cung cấp những nội dung cơ bản về quyền và nghĩa vụ của công dân đối với nhiệm vụ quốc phòng, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, đường lối chiến tranh nhân dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân kết hợp với thế trận an ninh nhân dân vững chắc; xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, trách nhiệm, nghĩa vụ của công dân đối với việc bảo vệ Tổ quốc và giữ gìn an ninh quốc gia... Mặt khác, phải trang bị cho quân nhân nắm chắc Điều lệnh, Điều lệ Quân đội nhân dân Việt Nam, các Quy định của Bộ Quốc phòng đối với quân nhân, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của quân đội; các chỉ thị, mệnh lệnh, quy định của lãnh đạo chỉ huy đối với từng đơn vị; kế hoạch, hướng dẫn của cấp trên đối với các cơ quan, đơn vị cấp dưới. Hơn nữa, nội dung giáo dục pháp luật trong Quân đội còn phải được xây dựng xuất phát từ đặc điểm, nhiệm vụ và hoạt động của từng nhóm đối tượng để vừa bảo đảm được yếu tố cơ bản, thiết thực, chuyên sâu vừa mang tính hiệu quả toàn diện.

    Đảng ta luôn xác định: tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một nhiệm vụ quan trọng và cấp bách để huy động mọi nguồn lực nhằm phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển. Về cơ bản, việc phát triển kinh tế - xã hội của nước ta vẫn nằm trong mục tiêu đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của Nhân dân; tạo nền tảng để nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao. Vì vậy, sống làm việc theo hiến pháp và pháp luật là một trong những yêu cầu quan trọng của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với mọi người dân Việt Nam nói chung, mọi quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng luôn là việc làm thường xuyên cấp bách và mang tính hiệu quả thiết thực nhất./.                            

Sưu tầm

MẸ KỂ CON NGHE!

 

Chỉ ngần ấy thôi là con đã biết cái tin mà con đọc được trên mạng kia chắc chắn là của kẻ không có học thức, nếu không cũng là của kẻ bán nước hại dân, là luận điệu của những kẻ muốn phá hoại mối quan hệ tốt đẹp giữa ta và Trung Quốc, để chúng dễ bề thâu tóm quyền lợi trong khu vực châu á hiện nay





Đang làm việc, con trai tôi bước vào phòng và nói: Mẹ ơi, mẹ kể chuyện lịch sử đánh giặc giữ nước của ông cha ta cho con nghe đi!

Tôi thoáng ngạc nhiên, từ trước tới nay nó có bao giờ để ý đến mấy môn lịch sử, địa lý đâu, vì nó đã lựa chọn khối học cho riêng mình. Tôi hỏi lại: Con muốn nghe chuyện lịch sử hả. Được rồi! mẹ sẽ kể cho con nghe, nhưng sao tự nhiên con lại thích nghe chuyện lịch sử? lạ lắm nghe!

Thằng bé mặt có vẻ tức giận nói: Tại hôm nay con đọc được một tin được chia sẻ trên mạng, rằng Việt Nam ta hèn nhát với giặc Tàu, nhưng lại ác với dân. Dù không thích học lịch sử nhưng con biết không bao giờ có chuyện đó.

Tôi lại gần thằng bé, xoa đầu nó và nói: Con hiểu đúng rồi đấy con yêu. Việt Nam ta có tới hơn 4000 năm lịch sử. Trong suốt quãng thời gian ấy, nước ta thường xuyên bị kẻ thù xâm lược, hết Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh của Trung Quốc lại đến giặc Pháp, giặc Mĩ. Nhưng con biết không, dưới ách áp bức, bóc lột của bất cứ kẻ thù nào thì người Việt Nam mình cũng không chịu ngồi yên, rất nhiều cuộc khởi nghĩa đã nổ ra để giành quyền độc lập, không phân biệt là phụ nữ hay nam giới, trẻ hay già. Con thấy không, không một quốc gia nào trên thế giới có nhiều nữ anh hùng dân tộc như Việt Nam như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Bùi Thị Xuân, Võ Thị Sáu, Nguyễn Thị Định..., rồi các anh hùng nhỏ tuổi như Kim Đồng, Lê Văn Tám... Chỉ ngần ấy thôi là con đã biết cái tin mà con đọc được trên mạng kia chắc chắn là của kẻ không có học thức, nếu không cũng là của kẻ bán nước hại dân, là luận điệu của những kẻ muốn phá hoại mối quan hệ tốt đẹp giữa ta và Trung Quốc, để chúng dễ bề thâu tóm quyền lợi trong khu vực châu á hiện nay.

