Thứ Năm, 4 tháng 1, 2024

Giải pháp Phòng, chống âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch phản động

 


             Là một trong những nước XHCN còn lại đang tiến hành thắng lợi công cuộc đổi mới, cho nên, Việt Nam là một trong những trọng điểm chống phá của các thế lực thù địch. Chúng đang ra sức đẩy mạnh chiến lược DBHB và không loại trừ khả năng tiến hành CMM để chống phá cách mạng nước ta. Một trong những thách thức đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc đã được Đảng ta chỉ ra là: “Hoạt động “Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch sẽ gia tăng. Các thế lực phản động tiếp tục sử dụng chiêu bài dân chủ, nhân quyền để can thiệp vào nội bộ ta”. Đây là nguy cơ lớn đối với sự ổn định và phát triển của đất nước.

Để phòng, chống DBHB và CMM của các thế lực thù địch, các cấp, các ngành, LLVT và toàn dân phải tỉnh táo trước những âm mưu thủ đoạn DBHB và CMM của các thế lực thù địch, phản động. Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn các hoạt động chống Đảng, Nhà nước của các thế lực thù địch, phản động; đảm bảo an ninh chính trị nội bộ; phòng ngừa, ngăn chặn không để xảy ra CMM trong mọi tình huống. Nâng cao ý thức cảnh giác của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân trước âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, từ đó tham gia vào công tác phòng, ngừa, ngăn chặn làm thất bại ý đồ thực hiện CMM. 

Từng bước hạn chế, tiến tới loại bỏ các nguyên nhân, điều kiện có thể dẫn đến CMM ở nước ta. Trong đó tập trung giải quyết dứt điểm các “điểm nóng” về an sinh xã hội như khiếu kiện, đình công, chủ động triển khai các biện pháp bảo đảm an ninh trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa, xã hội, kinh tế, tài chính, thông tin truyền thông, an ninh mạng, đẩy lùi tình trạng tham nhũng, lợi ích nhóm, không để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng để tập hợp lực lượng, hình thành, công khai hóa tổ chức chính trị đối lập ở trong nước, tiến hành các hoạt động biểu tình, bạo loạn trên quy mô lớn nhằm thực hiện CMM ở Việt Nam.

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, củng cố bảo vệ vững chắc an ninh chính trị nội bộ; đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, bất mãn, vi phạm pháp luật, nhất là trong hàng ngũ cán bộ các cấp. Kiên quyết loại trừ các điều kiện hình thành tổ chức chính trị đối lập, không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. 

Củng cố lòng tin của các tầng lớp nhân dân đối với Đảng và chế độ XHCN. Tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, mở rộng hợp tác quốc tế tạo nền tảng, sức mạnh chính trị, phục vụ phát triển kinh tế, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, đảm bảo giải quyết triệt để mầm mống, nguy cơ CMM ở Việt Nam.

Phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc được định hướng và quy tụ bởi chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, do Đảng Cộng sản lãnh đạo và Nhà nước XHCN quản lý, điều hành; kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để phòng, chống DBHB và CMM. Đây là một nguyên tắc chiến lược, quán triệt quan điểm tổng hợp trong lãnh đạo và tổ chức đấu tranh phòng, chống DBHB và CMM. Sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc được định hướng và quy tụ bởi chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là một đặc trưng bản chất và là một ưu thế vượt trội để giành chiến thắng trong suốt quá trình dựng nước, giữ nước của dân tộc ta. Nhờ đó, chúng ta có thể tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ to lớn của các lực lượng yêu chuộng hoà bình và tiến bộ trên thế giới, kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để vượt qua mọi khó khăn, thách thức và giành chiến thắng./.

NHẬN DIỆN VÀ CẢNH GIÁC VỚI CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRÊN MẠNG XÃ HỘI HIỆN NAY

 


Âm mưu, thủ đoạn và sự chống phá của các thế lực thù địch không hề thay đổi trong giai đoạn hiện nay, trái lại ngày càng tinh vi hơn. Chúng đã triệt để lợi dụng những thành tựu của cách mạng khoa học công nghệ, khai thác không gian mạng xã hội để gia tăng sức ảnh hưởng và tiếp tục không ngừng  chống phá Đảng và Nhà nước ta. 

          Chúng luôn tìm cách phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng ta, cụ thể là phủ nhận học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Bằng cách tuyên truyền các thuyết “quái thai”, “đẻ non của lịch sử”, “CNXH cáo chung”... các thế lực thù địch đã tìm mọi cách phê phán triệt để, bôi đen hiện thực để đi đến bác bỏ hoàn toàn CNXH. Xoay quanh các luận điệu: CNXH ra đời ở các nước lạc hậu không đúng theo kịch bản của Mác, rằng: sự thất bại và sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu đã chứng tỏ rằng CNXH không có sức sống và nó chỉ được nặn ra từ đầu óc ngông cuồng của những người cộng sản. Bằng những lý lẽ xuyên tạc, bóp méo, ngụy biện chúng ra sức chứng minh CNXH là một hiện tượng không phù hợp với quy luật lịch sử. Từ đó chúng đi đến kết luận: “xã hội loài người chỉ ngừng lại ở CNTB” và “CNTB sẽ tồn tại vĩnh viễn như một điểm dừng của lịch sử ”

          Chúng sử dụng nhiều thủ đoạn, từ tinh vi thâm độc đến công khai trắng trợn nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp phủ định các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Một số phản động khác thì tuyên truyền: chủ nghĩa Mác chỉ phù hợp với thế kỷ XIX, nay đã lỗi thời và lạc hậu. Chủ nghĩa Mác - Lênin phù hợp một chừng mực nào đó với trình độ lực lượng sản xuất và văn hoá Nga, không phù hợp với thế kỷ này, với nước ta. Từ những lập luận đó chúng đi đến những kết luận xuyên tạc như: Hồ Chí Minh chỉ là người dân tộc chủ nghĩa, lấy chủ nghĩa Mác- Lênin làm phương tiện, du nhập chủ nghĩa Mác- Lênin với thuyết đấu tranh giai cấp gây ra cảnh “nồi da nấu thịt” suốt mấy chục năm, rằng: đưa chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam là một sai lầm.

           Phủ nhận CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng. Xoá bỏ chế độ XHCN là mục tiêu cuối cùng của chủ nghĩa đế quốc (CNĐQ). Thực hiện âm mưu này, trên lĩnh vực tư tưởng các thế lực phản động ra sức làm lung lạc ý chí của nhân dân ta với các luận điệu tuyên truyền: Việt Nam trước đây có sự giúp đỡ của các nước XHCN thì có thể bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN, nay không còn sự giúp đỡ đó thì không thể đi lên CNXH được, hãy trở lại chế độ dân chủ nhân dân. Chúng xuyên tạc: đường lối phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN của ta là chắp vá, không tưởng.                 Chúng công kích đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là định hướng XHCN.

Những thế lực chống cộng tập trung công kích đường lối đổi mới của Đảng và nhân dân ta bằng nhiều luận điệu xuyên tạc trắng trợn. Chúng cho rằng: Những thắng lợi trong công cuộc đổi mới của nước ta chẳng qua vì những người cách mạng Việt Nam đã quá độ sang CNTB, đi theo CNTB. chúng phê phán đường lối phát triển của ta lấy kinh tế nhà nước là chủ đạo tức là tập trung vào khu vực kinh tế kém hiệu quả, khó tránh khỏi tụt hậu, yêu cầu ta phát triển thị trường tự do tư bản, khuyến khích tư nhân phát triển…

Lợi dụng kết quả cuộc đấu tranh chống tham nhũng do Đảng ta tiến hành, chúng xuyên tạc, bóp méo, vu khống, suy diễn cho rằng đó là cuộc “thanh toán phe phái”, “trả thù cá nhân” giữa người này với người kia, nhóm này với nhóm khác vì “lợi ích nhóm”... Từ đó, nhằm gieo rắc những hoài nghi trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chúng xuyên tạc các mối quan hệ cho rằng người này ủng hộ người kia, người này cùng ê kíp người kia, rồi tự phân chia phe phái. Từ những sự việc mà báo chí đã đưa tin, chúng đặt điều, vu khống, bóp méo, xuyên tạc nói rằng người này đang “dắt tay” người kia vào vị trí này, vị trí nọ; bình phẩm, phán xét rồi nhận định người này nghỉ thì người kia sẽ lên thay và cuộc chiến chống tham nhũng sẽ đi về đâu, “cán cân” quyền lực sẽ nghiêng về phe nào. Âm mưu của chúng là gây hoang mang, hoài nghi trong nhận thức tư tưởng trong Đảng và nhân dân về đường lối đổi mới và định hướng XHCN…
           Bên cạnh đó, chúng dùng chiêu “nắn dòng” đưa ra những thông tin bình phẩm về trình độ, năng lực của người này, người kia rồi đặt lên bàn cân so sánh. Khi cần “hạ bệ” cá nhân nào, chúng tập trung khoét sâu những hạn chế, khuyết điểm ở những ngành, những lĩnh vực mà cá nhân đó phụ trách; rồi quy kết trách nhiệm theo kiểu “bới lông tìm vết”, “có ít xít ra nhiều”; thậm chí là trắng trợn dựng chuyện, bịa đặt, đổi trắng thay đen, bóp méo hòng thay đổi bản chất của các vụ việc liên quan đến một số cán bộ, nhất là những đồng chí nằm trong quy hoạch nhân sự trước mỗi kì Đại hội Đảng...

Những luận điệu trên của các thế lực thù địch được xuất phát từ những mưu đồ đen tối, mang chủ định ác ý, thiên kiến… nên hoàn toàn xa rời sự thật lịch sử. Sự thật là ngày nay tuy CNXH ở Liên Xô và Đông Âu không còn tồn tại, song CNXH hiện thực trong hơn 100 năm qua đã đạt được những thành tựu có tầm thời đại và ý nghĩa lịch sử, đã khẳng định được sức sống của một hình thái kinh tế xã hội mới và là nhân tố cực kỳ quan trọng trong tiến trình phát triển của xã hội loài người. Tình trạng khủng hoảng toàn diện và sâu sắc vừa diễn ra ở các nước XHCN hoàn toàn không bắt nguồn từ bản chất của CNXH, mà bắt nguồn từ những sai lầm trong công cuộc xây dựng CNXH tích tụ lại nhưng không được kịp thời sửa chữa, đặc biệt là do sai lầm trong cải tổ, cải cách và đã để cho kẻ thù của CNXH lợi dụng. Có những sai lầm mang tính chủ quan của bản thân những người lãnh đạo, nhưng có những sai lầm mang tính khách quan khó tránh khỏi của một quá trình mò mẫm, tìm tòi, khai phá con đường xây dựng một hình thái kinh tế- xã hội mới chưa hề có trong lịch sử./.

Việt Tân núp bóng từ thiện

 


Với chiêu bài “dân giúp dân”, Việt Tân nhắn nhủ người cần giúp đỡ nhắn vào hộp thư để được hướng dẫn chi tiết làm thế nào để nhận được quà. Đây thực chất là chiêu trò lừa dụ người dân tham gia vào các hoạt động của tổ chức khủng bố này, núp bóng việc bảo vệ, đứng về phía người dân khó khăn để tạo diễn đàn công kích, bôi xấu, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước, phủ nhận nỗ lực và thành quả chống dịch của đất nước.

Với chương trình hỗ trợ khẩn cấp mà Việt Tân đang kêu gọi. Liệu Việt Tân có thực sự nhằm giúp đỡ người dân hay không? Trái ngược với những lời kêu gọi mĩ miều, mạng xã hội chỉ lèo tèo lượng like, tham gia hưởng ứng. Không ít người đã thẳng thắn bình luận, chỉ rõ động cơ xấu xa và khuyên mọi người hãy tránh xa chiêu trò của Việt Tân.