Bỗng con tôi lại hỏi: Ngày trước Trung Quốc xâm lược Việt Nam nhiều như vậy sao bây giờ ta vẫn chơi với Trung Quốc hả mẹ?

Tôi cười: Đường lối đối ngoại của Đảng ta hiện nay là gác lại quá khứ, hướng tới tương lai. Trong quan hệ ngoại giao ta vẫn xác định có mặt là đối tác, có mặt là đối tượng mà con. Cũng giống như với Pháp, với Mỹ vậy. Chúng cũng đã từng xâm lược và thất bại trên chiến trường Việt Nam, nhưng bây giờ ta vẫn hợp tác làm ăn với họ mà.

Con: Con hiểu rồi mẹ ạ, chắc là nhiều kẻ xấu không muốn Việt Nam chơi với Trung Quốc nên tìm mọi luận điệu xuyên tạc để bôi nhọ mình mẹ nhỉ!

Ừ, thế nên con đọc được tin gì mà chưa hiểu con cứ hỏi mẹ hoặc bố nhé, tránh để hiểu sai lại nghĩ xấu cho Đảng, cho chế độ tốt đẹp mà chúng ta đang xây dựng.

Thằng bé mắt sáng lên ra chiều đã nghĩ được một cái gì đó lớn lao lắm và nói: Lớn lên con muốn trở thành người bảo vệ Đảng, bảo vệ dân, bảo vệ chế độ thì chọn nghề gì hả mẹ?

Làm gì cũng được, miễn là không được làm điều xấu, nhưng lực lượng trực tiếp nhất bảo vệ Đảng, bảo vệ dân và chế độ là lực lượng vũ trang con ạ

Vậy con sẽ thi vào bộ đội, sẽ làm cả gia đình ta tự hào vì con mẹ nhé!

Tất nhiên rồi, nếu con vào bộ đội thì đó là món quà lớn nhất con tặng mẹ rồi đó con yêu!

                                                                                                           BT

Đấu tranh phản bác hành vi lợi dụng Internet, mạng xã hội, truyền bá những luận điệu xảo trá chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

 

    Với sự phát triển của công nghệ thông tin, internet đã đem lại rất nhiều lợi ích cho nhân loại toàn cầu; internet và mạng xã hội giúp cho thông tin truyền tải nhanh chóng. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích trên, các thế lực phản động thù địch trong và ngoài nước đã và đang triệt để lợi dụng để đưa ra các luận điệu xuyên tạc chống phá Đảng và Nhà nước ta.

    Hiện nay, một trong những phương thức hoạt động diễn biến hòa bình phổ biến nhất được các thế lực thù địch, phản động tiến hành đối với Việt Nam là tận dụng mạng internet tiến hành chống phá trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa mà cách thức chủ yếu là truyền bá các quan điểm sai trái về tư tưởng chính trị; xuyên tạc, thổi phồng, bóp méo các vấn đề bức xúc trong xã hội; tạo dựng thông tin sai sự thật, nhằm làm nhiễu loạn truyền thông, gây hoài nghi trong quần chúng, từng bước tạo bất ổn trong xã hội tiến tới hình thành các xu hướng phản kháng chống chính quyền Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    Để phục vụ cho mục đích này, thời gian qua ở nước ngoài các tổ chức phản động lưu vong đã duy trì và lập mới hàng ngàn website, blog, Facebook, Youtobe … gia tăng chiến dịch “chiến tranh tâm lý”; phát động hàng trăm chiến dịch tán phát tin giả, tin sai sự thật trên mạng internet; lợi dụng vỏ bọc “xã hội dân sự”, “phản biện xã hội” để thu thập thông tin, tập hợp lực lượng, thúc đẩy “bất tuân dân sự” ở trong nước. Ngay từ khi Luật An ninh mạng được thông qua, nhiều trang mạng điện tử phản động như: RFA, BBC Tiếng Việt đã đưa tin bóp méo xuyên tạc cho rằng luật này đặc biệt xâm phạm không gian riêng tư, vi phạm tự do ngôn luận. Mỗi khi chúng ta triển khai ngăn chặn những tin tức sai trái trên môi trường mạng, lập tức các thế lực thù địch rêu rao rằng đây là hình thức kiểm duyệt thông tin, vi phạm quyền được nói cơ bản của con người và chúng kêu gọi người dân đứng lên chống lại sự quản lý, điều hành của Nhà nước, thực tế một số người không đủ thông tin, thiếu hiểu biết đã dễ dàng tin theo và có những phát ngôn chống đối, cản trở việc thi hành luật; các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ có chiều hướng phức tạp, ngày càng công khai; tình trạng  đăng tải, chia sẻ thông tin nội bộ chưa được kiểm chứng diễn ra phổ biến trên không gia mạng gây dư luận xấu.

    Tự do ngôn luận là một trong những quyền cơ bản của con người cần được tôn trọng và bảo đảm. Tuy nhiên, ở bất kỳ quốc gia nào tự do ngôn luận cũng phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật, nhằm tránh bị lợi dụng gây phương hại đến quyền, lợi ích của cá nhân khác, đến đạo đức xã hội, trật tự công cộng và an ninh quốc gia. Đảng và Nhà nước ta luôn tôn trọng và bảo đảm các quyền con người trong đó có quyền tự do ngôn luận của công dân. Tự do ngôn luận được xem là quyền hiến định được quy định ngay trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946 “Công dân Việt Nam có quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng và tự do cư trú đi lại trong nước và ra nước ngoài …”; Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin …” và thực tế các hoạt động trao đổi thông tin trên internet và mạng xã hội diễn ra hết sức sôi nổi. Theo thống kê của năm 2022, Việt Nam là một trong số những quốc gia có số lượng người sử dụng internet cao nhất trên thế giới với 72,1 triệu người Việt sử dụng internet; số thuê bao điện thoại di động sử dụng smartphone 94,2 triệu, riêng số người dùng mạng xã hội hiện nay có 76,95 triệu người, tương đương với 78,1% dân số.

    Tuy nhiên, khi internet và mạng xã hội phát triển với tốc độ chóng mặt thì không chỉ Việt Nam mà các nước trên thế giới đều phải đối diện với những thách thức đến từ sự phức tạp, khó kiểm soát.

    Theo thông tin từ Bộ Công an, năm 2022 đến nay Bộ Công an đã khởi tố và điều tra 572 vụ án liên quan đến việc tung tin sai sự thật trên internet và các trang mạng xã hội, đã khởi tố 63 vụ với 68 bị can, xử phạt hành chính 955 đối tượng, gọi, hỏi răn đe và 1.500 đối tượng. Đó là minh chứng cho những nỗ lực của lực lượng an ninh mạng trong việc bảo vệ người dân khỏi những thông tin giả, xấu độc, những thông tin xuyên tạc, kích động từ các đối tượng phản động thù địch, cơ hội chính trị.

    Nhận thức rõ những nguy cơ lợi dụng tự do trên không gian mạng đe dọa đến an ninh quốc gia, nhiều nước trên thế giới cũng triển khai các biện pháp nhằm kiểm soát chặt chẽ hơn những thông tin được phép đăng tải trên mạng xã hội, hạn chế tối đa sự lan tràn, phát tán những thông tin giả mạo và độc hại. Tại Mỹ sự giới hạn của tự do ngôn luận được thể hiện chủ yếu qua các án lệ của các Tòa án; đặc biệt là Tòa án tối cao Hoa Kỳ cho phép chính quyền ngăn chặn và trừng phạt các phát ngôn mang tính chất khiêu dâm, tục tĩu, phỉ báng, xúc phạm và gây hấn mà không bị xem là vi hiến. Ngoài ra, nhiều nước Châu Âu khác cũng đưa ra những quy định với hình phạt cụ thể trong vấn đề này nhằm chống lại mọi hình thức tuyên truyền kích động; tiến hành xử lý hình sự đối với những phát ngôn thù ghét và kích động. Bên cạnh đó, trong nỗ lực chung, nhằm ngăn chặn tình trạng lợi dụng tự do ngôn luận để phát ngôn thù địch, tiêu cực trên internet, Liên minh Châu Âu (EU) đã ban hành Bộ quy tắc ứng xử trên Internet với sự cam kết đảm bảo sự tiếp cận nhanh chóng, dán nhãn và gỡ bỏ các phát ngôn thù địch hay các nội dung bất hợp pháp trên các nền tảng mạng xã hội của các doanh nghiệp mạng trên thế giới như: Google, Facebook, YouTube, Twitter, Microsof và TikTok.