Cùng với đó, nếu Việt Tân thực sự muốn làm việc thiện thì không nên “tạo sóng”, bày trò để câu like, câu bình luận của những người nhẹ dạ cả tin, được dẫn dắt bởi những conment “chim mồi” kích động nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước ta. Chưa thấy hiệu quả của chương trình này ở đâu, nhưng Việt Tân đã tạo ra một “diễn đàn” cho những bình luận a dua, bất mãn trên không gian mạng, chẳng những không giúp ích gì cho công tác phòng, chống dịch mà còn bị coi là hành vi vi phạm pháp luật khi đưa ra bình luận sai sự thật, gây hoang mang dư luận, ảnh hưởng xấu tới công tác phòng, chống dịch. Ngày 4-10-2016, khi đưa Việt Tân vào danh sách các tổ chức khủng bố, thông báo của Bộ Công an nêu rõ: “Việt Tân” là tổ chức khủng bố, do đó, người nào có hành vi tham gia, tuyên truyền, lôi kéo, xúi giục người khác tham gia, tài trợ, nhận tài trợ của “Việt Tân”; tham gia các khóa đào tạo, huấn luyện do “Việt Tân” tổ chức; hoạt động theo sự chỉ đạo của “Việt Tân”… sẽ đồng phạm tội khủng bố, tài trợ khủng bố và sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Từ thực tế những hoạt động chống phá của Việt Tân có thể dễ dàng nhận thấy chiêu trò từ thiện này chỉ là một thủ đoạn để dẫn dụ người dân tham gia, qua đó sẽ thu thập thông tin công dân, rồi mua chuộc, kích động, biến những người đó trở thành công cụ thực hiện các âm mưu phá hoại của chúng.

Chương trình “Chút quà yêu thương” mà Việt Tân đưa ra có nhiều điểm mập mờ về thông tin và cả những đối tượng tương tác, vào hùa và cộng hưởng bên dưới. Được biết, rất nhiều chủ nhân của những bình luận cổ súy cho Việt Tân đó hiện đang tị nạn tại nước ngoài, thậm chí có một số tương tác được thực hiện bởi các tài khoản ảo. Nếu thực sự xuất phát từ động cơ trong sáng, vậy Việt Tâm phải bày ra chiêu trò này để làm gì?

Thực chất âm mưu của Việt Tân thông qua việc hướng dẫn người dân nhắn vào hộp thư (inbox) chỉ là để thu thập thông tin cá nhân, từ đó liên lạc, móc nối, dụ dỗ, mua chuộc… Trước đây, nhiều đối tượng đã từng bị Việt Tân móc nối, mua chuộc đã vướng vào vòng lao lý, phải lãnh những mức án phạt nghiêm khắc vì thực hiện hành vi vi phạm pháp luật chống phá Nhà nước. Đặc điểm chung dễ nhận thấy của những đối tượng này là chỉ vì tham miếng “bánh vẽ” mà Việt Tân từng hứa hẹn./.

Tự do internet không phải muốn làm gì thì làm


Internet là mạng xã hội ảo, song những tác hại mà nó gây ra là thật, vì vậy, các nước đều có những quy định để quản lý internet. Không phải chỉ Việt Nam, nhiều quốc gia trên thế giới đều ban hành các quy định để quản lý mạng xã hội phù hợp hướng tới môi trường internet an toàn lành mạnh, bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của người sử dụng.

Ủy ban Châu Âu (EC) yêu cầu Facebook, Google, Twitter phải điều chỉnh các điều khoản sử dụng dịch vụ, truy quét thông tin xấu, gồm cả tin xuyên tạc, sai sự thật, nếu không sẽ phải chịu chế tài xử lý nghiêm khắc. Chính phủ Mỹ đã ban hành 3 đạo luật an ninh mạng chính là: Đạo Luật về Quyền riêng tư trong lĩnh vực Y tế (HIPPA) năm 1996, Đạo Luật Gramm-Leach-Bliley trong lĩnh vực Tài chính năm 1999 và Đạo Luật An ninh nội địa năm 2021. Tòa án Tối cao Mỹ đã thông qua sửa đổi Điều 41 Bộ luật Hình sự, cho phép Cục Điều tra Liên bang (FBI) được quyền truy cập vào máy tính của bất kỳ ai, ở bất kỳ đâu và vào bất kỳ lúc nào nhằm ngăn chặn các hành vi vi phạm an toàn thông tin mạng internet.

Trung Quốc ban hành nhiều văn bản về quản lý internet, trong đó có: Pháp lệnh Bảo vệ an ninh của các hệ thống thông tin (tháng 2/1994); Chỉ thị số 292 (tháng 9/2000) quy định về giới hạn đối với các nhà cung cấp nội dung trên internet; Chính sách quản lý mạng trực tuyến (tháng 12/2012)… Đối với tổ chức, cá nhân, Luật An ninh mạng năm 2016 của Trung Quốc quy định bất kỳ tổ chức, cá nhân nào khi đăng tải các thông tin điện tử, cung cấp phần mềm ứng dụng cũng không được phép cài đặt chương trình độc hại hay có chứa các nội dung bị cấm đăng, phát tán theo quy định của pháp luật.

Đức đã có quy định về Luật An ninh mạng từ rất sớm. Tháng 7/2015, Quốc hội Đức đã thông qua Luật An ninh mạng nhằm bảo vệ tốt hơn cho công dân và các doanh nghiệp trong kỷ nguyên số. Luật An ninh mạng của Đức yêu cầu các công ty và cơ quan liên bang phải có tiêu chuẩn bảo mật mạng tối thiểu và phải được Văn phòng Bảo mật Thông tin Liên bang (BSI) chứng nhận. Trong luật mới có những điều, khoản cụ thể đối với người sử dụng mạng internet như cấm âm mưu sử dụng bạo lực lật đổ an ninh quốc gia, cấm xúi giục hành vi phạm tội... Luật An ninh mạng của Singapore ban hành năm 2017 cho phép Cơ quan An ninh mạng nước này theo dõi và quản lý an toàn không gian mạng của quốc gia. Cơ quan An ninh mạng được phép thực hiện các biện pháp chủ động để bảo vệ cơ sở hạ tầng thông tin quan trọng và nhanh chóng ứng phó với các mối đe dọa và sự cố…

Thời gian qua ở Việt Nam, rất nhiều người đã sử dụng internet để đưa những thông tin kích động bạo lực, xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ, vu khống người khác, đưa các thông tin dâm ô, đồi truỵ, cổ suý bạo lực, gây chia rẽ vùng miền, dân tộc… Đó là những hành vi vô cùng nguy hiểm nếu các cơ quan có trách nhiệm không có những biện pháp mạnh để quản lý nhằm lập lại trật tự này. Một điều không thể phủ nhận là internet đã chi phối hầu như rất nhiều hoạt động của con người, của xã hội, vì vậy, một trong những yêu cầu bắt buộc là dù trên không gian mạng, trên môi trường ảo thì tất cả đều phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật./.

Những luận điệu xuyên tạc về công tác cán bộ của Đảng

 

Các luận điệu xuyên tạc về công tác cán bộ cho rằng thực chất đội ngũ cán bộ hiện nay sai phạm nhiều là do sai lầm của Đảng trong lựa chọn cán bộ. Họ cho rằng việc lựa chọn cán bộ của Đảng chủ yếu là theo “cánh hẩu”, phe nhóm, con ông cháu cha mà đưa lên chứ không phải vì tài năng hay đạo đức. Các quan điểm sai trái, xuyên tạc ấy cho rằng để khắc phục tình trạng sai lầm này thì Đảng Cộng sản Việt Nam hãy để cho mọi người tranh cử công khai và không cần Đảng phải thực hiện công tác cán bộ…

Khi Đảng xử lý hàng loạt các cán bộ sai phạm, các luận điệu xuyên tạc lại rêu rao cho rằng đó chỉ là “phe cánh triệt hạ lẫn nhau”, là “thanh trừng phe phái”, là “loại người của bên thua cuộc” để đưa những người của “bên thắng cuộc” lên... Họ cũng trắng trợn xuyên tạc cho rằng thực chất Đảng dung dưỡng cho cán bộ tham nhũng để chính những người ấy sẽ bảo vệ sự tồn tại cho chế độ. Đặc biệt, trong công cuộc phòng, chống đại dịch Covid-19 vừa qua, khi một bộ phận người dân bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh và chịu nhiều mất mát, vất vả, khó khăn, chúng liền vin vào cớ này để xuyên tạc và cho rằng thực chất cán bộ, nhất là cán bộ cơ sở vô tài, bất đức, chỉ lo cho bản thân mình, phe nhóm mình mà không quan tâm đến người dân, để “sống chết mặc dân”… Trước những bất cập, nhất là yếu kém của một số cán bộ, nhất là cán bộ cơ sở trong phòng, chống dịch Covid-19, họ tung ra những bài viết, bài nói để khoét sâu vào những bức xúc của người dân để quy chụp, đánh giá phiến diện một chiều khi cho rằng tất cả những yếu kém, hạn chế ấy là do cán bộ và nguyên nhân của các yếu kém đó là do công tác cán bộ của Đảng sai lầm với mục đích cuối cùng là đổ tất cả các hạn chế, bất cập ấy là do… Đảng (?!).

Rõ ràng những hạn chế, khuyết điểm, thậm chí sai phạm của một số tập thể, cá nhân chỉ là cá biệt và không thể chủ quan, phiến diện dựa vào thiếu sót, khuyết điểm của một vài tập thể, cá nhân mà phủ nhận sạch trơn vai trò của đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ của Đảng./.

Trách nhiệm công dân khi tham gia mạng xã hội

 

Mạng xã hội là một thành tựu khoa học - công nghệ của nhân loại, tạo thêm không gian để chia sẻ, trao đổi thông tin và kết nối, hợp tác trên phạm vi toàn cầu. Trước sự phát triển nhanh chóng của mạng xã hội, chúng ta cần phải nhận diện đúng những thông tin xấu, độc khi tiếp cận nhằm phát huy những mặt tích cực, ngăn ngừa những tác động tiêu cực, góp phần ổn định chính trị xã hội của đất nước và xây dựng một môi trường sống an toàn, chất lượng.

Điều 5, khoản 1 (điểm a, b, c, d, e), Nghị định 72/CP của Chính phủ quy định những hành vi bị cấm trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và những thông tin trên mạng gồm:

a) Chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc; tuyên truyền chiến tranh, khủng bố; gây hận thù, mâu thuẫn giữa các dân tộc, sắc tộc, tôn giáo;

b) Tuyên truyền, kích động bạo lực, dâm ô, đồi trụy, tội ác, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc;

c) Tiết lộ bí mật nhà nước, bí mật quân sự, an ninh, kinh tế, đối ngoại và những bí mật khác do pháp luật quy định;

d) Đưa thông tin xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân;

đ) Quảng cáo, tuyên truyền, mua bán hàng hóa, dịch vụ bị cấm; truyền bá tác phẩm báo chí, văn học, nghệ thuật, xuất bản phẩm bị cấm;

e) Giả mạo tổ chức, cá nhân và phát tán thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Khi tham gia vào mạng xã hội, nếu người tiếp cận thông tin không tỉnh táo, sáng suốt thì có thể bị tiêm nhiễm, ảnh hưởng tiêu cực bởi những thông tin xấu, độc đó. Để tích cực phòng, chống thông tin xấu, độc trên mạng xã hội, chúng ta cần tự trang bị cho mình vốn hiểu biết và những kỹ năng cần thiết:

Trước tiên, chúng ta cần có kỹ năng chọn lọc thông tin để nhận diện các thông tin xấu, độc. Mà để thực hiện được kỹ năng đó thì chúng ta cần tỉnh táo nhận diện được thông tin xấu, độc. Thông tin xấu, độc được nhận diện ở các yếu tố: Mục đích, ý nghĩa, nội dung...Về mục đích: Chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa, ảnh hưởng tiêu cực đến nhận thức, thái độ, lối sống của người tiếp xúc với thông tin, gây hoang mang, dao động, hoài nghi vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Về nội dung: Thông tin xấu, độc thường lẫn lộn giữa thật và giả, thường là trà trộn một phần thông tin đúng với thông tin sai lầm, bịa đặt, xuyên tạc… Để xác định được xem thông tin mà mình tiếp cận là giả hay thật; đúng hay sai; tốt hay xấu thì chúng ta cần tiếp cận nhiều với các thông tin chính thống.

Để xác định chắc chắn đó là thông tin chính thống, nên tiếp nhận hay không thì cần nắm rõ chủ thể đăng tải. Nếu chủ thể đăng tải thông tin là các nick ảo, nick không chính danh và tổng thể nội dung trang có thái độ nhìn nhận không phù hợp với quan điểm chính thống thì cần loại bỏ... Sau khi nhận diện được thì chúng ta nên tránh các thông tin xấu, độc theo hướng đã được nhận diện; đồng thời chọn lọc những thông tin có lợi, những thông tin phù hợp với thuần phong mỹ tục... để tiếp cận. Thường thì những thông tin được tung ra nhằm khuấy động dư luận và tạo ra các luồng nhận thức khác nhau. Nhiều người vì tò mò nên tiếp cận thông tin đó mà không suy nghĩ xem nên tiếp nhận như thế nào cho đúng.

Mặt khác, chúng ta cần có kỹ năng công nghệ - thông tin nhất định để chặn các nick ảo, lọc, xóa, báo xấu... các thông tin xấu, độc trên mạng xã hội để không cho các thông tin đó lan truyền dễ dàng. Cần cẩn thận cân nhắc xem nên comment (bình luận), like (thích), share (chia sẻ), dẫn link hay không nên một vấn đề nào đó, để tránh việc vô tình trở thành cầu nối giúp lan tỏa thông tin xấu, độc. Việc nắm các quy định của Luật An ninh mạng là một vấn đề bắt buộc giúp người sử dụng tránh những hành vi vi phạm có khi chỉ là vô tình nhưng gây ảnh hưởng tiêu cực cho bản thân và xã hội.

Nâng cao năng lực để chống thông tin xấu, độc trên mạng xã hội sẽ góp phần phát huy những tác động tích cực, hạn chế, ngăn ngừa những tác động tiêu cực, góp phần ổn định chính trị - xã hội của đất nước và nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi chúng ta./.

Đấu tranh với các nội dung xấu độc, quan điểm sai trái trên mạng xã hội

 


Trong bối cảnh internet mang lại nhiều tác động tích cực, song cũng tiềm ẩn những nguy cơ ảnh hưởng xấu đến văn hóa truyền thống, an toàn xã hội và an ninh quốc gia, các cơ quan chức năng cần tăng cường quản lý, định hướng đối với sự phát triển của mạng xã hội.

Chủ đề của Đại hội XIII của Đảng là: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(1).Do đó, tăng cường đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội ở Việt Nam hiện nay là vấn đề cấp thiết, nhằm nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ.

          Đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, những thông tin và tài liệu có nội dung xấu, độc trên mạng xã hội là nhiệm vụ quan trọng của hệ thống chính trị. Hệ thống tuyên giáo Đảng là một bộ phận cấu thành trong hệ thống tổ chức của Đảng, trực tiếp góp phần thực hiện phương thức lãnh đạo của Đảng, cần tăng cường tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng; xây dựng, bảo vệ nền tảng tư tưởng nhằm nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng. Thực tiễn sôi động và phức tạp của đời sống xã hội trong bối cảnh khoa học, công nghệ phát triển mạnh mẽ đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác tuyên giáo. Đây là một trong những vũ khí sắc bén chống lại âm mưu, thủ đoạn diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch, phê phán các quan điểm sai trái, lệch lạc trên mạng xã hội. Cần quản lý mạng xã hội như một công cụ thể hiện quyền tự do của con người song tuyệt đối không để các thế lực phản động lợi dụng xuyên tạc, tiến hành các hoạt động chống phá chế độ.

Tháng 10-2015, Chính phủ đã lập 02 tài khoản Facebook là “Thông tin Chính phủ” và “Diễn đàn Cạnh tranh quốc gia” nhằm cung cấp cho người dân những thông tin thời sự nhất về tình hình chính trị, kinh tế - xã hội, các hoạt động của lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Việc lập trang mạng xã hội vừa đáp ứng nhu cầu thông tin của người dân, vừa định hướng dư luận, đồng thời giúp Nhà nước tăng cường quản lý xã hội bằng chính công cụ hữu hiệu này. “Thông tin Chính phủ” và “Diễn đàn Cạnh tranh quốc gia” trở thành phương thức truyền thông hiệu quả đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đến nhân dân, cung cấp tri thức và củng cố niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước. Hai trang mạng này cũng góp phần định hướng hành vi của cá nhân, giám sát và quản lý xã hội, kết nối ý Đảng với lòng dân. Cũng nhờ mạng xã hội mà trong những ngày thực hiện Chỉ thị số 16/CT-TTg về giãn cách xã hội, người dân vẫn nắm bắt nhanh chóng, đầy đủ các thông tin về tình hình chính trị - xã hội, phòng chống dịch bệnh, tiến hành các hoạt động làm việc, giao lưu trực tuyến, giảng dạy online, thương mại điện tử, trao đổi thông tin liên lạc.

 “Cán bộ và công tác cán bộ là vấn đề cực kỳ quan trọng và hệ trọng, là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của chế độ; là khâu then chốt của công tác xây dựng Đảng; là điều kiện cần thiết để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; công tác giáo dục lý luận chính trị, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đóng vai trò quan trọng.Để tiếp tục nâng cao nhận thức chính trị, tăng cường đoàn kết, thống nhất trong các tổ chức Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân; chống âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa và các quan điểm sai trái, lệch lạc, phản động trên mạng xã hội, phải tăng cường tuyên truyền, giáo dục tư tưởng, tuyên truyền đường lối, chính sách, quan điểm của Đảng về những vấn đề thời sự lớn, những vấn đề mới trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Định hướng tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trước những vấn đề quan trọng trong nước và quốc tế là góp phần tạo ra sự thống nhất tư tưởng trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội; củng cố niềm tin, cổ vũ phong trào cách mạng.

Cần có chế tài xử phạt nghiêm minh với những hành vi cố tình đưa thông tin bịa đặt, sai sự thật lên mạng xã hội, hành vi xuyên tạc đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, phá hoại quan hệ quốc tế của đất nước. Luật An ninh mạng được Quốc hội thông qua tháng 6-2018 đã chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-2019. Đảng, Nhà nước cho phép sử dụng mạng xã hội và bảo đảm tự do internet nhưng kiên quyết không để mạng xã hội trở thành công cụ cho các thế lực chống đối, thù địch lợi dụng, tiến hành các hoạt động chống phá.

Nâng cao hiệu quả đấu tranh ngăn chặn các nội dung xấu độc, quan điểm sai trái trên mạng xã hội là nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Cần tăng cường quản lý chặt chẽ các hoạt động trên không gian mạng, phát huy ưu thế của mạng xã hội trong đấu tranh chống các thế lực thù địch, phản động, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới./.

Nhất quán quan điểm trong xây dựng “Nhà nước pháp quyền Việt Nam” XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

 


           Tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (1-1994), lần đầu tiên, Đảng ta đã chính thức sử dụng thuật ngữ “Nhà nước pháp quyền Việt Nam”: Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (sửa đổi, bổ sung 2011), Đảng ta khẳng định một trong những đặc trưng của chế độ là “xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”, chỉ rõ: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”. Quan điểm này được Hiến pháp 2013 tiếp tục ghi nhận, đồng thời chỉ rõ: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”. Nhà nước pháp quyền XHCN về bản chất khác với nhà nước pháp quyền tư sản là ở chỗ: Pháp quyền dưới chế độ tư bản chủ nghĩa về thực chất là công cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản, còn pháp quyền dưới chế độ XHCN là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân. Thông qua thực thi pháp luật Nhà nước bảo đảm các điều kiện để nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm hại lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Đồng thời, chúng ta xác định: Đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng Việt Nam, không ngừng thúc đẩy sự bình đẳng và đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo. Trong quá trình đổi mới đất nước, Đảng ta luôn coi trọng đổi mới hệ thống chính trị mà trọng tâm là xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN. Thực tiễn qua 35 năm đổi mới, tư duy lý luận của Đảng về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN ngày càng đầy đủ và phát triển hơn, tạo cơ sở vững chắc cho việc xây dựng một nhà nước trong sạch, vững mạnh, đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước trên con đường đi lên CNXH.

          Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN thật sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, góp phần tạo sự đồng thuận, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, đưa đất nước vào giai đoạn phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng./.

Một số giải pháp tăng cường hiệu quả hoạt động tư tưởng, lý luận trên không gian mạng

 


Không gian mạng có đặc điểm là dung lượng thông tin lớn, tốc độ truyền tải nhanh, vừa có độ bao phủ rộng khắp, vừa tương tác thông tin mạnh, tức thời. Trong thời đại internet thì mỗi một người chính là một IP; trong thời đại internet vạn vật thì mỗi một vật phẩm là một IP; trong thời đại trí tuệ nhân tạo thì mỗi một người máy cũng là một IP. Sự phát triển của công nghệ mới đang phá bỏ liên tục những ranh giới, những biên giới của không gian mạng. Cùng với việc mở rộng không gian mạng và tính liên kết ngày càng cao thì các vấn đề của xã hội, của con người lại càng nhiều và càng phức tạp. Không gian mạng đang chiếm lĩnh không gian và thời gian thực của con người ngày càng nhiều, ảnh hưởng ngày càng lớn với tốc độ ngày càng nhanh, chính vì vậy nó ảnh hưởng sâu rộng và phức tạp đến lĩnh vực tư tưởng, lý luận ở Việt Nam hiện nay.

          Một là, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, gắn lý luận với thực tiễn trên không gian mạng.

Không ngừng nghiên cứu lý luận, vận dụng sáng tạo lý luận vào thực tiễn cụ thể, đồng thời thường xuyên tổng kết thực tiễn, đúc rút và khái quát lý luận là yêu cầu đầu tiên, là nhiệm vụ căn bản. Trận địa tư tưởng cần vũ khí quan trọng nhất là vũ khí lý luận, song lý luận phải thật sự khoa học chứ không phải lý thuyết suông, lý luận phải xuất phát từ thực tiễn và mang hơi thở của cuộc sống, phải bao quát được những vấn đề nền tảng, có tính quy luật và đưa ra hướng giải quyết những vấn đề then chốt. Bất kể sự phát triển của không gian mạng và các phương tiện truyền thông như thế nào, thì suy nghĩ và quan điểm vẫn là thành tố quan trọng nhất của nội dung tư tưởng. Nếu không có nội dung, không có chiều sâu thì lý luận dù hay đến đâu cũng chỉ là hô khẩu hiệu, trống rỗng, không có bất kỳ ảnh hưởng tích cực nào. Chúng ta phải sử dụng lý luận làm nền tảng vững chắc cho định hướng chính trị và dẫn dắt dư luận. Trong trận địa tư tưởng trên không gian mạng, việc chúng ta có đứng vững và chiến thắng hay không liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của chế độ. Trước tình hình trong nước và quốc tế có những diễn biến phức tạp, tiềm ẩn những biến động khó lường như hiện nay, không gian mạng trở thành công cụ nền tảng mới để giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ và nhân dân; đồng thời, đó cũng là một không gian mới để đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu lý luận, là một phương thức mới để định hướng dư luận xã hội về mặt tư tưởng. Đây thực sự là một mặt trận quan trọng và không thể buông lỏng. Do đó, cần giữ vững và không ngừng tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác nghiên cứu lý luận, giáo dục chính trị, tư tưởng trên mặt trận trực tuyến.