    Như vậy, có thể khẳng định rằng bất cứ chế độ chính trị nào cũng không thể có tự do ngôn luận tuyệt đối, các quốc gia đều có quy định xử lý hành vi lợi dụng tự do ngôn luận để xâm phạm quyền, lợi ích của tổ chức, cá nhân. Việc đề cao tự do ngôn luận phải vì lợi ích chung, không phải là sự tuyệt đối hóa tự do cá nhân, không thể lợi dụng tự do ngôn luận để viết, nói, xuyên tạc với ý đồ xấu bất chấp luân lý, đạo đức và luật pháp.

    Từ thực tiễn công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng, có thể khẳng định, lực lượng 47 và đội ngũ cán bộ, giảng viên, học viên Học viện Lục quân là lực lượng nòng cốt, trực tiếp thực hiện có chất lượng, hiệu quả nhiệm vụ này. Qua đó, Học viện Lục quân rút ra một số giải pháp chủ yếu như sau:

    Một là, chủ động làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức tư tưởng, bản lĩnh và trách nhiệm chính trị cho lực lượng 47 và đội ngũ cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên trong tham gia, sử dụng, khai thác Internet và mạng xã hội.

    Hai là, phát huy vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, chính trị viên (bí thư), người chỉ huy các cấp trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức lực lượng 47 và cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên tích cực tham gia thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng.

    Ba là, thường xuyên quán triệt cho đội ngũ cán bộ, giảng viên, học viên nắm chắc và thực hiện nghiêm các quy chế, quy định trong khai thác, sử dụng Internet và mạng xã hội.

    Bốn là, bồi dưỡng nâng cao phẩm chất, năng lực của lực lượng 47 và đội ngũ cán bộ, giảng viên, học viên trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

    Năm là, thường xuyên thực hiện tốt công tác sơ, tổng kết, biểu dương, khen thưởng kịp thời đối với lực lượng 47 và đội ngũ cán bộ, giảng viên, học viên có thành tích tốt trong tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng./.


Sưu tầm

Đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái

 

    Nhận lời mời của của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, từ ngày 10-11/9 Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden đã đến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam. Đây là chuyến thăm Việt Nam đầu tiên của Tổng thống Joe Biden kể từ khi ông nhậm chức vào đầu năm 2021. Sự kiện này diễn ra vào dịp hai nước kỷ niệm 10 năm thiết lập quan hệ Đối tác Toàn diện.

    Như vậy, kể từ ngày 11/7/1995, thời điểm hai nước bình thường hóa quan hệ ngoại giao, Tổng thống Joe Biden là Tổng thống Hoa Kỳ thứ 5 đến thăm Việt Nam; các Tổng thống đương nhiệm từng tới thăm Việt Nam trước ông Joe Biden bao gồm: Tổng thống Bill Clinton (tháng 11/2000), Tổng thống George W. Bush (tháng 11/2006), Tổng thống Barack Obama (tháng 5/2016), Tổng thống Donald Trump thăm Việt Nam hai lần (tháng 11/2017 và tháng 02/2019). Việc các Tổng thống Hoa Kỳ đều có chuyến thăm tới Việt Nam đã phản ánh vai trò quan trọng của Việt Nam trong mạng lưới đối tác của Hoa Kỳ ở khu vực.

    Nhân sự kiện này, nhiều hãng truyền thông lớn trên thế giới đã đăng tải những thông điệp tích cực của chuyến thăm; khẳng định Việt Nam tiếp tục cho cả thế giới biết và hiểu hơn về đường lối đối ngoại nhất quán của Việt Nam là độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

    Ngược lại với thực tế đó, những phần tử phản động lưu vong ở nước ngoài lại tỏ ra lo lắng, chúng tìm cách bôi nhọ, xuyên tạc về chuyến thăm của Tổng thống Hoa Kỳ đến Việt Nam và việc nâng tầm mối quan hệ giữa Việt Nam - Hoa Kỳ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững. Các đối tượng đã tăng cường phát tán nhiều bài viết trên không gian mạng có nội dung sai trái, xấu độc để chống phá Đảng, Nhà nước; xuyên tạc mối quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ cũng như quan hệ của Việt Nam với nhiều nước khác; khi không thể ngăn cản chuyến thăm của Tổng thống Joe Biden thì quay sang miệt thị các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước; xuyên tạc chính sách ngoại giao quốc phòng “bốn không” của Việt Nam (không tham gia liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước kia, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế). Một số tổ chức phi chính phủ đã viết thư chung gửi Tổng thống Hoa Kỳ, đề nghị ông Joe Biden khi sang thăm Việt Nam, trong các cuộc gặp gỡ với các nhà lãnh đạo Việt Nam cần gây áp lực, can thiệp phải sửa đổi một số điều của Bộ luật Hình sự mà các đối tượng cho rằng “mang tính chất đàn áp”, như: Điều 117 (Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), Điều 331 (Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ) và đòi bỏ Luật An ninh mạng. Họ rêu rao “Chấm dứt hành vi đàn áp xuyên quốc gia và trả tự do cho tất cả tù nhân của lương tâm”; “Thả tự do cho tất cả 41 nhà báo bị giam giữ”; “Gặp gỡ gia đình các tù nhân chính trị để nghe những lời trần tình của họ về tình hình nhân quyền ở Việt Nam”…