Hai là, lấy dân làm gốc kết hợp với xây dựng đội ngũ làm công tác lý luận trên địa hạt không gian mạng.

Dù trong tình huống nào đi nữa, nhất là trên không gian mạng, chúng ta càng cần phải tuân thủ nguyên tắc “lấy dân làm gốc”, nghĩa là chúng ta cần cần có sự ủng hộ của những người quản trị , người điều hành , người điều tiết, người gây ảnh hưởng ,… cũng như của toàn thể cư dân mạng. Chúng ta cần phải luôn tôn trọng địa vị cao nhất của nhân dân, tin tưởng và dựa vào quần chúng nhân dân trên không gian mạng. Vấn đề cốt lõi của công tác tư tưởng trực tuyến là cách đối xử với quần chúng trên không gian mạng. Chúng ta nói lên tiếng nói của người dân, bênh vực nhân dân, đứng về phía quyền lợi của nhân dân thì nhân dân sẽ tin yêu chúng ta, bảo vệ chúng ta.

Định hướng tư tưởng bằng công tác lý luận không thể tách rời việc xây dựng đội ngũ những người làm công tác lý luận. Định hướng tư tưởng, lãnh đạo dư luận bằng chuyên gia và học giả là xu thế tất yếu. Mối quan hệ biện chứng giữa “xây” và “chống” chính là thể hiện ở đây. Những người làm công tác tư tưởng, lý luận trên không gian mạng đòi hỏi phải có tầm cao của tư tưởng, độ sắc nét của các nhận định, đánh giá và độ vững chắc của lý luận. Giống như Bác Hồ trước đây nói ai cũng hiểu, ai cũng thấm thía, những người làm công tác tư tưởng, lý luận cũng phải học theo phương pháp diễn ngôn đó. Nói một cách hình ảnh, lý luận không chỉ như một món ăn cầu kỳ dành cho khách sành ăn trong nhà hàng sang trọng, mà cần thiết hơn, nó còn phải là món ăn đường phố cho người lao động, món ăn hàng ngày trong mỗi gia đình. Những vấn đề lý luận mà quần chúng quan tâm cần được giải thích rõ ràng, cặn kẽ bằng ngôn ngữ của quần chúng; người làm lý luận phải nắm vững cách nói của quần chúng, sử dụng ngôn ngữ sinh động, gần gũi với nhiều hình thức đa dạng để dễ được quần chúng chấp nhận, để lý luận thực sự bén rễ và đi vào suy nghĩ,cũng như trở thành hành động cụ thể, thiết thực của người dân.

Ba là,truyền thông tư tưởng trên không gian mạng cần hay hơn, hấp dẫn hơn.

Thời đại thông tin ngày nay tạo ra những thay đổi lớn trong cấu trúc dư luận, thay đổi cách thức và phương tiện truyền thông, thậm chí còn tái tạo lại “hệ sinh thái” mới của nội dung. Trên không gian mạng, mọi người không muốn xem, nghe các bài viết một chiều.Trên không gian mạng, quyền lực của các tổ chức không tác động được đến cơ chế tiếp cận thông tin. Đồng thời, quan niệm truyền thông truyền thống lấy tin tức làm trung tâm đã dần thay đổi, chức năng giáo dục, chức năng tư tưởng của truyền thông ngày càng giảm đi, đồng thời các chức năng giao tiếp, chức năng giải trí ngày càng tăng lên. Nội dung thể hiện luận điểm của những người tham gia không gian mạng có xu hướng ngày càng ngắn lại, từ những cuộc tranh luận hàng trăm trang trên các diễn đàn trước kia, giờ đây được rút gọn, cá nhân hoá thành các bài dài trên trang cá nhân (blog), rồi rút ngắn hơn nữa ở các tút trên Facebook, rồi các thông điệp cực ngắn trên Twitter. Bản thân các video dài trên Youtube đã ngắn đi nhiều ở các nền tảng video khác, đặc biệt là ở TikTok với độ dài chỉ khoảng 15 giây. Với không gian mạng như vậy thì các bài nghiên cứu lý luận, các bài viết mang tính tư tưởng như hiện nay dường như dài và khô khan với cư dân mạng. Chính vì vậy, truyền thông tư tưởng trên không gian mạng muốn đạt hiệu quả thì thông tin cần phải thực sự hấp dẫn, thu hút và lấy được sự yêu thích của không chỉ đảng viên, mà cả của người dân, đặc biệt là giới trẻ./.

Giải pháp Phòng, chống âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch phản động

 

             Là một trong những nước XHCN còn lại đang tiến hành thắng lợi công cuộc đổi mới, cho nên, Việt Nam là một trong những trọng điểm chống phá của các thế lực thù địch. Chúng đang ra sức đẩy mạnh chiến lược DBHB và không loại trừ khả năng tiến hành CMM để chống phá cách mạng nước ta. Một trong những thách thức đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc đã được Đảng ta chỉ ra là: “Hoạt động “Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch sẽ gia tăng. Các thế lực phản động tiếp tục sử dụng chiêu bài dân chủ, nhân quyền để can thiệp vào nội bộ ta”. Đây là nguy cơ lớn đối với sự ổn định và phát triển của đất nước.

Để phòng, chống DBHB và CMM của các thế lực thù địch, các cấp, các ngành, LLVT và toàn dân phải tỉnh táo trước những âm mưu thủ đoạn DBHB và CMM của các thế lực thù địch, phản động. Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn các hoạt động chống Đảng, Nhà nước của các thế lực thù địch, phản động; đảm bảo an ninh chính trị nội bộ; phòng ngừa, ngăn chặn không để xảy ra CMM trong mọi tình huống. Nâng cao ý thức cảnh giác của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân trước âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, từ đó tham gia vào công tác phòng, ngừa, ngăn chặn làm thất bại ý đồ thực hiện CMM. 

Từng bước hạn chế, tiến tới loại bỏ các nguyên nhân, điều kiện có thể dẫn đến CMM ở nước ta. Trong đó tập trung giải quyết dứt điểm các “điểm nóng” về an sinh xã hội như khiếu kiện, đình công, chủ động triển khai các biện pháp bảo đảm an ninh trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa, xã hội, kinh tế, tài chính, thông tin truyền thông, an ninh mạng, đẩy lùi tình trạng tham nhũng, lợi ích nhóm, không để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng để tập hợp lực lượng, hình thành, công khai hóa tổ chức chính trị đối lập ở trong nước, tiến hành các hoạt động biểu tình, bạo loạn trên quy mô lớn nhằm thực hiện CMM ở Việt Nam.

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, củng cố bảo vệ vững chắc an ninh chính trị nội bộ; đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, bất mãn, vi phạm pháp luật, nhất là trong hàng ngũ cán bộ các cấp. Kiên quyết loại trừ các điều kiện hình thành tổ chức chính trị đối lập, không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. 

Củng cố lòng tin của các tầng lớp nhân dân đối với Đảng và chế độ XHCN. Tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, mở rộng hợp tác quốc tế tạo nền tảng, sức mạnh chính trị, phục vụ phát triển kinh tế, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, đảm bảo giải quyết triệt để mầm mống, nguy cơ CMM ở Việt Nam.

Phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc được định hướng và quy tụ bởi chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, do Đảng Cộng sản lãnh đạo và Nhà nước XHCN quản lý, điều hành; kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để phòng, chống DBHB và CMM. Đây là một nguyên tắc chiến lược, quán triệt quan điểm tổng hợp trong lãnh đạo và tổ chức đấu tranh phòng, chống DBHB và CMM. Sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc được định hướng và quy tụ bởi chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là một đặc trưng bản chất và là một ưu thế vượt trội để giành chiến thắng trong suốt quá trình dựng nước, giữ nước của dân tộc ta. Nhờ đó, chúng ta có thể tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ to lớn của các lực lượng yêu chuộng hoà bình và tiến bộ trên thế giới, kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để vượt qua mọi khó khăn, thách thức và giành chiến thắng./.

Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 


Để đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng, cần quan tâm đến 3 yếu tố cốt lõi là: con người, tổ chức và cơ chế hoạt động.

Về con người:

Lực lượng nòng cốt làm công tác này bên cạnh bản lĩnh chính trị, tư duy lý luận, am hiểu về công nghệ và kỹ năng truyền thông, cần phải rèn luyện “tinh thần thép” và có những nỗ lực vượt bậc. 

“Tinh thần thép” được hình thành dựa trên niềm tin vững chắc vào lý tưởng cách mạng của Đảng và nhân dân ta; vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và sự lãnh đạo của Đảng; có niềm tin vững chắc vào chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh; thấy được những khó khăn trước mắt chỉ là tạm thời, những tiêu cực chỉ là hiện tượng xã hội; nêu cao lòng yêu nước, tính tiên phong, sẵn sàng nhận những nhiệm vụ mới, khó, lấy đó làm cơ hội để thử thách và trưởng thành, từ đó không chùn bước trong cuộc đấu tranh cho lẽ phải, cho chính nghĩa để bảo vệ Đảng, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ.

Các thế lực thù địch trên không gian mạng luôn ẩn danh, cuộc đấu tranh trên không gian mạng rất khó khăn, cam go, lâu dài, nên mỗi cán bộ, đảng viên cần giữ vững bản lĩnh chính trị, say mê lao động, không ngừng nghiên cứu, học tập, cập nhật những vấn đề lý luận và thực tiễn để có nền tảng lý luận vững vàng, không bị “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, làm tốt vai trò sứ giả truyền cảm hứng cho chính đội ngũ của mình và lan tỏa đến người đọc trong công tác thông tin, tuyên truyền định hướng dư luận xã hội.

Về tổ chức:

Tích cực xây dựng, củng cố, kiện toàn tổ chức, phát triển lực lượng đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng do ban chỉ đạo các cấp, các ngành về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” (Ban Chỉ đạo 35) chỉ đạo, quản lý. Trong đó, tại cơ quan thường trực ban chỉ đạo 35 các cấp, các ngành cần bố trí cán bộ chuyên trách, đáp ứng tính chất của công việc để bảo đảm vừa thực hiện tốt nhiệm vụ tham mưu lãnh đạo, chỉ đạo, vừa điều hành, tác chiến thường xuyên, liên tục.

Làm tốt công tác định hướng, bồi dưỡng, phát huy hiệu quả hoạt động của lực lượng nòng cốt trong việc nắm tình hình, thông tin, tuyên truyền định hướng dư luận xã hội và tác chiến bí mật.

Phát triển mạng lưới cộng tác viên trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chú ý tập hợp cộng tác viên từ các địa bàn, cơ sở; từ đoàn viên, sinh viên, học sinh, cán bộ hưu trí... để tạo ra một kênh nắm bắt kịp thời tình hình tư tưởng, tâm trạng xã hội, những vụ việc nóng về cơ quan thường trực ban chỉ đạo 35 các cấp, các ngành.

Về cơ chế hoạt động: 

Cần sớm thiết lập, ràng buộc trách nhiệm pháp lý, thống nhất và triển khai nghiêm cơ chế phối hợp giữa Chính phủ với các nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội nước ngoài, như: Google, Youtube, Facebook... trong việc quản lý, ngăn chặn, xử lý các thông tin xấu, độc.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, định hướng, nắm tình hình tư tưởng, dư luận qua các trang fanpage, group, trang Facebook, kênh Youtube, blog,... Phát triển các trang fanpage, group, Facebook, kênh Youtube, blog... tuyên truyền bảo đảm bám sát tôn chỉ, mục đích hoạt động; xây dựng các chuyên mục thông tin chống lại các luận điệu xuyên tạc, phản động nhằm tạo sự đồng thuận xã hội; từng bước nâng cao nhận thức, trách nhiệm, sức đề kháng, khả năng phát hiện thông tin xấu, độc, hình thành “thế trận toàn dân” trên không gian mạng, góp phần làm trong sạch môi trường mạng, giữ vững an toàn thông tin.

Tăng cường và nâng cao hiệu quả phối hợp, phát huy sức mạnh tổng lực của lực lượng ban chỉ đạo 35 trong cả nước. Thống nhất trung tâm điều hành hoạt động đồng bộ, chặt chẽ, hiệu quả từ Ban Chỉ đạo 35 Trung ương đến các ban, bộ, ngành và địa phương trong định hướng thông tin, tuyên truyền, bồi dưỡng nghiệp vụ (quản trị các nhóm, trang; điều hành, kỹ thuật tác chiến; phương pháp phản biện, đấu tranh ẩn danh;...).

Triển khai thực hiện có hiệu quả quy chế tiếp xúc, đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu cấp ủy đảng, chính quyền các cấp với các tổ chức, cá nhân có nhận thức khác hoặc chưa đúng với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước - nhất là đối với các cá nhân có uy tín, có trình độ, thái độ tích cực, có tầm ảnh hưởng đến cán bộ, đảng viên, nhân dân tại cơ quan, đơn vị, địa phương.

Xây dựng phương án phối hợp chặt chẽ, kịp thời, đồng bộ trong xử lý tình hình nóng, phức tạp nổi lên tại các địa bàn, lĩnh vực giữa các cơ quan, đơn vị, địa phương. Kịp thời phát hiện, phối hợp giáo dục, xử lý nghiêm, đủ sức răn đe đối với các đối tượng sử dụng internet, mạng xã hội đưa, chia sẻ thông tin vi phạm pháp luật.

Nghiên cứu, sớm ban hành quy chế bảo vệ người tham gia công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng để kịp thời xử lý những “sự cố” trong quá trình thực thi nhiệm vụ, khi người tham gia đấu tranh bị đe dọa, bị xâm hại thân thể, uy tín, nhân phẩm, công việc, gia đình, ảnh hưởng đến tổ chức, cơ quan, đơn vị nơi họ đang công tác./.

CẢNH GIÁC VỚI THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 


Với thủ đoạn lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội, khai thác thông tin trên báo chí chính thống về những vụ việc tiêu cực xảy ra trong đời sống xã hội để hư cấu, xuyên tạc, thổi phồng, lấy hiện tượng quy kết thành bản chất, đăng tải thông tin thật - giả lẫn lộn, đưa ra cái gọi là “tài liệu chứng minh” để tuyên truyền, xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng, sự điều hành, quản lý của Nhà nước.

Chúng thường tung ra những thông tin bịa đặt về bí mật nội bộ Đảng nhằm tác động, làm gia tăng các biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, qua đó tác động, thẩm thấu vào một bộ phận cán bộ lão thành cách mạng, trí thức, văn nghệ sĩ để chính họ bộc lộ, đưa ra những quan điểm không đồng thuận, phản biện vô nguyên tắc, phản đối gay gắt với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kêu gọi từ bỏ Đảng, xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin. Thúc đẩy lối sống thực dụng, tư tưởng bất mãn, văn hóa ngoại lai vào đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân, nhất là thế hệ trẻ nhằm làm phai nhạt lý tưởng cách mạng, băng hoại đạo đức xã hội.

Trong thời gian qua, các tổ chức phản động ở bên ngoài tiếp tục duy trì, lập mới hàng nghìn website, blog, fanpage Facebook nhằm đẩy mạnh chiến dịch “chiến tranh tâm lý”, tuyên truyền chống Đảng, Nhà nước; xuyên tạc chia rẽ nội bộ, gieo rắc tâm lý hoang mang, hoài nghi, bất bình trong nhân dân đối với chế độ.

Trong 5 năm qua, đặc biệt trong thời gian Đảng ta chuẩn bị tổ chức Đại hội XIII, chúng tập trung vào một số hoạt động sau:

Tạo lập hàng ngàn trang mạng xã hội, mới nhất là các kênh YouTube Nguyễn Văn Đài, Lê Dũng Vova,… trong đó nhiều trang giả mạo cá nhân, tổ chức có uy tín, núp dưới danh nghĩa tôn giáo, bảo vệ môi trường, dân sinh để thu hút người đọc, qua đó lan truyền các nội dung chống Đảng, Nhà nước.

Sử dụng các đài, báo bên ngoài kết hợp các kênh mạng xã hội để viết bài, cắt ghép, nhào nặn video xuyên tạc, phê phán Đảng, Nhà nước, chính quyền các cấp.

Lan toả các thông tin lượm lặt từ báo chí trong nước và từ tài khoản Facebook của một số cá nhân có quan điểm cực đoan trong nước nhằm phê phán chính quyền, Đại hội Đảng các cấp.

Tổ chức soạn thảo, phát tán “thư ngỏ”, “tâm thư”, “kiến nghị”, “đơn kêu cứu”,… để thu hút sự chú ý của dư luận, cổ súy hoạt động của một số đối tượng có quan điểm cực đoan. Tổ chức các chương trình, tọa đàm, phỏng vấn một số đối tượng chống đối, một số luật sư có tư tưởng phức tạp, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các Bộ, Ban, ngành để tuyên truyền gây mất đoàn kết nội bộ, hình thành dư luận “lề trái”…

Điểm mới trong phương thức, thủ đoạn tuyên truyền phá hoại tư tưởng so với 5 năm trước là: Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng những thành tựu tiên tiến của khoa học công nghệ, ứng dụng các loại hình dịch vụ mới trên không gian mạng để đăng tải, phát tán thông tin sai trái, thù địch trên diện rộng với nhiều bình luận phức tạp. Sử dụng ứng dụng thoại trên internet, thư điện tử, phần mềm chuyên dụng, mạng xã hội để hoạt động chống phá. Chúng lập các nhóm kín trên mạng xã hội phân chia theo khu vực địa lý để tập hợp lực lượng trong nước tham gia tổ chức, chỉ đạo chống phá. Các đối tượng chống đối, bất mãn, khiếu kiện, lợi dụng tôn giáo thường xuyên liên hệ, trao đổi qua mạng với các đối tượng phản động lưu vong để nhận sự giúp đỡ hoặc trả lời phỏng vấn, phát trực tiếp trên mạng xã hội./.

PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG LÀ QUAN ĐIỂM NHẤT QUÁN, XUYÊN SUỐT

 Để phòng, chống tham nhũng, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, cần phải có sự lãnh đạo, chỉ đạo tập

trung, thống nhất của Đảng và Chính phủ; cần xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện rộng rãi

trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân; phải làm cho quần chúng Nhân dân khinh

ghét, xa lánh tham ô, lãng phí; kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”; mỗi cán bộ, đảng viên

phải nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Đại hội XIII của Đảng đánh giá:

“Tham nhũng, lãng phí trên một số lĩnh vực, địa bàn vẫn còn nghiêm trọng, phức tạp với những

biểu hiện ngày càng tinh vi, gây bức xúc trong xã hội. Tham nhũng vẫn là một trong những nguy

cơ đe dọa của Đảng và chế độ ta”.

Do đó, việc kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là quan điểm nhất quán, xuyên

suốt của Đảng ta, xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng đặt ra. Điều này cũng xuất phát từ vị

thế, uy tín của Đảng trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, từ đòi hỏi công tác xây dựng Đảng

ta trong sạch, vững mạnh, đủ sức chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam. Việc đấu tranh

phòng, chống tham nhũng, tiêu cực không làm cho nội bộ mất đoàn kết, không phải giữa các

“phe cánh”, “đấu đá” mà góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi các Cương lĩnh, Điều

lệ của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng; tăng cường đoàn

kết, gắn bó máu thịt giữa Đảng với Nhân dân. Chống tham nhũng cũng nhằm thúc đẩy kinh tế -

xã hội phát triển; giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội; giữ vững, củng cố niềm tin

vững chắc của cán bộ, đảng viên, các tầng lớp Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

LỢI DỤNG VIỆC CHỐNG THAM NHŨNG ĐỂ BÔI NHỌ THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ

 Thời gian qua, các thế lực chống phá Việt Nam luôn viện dẫn nhiều lý do để chỉ trích Việt Nam,

khi cuộc chiến chống tham nhũng đang cho thấy hiệu quả rất tích cực thì họ cũng không muốn

điều đó xảy ra. Những thông tin sai trái từ các cá nhân, tổ chức, trung tâm chống phá Việt Nam

về cuộc chiến chống tham nhũng đòi hỏi người dân cần cảnh giác, không phụ họa, chia sẻ trên

mạng xã hội. Với âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước, trên diễn đàn mạng xã hội, một số cá

nhân, tổ chức thiếu thiện chí đã lợi dụng công cuộc chống tham nhũng, tiêu cực, chống suy thoái,

biến chất của Đảng, Nhà nước ta để xuyên tạc, bóp méo, cho đó là “cuộc đấu tranh thanh trừng

nội bộ giữa các phe phái và các nhóm lợi ích”, vu cáo Đảng, Nhà nước ta đang ở thế “lưỡng nan

đối nghịch” với hàm ý chống tham nhũng nhưng không muốn thay đổi thể chế chính trị!

Lợi dụng một số vụ việc tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng

viên được phát hiện trong thời gian gần đây, đặc biệt là liên quan đến vụ kit test Việt Á, vụ

“chuyến bay giải cứu”, các cá nhân, tổ chức thù địch đã lấy hiện tượng làm bản chất, quy chụp

rằng toàn bộ đội ngũ cán bộ của Đảng, Nhà nước “đang rơi vào tình trạng tham nhũng, tiêu cực,

suy thoái, thoái hóa, biến chất”. Họ vu cáo rằng, đó là bản chất, là “căn bệnh nan y, kinh niên”

của chế độ độc đảng cầm quyền.

Nhiều bài viết còn phủ nhận những kết quả về công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng,

tiêu cực trong đội ngũ cán bộ của Đảng, Nhà nước ta khi cho rằng, Đảng, Nhà nước đã phát động

chống tham nhũng, suy thoái nhưng đều thất bại, tệ nạn ngày càng gia tăng. Từ đó, số này đưa ra

quan điểm, chỉ có thể chống được tham nhũng khi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập” để

kiểm soát quyền lực, kêu gọi phải thay đổi thể chế thì mới có thể chống tham nhũng, tiêu cực,

suy thoái, biến chất.