    Những luận điệu trên là hoàn toàn sai trái, đối lập với chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta. Phải khẳng định rằng, việc nâng cấp quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ là phù hợp với thực tiễn của quan hệ ngoại giao hai nước, đáp ứng sự mong mỏi và tình cảm của các nhà lãnh đạo, nhân dân hai nước. Như Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Marc E.Knapper đã nhấn mạnh trong cuộc gặp gỡ với báo chí trưa 13/9 rằng, quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ phát triển tốt đều mang lại lợi ích cho cả hai quốc gia và Hoa Kỳ muốn trở thành một phần trong quá trình Việt Nam nỗ lực để trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2050.

    Với phương châm “Gác lại quá khứ, vượt qua khác biệt, phát huy tương đồng, hướng tới tương lai”, quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ từ cựu thù đã trở thành Đối tác và Đối tác Chiến lược Toàn diện vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững. Như vậy, tính đến tháng 9/2023 Việt Nam có 05 Đối tác Chiến lược Toàn diện (Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Hàn Quốc, Hoa Kỳ), 18 Đối tác Chiến lược (bao gồm cả 05 Đối tác Chiến lược Toàn diện), 12 Đối tác Toàn diện. Việc nâng mức quan hệ ngoại giao từ “Đối tác Toàn diện” lên “Đối tác Chiến lược Toàn diện”, bỏ qua mức quan hệ “Đối tác Chiến lược” đã được nhiều nhà ngoại giao thế giới gọi là hình mẫu trong quan hệ quốc tế, là tấm gương để các quốc gia khác học tập, noi theo. Điều đó, cũng có nghĩa là không chỉ hai quốc gia Việt Nam - Hoa Kỳ mà cả cộng đồng thế giới đều ghi nhận, trân trọng những nỗ lực trong bước tiến vượt bậc về quan hệ ngoại giao giữa hai bên, bởi điều này còn có sự ảnh hưởng tích cực lớn đến an ninh, hòa bình, sự đoàn kết, thịnh vượng của khu vực và trên thế giới.

    Cho nên, những lời lẽ theo kiểu hậm hực cho rằng Hoa Kỳ đừng nên quan hệ với Việt Nam, Hoa Kỳ cần đưa ra yêu sách buộc Đảng Cộng sản Việt Nam phải thay đổi chế độ mới nâng cấp quan hệ hoặc châm chọc rằng Việt Nam nâng cấp quan hệ với Hoa Kỳ là “theo phe này, chống phe kia”  là không đúng với thực tiễn.

    Đối với những lời bịa đặt, vu khống về nhân quyền ở Việt Nam. Chúng ta biết rằng, dân chủ, nhân quyền là một vấn đề lớn, không một quốc gia nào dám tự coi là đã thực hiện một cách đầy đủ. Mỗi quốc gia thực hiện dân chủ, nhân quyền còn tùy thuộc vào tình hình chính trị - xã hội, sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật, trình độ phát triển kinh tế, xã hội, truyền thống, phong tục, tập quán và trình độ dân trí… Ở Việt Nam, thực tiễn đã chứng minh, ngoài những thành tựu đạt được về phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, chính sách cho đồng bào dân tộc và đối tượng dễ bị tổn thương như trẻ em, người già, người khuyết tật. Đảng, Nhà nước Việt Nam xác định rõ, bảo đảm quyền con người là bản chất của chế độ, là mục tiêu, lý tưởng của Đảng, đồng thời là động lực của chế độ. Vì thế, Nhà nước Việt Nam luôn đẩy mạnh và coi trọng hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ quyền con người; củng cố tăng cường các thể chế, chính sách nhằm thúc đẩy thực thi quyền con người, bảo đảm thực hiện đầy đủ hơn, tốt hơn các quyền tự do chính đáng của nhân dân… những nỗ lực trong việc đảm bảo và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam luôn được cộng đồng quốc tế ghi nhận./.

Sưu tầm