Có thể khẳng định, chế độ một đảng lãnh đạo cầm quyền không phải là nguyên nhân sinh ra tệ

nạn tham nhũng, suy thoái, biến chất trong đội ngũ cán bộ. Tổ chức Minh bạch quốc tế (AI) đã

từng cho rằng tham nhũng là tệ nạn nhức nhối, xảy ra ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong số đó,

đa số là các quốc gia thực hiện chế độ đa đảng lãnh đạo, tam quyền phân lập, do giai cấp tư sản

lãnh đạo. Một số quốc gia có biểu hiện nguy hiểm khi tình trạng tham nhũng đã leo đến tận các

nguyên thủ quốc gia như Hàn Quốc, Brazil Colombia, Malaysia; một số quốc gia thuộc nhóm

“nước tham nhũng nghiêm trọng” đều theo thể chế đa đảng, không do Đảng Cộng sản cầm

quyền, lãnh đạo.

Do đó, việc cho rằng, tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất là “căn bệnh nan y”, chỉ xảy ra ở

các quốc gia do Đảng Cộng sản lãnh đạo hay ở quốc gia do một đảng lãnh đạo, cầm quyền là

hoàn toàn không đúng với thực tế, là sự quy chụp, suy diễn. Âm mưu của chúng là nhằm gây ra

tình trạng nghi ngờ, hoang mang, gây lầm tưởng tham nhũng phức tạp là do chế độ một đảng

lãnh đạo, làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với chế độ. Đồng thời, thông qua đó, các đối

tượng nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội, Nhà nước;

gây tâm lý hoài nghi, dao động, thiếu niềm tin, kích động chống phá Đảng, Nhà nước ta.

QUAN ĐIỂM VỀ PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG CỦA ĐẢNG TA

Đánh giá về nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng, trong cuộc họp của Thường trực Ban Chỉ đạo

Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ngày 18/11/2022, Tổng Bí thư Nguyễn Phú

Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo đã nhấn mạnh: “Càng đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham

nhũng, tiêu cực, Đảng của chúng ta càng mạnh lên, càng củng cố, tăng cường niềm tin của Nhân

dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ, làm cho bộ máy trong sạch, siết chặt kỷ luật, kỷ cương,

góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường

quốc phòng, an ninh và đối ngoại, đồng thời bác bỏ luận điệu sai trái của các thế lực xấu, thù

địch, chống đối cho rằng đấu tranh phòng, chống tham nhũng, xử lý cán bộ, đảng viên sai phạm

là "đấu đá nội bộ", "phe cánh", |làm "nhụt chí" những người khác.

Với luận điệu “chống tham nhũng làm ảnh hưởng xấu đến kinh tế” là hoàn toàn không có cơ sở.

Cần phải nhìn nhận, tham nhũng tác động trực tiếp đến sự ổn định và phát triển đối với mọi mặt

của đời sống xã hội. Hành vi này gây ra những hậu quả, tác hại to lớn trên các lĩnh vực như

chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội, nhất là đối với kinh tế, tình trạng tham nhũng gây thất thoát

nghiêm trọng tài sản công, bào mòn ngân sách nhà nước để làm lợi cho một số cá nhân, nhóm

người tham nhũng. Tham nhũng còn đe dọa sự ổn định, an ninh xã hội, xâm hại các thể chế và

giá trị dân chủ, các giá trị đạo đức, công lý. Nếu không kịp thời ngăn chặn, tham nhũng sẽ trở

thành mối đe dọa đặc biệt nghiêm trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội, đe dọa đến tồn vong

của chế độ.

Thực tế, quan điểm trong cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước Việt Nam

rất rõ ràng, những đối tượng tham nhũng thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Đồng thời,

Nhà nước tạo điều kiện, khuyến khích mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội tích cực thúc đẩy các

hoạt động sản xuất, kinh doanh, thu hút đầu tư, tạo môi trường lành mạnh, trong sạch trong cả

đầu tư công và môi trường đầu tư tư nhân.

Cùng với đó, qua chống tham nhũng, cơ quan chức năng đúc rút những kinh nghiệm, bài học để

tham mưu với Đảng, Nhà nước ban hành cơ chế, chính sách pháp luật nhằm từng bước hoàn

thiện, bịt lỗ hổng để ngăn ngừa tham nhũng. Do đó, không thể cho rằng vì lý do chống tham

nhũng nên nhiều cá nhân sợ không dám làm, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư, tác động đến các

chuỗi cung ứng trong kinh tế.

Cần phải nhận thức rằng, tình trạng tham nhũng làm suy giảm các lực lượng cạnh tranh vốn có

của thị trường, gây cản trở sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Tham nhũng làm cạn nguồn

đầu tư nội địa, làm giảm đáng kể các dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, tham nhũng không

chỉ gây trở ngại cho hoạt động kinh tế vĩ mô mà còn kìm hãm hoạt động của các hãng riêng lẻ.

Chính cuộc chiến chống tham nhũng tại Việt Nam tạo động lực không ngừng cho đầu tư, phát

triển kinh tế, đảm bảo cạnh tranh lành mạnh giữa các nhà đầu tư vào Việt Nam. 

𝐂𝐡ấ𝐩 𝐡à𝐧𝐡 𝐧𝐠𝐡𝐢ê𝐦 𝐜𝐡ỉ đạ𝐨 𝐜ủ𝐚 𝐁𝐚𝐧 𝐂𝐡ấ𝐩 𝐡à𝐧𝐡 𝐓𝐖 Đả𝐧𝐠

Trong bức tranh to lớn của đời sống xã hội, sự đồng thuận và tuân thủ nghị quyết là chìa khóa cho sức mạnh và sự thống nhất của mọi tổ chức. Đặc biệt, trong môi trường chính trị, mỗi nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng không chỉ là hướng dẫn cho hành động mà còn thể hiện nguyên tắc và đường lối của tổ chức. Sự vi phạm không chỉ phản ánh sự sai lệch cá nhân mà còn là thách thức đối với sự đoàn kết và uy tín của cả hệ thống. Sự không tuân thủ chỉ đạo của Đảng trong việc nhìn nhận và đánh giá các sự kiện và nhân vật lịch sử tại một số địa phương, cá nhân, và tổ chức đã gây ra nhiều thắc mắc về tính tuân thủ và sự nghiêm túc trong việc theo đuổi mục tiêu chung của đất nước.


Trong cấu trúc của tổ chức chính trị như Đảng Cộng sản Việt Nam, việc duy trì sự đoàn kết và thống nhất là điều kiện cần thiết để đảm bảo sức mạnh và ổn định của hệ thống. Khi nghị quyết từ Ban Chấp hành Trung ương - cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng - không được tuân thủ, hậu quả không chỉ gây rối loạn nội bộ mà còn ảnh hưởng đến toàn xã hội. Hành vi vi phạm này tạo ra những làn sóng dư luận không mong muốn, làm mất đi tính minh bạch của thông tin và có thể dẫn đến hiểu lầm, hoài nghi trong dư luận. Điều này cũng có thể ảnh hưởng đến niềm tin của người dân vào khả năng lãnh đạo, công bằng và minh bạch của Đảng và Nhà nước, gây ra tác động lâu dài đến sự ổn định và phát triển của đất nước.


Trong việc xây dựng lịch sử đất nước, sự đồng nhất trong việc nhìn nhận và đánh giá các sự kiện và nhân vật lịch sử là rất quan trọng. Điều này không chỉ giúp người dân hiểu sâu sắc về quá khứ mà còn là nền tảng cho giáo dục công dân và tư tưởng lịch sử. Khi một số địa phương, cá nhân hoặc tổ chức tôn vinh những nhân vật lịch sử không phù hợp với đường lối của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, hành động đó không chỉ thể hiện sự không tuân thủ đường lối của Đảng mà còn phản ánh sự thiếu hiểu biết sâu sắc về mục tiêu và tầm quan trọng của việc truyền đạt lịch sử một cách chính xác và phù hợp. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến quá trình giáo dục mà còn tạo ra những hiểu lầm về lịch sử, ảnh hưởng xấu đến nhận thức của thế hệ trẻ.


Do đó, việc phê phán là cần thiết. Phê phán không chỉ là lên án hành vi sai trái mà còn là quá trình nâng cao nhận thức về giá trị của việc tuân thủ các nghị quyết quyết và quy định. Điều này đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực giáo dục lịch sử, nơi mà nhận thức đúng đắn và tôn trọng lịch sử đất nước là nền tảng cho việc xây dựng và củng cố nền văn hóa dân tộc. Nâng cao trách nhiệm đối với lịch sử không chỉ là nghĩa vụ của mỗi cá nhân mà còn là trách nhiệm của cả cộng đồng, đảm bảo rằng giá trị lịch sử được bảo tồn và phát huy một cách chính xác và trang trọng.


Bài viết này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ nghị quyết và chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng không chỉ trong giáo dục lịch sử mà còn trong mọi mặt của đời sống xã hội. Điều này góp phần vào việc duy trì trật tự và kỷ cương, là biểu hiện của lòng tôn trọng đối với giá trị văn hóa và lịch sử của dân tộc. Mỗi cá nhân và tổ chức cần nâng cao nhận thức và trách nhiệm trong việc bảo tồn và phát huy những giá trị này, góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước. Đảm bảo tính thống nhất trong tư tưởng và hành động là nền tảng cho xã hội pháp quyền, văn minh và tiên tiến, nơi mỗi người dân ý thức và tự hào về bản sắc dân tộc của mình.

NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM.

 Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lợi dụng việc các cơ quan tiến

hành tố tụng khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng, tiêu cực nghiêm trọng để

tung ra luận điệu sai trái, xuyên tạc trên các phương tiện truyền thông xã hội.

Đặc biệt gần đây, khi cơ quan tiến hành tố tụng điều tra, làm rõ những vụ án lớn như vụ án xảy

ra tại Cục Lãnh sự Bộ Ngoại giao và một số bộ, ngành, địa phương (còn gọi là vụ án “chuyến

bay giải cứu”), vụ Việt Á, các đối tượng rêu rao rằng, tham nhũng ở Việt Nam hiện đã trở thành

“hệ thống”, bản chất và muốn chống không còn cách nào khác phải thay đổi cơ chế, phải “xóa bỏ

chế độ”!

Nhiều bài viết vu cáo rằng, đấu tranh, phòng, chống tham nhũng, xử lý cán bộ, đảng viên là “đấu

đá nội bộ, phe cánh”, “thanh trừng phe phái” nên “ai đen thì chết”! Họ cố tình bôi đen việc thực

hiện công cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở nước ta, cho rằng việc bắt bớ nhiều, xử lý nhiều

không làm ai run rợ, không hề có tính cảnh tỉnh, răn đe mà ngược lại, việc xử lý nhiều làm cho

“tình hình thêm phức tạp, nghiêm trọng”! 

Một số bài viết lại quy kết rằng, cuộc chiến chống tham nhũng của Đảng đang “làm ảnh hưởng

xấu đến kinh tế”. Họ cho rằng, cuộc chiến chống tham nhũng rộng khắp của Đảng Cộng sản Việt

Nam đang khiến cho nhiều giao dịch kinh tế bị tê liệt, có thể ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước

ngoài, giảm xuất khẩu. Suy diễn việc chống tham nhũng làm tê liệt hoạt động kinh doanh, đặc

biệt “nếu việc thực thi pháp luật bị cho là không rõ ràng và có động cơ chính trị”…

Một số bình luận vu cáo, chiến dịch chống tham nhũng của Việt Nam làm tê liệt chuỗi cung ứng

đầu tư, làm “nhà đầu tư nước ngoài lo sợ”!. Họ lập luận rằng, chiến dịch chống tham nhũng ở

Việt Nam đã làm tê liệt nhiều giao dịch thông thường trong nước, gây ra tình trạng thiếu hàng

hóa thiết yếu và làm giảm niềm tin của nhà đầu tư vào một trong những nền kinh tế phát triển

nhanh nhất châu Á.

Các cá nhân, tổ chức chống phá Việt Nam đã chia sẻ những bài viết này lên các trang mạng xã

hội, từ đó đi đến quy kết, xuyên tạc bản chất cuộc chiến chống tham nhũng, hạ uy tín của Việt

Nam trên trường quốc tế, tác động vào tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của người dân, nhất là đối

với các doanh nhân, cán bộ trong bộ máy Nhà nước.

NHỮNG THÀNH TỰU VỀ ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA

 Trong công cuộc đổi mới đất nước, kế thừa và phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc, vận

dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp

thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới và tư tưởng tiến bộ của nhân loại, công tác đối ngoại

mang bản sắc “cây tre Việt Nam” đã đạt được nhiều kết quả, thành tích rất tốt đẹp. Từ phá thế bị

bao vây, cấm vận, chúng ta đã tạo dựng và củng cố ngày càng vững chắc cục diện đối ngoại rộng

mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế. Đến nay, nước ta đã có quan hệ ngoại giao với

189 nước trong tổng số 193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc, trong đó 3 nước có “quan hệ đặc

biệt”, 17 nước “đối tác chiến lược” và 13 nước “đối tác toàn diện” và là thành viên tích cực và có

trách nhiệm của hơn 70 tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng, như Liên hợp quốc, ASEAN,

APEC, ASEM, WTO... Đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân và đối ngoại

của các ngành, lĩnh vực, địa phương, doanh nghiệp ngày càng mở rộng, chủ động, tích cực và đi

vào chiều sâu, góp phần củng cố chính trị, quốc phòng, an ninh; kinh tế, văn hóa - xã hội được

đẩy mạnh, qua đó tăng cường sự tin cậy chính trị và đan xen lợi ích với các đối tác.

Từ việc đẩy mạnh công tác ngoại giao, Việt Nam tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi và huy

động được các nguồn lực từ bên ngoài để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển

kinh tế - xã hội. Nếu cách đây 30 năm, chúng ta mới có quan hệ kinh tế - thương mại với gần 30

nước và vùng lãnh thổ thì đến nay đã có quan hệ kinh tế - thương mại với 230 nước và vùng lãnh

thổ; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đến nay đã đạt khoảng 600 tỉ USD, gấp khoảng 120 lần so

với những năm đầu của thời kỳ đổi mới.

Đối ngoại đã giữ vai trò tiên phong trong việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, góp phần

quan trọng vào việc bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của

đất nước. Các vấn đề biên giới với các nước liên quan từng bước được giải quyết, tạo điều kiện

thuận lợi nhằm bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ, góp phần củng cố hòa bình, ổn định trong khu vực.

Thực hiện tốt ngoại giao cây tre, kết hợp “cứng” và “mềm”, đề cao hòa hiếu, chúng ta luôn

giương cao ngọn cờ hòa bình, hợp tác, tích cực trao đổi, đàm phán với các nước liên quan kiểm

soát bất đồng, tìm kiếm giải pháp cơ bản, lâu dài cho các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình

trên cơ sở luật pháp quốc tế. Trên cơ sở đó, vị thế và uy tín quốc tế của nước ta trong khu vực và

trên thế giới ngày càng được nâng cao, đóng góp tích cực và đầy trách nhiệm vào việc giữ vững

hòa bình, hợp tác phát triển và tiến bộ trên thế giới.

PHÁT HUY ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 Báo cáo chính trị Đại hội lần thứ XIII của Đảng nhấn mạnh, Việt Nam sẽ tiếp tục thực hiện

đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hoá, đa phương hoá. Báo cáo cũng tái khẳng định

nguyên tắc “4 không” trong chính sách quốc phòng, trong đó mục tiêu tối thượng là bảo vệ lợi

ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế. Khẳng định cam kết của Việt Nam

tiếp tục là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

Điểm cốt lõi là sự nhấn mạnh vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc giữ vững môi trường

hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển, nâng cao vị thế và uy

tín của đất nước. Khẳng định ngoại giao giữ vai trò trung tâm và tích cực trong bảo vệ chủ quyền

và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, nâng cao năng lực quốc gia và gia tăng uy tín quốc tế của

Việt Nam. Đồng thời, Đại hội lần thứ XIII của Đảng nhấn mạnh nhu cầu xây dựng một nền

ngoại giao “toàn diện, hiện đại”, bao gồm 3 trụ cột là đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và

đối ngoại nhân dân cũng như sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa những trụ cột trên. Bằng việc bổ

sung nội hàm “toàn diện”, Việt Nam thúc đẩy một cách rõ ràng tất cả các hình thái ngoại giao

chính trị, kinh tế, quốc phòng, công chúng, văn hóa và nghị viện.

Trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, công tác đối ngoại luôn giữ vai trò vô cùng quan trọng,

không chỉ góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ mà

còn góp phần to lớn trong xây dựng, phát triển đất nước. Trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa

ngày càng sâu rộng hiện nay, ngoại giao Việt Nam tiếp tục thực hiện sứ mệnh mới, góp phần tạo

dựng và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ vững chắc Tổ quốc; đồng thời linh hoạt,

sáng tạo tìm ra phương cách mới thúc đẩy hợp tác quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng

và phát triển kinh tế, nâng cao vị thế và gia tăng tiềm lực đất nước.

LỢI DỤNG TÔN GIÁO ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC

 Mặc dù tự do tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam trong những năm qua đã đạt được những thành tựu

khách quan và rõ ràng như vậy nhưng các thế lực thù địch vẫn thường xuyên sử dụng tôn giáo

hòng thực hiện các mưu đồ chính trị, chống phá Đảng, Nhà nước. Chúng lợi dụng vấn đề dân

chủ, nhân quyền để xuyên tạc, bóp méo, cho rằng Việt Nam “đàn áp tôn giáo”; lợi dụng các vấn

đề chính trị-xã hội phức tạp trong nước để kích động ly khai, biểu tình; lợi dụng sự thiếu hiểu

biết, cả tin của một bộ phận dân chúng để thành lập các “đạo lạ”, các tổ chức núp dưới danh

nghĩa tôn giáo nhưng mang màu sắc chính trị, truyền đạo trái phép. Các đối tượng lồng ghép

những tư tưởng phản động, xuyên tạc bản chất chế độ chính trị, chống đối chủ trương, đường lối,

chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm tạo ra mâu thuẫn giữa tôn giáo với chính quyền, gieo

nên những cái nhìn định kiến, ác cảm; kích động gây rối, làm mất ổn định chính trị-xã hội, gây

mất đoàn kết lương-giáo, chia rẽ dân tộc... Các đối tượng âm mưu lôi kéo đồng bào tôn giáo khỏi

sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của chính quyền, gây sức ép để vô hiệu hóa chính quyền cơ sở,

kích động chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ. Lợi dụng quyền “tự do tôn giáo”, chúng cố tình

đánh tráo khái niệm để cho rằng con người có quyền “tự do tuyệt đối về tôn giáo”, tức là để tôn

giáo đứng ngoài pháp luật.

KHẢ NĂNG “DUNG HÒA” TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

 Một trong những đặc trưng của nền văn hoá Việt Nam là tính dung hoà: người Việt luôn luôn

muốn sống hoà hợp với tự nhiên, dung hoà với xã hội và con người. Mặc dù là một đất nước đa

tôn giáo nhưng với tính cách dung hoà vốn có từ ngàn xưa, người Việt không có tư tưởng kỳ thị

hoặc chia rẽ tôn giáo. Do vị trí địa lý đặc biệt nên từ xa xưa, Việt Nam trở thành nơi giao thoa

của các nền văn hoá trong khu vực và trên thế giới. Mỗi khi có luồng tư tưởng mới, có một tôn

giáo mới du nhập, truyền bá vào nước ta, ông cha ta thường giữ tâm thế “lấy tĩnh chế động” để

quan sát và “gạn đục khơi trong”, tiếp nhận những tinh hoa của nó, đồng thời Việt hoá để nó phù

hợp với tâm lý xã hội, thuần phong, mỹ tục Việt Nam. Có lẽ với đặc tính đó mà ngày nay, chúng

ta rất dễ dàng nhận thấy ở hầu hết các lễ hội tôn giáo, ngoài sự hiện diện của tín đồ còn có rất

nhiều người dân, thậm chí là tín đồ của các tôn giáo khác cũng đến xem lễ, tham quan, du lịch,

tìm hiểu văn hoá, tín ngưỡng… Bức tranh tôn giáo đa dạng đã góp phần làm giàu cho đời sống

tinh thần của người Việt. Những giá trị đạo đức, nhân văn của các tôn giáo, những công trình

kiến trúc, những tác phẩm văn học, nghệ thuật về đời sống tôn giáo… cùng với hệ thống lễ hội

tôn giáo đã tạo nên bức tranh muôn màu của văn hoá Việt Nam.

VIỆC ĐẢM BẢO TỰ DO, TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

 Qua thống kê cho thấy, tính đến nay, chính quyền đã công nhận 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo

khác nhau với trên 27,2 triệu tín đồ, trên 53 nghìn chức sắc, khoảng 148 nghìn chức việc, số

lượng chức sắc, chức việc trong tổ chức tôn giáo có vai trò quan trọng trong tổ chức Giáo hội, là

người thụ hưởng chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, trên 29.718 cơ sở thờ tự… Bên

cạnh đó, hàng năm có trên 8.000 lễ hội về tín ngưỡng, tôn giáo với hàng vạn tín đồ tham gia; các

tổ chức, cá nhân tôn giáo được khuyến khích, tạo điều kiện tham gia các hoạt động an sinh xã

hội, các hoạt động từ thiện, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, các tổ chức tôn giáo có trên 500 cơ sở

khám chữa bệnh, trên 800 cơ sở bảo trợ xã hội, với 300 trường mầm non... Từ năm 2018-2021 đã

cấp phép xuất bản 2.027 ấn phẩm với hơn 7 triệu bản in, trong đó có nhiều xuất bản phẩm được

dịch ra tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng dân tộc và có 25 tờ báo, tạp chí của các tôn giáo đang hoạt

động. 10 năm qua, thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, cơ quan nhà nước có

thẩm quyền đã cấp hàng trăm hécta đất để xây dựng cơ sở thờ tự. Năm 2022, chính quyền các

cấp đã cấp phép xây dựng, sửa chữa, cải tạo cho 486 cơ sở, tăng 60 cơ sở thờ tự tôn giáo so với

năm 2021; cấp đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung cho 183 điểm nhóm; cấp quyết định xuất bản

cho 140 xuất bản phẩm với 684.250 bản in.

Có thể nói, chưa bao giờ các tôn giáo có điều kiện hoạt động thuận lợi như hiện nay, quan hệ

quốc tế ngày càng mở rộng, chức sắc, chức việc, tín đồ ngày càng đông, cơ sở thờ tự ngày càng

khang trang, việc sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài tại Việt Nam được công khai theo quy

định của pháp luật, tạo điều kiện để các tổ chức tôn giáo tăng cường giao lưu, học tập, trao đổi

các đoàn với các tổ chức tôn giáo trên thế giới. Từ năm 2011 đến nay đã có gần 2.000 lượt cá

nhân tôn giáo xuất cảnh tham gia khóa đào tạo ở nước ngoài, tham dự hội thảo, hội nghị quốc tế

liên quan đến tôn giáo, gần 500 đoàn nước ngoài với hơn 3.000 lượt người vào Việt Nam để trao

đổi, giao lưu, hướng dẫn tại cơ sở thờ tự ở Việt Nam. Điều đó không chỉ thể hiện sự chăm lo toàn

diện của Đảng, Nhà nước đối với đời sống tôn giáo mà còn là sự tin tưởng, kỳ vọng của đông

đảo chức sắc, tín đồ về đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng qua những giá trị tinh thần cao

đẹp của dân tộc. Những nỗ lực và thành tựu của Việt Nam về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng,

tôn giáo cho người dân được cộng đồng quốc tế thừa nhận rộng rãi.

VIỆT NAM LÀ MỘT QUỐC GIA ĐA TÔN GIÁO

 Điều 18, Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị nêu rõ: “Quyền tự do của cá nhân

thể hiện tôn giáo hay tín ngưỡng của mình chỉ phải chịu các giới hạn, chẳng hạn như các giới hạn

được luật pháp quy định và các giới hạn cần thiết để bảo vệ an toàn, trật tự, sức khỏe xã hội, hay

tinh thần hoặc các quyền cơ bản và quyền tự do của những người khác”. Như vậy, quyền tự do

tôn giáo hay bất cứ một quyền nào khác trên phương diện pháp lý đều bị giới hạn bởi khuôn khổ

luật pháp.

 Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo. Ở Việt Nam có những tôn giáo nội sinh (Phật giáo Hoà

Hảo, Cao đài…) song hành cùng các tôn giáo du nhập từ bên ngoài (Công giáo, Phật giáo, Tin

lành…). Ở nước ta, các tôn giáo luôn luôn giữ mối đoàn kết và tôn trọng niềm tin tôn giáo lẫn

nhau, đồng hành cùng dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mỗi tôn giáo có đức

tin và hệ thống giáo lý, giáo luật, nghi thức tôn giáo riêng, là đặc trưng để phân biệt tôn giáo này

với tôn giáo khác. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, các tôn giáo vẫn có điểm tương đồng. Người

viết: “Khổng Tử, Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có những ưu điểm chung đó sao? Họ đều

muốn mưu hạnh phúc cho mọi người, mưu phúc lợi cho xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống trên

cõi đời này, nếu họ hợp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ

như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy”. Bác phân

tích: “Chúa Giêsu dạy: Đạo đức là bác ái; Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi; Khổng Tử dạy:

Đạo đức là nhân nghĩa”, từ đó để chỉ cho quần chúng tín đồ thấy rõ, dù theo các tôn giáo khác

nhau nhưng mọi người đều hướng tới điều thiện, xây dựng một xã hội tốt đẹp. Theo Bác, những

giá trị đạo đức của tôn giáo như bác ái, từ bi, nhân nghĩa… rất phù hợp với đạo đức của truyền

thống dân tộc Việt Nam từ xưa đến nay.

Bên cạnh những giá trị đạo đức, các tôn giáo còn có hệ thống những lễ hội rất phong phú. Trước

đây, việc tổ chức và tham gia lễ hội là công việc nội bộ giáo hội và tín đồ trong đạo. Ngày nay,

rất nhiều lễ hội tôn giáo không còn là chuyện riêng của từng tôn giáo mà nó có sức lan toả, ảnh

hưởng lớn trong cộng đồng xã hội như Lễ Giáng sinh, Phục sinh của đạo Công giáo, đạo Tin

lành; Lễ Phật đản, Vu lan của Phật giáo; Đại lễ Hội Yến Diêu Trì Cung của Hội thánh Cao đài

Tây Ninh…

GIÁNG SINH – DỊP THỂ HIỆN TỰ DO TÍN NGƯỠNG Ở VIỆT NAM

 Lễ Giáng sinh hay còn gọi là Noel ở Việt Nam thường diễn ra từ tối 24 đến hết ngày 25/12, là

thời điểm để mọi người có thể đi lễ, vui chơi, tặng quà và gửi cho nhau những lời chúc tốt đẹp.

Tại Việt Nam, lễ Giáng sinh không chỉ dành cho những người theo đạo Thiên Chúa mà giờ đây

đã trở thành dịp vui chơi của nhiều người, nhất là với giới trẻ.

 Qua đó, lễ Giáng sinh góp phần tạo nên một bức tranh đa sắc màu về tự do, tín ngưỡng tôn giáo

ở Việt Nam, thể hiện tinh thần đại đoàn kết toàn dân. Thực tiễn đó phản bác những luận điệu

xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, vu cáo Việt Nam không có tự do, dân chủ, nhân

quyền, vu cáo Việt Nam “đàn áp tôn giáo”…

HÀNH VI “NÚP BÓNG TÔN GIÁO” LÀM ẢNH HƯỞNG ĐẾN TRẬT TỰ XÃ HỘI

Thời gian gần đây tại Việt Nam, do bị đấu tranh mạnh nên hoạt động của tổ chức “Hội thánh của Đức Chúa trời mẹ”  hay còn gọi là “Hội thánh Đức Chúa trời làm chứng cho Chúa Giesu” do Ahn Sahng Hong sáng lập đã được kiềm chế, nhiều người đã tự nguyện bỏ sinh hoạt đạo.

Tại  địa bàn tỉnh Yên Bái, mặc dù hoạt động của Hội thánh của Đức Chúa trời không diễn ra phổ biến, nhưng một số đối tượng vẫn lén lút hoạt động và tìm mọi cách để dụ dỗ, lôi kéo người dân tham gia. Do đó, người dân cần hết sức cảnh giác, kịp thời thông báo cho cơ quan chức năng khi phát hiện hoạt động của các đối tượng này.

Khoảng 14h30 ngày 12/12/2023, trong khi đối tượng Phạm Thị Ngọc Huyền, có HKTT tại số 3, đường An Dương Vương, Quận Tây Hồ, TP Hà Nội là thành viên của tổ chức “Hội thánh của Đức Chúa trời mẹ” đang tổ chức tuyên truyền, vận động, dụ dỗ, lôi kéo các thành viên trong một gia đình tại tổ 12, phường Yên Ninh, TP Yên Bái tham gia “Hội thánh của Đức Chúa trời mẹ” thì bị lực lượng Công an TP Yên Bái phát hiện, kịp thời ngăn chặn. Đồng thời thu giữ nhiều sách, tài liệu và máy tính xách tay có chứa các nội dung tuyên truyền về “Hội thánh của Đức Chúa trời mẹ”. 

“Buổi đầu thì chưa có gì đâu, những cái buổi sau nó mới tăng dần lên. Họ đưa ra những cái vấn đề thực trạng của xã hội bây giờ xong nói là do quỷ sa tăng gây ra. Lúc nào cũng dụ dẫn rất là ngọt ngào để đưa các bác vào làm các việc xấu. Bây giờ các bác muốn tránh các việc xấu thì phải tin theo Chúa. Họ dẫn dắt mình như thế đấy” - Ông Nguyễn Hồng Chuyên, một người dân ở Phường Yên Ninh, TP Yên Bái cho biết.

Theo thông tin từ lực lượng An ninh Công an TP Yên Bái cung cấp, qua rà soát, xác minh, đến thời điểm hiện tại trên địa bàn TP Yên Bái không có các đối tượng cốt cán của tổ chức Hội thánh của Đức Chúa trời mẹ hoạt động và cư trú, tuy nhiên vẫn có các đối tượng thành viên của tổ chức này lén lút hoạt động, tìm cách dụ dỗ, lôi kéo người dân tham gia vào tổ chức Hội thánh của Đức Chúa trời mẹ.

“Cái nguy hiểm nhất là phá vỡ thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam. Cái thứ 2 nó làm cho đình trệ phát triển kinh tế mỗi gia đình, bởi vì họ suốt ngày sa đà vào cái họp hành, đi quyên góp các thứ. Mà cái quyên góp này không phải là để giúp đỡ người nghèo, những trường hợp khó khăn, mà là quyên góp cho cái đạo đức Chúa trời mẹ của họ. Mình xem thì là mỗi tháng là phải bỏ ra 10% thu nhập, chưa kể là còn phải quyên góp này khác.” - Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai, ở tổ 12, Phường Yên Ninh, TP Yên Bái, từng chứng kiến các đối tượng đến tuyên truyền về tổ chức Hội thánh của Đức Chúa trời mẹ chia sẻ.

Thiếu tá Nguyễn Trung Hậu - Đội trưởng Đội An ninh, Công an TP Yên Bái cho biết: Tổ chức Hội thánh của Đức Chúa trời mẹ là một tổ chức tà đạo, hoạt động trái pháp luật, tiềm ẩn nhiều phức tạp, tiêu cực. Đi trái với thuần phong, mỹ tục của dân tộc. Qua một số vụ việc chúng tôi đã điều tra thì cho thấy các đối tượng này còn lợi dụng việc tuyên truyền về tổ chức Hội thánh của Đức Chúa trời mẹ để thực hiện nhiều hành vi vi phạm pháp luật như lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Chính vì vậy người dân cần hết sức cảnh giác, không tin, không nghe theo và kịp thời báo với chính quyền địa phương, lực lượng Công an khi phát hiện hoạt động của các đối tượng này, để kịp thời xử lý”.

“NHÂN QUYỀN” ĐƯỢC TÔN TRỌNG TẠI VIỆT NAM

 Bàn về vấn đề quyền và nghĩa vụ, tại khoản 1, Điều 29, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người

năm 1948 quy định: “Tất cả mọi người đều có những nghĩa vụ với cộng đồng mà ở đó nhân cách

của bản thân họ có thể phát triển một cách tự do và đầy đủ”. Theo khoản 2 điều này thì mỗi

người trong khi hưởng thụ các quyền và tự do cá nhân đều phải chịu những hạn chế do luật định

nhằm bảo đảm sự thừa nhận và tôn trọng các quyền và tự do của người khác...

Ở Việt Nam, khái niệm về quyền con người được thể hiện đậm nét trong bản Tuyên ngôn Độc

lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, được Chủ tịch Hồ Chí Minh long trọng công bố tại

Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo

hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được

sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Năm 1945, ngay sau khi nước Việt Nam dân

chủ cộng hòa được khai sinh (nay là Cộng hòa XHCN Việt Nam), quyền con người, quyền công

dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1946 và sau đó tiếp tục được khẳng định, mở rộng

trong các Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992, 2013. Hiến pháp năm 2013 là đạo luật gốc, là văn

kiện pháp lý cao nhất của Nhà nước Việt Nam đã ghi nhận một cách toàn diện, cụ thể các quyền

con người và nội dung các quyền này đã được trình bày xuyên suốt trong các chương, mục của

Hiến pháp.

Theo đó, tại Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, các

quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận,

tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Đồng thời, cũng tại Điều 14 nêu rõ:

“Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp

cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe

của cộng đồng”. Tại Điều 15, Hiến pháp 2013 quy định rõ nghĩa vụ, trách nhiệm của công dân:

“Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân; mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của

người khác; công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội; việc thực

hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền

và lợi ích hợp pháp của người khác”.

Trên cơ sở Hiến pháp, xuất phát từ quan điểm không ngừng thúc đẩy quyền con người, Nhà nước

Việt Nam đã từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật để bảo đảm các quyền con

người được tôn trọng và thực thi một cách trọn vẹn nhất. Hệ thống pháp luật Việt Nam đã thể

hiện đầy đủ tất cả các quyền cơ bản, phổ biến của con người được nêu trong Tuyên ngôn Nhân

quyền thế giới năm 1948 và các công ước quốc tế khác của Liên hợp quốc về quyền con người.

Mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước Việt Nam đều lấy

con người là trung tâm, phấn đấu cho mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân

chủ, văn minh”, phát triển đất nước phồn vinh, tất cả vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân

dân. Điều này đã được các văn kiện qua các kỳ đại hội Đảng chỉ rõ, đặc biệt Văn kiện Đại hội

XIII của Đảng đã khẳng định: “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây

dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống,

nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm

mục tiêu phấn đấu”.